top of page
    ISOM CẤP 6 - Cộng Đồng Và Giới Tính
    (Community And Gender)

Hung Tran

Jun 21, 2023

Giáo Trình I.S.O.M International School of Ministry (Tiến sĩ Gilbert Bilezkian)



Tiến sĩ Gilbert Bilezikian là một tác giả, giáo sư và mục sư người Mỹ gốc Pháp. Ông là người đồng sáng lập, cùng với Bill Hybels, của Nhà thờ Cộng đồng Willow Creek ở Nam Barrington, Illinois, một trong những nhà thờ lớn nhất ở Hoa Kỳ. Cơ-đốc giáo, Ngày nay đã gọi ông là người đàn ông đằng sau siêu thị.” Ông cũng là tác giả có sách bán chạy nhất với các cuốn sách: Beyond Sex Roles, Christian 101, Community 101, và The Liberated Gospel. Ông có bằng Tiến sĩ Thần học tại Đại học Boston.

 

(Mở Bài Học - Mở Bài Thi)

F4.1 Cộng Đồng Và Giới Tính.

F4.2 Cộng Đồng Và Giới Tính.

F4.3 Cộng Đồng Và Giới Tính.

F4.4 Cộng Đồng Và Giới Tính.


LỜI GIỚI THIỆU


Kinh Thánh cho phụ nữ một chỗ đặc biệt trong vương quốc. Buổi học nầy không dựa vào sự giải phóng phụ nữ hay những quyền hạn của phụ nữ. Kinh Thánh tập trung vào những mối quan hệ của con người được định nghĩa như là “thuận phục nhau và là tôi tớ cho nhau”.

Những điều nầy là những khái niệm ngược lại với sự tự do và sự kiểm soát bằng quyền hành. Tuy nhiên, những đặc điểm của những phẩm chất nầy được dự định để áp dụng cho cả nam và nữ.


I. SÁNG-THẾ KÝ 1:1


Đức Chúa Trời làm (khiến) loài người biết chính Ngài là Đấng Tạo Hóa.


II. SÁNG-THẾ KÝ 1:2


A. Chức năng của Thần Linh của Đức Chúa Trời không phải để tạo dựng.

B. Thần Linh của Đức Chúa Trời bao phủ trên tạo vật của Đức Chúa Trời để bảo vệ nó.


III. SÁNG-THẾ KÝ 1:3


A. Có một phương thức lặp lại trong câu nầy “Đức Chúa Trời phán, thì có như vậy.”

B. Chiều kích nầy của Đức Chúa Trời l“Lời hằng sống” của Ngài.

C. “Ban đầu có Ngôi Lời. Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.”

1. Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.

2. Muôn vật được tạo dựng qua Lời của Đức Chúa Trời.


IV. NGÔI LỜI TRỞ NÊN XÁC THỊT


A. Đức Chúa Giê-xu nói như Đức Chúa Cha.

B. Đức Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời.


V. SÁNG-THẾ KÝ 1:1-3


A. Chúng ta được tạo dựng trước nhất cho Đức Chúa Trời là Cha, Đấng Tạo Hóa.

B. Chúng ta được tạo dựng trước nhất cho Đức Thánh Linh.

C. Chúng ta được tạo dựng trước nhất cho Đức Chúa Con: Ngôi Lời.

1. Đức Chúa Trời có ba thân vị liên hiệp chặt chẽ với nhau như một hữu thể duy nhất.

2. Đức Chúa Trời là một cộng đồng, số nhiều trong một tính chất, liên kết với nhau bởi sự yêu thương.


VI. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ SỰ YÊU THƯƠNG


A. Đức Chúa Trời là ba trong một.

B. Có một dòng chảy không dứt trong mối liên hệ giữa ba thân vị.

C. Đây là điều tình yêu được bày tỏ như thế nào:

1. (Đức Chúa) Cha luôn luôn ban cho (Đức Chúa) Con:

a. (Đức Chúa) Cha ban cho (Đức Chúa) Con mọi điều mà Ngài có.

b. Mọi uy quyền trong lãnh vực thuộc thể và thuộc linh đã ban cho Con.

2. (Đức Chúa) Con dâng chính Mình hoàn toàn cho ý muốn của (Đức Chúa) Cha.

a. Ngài dâng Sự Sống và Chức vụ mình cho ý muốn của Đức Chúa Cha.

b. Đức Chúa Con đầu phục chính mình theo ý muốn của Đức Chúa Cha.

3. Đức Thánh Linh làm mọi sự Ngài có thể làm được để hoàn thành những mục đích của Đức Chúa Cha và của Đức Chúa Con.

Đức Thánh Linh tôn cao và phụng sự Đúc Chúa Cha và Đức Chúa Con.

D. Chúa Ba Ngôi liên hiệp với nhau bởi sự tôn kính lẫn nhau, tự nguyện ban cho nhau, và đầu phục lẫn nhau.

1. Mối quan hệ nầy là cốt lõi của hữu thể thiêng liêng.

2. Đây là lý do của sự sáng tạo.


VII. TÌNH YÊU CHÂN THẬT KHÔNG THỂ CHỈ CHỨA ĐỰNG CHÍNH MÌNH


A. Tình yêu chân thật tìm kiếm sự thể hiện bên ngoài.

Đức Chúa Trời khao khát bày tỏ tình yêu tuôn tràn vượt ra khỏi Chính Ngài.

B. Đức Chúa Trời không thể tạo dựng một Đức Chúa Trời thứ nhì.

1. Đức Chúa Trời tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Ngài.

2. Sáng-thế ký 1:26: Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Chúa Ba Ngôi.

3. Sáng-thế ký 2:7: Đúc Chúa Trời đặt chúng ta trong một môi trường toàn hảo.

4. Sáng-thế ký 2:18

a. Sau khi Đức Chúa Trời tạo nên con người, Ngài phán, “Điều nầy không tốt.”

b. Hình ảnh Đức Chúa Trời ở số nhiều. Vì thế, loài người không được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời nếu chỉ có một mình.

c. Đức Chúa Trời ở số nhiều nhưng là một tính chất.

Nếu không ở số nhiều, không thể là một tính chất.

• Sáng-thế ký 2:18: Đức Chúa Trời làm cho người nam một người giúp đỡ để họ có thể cùng nhau hoạt động trong một tính chất.

6. Từ “người giúp đỡ” đã được dùng qua nhiều thế kỷ để hạ thấp phẩm giá của phụ nữ.

a. Một số người đã dịch sai từ nầy có nghĩa phụ nữ được tạo dựng để được những người nam xung quanh điều khiển.

b. Kinh thánh không có chỗ nào đề cập như vậy.

i. Đức Chúa Trời không bao giờ có ý định để phụ nữ bị hạ thấp.

ii. Đây là một sự sử dụng sai trật Kinh Thánh.

7. Từ Hê-bơ-rơ giống như vậy cho người giúp đỡ (`ezer) thường được sử dụng để mô tả Đức Chúa Trời như là người giúp đỡ chúng ta.

a. Khoảng 60-70 lần trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời được gọi là “người giúp chúng ta.”

b. Từ nầy không có ý nói đến một người thấp kém hơn.

c. Từ nầy nói đến một người nào đó ở một vị trí có sức mạnh. Từ nầy mô tả một cá nhân mà cá nhân nầy giúp đỡ một người nào đó ở vị trí yếu kém.

8. Sáng-thế ký 2:18.

a. Người nữ được ban cho người nam như một người giải cứu.

b. Người nam không thể hoạt động theo hình ảnh của Đức Chúa Trời mà không có người nữ.

9. Đức Chúa Trời tạo dựng người nữ từ người nam.

a. Người nữ được tạo dựng tương tự với người nam.

b. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời làm nên người nữ khác biệt đủ để họ có thể chi sẻ tâm trạng chung với nhau nhiều hơn.

i. Người nam nên đến cùng với vợ mình để họ cùng trở nên một thực thể. (Sáng 2:24)

ii. Một cộng đồng.

