...Green đã đi vào lịch-sử như “Người cùng khổ hà tiện nước Mỹ,” thế nhưng khi bà từ trần vào năm 1916, bà đã để lại một tài sản trị-giá trên 100 triệu mỹ kim.
Bà đã ăn cháo bột yến mạch nguội lạnh vì sợ tốn tiền chất đốt. Con trai bà đã phải bị cưa một chân vì bà trì hoãn quá lâu trong việc tìm kiếm một nhà thương thí đến nỗi trường hợp của cậu trở nên bó tay. Bà thật giàu có, thế nhưng lại chọn sống như một người cùng khổ.
Lập dị ư? Chắc hẳn rồi! Điên ư? Có lẽ vậy – nhưng không ai có thể chứng-minh điều đó. Bà thật ngu dại đến mức đã tự rút ngắn sự sống mình bằng cách gây ra chứng ngập máu trong khi tranh cãi về giá trị của việc uống sữa không kem!
Nhưng Hetty Green là một hình ảnh minh họa của quá nhiều tín-đồ Cơ-đốc ngày nay. Họ có tài sản vô hạn tùy ý sử dụng, thế mà họ lại sống giống như những kẻ khốn cùng. Chính với loại Cơ-đốc nhân này mà Phao-lô đã viết thư tín gửi cho những người tại Ê-phê-sô.
1. Người viết thư (Êph 1:1-2)
Một số tên trong lịch-sử chúng ta nhận diện được ngay, và “Phao-lô” là một trong những tên đó. Trước tiên tên ông là “Sau-lơ” (Công 7:58) và, vì ông thuộc chi phái Bên gia min (Phi 3:5), có thể tên ông được đặt theo tên của vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên (ISa 9:1-27).
Tuy nhiên, không giống như người trùng tên với mình, Sau-lơ thành Tạt-sơ rất vâng-phục, và trung-tín hầu-việc Đức Chúa Trời. Là một ra-bi sốt sắng, Sau-lơ trở thành lãnh tụ của phong trào bài xích Cơ-đốc giáo tại Giê-ru-sa-lem (Công 9:1-2; Ga 1:13-14).
Nhưng giữa lúc đang tham gia hoạt động này, Sau-lơ bị Chúa Giê-xu Christ “ngăn lại” và đã trở lại đạo (Công 9:3; Công 26:1-32).
Sau-lơ thành Tạt-sơ trở thành Phao-lô, vị sứ-đồ cho dân ngoại (Công 9:15). Trong khi đang giảng-dạy tại Hội thánh ở An-ti-ốt, ông được Thánh Linh kêu-gọi rao-giảng Phúc-Âm cho các dân ngoại, và ông vâng-theo (Công 13:1-3).
Sách Công-vụ ký thuật lại 3 cuộc hành trình truyền-giáo đưa Phao-lô đi khắp đế quốc La-mã trong một trong những nỗ lực truyền-giảng Phúc-Âm vĩ đại nhất trong lịch-sử Hội thánh.
Khoảng năm 53 S.C.N, Phao-lô giảng dạy lần đầu tiên tại Ê-phê-sô nhưng ông không ở lại đó (Công 18:19-21). Hai năm sau, trong cuộc hành trình th ứ ba, Phao-lô đã ngụ lại tại Ê-phê-sô ít nhất 2 năm và nhìn thấy cả khu vực rộng lớn ấy được nghe biết về Phúc-Âm (Công 19:1-20).
Suốt những năm này, ông thiết lập một Hội thánh mạnh mẽ trong thành phố vốn đã được dâng hiến cho việc thờ lạy nữ thần Đi-anh này. Công 20:1-38 mô tả chức-vụ của Phao-lô tại Ê-phê-sô, và Công 19:21-41 giải thích sự chống đối Phao-lô đã đương đầu trong chức-vụ ông tại đó.
Đó là khoảng mười năm sau, Phao-lô viết cho các bạn hữu yêu dấu của ông tại Ê-phê-sô. Phao-lô là một tù-nhân tại La-mã (Êph 3:1; Êph 4:1; Êph 6:20), và ông mong muốn chia-sẻ với các tín-hữu này những chân-lý lớn lao Chúa đã dạy ông về Đấng Christ và Hội thánh.
Hãy so sánh Êph 6:21-22 v ới Côl 4:7-9 và Phi-lê-môn để có sự hiểu biết tường tận hơn về bối cảnh lịch-sử.
Ô-nê-sim, một người nô-lệ, đã chạy trốn khỏi chủ mình là Phi-lê-môn đang sống tại Cô-lô-se.
Trong khi ở tại La-mã, Ô-nê-sim gặp Phao-lô và trở lại đạo. Ty-chi-cơ, một trong các mục-sư của Hội thánh tại Cô-lô-se, có thể đã từng nhóm lại trong nhà Phi-lê-môn, cũng đang ở tại La-mã để bàn luận một số vấn-đề với Phao-lô.
Vì thế Phao-lô nhân sự có mặt của 2 người này đã gửi 3 bức thư cho các bạn hữu ông: Thư tín gửi cho người Ê-phê-sô, Thư tín gửi cho người Cô-lô-se, và Thư tín gửi cho Phi-lê-môn.
Cùng lúc, ông cũng gửi Ô-nê-sim trở về với chủ mình.
Vì thế, thư này được viết từ La-mã khoảng năm 62 S.C.N. Mặc dầu Phao-lô đang gặp thử-thách trong cuộc sống nhưng ông vẫn quan tâm đến nhu-cầu tâm-linh của các Hội thánh ông đã thành lập.
Là một sứ-đồ, tức “một người được sai đi với một sứ-mệnh,” ông có bổn-phận dạy-dỗ họ Lời của Đức Chúa Trời và tìm cách gây-dựng họ lớn lên trong đức-tin (Êph 4:11-12).
2. Người nhận thư (Êph 1:1-2)
Chắc bạn ngạc nhiên khi thấy Phao-lô gửi thư cho các thánh-đ ồ? Xét cho cùng, các vị thánh là những người đã qua đời có được sự nổi tiếng về thuộc-linh đến nỗi họ được ban cho danh hiệu đặc biệt là thánh-đồ.
Hay họ thực sự là những vị thánh?
Không có từ nào trong Tân-ước gặp nhiều trở ngại nhiều hơn từ thánh-đồ này. Ngay đến từ điển cũng định nghĩa một vị thánh là một “người được chính thức công nhận là có đời sống thánh-khiết.”
Ai chính thức công nhận điều này? Thường là một hội đồng tôn-giáo nào đó, và tiến trình bởi đó một người trở nên một vị thánh, về giáo-nghi được nhận biết như là sự phong-thánh.
Đời sống của người đã qua đời được xem xét kỹ lưỡng để xem thử người ấy có đạt yêu cầu cho địa-vị thánh-đồ không. Nếu tính cách và đạo đức của người được đề nghị phong-thánh được thấy là không chỗ chê trách, nếu người ấy đã thực hiện ít nhất 2 phép-lạ, thì người ấy đạt yêu cầu được phong là một vị thánh.
Cũng lý thú như thủ tục này, chúng ta không thấy điều đó được cho phép trong Thánh Kinh. Chín lần trong bức thư ngắn ngủi này, Phao-lô gọi độc-giả của mình là các thánh-đồ (Êph 1:1,15,18; Êph 2:19; Êph 3:8,18; Êph 4:12; Êph 5:3; Êph 6:18).
Các vị thánh này vẫn còn sống, chớ không chết, mặc dầu trước kia họ đã từng “chết vì lầm-lỗi và tội ác mình” (Êph 2:1-3).
Và rõ ràng họ chưa hề thực hiện bất kỳ phép-lạ nào, mặc dầu họ đã từng trải một phép-lạ bởi việc tin Đấng Christ là Cứu Chúa (Êph 2:4-10). Từ thánh-đồ chỉ là một trong nhiều thuật ngữ được dùng trong Tân-ước để mô tả “một người đã tin Chúa Giê-xu Christ là Cứu Chúa.” Người này vẫn “còn sống,” không chỉ về thân xác, mà cả về tâm-linh nữa (Êph 2:1).
