...bé đang đứng trước cửa nhà cố tìm cách bán cho tôi tờ tuần báo, và cậu ta ra sức thuyết phục. Cậu ấy nói, “Mỗi tuần ông chỉ tốn một phần tư đô-la thôi, và ông có một tờ báo in toàn những tin tốt!”.
Trong một thế giới đầy dẫy phiền toái, ngày càng khó tìm một “tin tức tốt” nào, do đó có lẽ dầu sao tờ báo cũng là một món hời. Đối với người đã tin nhận Chúa Giê-xu Christ làm Đấng Cứu-Rỗi cho đời mình, “tin tức tốt” thật sự chỉ là Phúc-Âm: “Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh... Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba Ngài sống lại theo lời Kinh Thánh” (ICôr 15:3-4).
Đó là tin mừng tội-nhân có thể được tha-tội và đi vào thiên-đàng bởi những gì Chúa Giê-xu Christ đã làm trên thập-tự giá. Phúc-Âm cứu-rỗi bởi tin nơi Đấng Christ là sứ-điệp quan-trọng nhất trong thế-gian.
Sứ-điệp này biến đổi cuộc đời của Phao-lô và qua ông nhiều cuộc đời khác cũng được thay đổi. Nhưng hiện giờ sứ-điệp ấy đang bị công kích, và Phao-lô cố gắng binh vực chân-lý của Phúc-Âm.
Một số giáo-sư giả đã xâm nhập vào các Hội thánh tại Ga-la-ti; các Hội thánh Phao-lô đã thành-lập; dạy một sứ-điệp khác những gì Phao-lô đã giảng dạy.
Khi bắt đầu đọc thơ Phao-lô gởi cho tín-hữu Ga-la-ti, bạn có thể nói ngay rằng trong thơ có một vài chỗ sai căn bản, vì Phao-lô không mở đầu bức thơ bằng sự ngợi khen Đức Chúa Trời và lời cầu thay cho các thánh-đồ như thường lệ. Ông không có thời gian! Phao-lô sắp bước vào trận chiến đấu vì chân-lý của Phúc-Âm và tự-do của cuộc sống Cơ-đốc.
Các giáo-sư giả đang rao-giảng một “Phúc-Âm” khác pha trộn giữa luật-pháp và ân-điển, Phao-lô không thể ngồi yên chẳng có hành động nào cả.
Phao-lô tiếp cận với tín-hữu Ga-la-ti như thế nào trong cố gắng dạy họ chân-lý về Phúc-Âm? Trong những câu mở đầu, sứ-đồ Phao-lô thực hiện 3 bước trong việc chuẩn bị cho trận-chiến đấu này.
1. Phao-lô giải thích quyền hạn của mình (Ga 1:1-5)
Về cuối bức thơ, Phao-lô đối xử với tín-hữu Ga-la-ti trên nền tảng lòng yêu thương (Ga 4:12-20) nhưng lúc bắt đầu bức thơ ông cẩn thận cho họ biết thẩm quyền ông nhận được từ Chúa. Phao-lô có ba nguồn thẩm quyền.
• Chức-vụ của ông (Ga 1:1-2).
“Phao-lô, làm sứ-đồ...” Vào ngày đầu thành-lập Hội th ánh, Đức Chúa Trời kêu gọi những người đặc biệt thực hiện các nhiệm-vụ riêng biệt. Trong số những người ấy là các sứ-đồ. Từ ngữ này có nghĩa “người được sai-phái thực hiện một sứ-mạng”.
Trong lúc thi hành chức-vụ trên thế-gian, Chúa Giê-xu có nhiều môn-đệ ("những học trò"), và từ trong số họ Ngài chọn 12 sứ-đồ (Mac 3:13-19). Sau đó, một trong những yêu cầu cho chức-vụ sứ-đồ là phải tận mắt chứng kiến sự sống lại của Chúa (Công 1:21-22; Công 2:32; Công 3:15).
Dĩ nhiên, chính Phao-lô không phải là môn-đệ cũng không là sứ-đồ trong suốt thời gian chức-vụ trên thế-gian của Đấng Christ, nhưng ông đã thấy Chúa sống và được Ngài giao nhiệm-vụ (Công 9:1-18; ICôr 9:1).
Sự qui đạo lạ lùng và việc Phao-lô được kêu-gọi trở thành sứ-đồ tạo ra một số vấn-đề. Từ ban đầu, ông tách biệt với các sứ-đồ đầu tiên.
Kẻ thù nói rằng vì lý-do này người không phải là sứ-đồ thật. Phao-lô cẩn thận cho biết rằng ông đã được Chúa Giê-xu Christ lập làm sứ-đồ như mười hai vị sứ-đồ ban đầu.
Chức vụ sứ-đồ của ông không phải do con người tuyển chọn và chấp nhận, nhưng do sự bổ-nhiệm từ trên cao. Do đó, ông có thẩm quyền giải quyết các rắc rối trong các Hội thánh tại Ga-la-ti.
Nhưng trong lãnh vực chức-vụ của ông, Phao-lô có được căn bản thẩm quyền thứ hai: ông đã thành lập các Hội thánh tại Ga-la-ti. Phao-lô không viết thơ này trong tư thế một người xa lạ, nhưng là người đem sứ-điệp sự sống đến cho họ trong buổi đầu tiên!
Bức thơ này bày tỏ lòng thương yêu của Phao-lô dành cho những tín-hữu tại đây (Ga 4:12-19). Đáng tiếc, lòng thương yêu này không được đáp lại.
Việc thành-lập Hội thánh Ga-la-ti đã buộc các nhà nghiên-cứu Kinh Thánh làm việc nghiêm túc trong nhiều năm. Vấn đề xuất phát từ ý nghĩa của chữ GALATI.
Vài trăm năm trước Đấng Christ Giáng Sinh, một số bộ lạc hung tợn từ xứ Gaul (nước Pháp hiện nay) di cư vào Tiểu Á, và thành-lập nên Ga-la-ti, nghĩa đơn giản là “đất nước của những ng ười xứ Gaul”.
Khi người La-mã sắp xếp lại thế giới cổ đại, họ biến Ga-la-ti thành một phần của một tỉnh rộng lớn hơn bao gồm vài vùng khác nữa, và gọi toàn tỉnh này là Ga-la-ti, Vì vậy, ngược lại thời điểm của Phao-lô, khi có người nói về Ga-la-ti, bạn không thể biết chắc anh ta muốn nói đến đất nước Ga-la-ti nhỏ bé hoặc tỉnh rộng lớn hơn của người La-mã.
Các nhà nghiên cứu Kinh Thánh chia làm 2 quan-điểm trước vấn-đề Phao-lô viết cho các Hội thánh trong nước Ga-la-ti hay trong tỉnh Ga-la-ti. Quan-điểm thứ nhất được gọi là “thuyết bắc Ga-la-ti” và quan-điểm sau là “thuyết nam Ga-la-ti”.
Vấn-đề không có cách giải quyết chung cuộc, nhưng bằng chứng dường như cho thấy Phao-lô đã viết cho các Hội thánh ở phía Nam của tỉnh Ga-la-ti: gồm có An-ti-ốt, Y-cô-ni, Lít-trơ, Đẹt-bơ - các Hội thánh ông đã thành lập trong chuyến hành trình truyền-giáo lần thứ nhất (Công 13:1-14:28).
Phao-lô luôn luôn bày tỏ lòng yêu thương quan tâm đến những người tin đạo và ao ước ghé thăm các Hội thánh ông ta đã thành-lập để làm vinh-hiển Đấng Christ (Công 15:36; IICôr 11:28). Ông không vui khi dắt dẫn mọi người đến với Đấng Christ rồi bỏ mặc họ. (Để xem gương “săn-sóc” của ông, hãy đọc ITês 2:1-20).
Khi nghe nói các giáo-sư giả bắt đầu chiêu dụ những người qui đạo và dẫn họ đi sai đường, Phao-lô vô cùng lo lắng - và đúng vậy. Dẫu sao, dạy các tân tín-hữu cách sống cho Đấng Christ là một phần trong mệnh-lệnh của Đấng Christ cũng như chinh phục họ (Mat 28:19-20).
Buồn thay, nhiều tín-hữu Ga-la-ti đã trở mặt với Phao-lô, “người cha thuộc linh” trong Chúa của họ, và bây giờ chạy theo các giáo-sư chủ luật, những người pha trộn Luật-pháp Cựu-ước với Phúc-Âm của ân-điển Đức Chúa Trời. (Chúng ta gọi những giáo-sư giả này là “những giáo-sư Do-thái” vì họ đang tìm cách lôi kéo người theo Chúa quay trở lại hệ thống Do-thái giáo).
Như vậy, Phao-lô đã thi-hành chức-vụ sứ-đồ, và đặc biệt là người sáng-lập các Hội thánh Ga-la-ti. Như thế ông có thẩm quyền giải quyết các nan đề trong các Hội thánh Ga-la-ti. Nhưng Phao-lô còn có nguồn thẩm quyền thứ hai:
• Sứ-điệp (c.3-4). Từ lúc khởi đầu, Phao-lô nói cách rõ ràng về sứ-điệp của Phúc-Âm, vì những người theo đạo Do-thái đang thay đổi sứ-điệp này. Phúc-Âm tập trung vào một Con Người - đó là Chúa Giê-xu Christ, Con Đức Chúa Trời.
Con Người này đã trả giá cao - Ngài đã phó chính thân Ngài chịu chết trên thập-tự giá. (Bạn sẽ khám phá ra tầm quan trọng của thập-tự giá trong thư Ga-la-ti, (Ga 2:19-21; Ga 3:1,13; Ga 4:5; Ga 5:11,24; Ga 6:12-14). Đấng Christ trả giá để Ngài đạt được mục đích - giải phóng tội-nhân thoát khỏi ách nô-lệ.
“Tự-do trong Đấng Christ” là chủ-đề nổi bật nhất trong thơ Ga-la-ti. (Hãy kiểm tra chữ ách nô-lệ trong Ga 2:4; Ga 4:3,9,24-25; Ga 5:1). Những người theo đạo Do-thái muốn hướng dẫn các Cơ-đốc nhân ra khỏi tự-do của ân-điển để trở thành nô-lệ cho luật-pháp.
Phao-lô biết rằng ách nô-lệ không phải là một phần của sứ-điệp Phúc-Âm, vì Đấng Christ đã chết cho con người được tự-do.
Chức-vụ và sứ-điệp của Phao-lô là những nguồn của thẩm quyền thuộc-linh, nhưng cũng còn có:
• Động cơ của ông (c.5). “Nguyền Ngài được vinh hiển đời đời!”. Các giáo-sư giả không hầu-việc vì sự vinh-hiển của Đấng Christ, nhưng để làm vinh-hiển cho riêng mình (Ga 6:12-14).
Giống như các giáo-sư giả ngày nay, những người theo đạo Do-thái không bận tâm chinh phục người hư-mất về cho Đấng Christ.
Đúng hơn họ đang ăn cắp “chiên” của người khác và khoe khoang về con số thống kê của mình. Nhưng động cơ của Phao-lô là trong-sạch và thánh-thiện: ông muốn làm vinh-hiển Chúa Giê-xu Christ (ICôr 6:19-20; ICôr 10:31-33).
Bây giờ Phao-lô giải thích thẩm quyền của mình. Ông đã sẵn sàng bước thứ hai cho cuộc chiến-đấu vì tự-do của Cơ-đốc nhân.
2. Phao-lô bày tỏ nỗi lo lắng (Ga 1:6-7)
“Tôi lấy làm lạ cho anh em đã vội bỏ Đấng gọi anh em...! ”Đây là lý-do đầu tiên làm Phao-lô lo lắng: Người Ga-la-ti đang rời bỏ ân-điển của Đức Chúa Trời. (Động từ trong câu cho thấy họ đang tiến hành lìa bỏ và chưa hoàn toàn bỏ hẳn).
• Phao-lô không bỏ lỡ cơ hội.
Đức Chúa Trời đã gọi họ bằng ân-điển của Ngài, và cứu họ thoát khỏi tội-lỗi. Bây giờ họ đang lìa bỏ ân-điển để trở lại với luật-pháp. Họ chối bỏ tự-do để tuân giữ theo luật-pháp!
Và quá vội thực hiện điều đó mà không hỏi ý Phao-lô, người “cha thuộc-linh” của họ, hoặc để thì giờ cho Đức Thánh Linh chỉ dạy. Họ bắt đầu say mê tôn-giáo Do-thái, như trẻ nhỏ chạy theo người lạ vì người ấy cho chúng kẹo ngọt.
“Ơn của Đức Chúa Trời” là chủ-đề cơ bản trong bức thư này (Ga 1:3,6,15; Ga 2:9,21; Ga 5:4; Ga 6:18). Ân-điển là đặc ân của Đức Chúa Trời dành cho tội-nhân không xứng đáng. Chữ “ân-điển” và “quà tặng” đi đôi với nhau, vì sự cứu rỗi là món quà của Đức Chúa Trời bởi ân-điển Ngài (Êph 2:8-10).
Tín-hữu Ga-la-ti không chỉ “thay dổi tôn-giáo” hoặc “thay dổi nhà thờ” nhưng thực sự họ đang lìa bỏ chính ân-điển của Đức Chúa Trời! Làm cho tình thế càng xấu hơn, họ đang lìa bỏ chính Đức Chúa Trời nguồn ân-điển! Đức Chúa Trời đã kêu gọi và cứu vớt họ giờ đây họ từ bỏ Ngài để chạy theo những người lãnh đạo thế tục sẽ mang họ vào ách nô-lệ của luật-pháp.
Chúng ta không bao giờ được quên rằng đời sống Cơ-đốc nhân là mối tương-giao sống động với Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu Christ. Một người không thể trở thành C ơ-đốc nhân khi chỉ chấp nhận một giáo-lý người ấy trở nên Cơ-đốc nhân khi thuận-phục và tin nhận Đấng Christ (Rô 1:16).
Bạn không thể pha trộn ân-điển với việc làm được, vì việc này loại bỏ việc kia. Cứu-rỗi là món quà ân-điển của Đức Chúa Trời, được Chúa Giê-xu Christ mua cho chúng ta trên thập-tự giá. Chuyển từ ân-điển sang luật-pháp là phủ nhận Đức Chúa Trời Đấng đã cứu-chuộc chúng ta.
Nhưng họ phạm một tội khác khiến Phao-lô lo lắng hơn: họ đang xuyên tạc Phúc-Âm của Đức Chúa Trời. Những giáo-sư Do-thái khẳng định họ đang giảng “Phúc-Âm”, nhưng không thể có 2 Phúc-Âm, một tập trung vào việc làm và một tập trung vào ân-điển.
Phao-lô viết, “Họ không rao giảng một Phúc-Âm khác, nhưng một sứ-điệp khác - một sứ-điệp khác xa chân-lý Phúc-Âm đến nỗi không có chút tin lành nào cả.”
Giống như những hệ-phái ngày nay, người theo đạo Do-thái bảo rằng, “Chúng ta tin Chúa Giê-xu Christ - nhưng có một số điều kỳ diệu cần thêm vào những gì chúng ta đã tin.” Dường như người nào cũng có thể “thêm” điều gì đó tốt hơn vào trong ân-điển của Đức Chúa Trời!
Chữ đã dịch là “đánh đổ” trong câu 7 được dùng chỉ có ba lần trong Tân-ước (Công 2:20; Gia 4:9; Ga 1:7). Nó có nghĩa “quay mặt lại, đổi sang một cá tính đối nghịch”. Từ này có thể dịch là “quay ngược trở lại”.
Nói cách khác, người Do-thái hoàn toàn thay đổi Phúc-Âm - họ đã ngoảnh mặt với Phúc-Âm và quay trở lại với luật-pháp! Ở cuối bức thư này, Phao-lô giải thích thế nào luật-pháp là sự chuẩn bị cho sự đến của Chúa Giê-xu Christ, nhưng người theo đạo Giu-đa đã giải nghĩa khác.
Đối với họ, luật-pháp và Phúc-Âm đi chung với nhau. “Nếu các ngươi chẳng chịu phép cắt-bì theo lễ Môi-se, thì không thể được cứu-rỗi.” (Công 15:1).
Việc “bỏ đạo và hiểu sai lệch” đang gây ra điều gì cho tín hữu Ga-la-ti? Nó làm họ bối rối (Ga 1:7). Động từ làm bối rối mang theo nó ý tưởng b ối rối, lẫn lộn, và bất an. Bạn sẽ tìm thấy một số ý tưởng tác động của từ ngữ này khi xem cách nó được sử dụng ở các nơi khác. Làm bối rối mô tả những cảm xúc của môn-đồ trong thuyền giữa cơn bão (Mat 14:26).
Nó cũng mô tả những cảm xúc của Vua Hê-rốt lúc nghe một vua mới sanh ra (Mat 2:3). Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Phao-lô lo lắng cho tín-hữu của ông: họ đang trải qua sự khuấy động mạnh mẽ bởi các giáo-sư giả đem đến cho các Hội thánh.
Ân-điển luôn luôn dẫn đến sự bình-an (Ga 1:3), nhưng các tín-hữu đã lìa bỏ ân-điển và do đó lòng họ không được bình-an.
Hãy nhớ rằng ân-điển của Đức Chúa Trời bao g ồm thêm nhiều điều hơn là sự cứu-rỗi của con người. Chúng ta không những được cứu bởi ân-điển, nhưng còn sống bởi ân điển (ICôr 15:10). Chúng ta đứng vững trong ân điển đó là nền tảng cho cuộc sống Cơ-đốc (Rô 5:1-2).
-Ân-điển cho chúng ta sức mạnh cần thiết để làm người lính chiến thắng (IITim 2:1-4).
-Ân-điển giúp chúng ta chịu được đau-khổ mà không than van, và còn dùng đau-khổ làm sáng danh Đức Chúa Trời (IICôr 12:1-10).
Khi một Cơ-đốc nhân quay khỏi sự sống bởi ân-điển của Đức Chúa Trời, người ấy phải dựa vào sức riêng của mình. Điều này dẫn đến thất bại và thất vọng.
Đây là điều Phao-lô có ý muốn nói “mất ân-điển rồi” (Ga 4:5) - lìa khỏi phạm vi của ân-điển và chuyển sang phạm vi luật-pháp, thôi nương cậy nơi các nguồn của Đức Chúa Trời và nhờ cậy sức riêng của mình.
• Phao-lô lo lắng băn khoăn là điều đương nhiên.
Bạn hữu trong Đấng Christ của ông đang lìa bỏ Đức Chúa Trời của ân-điển, xuyên tạc ân-điển của Đức Chúa Trời, trở lại sống theo xác thịt và nguồn vui riêng của mình. Họ bắt đầu cuộc sống Cơ-đốc nhân trong Đức Thánh Linh, nhưng bây giờ họ tiếp tục cậy năng lực của xác thịt (Ga 3:3).
Phao-lô đã giải thích thẩm quyền của mình và bày tỏ nỗi lắng lo của ông, bây giờ ông đi bước thứ ba:
3. Phao-lô vạch trần những đối thủ của ông (Ga 1:8-10)
“Hãy yêu thương, đừng gây chiến!” có thể là câu biểu ngữ quen thuộc, nhưng không phải lúc nào cũng thực hiện được. Bác sĩ phải vật lộn chống lại bệnh tật và tử thần các kỹ sư về vệ sinh phải chiến đấu chống lại sự dơ bẩn và ô nhiễm các nhà luật pháp phải chống lại sự bất-công và tội-ác. Tất cả họ tranh đấu vì điều mà họ yêu thương!
“Hỡi những kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, hãy ghét sự ác” (Thi 97:10).
“Hãy gớm sự dữ mà mến sự lành” (Rô 12:9).
Phao-lô tiến hành cuộc chiến chống lại các giáo-sư giả vì yêu mến chân-lý, và vì yêu thương những người ông đã dắt dẫn đến với Đấng Christ. Giống như người cha yêu thương bảo vệ con gái của mình cho đến lúc nàng lấy chồng, Phao-lô bảo vệ tín-hữu của mình kẻo họ bị quyến rũ sa vào tội-lỗi (IICôr 11:1-4).
Chúng ta nhận biết giáo-sư Do-thái bởi Phúc-Âm giả họ rao-giảng. Trắc-nghiệm chức-vụ của một người không phải ở sự nổi tiếng (Mat 24:11), hoặc ở những dấu kỳ phép-lạ (Mat 24:23-24), nhưng bởi lòng trung-thành của người đó đối với Lời Đức Chúa Trời (Ês 8:20; ITim 4:1-16; IGi 4:1-6 và lưu ý IIGi 1:5-11 khuyến cáo chúng ta không ủng hộ những người đem đến giáo-lý sai lầm).
Đấng Christ đã giao-phó Phúc-Âm cho Phao-lô (ICôr 15:1-8), và đến lượt ông giao-phó cho các tôi-tớ trung-thành khác (ITim 1:11 và ITim 6:20; IITim 1:13 và IITim 2:2).
Nhưng giáo-sư Do-thái đã xuất hiện và thay thế Phúc-Âm bằng một Phúc-Âm khác, và vì tội-lỗi này, Phao-lô tuyên bố họ bị rủa sả. Chữ ông dùng là a-na-them, có nghĩa “biệt riêng để diệt” (Đọc Công 23:14 để thấy hình ảnh minh họa đầy đủ về từ ngữ này)
Cho dù người rao-giảng là ai - một thiên-sứ từ trời hay chính bản thân Phao-lô - nếu người ấy rao-giảng một Phúc-Âm khác, người đó đáng bị rủa sả!
Nhưng còn có tính chất thứ hai của đối thủ Phao-lô: đó là họ thực hành những động cơ giả. Kẻ thù buộc tội Phao-lô vì thỏa hiệp và “điều chỉnh” Phúc-Âm cho phù hợp với dân ngoại. Có lẽ họ bóp méo ý nghĩa của lời Phao-lô nói, “Tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người, để cứu-chuộc được một vài người không cứ cách nào” (ICôr 9:22).
Họ nói, “Khi Phao-lô ở với người Do-thái, ông sống như một người Do-thái nhưng lúc ở với dân ngoại, ông sống như người ngoại bang. Ông ta là người làm hài lòng người khác, và do đó chúng ta không thể tin cậy người được”.
Nhưng trong thực tế, chính giáo-sư giả mới là người tìm cách làm vừa lòng con người.
Phao-lô viết, “Những người đó vì anh em mà sốt sắng , thì không phải là ý tốt. Họ muốn anh em lìa bỏ chúng tôi, hầu cho anh em sốt sắng vì họ” (Ga 4:17).
Về cuối thư, Phao-lô cũng cho thấy các giáo-sư giả là những người thỏa hiệp, thực hành trở lại những chỉ dạy trong Cựu-ước để họ không bị dân Do-thái bắt bớ (Ga 6:12-15).
Phao-lô thật sự không phải là người làm vừa lòng con người.
Chức-vụ của ông không đến từ con người (Ga 1:1), sứ-điệp của ông cũng không bởi con người (Ga 1:12). Vậy thì tại sao ông phải sợ con người? Tại sao ông phải cố tìm cách làm đẹp lòng con người? Lòng khao khát của ông là làm đẹp lòng Đấng Christ.
Khi Verdi cho ra đời vở ô-pê-ra đầu tiên tại Florence, nhà soạn nhạc đứng một mình trong bóng tối và đưa mắt nhìn một người trong số khán giả - đó là nhà soạn nhạc Rossini vĩ đại. Dù mọi người trong nhà hát có vỗ tay tán thưởng hay chế nhạo cũng không ảnh hưởng gì đến Verdi tất cả những gì ông muốn có là nụ cười chấp nhận từ người thầy của mình.
Đối với Phao-lô cũng vậy. Ông biết phải chịu khổ vì Phúc-Âm, nhưng sự ủng hộ hay phản đối của con người không lay chuyển ông. “Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể này dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa” (IICôr 5:9). Phao-lô muốn được Đấng Christ chấp nhận.
Tôi-tớ Đức Chúa Trời thường bị cám-dỗ thỏa hiệp để tạo ảnh hưởng và làm vui lòng con người. Khi D.L.Moody giảng đạo tại Anh Quốc, một công nhân đến gặp ông trên bục giảng và cho ông biết một nhà quý tộc rất quan trọng đã vào trong nhà thờ.
Moody trả lời: “Nguyện buổi nhóm là một ơn phước cho ông ấy!” và ông giảng y như trước mà không tìm cách gây chú ý cho người nào.
Phao-lô không phải là nhà chính trị ông là đại-sứ. Nhiệm-vụ của Phao-lô không phải “chơi trò chính trị” nhưng để công bố Phúc-Âm. Mặc khác, Giáo-sư Do-thái là những người thỏa hiệp ngu xuẩn, họ trộn lẫn luật-pháp với ân-điển, với hy vọng làm hài lòng cả người Do-thái lẫn ngoại bang, nhưng không bao giờ đòi hỏi người khác xem thử họ có làm hài lòng Đức Chúa Trời hay không.
Chúng ta đã xem xét 3 bước Phao-lô lôi kéo các giáo-sư giả vào trận-chiến: ông giải thích thẩm quyền của mình, bày tỏ lòng lo lắng, và vạch trần các đối thủ của mình. Nhưng Phao-lô tấn công kẻ thù bằng cách nào? Ông dùng giải pháp gì để thuyết phục tín-hữu Ga-la-ti tin rằng tất cả những gì họ cần là tin cậy nơi ân-điển của Đức Chúa Trời?
Nhìn chung suốt bức thư chúng ta thấy Phao-lô là người binh vực chủ yếu cho Phúc-Âm. Hãy dành thời gian đọc toàn bộ bức thư một lần, và khi đọc hãy chú ý 3 giải pháp Phao-lô đã thực hiện.
(1). Giải pháp đầu tiên nói về bản thân ông (Ga 1:1-2:21).
Ông nhắc lại kinh nghiệm cá nhân của mình với Chúa Giê-xu Christ và sứ-điệp của Phúc-Âm. Ông chỉ rõ rằng ông đã nhận từ nơi Chúa cách độc lập chớ không từ nơi 12 sứ-đồ (Ga 1:11-24), nhưng các sứ-đồ đã chấp nhận sứ-điệp và chức-vụ của ông (Ga 2:1-10).
Hơn nữa, Phao- lô còn binh vực cho Phúc-Âm khi Phi-e-rơ, vị sứ-đồ nổi bật, đã thỏa hiệp lần đầu tiên (Ga 2:11-21). Phần tự thuật của bức thư này chứng tỏ Phao-lô không phải là “vị sứ-đồ bắt chước”, nhưng sứ-điệp và chức-vụ của ông là thật đối với đức-tin.
(2). Chương 3 và 4 nói về giáo-lý của Chúa, và Phao-lô đưa ra một số lập-luận để chứng-minh rằng tội-nhân đã được cứu bởi đức-tin và ân-điển, không bởi việc làm và luật-pháp. Đầu tiên ông kêu gọi những từng trải riêng của họ (Ga 3:1-5).
(3). Sau đó ông nhắc lại Luật-pháp Cựu-ước trong Ga 3:6-14 để cho thấy ngay cả Áp-ra-ham và các đấng tiên-tri đã hiểu cứu-rỗi là sự ban-cho bởi ân-điển thông qua đức-tin. Đề cập đến luật-pháp, bây giờ Phao-lô giải thích tại sao luật-pháp được ban-cho từ buổi ban đầu (Ga 3:15-4:18).
Sau đó ông dùng câu chuyện Sa-ra và A-ga để minh hoạ mối liên-hệ giữa luật-pháp và ân-điển (Ga 4:19-31).
Hai chương cuối của bức thư nhấn mạnh đến cuộc sống thực tế, khi Phao-lô chuyển từ lập-luận đến ứng-dụng. Những Giáo-sư Do-thái cáo buộc Phao-lô hô hào phá bỏ luật-pháp vì ông rao-giảng Phúc-Âm của ân-điển Đức Chúa Trời vì vậy trong phần này, Phao-lô giải thích mối quan-hệ giữa ân-điển của Đức Chúa Trời và cuộc sống thực tế của Cơ-đốc nhân.
Ông bày tỏ rằng sống bởi đức-tin có nghĩa là tự-do, chớ không phải nô-lệ (Ga 5:1-12) tùy thuộc vào Đức Thánh Linh chớ không cậy xác thịt (Ga 5:13-26) và sống vì sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời, chớ không vì sự ưng-thuận của con người (Ga 6:11-18).
Hoặc là một chuỗi hành động hoặc là điều gì khác - luật pháp hoặc ân-điển - nhưng không thể cả hai được.
Thư Ga-la-ti không phải là quyển sách có thể xem nhẹ. Thơ Ga-la-ti là bản hiến chương của Martin Luther trong suốt thời gian Cải Cách. Những bài viết của Luther lần lượt đem chân-lý cứu-rỗi bởi đức-tin đến cho tấm lòng John Wesley trong một buổi nhóm ít người tại đường Aldersgate Luân-đôn vào ngày 24 tháng 5 năm 1738.
Đức Chúa Trời đã dùng chính Wesley một cách đặc biệt để làm người tiên-phong dẫn đầu cơn phục-hưng tại các quần đảo nước Anh, cuối cùng ông lãnh đạo thành-lập Giáo hội Giám-Lý.
Và cơn phục-hưng ấy thực sự ảnh hưởng sâu sắc đến toàn thế giới nói tiếng Anh. Khi nghiên-cứu sách Ga-la-ti, chúng ta đang tham gia vào dây chuyền hành động thuộc linh để có thể mang lại kết quả phấn-hưng khác cho thế giới ngày hôm nay.
2. ĐƯỢC SINH RA TỰ-DO! (Ga 1:11-23)
“Bất cứ ai là một người thì phải không tin theo một tôn-giáo nào”. Nhà văn Emerson viết như vậy, và nhiều nhà tư-tưởng cũng đồng ý với ông.
Nhà phê-bình nghệ thuật của Anh Quốc John Ruskin nói, “Tôi sợ sự đồng nhất. Bạn không thể tạo ra những con người vĩ đại cũng như bạn không thể chế tạo ra vàng được.”
Triết-gia người Đức Schopenhauer viết, “Chúng ta đánh mất 3 phần 4 chính mình để giống như người khác.”
Francis Asbury, Giám-mục đầu tiên của giáo hội Giám-Lý tại Hoa Kỳ, có lần đã cầu-nguyện trong buổi lễ tấn-phong chấp-sự, “Ôi Lạy Chúa, xin Ngài giúp cho những anh em này đừng bao giờ muốn giống như người khác.”
Dĩ nhiên, có một loại chủ nghĩa cá nhân sai trái phá hại thay vì làm cho trọn nhưng trong xã hội quen với việc trao đổi các nhiệm-vụ, thật là tốt để gặp một người như Phao-lô dám là chính mình theo ý muốn Đức Chúa Trời.
Nhưng tự-do của ông có được trong Đấng Christ là mối đe doạ đối với những người thấy an tâm trong việc tuân giữ phép tắc.
Kẻ thù nêu lên việc Phao-lô không tuân theo tập tục của giáo hội làm bằng-chứng cho rằng sứ-điệp và chức vụ của ông không thực sự từ Đức Chúa Trời. Họ lý-luận, “Ông ta nói rằng mình là sứ-đồ, nhưng không đứng trong truyền thống của sứ-đồ”.
Phao-lô trả lời cho sự xuyên tạc ấy trong phần này của thơ Ga-la-ti. Việc Phao-lô không theo tập tục của giáo hội là có chủ định của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã chọn bày tỏ chính mình Ngài cho Phao-lô cách riêng biệt.
1. (Ga 1:11-12).
Trong c.11-12 Phao-lô khẳng định chủ-đề của ông: sứ-điệp và chức-vụ của ông thuộc về Đức Chúa Trời. Ông không tạo ra Phúc-Âm, cũng không nhận Phúc-Âm từ nơi con người nhưng nhận Phúc-Âm từ Chúa Giê-xu Christ.
Cả sứ-điệp và chức-vụ sứ-đồ của Phao-lô đều do Đức Chúa Trời ban cho. Do đó, bất kỳ ai thêm bất cứ điều gì vào Phúc-Âm của Phao-lô người ấy đang có nguy cơ bị Đức Chúa Trời đoán-phạt, vì Phúc-Âm ấy được ban-cho từ trời bởi Chúa Giê-xu Christ (ICôr 15:1-11).
Đối với Phao-lô, bày-tỏ quá-khứ của mình và nhắc cho tín-hữu Ga-la-ti nhớ cách Đức Chúa Trời đã đối đãi ông là cách tốt nhất để chứng minh quan điểm của ông.
Phao-lô nói rằng các độc-giả đã biết cuộc sống quá-khứ của ông (Ga 1:13), nhưng rõ ràng họ không hiểu trọn ý nghĩa của những từng trải ấy. Vì vậy, Phao-lô rọi 3 hình ảnh trong quá-khứ của ông lên bức màn để làm bằng-chứng rằng chức-vụ sứ-đồ và Phúc-Âm ông rao-giảng thực sự từ Đức Chúa Trời.
2. Kẻ bắt bớ (Ga 1:13-14)
Phao-lô bắt đầu bằng hành vi trong quá-khứ của mình là một Ra-bi Do-thái vô tín. (Để hiểu được câu chuyện sống động về những năm tháng này qua chính Phao-lô kể, hãy đọc Công 22:1-30 và Công 26:1-32, cũng như Công 9:1-43).
Trong việc thuật lại lịch-sử bản thân, Phao-lô cho biết mối quan-hệ của ông với Hội thánh Ga 1:13) và với đạo Giu-đa Ga 1:14). Ông đang bắt bớ Hội thánh, làm lợi và phát triển tôn giáo Do-thái. Mọi việc “đang thuận buồm xuôi gió” với ông và ông nhanh chóng được người ta nhận ra là nhà lãnh đạo tinh thần của dân Y-sơ-ra-ên.
Thật là thú vị khi chú ý các từ ngữ được dùng miêu tả các hoạt động của Phao-lô khi ông là “Sau-lơ người Tạt-sơ” bắt bớ Hội thánh. Ông “ưng thuận” giết hại Ê-tiên (Công 8:1), và rồi tiếp tục “làm tàn hại Hội thánh” (Công 8:3): sấn vào các nhà bắt người tin Chúa bỏ tù. Chính bầu không khí ông đang hít thở nhuốm “đầy sự ngăm đe và chém giết” (Công 9:1).
Phao-lô quyết chí phá tán Hội thánh đến nỗi đồng ý giết hại tín-đồ Đấng Christ (Công 22:4-5; Công 26:9-11). Ông đề cập đến những sự kiện này trong các bức thư của mình (ICôr 15:9; Phi 3:6; ITim 1:13), rất đỗi ngạc nhiên Đức Chúa Trời có thể cứu-rỗi một tội-nhân như ông.