10. Có số nhiều của cùng một tính chất tại Thiên đàng và trên Đất.


VIII. VÌ ĐỨC CHÚA TRỜI YÊU THƯƠNG CỘNG ĐỒNG, NGÀI KHAO KHÁT CÓ NHIỀU CỘNG ĐỒNG HƠN NỮA.


A. Đức Chúa Trời ban cho người nam và người nữ hai mạng lệnh (Sáng-thế ký 1:28).

B. Mạng lệnh thứ nhất của Đức Chúa Trời là mở rộng cộng đồng.

Mạng lệnh nầy được giao cho cả người nam và người nữ.

C. Mạng lệnh thứ hai của Đức Chúa Trời là chinh phục trái đất và thống trị nó.

1. Mạng lệnh nầy được giao cho cả người nam và người nữ.

Đây là mạng lệnh thứ hai.

2. Nếu môi trường không được chăm sóc, con người không thể mở rộng.

D. Điều quan tâm trước nhất của Đức Chúa Trời là sự mở rộng cộng đồng.

E. Tuy nhiên, để cho cộng đồng được mở rộng, mỗi người trong họ phải là người quản gia.


IX. CÓ MỘT CỘNG ĐỒNG TRÊN THIÊN ĐÀNG VÀ MỘT CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐẤT.


A. Những cộng đồng sẽ hoạt động như thế nào? Sáng-thế ký 1:28

1. Chúa Ba Ngôi sẽ cùng làm việc để hoàn thành những mục tiêu của mình.

2. Người nam và người nữ cần làm việc với nhau để hoàn thành những mạng lệnh mà Đức Chúa Trời đã giao cho họ.

3. Mỗi người sử dụng tài năng mình và làm việc với nhau để hoàn tất những mục tiêu nầy.

B. Người nam và người nữ hoạt động trong tinh thần phục vụ (=tôi tớ) cho nhau để hoàn tất những mạng lệnh của Đức Chúa Trời.

1. Người nam không thể tự làm cho mình một người bạn đồng hành (Sáng-thế ký 2:18).

2. Khi Đức Chúa Trời làm nên người nữ, cô ấy là người phục vụ cho người nam qua việc giải cứu người nầy ra khỏi điều kiện tồi tệ của mình.

3. Người nam cũng là người phục vụ cho người nữ, bởi vì anh đã cho chính mình để người nữ có thể được hình thành.

. Người nam cho chính mình để người nữ có sự sống.

C. “Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt.” (Sáng-thế ký 2:24)

1. Trong Cựu Ước, người nữ rời bỏ chỗ gia đình mình để sống với chồng và gia đình anh ấy.

2. Tuy nhiên, theo thiết kế của Đức Chúa Trời cho cộng đồng, người nam phải rời bỏ chỗ mình để đến sống với vợ.

a. Người nữ không di chuyển chỗ ở.

b. Người nam đến với cô ấy.

c. Người nữ là trung tâm của mối quan hệ.

3. Trong nhiều nền văn hóa, người ít quan trọng phải đi đến với người quan trọng hơn.

4. Trong một cộng đồng cùng một tính chất, tất cả chúng ta đều là tôi tớ.

a. Không có người cao hơn hay người thấp hơn.

b. Tất cả chúng ta đều là tôi tớ trước mặt Đức Chúa Trời

c. Chúng ta đều là tôi tớ lẫn nhau.

5. Sáng-thế ký 2:25

D. A-đam và E-va đều không hỗ thẹn khi trần truồng.

1. Thông thường trần truồng thì đáng hỗ thẹn.

2. Sự trần truồng trong Kinh Thánh.

3. Những người đi trần truồng trong Kinh Thánh là những người ở đáy của bậc thang xã hội.

a. Trẻ mồ côi.

b. Những người không có nguồn cấp dưỡng nào.

c. Những phu tù.

d. Những tù nhân.

e. Những người ăn xin.

f. Những người nô lệ.

g. Những người tôi tớ.

4. Một người có vị trí càng cao theo bậc thang xã hội, thì quần áo họ càng trau chuốt và đắc tiền hơn.

a. Chúa Giê-xu là gương mẫu Cơ bản thì Chúa Giê-xu là tôi tớ.

b. Trước khi sa ngã, A-đam và E-va hành động trong trong tinh thần tôi tớ cho nhau.

c. Khi họ xa rời ý muốn của Đức Chúa Trời, điều đầu tiên họ làm là che giấu con người mình lại.

i. Không còn cùng một tính chất nữa.

ii. Giờ chỉ còn mối quan hệ gẩy đỗ.

iii. Điều nầy không phải là ý định của Đức Chúa Trời.

E. Sáng-thế ký 3.

1. Sự cám dỗ khiến con người sa ngã đó là ước muốn được giống như Đức Chúa Trời.

Con người vốn dĩ được tạo dựng giống như hình ảnh của Đức Chúa Trời rồi.

2. Quyền chủ tễ tối cao thuộc về Đức Chúa Trời.

a. Trong vòng con người thì người nam và người nữ ngang bằng nhau.

Tuy nhiên, con người phụ thuộc vào Đức Chúa Trời.

b. Khi con người ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời, cộng đồng đã được bảo vệ.

c. Tuy nhiên, loài người đã quyết định đi theo đường riêng của mình.

i. Họ tự cho mình quyền chủ tễ tối cao mà quyền nầy đã thuộc về Đức Chúa Trời.

ii. Đây là định nghĩa của tội lỗi.

3. Tuy nhiên, vì cớ tội lỗi, tính chất giống nhau mà Đức Chưa Trời tạo dựng một cách đẹp đẽ đã bị phá hủy hoàn toàn.

a. Con người trở nên xa lạ với Đức Chúa Trời.

b. Con người phải trốn khỏi Đức Chúa Trời.

c. Người nam và người nữ trở nên xa lạ với nhau.

i. Điều cùng một tính chất đã mất.

ii. Người nầy trở nên cao hơn người kia.

iii. Họ không còn cùng nhau hoạt động nữa.

d. Khi tội lỗi bước vào thế gian, có sự phân chia trách nhiệm.

i. Người nam phải chịu lao nhọc với đất.

ii. Giờ đây là một công tác lao nhọc.

iii. Công tác làm đầy dẫy cộng đồng được đặt trên người nữ.

iv. Giờ đây là một công tác đau đớn.

e. Kế hoạch của Đức Chúa Trời bị hủy diệt hoàn toàn.

i. Người nam trở nên nô lệ cho đất.

ii. Người nữ trở nên nô lệ cho nô lệ (= người nam).

f. Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên cộng đồng và Sa-tan đã hủy diệt cộng đồng.

g. Đức Chúa Trời là yêu thương.

Tình yêu thương thật không rời bỏ.


KẾT LUẬN


Đức Chúa Trời tạo dựng người nam và người nữ cùng thực hiện chức năng trong cùng một tính chất. Trước khi Sa ngã, người nam và người nữ thực hiện chức năng trong một cộng đồng cùng một tính chất.

Đức Chúa Trời ban cho người nam và người nữ những mạng lệnh để cùng nhau thực hiện. Tuy nhiên, khi con người phạm tội, người nam và người nữ trở nên biệt lập với nhau và không còn hoạt động trong cùng một tính chất. Người nam cai trị người nữ.

Tuy nhiên, Đức Chúa Trời dự định người nam và người nữ cùng nhau làm việc để hoàn thành mạng lệnh của Ngài.


NHÓM THẢO LUẬN


1. Trần truồng tượng trưng điều gì trong Kinh Thánh?

2. Điều gì khiến cho người nam và người nữ trở nên xa lạ với nhau?

3. Là hậu quả của sự Sa ngã, công tác gì được giao một cách cụ thể cho người nam và công tác gì được giao một cách cụ thể cho người nữ?


TỰ HỌC


1. Đọc Sáng-thế ký 1: 1-3. Nhìn vào Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Làm thế nào mỗi một trong ba thân vị của Đức Chúa Trời cùng nhau hoạt động trong cùng một tính chất?

2. Đánh giá mối quan hệ giữa người nam và người nữ trước khi sa ngã phản ánh mối quan hệ giữa Ba Ngôi Đức Chúa Trời như thế nào?

3. Tại sao nam và nữ cần làm việc với nhau để hoàn tất mạng lệnh của Đức Chúa Trời?



bottom of page