top of page
Đức...
...Chúa Trời đã dùng Lời Ngài nên nhiều người đã tin nhận Đấng Christ. Một trong những người qui đạo là Sô-ba-tê, người sau đó đã giúp đỡ Phao-lô (Công 20:4). Ông có thể chính là người (Sô-xi-ba-tê) sau đó đã gởi lời chào thăm đến các Cơ-đốc nhân trong thành Rô-ma (Rô 16:21).
Một lần nữa, Sa-tan đã đem kẻ thù đến nơi và những người Do-thái không tin từ thành Tê-sa-lô-ni-ca đến thành Bê-rê và khuấy động dân chúng (ITês 2:13-20). Những người này bằng cách nào đã nghe rằng Phao-lô và Si-la đang thi hành chức vụ trong thành Bê-rê? Có lẽ sự làm-chứng đang phát triển của các tín-đồ Bê-rê đã lan đến Tê-sa-lô-ni-ca, hoặc có th ể kẻ gây rối nào đó đã đem sứ-điệp đến các bạn hắn trong thành Tê-sa-lô-ni-ca. Sa-tan cũng có những “nhà truyền-giáo” của nó và họ thật bận rộn (ICôr 11:13-15).
Các tín-đồ thành Bê-rê đã thắng hơn Sa-tan bằng cách đem Phao-lô đến biển và đưa ông lên một con tàu hướng đến thành A-thên. Một lần nữa, Phao-lô phải rời khỏi một nơi rất tốt cho chức vụ và bỏ lại những người thân yêu ông thương mến.
Si-la và Ti-mô-thê sau đó đã gặp lại Phao-lô ở A-thên, và lúc đó Ti-mô-thê được cử đến thành Tê-sa-lô-ni-ca để giúp các thánh-đồ ở đó (ITês 3:1-6). Si-la cũng được cử đi với nhiệm-vụ đặc biệt ở nơi nào đó trong xứ Ma-xê-đoan (thành Phi-líp?) và sau đó cả hai người đã gặp Phao-lô ở thành Cô-rinh-tô (Công 18:1-5).
3. Thành A-thên: nhạo báng đạo (Công 17:16-34)
Phao-lô đã đến thành phố lớn A-thên, không như một khách tham quan, nhưng như một người chinh phục linh hồn. Ông Noel O.Lyons quá cố, nhiều năm là hội trưởng của hội Greater Europe Mission, thường nói, “Châu Âu được hằng triệu khách tham quan xem xét và bị hằng triệu Cơ-đốc nhân bỏ qua”.
Ngày nay Châu Âu cần Phúc-Âm cũng như đã cần trong thời Phao-lô, và chúng ta không dám bỏ lỡ những cơ hội. Như Phao-lô chúng ta phải có những đôi mắt mở to và những tấm lòng tan vỡ.
-Thành phố: A-thên đã ở trong thời kỳ xuống dốc vào lúc này dù vẫn được nhận biết là một trung tâm văn hoá và giáo dục. Vinh quang về chính trị và thương mại của thành đã biến mất dần kể từ đó. Thành có một trường đại học nổi tiếng và nhiều tòa nhà lộng lẫy, nhưng nó đã không phải là một thành phố có ảnh hưởng như trước đó. Thành được cống hiến cho “văn hóa đa thần” được nuôi dưỡng bởi sự thờ thần tượng, việc mới lạ (Công 17:21) và triết-học.
Conybeare và Howson đã viết trong tác phẩm kinh điển “Đời sống và những thư tín của Phao-lô” rằng: “Tôn giáo Hy-lạp chỉ là một sự thần hóa những biểu trương của con người và những sức mạnh của thiên nhiên. Đó là một tôn giáo phục vụ nghệ thuật và sự giải trí, và hoàn toàn thiếu sức mạnh đạo đức”.
Những chuyện thần thoại nói về các thần và các nữ thần mà trong sự tranh đua tham vọng của họ, đã hành động giống con người hơn là các thần và có nhiều vị thần để chọn lựa. Một người dí dỏm đã nói đùa rằng trong thành A-thên tìm thấy một vị thần dễ hơn tìm thấy một người. Phao-lô đã thấy rằng thành này “hoàn toàn được dành cho sự thờ thần tượng”, và nó làm tan vỡ lòng ông.
Chúng ta ngày nay khâm phục điêu khắc và kiến trúc Hy-lạp như những tác phẩm nghệ thuật đẹp đẽ, nhưng trong thời Phao-lô, nhiều thứ đã trực tiếp kết hợp với tôn giáo của họ. Phao-lô biết rằng sự thờ thần tượng thuộc ma quỷ (ICôr 10:14-23) và nhiều thần của người Hy-lạp chỉ là những nhân vật duy nhất trong các câu chuyện, không thể thay đổi đời sống con người (ICôr 8:1-6).
Với tất cả văn hóa và sự khôn ngoan của mình, dân Hy-lạp đã không biết Đức Chúa Trời chân thật (ICôr 1:18-25).
Đối với sự mới lạ, đó là sự đeo đuổi chính của cả dân thành thị lẫn khách tham quan (Công 17:21). Giờ nhàn rỗi của họ được dành để nói hoặc nghe “điều mới nào đó”.
Eric Hoffer đã viết rằng “việc sợ trở nên ‘lỗi thời’ làm cho một số người chẳng trở nên gì cả”. Người săn đuổi những cái mới và phớt lờ những cái cũ chẳng bao lâu khám phá rằng mình không có những rễ sâu để nuôi dưỡng đời sống. Người đó cũng khám phá rằng không có điều gì thật sự mới chỉ vì những ký ức của chúng ta nghèo nàn (Tr 1:8-11).
• Thành này cũng được dành cho triết-học.
Khi bạn nghĩ đến Hy-lạp tự nhiên bạn nghĩ đến Socrates và Aristotle cùng vô số những nhà tư tưởng khác có những tác phẩm vẫn được người ta đọc và nghiên cứu ngày nay. Bình luận viên báo chí Franklin P.Adams có lần đã định nghĩa triết-học là những sự trả lời khó hiểu đối với những vấn đề không thể giải quyết được” nhưng người Hy-lạp có lẽ sẽ không đồng ý với ông. Họ sẽ đi theo Aristotle người đã gọi triết-học là “khoa học xem xét chân-lý”.
Phao-lô phải đối đầu với hai triết-lý đối lập khi ông làm chứng trong thành A-thên, những triết-lý của phái Epicureans” với sự theo duổi lạc thú và sự yêu thích “cuộc sống tuyệt vời” đặc biệt là thức ăn tuyệt vời.
Nhưng triết-học phái Epicurean có liên quan nhiều hơn thế. Theo một ý nghĩa, người sáng lập Epicurus là một “người theo thuyết hiện sinh” trong đó ông tìm kiếm chân-lý bằng phương tiện kinh nghiệm riêng chớ không qua lý luận.
-Những người theo phái Epicurean là những người duy vật và vô thần, và mục tiêu của họ trong đời sống là lạc thú. Đối với một số người, “lạc thú” nghĩa là điều hết sức thuộc thể, nhưng đối với những người khác, nó có nghĩa là một đời sống thanh bình tao nhã, thoát khỏi đau khổ và lo âu. Người theo phái Epicurean thật thường tránh những thái cực và tìm cách hưởng cuộc đời bằng việc giữ cho mọi sự được quân bình, nhưng lạc thú vẫn là mục tiêu số một của người ấy.
-Những người phái Stoics loại bỏ sự sùng bái thờ phượng của người tà giáo và dạy rằng có một “Đức Chúa Trời của thế giới”. Họ là những người theo thuyết phiếm thần, và sự nhấn mạnh của họ là về kỷ luật cá nhân và tự chủ. Lạc thú không tốt và đau khổ không phải là xấu.
Điều quan trọng nhất trong đời sống là đi theo lý trí của mình và tự lo liệu, không bị lay động bởi những cảm xúc bên trong hay những hoàn cảnh bên ngoài. Dĩ nhiên, một triết-lý như vậy chỉ thổi bùng những ngọn lửa kiêu ngạo và dạy con người rằng họ không cần sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời. Thật thú vị là hai lãnh đạo đầu tiên của trường phái Stoic đã tự sát.
Những người phái Epicurean đã nói “Hãy hưởng cuộc sống!” và những người phái Stoics nói: “hãy chịu đựng cuộc sống!” nhưng nó vẫn để Phao-lô giải thích cách họ có thể bước vào sự sống nhờ đức tin nơi Con Đức Chúa Trời đã sống lại.
• Sự làm chứng.
“Ở lại một mình tại A-thên” (ITês 3:1), Phao-lô nhìn thấy thành phố đầy thần tượng và tâm trí ông “bị khuấy động” (cùng từ như “sự cãi vã” trong Công 15:39 - “cơn bộc phát”). Vì vậy, ông đã lợi dụng những cơ hội sẵn có để chia sẻ tin tức tốt lành về Phúc-Âm.
Theo như thông lệ, ông đã “đối thoại” trong nhà hội với người Do-thái, nhưng ông cũng đã làm chứng trong nơi họp chợ cho người Hy-lạp. Bất cứ ai sẵn sàng nói chuyện đều được Phao-lô tiếp đón vào “các lớp học” hằng ngày của ông.
Không mất thời gian lâu để những nhà triết-học nghe về “điều mới” này đang diễn ra trong nơi họp chợ, và họ đã đến và lắng nghe Phao-lô và có lẽ đã tranh luận với ông. Khi lắng nghe, họ đã bày tỏ 2 đáp ứng khác nhau.
(1) Một nhóm người chế nhạo Phao-lô với những sự dạy dỗ của ông và gọi ông là “kẻ nói nhảm”.
Từ này có nghĩa đen là “những con chim nhặt hạt”, và nó chỉ về một người nào đó thu thập những ý niệm khác nhau và dạy như của chính mình những tư tưởng vay mượn từ những người khác. Đó không phải là một mô tả rất tâng bốc về nhà truyền-giáo và nhà thần-học vĩ đại nhất của Hội thánh.
(2) Nhóm thứ hai mơ hồ nhưng có quan tâm.
Họ nghĩ Phao-lô tin như chính họ đã tin nơi nhiều thần, vì ông đang rao giảng “Chúa Giê-xu và Anatasis” (từ Hy-lạp về “sự phục sinh”). Từ được dịch là “rao giảng” trong Công 17:18 nghĩa là “rao-giảng Phúc-Âm”.
Những người nói rằng Phao-lô đã thay đổi những chiến thuật giảng Phúc-Âm ở A-thên hy vọng lôi cuốn những người trí-thức, đã không hiểu vấn đề. Ông đã rao-giảng Phúc-Âm ở A-thên dạn dĩ cũng như ông đã làm ở thành Bê-rê và sẽ làm vậy trong thành Cô-rinh-tô.
• Sự bảo vệ.
Hội đồng ở A-rê-ô-pa chịu trách-nhiệm giám sát tôn giáo và giáo dục trong thành, vì vậy điều tra: “học thuyết mới” Phao-lô đang dạy là điều tự nhiên đối với họ. Họ lịch sự mời Phao-lô trình bày học thuyết của ông tại một bu ổi họp không chính thức của hội đồng trên đồi Mars.
Phao-lô không bị xét xử, các thành viên hội đồng chỉ muốn ông giải thích điều ông đã nói cho dân chúng trong nơi họp chợ. Xét cho cùng, cuộc sống ở thành A-thên bao gồm nghe và nói những điều mới, và Phao-lô đã có điều mới gì đó!
Sứ-điệp của Phao-lô là một kiệt tác về sự truyền thông. Ông đã bắt đầu ngay tại chỗ dân chúng bằng cách chỉ bàn thờ của họ được dâng cho “một Chúa không biết”. Khơi dậy được sự chú ý của họ, Phao-lô bắt đầu giải thích Đức Chúa Trời là ai và Ngài thế nào. Ông kết thúc bằng một ứng dụng cá nhân và để mỗi thành viên của hội đồng đối diện với một quyết định hợp đạo đức, và một số người đã quyết định chọn Chúa Giê-xu Christ.
Phao-lô đã mở lời bằng một lời khen: “Ta thấy rằng trong mọi phương diện quý vị rất mộ đạo”. Thật ra, mộ đạo đến nỗi họ có cả một bàn thờ cho “Chúa không biết”, để tránh có vị phúc thần nào đó bị bỏ quên. Nếu họ không biết vị thần này, làm sao họ có thể thờ phượng Ngài? Hoăc làm sao người có thể giúp họ? Đó là Đức Chúa Trời này mà Phao-lô công bố.
Trong sứ-điệp này, tương tự như bài giảng của ông tại thành Lít-trơ (Công 14:15-17), Phao-lô đã chia sẻ 4 chân-lý cơ bản về Đức Chúa Trời.
(1). Sự vĩ đại của Đức Chúa Trời: Ngài là Đấng Tạo Hóa (Công 17:24). Mọi người có suy nghĩ đều hỏi: “Tôi từ đâu đến? Tại sao tôi có mặt ở đây? Tôi sẽ đi đâu?”
Khoa học cố gắng trả lời câu hỏi thứ nhất, và triết-học vật lộn với câu hỏi thứ hai, nhưng chỉ có Cơ-đốc giáo có một sự trả lời thỏa đáng cho cả 3 câu hỏi.
-Những người phái Epicureans, là những người vô thần, đã nói rằng tất cả là vật chất và vật chất luôn như vậy.
-Những người phái Stoics tất cả mọi sự là Đức Chúa Trời, thần linh của vũ trụ. Đức Chúa Trời chẳng tạo ra bất cứ điều gì Ngài chỉ xếp đặt vật chất và đóng dấu trên nó “luật và trật tự” nào đó.
-Nhưng Phao-lô đã dạn dĩ khẳng định: “Từ ban đầu, Đức Chúa Trời!” Đức Chúa Trời đã tạo nên thế giới và mọi vật trong đó, và Ngài là Chúa của tất cả những gì Ngài dựng nên. Ngài không phải là một Đức Chúa Trời ở xa, tách rời khỏi tạo vật của Ngài, Ngài cũng không phải là một Đức Chúa Trời bị giam cầm, bị bao bọc giữa sự sáng tạo.
Ngài quá vĩ đại nên không thể bị chứa trong những đền thờ do con người tạo ra (IVua 8:27; Ês 66:1-2; Công 7:48-50), nhưng Ngài không phải quá vĩ đại mà không quan tâm đến những nhu cầu của con người (Công 17:25). Chúng ta không biết các thành viên hội đồng phản ứng ra sao đối với nhận định của Phao-lô về các đền thờ, vì ngay Acropolis có nhiều điện thờ dành cho thần Athena.
(2). Sự nhân lành của Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng chu cấp (Công 17:25). Con người có thể tự hào trong sự hầu việc Đức Chúa Trời, nhưng chính Đức Chúa Trời là Đấng hầu việc con người. Nếu Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, vậy Ngài tự lo liệu và không cần điều gì con người có thể cung cấp.
Những đền thờ không những không chứa được Đức Chúa Trời, mà những lễ nghi trong các đền thờ đã không thêm gì cho Đức Chúa Trời! Trong 2 nhận định ngắn gọn, Phao-lô đã hoàn toàn xóa sạch cả hệ thống tôn giáo của Hy-lạp!
Chính Đức Chúa Trời là Đấng ban cho chúng ta điều chúng ta cần, “…sự sống, hơi thở và mọi sự”. Đức Chúa Trời là nguồn của mọi sự ban cho tốt lành và trọn vẹn (Gia 1:17). Ngài ban cho chúng ta sự sống và Ngài duy trì sự sống đó bằng sự nhân lành của Ngài (Mat 5:45). Chính sự nhân lành của Đức Chúa Trời phải dẫn con người đến sự ăn năn (Rô 2:4). Nhưng thay vì thờ phượng Đấng Tạo Hóa và làm vinh hiển Ngài, con người lại thờ phượng tạo vật của Ngài và làm vinh hiển chính mình (Rô 1:18-25).
(3). Sự cai trị của Đức Chúa Trời: Ngài là Đấng thống trị (Công 17:26-29). Các thần của người Hy-lạp là những con người ở xa không hề quan tâm đến những vấn đề và nhu cầu của con người. Nhưng Đức Chúa Trời của sự sáng tạo cũng là Đức Chúa Trời của lịch sử và địa lý! Ngài đã tạo nên loài người “từ một người” (Công 17:26) để mọi dân tộc được tạo ra từ cùng một chất và cùng một huyết.
Những người Hy-lạp cảm thấy rằng họ là một chủng tộc đặc biệt, khác với các dân tộc khác. Nhưng Phao-lô đã khẳng định ngược lại.
Ngay cả xứ sở quý báu mà họ tôn kính đã đến như một sự ban cho từ Đức Chúa Trời. Đó không phải là quyền của con người, nhưng là sự tể-trị của Đức Chúa Trời, quyết định sự hưng vong của các dân tộc (Đa 4:35).
Đức Chúa Trời không phải là một vị thần ở xa “Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta” (Công 17:27). Vì vậy con người phải tìm kiếm Đức Chúa Trời và nhận biết Ngài trong chân-lý.
Ở đây Phao-lô đã trích dẫn thi-sĩ Epimendes “vì trong Ngài, chúng ta được sống, động và có”. Rồi ông thêm vào một trích dẫn của hai thi-sĩ “vì chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài”.
Phao-lô không nói rằng mọi người trên đất đều là con cái thuộc linh của Đức Chúa Trời, vì tội-nhân trở nên con cái Đức Chúa Trời chỉ bởi đức tin trong Chúa Giê-xu (Gi 1:11-13). Đúng hơn, ông đang khẳng định “quyền làm Cha của Đức Chúa Trời” theo ý niệm tự nhiên, vì con người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sa 1:26). Trong ý nghĩa này, A-đam là “con của Đức Chúa Trời” (Lu 3:38).
• Điều này dẫn đến kết luận hợp lý của Phao-lô: Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta theo hình ảnh Ngài, nên thật dại dột cho chúng ta khi tạo ra các thần theo hình ảnh của chính mình! Tôn giáo Hy-lạp chỉ là sự chế tạo và thờ phượng các thần, những vị đã được lấy mẫu theo con người và hành động giống con người. Phao-lô không chỉ chứng minh sự điên rồ của những đền thờ và những lễ nghi trong đền thờ, mà còn chứng minh sự ngu xuẩn của cả sự thờ thần tượng.
4). Ân-điển của Đức Chúa Trời: Ngài là Đấng Christ (Công 17:30-31). Khi kết thúc sứ-điệp, Phao-lô tóm tắt những chứng cớ rõ ràng về ân-điển của Đức Chúa Trời. Trải bao thế kỷ, Đức Chúa Trời đã kiên nhẫn với tội-lỗi và sự ngu dốt của loài người (Công 14:16; Rô 3:25).
Điều này không có nghĩa là con người đã không phạm tội (Rô 1:19-20), nhưng chỉ có nghĩa là Đức Chúa Trời đã kìm nén cơn thạnh nộ thiêng liêng của Ngài.
Vào thời điểm thích hợp, Đức Chúa Trời đã ban một Đấng Christ, và giờ đây Ngài ra lệnh mọi người phải ăn-năn về những lối sống dại dột của mình.
Đấng Christ này đã bị giết và rồi được khiến sống lại từ cõi chết, và một ngày nào đó, Ngài sẽ tái-lâm để xét đoán thế gian. Bằng chứng Ngài sẽ xét đoán là Ngài đã được khiến sống lại từ cõi chết.
Đó là giáo-lý về sự sống lại mà hầu hết các thành viên Hội đồng không thể chấp nhận. Đối với một người Hy-lạp, thân thể chỉ là một nhà tù và một người lìa bỏ thân xác mình càng sớm, người ấy sẽ càng sung sướng hơn. Tại sao khiến một thân thể chết sống lại và sống trong đó lần nữa? Sự dạy dỗ loại này hoàn toàn không hợp với triết-học Hy-lạp. Họ tin nơi sự bất tử, nhưng không tin nơi sự sống lại.
• Có 3 đáp ứng khác nhau đối với sứ-điệp.
Một số người đã cười cợt, chế nhạo và không nhận sứ-điệp của Phao-lô cách nghiêm túc. Những người khác đã quan tâm nhưng muốn nghe nhiều hơn. Một nhóm nhỏ đã chấp nhận điều Phao-lô rao-giảng, tin nơi Chúa Giê-xu và được cứu. Chúng ta không biết những người khác đả trì hoãn quyết định cuối cùng có tin nhận Đấng Christ hay không Chúng ta hy vọng họ đã tin.
Khi bạn đối chiếu những kết quả dường như sơ sài ở thành A-thên với những mùa gặt lớn ở thành Tê-sa-lô-ni-ca và Bê-rê, bạn bị thuyết phục để kết luận rằng chức vụ của Phao-lô ở đó là một thất bại thảm thương. Nếu bạn làm vậy, bạn có thể thấy mình đang đến gần một kết luận hấp tấp và sai lầm.
Phao-lô đã không bị ra lịnh phải rời nơi này nên chúng tôi cho rằng ông đã nấn ná trong thành A-thên và tiếp tục dạy dỗ cho cả tín-đồ lẫn người không tin. Những người A-thên kiêu ngạo, thạo đời, khôn ngoan sẽ không dễ dàng nhận sứ-điệp Phúc-Âm khiêm nhường của Phao-lô, đặc biệt là khi ông tóm tắt toàn bộ lịch sử Hy-lạp bằng nhóm từ “các đời ngu muội này”. Đất ở đây không sâu và nó chứa nhiều cỏ dại, nhưng đã có một mùa gặt nhỏ.
Và xét cho cùng, một linh-hồn đáng giá cả thế gian!
Chúng ta vẫn cần những chứng-nhân là những người sẽ xâm nhập vào “những hội trường của học viện” và trình bày Đấng Christ cho những người khôn ngoan trong thế gian này nhưng ngu dốt về sự khôn ngoan thật của thế giới hầu đến. “Không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng được gọi” (ICôr 1:26), nhưng một số người được gọi, và Đức Chúa Trời có thể sử dụng bạn để gọi họ.
Hãy đem Phúc-Âm đến “A-thên” của bạn. Hãy bạo dạn!
15. LUÔN QUÁ SỚM CHỚ BỎ CUỘC (Công 18:1-22)
Một người đàn ông kia đang xúc tuyết khỏi đường lái xe của ông thì hai cậu bé mang những xuổng đến gần ông.
Một đứa hỏi: “Thưa ông, có xúc tuyết không? Chỉ hai đô-la thôi”
Bối rối, người đàn ông đáp: “Cậu không thấy rằng tôi đang tự làm đó sao?”
Cậu bé mạnh dạn nói: “Chắc chắn rồi, đó là lý-do chúng tôi hỏi. Chúng tôi nhận hầu hết công việc của những người làm nửa chừng và cảm thấy muốn bỏ cuộc!”
Tấn sĩ V.Raymond Edman thường nói với các sinh viên tại Đại học Wheaton (Illinois), “luôn quá sớm để bỏ cuộc!” Và Charles Spurgeon đã nhắc nhở hội chúng Luân-đôn của ông, “Bởi sự kiên trì, con ốc sên đã đến được chiếc tàu (Nô-ê)”.
Thành Cô-rinh-tô với 200.000 dân, sẽ không phải là thành dễ dàng nhất để khởi đầu một Hội thánh ở đó, nhưng đó là nơi Phao-lô đã đi sau khi rời A-thên. Và ông đã đi một mình! Sự ra đi khó khăn, nhưng vị sứ-đồ đã không bỏ cuộc.
Tiếng tăm của Cô-rinh-tô về điều ác đã được biết đến khắp đế quốc La-mã (Rô 1:18-32 đã được viết tại thành Cô-rinh-tô!). Nhờ vào vị trí của nó, thành là một trung tâm về thương mại lẫn du lịch. Tiền bạc và sự truỵ lạc, cùng với những triết-lý lạ và những tôn giáo mới, đã đến Cô-rinh-tô và lập cư ở đó. Cô-rinh-tô là thủ phủ của xứ A-chai và là một trong những thành phố quan trọng nhất Phao-lô đã thăm viếng Thành kia là Ê-phê-sô.
Khi Đức Chúa Trời mở các cửa, kẻ thù tìm cách đóng chúng, và có những lúc khi chúng ta đóng cửa trên chính mình vì chúng ta trở nên ngã lòng và bỏ cuộc. Khi Phao-lô thi hành chức vụ ở Cô-rinh-tô, Chúa chỉ ban cho ông những sự khích lệ ông cần để giúp ông tiếp tục, và chính những sự khích lệ này sẵn có cho chúng ta hôm nay.
1. Những người giúp việc tận tụy (Công 18:1-5).
Phao-lô đã đến thành Cô-rinh-tô sau chức vụ của ông dành cho các triết-gia ở Hy-lạp, và ông quyết định ngợi khen Chúa Giê-xu và thập-tự giá, nhờ cậy Thánh Linh, và trình bày Phúc-Âm cách đơn giản (ICôr 2:1-5).
Có nhiều triết-gia và các thầy giáo lưu hành ở thành Cô-rinh-tô, vơ vét trên số dân ngu dốt và mê tín, còn sứ-điệp và chức vụ của Phao-lô có thể dễ bị hiểu sai. Một cách Phao-lô đã biệt mình khỏi “những kẻ buôn bán tôn giáo” là bằng việc tự chu cấp với tư cách một thợ may trại.
Nhờ sự tiên liệu của Đức Chúa Trời, ông đã gặp một cặp vợ chồng Do-thái, A-qui-la và Bê-rít-sin (Bơ-rít-ca, IITim 4:19), là những người thợ làm da như Phao-lô. Các ra-bi Do-thái đã không nhận tiền từ những học viên nhưng kiếm sống bằng cách làm một nghề. Mọi con trai Do-thái đều được trông mong học một nghề, cho dù họ có thể bước vào nghề chuyên môn nào.
Các Ra-bi đã nói: “Ai không dạy con trai mình làm việc là dạy nó ăn cắp!” Vì vậy Sau-lơ ở Tạt-sơ đã học may lều da và tự hổ trợ mình trong chức vụ (Công 18:3; ICôr 9:6-15; IICôr 11:6-10).
A-qui-la và Bê-rít-sin có phải là những tín-đồ Cơ-đốc lúc bấy giờ? Chúng ta không biết chắc chắn, nhưng có thể họ là tín-đồ Cơ-đốc. Có lẽ họ thậm chí là những thành viên sáng lập Hội thánh ở Rô-ma. Chúng ta biết rằng đôi vợ chồng tận tụy này đã hầu việc trung-tín nhất và ngay cả liều mạng sống vì Phao-lô (Rô 16:3-4). Họ đã giúp đỡ ông trong thành Ê-phê-sô (Công 18:18-28) nơi họ thậm chí đã tiếp một Hội thánh trong nhà mình (ICôr 16:19).
A-qui-la và Bê-rít-sin là một phần quan trọng của “nhóm” Phao-lô và ông cảm tạ Đức Chúa Trời về họ. Họ là một tấm gương tốt về cách “những người thi hành chức vụ không chuyên” có thể giúp đẩy mạnh công việc của Chúa.
Mọi mục-sư và truyền-đạo hãy cảm tạ Đức Chúa Trời về những người như A-qui-la và Bê-rít-sin, những người có đôi tay, tấm lòng và nhà ở được dâng cho công việc của Chúa. Phao-lô đã sống và làm việc với A-qui-la cùng Bê-rít-sin, nhưng vào những ngày Sa-bát thì dạn dĩ làm chứng trong nhà hội.
Xét cho cùng, đó là lý do ông đã đến thành Cô-rinh-tô. Khi Si-la và Ti-mô-thê từ xứ Ma-xê-đoan đến (Công 17:14-15; Công 18:5), họ đã đem viện trợ về tài chính (IICôr 11:9), và điều này giúp Phao-lô có thể dành trọn thời gian cho việc rao giảng Phúc-Âm.
Hẳn là một sự vui mừng cho Phao-lô để nhìn thấy các bạn ông và nghe nơi họ những tin tức tốt lành về sự kiên định của Cơ-đốc nhân trong các Hội thánh họ đã cùng gieo trồng (ITês 3:1-13).
Mọi người đồng ý rằng Phao-lô là một Cơ-đốc nhân vĩ đại và là một nhà truyền giảng Phúc-Âm vĩ đại, nhưng một mình Phao-lô sẽ hoàn thành được bao nhiêu? Những người bạn như A-qui-la và Bê-rít-sin, Si-la và Ti-mô-thê, cùng những tín-đồ rời rộng xứ Ma-xê-đoan, đã khiến Phao-lô có thể hầu việc Chúa cách hiệu quả. Các bạn Cơ-đốc của ông, mới và cũ, đã khích lệ ông vào thời điểm ông cần nhất.
Dĩ nhiên, điều này nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta nên khích lệ bạn bè mình trong công việc của Chúa. Ralph Waldo Emerson đã viết, “Đức Chúa Trời hiển nhiên không định cho chúng ta đều là bạn hữu”.
“Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật-pháp của Đấng Christ” (Ga 6:2).
Nói theo cách con người, sẽ không có Hội thánh nào ở Cô-rinh-tô nếu không có sự tận tụy và sự hầu việc của nhiều người khác nhau.
2. Sự chống đối (Công 18:6-8)
Mỗi khi Đức Chúa Trời đang chúc phước một chức vụ, bạn có thể chờ đợi những sự chống đối gia tăng cũng như những dịp tiện gia tăng. “Vì một cái cửa lớn và có hiệu quả đã mở cho tôi, lại có nhiều kẻ đối địch” (ICôr 16:9). Xét cho cùng, kẻ thù nổi giận khi chúng ta xâm nhập lãnh địa của nó và giải phóng những nô l ệ của nó. Như ở thành Tê-sa-lô-ni-ca và Bê-rê (Công 17:5-13), những người Do-thái không tin, chối bỏ đạo, đã gây rắc rối cho Phao-lô và các bạn ông (ITês 2:14-16).
Sự chống đối như vậy thường là bằng chứng Đức Chúa Trời đang hành động, và điều này phải khích lệ chúng ta. Spurgeon thường nói rằng ma quỷ không bao giờ đá một con ngựa chết!
Sự chống đối của người Do-thái đã buộc Phao-lô rời Tê-sa-lô-ni-ca và Bê-rê, nhưng trong thành Cô-rinh-tô, sự chống đối chỉ khiến ông quyết định ở lại đó và thực hiện công việc. Luôn quá sớm để bỏ cuộc! Giống như Christopher Columbus dũng cảm, Phao-lô đã có thể viết trong nhật-ký mình, “Hôm nay, chúng tôi đã nhổ neo!”
Hai hình ảnh thú vị trong Cựu-ước được tìm thấy ở câu ITês 6: Giũ áo là một hành động xét đoán rằng: “Các ngươi đã có một dịp tiện, nhưng giờ đây dịp tiện qua rồi!” Hôm nay chúng ta đã có thể nói rằng chúng ta đang phủi tay trước một hoàn cảnh (xem Nêh 5:13 và so sánh Công 13:51 với Ma 10:14). Mặc dù Phao-lô chưa bao giờ ngừng làm chứng cho dân Do-thái, nhưng sự kêu gọi chủ yếu của ông là truyền-giảng Phúc-Âm cho dân ngoại (Ma 13:46-48; Ma 28:28).
Có máu trên tay mình nghĩa là bạn mang trách-nhiệm về sự chết của người khác vì bạn đã không trung-tín cảnh cáo người đó. Hình ảnh này đến từ người canh giữ những bức tường thành có nhiệm vụ cảnh giác (báo cho biết nguy hiểm sắp đến. (Êxe 3:17-21; Êxe 33:1-9).
Nhưng có máu trên đầu mình nghĩa là bạn đáng trách về sự xét đoán của chính mình. Bạn đã có cơ hội được cứu, nhưng bạn đã gạt bỏ (Gios 2:19). Tay Phao-lô tinh sạch (Công 20:26), vì ông đã trung-tín rao sứ-điệp Phúc-Âm. Dân Do-thái đã có máu họ trên đầu họ vì họ đã chối bỏ chân-lý của Đức Chúa Trời.
Vào đúng lúc, Đức Chúa Trời đã đem người bạn khác vào đời sống của Phao-lô – người ngoại, Ti-ti-u Giút-tu kính sợ Đức Chúa Trời. Một số nhà nghiên-cứu nghĩ tên đầy đủ của ông là Gai-út Ti-ti-u Giú-tu và cho rằng ông là “Gai-út người tiếp đãi tôi” được đề cập trong Rô 16:23. Quan hệ giữa Gai-út và Cơ-rít-bu trong Công 18:7 và ICôr 114 chắc chắn có ý nghĩa.
Phao-lô đã ra đi từ nhà hội và bắt đầu sử dụng nhà của Ti-ti-u Giút-tu làm trạm rao giảng, ngay kế bên nhà hội! Đây chắc chắn là một quyết định khôn ngoan của Phao-lô, vì nó cho ông sự tiếp xúc liên tục với dân Do-thái và dân ngoại mới theo đạo.
Và như một kết quả, ngay cả chủ nhà hội cũng qui đạo! Công việc của chủ nhà hội là bảo đảm rằng ngôi nhà hội được coi sóc và những lễ thờ phượng được duy trì đều đặn và trật tự. Chúng ta có ở đây một ví dụ khác về cả một gia đình trở lại cùng Chúa (Công 10:24,44; Công 16:15,34). Điều đó chắc đã khuấy động dân cư Do-thái trong thành Cô-rinh-tô dường nào!
Khi bạn xem xét chức vụ của Phao-lô trong thành Cô-rinh-tô, bạn sẽ thấy rằng ông đang thực hiện nhiệm-mạng của Chúa được trình bày trong Mat 28:19-20 Phao-lô đã đến Cô-rinh-tô (“đi”), ông đã thu phục tội nhân cho Đấng Christ (“tạo ra những môn-đệ”), ông làm phép báp-têm, và ông dạy dỗ họ (chú ý Công 18:11). Ông còn kinh nghiệm sự chắc chắn của Lời Chúa “Này, ta ở cùng ngươi luôn!” (Công 18:9-10).
Các cộng sự của Phao-lô đã làm báp-têm cho hầu hết những người mới qui đạo (ICôr 1:11-17), giống như các môn-đệ Chúa đã làm khi Ngài thi hành chức vụ trên đất (Gi 4:1-2 và chú ý Công 10:46-48). Điều quan trọng là sự vâng lời Chúa của tín-đồ chớ không phải tên của tôi tớ Chúa, người làm báp-têm.
Khi tôi trở thành mục sư thâm niên ở Hội thánh Moody tại Chicago, một thuộc viên lớn tuổi hơn đã kiêu hãnh nói với tôi: “Tôi đã được Tấn sĩ Ironside làm phép báp-têm!”. Ông ta ngạc nhiên là tôi đã không cảm kích. Tôi chắc rằng tấn sĩ Ironside sẽ quở trách ông cách yêu thương về việc nói như vậy, vì tấn sĩ Ironside là một người khiêm nhường muốn danh Đấng Christ được tôn cao, không phải danh của ông.
Bước đi bằng đức tin nghĩa là thấy những dịp tiện ngay cả giữa sự chống đối. Người bi quan chỉ thấy những vấn đề, người lạc quan chỉ thấy tiềm lực, nhưng người thực tế thấy tiềm lực trong những vấn đề. Phao-lô đã không nhắm mắt trước nhiều nguy hiểm và khó khăn trong hoàn cảnh ở Cô-rinh-tô, nhưng ông đã nhìn chúng từ quan điểm thiêng liêng.
Đức tin đơn giản nghĩa là vâng theo ý chỉ của Đức Chúa Trời bất chấp những xúc cảm, hoàn cảnh hay hậu quả. Chẳng bao giờ có một nơi dễ chịu để hầu việc Đức Chúa Trời, và nếu có một nơi dễ chịu, có thể là có gì sai trật. Phao-lô đã nhắc nhở Ti-mô-thê. “Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Giê-xu, thì sẽ bị bắt bớ” (IITim 3:12).
Francis Bacon đã viết: “Sự thịnh vương là phước hạnh của Cựu-ước, nghịch cảnh là phước hạnh của Tân-ước”. Phao-lô đã không để cho nghịch cảnh cản trở ông hầu việc Đức Chúa Trời.
3. Lời bảo đảm (Công 18:9-17)
Sự qui đạo của Cơ-rít-bu, một chức sắc Do-thái quan trọng, đã mở ra nhiều cơ hội hơn cho sự rao-giảng Phúc-Âm và đem đến nhiều sự chống đối hơn của kẻ thù! Cộng đồng Do-thái ở Cô-rinh-tô chắc hẳn đã giận dữ về sự thành công của Phao-lô và làm mọi việc có thể để khiến ông nín lặng và đuổi ông.
Bác sĩ Lu-ca không cho chúng ta chi tiết, nhưng tôi có ấn tượng rằng giữa Công 18:8,9, tình thế đặc biệt trở nên khó khăn và nguy hiểm. Phao-lô có thể đang nghĩ đến việc rời thành thì Chúa đến với ông và ban cho ông sự bảo đảm ông cần.
Sự bảo đảm đó cũng giống như Chúa phán với chúng ta khi chúng ta cần Ngài hơn hết. Lời dịu dàng “đừng sợ chi!” của Ngài có thể làm lặng cơn bão tố trong lòng chúng ta bất kể mọi hoàn cảnh quanh ta.
Đây là cách Ngài đã đảm bảo với Áp-ra-ham (Sa 15:1), Y-sác (Sa 26:24) và Gia-cốp (Sa 46:3), cũng như Giô-sa-phát (IISu 20:15-17), Đa-ni-ên (Da 10:12,19), Ma-ri (Lu 1:30), và Phi-e-rơ (Lu 5:10). Khi bạn cảm thấy cô đơn và chiến bại, hãy suy gẫm Hêb 13:5 và Ês 41:10 Ês 43:1-7 và bằng đức tin hãy tuyên bố sự hiện diện của Chúa Ngài ở cùng bạn!
Khi còn là một thanh niên, mục sư Anh quốc nổi tiếng G.Campbell Morgan thường đọc Kinh Thánh mỗi tuần cho hai phụ nữ lớn tuổi. Một buổi tối nọ, khi đã đọc xong những lời cuối trong Mat 28:1-28) Morgan đã nói với các phụ nữ: