top of page
2. Ê-tiên - vị chứng-nhân (Công 6:8-15).
Người...
...đầy dẫy Thánh Linh này đã không giới hạn chức vụ mình ở việc giúp cho bàn tiệc ông cũng thu phục người hư mất và thậm chí làm phép-lạ. Về điểm này, chính các sứ-đồ là những người làm phép-lạ (Công 2:43; Công 5:12), nhưng giờ đây Đức Chúa Trời cũng đã ban quyền năng cho Ê-tiên.
Đây là phần kế hoạch của Ngài sử dụng Ê-tiên để làm chứng cho các lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên. Lời chứng mạnh mẽ của Ê-tiên là cao điểm sự làm chứng của Hội thánh cho dân Do-thái. Sau đó sứ-điệp sẽ đến với dân Sa-ma-ri và rồi đến với dân ngoại.
Dân Do-thái từ nhiều quốc gia cư trú tại Giê-ru-sa-lem trong những khu phố của riêng họ, và một số nhóm người cùng bộ tộc có nhà hội riêng của họ. Những người tự do (“người tự do tư tưởng”) là con cháu dân Do-thái trước kia ở trong ách nô lệ nhưng đã giành được tự do khỏi La-mã.
Vì Phao-lô đến từ Tạt-sơ trong xứ Si-li-si (Công 21:39) có thể ông đã nghe Ê-tiên nói trong nhà hội và có thể đã tranh cãi với người. Tuy nhiên, không ai có thể sánh lại hoặc chống đối sự khôn ngoan và quyền năng của Ê-tiên (Lu 21:15). Giải pháp duy nhất của họ là tiêu diệt ông.
Cách họ đối xử Ê-tiên giống với cách các lãnh đạo Do-thái đã đối xử Chúa Giê-xu.
-Trước tiên, họ mướn những nhân chứng giả để chống lại ông.
-Sau đó, họ khuấy động dân chúng những người tố cáo ông phạm luật Môi-se và đền thờ.
-Cuối cùng, sau khi nghe lời làm chứng của ông, họ đã xử tử ông (Mat 26:59-62; Gi 2:19-22).
Dân Do-thái rất gắn bó với luật-pháp họ và đã không thể hiểu cách nào Đấng Christ đã đến để làm trọn luật-pháp và đem lại một thời kỳ mới. Họ kiêu hãnh về đền thờ mình và từ chối tin rằng Đức Chúa Trời sẽ cho phép nó bị phá hủy.
Ê-tiên đương đấu với sự mù lòa thuộc linh tương tự như điều Giê-rê-mi đã đương diện trong chức vụ ông (Gie 7:1-34). Hội thánh đương diện với sự chống đối về truyền thống Do-thái trong nhiều năm sau ngay từ trong hàng ngũ của chính họ (Công 15:1-41) và từ các giáo-sư giả đến từ bên ngoài (Ga 2:4).
Kẻ thù đã đột kích Ê-tiên và bắt giữ ông trong lúc ông đang thi hành chức vụ (“đến gần ông thình lình” là lời dịch của Wuest về Công 6:12), và họ đã đem ông đến trước cùng một hội đồng đã xét xử Chúa Giê-xu và các sứ đồ. Thậm chí không cần thiết cho Ê-tiên nói để đưa ra chứng cớ, vì chính sự rực rỡ trên mặt ông đã cho mọi người biết rằng ông là tôi tớ Đức Chúa Trời. Chắc chắn các nghị viên Tòa Công Luận đã nhớ lại gương mặt chói sáng của Môi-se (Xu 34:29-30).
Điều đó như thể Đức Chúa Trời đang phán: “Người này không nghịch với Môi-se! Người giống Môi-se – Người là tôi tớ trung-tín của ta!”
3. Ê-tiên - Vị Quan án (Công 7:1-53).
Đây là diễn văn dài nhất trong sách Công-vụ và là một trong những diễn văn quan trọng nhất. Trong đó, Ê-tiên ôn lại lịch sử Y-sơ-ra-ên và những đóng góp được thực hiện do các lãnh đạo được tôn kính của họ: Áp-ra-ham (Công 7:2-8) Giô-sép (Công 7:9-17), Môi-se (Công 7:18-44), Giô-suê (Công 7:45), Đa-vít và sa-lô-môn (Công 7:46-50).
Nhưng diễn văn này vượt hơn một bài đọc thuộc lòng về những sự kiện quen thuộc, nó cũng là một sự bày tỏ những tội lỗi của chính dân tộc họ. Ê-tiên chứng minh từ Kinh Thánh của họ rằng dân tộc Do-thái đã phạm những tội lỗi tệ hại hơn những tội lỗi mà họ đã cáo ông vi phạm. Những tội này là gì?
- Họ đã hiểu sai những căn nguyên thuộc linh của mình (Công 7:1-8). Bài diễn văn của Ê-tiên mở đầu với “Đức Chúa Trời của sự vinh hiển” kết thúc với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Công 6:55), và mọi lúc ông nói, gương mặt ông phát ra chính sự vinh hiển ấy! Tại sao? Vì Y-sơ-ra-ên là dân tộc duy nhất được ban đặc quyền có sự vinh hiển của Đức Chúa Trời như một phần di sản của họ (Rô 9:4). Than ôi, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã ra đi, trước hết khỏi đền tạm (Êxe 10:4,18). Vinh hiển Đức Chúa Trời đã đến trong Con Ngài (Gi 1:14) nhưng dân tộc này đã chối bỏ Ngài.
Áp-ra-ham là người sáng lập dân tộc Hê-bơ-rơ, và mối liên hệ của ông với Đức Chúa Trời là mối liên hệ về ân-điển và đức tin. Đức Chúa Trời đã nhân từ hiện ra cho ông và gọi ông ra khỏi sự tối tăm của dân ngoại đạo vào trong sự sáng cứu rỗi, và Áp-ra-ham đã đáp ứng bằng đức tin.
Áp-ra-ham đã được cứu bởi ân-điển, nhờ đức tin, chớ không phải do ông đã chịu phép cắt-bì, giữ luật-pháp hay thờ phượng trong đền thờ. Mọi điều đó đến sau, (Rô 4:1-25; Ga 3:1-29). Ông tin những lời hứa của Đức Chúa Trời và chính đức tin ông đã cứu ông.
Đức Chúa Trời đã hứa ban đất này cho con cháu Áp-ra-ham, và rồi cho Áp-ra-ham biết rằng con cháu ông chịu khổ tại Ai-cập trước khi họ sẽ bước vào và vui hưởng đất này: và điều này đã xảy ra y như Đức Chúa Trời đã hứa. Ngay từ đầu, Đức Chúa Trời đã có một kế hoạch khôn ngoan cho dân Ngài và kế hoạch đó sẽ được hoàn thành bao lâu họ tin cậy Lời Ngài và vâng theo ý chỉ Ngài.
Dân Do-thái rất tôn kính Áp-ra-ham và tự hào mình là “con cháu người.” Nhưng họ đã nhầm lẫn dòng dõi thuộc thể với kinh nghiệm thuộc linh và cậy nơi di sản dân tộc hơn là đức tin cá nhân họ. Giăng Báp-tít đã cảnh cáo họ về tội này (Mat 3:7-12) và Chúa Giê-xu cũng đã làm vậy (Gi 8:33-59).
Dân Do-thái đã mù lòa đối với đức tin đơn sơ của Áp-ra-ham và các thánh tổ, và họ đã phủ đầy nó bằng những truyền-thống do con người lập ra khiến sự cứu rỗi trở nên một vấn đề về những việc thiện, không phải đức tin. Đức Chúa Trời không có cháu nào cả. Mỗi chúng ta phải được sanh trong gia đình của Đức Chúa Trời nhờ đức tin cá nhân trong Chúa Giê-xu (Gi 1:11-13).
Dân Do-thái tự hào trong sự cắt-bì của họ, không hiểu rằng nghi thức này tượng trưng cho một mối liên hệ thuộc linh bên trong với Đức Chúa Trời (Công 7:51; Phuc 10:16; Giê 4:1; Giê 6:10; Ga 5:1-6; Phi 3:3; Côl 2:11-12). Suốt nhiều năm qua, việc làm trọn các lễ nghi đã choán chỗ sự vui hưởng thực tế. Ngay cả ngày nay điều này vẫn xảy ra trong các Hội thánh.
- Họ đã chối bỏ những người giải cứu Đức Chúa Trời sai đến (Công 7:9-36) Tôi đã kết hợp những phân đoạn nói về Giô-sép và Môi-se vì hai anh hùng Do-thái này có chung điều này: họ đều bị chối bỏ với tư cách những người giải cứu lần đầu tiên, nhưng được chấp nhận lần thứ hai. Anh em của Giô-sép ghét người em mình và bán người làm nô lệ, nhưng sau đó ông đã trở nên người giải cứu họ.
Họ nhận biết Giô-sép “lần thứ hai” (Công 7:13) khi họ trở lại Ai-cập để mua thêm lương thực. Y-sơ-ra-ên đã chối từ Môi-se khi ông trước tiên tìm cách giải cứu họ khỏi ách nô lệ của người Ai-cập, và ông đã phải trốn đi để giữ mạng sống (Xu 2:11-22). Nhưng khi Môi-se đến với họ lần thứ hai, dân tộc đã chấp nhận ông và ông giải phóng họ (Công 7:35).
Hai sự kiện này minh hoạ cách Y-sơ-ra-ên đã đối xử với Chúa Giê-xu. Y-sơ-ra-ên đã khước từ Đấng Mê-si-a của họ khi Ngài đến với họ lần thứ nhất (Gi 1:11), nhưng khi Ngài đến lần nữa, họ sẽ nhận biết Ngài và tiếp Ngài (Kh 1:7; Xa 12:10).
Mặc cho những điều họ đã làm đối với Con Ngài, Đức Chúa Trời không bỏ dân Ngài (Rô 11:1-6). Y-sơ-ra-ên hôm nay đang chịu đựng một sự mù lòa thuộc linh mà một ngày nào đó sẽ bị cất đi (Rô 11:25-32). Cá nhân người Do-thái đang được cứu, nhưng dân tộc nói chung bị mù lòa với chân-lý về Chúa Giê-xu.
Trước khi thông qua phân đoạn này, chúng ta phải đề cập đến một số điều có vẻ mâu thuẫn giữa bài diễn văn của Ê-tiên và Lời Kinh Thánh Cựu-ước.
Sa 46:26-27 xác định rằng 70 người gộp thành gia đình Gia-cốp, kể cả gia đình Giô-sép đã ở Ai-cập nhưng Ê-tiên tuyên bố rằng có 75 người (Công 7:14; Xu 1:1-5). Bản văn Hê-bơ-rơ có 70 người ở cả Sáng thế ký và Xuất Ê-díp-tô ký, nhưng bản dịch Cựu-ước tiếng Hy-lạp có 75 người.
Con số 75 trong Bản dịch Hy-lạp từ đâu đến? Theo sự tính toán của họ, các dịch giả đã kể đến những người cháu của Giô-sép (ISu 7:14-15,20-25). Là một người Do-thái thuộc dân Hê-lê-nít, Ê-tiên đương nhiên sẽ sử dụng bản dịch tiếng Hy-lạp. Không có mâu thuẫn thật nào cả tổng số của bạn tuỳ thuộc vào những thừa số bạn kể đến.
Công 7:16 cho rằng Gia-cốp đã được chôn tại Si-chem, nhưng Sa 50:13 xác định rằng ông được chôn trong hang đá của đồng Mặc-bê-la tại Hếp-rôn cùng với Áp-ra-ham, Y-sác và Sa-ra (Sa 23:17). Chính Giô-sép là người đã được chôn tại Si-chem (Gios 24:32).
Có thể là con cháu Y-sơ-ra-ên đã đem ra khỏi Ai-cập những người còn sót lại trong số các con trai Gia-cốp, chớ không chỉ một mình Giô-sép, và đã chôn họ cùng tại Si-chem. Những “tổ phụ” được đề cập trong Công 7:15 sẽ là 12 con trai của Gia-cốp.
Nhưng ai đã mua nơi chôn cất tại Si-chem – Áp-ra-ham hay Gia-cốp? Ê-tiên dường như nói rằng Áp-ra-ham đã mua nó, nhưng sự ghi chép của Cựu-ước nói rằng Gia-cốp đã mua (Sa 33:18-20). Áp-ra-ham đã mua hang đá Mặc-bê-la (Sa 23:14-20). Sự giải thích đơn giản nhất là Áp-ra-ham thật sự đã mua hai mảnh đất và Gia-cốp sau đó phải mua lại bất động sản tại Si-chem. Áp-ra-ham đã di chuyển khá nhiều nên cư dân của xứ này sẽ rất dễ dàng quên hoặc phớt lờ những giao dịch ông đã thực hiện.
- Họ đã bất tuân luật-pháp của mình (Công 7:37-43) Những kẻ đối địch Ê-tiên đã vu cáo ông nói nghịch Thánh luật của Môi-se, nhưng lịch sử Y-sơ-ra-ên cho thấy rằng dân tộc này đã nhiều lần vi phạm luật-pháp ấy. Đức Chúa Trời đã ban luật-pháp cho hội chúng Ngài (Hội thánh)trong đồng vắng tại núi Si-nai, Lời hằng sống của Ngài qua trung gian các thiên-sứ (c.53 Ga 3:19).
Dân sự nhận luật-pháp chẳng được bao lâu thì họ đã bất tuân luật-pháp bằng cách yêu cầu A-rôn làm cho họ một tượng thần (Xu 32:1-35), và do đó đã phạm điều đầu tiên trong 10 điều răn (Xu 20:1-6).
Dân Do-thái đã thờ thần tượng tại Ai-cập (Gios 24:14; Êxe 20:7-8) và sau sự định cư của họ tại Đất Hứa, họ dần dần chấp nhận các thần của những dân tộc ngoại đạo quanh họ. Đức Chúa Trời nhiều lần kỷ luật dân Ngài và sai những tiên-tri đến với họ để cảnh cáo họ, cho đến cuối cùng Ngài đã đem họ qua Ba-by-lôn nơi mà cuối cùng họ được chữa khỏi sự thần tượng.
Công 7:42 phải được đối chiếu với Rô 1:24-28 vì tất cả những câu này mô tả sự đoán phạt của Đức Chúa Trời khi Ngài “rút tay Ngài ra” và để cho tội nhân có con đường riêng của họ. Khi Ê-tiên trích dẫn Am 5:25-27 ông bày tỏ điều dân Do-thái thật đã hành động suốt những năm đó: Theo hình thức bề ngoài, họ đang thờ phượng Đức Giê-hô-va, nhưng trong lòng họ, họ đang thờ phượng các thần ngoại bang! Dạng câu hỏi trong Công 7:42 đòi hỏi một sự trả lời phủ định: “Không, các ngươi đã không dâng những của lễ ấy cho Chúa!”
Trong thời “tôn giáo đa thần” này và việc nhấn mạnh về “sự khoan dung” chúng ta phải hiểu vì sao Đức Chúa Trời ghét các tôn giáo ngoạn bang và chỉ dẫn Y-sơ-ra-ên tiêu diệt chúng.
Trước hết, những tôn giáo này mang tính khiêu dâm không thể nói ra được trong sự thờ phượng tình dục của họ và việc họ sử dụng những gái điếm trong tôn giáo. Những hành động của họ cũng đầy thú tính, thậm chí đến độ dâng con cái làm của lễ cho các thần của họ.
Đó cơ bản là sự thờ phượng ma quỷ, và nó đã mở đường cho mọi lối sống bất kính của dân Do-thái. Nếu dân tộc này đã xây bỏ Đức Chúa Trời chân thật và nhượng bộ sự sùng bái thần tượng, điều đó có thể có nghĩa là sự chấm dứt phần sót lại tin kính và sự ứng nghiệm lời hứa về Đấng Cứu Chuộc.
Luật-pháp Đức Chúa Trời được ban cho dân Do-thái để bảo vệ họ khỏi ảnh hưởng ngoại đạo quanh họ, và giúp họ có thể vui hưởng những phước hạnh trong xứ. Chính luật-pháp đã khiến họ trở nên một dân thánh, khác với các dân tộc khác. Khi Y-sơ-ra-ên phá vỡ bức thường phân biệt đó bằng cách bất tuân luật pháp Đức Chúa Trời, họ đã đánh mất sự chúc phước của Đức Chúa Trời và phải bị kỷ luật.
- Họ đã xem thường đền thờ mình (Công 7:44-50) Những kẻ làm chứng đã vu cáo Ê-tiên tìm cách phá hoại đền thờ, nhưng đó chính xác là điều dân tộc Do-thái đã làm! Môi-se đã xây dựng đền tạm và vinh hiển của Đức Chúa Trời đã nhân từ ngự trong nơi chí thánh (Xu 40:34-38).
Sa-lô-môn đã xây cất đền thờ và một lần nữa vinh hiển của Đức Chúa Trời ngự vào (IVua 8:10-11). Nhưng qua nhiêù năm, sự thờ phượng tại đền thờ đã thoái hóa thành ra chỉ là lễ nghi tôn giáo, và cuối cùng đã có những tượng thần được đặt trong đền thờ (IIVua 21:1-9; Êxe 8:7-12).
Giê-rê-mi đã cảnh cáo dân sự chống lại sự mê tín trong đền thờ và cho họ biết rằng họ đã biến nhà Đức Chúa Trời thành ra một hang trộm cướp (Giê 7:1-16).
Nếu dân tộc này chú ý đến những tiên-tri của họ, thì họ đã thoát khỏi những sự kinh khủng trong sự bao vây của dân Ba-by-lôn (xem sách Ca thương) cùng sự hủy phá thành và đền thờ của họ. Cả Sa-lô-môn cũng nhận ra sự thật rằng Đức Chúa Trời đã không sống trong những tòa nhà (IVua 8:27), và tiên-tri Ê-sai còn cho biết điều đó rõ hơn (Es 66:1-2).
Chúng ta thật sự không làm gì cho Đức Chúa Trời, vì mọi sự đến từ Ngài và làm sao Đấng sáng tạo vũ trụ có thể được chứa trong một tòa nhà do con người làm ra? (Công 17:24). Sự bảo vệ đền thờ của dân Do-thái vừa phi lý vừa không căn cứ trên Kinh Thánh.
- Họ đã ương ngạnh chống nghịch Đức Chúa Trời mình và chân lý của Ngài (Công 7:51-53). Đây là cao điểm bài nói chuyện của Ê-tiên, sự ứng dụng cá nhân thấu đến tấm lòng những người nghe ông. Qua nhiều thế kỷ, Y-sơ-ra-ên đã từ chối đầu phục Đức Chúa Trời và vâng theo những chân-lý Ngài bày tỏ cho họ. Kết quả là họ đã bắt bớ và giết các tôi tớ của Đức Chúa Trời, kể cả Đấng Mê-si-a của chính họ!
Dân tộc này đã từ chối tiếp nhận chân-lý mới mà Đức Chúa Trời đang bày tỏ từ thời đại này đến thời đại khác. Thay vì nhìn thấy chân-lý của Đức Chúa Trời như hạt giống sản sinh quả và nhiều hạt nữa, các chức sắc tôn giáo đã “ướp” chân-lý và từ chối nhận bất cứ điều gì mới.
Vào thời Chúa Giê-xu đến trên đất chân-lý của Đức Chúa Trời đã bị bao phủ bởi quá nhiều truyền thống đến nỗi dân sự không thể nhận biết chân-lý của Đức Chúa Trời khi Ngài đã trình bày. Những truyền thống chết của con người đã thế chỗ lẽ thật hằng sống của Đức Chúa Trời (Mat 15:1-20).
4. Ê-tiên - người tử đạo (Công 7:54-60)
Bạn tự hỏi chúng ta sống trong m ột thế giới loại nào khi những người tốt lành và tin kính như Ê-tiên có thể bị giết hại bởi những kẻ cuồng tín tôn giáo! Nhưng chúng ta có những vấn đề tương tự trong thời đại “khai sáng” của chúng ta ngày nay: bắt giữ con tin, những vụ ném bom giết chết hoặc làm tàn phế người vô tội, những vụ ám sát, và tất cả nhân danh chính trị hoặc tôn giaó. Lòng người đã không thay đổi, nó cũng không thể được thay đổi nếu không có ân-điển của Đức Chúa Trời.
Những kết quả về sự chết của Ê-tiên là gì? Đối với Ê-tiên, sự chết nghĩa là lễ đăng quang (Kh 2:10). Ông đã nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và Con Đức Chúa Trời đứng bên để tiếp ông lên trời (Lu 22:69). Chúa chúng ta đã ngồi khi Ngài thăng-thiên (Thi 110:1; Mac 16:19), nhưng Ngài đứng dậy chào đón người tử-đạo Cơ-đốc đầu tiên vào trong sự vinh hiển (Lu 12:8).
Đây là lần cuối cùng danh hiệu “Con người” được sử dụng trong Kinh Thánh. Nó chắc chắn là một danh hiệu về Đấng Mê-si-a (Da 7:13-14) và cách Ê-tiên sử dụng danh ấy là một chứng cớ nữa rằng Chúa Giê-xu đích thực là Đấng Mê-si-a của Y-sơ-ra-ên.
Ê-tiên không những đã bị xét xử theo một cách giống với cách của Chúa chúng ta, ông cũng đã chết với những lời cầu nguyện tương tự trên môi (Công 7:59-60; Lu 23:34,46). Một người chật vấn có lần đã quát tháo trước một người truyền-đạo trên đường phố, “Tại sao Đức Chúa Trời đã không làm điều gì đó cho Ê-tiên khi họ ném đá người?”. Người truyền-đạo đáp: “Đức Chúa Trời thật đã làm điều gì đó cho Ê-tiên. Ngài ban cho ông ơn để tha thứ những kẻ giết ông và cầu nguyện cho họ!”.
Một câu trả lời hoàn hảo!
Đối với Y-sơ-ra-ên, sự chết của Ê-tiên nghĩa là sự kết án. Đây là vụ giết hại thứ ba của họ: họ đã cho phép Giăng Báp-tít bị giết Họ đã yêu cầu để Chúa Giê-xu bị giết và giờ đây họ đang tự mình giết Ê-tiên. Khi họ để Hê-rốt giết Giăng, dân Do-thái đã phạm tội nghịch cùng Đức Chúa Cha Đấng đã sai Giăng (Mat 21:28-32).
Khi họ yêu cầu Phi-lát đóng đinh Chúa Giê-xu, họ đã phạm tội nghịch với Đức Chúa Con. Khi họ ném đá Ê-tiên, họ đang phạm tội với Đức Thánh Linh, Đấng đang hành động trong và qua các sứ-đồ (Công 7:51; Mat 10:1-8). Chúa Giê-xu đã phán rằng tội lỗi này không bao giờ có thể đư ợc tha thứ (Mat 12:31-32). Sự đoán phạt sau cùng đã đến vào năm 70 SC khi Titus cùng các đội quân La-mã phá hủy Giê-ru-sa-lem và đền thờ.
Đối với Hội thánh ở Giê-ru-sa-lem sự chết của Ê-tiên nghĩa là sự giải thoát. Họ đã làm chứng “cho người Do-thái trước” kể từ lễ Ngũ Tuần, nhưng giờ đây họ sẽ được hướng dẫn đem sứ-điệp ra khỏi Giê-ru-sa-lem đến với dân Sa-ma-ri (Công 8:1-40) và thậm chí đến với dân ngoại (Công 11:19-26). Sự chống đối của kẻ thù đã giúp ngăn ngừa Hội thánh trở thành một “giáo phái” Do-thái và đã khích lệ họ hoàn thành nhiệm-vụ trong Công 1:8 và Mat 28:18-20.
Sau cùng, nói về Sau-lơ (Công 7:58), sự chết của Ê-tiên cuối cùng đã có nghĩa là sự cứu rỗi. Ông không bao giờ quên sự kiện này (Công 22:17-21), và chắc hẳn sứ-điệp, những lời cầu nguyện và sự chết vinh hiển của Ê-tiên đã được Thánh Linh sử dụng để chuẩn bị cho Sau-lơ về cuộc gặp gỡ Chúa của chính ông (Công 9:1-43). Đức Chúa Trời không bao giờ lãng phí huyết của các thánh-đồ Ngài. Sau-lơ một ngày nào đó sẽ cùng sự vinh hiển mà Ê-tiên đã thấy và sẽ nhìn xem Con Đức Chúa Trời và nghe Ngài phán!
Khi Cơ-đốc nhân chết, họ “ngủ” (Gi 11:11; ITês 4:13). Thân xác ngủ và linh hồn đi ở với Chúa trên trời (Công 7:59; Phi 1:23; IICôr 5:6-9; Hêb 12:22-23). Khi Chúa Giê-xu tái-lâm Ngài sẽ mang theo những linh hồn của người đã chết (ITês 4:14), thân thể họ sẽ được sống lại và được vinh hiển, còn thân thể và linh hồn sẽ được hội hiệp trong vinh hiển để “ở cùng Chúa mãi mãi”.
Cho dù Cơ-đốc nhân chúng ta khóc sự chết của một người thân yêu (Công 8:2), chúng ta không buồn rầu cách vô vọng, vì chúng ta biết mình sẽ gặp lại khi chúng ta qua đời hoặc khi Chúa tái-lâm.
Đức Chúa Trời không kêu gọi tất cả chúng ta làm người tử-đạo, nhưng Ngài thật kêu gọi chúng ta làm những “của lễ sống” (Rô 12:1-2). Ở một vài phương diện, sống cho Đấng Christ có thể khó hơn là chết vì Ngài nhưng nếu chúng ta đang sống cho Ngài, chúng ta sẽ được chuẩn bị để chết vì Ngài nếu Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta thực hiện.
Vào năm 1948, người tử-đạo Auca Jim Elliot đã viết trong nhật-ký ông: “Con tìm kiếm không phải một đời sống trường thọ, nhưng là một đời sống trọn vẹn, giống như Ngài, hỡi Chúa Giê-xu”.
Hai năm sau đó, ông viết: “Tôi không nên nghĩ điều đó là kỳ lạ nếu Đức Chúa Trời thu ngắn tuổi xuân của những người tôi muốn giữ trên đất đến khi họ lớn tuổi hơn. Đức Chúa Trời đang di dân` đến cõi vĩnh hằng, và tôi không nên giới hạn Ngài ở những người đàn ông và phụ nữ lớn tuổi”.
Giống như Etiên, Jim Elliot và bốn đồng bạn của ông đã được gọi vào ngày 8/1/1956, đến với “dân Cõi Vĩnh Hằng” khi họ bị giết bởi những người họ đang muốn tìm đến. Điều đã xảy ra với những người Auca lúc đó là bằng chứng rằng huyết của những người tử-đạo quả thật là hạt giống của Hội thánh. Nhiều người Auca giờ đây là Cơ-đốc nhân.
“Khá giữ trung-tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống” (Kh 2:10).
7. MỘT HỘI THÁNH HOẠT ĐỘNG (Công 8:1-59)
Victo Hugo đã viết: “Có một thứ mạnh hơn mọi quân đội trên thế gian, và đó là một ý niệm mà thời gian của nó đã đến”.
Phúc-Âm của Chúa Giê-xu hơn nhiều so với một ý niệm. Phúc-Âm là “quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin” (Rô 1:16). Đó là “thuốc nổ” của Đức Chúa Trời để phá sập những rào cản của tội lỗi và giải thoát tù nhân. Thời gian của nó đã đến và Hội thánh đã hoạt động. “Muối” giờ đây đang rời khỏi “lọ muối” Giê-ru-sa-lem để được rải khắp xứ Giu-đê và Sa-ma-ri, y như Chúa đã ra lệnh (Công 1:8).
Những sự kiện trong Công 8:1-59 tập trung quanh 4 người khác nhau.
1. Một kẻ bắt bớ sốt sắng - Sau-lơ (Công 8:1-3)
Sách Công-vụ và các thư tín cho dữ kiện đầy đủ về một bản tóm tắt đời sống ban đầu của Sau-lơ. Ông được sinh ra ở thành Tạt-sơ xứ Si-li-si (Công 22:3), một “người Hê-bơ-rơ thuộc dân Hê-bơ-rơ” (IICôr 11:20; Phi 3:5), “con của một người dòng Pha-ri-si” (Công 23:6), và là một quốc dân Rô-ma (Công 16:37; Công 22:25-28). Ông được Ga-ma-li-ên dạy dỗ trong thành Giê-ru-sa-lem (Công 22:3) và trở thành một người Pha-ri-si tận tuỵ (Công 26:4-5 Phi 3:5).
Về phương diện luật-pháp, đời sống ông không chỗ trách được (Phi 3:6). Ông là một trong những người Pha-ri-si trẻ tuổi đầy hứa hẹn trong thành Giê-ru-sa-lem, đang tiến triển tốt trên con đường trở thành một lãnh đạo vĩ đại cho Do-thái giáo (Ga 1:14).
Lòng sốt sắng của Sau-lơ đối với luật pháp đã được phô bày sinh động nhất trong sự bắt bớ Hội thánh của ông (Ga 1:13-14; Phi 3:6). Ông thật sự nghĩ rằng việc bắt bớ các tín đồ là một cách hầu việc Đức Chúa Trời, vì vậy ông đã làm điều đó với một lương tâm trong sạch (IITi 1:3). Ông vâng theo sự sáng mà ông đã có và, khi Đức Chúa Trời ban cho ông thêm sự sáng, ông đã vâng theo sự sáng ấy và trở thành một Cơ-đốc nhân!
Sau-lơ đã bắt bớ Hội thánh trong những phương diện nào? Ông “làm tàn hại Hội thánh”, và động từ ở đây mô tả một con thú hoang cắn xé mồi của nó. Khi Đấng Christ phán với Sau-lơ trên đường Đa-mách, Ngài ví sánh ông với một con thú! (Công 9:5).
Việc ném đá Ê-tiên mà Sau-lơ ưng thuận chứng tỏ bề dài mà ông sẽ đi đến để đạt được mục đích của mình. Ông đã bắt bớ cả đàn ông và đàn bà “cho đến chết” (Công 22:4), đi vào các nhà riêng lẫn nhà hội (2219). Ông ra lệnh bỏ tù và đánh đập các tín-đồ (Công 22:19; Công 26:9-11). Nếu họ từ bỏ đức tin trong Chúa Giê-xu (“bắt họ phải nói phạm thượng”