Hãy xem Công 9:1-43 và bạn sẽ thấy Cơ-đốc nhân được gọi là môn-đệ (Công 9:1,10,19,25-26,36,41), những người thuộc về Đạo (Công 9:2) và thánh-đồ (Công 9:13,32,41).
Từ thánh-đồ có nghĩa là “một người được biệt riêng.” Nó liên hệ với từ được thánh-hóa, có nghĩa là “biệt riêng ra.” Khi tội-nhân tin Đấng Christ là Cứu Chúa mình, người ấy được tách riêng ra khỏi thế-gian và được đặt “trong Đấng Christ.”
Người tín-đồ về phần thân xác vẫn ở trong thế gian, nhưng về tâm-linh không thuộc về thế-gian (Gi 17:14-16).
Giống như một người thợ lặn có bình nén, người ấy tồn tại được trong một môi trường khác lạ vì người ấy có những trang thiết bị đặc biệt – trong trường hợp này là Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang ngự trong lòng.
Mọi tín-đồ thật đều có Đức Thánh Linh ngự-trị (ICôr 6:19-20; Rô 8:9), và chính bởi năng-quyền của Thánh Linh mà Cơ-đốc nhân có thể sống động trong thế-gian.
Bây giờ đối với câu hỏi quan-trọng: Những người tại Ê-phê-sô này lại trở thành thánh-đồ như thế nào? Câu trả lời được tìm thấy trong hai từ: “trung-tín” và “ân-điển” (Êph 1:1-2).
Khi Phao-lô gửi thư cho “các thánh-đồ . . . và những kẻ trung-tín trong Chúa Giê-xu Christ” ông không đang gửi cho 2 nhóm người khác nhau.
Từ trung-tín mang ý nghĩa “những tín-đồ trong Chúa Giê-xu Christ.” Những người này không phải được cứu bởi việc sống một đời sống trung-tín đúng hơn họ đã đặt đức-tin mình nơi Đấng Christ và đã được cứu. Điều này rõ rệt trong Êph 1:12-14; Êph 1:19.
Từ ân-điển được dùng 12 lần trong thư Ê-phê-sô và nhằm nói đến “sự nhân-từ của Đức Chúa Trời đối với những kẻ không xứng đáng.” Ân-điển và sự thương-xót thường được thấy đi chung nhau trong Thánh Kinh, và chúng hẳn nhiên hài hòa nhau trong kinh-nghiệm cứu rỗi.
Có người đã nói thật hay, “Đức Chúa Trời bởi lòng thương-xót Ngài đã không ban cho tôi điều mà tôi thật sự đáng phải nhận lãnh, và Đức Chúa Trời bởi ân-điển Ngài đã ban cho tôi điều tôi không xứng đáng nhận.”
Ân-điển và đức-tin đi chung với nhau vì cách duy nhất để kinh-nghiệm ân-điển và sự cứu-rỗi là bởi đức-tin (Êph 2:8,9).
Cụm từ sau “trong Chúa Giê-xu Christ” được dùng 27 lần trong bức thư này! Nó mô tả địa-vị thuộc-linh của người tín-đồ: người ấy được đồng nhất hóa với Đấng Christ, người ấy ở trong Đấng Christ, và vì vậy có thể nương nhờ vào sự giàu có của Đấng Christ cho sự sống mỗi ngày của chính mình.
3. Mục đích bức thư (Êph 1:3)
Mỗi sách trong Kinh Thánh đều có chủ-đề và sứ-điệp đặc biệt của riêng nó, cho dù nó có thể đề cập tới nhiều đề-tài khác nhau.
-Sáng-thế ký là sách của những sự khởi đầu.
-Ma-thi-ơ là sách nói về nước trời.
-Ga-la-ti là sách bàn về sự tự-do.
-Êph 1:3 nêu rõ chủ-đề của sách: “Sự giàu có của Cơ-đốc nhân trong Đấng Christ.”
Nguồn cội các phước hạnh của chúng ta: “Ngợi-khen Đức Chúa Trời, Cha Chúa Giê-xu Christ chúng ta.” Đức Chúa Cha đã làm cho chúng ta được giàu có trong Chúa Giê-xu Christ! Khi bạn được sanh lại trong gia đình Đức Chúa Trời, bạn được sanh ra thật giàu có.
Bởi Đấng Christ, bạn được dự phần trong sự giàu có của ân-điển Đức Chúa Trời (Êph 1:7; Êph 2:7), của vinh-hiển Đức Chúa Trời (Êph 1:18; Êph 3:16), của lòng thương-xót Đức Chúa Trời (Êph 2:4), và “sự giàu có không dò được của Đấng Christ” (Êph 3:8).
Cha thiên thượng của chúng ta không nghèo Ngài thật giàu có – và Ngài đã làm cho chúng ta được giàu có trong Con Ngài.
J.Paul Getty, được cho là người giàu có nhất thế giới, có tài sản trị giá ước lượng 1,3 tỉ đô-la. Lợi tức hàng tuần của một số “vua dầu hỏa” lên tới hàng triệu đô. Thế nhưng tất cả sự giàu có này chỉ là “những đồng xu” khi so sánh với của cải thuộc-linh chúng ta có được trong Đấng Christ.
Trong bức thư này, Phao-lô giải thích với chúng ta những của cải này là gì và làm thế nào chúng ta có thể nương nhờ vào chúng để có đời sống Cơ-đốc kết quả.
Phạm vi các phước hạnh của chúng ta: “đủ mọi thứ phước thiêng-liêng.” Điều này có thể dịch là “đủ mọi thứ phước hạnh thuộc-linh,” ám chỉ Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Trong Cựu-ước, Đức Chúa Trời hứa với dân Y-sơ-ra-ên, tuyển dân trên đất của Ngài, các phước hạnh vật chất như một sự ban thưởng cho sự vâng-lời của họ (Phuc 28:1-13).
Ngày nay, Ngài hứa chu-cấp mọi sự cần dùng của chúng ta “y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh-hiển trong Chúa Giê-xu Christ.” (Phi 4:19), nhưng Ngài không hứa che chở chúng ta khỏi sự nghèo thiếu hoặc đau đớn. Đức Chúa Cha đã ban cho chúng ta mọi thứ phư ớc thiêng-liêng, mọi thứ chúng ta cần để có một đời sống Cơ-đốc thành công, thỏa mãn. Những điều thuộc-linh thì quan-trọng hơn nhiều so với những điều thuộc-thể.
Đức Thánh Linh được nhắc đến nhiều lần trong thư này, vì Ngài là Đấng tuôn đổ sự giàu có từ Đức Chúa Cha sang chúng ta, bởi Đức Chúa Con. Không nhận biết và lệ thuộc vào sự chu-cấp của Đức Thánh Linh là sống một đời sống nghèo nàn về tâm-linh.
Không ngạc nhiên gì khi Phao-lô bắt đầu chức-vụ của ông tại Ê-phê-sô bằng việc hỏi những người xưng mình là Cơ-đốc nhân xem họ đã thực sự biết Đức Thánh Linh chưa! (Công 19:1-7).
Chúng ta có thể hỏi những người tự nhận là Cơ-đốc nhân ngày nay, “Bạn đã nhận lãnh Đức Thánh Linh khi bạn tin Đấng Christ chưa? Nếu câu trả lời là chưa, tức là bạn chưa được cứu.”“Nhưng nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài” (Rô 8:9). Nếu bạn không có sự làm-chứng của Thánh Linh (Rô 8:15-16), bạn không thể nương nhờ vào của cải thuộc-linh được.
Tầm ảnh hưởng của các phước hạnh chúng ta: “ở các nơi trên trời trong Đấng Christ.” Có lẽ một bản dịch rõ hơn sẽ là “ở trên trời trong Đấng Christ.” Người chưa được cứu quan tâm chủ yếu đến những điều thuộc về đất, vì đây là nơi người ấy sống. Chúa Giê-xu gọi họ là “con đời này” (Lu 16:8).