Thực sự Phao-lô đã nghĩ rằng Chúa Giê-xu là người mạo danh và sứ-điệp cứu-rỗi của Ngài là dối trá. Ông biết chắc Đức Chúa Trời đã phán qua Môi-se, nhưng làm sao có thể tin rằng Đức Chúa Trời phán qua người tên là Giê-xu ở Na-xa-rét được?
Đắm mình trong truyền-thống tôn-giáo Do-thái, thanh niên Sau-lơ quê ở Tạt-sơ đã bảo vệ cho đức-tin của mình. Tiếng đồn là người hăng hái bắt bớ “những người theo Chúa Giê-xu” được lan ra khắp nơi (Công 9:13-14).
Mọi người đều biết người học trò xuất sắc của giáo-sư Ga-ma-li-ên (Công 22:3) đang trên đường trở thành người lãnh đạo có uy tín trong đức-tin Do-thái.
Nếp sống tôn-giáo riêng tư của ông, sự uyên bác (Công 26:23), và lòng sốt-sắng chống lại những niềm tin tôn giáo xa lạ, tất cả kết hợp lại khiến ông trở thành một ra-bi trẻ được mọi người kính trọng nhất vào thời của ông.
Sau đó một việc đã xảy ra: Sau-lơ người Tạt-sơ, kẻ bắt bớ Hội thánh, trở nên Phao-lô làm chức sứ-đồ rao-giảng Phúc-Âm. Sự thay đổi này không xảy ra từ từ nhưng xảy ra thình lình không báo trước (Công 9:1-9). Sau-lơ trên đường đến thành Đa-mách để bách hại con cái Chúa nhưng một vài ngày sau đó ông lại ở Đa-mách giảng cho người Do-thái rằng các Cơ-đốc nhân đúng. Làm thế nào Giáo-sư Do-thái giải thích được sự biến đổi thình lình này ?
Dân tộc của ông, dân Do-thái, có gây ra “sự thay đổi” khác thường của Sau-lơ không? Không thể tưởng tượng được! Người Do-thái đang khuyến khích Sau-lơ bắt bớ Hội thánh, nên việc qui đạo của ông gây bối rối cho họ.
Các Cơ-đốc nhân bị ông bắt bớ có làm nên sự biến đổi trong Sau-lơ không? Tất nhiên các tín-hữu đã cầu-nguyện cho ông, và rất có thể cái chết của Ê-tiên - nhất là lời-chứng Ê-tiên rao ra - đã tác động đến Phao-lô cách sâu sắc (Công 22:19-20).
Nhưng các Cơ-đốc nhân chạy trốn khỏi Sau-lơ (Công 8:1,4; Công 9:10-16), và như chúng ta biết, họ không hề nghĩ rằng vị Ra-bi trẻ tuổi này sẽ trở nên Cơ-đốc nhân.
Nhưng nếu sự thay đổi lạ lùng trong đời sống Phao-lô không do người Do-thái hoặc Hội thánh, vậy thì ai làm nên điều đó? Điều đó phải đến từ Đức Chúa Trời!
Cho dù bạn có xem xét như thế nào chăng nữa, việc Phao-lô trở lại đạo là một phép-lạ thiêng-liêng. Theo cách con người ra-bi Sau-lơ không thể nào trở nên sứ-đồ Phao-lô ngoại trừ phép-lạ của ân-điển Đức Chúa Trời. Và chính Đức Chúa Trời đã cứu-rỗi Phao-lô cũng kêu-gọi ông làm sứ-đồ, và ban-cho ông sứ-điệp của Phúc-Âm.
Đối với giáo-sư Do-thái phủ nhận chức sứ-đồ và Phúc-Âm của Phao-lô giống như phủ nhận sự trở lại đạo của ông! Chắc chắn Phao-lô đang rao giảng sứ-điệp mà chính ông đã tin nhận - chân-lý đã biến đổi cuộc đời ông.
Nhưng không có sứ-điệp nào của con người có tác động biến đổi như vậy. Phao-lô đúc kết lập luận của mình: việc làm trong quá-khứ là người bắt bớ Hội thánh cộng với sự biến đổi lạ lùng mà ông từng trải chứng minh rằng sứ-điệp và chức-vụ của ông đến từ Đức Chúa Trời.
3. Người tin đạo (Ga 1:15-16,24)
Đã bàn về hành vi và cá tính trong quá-khứ của mình, bây giờ Phao-lô giải thích việc tin Chúa của ông vì dẫu sao đây là điều quan hệ trong cuộc đời của ông.
Ông nói với những người kiện cáo mình, “Tôi đã từng trải những gì tôi rao-giảng cho người khác. Đây là Phúc-Âm thật. Bất cứ Phúc-Âm nào khác đều giả dối cả”.
Trong những câu này Phao-lô giải thích các đặc điểm trong kinh-nghiệm gặp Chúa của ông.
• Đức Chúa Trời đã làm điều đó (Ga 1:15a,16a).
“Đức Chúa Trời vui lòng bày tỏ Con Ngài ra trong tôi”. Bất cứ khi nào Phao-lô nói hay viết về kinh-nghiệm tin Chúa, ông luôn nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời đã hành động trong ông.
“Sự cứu-rỗi thuộc về Chúa!” (Giôn 2:9).
• Đức Chúa Trời đã làm bởi ân-điển Ngài (Ga 1:15b).
Kinh-nghiệm của Phao-lô nhắc chúng ta nhớ đến thanh niên Giê-rê-mi (Giê 1:4-10) và Giăng Báp-tít (Lu 1:5-17).
Sự cứu-rỗi bởi ân-điển của Đức Chúa Trời, không bởi nổ lực hay phẩm hạnh của con người. Ân-điển và sự kêu-gọi (Ga 1:15b) đi đôi với nhau, vì Đức Chúa Trời chọn bất cứ ai trong ân-điển, Ngài cũng kêu-gọi bởi Lời của Ngài (ITês 1:4-5).
Sự mầu-nhiệm trong ý muốn thiêng-liêng của Đức Chúa Trời và trách-nhiệm phải vâng-lời của con người chưa được bày tỏ trọn vẹn cho chúng ta. Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời “không muốn mọi người chết mất” (IIPhi 3:9), và chúng ta biết những người tin nhận Đấng Christ khám phá ra họ đã được “chọn trong Ngài trước khi sáng thế” (Êph 1:4).
Đức Chúa Trời đã hành động qua Đấng Christ (Êph 1:16a). Trong bức thư khác Phao- lô nói rõ ông có nhiều điều để hãnh diện lúc còn trong xác thịt (Phi 3:4-7). Ông có tôn-giáo và sự công-bình riêng, cùng sự danh tiếng và được mọi người nhận biết nhưng ông không có Đấng Christ!
Trên đường Đa-mách, Phao-lô thấy sự công-bình của ông như áo nhớp so với công-bình của Đấng Christ, ông nhận ra điều mình đang thiếu mất.
“Nhưng vì cớ Đấng Christ tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy.” (Phi 3:7).
Đức Chúa Trời bày tỏ Đấng Christ cho Phao-lô, trong Phao-lô và qua Phao-lô.
“Tôn-giáo của người Do-thái” (Ga 1:14) là những việc làm và thực hành bên ngoài nhưng đức-tin trong Đấng Christ dẫn đến kinh-nghiệm bên trong của sự thực hữu với Chúa.
“Sự thành hình” của Đấng Christ là lẽ thật chính yếu với Phao-lô (Ga 2:20 Ga 4:19).
• Đức Chúa Trời đã hành động vì ích lợi của kẻ khác (Ga 1:16b).
Đức Chúa Trời đã lựa chọn Phao-lô, không chỉ cứu-rỗi ông, nhưng Ngài còn dùng ông chinh-phục người khác. Trong Thánh Kinh, không hề dạy giáo-lý chọn lựa với quan-điểm sinh ra kiêu-ngạo hay vị-kỷ. Sự tuyển chọn bao gồm trách-nhiệm.
Đức Chúa Trời chọn Phao-lô để rao-giảng ân-điển ông đã kinh-nghiệm cho người ngoại bang. Chính điều này là bằng-chứng cho biết Đức Chúa Trời đã cứu-rỗi ông vì chắc chắn một ra-bi Do-thái đầy thành kiến sẽ không bao giờ quyết định chính mình làm giáo-sĩ cho dân ngoại bang! (Công 9:15; Công 15:12; Công 22:21-22; Êph 3:1-8).
Đức Chúa Trời đã hành động vì sự vinh-hiển của Ngài (Ga 1:24). Là một Ra-bi Do-thái nhiệt thành, Phao-lô có tất cả vinh quang con người có thể khao khát nhưng những gì ông đang làm không dâng sự vinh-hiển cho Đức Chúa Trời.
Con người được dựng nên để làm sáng danh Đức Chúa Trời (Ês 43:7), con người được cứu cũng để làm rạng danh Đức Chúa Trời (ICôr 6:19-20).
Đem lại sự vinh-hiển cho Đức Chúa Trời là động-cơ thôi thúc cuộc đời và chức-vụ của Phao-lô (Rô 11:36; Rô 16:27; Êph 1:6; Êph 3:20-21; Phi 4:20; ICôr 10:31).
Giáo-sư Do-thái thích tìm vinh-hiển riêng cho mình (Ga 6:11-18). Đó là lý-do tại sao họ đánh cắp tín-hữu của Phao-lô và dẫn họ đi lạc đường. Nếu Phao-lô quan tâm đến vinh hiển cho riêng mình, có thể ông vẫn là ra-bi Do-thái và có lẽ đã trở nên người kế vị Ga-ma-li-ên rồi. Nhưng chính vinh hiển của Đức Chúa Trời đã thúc đẩy Phao-lô, và điều này phải thúc đẩy cuộc đời chúng ta nữa.
Khi Charles Haddon Spurgeon còn là một truyền-đạo trẻ tuổi, cha của ông, cụ John Spurgeon, gợi ý Charles theo học đại học để có học vị. Ông được sắp xếp để gặp Tiến-sĩ Joseph Angus, hiệu trưởng Đại Học Stepney ở Luân-đôn. Họ phải gặp tại nhà của ông Macmillan tại thành phố Cambridge, và Spurgeon có mặt tại đó đúng giờ hẹn.
Ông ta đợi suốt hai giờ đồng hồ, nhưng vị tiến-sĩ uyên bác không bao giờ xuất hiện. Cuối cùng khi Spurgeon hỏi thăm người chủ nhà, ông mới biết tiến-sĩ Angus đã đợi ông ở một phòng khác và vì có cuộc hẹn khác ông đã đi rồi.
Thất vọng, Spurgeon lên đường đi giảng cho một lễ đính hôn. Trong khi đi đường ông nghe tiếng phán rõ ràng với ông, “Ngươi còn tìm việc lớn cho mình hay sao? Chớ có tìm kiếm!” (Gie 45:5).
Từ lúc ấy, Spurgeon quyết định làm theo ý muốn Đức Chúa Trời để làm vinh-hiển danh Ngài và Đức Chúa Trời đã ban phước cho ông cách lạ lùng.
Phao-lô đã nêu hình ảnh chính ông là người bắt bớ và nhắc lại tính cách và hành-vi của ông. Ông cũng hình dung chính mình là một tín-hữu, nhắc lại việc tin Chúa của mình. Bây giờ ông nêu lên hình ảnh thứ ba.
4. Người rao-giảng Phúc-Âm (Ga 1:16-23)
Phao-lô có lần tiếp xúc nào với các con cái Chúa khác sau khi tin Chúa không? Đây là câu hỏi quan-trọng đối với sự biện hộ của ông. Phao-lô không gặp mặt sứ-đồ nào ngay sau khi kinh-nghiệm gặp Chúa trên đường đi Đa-mách.
“Thì lập tức tôi chẳng bàn với thịt và máu” (Ga 1:16c).
Điều hợp lý mà Phao-lô phải làm là tự giới thiệu mình với Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem để được những người tin Chúa trước ông nâng đỡ đời sống thuộc-linh. Nhưng ông đã không làm điều này - và ông quyết định đi theo sự hướng dẫn của Chúa. Vì nếu ông lên Giê-ru-sa-lem, có lẽ ông đã gắn-bó chức-vụ với các sứ-đồ khác - dành tất cả cho người Do-thái - và có thể điều này cản trở công việc của ông giữa vòng dân ngoại.
Ở đây chúng ta cần tự nhớ rằng sứ-điệp Phúc-Âm dành “trước cho người Do-thái” (Công 3:26; Rô 1:16). Chức vụ của Chúa chúng ta dành cho dân tộc Y-sơ-ra- ên, và chức-vụ của các sứ-đồ trong những năm đầu tiên cũng như vậy (Công 1:1-7:60).
Sự chết của Ê-tiên là một bước ngoặc cho sứ-điệp Phúc-Âm. Khi các tín-hữu bị tản lạc, họ đem Phúc-Âm đến những nơi khác (Công 8:4; Công 11:19).
Phi-líp đem Phúc-Âm đến cho người Sa-ma-ri (Công 8:1-40), và rồi Đức Chúa Trời hướng dẫn Phi-e-rơ đến giới thiệu Phúc-Âm cho người ngoại bang (Công 10:1-48).
Tuy nhiên, phần còn lại dành cho Phao-lô mang Phúc-Âm đến với đông đảo dân ngoại bang (Công 22:21-22; Êph 3:1,8), và vì lý-do này Đức Chúa Trời đã biệt riêng ông ra khỏi chức-vụ chủ yếu dành cho người Do-thái mà các sứ-đồ đang thi hành tại Giê-ru-sa-lem.
• Phao-lô không đi ngay lên Giê-ru-sa-lem.
Vậy ông đã đi đâu? Ông nhắc lại các cuộc gặp gỡ và cho thấy rằng ông không có cơ hội nào để nhận lãnh sứ-điệp hoặc lời kêu-gọi vào chức sứ-đồ từ bất kỳ ai trong các vị lãnh đạo Hội thánh.
(Hãy so sánh phần này với Công 9:10-31, và nhớ rằng ngay cả những học giả Kinh Thánh xuất sắc nhất cũng không nhất trí về trình tự thời gian trong cuộc đời Phao-lô. May mắn thay, những chi tiết lịch-sử không ảnh hưởng đến sự hiểu biết những gì Phao-lô đã viết: chúng ta có thể không nhất trí về thứ tự thời gian nhưng chúng ta đồng ý về thần học!)
• Phao-lô đến A-ra-bi (Công 1:17b).
Việc này xảy ra sau khi ông thi hành chức vụ đầu tiên tại Đa-mách (Công 9:19-20). Thay vì “bàn với thịt và huyết”, Phao-lô tự học hỏi, cầu-nguyện, suy-ngẫm và gặp gỡ một mình Ch úa. Có lẽ ông đã dành phần lớn thì giờ trong ba năm ở tại A-ra-bi (Ga 1:18), và rất có thể ông dành thì giờ rao-giảng Phúc-Âm và lớn lên trong đời sống thuộc linh cá nhân.
Các sứ-đồ đã nhận lãnh sự dạy dỗ từ nơi Chúa Giê-xu trong ba năm, và bây giờ Phao-lô có cơ hội để được Chúa dạy dỗ.
• Ông trở lại Đa-mách (Ga 1:17c).
Vào thời điểm này có lẽ Phao-lô viếng thăm Giê-ru-sa-lem là hợp lý hơn, nhưng Chúa điều ông đi hướng khác. Chắc chắn sẽ là điều mạo hiểm cho Phao-lô khi ông trở lại thành phố biết ông đã trở nên tín-đồ Đấng Christ.
Các nhà lãnh đạo Do-thái mong đợi ông trở thành người đứng đầu chống lại Cơ-đốc giáo chắc chắn sẽ không tha cho ông. Hình như “việc dùng cái thúng”trong Công 9:23-25 (IICôr 11:32-33) xảy ra vào thời điểm này.
Việc trở lại Đa- mách và mối nguy hiểm đến tính mạng của Phao-lô là những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy các nhà lãnh đạo Do-thái giáo xem ông như kẻ thù, và do đó từng trải gặp Chúa của ông là một việc quý giá.
Sau cùng ông viếng thăm Giê-ru-sa-lem (IICôr 1:18-20). Điều này xảy ra sau ba năm ông gặp Chúa, và mục đích chính ông thăm sứ-đồ Phi-e-rơ.
Nhưng Phao-lô đã trải qua một thời gian rất khó-khăn để có thể tham gia thông-công với Hội thánh! (Công 9:26-28). Nếu sứ-điệp và chức-vụ của ông ra từ các sứ-đồ, điều này sẽ chẳng bao giờ xảy ra nhưng vì Phao-lô đã kinh-nghiệm nơi một mình Chúa Giê-xu Christ, các sứ-đồ đã ngờ vực ông.
Ông lưu lại Giê-ru-sa-lem chỉ có 15 ngày, chỉ gặp Phi-e-rơ và Gia-cơ (em của Chúa Giê-xu). Vì vậy ông không nhận sứ-điệp cũng như chức-vụ nơi Hội thánh Giê-ru-sa- lem. Không đơn giản là vì ông không có thời gian và cơ hội. Phao-lô đã nhận cả 2 điều trên trực tiếp nơi Chúa Giê-xu Christ.
• Ông trở lại quê hương Tạt-sơ (Công 1:21-23). Một lần nữa, lời ký thuật trong sách Công-vụ giải thích lý-do tại sao ông về thăm quê hương: mạng sống của ông đang bị đe dọa tại Giê-ru-sa-lem, như đã từng bị tại Đa-mách (Công 9:28-30).
Khi Phao-lô đi ngang qua xứ Sy-ri ông giảng Lời Đức Chúa Trời và khi đến thành Si-li-si, thành phố quê hương ông (Công 21:39; Công 22:3), ông bắt đầu giảng Phúc-Âm (Công 15:23). Các sử-gia kết luận rằng có lẽ ông lưu lại đó 7 năm, cho đến lúc Ba-na- ba tuyển chọn ông hầu việc tại An-ti-ốt (Công 11:39-26).
Một ít tín-hữu ở Giê- ru-sa-lem biết Phao-lô, nhưng tín-hữu trong các Hội thánh xứ Giu-đê không biết ông mặc dầu họ nghe rằng bây giờ ông đang rao-giảng về chính niềm tin mà có lần ông toan hủy diệt.
Dưới ánh sáng của hành-vi, sự qui đạo và những lần tiếp xúc của Phao-lô, ai có thể buộc tội ông vay mượn hoặc tạo ra sứ-điệp hay chức-vụ cho mình? Chắc chắn ông đã nhận Phúc-Âm bởi sự tỏ ra từ nơi Chúa Giê-xu Christ.
Vì vậy, chúng ta phải thận trọng về điều chúng ta làm với Phúc-Âm này, vì nó không phải là phát minh của con người nhưng chính là chân-lý của Đức Chúa Trời.
Một vài nhà phê-bình cáo buộc Phao-lô “đã làm hỏng Phúc-Âm đơn sơ”, nhưng sự thật đã phản bác lại lời buộc tội này. Cùng một Đấng Christ đã dạy dỗ trên đất, Ngài cũng từ trời dạy dỗ qua Phao-lô. Phao-lô không tạo ra lời giảng dạy nhưng ông đã nhận lời giảng ấy (Rô 1:5; ICôr 11:23; ICôr 15:3).
Lúc Phao-lô trở lại đạo, Đức Chúa Trời phán rằng Ngài sẽ hiện ra cho ông trong tương lai (Công 26:16), rõ ràng vì mục đích bày tỏ chân-lý của Ngài cho ông.
Điều này có nghĩa Đấng Christ trong 4 sách Phúc-Âm và Đấng Christ trong các thơ tín là một không có mâu thuẫn giữa Đấng Christ và Phao-lô. Khi Phao-lô viết thư cho các Hội thánh, ông đã đặt lời giảng dạy của mình ngang tầm với lời dạy của Chúa Giê-xu Christ (IITês 3:3-15). Thậm chí Sứ-đồ Phi-e-rơ gọi các thư của Phao-lô là “Kinh Thánh” (IIPhi 3:15-16).
“Những giáo sư Do-thái” thời nay, giống như thời tổ-phụ của họ, khướt từ thẩm quyền của Phao-lô và tìm cách làm giảm giá-trị Phúc-Âm ông đã rao-giảng. Trong thời Phao-lô, sứ-điệp của họ là “Phúc-Âm cộng thêm luật-pháp Môi-se”.
Trong thời chúng ta đó là “Phúc-Âm cộng với” nhiều nhà lãnh đạo tôn-giáo, các sách tôn-giáo hoặc các tổ chức tôn-giáo.
“Bạn không thể được cứu trừ phi ...” là sứ-điệp của họ (Công 15:1) và chữ “trừ phi” thường thường bao gồm việc tham gia vào nhóm và tuân theo phép-tắc luật lệ của họ. Nếu bạn can-đảm đề cập đến Phúc-Âm của ân-điển như Chúa Giê-xu, Phao-lô và các sứ-đồ khác đã rao-giảng thì họ đáp rằng, “Nhưng Đức Chúa Trời đã cho chúng ta một khải-thị mới!”