top of page

BÀI 11 : SÁCH KHẢI HUYỀN

Hung Tran

May 21, 2023

Giăng viết sách Khải-huyền nhằm nhắc nhở các tín hữu đang chịu khổ hãy đặt lòng tin trọn vẹn nơi quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời và công tác cứu rỗi của Đấng Christ...



BÀI 11: SÁCH KHẢI-HUYỀN



I. DẪN NHẬP SÁCH KHẢI-HUYỀN

1. Tác Giả, Niên Đại và Người Nhận:

- Người viết tự xưng mình là Giăng (1:1, 4, 9; 22:8) và cũng là nhà tiên tri (22:9). Hầu hết các vị lãnh đạo hội thánh đầu tiên đều cho rằng đó chính là sứ đồ Giăng.

- Có hai giả thuyết về niên đại sách. Một số học giả cho rằng sách này được viết dưới thời hoàng đế Nê-rô sau khi thành Rô-ma bị thiêu cháy năm 64 SC. Nhưng sự bắt bớ của Nê-rô chỉ ở mức độ địa phương, còn trong sách đề cập là một cuộc bách hại khắp nơi (13:7-8).

- Giáo phụ Irenaeus cho rằng sách Khải-huyền được viết trong thời trị vì của hoàng đế Đô-mi-tan (81-96 SC) và hầu hết các học giả đều ủng hộ niên đại của sách là năm 95-96 SC.

- Giăng viết Khải-huyền để gửi cho bảy hội thánh của Á Châu (chương 2-3)

2. Mục đích và Thể Loại:

- Giăng viết sách Khải-huyền nhằm nhắc nhở các tín hữu đang chịu khổ hãy đặt lòng tin trọn vẹn nơi quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời và công tác cứu rỗi của Đấng Christ. Ông nhấn mạnh đến việc hoàn tất kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời khi Đấng Christ trở lại. Những khải tượng và biểu tượng trong sách nhằm khích lệ và tạo sự trông cậy cho các tín hữu trong mọi thời đại rằng Chúa Giê-xu sẽ trở lại để phán xét và cai trị trên đất bằng sự công bình.

- Sách Khải-huyền bao gồm 3 thể loại văn chương trong Kinh Thánh.

(1) Lời tiên tri: bày tỏ kế hoạch của Đức Chúa Trời trong tương lai nhằm thay đổi đời sống người đọc trong hiện tại. (2) Thư Tín: Trong chương 2 và 3 là bằng chứng cho thấy Giăng viết sách này cho bảy hội thánh.

(3) Lời khải thị: văn chương khải thị thường dùng biểu tượng, hướng đến sự can thiệp của Đức Chúa Trời trong dòng lịch sử tương lai, và dự báo về sự hủy diệt kẻ ác.


II. TÍNH ĐỘC ĐÁO CỦA SÁCH KHẢI-HUYỀN

1. Đặc tính của Sách Khải-Huyền:

- Có nhiều cụm từ lặp lại: có nhiều lần lặp lại từ “được Đức Thánh Linh cảm hóa” hay cụm từ “những kẻ (người) ở trên đất”…. Khi chúng ta quan sát những cụm từ này sẽ nắm được sự tiến triển và sự dạy dỗ trong sứ điệp của Đức Chúa Trời.

- Nhiều mảng tư liệu tách rời: sứ điệp cho các hội thánh, các ấn phán xét, rồi kèn phán xét và bát phán xét…. Rải rác giữa những mảng tư liệu này là sự gián đoạn thể hiện hành động tạm ngưng của Đức Chúa Trời và để cho đọc giả dự đoán sự kiện sắp đến.

- Bài ca ngợi khen: nhằm tán dương thân vị và công việc của Đức Chúa Trời và trở thành khuôn mẫu cho Cơ-đốc nhân trong sự thờ phượng Chúa.

- Sử dụng con số: nhiều nhà giải kinh phải vất vả để xác định những con số này là biểu tượng hay là con số thực.

- Dẫn chứng Thánh Kinh Cựu Ước: Giăng không hề trích dẫn cách chính thức câu đoạn Kinh thánh Cựu Ước nhưng thường nói đến sự kiện hay đặc điểm trong Cựu Ước.

2. Giải nghĩa sách Khải-huyền:

- Để giải nghĩa sách Khải-huyền thường phải chọn bốn cách tiếp cận:

a. Giải thích mang tính lý tưởng hóa: xem sách như một bức tranh về cuộc tranh đấu liên tục giữa điều tốt và điều xấu. Phương pháp này cho rằng sách Khải-huyền dạy những lẽ thật tổng quát về Đức Chúa Trời, hội thánh, sự đắc thắng trong tương lai của Cơ-đốc giáo mà không có đề cập cụ thể gì đến những sự kiện lịch sử.

b. Giải thích điều trong quá khứ: sách Khải-huyền đã được ứng nghiệm trong thời Đế quốc La-mã. Những người theo phương pháp này đều tin Khải-huyền là một sách được soi dẫn nhưng họ cho rằng phần lớn những điều trong sách đã ứng nghiệm. Họ xem đó là sự khích lệ cho các tín hữu Tiểu Á đang ở trong sự bách hại chứ không liên quan đến những sự kiện trong tương lai.

c. Phương pháp lịch sử tiếp diễn: đây là một sách mang tính lịch sử. Sách là lời báo trước nhiều sự kiện bằng biểu tượng liên quan đến lịch sử hội thánh.

d. Giải thích sự kiện tương lai: Cách giải thích này liên quan đến những sự kiện trong thời kỳ cuối cùng.

- Quan điểm về Thiên Hy Niên: là khái niệm về 1000 năm bình an theo nghĩa đen, tượng trưng cho thời kỳ hoàng kim mà các nhà tiên tri Cựu Ước đã tiên báo.

- Hậu Thiên Hy Niên: tin rằng việc rao giảng Phúc-âm sẽ khiến cho cuộc sống (hay con người) ngày càng tốt hơn cho đến khi trời đất bước vào thời kỳ hoàng kim. Đấng Christ sẽ đến sau Thiên Hy Niên.

- Vô Thiên Hy Niên: tin rằng không có sự cai trị của Đấng Christ trên đất theo nghĩa đen nhưng sự cai trị của Đấng Christ trên hội thánh trong hiện tại là thời kỳ Thiên Hy Niên. Theo quan điểm này thì Sa-tan là kẻ thù đã bị đánh bại và những người tin Chúa được Đấng Christ cai trị trong đời sống.

- Tiền Thiên Hy Niên theo lịch sử: tin rằng Đấng Christ sẽ trở lại trước thời kỳ hoàng kim và sẽ cai trị trên đất cùng với các thánh của Ngài.

- Tiền Thiên Hy Niên theo giai đoạn thuyết: giống như quan điểm trên, thuyết này tin rằng Đấng Christ sẽ trở lại trước thời kỳ hoàng kim và cai trị trên đất cùng với các thánh của Ngài. Đức Chúa Trời hành động với con người theo nhiều cách khác nhau trong suốt bảy giai đoạn này (thời kỳ).


III. TỔNG QUAN SÁCH KHẢI-HUYỀN

1. Chủ đề: Khải Tượng về Đấng Christ Toàn Thắng của Chúng Ta.

I. Đấng Christ Làm Cho Hội Thánh Vững Mạnh (1:1-3:22).

II. Sự Phán Xét của Đấng Christ về Tội Lỗi (4:1-16:21).

III. Sự Đắc Thắng của Đấng Christ trên Kẻ Ác (17:1-21:8).

IV. Chiến Thắng Cuối Cùng của Đấng Christ (21:9-22:21).

- Sách Khải-huyền chứa đựng bốn khải tượng mô tả Đấng Christ hành động trên thế gian. Khải tượng đầu tiên là lời tiên tri của Giăng với bức tranh về Đấng Christ thêm sức lực cho các hội thánh đang gặp bắt bớ, đặc biệt là bảy hội thánh ở Tiểu Á (1:1-3:22).

- Khải tượng thứ hai bày tỏ sự phán xét thiên thượng đối với thế giới tội lỗi (3:1-16:21). Những phán xét này được biết dưới tên gọi là những ấn, kèn và bát nhằm bày tỏ cơn thạnh nộ và tai họa của Đức Chúa Trời đổ trên thế gian tội lỗi này.

- Khải tượng thứ ba là chiến thắng của Đấng Christ trên kẻ ác (17:1-21:8). Trong khải tượng này Giăng thấy sự đổ nát của nền văn minh thế tục, sự trở lại của Đấng Christ trong vinh hiển và sự cai trị của Đấng Christ trong ngàn năm bình an.

- Khải tượng cuối cùng là hình ảnh Đấng Christ khải hoàn qua mọi thời đại (21:9-22:5). Đây là một bức tranh về thiên đàng với Đức Chúa Cha và Chúa Giê-xu trong khải hoàn và đắc thắng. Khải tượng này là niềm hy vọng và khích lệ các tín hữu.

- Trong phần kết luận (22:6-21) Giăng chuyển tiếp cho các hội thánh lời cảnh báo cũng như lời hứa ông đã nhận từ Đấng Christ.

2. Đấng Christ phán với hội thánh (1-3).

- Đấng Christ trong sự oai nghi và năng quyền truyền ban sứ điệp cho bảy hội thánh ở Tiểu Á gồm có lời kết tội hoặc ngợi khen, khiển trách, cảnh báo và lời hứa. Hội thánh Lao-đixê không nhận được lời khen nào, còn hội thánh Phi-la-đen-phi thì không có một lời khiển trách nào. Bảy hội thánh này đại diện cho các hội thánh trong thời kỳ đầu. Và lời của Chúa cũng phù hợp cho hội thánh ngày nay. Đây cũng là bức tranh về những điều Chúa làm trong việc đoán xét những hội thánh bất tuân và củng cố cũng như sử dụng những hội thánh kết ước với Chúa.


IV. SỰ PHÁN XÉT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (4-11)

1. “Hãy lên đây” (4-5):

- Giăng trình bày khải tượng về sự phán xét từ chương 4 đến chương 16. Đó là ấn, kèn và bát phán xét mà Đức Chúa Trời sẽ giáng trên thế gian này như là một hình phạt cho tội lỗi.

- Trong phần này các nhà giải kinh không thống nhất về vấn đề nơi chốn của hội thánh. Một số cho rằng lời kêu gọi “Hãy lên đây” (4:1) trong cái nhìn hội thánh đã được cất lên khỏi đất trước thời kỳ cuối cùng của những tai vạ được xem như là thời kỳ đại hoạn nạn. Còn một số khác thì chủ trương hội thánh vẫn còn trên đất nhưng sẽ không hứng chịu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.

- Phần này bắt đầu với hình ảnh Đức Chúa Trời ngồi trên ngai trên trời. Chương 4 tìm câu trả lời cho câu hỏi “Ai là người chịu trách nhiệm về các sự kiện lịch sử?” Đó chính là Đức Chúa Trời quyền năng. Đến chương 5 Giăng đưa ra câu hỏi “Ai là người thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời trong lịch sử?” và câu trả lời đó là Chiên Con của Đức Chúa Trời, chính là Chúa Giê-xu.

2. Ấn phán xét (6-7):

- Ấn phán xét bắt đầu từ 6:1 cho đến 8:1 với phần gián đoạn trong 7:9-17. Bốn ấn đầu tượng trưng cho sự xâm lược, chiến tranh, đói kém và chết chóc. Ấn thứ năm là khải tượng về sự an toàn của con dân Chúa trong sự hiện diện của Ngài. Ấn thứ sáu là sự phán xét kinh khiếp sẽ đến để kết thúc mọi thời đại.

- Một số nhà giải kinh cho rằng ấn phán xét là những sự kiện xuất hiện trong thời kỳ đại hoạn nạn. Tốt nhất là chúng ta nên xem những điều này như những ví dụ về sự phán xét xảy ra trong thời đại hiện tại. Trong thời kỳ này chúng ta vẫn thường thấy sự xâm lược, chiến tranh, đói kém và chết chóc như là hậu quả của tội lỗi. Những ấn phán xét này tượng trưng cho sự phán xét Chúa giáng trên tội lỗi và tội nhân trong thời đại này.

- Phần gián đoạn trong chương 7 giữa ấn thứ sáu và ấn thứ bảy cho thấy bức tranh về việc Đức Chúa Trời đóng ấn trên dân sự của Ngài để bảo vệ con dân Ngài khỏi cơn thạnh nộ trong thời kỳ đại hoạn nạn.

3. Kèn phán xét (8-11):

- Trong 8:1 Giăng loan báo việc mở ấn thứ bảy, và sau đó là một sự yên lặng, một sự tạm ngưng thật ấn tượng. Tiếp theo là thời kỳ phán xét mới- kèn phán xét bắt đầu (8:7-11:19). Có một phần gián đoạn trong 10:1 cho đến 11:13. Phần lớn mọi người giải thích rằng kèn phán xét diễn ra trong kỳ đại hoạn nạn.

- Bốn kèn phán xét đầu ảnh hưởng dưới đất và trên trời. Sự phán xét này hủy diệt cây cỏ, biển, sông ngòi và các thiên thể. Kèn phán xét thứ năm và thứ sáu gây đau đớn và khổ sở cho con người, dẫn đến chết chóc. Kèn thứ bảy giới thiệu thời kỳ cuối cùng và có điều gì đó tương tự như kèn thứ sáu. Các kèn phán xét này chỉ gây ảnh hưởng một phần như được biểu thị qua những phân số khi mô tả hậu quả của sự phán xét (xem 8:7-9).

- Trong chương 10 Đức Chúa Trời tái xác nhận sứ mệnh của Ngài đối với Giăng là một tiên tri (10:11). Trong chương 11 Giăng dùng biểu tượng của việc đo đền thờ để nói lên sự bảo vệ của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài trong suốt thời kỳ đại hoạn nạn. Sự bảo vệ của Ngài không ngụ ý rằng Cơ Đốc Nhân sẽ không bị hại hoặc không chịu khổ nạn trong thời kỳ đại hoạn nạn mà là sẽ không điều gì có thể hại họ về mặt tâm linh hay cướp đi của họ sự sống đời đời.


V. SỰ PHÁN XÉT THÊM VÀ PHƯỚC HẠNH (12-22)

1. Phần gián đoạn (12-14):

- Phần gián đoạn thứ ba từ chương 12-14 là lời khích lệ cho những Cơ-đốc nhân bị bắt bớ. Khải tượng về người đàn bà và con rồng thể hiện sự mâu thuẫn không thể dứt giữa Sa tan và dân sự của Đức Chúa Trời. Khải tượng này nhắc chúng ta Đấng Christ đã đánh bại Sa-tan và người nào thuộc về Ngài cũng sẽ vượt qua cám dỗ và sự quấy nhiễu của Sa-tan.

- Trong chương 13, Giăng nói về Anti-Christ, con thú từ dưới biển lên (13:1), là ví dụ về việc sử dụng quyền lực chính trị nhằm thực hiện những mục đích quỷ quyệt của Satan. Con thú thứ hai từ đất lên là tiên tri giả (16:13). Họ dùng quyền lực tôn giáo để lừa bịp những người không tin thờ lạy và vâng phục quyền lực Satan. Nhưng Giăng khẳng định niềm hy vọng cho độc giả rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ sự đắc thắng khi họ kiên trì giữ cam kết với Đấng Christ.

2. Bát phán xét (15-16):

- Chương 15-16 là khải tượng về bát phán xét. Thiên sứ trút những bát này xuống tượng trưng cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Bốn bát thạnh nộ đầu cũng giống như thứ tự của kèn phán xét là tác động trên đất, biển, sông ngòi, và các thiên thể. Tuy nhiên, những phán xét này không phải là một phần nhưng là hoàn toàn. Bát phán xét thứ năm trút xuống tượng trưng cho sự phán xét của Đức Chúa Trời trên nền văn minh thuộc về ma quỷ trong thời kỳ cuối cùng. Bát thứ sáu là sự chuẩn bị cho trận chiến thuộc linh Ha-ma-ghê-đôn, đó là trận chiến cuối cùng giữa quyền lực kẻ ác và vương quốc của Đức Chúa Trời.

- Bát thứ bảy trút xuống dẫn đến sự sụp đổ của Ba-by-lôn và hoàn thành sự phán xét của Đức Chúa Trời trên thế gian.

3. Kết thúc mọi sự (17-20):

- Từ 17:1 đến 21:8 Giăng mô tả một khải tượng cuối cùng. Trong chương 17 ông giải thích hình ảnh tượng trưng Ba-by-lôn và chương 18 là sự sụp đổ thành này.

- Chương 19 là bức tranh về sự trở lại khải hoàn của Đấng Christ. Ông dùng hình ảnh vinh hiển và uy nghi để mô tả Đấng Christ. Sau đó ông mô tả chiến thắng khải hoàn của Ngài trên thế lực Sa-tan trong trận chiến Ha-ma-ghê-đôn. Con thú và những tiên tri giả cũng như kẻ ác nhận lãnh sự đoán phạt là bị quăng vào hồ lửa.

- Trong chương 20, Giăng mô tả sự đắc thắng của Đấng Christ khi trị vì trong thiên hy niên. Chương này có nhiều cách giải thích khác nhau. Một số chủ trương rằng trong thiên hy niên Sa-tan bị trói buộc để cho phép việc rao giảng Phúc-âm trên đất và sự yên nghỉ thuộc linh của những người tin ở với Đấng Christ trên thiên đàng. Những người chủ trương vô thiên hy niên thì cho rằng những câu này mô tả những sự kiện đang xảy ra trong thời đại này. Theo cách giải thích này thì việc trói buộc Satan có nghĩa là làm giới hạn quyền lực của chúng trong thời đại thiên hy niên và người tin Chúa đắc thắng cùng cai trị với Đấng Christ trên đất. Những người tin Chúa sẽ kinh nghiệm sự sống lại của thân thể trong lần sống lại đầu tiên và họ sẽ cai trị với Đấng Christ một ngàn năm. Một số người theo tiền thiên hy niên cho rằng ngàn năm chỉ là độ dài thời gian theo nghĩa đen, còn số khác thì xem một ngàn năm là một khoảng thời gian trong lịch sử tượng trưng cho bình an và đắc thắng với Chúa Giê-xu.

- Cuối thiên hy niên, Sa-tan được thả ra để gây rối loạn trong một thời gian nữa. Rồi nó cũng sẽ bị quăng vào hồ lửa. Đức Chúa Trời cho phép có thiên hy niên là để chứng tỏ rằng tội lỗi là việc cá nhân chứ không chỉ có nguồn gốc từ xã hội. Sau khi Sa-tan bị đoán xét một nhóm người khác sẽ được mang đến trước mặt Đức Chúa Trời trong cuộc đoán xét cuối cùng, gọi là tòa án trắng. Những người đứng trước Đức Chúa Trời trong lần phán xét này cuối cùng sẽ bị quăng vào hồ lửa. Đây là lần chết thứ hai.

4. Mọi sự đều mới (21-22):

- Sau sự hủy diệt Satan và cuộc phán xét cuối cùng, Giăng cho biết ngắn gọn về trời mới đất mới và Giê-ru-sa-lem mới.

- Khải tượng về Giê-ru-sa-lem trên trời là khải tượng cuối cùng của Giăng. Tại đây ông dùng ngôn ngữ trên đất để mô tả Giê-ru-sa-lem đời đời. Có sự tương phản giữa thành phố tội ác của con thú và thành thiên đàng nơi Đức Chúa Trời ngự.

- Giăng dùng từ “Giê-ru-sa-lem mới” (21:2) để chỉ về nơi người tin Chúa sẽ sống trong một trật tự mới đời đời. Điểm nổi bật nhất của Giê-ru-sa-lem mới là sự vinh hiển. Việc thờ phượng và hầu việc Đức Chúa Trời sẽ là niềm vui chính của con cái Đức Chúa Trời trong Giê-ru-sa-lem mới này.

- Phần kết thúc (22:6-21) gồm có lời cảnh báo và lời hứa cho hội thánh. “Ai nghe và vâng theo lời tiên tri này sẽ được phước hạnh.” Ngược lại với số phận của người thánh là sự chết của kẻ ác. Ông cũng rao truyền lời cảnh báo nghiêm túc cho những ai cố ý làm méo mó hay sửa đổi lời dạy của sách này. Ông kết thúc với niềm khao khát ngày Chúa Giê-xu trở lại.


ÔN TẬP:

Để ôn lại phần này hãy trả lời những câu hỏi sau. Có thể ghi câu trả lời ở một quyển tập khác.

1. Ý nghĩa của từ “khải thị” là gì và làm thế nào để lời khải thị này được ban ra?

2. Ba mục đích chính của Đức Chúa Trời khi ban sách Khải-huyền này là gì?

3. Hãy liệt kê và giải thích ba quan điểm về sách Khải-huyền.

4. Chủ đề của sách Khải-huyền là gì? Liệt kê bốn khải tượng.

5. Hình ảnh tượng trưng được dùng trong ba chuỗi phán xét của Đức Chúa Trời trên đất là gì?

6. Lịch sử sẽ kết thúc như thế nào?

7. Đấng Christ sẽ làm gì sau khi Ngài trở lại?

8. Chúng ta phải có suy nghĩ gì về ngày Chúa Giê-xu trở lại?



bottom of page