Đời sống của Cơ-đốc nhân hướng đến thiên-đàng. Quyền công dân của người ấy ở trên thiên-đàng (Phi 3:20) tên người ấy được ghi trên thiên-đàng (Lu 10:20) Cha của người ấy ở trên thiên-đàng và sự chú ý cùng tình cảm của người ấy cần phải được tập-trung vào những điều thuộc thiên-đàng (Côl 3:1).
Nhà Truyền-đạo D. L. Moody từng cảnh cáo về những người quá “tư tưởng về thiên-đàng đến độ họ chẳng hữu ích gì ở trên đất này,” nhưng đó không phải là điều Phao-lô đang mô tả. “Các nơi trên trời” mô tả nơi mà Chúa Giê-xu Christ hiện đang ở (Êph 1:2) và nơi mà người tín-đồ đồng ngồi với Ngài (Êph 2:6).
Chúng ta đánh trận chẳng phải cùng thịt và huyết trên đất này, bèn là cùng các thế lực thuộc Sa-tan “ở các miền trên trời ” (Êph 6:12).
Cơ-đốc nhân thật sự sống động trong 2 lãnh vực: lãnh vực con người và lãnh vực thiên-thượng, lãnh vực thấy được và lãnh vực không thấy được.
Về thuộc-thể, người ấy ở trên đất này trong một thân xác con người, nhưng về thuộc-linh người ấy đồng ngồi với Đấng Christ tại các nơi trên trời – và chính lãnh vực thuộc về trời này cung-cấp cho họ năng lực và sự dẫn dắt để bước đi trên đất.
Tổng Thống Mỹ không phải lúc nào cũng ngồi tại bàn làm việc của mình trong Tòa Bạch Ốc, nhưng chiếc ghế hành pháp ấy tượng trưng cho lãnh vực hoạt động của đời sống và quyền hành ông. Dù cho ông ở đâu, ông vẫn là Tổng Thống, vì chỉ một mình ông có đặc quyền ngồi tại bàn ấy.
Với Cơ-đốc nhân cũng giống như vậy: dù cho người ấy có thể ở trên đất này, người ấy vẫn đồng ngồi ở các nơi trên trời với Chúa Giê-xu Christ, và đây là nền tảng của đời sống và năng-quyền của người ấy.
Khi còn nhỏ, Nữ Hoàng Victoria đã không được cho biết rằng mình sẽ trở thành người kế vị cai-trị Anh-quốc e rằng sự nhận biết này có thể làm hỏng con người của bà.
Nhưng cuối cùng khi vị giáo-sư để bà tự khám phá rằng một ngày kia bà sẽ là Nữ Hoàng của Anh-quốc, thì bà đã tuyên bố, “Vậy thì tôi sẽ phải thật giỏi!”
Đời sống bà sẽ được điều khiển bởi địa-vị của bà. Dù ở nơi đâu, Victoria luôn bị chi phối bởi sự kiện mình là người ngồi trên ngai vàng Anh-quốc.
Sự kiện Phao-lô đang viết về sự giàu có sẽ có ý nghĩa đối với độc-giả của ông, vì Ê-phê-sô được xem là ngân hàng của Á Châu. Đền thờ nữ thần Đi-anh vĩ đại, một trong 7 kỳ quan của thế giới, ở tại Ê-phê-sô, và đó không chỉ là một trung tâm thờ lạy hình-tượng, mà còn là một kho chứa của báu.
Một số trong các kho tàng mỹ thuật vĩ đại nhất của thế giới cổ đại được cất giữ trong tòa nhà nguy nga này. Trong thư tín này, Phao-lô sẽ so sánh Hội thánh của Chúa Giê-xu Christ với một đền thờ và sẽ giải thích sự giàu có dư dật mà Đấng Christ có trong Hội thánh Ngài.
Phao-lô đã sử dụng từ sự giàu có, nhưng bạn có thể muốn kiểm tra những từ “thuộc về tài chánh” khác chẳng hạn như dự phần kế-nghiệp (hay cơ-nghiệp) (Êph 1:11,14,18; Êph 5:5) và sự đầy đủ, hoặc được đầy dẫy (Êph 1:10,23; Êph 3:19; Êph 4:10,13; Êph 5:18). Phao-lô đang nói với chúng ta, “HÃY TRỞ NÊN GIÀU CÓ! ”
2. BẠN GIÀU CÓ BIẾT BAO! (Êph 1:4-23)
Một trong những tranh biếm họa vui nhộn nhất tôi từng được xem vẽ một luật-sư đang đọc di chúc của một thân chủ cho một nhóm họ hàng đầy tham lam nghe. Lời chú thích ghi: “Tôi, John Jones, với đầu óc minh mẫn và thân thể tráng kiện, đã tiêu hết gia tài mình có!”
Khi Chúa Giê-xu Christ viết di-chúc cho Hội thánh, Ngài khiến chúng ta có thể san sẻ những sự giàu có thuộc-linh của Ngài. Thay vì tiêu phí tất cả, Chúa Giê-xu Christ đã chi trả tất cả.
Sự chết của Ngài trên thập-tự giá và sự Phục Sinh của Ngài khiến sự cứu-rỗi của chúng ta có thể thực hiện được. Ngài viết chúng ta vào trong di-chúc của Ngài, rồi Ngài chết đi để di-chúc ấy được thi hành.
Sau đó Ngài đã sống lại để có thể trở thành Đấng biện hộ trên trời (trạng-sư) để bảo-đảm những điều khoản của di-chúc được tuân thủ cách đúng đắn!
Trong câu văn thật dài này, Phao-lô chỉ kể tên một số trong các thứ phước hạnh tạo nên di-sản thuộc-linh của chúng ta:
1. Các thứ phước từ nơi Đức Chúa Cha (Êph 1:4-6)
Ngài đã chọn chúng ta (Êph 1:4). Đây là giáo-lý diệu kỳ về sự lựa chọn, một giáo-lý làm một số người bối rối và một số khác phải ngạc nhiên.
Một giáo-sư chủng viện có lần đã bảo tôi, “Nếu cố gắng giải thích sự lựa chọn của Chúa thì bạn có thể mất trí. Nhưng cố gắng thanh minh về nó thì bạn có thể mất linh-hồn!”
Tất cả Cơ-đốc nhân đều sẽ đồng ý rằng sự cứu-rỗi bắt đầu với Đức Chúa Trời, chớ không phải với con người.
“Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn Ta, bèn là Ta đã chọn các ngươi” (Gi 15:16).
Tội-nhân hư-mất, nếu để theo đường riêng mình, sẽ chẳng hề tìm kiếm Đức Chúa Trời (Rô 3:10-11) Đức Chúa Trời bởi lòng yêu thương Ngài đã tìm và cứu kẻ có tội (Lu 19:10).
Hãy lưu ý là Đức Chúa Trời đã chọn chúng ta ngay trước khi Ngài dựng nên vũ trụ, hầu cho sự cứu-rỗi của chúng ta là hoàn toàn bởi ân-điển Ngài chớ không dựa trên bất cứ điều gì bản thân chúng ta đã làm. Ngài chọn chúng ta trong Đấng Christ, chớ không phải trong con người chúng ta.
Và Ngài chọn chúng ta nhằm một mục đích: được nên-thánh và không chỗ trách được. Trong Kinh Thánh, sự lựa chọn luôn luôn hướng tới một điều gì đó. Nó là một đặc quyền kèm theo một trách-nhiệm lớn lao.
Phải chăng tội-nhân đáp lại ân-điển của Đức Chúa Trời ngược lại ý muốn riêng của mình? Không, người ấy đáp lại vì ân-điển của Đức Chúa Trời làm cho người ấy sẵn lòng đáp lại.
Trong đời này chúng ta sẽ không bao giờ hiểu rõ tận tường sự mầu-nhiệm của quyền tể-trị thiên-thượng và trách-nhiệm của con người trong công tác cứu-rỗi. Cả hai điều này đều được dạy dỗ trong Kinh Thánh (Gi 6:37).
Cả hai đều đúng, và cả hai đều thiết yếu.
Bạn sẽ lưu ý là cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời đều có liên quan đến sự cứu-rỗi của chúng ta. (IPhi 1:3). Về phần Đức Chúa Cha, bạn được cứu khi Ngài chọn bạn trong Đấng Christ từ trước khi sáng-thế. Nhưng chỉ điều đó thôi không cứu được bạn.
Về phần Đức Chúa Con, bạn được cứu khi Ngài chết thay cho bạn trên thập-tự giá. Về phần Đức Thánh Linh, bạn được cứu khi bạn quy phục trước sự cáo trách của Ngài và tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình. Điều khởi đầu từ trước khi sáng-thế đã được làm trọn vẹn trong thời gian hiện tại, và sẽ còn tiếp tục suốt cả cõi đời-đời!
• Ngài đã nhận chúng ta làm con nuôi (Êph 1:5).
Tại đây chúng ta gặp từ ngữ bị hiểu lầm là sự tiền định. Từ này, như được dùng trong Kinh Thánh, chủ yếu nói đến điều Đức Chúa Trời làm cho những kẻ được cứu.
Không nơi nào trong Kinh Thánh chúng ta được dạy dỗ là người ta được định trước để xuống địa-ngục, vì từ này chỉ nhằm vào dân-sự Đức Chúa Trời mà thôi. Từ này chỉ có nghĩa là “định trước, quyết định trước.”
Sự lựa chọn dường như liên hệ tới con người, trong khi sự tiền định liên quan tới các mục đích.
Những sự kiện có liên quan với sự đóng đinh của Đấng Christ đã được định trước (Công 4:25-28).
Đức Chúa Trời đã định trước cho chúng ta được làm con nuôi Ngài (Êph 1:5), và được trở nên giống với Đấng Christ (Rô 8:29-30), cũng như được kế-nghiệp trong tương lai (Êph 1:11).
Sự nhận làm con nuôi có một nghĩa đôi, cả hiện tại lẫn tương lai. Bạn không bước vào gia đình Đức Chúa Trời bởi việc nhận làm con nuôi. Bạn bước vào gia đình của Ngài bởi sự tái-sinh, sự sanh ra cách mới mẻ (Gi 3:1-18; IPhi 1:22-25).
Sự nhận làm con nuôi là việc làm của Đức Chúa Trời bởi đó Ngài ban cho “những kẻ đã được sanh-lại” địa-vị của một người trưởng-thành trong gia đình.
Vì sao Ngài lại làm điều này? Hầu cho chúng ta có thể ngay tức khắc bắt đầu nhận chắc quyền kế-tự của chúng ta và tận hưởng gia-sản thuộc-linh của mình! Một em bé không thể nào sử dụng quyền kế-thừa này cách hợp pháp (Ga 4:1-7), nhưng một đứa con trưởng-thành thì có thể – và phải được hưởng! Điều này có nghĩa là bạn không cần phải chờ đợi đến lúc trở thành một vị thánh già nua trước khi bạn có thể đòi được hưởng sự giàu có của bạn trong Đấng Christ.
Khía cạnh tương lai của sự nhận làm con nuôi được tìm thấy trong Rô 8:22-23, thân thể vinh-hiển chúng ta sẽ có khi Chúa Giê-xu trở lại. Chúng ta đã có địa-vị của một người trưởng-thành trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng thế-gian không thể nhìn thấy điều này. Khi Đấng Christ trở lại, “sự nhận làm con nuôi riêng tư” này sẽ được công-bố để tất cả mọi người đều nhìn thấy!
• Ngài đã chấp nhận chúng ta (Êph 1:6).
Chúng ta không th ể tự làm cho mình có thể chấp nhận được đối với Đức Chúa Trời nhưng Đức Chúa Trời, bởi ân-điển Ngài, làm cho chúng ta được chấp nhận trong Đấng Christ.
Đây là địa-vị đời-đời của chúng ta, là điều sẽ không bao giờ thay đổi. Một số bản Kinh Thánh dịch là “ân-điển mà Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài” (bản NASB).
Hay, “Ngài đã ban ân-điển (dịch sát nghĩa đen) cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài.”
Ý tưởng thì giống nhau. Bởi ân-điển của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, chúng ta được chấp nhận trước mặt Ngài. Phao-lô đã dùng lý-lẽ tương tự để viết cho Phi-lê-môn, khích-lệ ông tiếp nhận người nô-lệ đã bỏ trốn của ông là Ô-nê-sim.
“Nhược bằng người có mắc nợ anh đều chi, tôi sẽ trả cho anh. Hãy nhận lấy người như anh sẽ nhận lấy chính mình tôi vậy” (Phi 1:17-19, diễn ý).
Sự so sánh thật dễ nhìn thấy.
2. Các thứ phước từ nơi Đức Chúa Con (Êph 1:7-12)
Chúng ta không nên nghĩ rằng mỗi Ngôi Đức Chúa Trời hoạt động độc lập với nhau, vì cả Ba ngôi cùng hoạt động chung với nhau để thực hiện sự cứu-rỗi của chúng ta. Nhưng mỗi Ngôi có một chức-vụ đặc biệt để thực hiện, một “của cầm thuộc-linh” đặc biệt để ký-thác trong đời sống chúng ta.
• Ngài đã cứu-chuộc chúng ta (Êph 1:7a).
Cứu-chuộc có nghĩa là “chuộc mua và phóng thích bằng cách trả một giá nào đó.” Có sáu triệu nô-lệ tại Đế quốc La-mã, và thường thì họ được mua bán như những món đồ đạc trong nhà.
Nhưng một người có thể chuộc-mua một nô-lệ và trả tự-do cho người ấy, và đây là điều Chúa Giê-xu đã làm cho chúng ta. Giá phải trả là chính huyết của Ngài (IPhi 1:18).
Điều này có nghĩa là chúng ta được tự-do khỏi luật-pháp (Ga 5:1), được giải phóng khỏi nô-lệ cho tội-lỗi (Rô 6:1-23) cũng như được giải thoát khỏi quyền lực của Sa-tan và thế-gian (Ga 1:4; Côl 1:13-14).
Nếu chúng ta là những nô-lệ, chúng ta sẽ nghèo khổ, nhưng vì chúng ta là con, nên chúng ta thật giàu có!
• Ngài đã tha-thứ cho chúng ta (Êph 1:7).
Từ tha-thứ có nghĩa là “cất đi.” Điều này nhắc chúng ta nhớ đến nghi thức vào Ngày Đại lễ Chuộc Tội của Người Do-thái khi thầy tế-lễ thượng phẩm đuổi con dê đực vào nơi đồng vắng (Lê 16:1-34).
Trước tiên thầy tế-lễ giết một trong hai con dê đực và rảy huyết nó trước mặt Đức Chúa Trời trên nắp thi-ân. Kế đó người xưng ra các tội-lỗi của dân Y-sơ-ra-ên trên con dê đực còn sống, và bắt con dê đực đó gánh trên mình các tội ác ấy ra nơi hoang địa để chết tại đó.
Đấng Christ đã chịu chết để cất lấy tội-lỗi chúng ta hầu cho những tội-lỗi ấy không bao giờ có thể được nhìn thấy nữa (Gi 1:29; Thi 103:12).
Không lời buộc tội nào đứng vững nghịch cùng chúng ta được vì tội-lỗi chúng ta đã được cất đi! Tội-lỗi khiến chúng ta nghèo khó, nhưng ân-điển làm cho chúng ta được giàu có.
Ngài đã bày tỏ ý muốn Đức Chúa Trời cho chúng ta (Êph 1:8-10). Bức thư này có nhiều điều để nói về ý định của Đức Chúa Trời đối với con-dân của Ngài, một ý định không được thấu hiểu trọn vẹn kể cả vào thời của Phao-lô.
Từ sự mầu-nhiệm không liên quan gì đến những điều kỳ dị, mê tín. Nó có nghĩa là một “điều bí ẩn thiêng-liêng, trước kia đã được giấu kín nhưng hiện nay được mạc khải cho con cái Đức Chúa Trời.” Những tín-hữu chúng ta là một phần của “quỹ đạo thầm kín” của Đức Chúa Trời.
Chúng ta có thể dự phần trong điều bí ẩn là một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ hội hiệp muôn vật lại trong Đấng Christ. Kể từ khi tội-lỗi vào trong thế-gian, mọi vật đều rơi vào sự sa ngã.
-Trước tiên, con người bị phân cách với Đức Chúa Trời (Sa 3:1-24).
-Kế đó con người bị phân cách với nhau, như Ca-in giết chết A-bên (Sa 4:1-16).
-Con người cố gắng duy trì một loại hiệp-nhất bằng cách xây cất Tháp Ba-bên (Sa 11:1-9), nhưng Đức Chúa Trời đã đoán-phạt họ và khiến họ bị tản lạc khắp thế giới. Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ra-ham và đặt một sự khác biệt giữa người Do-thái với dân ngoại, một sự khác biệt được duy trì cho đến khi Đấng Christ chịu chết trên thập-tự giá.
Tội-lỗi đang làm muôn vật phải phân ly, nhưng trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời sẽ hội-hiệp muôn vật lại với nhau trong khi kỳ mãn. Chúng ta là một phần của chương trình đời-đời vĩ đại này.
Ngài đã khiến chúng ta nên một cơ-nghiệp (Êph 1:11-12). Bản King James dịch là, “Trong Ngài chúng ta cũng đã nhận được một cơ-nghiệp,” hoặc cũng có thể dịch là “trong Ngài chúng ta cũng được trở nên một cơ-nghiệp.”
Cả hai đều đúng và điều này bao gồm điều kia. Trong Đấng Christ chúng ta có một cơ-nghiệp diệu kỳ (IPhi 1:1-4), và trong Đấng Christ chúng ta là một cơ-nghiệp.
• Chúng ta thật giá-trị đối với Ngài.
Hãy nghĩ đến giá Đức Chúa Trời đã trả để chuộc mua chúng ta và khiến chúng ta là một phần của cơ-nghiệp Ngài! Đức Chúa Con là món quà yêu thương của Đức Chúa Cha ban cho chúng ta và chúng ta là món quà yêu thương của Đức Chúa Cha ban cho Con Ngài.
Xin xem Gi 17:1 và lưu ý bao nhiêu lần Đấng Christ gọi chúng ta là “những kẻ Cha đã giao cho Con.”
Hội thánh là thân thể (Êph 1:22-23), là nhà (Êph 2:19-22), và tân nương (Êph 5:22-23) của Đấng Christ cơ-nghiệp tương lai của Đấng Christ được gồm tóm trong Hội thánh Ngài.
Chúng ta là “kẻ đồng kế tự với Đấng Christ” (Rô 8:17), điều đó có nghĩa là Ngài không thể đòi hỏi cơ-nghiệp của Ngài tách rời khỏi chúng ta!
3. Các thứ phước từ nơi Đức Chúa Thánh Linh (Êph 1:13-14)
Giờ đây chúng ta chuyển từ quá-khứ đời-đời (Êph 1:4-6), và quá-khứ trong lịch-sử (Êph 1:7-12), sang từng-trải trước mắt của các Cơ-đốc nhân tại Ê-phê-sô. Thánh Linh đã hành động trong đời sống họ, và họ nhận biết điều đó.
• Ngài đã ấn-chứng chúng ta (Êph 1:13).
Toàn thể tiến trình cứu-rỗi được bày tỏ cho chúng ta trong câu này, vì vậy chúng ta nên xem xét nó cách cẩn thận.
Câu này cho biết bằng cách nào một tội-nhân trở thành một thánh-nhân.
-Trước tiên, người ấy nghe Phúc-Âm cứu-rỗi. Tin mừng này là Đấng Christ đã chết vì cớ tội-lỗi chúng ta, đã bị chôn và đã sống lại (ICôr 15:1).
Người Ê-phê-sô là dân ngoại, và Phúc-Âm đã đến “với người Do-thái trước hết” (Rô 1:16). Nhưng Phao-lô, một người Do-thái, đã đem Phúc-Âm đến cho dân ngoại khi ông chia-sẻ Lời Đức Chúa Trời với họ.
Người Ê-phê-sô “đã nghe Phúc-Âm” và khám phá đạo ấy dành cho họ – “sự cứu-rỗi anh em” (c.13). Mặc dầu Kinh Thánh dạy về sự lựa chọn, nhưng Lời Chúa cũng công-bố, “Các ngươi hãy đi khắp thế gian và giảng Phúc-Âm cho mọi người” (Mac 16:15).
Một người chinh-phục linh-hồn tội-nhân không bàn cãi sự lựa chọn với những người chưa được cứu, vì đó là một điều mầu-nhiệm trong gia đình thuộc về các thánh-đồ.
Người ấy chỉ công-bố chân-lý của Phúc-Âm và mời gọi người ta tin nhận Đấng Christ, và Đức Thánh Linh thực hiện phần còn lại. D. L. Moody đã từng cầu-nguyện, “Lạy Chúa, xin hãy cứu những kẻ được chọn – và rồi xin Ngài hãy chọn thêm một số nữa!”
Cùng một Đức Chúa Trời Đấng đã định ra cứu cánh, tức sự cứu-rỗi linh-hồn, thì chính Đấng ấy cũng định ra phương tiện để đạt đến cứu cánh đó, tức việc rao-giảng Phúc-Âm trong năng-quyền của Thánh Linh.
Sau khi đã nghe Lời được rao-giảng, người Ê-phê-sô đã tin và chính đức-tin này đã đem đến sự cứu-rỗi (Êph 2:8-9). Khuôn mẫu này theo sau điều Phao-lô viết trong Rô 10:13-15, vì vậy xin hãy đọc kỹ đoạn đó.
Đó là kế hoạch rao-giảng Phúc-Âm của Đức Chúa Trời. Khi người Ê-phê-sô đã tin, họ được “ấn-chứng bằng Đức Thánh Linh.”
“Sau khi anh em đã tin” nên hiểu là “khi anh em đã tin.”
Bạn nhận lãnh Đức Thánh Linh ngay khi tin nhận Đấng Christ. Đây không phải là một kinh-nghiệm đến sau sự trở lại đạo. (Công 10:34-48).
Ý nghĩa của việc ấn-chứng bằng Đức Thánh Linh này là gì? Về một mặt, nó nói đến một sự giải quyết đã hoàn tất. Ngay cả ngày nay, khi các văn-kiện pháp-lý được chính thức giải quyết, chúng được đóng dấu mộc để cho biết việc giải quyết đã hoàn tất.
Việc đóng dấu này cũng ám chỉ quyền sở hữu: Đức Chúa Trời đã đóng dấu-ấn của Ngài trên chúng ta vì Ngài đã mua-chuộc chúng ta để trở thành của riêng Ngài (ICôr 6:19-20).
• Nó cũng hàm ý sự an-ninh và sự che-chở.
Dấu niêm phong của người La-mã trên ngôi mộ của Chúa Giê-xu chứa đựng ý nghĩa này (Mat 27:62-66). Thế nên, người tín-đồ thuộc về Đức Chúa Trời, và được an-toàn và che-chở bởi vì người là một phần của một sự giải quyết đã hoàn tất.
Theo Gi 14:16-17, Đức Thánh Linh ở với người tín-đồ đời đời. Chúng ta dễ làm buồn lòng Đức Thánh Linh và do đó mất đi các phước hạnh của chức vụ Ngài (Êph 4:30).
Nhưng Ngài không lìa bỏ chúng ta.
Một công dụng khác của dấu-ấn là như một dấu hiệu của tính xác thật. Y như một chữ ký trên một lá thư xác nhận tính xác thực của văn kiện đó, cũng vậy sự hiện diện của Đức Thánh Linh chứng tỏ người tín-đồ là thật.
“Nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài” (Rô 8:9).
Không phải chỉ do sự xưng-nhận của môi miệng chúng ta, sinh hoạt tôn-giáo của chúng ta, hay những việc lành của chúng ta, mà chính là sự làm-chứng của Đức Thánh Linh khiến cho sự xưng-nhận của chúng ta là xác thực.
• Ngài đã ban cho chúng ta một của cầm (Êph 1:14).
Của cầm là một từ thật hay! Vào thời của Phao-lô, nó có nghĩa là “tiền đặt cọc để bảo-đảm cuối cùng sẽ mua một món hàng hay một bất động sản nào đó.” Ngay cả ngày nay bạn sẽ nghe một người kinh doanh bất động sản thực sự nói về tiền đặt cọc.
Đức Thánh Linh là phần trả đầu tiên của Đức Chúa Trời để bảo-đảm với con cái Ngài rằng Ngài sẽ hoàn tất công việc của Ngài và cuối cùng sẽ đem họ đến sự vinh-hiển.
“Kỳ chuộc lấy những kẻ mà Ngài đã mua chuộc được” ám chỉ sự cứu-chuộc của thân thể khi Đấng Christ trở lại (Rô 8:18-23; IGi 3:1-3). “Sự cứu-chuộc” được từng-trải theo 3 giai đoạn:
(1). Chúng ta đã được cứu-chuộc bởi đức-tin nơi Chúa Giê-xu Christ (Êph 1:7)
(2). Chúng ta đang được cứu-chuộc khi Đức Thánh Linh hành động trong đời sống chúng ta để làm cho chúng ta giống Đấng Christ hơn (Rô 8:1-4).
(3). Chúng ta sẽ được cứu-chuộc khi Đấng Christ trở lại và chúng ta trở nên giống như Ngài.
Nhưng từ được dịch là của cầm cũng có nghĩa là “nhẫn đính hôn.” Tại Hy-lạp ngày nay bạn sẽ thấy từ này đang được dùng theo cách đó. Nhưng, cuối cùng thì, một chiếc nhẫn đính hôn không phải là một sự xác quyết – một sự bảo-đảm – rằng những lời đã hứa hẹn sẽ được giữ trọn sao?
Mối tương-quan giữa chúng ta với Đức Chúa Trời qua Đấng Christ không chỉ là một mối quan-hệ mua bán, mà còn là một kinh-nghiệm cá nhân về tình yêu thương.
Ngài là Tân Phụ và Hội thánh Ngài là Tân Nương. Chúng ta biết rằng Ngài sẽ đến và nhận Tân Nương của Ngài vì Ngài đã ban cho chúng ta lời-hứa của Ngài và Thánh Linh Ngài như “chiếc nhẫn đính hôn.” Chúng ta còn có thể mong muốn sự đảm-bảo nào lớn lao hơn thế nữa?
Chúng ta đã xem xét một số các giáo-lý cơ-bản của Thánh Kinh trong chương này, tất cả đều nói về chủ đề sự giàu có trong Đấng Christ. Sẽ ích lợi cho chúng ta nếu xem xét lại những điều mình được dạy dỗ trong những câu này.
1. Sự giàu có đích thực đến từ Đức Chúa Trời.
Thật là một nguồn khích-lệ lớn lao khi biết rằng: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh thảy đều hành động vì cớ tôi để khiến tôi được giàu có. Đức Chúa Trời không chỉ ban “mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng” (ITim 6:17), nhưng Ngài còn ban cho chúng ta của cải đời-đời mà thiếu nó tất cả mọi của cải khác thành ra vô giá-trị.
Một người vợ quẫn trí tìm đến một nhà khải-đạo hôn nhân Cơ-đốc và kể cho bà nghe câu chuyện buồn thảm của một cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ.
“Nhưng chúng tôi có thật nhiều của cải!”
bà liên tục nói. “Hãy nhìn chiếc nhẫn kim cương trên ngón tay tôi đây. Chao ôi, nó trị giá hàng ngàn mỹ kim đấy! Chúng tôi có một dinh thự đắc tiền ở một khu sang trọng. Chúng tôi có ba chiếc xe hơi, và kể cả một căn nhà gỗ trên vùng đồi núi. Ồ, chúng tôi có tất cả mọi thứ mà tiền bạc có thể mua được!”
Nhà khải-đạo đáp: “Thật tốt khi có tất cả những thứ tiền bạc có thể mua được miễn là bà không đánh mất những thứ tiền bạc không thể nào mua được. Một căn nhà đắc tiền có ích chi nếu không có mái ấm gia đình? Hoặc một chiếc nhẫn đắc giá để làm gì nếu không có tình yêu thương?”
Trong Đấng Christ, bạn và tôi có “những thứ tiền bạc không thể nào mua được,” và những sự giàu có thuộc-linh này mở ra cho chúng ta tất cả sự giàu có của cõi vũ trụ bao la của Đức Chúa Trời. Chúng ta tận hưởng những sự ban-cho vì chúng ta biết và yêu mến Đấng Ban-Cho.
2. Tất cả những sự giàu có này đến bởi ân-điển của Đức Chúa Trời và nhằm tôn-cao vinh-hiển của Đức Chúa Trời.
Bạn có để ý là sau mỗi phần của các phần chính trong các câu ITim 1:4-14, Phao-lô đã thêm vào mục đích đàng sau các sự ban-cho này không?
Vì sao Đức Chúa Cha đã chọn chúng ta, nhận chúng ta làm con nuôi, và tiếp nhận chúng ta? “Để khen-ngợi sự vinh-hiển của ân-điển Ngài” (c.6).
Vì sao Đức Chúa Con đã cứu-chuộc chúng ta, tha-thứ chúng ta, bày tỏ ý muốn Ngài cho chúng ta, và khiến chúng ta thành một phần của cơ-nghiệp Ngài? “hầu cho sự vinh-hiển của Ngài nhờ chúng ta mà được ngợi-khen” (c.12).
Vì sao Đức Thánh Linh đã ấn-chứng chúng ta và trở nên người bảo lãnh cho phước hạnh tương lai của chúng ta? “Để khen-ngợi sự vinh-hiển Ngài” (c.14).
Chúng ta thường có ý nghĩ là Đức Chúa Trời cứu những kẻ có tội chính yếu vì Ngài thương hại họ, hoặc muốn cứu họ khỏi sự đoán-phạt đời-đời, nhưng mục đích chính của Đức Chúa Trời là để Ngài có thể được tôn-vinh.
Sự sáng tạo của Ngài bày tỏ sự khôn-ngoan và quyền-năng Ngài, nhưng Hội thánh Ngài bày tỏ tình yêu thương và ân-điển Ngài. Bạn không thể xứng đáng hay có thể kiếm được những sự giàu có thuộc-linh này bạn chỉ có thể nhận lãnh chúng nhờ ân-điển, bởi đức-tin.
3. Những sự giàu có này chỉ là sự khởi đầu!
Khi chúng ta bước đi với Cứu Chúa, Ngài luôn dành sẵn nhiều gia-sản thuộc-linh hơn để chúng ta có thể nhận được. Thánh Kinh là sách hướng dẫn của chúng ta Đức Thánh Linh là giáo-sư của chúng ta.
Khi chúng ta nghiên-cứu Lời Đức Chúa Trời, chúng ta khám phá ngày càng nhiều hơn những sự giàu có thuộc-linh chúng ta có được trong Đấng Christ. Những sự giàu có này đã được Đức Chúa Cha hoạch định, được Đức Chúa Con mua-chuộc, và được Đức Thánh Linh bày tỏ. Thực ra chúng ta không cần phải sống trong sự nghèo thiếu khi tất cả mọi sự giàu có của Đức Chúa Trời đều dành sẵn cho chúng ta tùy ý sử dụng!
Bạn tôi đang thảo-luận những vấn-đề tiền bạc với vợ anh ta và cả hai vợ chồng đều không nhận biết là cậu con trai của họ đang lắng nghe. Cuối cùng cậu bé ngắt lời họ với một đề nghị, “Tại sao ba mẹ không chịu viết vào một trong mấy tờ giấy đó là xong?” Junior không hiểu rằng cần phải có tiền trong ngân hàng để bảo-chứng “mấy tờ giấy đó.”
Nhưng chúng ta không bao giờ đối diện vấn-đề đó khi nó xảy đến với gia-sản thuộc-linh của mình.
Một quyển sách cầu-nguyện nhỏ của Charles Spurgeon được đề tựa là “Một Sổ Ngân Phiếu của Ngân Hàng Đức Tin.” Mỗi ngày trong năm đều có một lời-hứa từ Kinh Thánh, kèm theo một sứ-điệp ngắn để cầu-nguyện.
Tác-giả mô tả mỗi lời hứa đều tốt đẹp như tiền trong ngân hàng đối với bất cứ ai nhận lấy lời-hứa ấy bởi đức tin, như một người viết một chi phiếu lãnh tiền từ tài khoản ngân hàng của mình.
Bởi đức-tin chúng ta có thể nhận lấy những lời-hứa của Đức Chúa Trời và nương nhờ vào sự giàu có vô hạn của Ngài để đáp-ứng mọi nhu-cầu chúng ta có thể đối diện.
4. Hãy đọc quyển sổ ngân hàng (Êph 1:15-23)
Vào ngày 6 Tháng Giêng, 1822, vợ của một mục-sư nghèo thiếu người Đức sinh một bé trai, không hề mơ ước rằng cậu bé này một ngày kia sẽ được nổi tiếng khắp thế giới và có tài-sản kết sù.
Khi Heinrich Schliemann được bảy tuổi, một bức ảnh thành Troy cổ xưa đang bốc cháy tràn ngập trí tưởng tượng của cậu. Trái với điều nhiều người tin, Heinrich lý-luận rằng những bài thơ tuyệt tác của Homer, bài Iliad và bài Odyssey, đều dựa trên những sự kiện lịch-sử và ông bắt đầu chứng-minh điều đó.
Vào năm 1873, ông khám phá ra vị trí xưa kia của thành Troy, cùng với một số kho báu khó tin được mà ông đã lén mang ra khỏi đất nước, trước sự căm tức cực độ của chính phủ Thổ-nhĩ-kỳ.
Schliemann trở nên một người nổi tiếng, giàu có vì ông đã dám tin vào một điều ghi lại trong lịch-sử cổ xưa và hành động theo đức-tin của mình.
Chúng ta khám phá rằng mình được “sanh ra giàu có” khi chúng ta tin nhận Đấng Christ. Nhưng điều này không đủ, vì chúng ta phải tăng-trưởng trong sự hiểu biết về sự giàu có của mình nếu chúng ta từng có ý định sử dụng chúng cho sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời.
Quá nhiều Cơ-đốc nhân chưa bao giờ “đọc quyển sổ ngân hàng” để khám phá ra sự giàu có thuộc-linh vô hạn mà Đức Chúa Trời đã đặt vào tài khoản của họ qua Chúa Giê-xu Christ.
Chúng ta giống như vị chủ báo đã quá cố, William Randolph Hearst, người đã đầu tư tài-sản để sưu tầm những kho tàng nghệ thuật từ khắp nơi trên thế giới. Một ngày nọ Ông Hearst tìm thấy một tài-liệu mô tả một số của báu mà ông cảm thấy mình phải sở hữu, vì thế ông phái nhân-viên ra nước ngoài để tìm chúng. Sau nhiều tháng tìm kiếm, nhân-viên đó báo cáo rằng cuối cùng ông đã tìm ra những của báu ấy.
Chúng ở ngay trong kho của Ông Hearst. Hearst điên rồ tìm kiếm những của báu mà ông đã chiếm hữu rồi! Nếu ông đã đọc bản liệt kê các của báu mình có, thì rất có thể ông đã tiết kiệm được cho mình bao nhiêu là tiền bạc và phiền phức.
Phao-lô ao ước các Cơ-đốc nhân tại Ê-phê-sô hiểu là họ có của cải dư dật dường nào trong Đấng Christ. Phao-lô biết đến đức-tin và tình yêu thương của họ, và ông vui mừng trong điều này. Đời sống Cơ-đốc có 2 chiều: đức-tin đối với Đức Chúa Trời và tình yêu thương đối với con người, và bạn không thể phân chia 2 lãnh vực này ra.
Nhưng Phao-lô biết rằng đức-tin và tình yêu thương chỉ là sự khởi đầu. Người Ê-phê-sô cần hiểu biết nhiều hơn nữa. Đây là lý-do vì sao ông cầu-nguyện cho họ, và cho cả chúng ta.
Trong những lời cầu-nguyện trong tù của Phao-lô (Êph 1:15-23; Êph 3:14-21; Phi 1:9-11; Côl 1:9-12), chúng ta khám phá những phước hạnh ông mong muốn những kẻ trở lại đạo tận hưởng.
Trong những lời cầu-nguyện này Phao-lô không hề cầu xin những nhu cầu vật chất. Ông nhấn mạnh đến sự nhận thức thuộc-linh và tính chất Cơ-đốc nhân chân thật.
Ông không cầu xin Đức Chúa Trời ban cho họ những gì họ không có, nhưng đúng hơn ông cầu xin Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ cho họ những gì họ đã có rồi.
Trước khi nghiên-cứu 4 lời cầu xin của Phao-lô trong “lời cầu-nguyện để được sự soi sáng” này, chúng ta phải lưu ý 2 sự kiện.
-Trước tiên, sự soi sáng đến từ Đức Thánh Linh. Ngài là “Thần khôn-ngoan và Thần chân-lý bày tỏ những sự sẽ đến” (Ês 11:2; Gi 14:25-26; Gi 16:12-14). Với sự khôn-ngoan riêng của mình, một người không thể nào hiểu được những điều thuộc về Đức Chúa Trời.
Người ấy cần Thánh Linh soi sáng mình (Gi ICôr 2:9-16). Đức Thánh Linh bày tỏ chân-lý cho chúng ta từ Lời Đức Chúa Trời, và rồi ban cho chúng ta sự khôn-ngoan để hiểu và áp-dụng chân-lý ấy. Ngài cũng ban cho chúng ta năng-quyền – khiến chúng ta có khả năng – để làm theo chân-lý (Êph 3:14-21).
-Thứ đến, sự soi sáng này đến với tấm-lòng của người tín đồ (Êph 1:18). Theo nghĩa đen câu này là, “Con mắt của lòng anh em được soi sáng.” Chúng ta nghĩ đến tấm-lòng là phần thuộc về tình cảm của con người, nhưng trong Kinh Thánh, tấm lòng có nghĩa là người bề trong, và bao gồm những cảm xúc, lý trí, và ý chí.
Người bề trong, tức tấm-lòng, có những khả năng thuộc-linh tương đương với những giác quan thuộc thể.
Người bề trong có thể nhìn thấy (Thi 119:18; Gi 3:3), nghe (Mat 13:9; Hêb 5:11), nếm (Thi 34:8; IPhi 2:3), ngửi (Phi 4:18; IICôr 2:14) và sờ được (Công 17:27). Đây là điều Chúa Giê-xu muốn nói khi Ngài phán về đoàn dân đông: “Họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe” (Mat 13:13).
Sự bất năng không thể nhìn thấy và hiểu được những điều thuộc-linh không phải là sự sai trật của lý trí mà là của tấm-lòng. Con mắt lòng phải được Thánh Linh Đức Chúa Trời mở ra vậy.
Phao-lô cầu xin con mắt của các tín-hữu Ê-phê-sô có thể được mở ra để nhìn thấy 4 thực tế thuộc-linh:
1. Để họ có thể biết Đức Chúa Trời (Mat 1:17b).
Điều này, dĩ nhiên, là sự hiểu biết cao nhất có thể được. Những người vô thần cho rằng không hề có Đức Chúa Trời để chúng ta biết đến, và những người theo thuyết bất khả tri nêu lên rằng nếu có một Đức Chúa Trời thì chúng ta không thể nào biết Ngài được. Nhưng Phao-lô đã gặp gỡ Đức Chúa Trời trong con người của Chúa Giê-xu Christ, và ông biết rằng một người thực sự không thể hiểu nhiều về bất cứ điều gì khác nếu thiếu một sự hiểu biết về Đức Chúa Trời.
Sự cố ý không nhìn biết Đức Chúa Trời này đưa con người vào sự sa bại và bị án phạt. Trong Rô 1:18. Phao-lô mô tả những giai đoạn trong sự suy thoái của con người: từ sự cố ý không nhìn biết Đức Chúa Trời đến sự thờ lạy hình-tượng (dùng một sự giả dối thay thế cho chân-lý) đến sự vô luân và bậy bạ.
Điều này bắt đầu từ đâu? Nó bắt đầu với một sự không sẵn lòng nhìn biết Đức Chúa Trời là Đấng Tạo-Hóa, Đấng Trợ-giúp, Đấng Cầm-quyền, Đấng Cứu-chuộc, và Đấng Phán-xét.
Người tín-đồ phải lớn lên trong sự hiểu biết về Đức Chúa Trời của mình.
-Biết Đức Chúa Trời cách cá nhân là sự cứu-rỗi (Gi 17:3).
-Biết Đức Chúa Trời ngày càng hơn là sự nên-thánh (Phi 3:10).
-Biết Ngài cách trọn vẹn là sự tôn-vinh (ICôr 13:9-12). Bởi lẽ chúng ta được dựng nên theo ảnh-tượng Đức Chúa Trời (Sa 1:26-28), chúng ta càng biết Đức Chúa Trời tường tận hơn, nên càng biết chính mình và biết nhau rõ hơn.
-Biết Đức Chúa Trời chỉ như là Cứu Chúa không chưa đủ. Chúng ta phải đạt đến chỗ biết Ngài như người Cha, như Bạn hữu, như Đấng dẫn dắt, và càng biết rõ Ngài hơn, đời sống tâm-linh chúng ta sẽ càng sung mãn thêm hơn.
Một tín-đồ một ngày kia sau giờ học Kinh Thánh đã nói với tôi, “Tôi rất vui vì đã đến dự! Ông đã cho tôi hai câu gốc hay để dùng cho người láng giềng xấu tính của tôi!” Chắc chắn có nhiều lần chúng ta dùng Lời Đức Chúa Trời như một thanh gươm để đánh bại kẻ thù, nhưng đó không phải là mục đích chính đàng sau việc Kinh Thánh được viết ra.
Như lời bài thánh ca quen thuộc ghi rằng: “Hỡi Chúa, vượt ngoài trang sách thiêng, / con tìm kiếm mặt Ngài. / Linh-hồn con khao khát Ngài, / hỡi Lời hằng sống.”
2. Để chúng ta có thể biết sự kêu-gọi của Đức Chúa Trời (Sa 1:18a).
Từ được kêu-gọi là một từ quan-trọng trong từ vựng của Cơ-đốc nhân. Từ Hội thánh là một từ ghép của hai từ Hy-lạp có nghĩa là “được gọi ra khỏi.”
Phao-lô không hề chán việc làm-chứng rằng Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông “bởi ân-điển Ngài” (Ga 1:15) và ông nhắc nhở Ti-mô-thê rằng người tín-đồ có một “sự kêu-gọi thiêng-liêng” (IITi 1:9). Chúng ta đã được “kêu-gọi ra khỏi nơi tối tăm đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài” (IPhi 2:9), và cũng đã được “kêu-gọi đến sự vinh-hiển” (IIPhi 1:3). Đức Chúa Trời kêu-gọi chúng ta bởi ân-điển Ngài chớ không phải vì bất cứ công-trạng gì chúng ta có thể có được.
Phao-lô muốn chúng ta hiểu sự hy vọng vốn thuộc về chúng ta vì cớ sự kêu-gọi này (Êph 4:4). Một số sự kêu-gọi không hứa hẹn hy vọng gì cả, nhưng sự kêu-gọi chúng ta có trong Đấng Christ bảo-đảm cho chúng ta về một tương lai đầy thú vị.
Hãy nhớ rằng từ hy vọng (trông-cậy) trong Kinh Thánh không có nghĩa là “mong được như vậy,” giống như một đứa bé mong ước một con búp bê hoặc một chiếc xe đạp vào dịp Giáng Sinh.
Từ này chứa đựng “sự đảm-bảo cho tương lai.”
Dĩ nhiên, hy vọng của người tín-đồ là sự trở lại của Chúa Giê-xu Christ vì cớ Hội thánh Ngài (ITês 4:13-18; IGi 3:1-3). Khi chúng ta bị hư-mất, chúng ta “không có sự trông-cậy” (Êph 2:12) nhưng trong Chúa Giê-xu Christ, chúng ta có một “sự trông-cậy sống” (IPhi 1:3) khích-lệ chúng ta mỗi ngày.
Tiến-sĩ Kenneth Chafin, một tác-giả nổi tiếng thuộc Hội thánh Báp-tít, kể chuyện về vị mục-sư và viên chấp-sự đang thăm viếng các thuộc-viên tương lai và lái xe đến một ngôi nhà xinh đẹp ở ngoại ô được bao bọc bởi một thảm cỏ mịn như nhung và phong cảnh tuyệt vời.
Hai chiếc xe hơi đắc tiền nằm trên đường lái xe vào nhà, và qua khung cửa sổ thật đẹp hai vị nhìn thấy thành-viên tương lai của họ đang nằm uể oải trên một chiếc ghế bành và đang xem truyền hình màu. Viên chấp-sự quay sang mục-sư của mình và nói, “Chúng ta có loại tin mừng gì để đem đến cho ông ta đây?”
Chúng ta dễ chao đảo biết bao khi lẫn lộn giữa giá-cả và giá-trị. Ê-phê-sô là một thành phố giàu có. Nó kiêu hãnh về Đền thờ nữ thần Đi-anh, một trong những kỳ quan của thế giới cổ đại. Ngày nay, Ê-phê-sô là một thiên-đàng của những nhà khảo-cổ, nhưng tất cả sự giàu có và huy hoàng của nó không còn nữa.
Nhưng những Cơ-đốc nhân đã từng sống tại đó thì hiện nay đang ở trên thiên-đàng vui hư ởng sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời!
Sự trông-cậy thuộc về sự kêu-gọi của chúng ta phải là một động lực mạnh mẽ trong đời sống chúng ta, khích lệ chúng ta sống thánh-sạch (IGi 2:28-3:3), vâng-lời (Hêb 13:17) và trung-tín (Lu 12:42-48).
Sự kiện một ngày kia chúng ta sẽ gặp Đấng Christ và trở nên giống như Ngài cần phải thôi thúc chúng ta sống giống như Đấng Christ ngay hôm nay.
3. Để chúng ta có thể biết được sự giàu có của Đức Chúa Trời (Lu 1:18b).
Câu này không ám chỉ cơ-nghiệp của chúng ta trong Đấng Christ (Êph 1:11), mà là cơ-nghiệp của Ngài trong chúng ta. Đây là một chân-lý đáng ngạc nhiên – Đức Chúa Trời coi chúng ta như là một phần trong cơ-nghiệp vĩ đại của Ngài!
Tài sản của một người đem lại sự vinh-hiển cho người ấy thể nào, thì Đức Chúa Trời sẽ nhận được sự vinh-hiển từ Hội thánh thể ấy vì cớ những gì Ngài đã đầu tư nơi chúng ta. Khi Chúa Giê-xu Christ trở lại, chúng ta sẽ “ngợi-khen sự vinh-hiển của ân-điển Ngài” (Êph 1:6).
Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta trên nền tảng của tương lai chúng ta, chớ không phải trên quá-khứ chúng ta. Ngài phán với Ghê-đê-ôn đầy nhát sợ, “Hỡi người dõng sĩ, Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi”