top of page
Phần Hai: ÂN-ĐIỂN VÀ LUẬT-PHÁP
5. BỊ BÙA ẾM VÀ QUẤY RẦY (Ga 3:1-14)
Sáu...
...mươi câu hình thành Ga-la-ti (Ga 3:1-29; Ga 4:1-31) là lời lẽ mạnh mẽ nhất Phao-lô từng viết. Nhưng dẫu sao ông đang ở trong cuộc chiến! Ông cố gắng chứng tỏ rằng sự cứu-rỗi chỉ bởi ân-điển, và không do việc làm của luật-pháp.
Kẻ thù đã dùng mọi c ách có thể được để bắt phục các Hội thánh Ga-la-ti, và Phao-lô không chiến đấu nửa vời với họ. Vị sứ-đồ không tài tử chút nào khi bước vào cuộc chiến, và trong hai chương này chắc chắn ông chứng-minh cho khả năng của mình. Không thể bác bỏ được lý-luận chặt chẽ của ông.
Phao-lô dùng 6 lập luận khác nhau để chứng-minh rằng Đức Chúa Trời cứu-rỗi tội-nhân bởi đức-tin nơi Đấng Christ chớ không phải việc làm. Ông bắt đầu bằng lập-luận cá nhân (Ga 3:1-5) trong đó ông yêu cầu tín-hữu Ga-la-ti nhắc lại từng trải riêng tư với Đấng Christ lúc họ được cứu.
Sau đó ông chuyển sang lập-luận Kinh Thánh (Ga 3:6-14) trong đó ông trích dẫn 6 phân đoạn Kinh Thánh Cựu-ước để chứng-minh cho quan-điểm của mình. Trong lập-luận lô-gic (Ga 3:15-29) ông tranh luận với độc-giả của mình trên căn bản nội dung giao-ước và cách hành động của giao-ước.
Sau đó ông đưa ra lập-luận lịch-sử (Ga 4:1-11), ông giải thích vị trí của luật-pháp trong lịch-sử dân Y-sơ-ra-ên.
Vào lúc này, tình yêu của Phao-lô đối với tín-hữu của ông lộ hẳn ra. Kết quả là lập-luận tình cảm (Ga 4:12-18) khi vị sứ-đồ kêu gọi họ nhớ lại tình yêu của ông và mối tương-giao êm đềm của họ trong những ngày qua.
Nhưng rồi Phao-lô đi thẳng trở lại với lý-luận của ông và kết-luận bằng lập-luận biểu-tượng (Ga 4:19-31), dựa trên cuộc đời Áp-ra-ham và mối tương-quan giữa ông với Sa-ra và A-ga.
Ông ứng dụng thực tiễn của lập-luận giáo-lý theo sau trong hai chương cuối.
1. Lập-luận cá nhân (Ga 3:1-5)
Trọng tâm của phần này ở chữ chịu khốn khó (Ga 3:4), có thể dịch là “từng trải”. Phao-lô hỏi, “Anh em há luống công mà chịu sự khốn khó dường ấy sao?”
Lập-luận từ từng trải của Cơ-đốc nhân là một điểm khởi đầu khôn-ngoan, vì Phao-lô đã ở với họ lúc họ tin nhận Đấng Christ.
Dĩ nhiên, lập-luận theo kinh-nghiệm có thể nguy hiểm, bởi vì kinh-nghiệm có thể bị đánh lừa và bị hiểu nhầm. Kinh-nghiệm chủ quan phải được cân-bằng với bằng-chứng khách quan, vì kinh-nghiệm có thể đổi thay, nhưng chân-lý không bao giờ thay đổi.
Phao-lô cân-bằng kinh-nghiệm chủ quan của tín-hữu Ga-la-ti với sự giảng dạy khách quan của Lời Đức Chúa Trời không thay đổi (Ga 3:6-14).
Rõ ràng những người này đã kinh-nghiệm nhiều điều trong cuộc sống khi lần đầu Phao-lô viếng thăm họ nhưng giáo-sư Do-thái đi theo và thuyết phục họ rằng kinh-nghiệm chưa trọn vẹn.
Họ cần có điều khác nữa, “điều khác” đó là vâng-giữ luật-pháp Môi-se. Những giáo-sư giả này đã mê hoặc và biến họ trở nên dại dột. Gọi họ là “dại dột”, Phao-lô không xúc phạm đến lời dạy của Đấng Christ trong Bài Giảng Trên Núi (Mat 5:22), vì hai từ này được dùng khác nhau và hai ý tưởng này được diễn đạt khác nhau.
Ngu muội trong Ga 3:1 có nghĩa “chậm hiểu thuộc linh” (Lu 24:25), trong khi từ ngữ Chúa Giê-xu dùng mang ý nghĩa “một người không tin kính”. Phao-lô đang tuyên bố một sự kiện nhưng Chúa Giê-xu cảnh cáo chống lại việc lạm dụng ngôn từ.
Phao-lô nhắc họ nhớ rằng họ đã thật sự kinh-nghiệm gặp gỡ Đức Chúa Trời.
• Họ đã thấy Con Đức Chúa Trời (Lu 3:1).
Phao-lô đã rao-giảng tại Ga-la-ti chính “Đấng Christ chịu đóng đinh”, và hiệu quả mang lại đến nỗi người ta hầu như có thể nhìn thấy Đấng Christ bị đóng đinh trên thập-tự giá thay cho họ.
Chữ trước mắt đã được rõ bày ra dịch trong từ ngữ Hy-lạp có nghĩa “vẽ chân dung cho mọi người thấy” hoặc “thông báo trên tấm quảng cáo”.
Như chúng ta đưa một thông tin quan-trọng lên một tấm áp phích và trưng bày ở nơi công cộng, cũng vậy Phao-lô giới thiệu về Đấng Christ cho người Ga-la-ti bằng cách nhấn mạnh đến sự chết của Ngài trên thập-tự giá thay thế cho tội-nhân. Họ đã nghe chân-lý này, tin nhận và vâng-giữ lấy và kết quả họ được sanh-lại trong gia đình Đức Chúa Trời.
• Họ đã nhận lãnh Đức Thánh Linh (Ga 3:2-3).
Đức Thánh Linh được đề cập 18 lần trong thơ tín và đóng vai trò quan trọng trong việc binh-vực Phúc-Âm của ân điển Đức Chúa Trời. Bằng-chứng thật duy nhất của việc tin đạo là sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong đời sống người tin Chúa (Rô 8:9).
Phao-lô nêu một câu hỏi quan-trọng: họ nhận lãnh Đức Thánh Linh bởi đức-tin trong Lời Đức Chúa Trời hay bởi việc làm của luật-pháp? Dĩ nhiên, chỉ có thể có một câu trả lời: Đức Thánh Linh ngự trong đời sống họ vì họ tin nhận Chúa Giê-xu Christ.
Thật quan-trọng khi chúng ta hiểu công việc của Đức Thánh Linh hành động trong sự cứu-rỗi và sự sống của Cơ-đốc nhân. Đức Thánh Linh cáo-trách tội-nhân hư mất và bày tỏ Đấng Christ cho người ấy (Gi 16:7-11). Tội nhân có thể chống lại Đức Thánh Linh (Công 7:51) hoặc vâng-phục Đức Thánh Linh và tin nhận Chúa Giê-xu Christ.
Khi tội-nhân tin nhận Đấng Christ, người ấy được sanh bởi Thánh Linh (Gi 3:1-8) và nhận lãnh đời sống mới. Người ấy cũng được báp-têm bằng Đức Thánh Linh để trở nên một phần trong thân thể thiêng-liêng của Đấng Christ (ICôr 12:12-14).
Con cái Chúa được Đức Thánh Linh ấn-chứng (Êph 1:13-14) là một bảo-chứng ngày kia người ấy sẽ hưởng vinh-hiển của Đấng Christ.
Vì Đức Thánh Linh thực hiện nhiều điều cho kẻ tin, điều này có nghĩa người tin Chúa có trách-nhiệm đối với Đức Thánh Linh đang sống trong thân thể người ấy (ICôr 6:19-20). Cơ-đốc nhân phải bước theo Thánh Linh (Ga 5:16,25) bằng cách đọc Kinh Thánh, cầu-nguyện và vâng-theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
Nếu không vâng-lời Đức Chúa Trời, người ấy làm buồn Đức Thánh Linh (Êph 4:30), và nếu cứ tiếp tục làm như vậy, người ấy có thể dập tắt Thánh Linh! (ITês 5:19). Điều này không có nghĩa Đức Thánh Linh lìa khỏi người ấy, vì Chúa Giê-xu đã hứa Đức Thánh Linh ở với mãi mãi (Gi 14:16).
Nhưng có nghĩa Đức Thánh Linh không thể ban-cho người niềm vui và năng lực cần có để sống đạo mỗi ngày. Người tin Chúa phải đầy dẫy Đức Thánh Linh (Êph 5:18-21), có nghĩa “được Đức Thánh Linh cai quản”. Đây là một từng-trải liên tục, giống như nước uống từ dòng suối mát (Gi 7:37-39).
Vì thế, trong từng trải theo Chúa, tín-hữu tại Ga-la-ti đã nhận lãnh Đức Thánh Linh bởi đức-tin chớ không phải bởi việc làm của luật-pháp. Điều này đưa Phao-lô đến một câu hỏi khác: “Nếu bạn không bắt đầu bằng luật-pháp, tại sao lại mang lấy nó? Nếu bạn bắt đầu bằng Thánh Linh, bạn có thể tiếp tục lớn lên nhờ vào xác thịt mà không nhờ Đức Thánh Linh được không?”
Chữ xác thịt ở đây không có ý nói đến thân xác con người, nhưng đúng hơn là bản chất cũ của người tin Chúa. Bất cứ điều gì Thánh Kinh nói về “xác thịt” thường thường là tiêu cực (Sa 6:1-7; Rô 7:18; Gi 6:63; Phi 3:3).
Vì chúng ta được cứu bởi Đức Thánh Linh, không bởi xác thịt, bởi đức tin không bởi luật-pháp, thật đáng cho chúng ta tiếp tục đi con đường ấy.
Hình ảnh minh họa về sự chào đời của em bé phù hợp ở đây. Cần có hai cha mẹ thuộc thể để đứa con được hoài thai và sinh ra cần có hai cha mẹ thuộc-linh để một đứa con được sinh ra trong gia đình của Đức Chúa Trời: đó là Thánh Linh của Đức Chúa Trời và Lời Đức Chúa Trời (Gi 3:1-8; IPhi 1:22-25).
Khi một đứa bé bình thường sinh ra, nó có tất cả những gì cần cho cuộc sống không cần phải thêm gì nữa. Khi một con cái Chúa được sinh ra trong gia đình của Đức Chúa Trời, người ấy có tất cả mọi điều thuộc về thiêng-liêng không cần thêm vào điều gì cả!
Những điều đứa trẻ cần đó là thức ăn, sự tập luyện, và tắm rửa để có thể lớn lên. Sẽ kỳ lạ nếu như cha mẹ phải đưa con đến bác sĩ để nhận đôi tai vào lúc một tháng tuổi, nhận các ngón chân lúc hai tháng tuổi và cứ tiếp tục như thế.
Phao-lô viết, “Anh em đã bước đi trong Thánh Linh, không cần thêm điều gì nữa! Hãy bước đi trong Thánh Linh và anh em sẽ lớn lên trong Chúa.”
• Họ kinh-nghiệm phép-lạ từ Đức Chúa Cha (Ga 3:5).
Chữ Đ ấng trong câu Kinh Thánh này nói đến Đức Chúa Cha là Đấng ban Đức Thánh Linh và “làm các phép-lạ trong anh em”.
Cùng một Đức Thánh Linh Đấng đã ngự trong lòng tín-hữu lúc tin nhận Chúa cũng tiếp tục làm việc trong người ấy và qua người ấy để toàn thân thể được gây-dựng (Côl 2:19; Êph 4:16).
Đức Chúa Cha tiếp tục cung cấp quyền-năng và ơn Thánh Linh, điều này được làm ra bởi đức-tin chớ không phải việc làm của luật-pháp. Nhóm từ ở giữa anh em cũng có thể dịch là trong anh em.
Những phép-lạ này bao gồm những biến đổi lạ lùng trong cuộc đời của Cơ-đốc nhân, cũng như các dấu kỳ phép-lạ xảy ra trong mối thông-công Hội thánh.
“Bạn thật sự tin các phép-lạ trong Thánh Kinh không?” một người hoài nghi hỏi một tân tín-hữu từng là một tay nghiện rượu nặng.
“Dĩ nhiên tôi tin!” người tín-hữu ấy đáp.
Ngư ời hoài nghi cười. “Anh muốn nói anh thật sự tin rằng Chúa Giê-xu có thể hóa nước thành rượu ư?” người ấy hỏi.
“Tôi chắc chắn như vậy! Tại nhà tôi Ngài biến rượu thành thức ăn áo quần và đồ dùng”.
2. Lập-luận Thánh Kinh (Ga 3:6-14)
Bây giờ Phao-lô chuyển từ kinh-nghiệm chủ quan sang bằng chứng khách quan của Lời Đức Chúa Trời. Chúng ta không bao giờ phán đoán Thánh Kinh bằng kinh nghiệm của chúng ta chúng ta trắc-nghiệm từng-trải chúng ta bằng Lời Đức Chúa Trời.
Trong phần đầu, Phao-lô nêu lên sáu câu hỏi trong phần này ông trích dẫn 6 lời phán trong Cựu-ước để chứng-minh sự cứu-rỗi bởi đức-tin nơi Đấng Christ chớ không bởi việc làm của luật-pháp. Vì giáo-sư Do-thái muốn đưa tín-hữu trở lại với luật-pháp, nên Phao-lô trích dẫn luật-pháp! Và vì họ phóng đại địa vị của Áp-ra-ham trong tôn-giáo của họ, nên Phao-lô dùng Áp-ra-ham làm nhân-chứng cho ông!
(1) Áp-ra-ham được cứu bởi đức-tin (Ga 3:6-7).
Phao-lô bắt đầu bằng việc trích dẫn Môi-se để bày tỏ sự công-bình của Đức Chúa Trời được kể cho Áp- ra-ham chỉ vì ông tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời (Sa 15:6).
Các từ “được coi như” trong Ga 3:6 và “kể” trong Sa 15:6 có nghĩa giống như “kể” trong Rô 4:10,22-24. Theo tiếng Hy-lạp có nghĩa là “kể vào tài khoản của..”. Khi tội nhân tin nhận Đấng Christ, sự công-bình của Đức Chúa Trời bao phủ lấy người.
Hơn thế nữa tội-lỗi của người ấy không còn được kể cho người nữa (Rô 4:1-8). Điều này có nghĩa lý-lịch luôn luôn trong sạch trước mặt Đức Chúa Trời, và vì vậy người tin sẽ chẳng bao giờ bị đưa ra xét-đoán vì tội-lỗi anh ta nữa.
Người Do-thái rất tự hào về mối liên-hệ của họ với Áp-ra-ham. Vấn đề là họ cho rằng mối liên-hệ này đảm-bảo sự cứu-rỗi đời đời cho họ. Giăng Báp-tít khuyến cáo rằng dòng dõi xác thịt không bảo-đảm cho cuộc sống thiêng-liêng (Mat 3:9).
Chúa Giê-xu phân định rõ sự khác nhau giữa “con cháu Áp-ra-ham” thuộc thể và “con cháu Áp-ra-ham” thuộc-linh (Gi 8:33-47).
Ngày nay một số người vẫn tưởng tượng sự cứu-rỗi do được thừa-kế. Vì cha mẹ là những người yêu mến Chúa, tất nhiên con cái cũng được cứu. Nhưng điều này không đúng. Người ta nói rằng, “Đức Chúa Trời không có cháu”.
(2) Sự cứu-rỗi này dành cho người ngoại bang (Ga 3:8-9). Chữ “người ngoại đạo” (Ga 3:8) được dùng ở đây có nghĩa là dân ngoại bang. Phao-lô trích dẫn Môi-se (Sa 12:3) chứng-tỏ rằng ơn cứu-rỗi đã hứa ban cho tất cả mọi dân-tộc trên thế giới từ buổi ban đầu của mối tương-giao giữa Áp-ra-ham với Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời rao-giảng “Phúc-Âm” cho Áp-ra-ham cách đây nhiều thế kỷ, và Phao-lô đem cùng Phúc-Âm ấy đến cho người Ga-la-ti: tội nhân được xưng công-bình bởi đức-tin chớ không do việc tuân giữ luật-pháp.
Luân-lý ở đây thật rõ rệt: Nếu Đức Chúa Trời đã hứa cứu-rỗi dân ngoại bởi đức-tin như vậy những giáo-sư Do-thái đã sai lầm khi một đưa tín-hữu ngoại bang quay lại với luật-pháp. “Con cháu Áp-ra-ham” thật không phải là người Do-thái theo dòng dõi, nhưng là người Do-thái và ngoại bang đã tin nhận Chúa Giê-xu Christ. Tất cả những người “thuộc đức-tin” (con cái Chúa) đều được phước với “Áp-ra-ham có niềm tin”.
Khi đọc giao-ước lớn của Đức Chúa Trời đối cùng Áp-ra-ham trong Sa 12:1-3, bạn khám phá ra rằng Đức Chúa Trời đã hứa ban nhiều ơn phước khác nhau - một số cho cá nhân, một số cho dân-tộc, một số cho vạn vật chung quanh và thuộc-linh.
Thật Đức Chúa Trời đã làm nổi danh Áp-ra-ham không chỉ giữa vòng người Do-thái, nhưng còn giữa vòng các Cơ-đốc nhân, những người theo Hồi-giáo, và nhiều người khác nữa. Đức Chúa Trời đã làm cho con cháu ông thêm nhiều lên. Ngài cũng đoán-phạt những người đã rủa sả con cháu ông (dân Ai-cập, Ba-by-lôn, và La-mã là những thí-dụ điển hình).
Nhưng ơn phước lớn nhất Đức Chúa Trời gởi đến cho chúng ta qua Áp-ra-ham và dân-tộc Do-thái phải là sự cứu-rỗi đời-đời. Chúa Giê-xu Christ là “dòng dõi” của lời hứa ấy, nhờ Ngài tất cả mọi dân-tộc đều được phước (Ga 3:16).
(3) Sự cứu-rỗi này bởi đức-tin chớ không do luật-pháp (Ga 3:10-12).
Chẳng bao giờ có được sự cứu-rỗi bởi nghe theo luật-pháp vì luật-pháp đem lại sự rủa sả, chớ không mang lại phước hạnh. Ở đây Phao-lô trích dẫn trong Phuc 27:26. Luật-pháp đòi hỏi sự vâng-theo, và điều này có nghĩa con người phải vâng-theo tất cả mọi điều.
Luật-pháp không phải là “quán ăn tôn-giáo tự phục-vụ” nơi người ta có thể chọn lựa (xem Gia 2:10-11). Tiếp đến Phao-lô trích dẫn trong Hab 2:4, “Người công bình sống bởi đức tin”.
Câu Kinh Thánh này quan trọng đến nỗi được giải nghĩa trong ba sách Tân-ước bởi sự cảm động của Đức Thánh Linh. Thơ Rô-ma giải thích “người công-bình” và nói cách nào tội-nhân có thể được xưng công-bình trước mặt Đức Chúa Trời (Rô 1:17).
Thơ Ga-la-ti giải thích cách người công-bình “sẽ sống” và thơ Hê-bơ-rơ bàn về “bởi đức-tin” (Hêb 10:38). Chẳng ai có thể từng sống “bởi luật-pháp” vì luật-pháp làm cho chết và chỉ cho tội-nhân thấy rằng anh ta có tội trước mặt Đức Chúa Trời (Rô 3:20; Rô 7:7-11).
Nhưng người ta có thể lý-luận rằng lấy đức-tin để vâng giữ luật-pháp cũng được vậy do đó Phao-lô trích dẫn trong Lê-vi-ký để chứng-minh đó là việc làm theo luật-pháp chớ không tin như Đức Chúa Trời đòi hỏi (Lê 18:5).
Luật-pháp dạy, “Hãy làm và hãy sống!” nhưng ân-điển dạy, “Hãy tin và hãy sống!”. Kinh-nghiệm của Phao-lô (Phi 3:1-10), cũng như lịch-sử dân Y-sơ-ra-ên (Rô 10:1-10) chứng-tỏ rằng làm sự công-bình chẳng cứu được ai bao giờ sự công-bình bởi đức-tin mới làm được điều đó.
Giáo-sư Do-thái muốn lôi kéo tín-hữu Ga-la-ti vào tôn-giáo của việc làm theo luật-pháp, trong khi Phao-lô muốn họ hưởng mối tương-giao của tình yêu và sự sống bởi tin nơi Đấng Christ. Từ bỏ đức-tin và ân-điển để làm theo luật-pháp là đánh mất mọi phước hạnh mà Cơ-đốc nhân kinh-nghiệm mỗi ngày trong mối tương-giao với Chúa.
Lu ật-pháp không thể xưng công-bình cho tội-nhân (Ga 2:16) cũng không thể ban cho con người sự công-bình (Ga 2:21). Luật-pháp không thể ban cho con người ân-tứ Thánh Linh (Ga 3:2), cũng không bảo-đảm rằng phần thừa kế thiêng-liêng thuộc về con cái của Đức Chúa Trời (Ga 3:18).
Luật-pháp không thể ban cho tự-do (Ga 4:8-10).
Vậy tại sao phải trở lại với luật-pháp?
(4) Sự cứu-rỗi này đến từ Đấng Christ (Ga 3:13-14).
Hai câu Kinh Thánh này tóm tắt đầy đủ những gì Phao-lô đang trình bày trong phần này. Luật-pháp có đặt tội-nhân dưới sự rủa sả không? Thế thì Đấng Christ đã giải cứu chúng ta thoát khỏi sự rủa sả ấy! Bạn có muốn phước hạnh của Áp-ra-ham không? Phước hạnh ấy đến bởi Chúa Giê-xu Christ!
Bạn muốn có ân-tứ Thánh Linh trong khi bạn là người ngoại bang không? Đấng Christ đã ban ân-tứ này cho người ngoại bang! Mọi điều bạn cần đều có trong Đấng Christ! Không có lý-do nào để trở lại với Luật-pháp Môi-se.
Phao-lô lại trích dẫn Phục-truyền luật-lệ ký, “Kẻ nào bị treo ắt bị Đức Chúa Trời rủa sả!” (Phuc 21:23). Người Do-thái không xử tử-tội phạm bằng cách đóng đinh họ ném đá tội-phạm cho đến chết. Nhưng trong những trường hợp xúc phạm nặng đến luật-pháp, thi thể bị treo lên trụ hình để mọi người nhìn thấy.
Đây là sự sỉ nhục kinh khiếp, vì dân Do-thái rất cẩn thận trong việc xử lý thi thể người chết. Sau khi thi thể bị treo cho mọi người thấy một thời gian, người ta đem xuống và chôn cất (Giôs 8:29; Giôs 10:26; IISa 4:12).
Dĩ nhiên, việc Phao-lô nhắc đến “trụ hình” có liên quan đến thập-tự giá của Chúa Gê-xu (Công 5:30; IPhi 2:24). Ngài không bị người ta ném đá và treo thi thể trên trụ hình để mọi mắt xem thấy Ngài bị đóng đinh vào cây gỗ cho đến chết.
Nhưng bởi chết trên thập-tự giá, Chúa Giê-xu Christ mang lấy sự rủa sả của luật-pháp thay cho chúng ta để bây giờ người tin Chúa không còn ở dưới luật-pháp và sự rủa sả ghê tởm của nó.
“Phước hạnh của Áp-ra-ham” (sự xưng-nghĩa bởi đức-tin và ân -ứ Thánh Linh) thuộc về chúng ta bởi tin nơi Chúa Giê-xu Christ.
Chữ cứu chuộc trong Ga 3:13 có nghĩa mua một nô-lệ với mục đích cho anh ta tự do. Có thể mua một nô-lệ và giữ làm nô lệ, nhưng đây không phải là điều Đấng Christ đã làm.
Bởi sự lưu huyết trên thập-tự giá, Ngài mua-chuộc chúng ta để chúng ta được tự-do. Người theo đạo Giu-đa muốn dẫn dắt Cơ-đốc nhân đi vào cảnh nô-lệ, nhưng Đấng Christ đã chết cho chúng ta được tự-do.
Sự cứu-rỗi không hoán đổi hình thức nô-lệ này sang hình thức khác. Sự cứu-rỗi buông tha khỏi nô-lệ của tội lỗi và luật-pháp để vào sự tự-do của ân-điển Đức Chúa Trời bởi Chúa Giê-xu Christ.
Điều này nẩy ra một câu hỏi thú vị: Những giáo-sư Do-thái này làm thế nào có thể thuyết phục tín-hữu Ga-la-ti tin rằng con đường luật-pháp tốt đẹp hơn con đường của ân-điển? Tại sao có tín-hữu lại cố tình muốn chọn nô-lệ thay vì tự-do? Có lẽ trong chữ “bị mê hoặc” được dùng trong Ga 3:1 cho thấy phần nào câu trả lời mà Phao-lô dùng trong câu 1. Chữ này có nghĩa “bỏ bùa mê, thôi miên”.
Điều gì trong việc làm theo luật-pháp có thể thôi miên người tin Chúa đến nỗi người ấy bỏ ân-điển trở lại với luật-pháp chăng?
-Trước hết, sự tuân theo luật-pháp lôi cuốn xác thịt. Xác thịt thích mang hình thức tôn-giáo vâng theo luật-pháp giữ các ngày lễ thánh, ngay cả việc kiêng ăn (Ga 4:10). Chắc chắn không có gì sai khi vâng theo, kiêng ăn hoặc có những thì giờ thờ phượng thiêng-liêng long trọng, miễn là Đức Thánh Linh thôi thúc và ban năng lực. Xác thịt thích khoe khoang về những thành quả tôn-giáo - bao nhiêu lần cầu-nguyện, hoặc ban cho bao nhiêu của bố thí (Lu 18:9-14; Phi 3:1-10).
Vật dụng các giác-quan là một đặc điểm khác của chủ nghĩa chủ luật tôn-giáo đã mê hoặc nhiều người. Thay vì thờ-phượng Đức Chúa Trời “bằng tâm thần và chân-lý” (Gi 4:24), các ra-bi tạo ra phương thức riêng để thỏa mãn cho sự hiểu biết của mình.
Người ấy không thể bước đi bởi đức-tin người ấy phải bước đi bằng mắt thấy, nghe, nếm, ngửi và cảm nhận. Chắc chắn, sự thờ-phượng được Thánh Linh hướng dẫn không phủ nhận năm giác quan.
Chúng ta nhìn thấy những tín-hữu khác chúng ta hát và lắng nghe thánh nhạc chúng ta nếm và cảm nhận vật thực trong lễ Tiệc Thánh. Nhưng những việc thấy được bề ngoài chỉ là những cửa sổ qua đó đức-tin nhận biết sự vĩnh cữu. Tự chúng không phải là những cứu cánh.
Người nương cậy vào tôn-giáo có thể tự đánh giá và tự so sánh mình với người khác. Đây là sự mê hoặc của chủ nghĩa chủ luật. Nhưng tín-hữu thật tự đánh giá mình với Đấng Christ, chớ không với các tín-hữu khác (Êph 4:11).
Không có chỗ cho sự kiêu ngạo trong bước đường thuộc linh của Cơ-đốc nhân sống bởi ân điển nhưng con người chủ luật thường xuyên khoe khoang về những thành quả và những người tin đạo của mình (Ga 6:13-14).
Vâng, có sự hấp dẫn đối với luật-pháp, nhưng đó chỉ là bã mồi dẫn đến cạm bẫy và một khi tín-hữu “cắn” mồi ấy, người ấy tự thấy mình trong ách nô-lệ. Nhận lãnh Lời Đức Chúa Trời và yên nghỉ trên ân-điển của Ngài quý giá hơn nhiều.
Chúng ta đã được cứu “bởi ân-điển, nhờ đức-tin” và chúng ta phải sống “bởi ân-điển, nhờ đức-tin”. Đây là cách nhận lãnh phước hạnh. Cách khác là con đường dẫn đến ách nô-lệ.
6. SỰ HỢP LÝ CỦA LUẬT-PHÁP (Ga 3:15-29)
Người theo đạo Giu-đa dồn Phao-lô vào trong góc. Qua Cựu-ước ông vừa hoàn tất việc chứng-minh rằng kế hoạch cứu-rỗi của Đức Chúa Trời không có chỗ cho việc làm luật-pháp.
Nhưng việc Phao-lô 6 lần trích dẫn Kinh Thánh Cựu-ước nổi lên một vấn đề nghiêm trọng: Nếu sự cứu-rỗi không liên quan đến luật-pháp, tại sao luật-pháp được ban cho trước nhất? Phao-lô trích dẫn luật-pháp để chứng-tỏ sự vô nghĩa của luật-pháp.
Nếu luật-pháp không bị bác bỏ, thì chính những lập-luận của ông không có giá trị, vì chúng lấy từ luật-pháp.
Đức-tin của chúng ta là đức-tin hợp-lý và có thể được binh vực trên những căn cứ hợp-lý. Trong khi đức-tin có những điều mầu-nhiệm thiên thượng chẳng ai lý giải trọn vẹn được thì cũng có những nguyên do thiên thượng mà bất cứ người thành tâm nào cũng hiểu được.
Phao-lô được đào luyện trở thành một ra-bi Do-thái và được trang bị đầy đủ để binh vực cho vai trò của mình. Trong phần này, ông đưa ra 4 ý tưởng giúp chúng ta hiểu mối liên-quan giữa lời-hứa và luật-pháp.
1. Luật-pháp không thể thay đổi lời-hứa (Ga 3:15-18)
Trong các câu này chữ “lời-hứa” được dùng 8 lần ám chỉ đến lời-hứa của Đức Chúa Trời dành cho Áp-ra-ham để qua ông mọi dân-tộc trên thế-gian sẽ được phước (Sa 12:1-3).
Lời-hứa này bao gồm việc xưng-nghĩa bằng đức-tin và nhận lãnh các phước hạnh của sự cứu-rỗi (Ga 3:6-9). Rõ ràng lời-hứa cho Áp-ra- ham (và ngày nay cho chúng ta qua Đấng Christ) được ban bố khoảng 2.000 năm trước Công Nguyên, lời-hứa này tồn tại trước luật-pháp Môi-se nhiều thế kỷ (luật-pháp được ban bố khoảng năm 1.450 trước Công nguyên).
Giáo-sư Do-thái ngụ ý rằng việc ban luật-pháp đã biến đổi giao-ước ban đầu của lời-hứa. Phao-lô nói rằng không phải như vậy.
Trước tiên, một khi 2 phía ký kết một thỏa ước, thì nhiều năm sau đó phía thứ ba không thể tới để thay đổi thỏa ước ấy được. Người duy nhất có thể thay đổi thỏa ước ấy là người đã lập ra nó. Thêm vào hoặc bớt bất cứ điều khoản nào trong thỏa ước được xem là trái pháp-luật.
Nếu điều này là thật giữa vòng những người có tội, thì đối với Đức Chúa Trời thánh-khiết việc ấy có hiệu lực biết bao nhiêu? Lưu ý là Áp-ra-ham không lập giao-ước với Đức Chúa Trời nhưng Đức Chúa Trời đã lập giao-ước với Áp-ra-ham! Đức Chúa Trời không đặt ra một điều kiện nào cho Áp-ra-ham phải thi hành.
Thực ra, lúc giao-ước được phê chuẩn thì Áp-ra-ham đang ngủ! (Sa 15). Đó là giao-ước ân-điển: Đức Chúa Trời lập các lời-hứa với Áp-ra-ham chớ Áp-ra-ham không hứa với Đức Chúa Trời.
• Nhưng Phao-lô tiết lộ một chân-lý lạ lùng khác: Đức Chúa Trời lập giao-ước này không những cho Áp-ra-ham nhưng cũng cho Đấng Christ nữa. “Và cho dòng dõi ngươi tức là Đấng Christ” (Ga 3:16).
Khái niệm về “dòng dõi” trong Kinh Thánh được chép trong Sa 3:15 sau khi con người sa ngã. Đức Chúa Trời phán rằng sẽ có sự nghịch thù trong thế-gian giữa dòng dõi Sa-tan (con cái thế gian, Gi 8:33-44) và dòng dõi của người nữ (con cái Đức Chúa Trời và cuối cùng là Con Đức Chúa Trời).
• Thánh Kinh cho thấy mối nghịch thù này: Ca-in nghịch với A-bên (IGi 3:10-12) dân Y-sơ- ra-ên nghịch với các dân-tộc, Giăng Báp-tít và Chúa Giê-xu nghịch với người Pha- ri-si (Mat 3:7-9; Mat 23:29-33) con cái thật của Chúa nghịch với tín-hữu giả (xem ví-dụ về cỏ lùng Mat 13:24-30,36-43).
Trong Cựu-ước mục tiêu của Sa-tan là ngăn không cho Người Dòng Dõi (Đấng Christ) vào trong thế-gian, vì Sa-tan biết ngày kia Con Đức Chúa Trời sẽ nghiền nát đầu nó.
Sau hết, Đức Chúa Trời lập giao-ước lời-hứa này với Áp-ra-ham qua Đấng Christ, để 2 phía duy nhất có thể thay đổi bất cứ điều gì trong giao-ước là Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
Môi-se không thể thay đổi lời giao-ước này! Người không thể thêm hoặc lấy bớt điều gì.
Giáo-sư Do-thái muốn thêm vào ân-điển của Đức Chúa Trời (như thể bất cứ điều nào cũng thêm vào trong ân-điển được cả! ) và bớt đi các lời-hứa của Đức Chúa Trời.
Họ không có quyền làm điều này vì họ không thuộc hai bên trong giao-ước ban đầu.
Con số 430 năm trong Ga 3:17 đã làm rối trí nhiều nhà nghiên cứu Kinh Thánh trong nhiều năm. Khoảng thời gian từ lúc Áp-ra-ham nghe tiếng gọi của Đức Chúa Trời (Sa 12:1-9) đến cuộc hành trình qua Ai-cập của Gia-cốp (Sa 46:1-34) là 215 năm. (Điều này có thể được tính như sau: -Áp-ra-ham được 75 tuổi khi Đức Chúa Trời kêu gọi ông và 100 tuổi khi Y-sác sanh ra, Sa 12:4 Sa 21:5. Chúng ta có 25 năm.
-Y-sác được 60 tuổi khi Gia-cốp sinh ra, Sa 25:26 và Gia-cốp được 130 tuổi khi ông đến Ai-cập, (Sa 47:9). Như vậy, 25+60+130 = 215 năm).
-Nhưng Môi-se cho chúng ta biết rằng dân Y-sơ-ra-ên tạm cư ngụ tại Ai-cập 430 năm (Xu 12:40) vì tổng số năm tính từ lúc Áp-ra-ham được kêu gọi cho đến khi có luật pháp là 645 năm, chớ không phải 430 năm. Khoảng thời gian lưu lại Ai-cập cũng được ghi chép trong Sa 15:13 và Công 7:6, ở đây được làm tròn số là 400 năm.
Người ta đưa ra vài giải pháp cho vấn đề rắc rối này, nhưng có lẽ giải thích thoả đáng hơn hết là: Phao-lô tính từ thời gian Gia-cốp đến Ai-cập, khi Đức Chúa Trời hiện ra và tái lập giao-ước với ông (Sa 46:1-4).
430 năm là khoảng thời gian từ khi Đức Chúa Trời lập lời-hứa với Gia-cốp cho đến khi Ngài ban luật-pháp trên núi Si-na-i.
Cho dù chúng ta có thể chọn bất cứ giải thích nào cho vấn đề ấn định thời gian, lập luận căn bản vẫn rõ ràng: Luật-pháp được ban cho nhiều thế kỷ sau đó không thể thay đổi giao-ước đã được lập bởi những người khác. Nhưng giả sử sự mạc khải sau đó, như Luật-pháp Môi-se, lớn hơn và cao trọng hơn cái trước thì sao? Rồi sẽ ra sao? Phao-lô đưa ra ý tưởng thứ hai.
2. Luật-pháp không lớn hơn lời-hứa (Ga 3:19-20)
Quang cảnh của việc ban bố luật-pháp thật gây ấn-tượng (Xu 19:1-25). Có sấm chớp, dân sự run rẫy sợ hãi. Ngay cả Môi-se cũng sợ sệt và run rẫy cả người (Hêb 12:18-21).
Đó là sự kiện khiến cho ai nấy run sợ so với việc ban lời giao-ước cho Áp-ra-ham (Sa 15:1-21), và dĩ nhiên giáo-sư Do-thái ưa thích những xúc cảm bên ngoài. Nhưng Phao-lô có 2 cách cho biết luật-pháp thấp hơn giao-ước của lời-hứa.
• Luật-pháp là tạm thời (Ga 3:19a).
“Luật-pháp đã đặt thêm... cho tới chừng nào người dòng dõi đến”. Bây giờ dễ thấy luật-pháp tạm thời không thể lớn hơn giao-ước vĩnh cữu. Khi bạn đọc giao-ước của Đức Chúa Trời lập với Áp-ra-ham, bạn không tìm thấy chữ “nếu” nào trong lời của Ngài.
Không có điều kiện nào cả tất cả được ban cho vô điều kiện. Nhưng phước hạnh của luật-pháp dựa theo sự thỏa mãn những điều kiện nhất định. Ngoài ra, luật-pháp có một điểm kết thúc: “cho đến khi người dòng dõi đến (Đấng Christ)”.
Bởi sự chết và sống lại của Đấng Christ, luật-pháp đã được làm trọn và bây giờ sự công-bình luật-pháp đòi hỏi được Đức Thánh Linh làm phu phỉ trong chúng ta (Rô 7:4; Rô 8:1-4).
• Luật-pháp đòi hỏi một người trung bảo (Ga 3:19b-20).
Khi Đức Chúa Trời ban luật-pháp cho dân Y-sơ-ra-ên, Ngài truyền ra bởi thiên-sứ và qua trung gian Môi-se. Dân Y-sơ-ra-ên “nhận luật-pháp bởi lời phán truyền của các thiên-sứ” (Công 7:53).
Điều này có nghĩa dân-sự nhận luật-pháp qua người thứ ba: từ Đức Chúa Trời đến các thiên-sứ đến Môi-se. Nhưng khi Đức Chúa Trời lập giao-ước với Áp-ra-ham, chính Ngài làm điều đó, không có trung gian. Đức Chúa Trời bày tỏ với Áp-ra-ham mọi điều Ngài sẽ làm cho ông và con cháu ông.
Người trung gian đứng ở giữa hai phía để giúp đỡ họ đồng ý nhưng trong trường hợp của Áp-ra-ham không cần có trung gian vì Đức Chúa Trời mở ra một giao-ước với ông, chớ không phải Áp-ra-ham bắt đầu với Đức Chúa Trời. “Đức Chúa Trời chỉ có một” (Ga 3:20), do đó không cần có người làm trung gian.
Người theo đạo Do-thái ưa thích những chi tiết phụ của luật-pháp - sự vinh-quang, sấm, chớp, các thiên-sứ, và các hiện-tượng bên ngoài khác. Nhưng Phao-lô vư ợt qua những chi tiết phụ để nhìn thấy những điều thiết yếu.
Luật-pháp là tạm thời, và đòi hỏi trung gian.
Giao-ước của lời hứa là đời-đời, và không cần có trung gian nào. Chỉ có thể rút ra một kết luận: giao-ước lời-hứa lớn hơn luật-pháp.
3. Luật-pháp không trái với lời-hứa (Ga 3:21-26)
Hầu như bạn có thể nghe giáo-sư Do-thái hét to câu hỏi trong Ga 3: Ga 21: “Vậy thì luật-pháp nghịch cùng lời-hứa của Đức Chúa Trời hay sao?”
Có phải Đức Chúa Trời tự nghịch lại với chính Ngài sao? Tay phải của Ngài không biết những gì tay trái Ngài làm sao? Khi trả lời câu hỏi này, Phao-lô cho thấy ông hiểu biết sâu sắc các phương cách và mục đích của Đức Chúa Trời.
Ông không nói rằng luật-pháp nghịch lại với lời-hứa, nhưng đúng hơn luật-pháp hợp tác với lời-hứa để làm trọn các mục đích của Đức Chúa Trời. Trong khi luật-pháp và ân-điển có vẻ trái ngược nhau, nếu bạn chưa đào sâu đủ ý nghĩa, thì bạn khám phá ra chúng thực sự bổ sung cho nhau.
Vậy thì tại sao luật-pháp được ban-cho?
• Luật-pháp được ban-cho không đem lại sự sống (Ga 3:21).
Chắc chắn luật-pháp Môi-se chỉnh đốn cuộc sống của dân Do-thái, nhưng không cung cấp và không thể đem đến cho dân chúng sự sống thuộc-linh. (Ga 3:21 phải được kết hợp với Ga 2:21).
Nếu sự sống và sự công-bình có thể đến bởi luật-pháp, thì Chúa Giê-xu Christ sẽ chẳng hề chịu chết trên thập-tự giá. Nhưng Chúa Giê-xu đã chết do đó, luật-pháp không thể nào ban cho tội-nhân sự sống và công-bình được.
Chính “sự tôn thờ luật-pháp” dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào tôn-giáo của việc làm tự cho là công-nghĩa, kết quả họ khước từ Đấng Christ (Rô 9:30-10:13).
• Luật-pháp được ban-cho để cho biết tội (Ga 3:19a,22).
Chính ở đây chúng ta thấy phương cách luật-pháp và ân-điển hợp tác với nhau trong việc đem tội-nhân hư-mất đến với Chúa Giê-xu Christ.
Luật-pháp chỉ ra cho tội-nhân thấy tội-lỗi, và ân-điển cho người đó biết mình có thể được tha thứ trong Đấng Christ. Luật-pháp là “thánh, công-bình và tốt lành” (Rô 7:12), nhưng chúng ta không thánh, không công-bình và xấu xa. Luật-pháp không làm chúng ta mắc tội nó chỉ cho thấy chúng ta đã là tội-nhân (Rô 3:20). Luật-pháp là gương soi giúp chúng ta thấy “những vết dơ bẩn trên mặt” (Gia 1:22-25) - nhưng bạn không lau mặt bằng chiếc gương được!
Chính ân-điển ban cho chúng ta sự tẩy sạch bởi huyết báu của Chúa Giê-xu Christ (IGi 1:7b).
Có người sử dụng đúng luật-pháp, và có người sử dụng sai (ITi 1:8-11). Dùng đúng luật-pháp nhằm bày tỏ tội-lỗi và khiến con người thấy cần đến Đấng Cứu Rỗi. Dùng sai luật-pháp là cố đạt sự cứu-rỗi do gìn giữ luật-pháp. Khi người ta tuyên-bố đư ợc cứu-rỗi bởi “việc giữ Mười Điều Răn”, cho thấy họ đang dốt nát về ý nghĩa thật của luật-pháp.
Luật-pháp kết-luận “hết thảy mọi người đều ở dưới tội-lỗi” (Ga 3:22), người Do-thái cũng như ngoại bang. Nhưng vì tất cả mọi người ở dưới luật-pháp, thì ai nấy đều có thể được cứu bởi ân-điển! Đức Chúa Trời không có 2 phương cách cứu-rỗi Ngài chỉ có một cách - đó là đức-tin nơi Chúa Giê-xu Christ.
• Luật-pháp được ban-cho để mở đường cho Đấng Christ (Ga 3:23-26).
Ở đây Phao- lô dùng hình ảnh minh họa quen thuộc với mọi người - người giám hộ. Trong các gia đình La-mã và Hy-lạp, các nô-lệ có học vấn cao đưa rước con cái của họ đi học và trông coi chúng suốt cả ngày.
Thỉnh thoảng họ dạy dỗ bọn trẻ, đôi khi bảo vệ và cấm đoán chúng, thậm chí còn kỹ-luật nữa. Đây là những gì Phao-lô muốn nói đến qua việc làm của thầy giáo (Ga 3:24) nhưng xin đừng xem từ ngữ này có ý nghĩa của người thầy hiện nay.
Nghĩa đen trong tiếng Hy-lạp là “người giữ trẻ”.
Qua việc dùng minh họa này, Phao-lô nói một vài điều về người Do-thái và luật-pháp của họ. Trước tiên, ông nói rằng người Do-thái không sinh bởi luật-pháp, nhưng đúng hơn họ được trưỡng-dưỡng bởi luật-pháp.
Nô-lệ không phải là cha của đứa trẻ nhưng là người giám hộ và người giữ nghiêm kỷ-luật. Vì thế, luật-pháp không ban sự sống cho dân Y-sơ-ra-ên nó chi phối sự sống.
Giáo sư Do-thái dạy rằng luật-pháp cần thiết cho sự sống và công-bình, và Phao-lô vạch ra sai lầm của họ.
Nhưng điều thứ hai Phao-lô muốn nói còn quan-trong hơn: việc làm của người giám-hộ là chuẩn bị cho đứa trẻ trưởng-thành. Một khi đứa trẻ đủ tuổi, nó không còn cần đến người giám-hộ nữa.
Do đó luật-pháp chuẩn bị cho dân-tộc Y-sơ-ra-ên đến khi Người Dòng Dõi của lời-hứa hiện ra, đó là Chúa Giê-xu Christ.
Mục đích cuối cùng trong chương trình của Đức Chúa Trời là sự đến của Ngài (Ga 3:22), nhưng “trước khi đức-tin (Đấng Christ) đến” (Ga 3:23), dân sự “bị nhốt dưới sự canh giữ của luật-pháp” (dịch theo nghĩa đen).
Luật-pháp phân-rẽ dân Y-sơ-ra-ên với các nước ngoại bang (Êph 2:12-18) nó chi phối mọi lãnh vực của cuộc sống họ. Suốt nhiều thế kỷ trong lịch-sử Do-thái, luật-pháp dọn đường cho sự đến của Chúa Giê-xu Christ. Những đòi hỏi của luật-pháp nhắc dân sự nhớ họ cần Đấng Cứu-Rỗi. Những biểu-tượng và kiểu-mẫu trong luật-pháp là hình-ảnh của Đấng Mê-si-a sẽ hiện ra (Lu 24:27).
Một ví-dụ hay đề cập đến mục đích này của luật-pháp nằm trong câu chuyện người trẻ tuổi giàu có (Mat 19:16). Chàng trẻ tuổi này có đủ mọi thứ người khác ao ước, nhưng ông không thỏa mãn. Ông cố gắng giữ các điều răn suốt cuộc đời mình, nhưng vẫn thấy còn thiếu điều gì. Nhưng những điều răn này đã đem ông đến với Đấng Christ!
Đây là một trong những mục tiêu của luật-pháp, tạo ra trong tội-nhân hư mất lòng cảm biết tội lỗi và nhu-cầu được tha tội. Điều đáng buồn người trẻ tuổi không thành thật khi nhìn vào gương soi luật-pháp, vì điều răn cuối cùng (“Ngươi chớ tham lam”) không ở với người ấy và người bỏ đi đánh mất sự sống đời-đời.
• Luật-pháp đã phô diễn mục đích của nó: Đấng Cứu-Rỗi đã đến và “người giám-hộ” không còn cần đến nữa. Thật đáng buồn, dân Y-sơ-ra-ên không nhận ra Đấng Mê-si-a của họ khi Ngài hiện đến.
Cuối cùng Đức Chúa Trời phải phá hủy đền thờ và làm cho dân sự tản lạc, để ngày nay một người Do-thái không thể làm theo đức-tin của cha ông mình được. Người ấy không còn bàn thờ, không thầy tế-lễ, không của lễ, không đền thờ, không vua (Ôs 3:4).
Tất cả những điều này đã làm trọn trong Đấng Christ, để bất cứ ai - người Do-thái hay người ngoại bang- tin nhận Đấng Christ sẽ trở nên con Đức Chúa Trời.
Luật-pháp không thay đổi lời-hứa được, và luật-pháp không trổi hơn lời-hứa. Nhưng luật-pháp không trái với lời-hứa: cả hai làm việc với nhau để mang tội-nhân đến với Đấng Cứu-Rỗi.
4. Luật-pháp không thể làm những gì lời-hứa có thể làm (Ga 3:27-29)
Với sự hiện đến của Chúa Giê-xu Christ, dân tộc Y-sơ-ra-ên rời khỏi thời ấu trĩ trở thành người lớn. Giai đoạn chuẩn bị lâu dài đã qua. Trong khi luật-pháp có vinh-quang nhất định, thì vinh-quang của sự cứu-rỗi trổi hơn do ân-điển của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ.
Luật-pháp có thể cho biết tội và trong chừng mức nào đó kiểm soát hành vi nhưng luật-pháp không thể làm thay cho tội-nhân những gì Chúa Giê-xu Christ có thể làm.
-Trước hết, luật-pháp không bao giờ xưng công-bình cho tội-nhân được. Chúa phán, “Ta chẳng hề tha kẻ gian ác đâu” (Xu 23:7) tuy nhiên Phao-lô nói rằng Đức Chúa Trời “xưng công-bình cho người có tội” (Rô 4:5).
Trong lễ Cung Hiến Đền Thờ, Vua Sa-lô-môn nhắc Đức Chúa Trời lên án kẻ ác và xưng công-bình cho người công-bình (IVua 8:332) đây là lời ước nguyện trọn lành trong ánh sáng thánh-khiết của Đức Chúa Trời.
Vấn-đề đặt ra là không có ai công-bình cả! Chỉ bởi đức-tin trong Chúa Giê-xu Christ tội-nhân mới được xưng công-bình - được tuyên-bố là công-bình - trước mặt Đức Chúa Trời.
Ngoài ra, luật-pháp không làm con người hiệp-một với Đức Chúa Trời được nó chia cắt con người với Đức Chúa Trời. Có một rào chắn bao quanh bàn thờ và một bức màn ngăn cách giữa nơi thánh và chí thánh.
Đức tin nơi Chúa Giê-xu báp-têm chúng ta “vào trong Đấng Christ” (Ga 3:27). Báp-têm của Thánh Linh hiệp con cái Chúa làm một với Đấng Christ và khiến người ấy trở nên chi thể trong thân của Ngài (ICôr 12:12-14). Báp-têm bằng nước là hình-ảnh bên ngoài của công việc bên trong của Đức Thánh Linh (Công 10:44-48).
Nhóm từ “mặc lấy Đấng Christ” (Ga 3:27) ám chỉ đến sự thay đổi y phục. Người tin Chúa đã lột bỏ áo tội lỗi dơ nhớp (Ês 64:6), và bởi đức tin nhận lấy áo xống công-bình trong Đấng Christ (Côl 3:8-15). Nhưng đối với người Ga-la-ti, ý tưởng “thay y phục” này có nghĩa là thêm vào.
Khi một đứa bé La-mã đến tuổi lớn khôn, nó thay những áo quần của trẻ thơ và mặc áo choàng của công dân lớn tuổi. Tín-hữu trong Đấng Christ không chỉ là “con cái Đức Chúa Trời” người cũng là “con trai của Đức Chúa Trời” (Ga 3:26, chữ con cái phải dịch là “con trai trưởng thành”). Người tin Chúa có địa-vị thành nhân trước mặt Đức Chúa Trời - vậy tại sao phải trở lại thời ấu thơ của luật-pháp?
“Tất cả hiệp làm một trong Chúa Giê-xu Christ” - đây quả là lời tuyên bố kỳ diệu! Luật-pháp tạo nên sự khác biệt và khoảng cách, không những giữa các cá nhân và quốc gia, nhưng còn giữa các loại thức ăn và thú vật. Chúa Giê-xu Christ đến, không phải để phân-rẽ nhưng để kết hiệp làm một.
Ắt hẳn đây là một tin tức tốt lành cho các tín-hữu Ga-la-ti, vì trong xã hội của họ nô-lệ bị coi như tài sản phụ nữ bị giới hạn và khinh rẻ người ngoại bang thường xuyên bị người Do-thái chế nhạo.
Người Pha-ri-si cầu-nguyện mỗi sáng, “Lạy Đức Chúa Trời tôi cảm tạ Ngài vì tôi là người Do-thái, không phải dân ngoại bang là đàn ông, không phải đờn bà là người tự-do, không phải nô-lệ”. Tuy nhiên tất cả sự khác biệt này đều được cất bỏ “trong Đấng Christ”.
Điều này không có ý nói Chúa sẽ thay đổi chủng-tộc, tình trạng chính-trị, hoặc giới tính của chúng ta lúc tin nhận Chúa nhưng nó có nghĩa tất cả những điều này không còn giá trị hoặc cản trở khi chúng ta có mối tương-giao với Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu Christ.
Luật-pháp lưu giữ mãi những cách biệt này, nhưng trong ân-điển Ngài Đức Chúa Trời đã tuyên-bố tất cả mọi người đều ngang nhau để Ngài có thể bày tỏ lòng nhân-từ trên hết thảy mọi người (Rô 11:25-32).
Cuối cùng, luật-pháp không thể nào khiến chúng trở nên kẻ thừa-kế của Đức Chúa Trời (Ga 3:29). Đức Chúa Trời lập lời-hứa cho “dòng dõi Áp-ra-ham” (số ít, Ga 3:16), và dòng dõi đó là Đấng Christ.
Nếu chúng ta “ở trong Đấng Christ” bởi đức-tin, thì chúng ta cũng là “con cháu Áp-ra-ham” nói theo nghĩa thuộc-linh. Điều này có nghĩa chúng ta là người thừa-kế những ơn phuớc thiêng-liêng của Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Áp-ra-ham.
Điều này không có nghĩa là những phước lành vật chất và dân tộc đã hứa cho dân Y-sơ-ra- ên bị đặt ra ngoài nhưng có nghĩa Cơ-đốc nhân ngày nay được giàu có về mặt thiêng-liêng vì lời-hứa của Đức Chúa Trời đối với Áp-ra-ham (Rô 11:13).
Phần này của sách Ga-la-ti có giá trị cho chúng ta khi đọc Kinh Thánh Cựu-ước. Nó cho chúng ta thấy những bài học thuộc-linh trong Cựu-ước không chỉ dành cho người Do-thái nhưng còn ứng dụng cho Cơ-đốc nhân ngày nay nữa (Rô 15:4; ICôr 10:11-12).
Trong Cựu-ước chúng ta có sự chuẩn bị cho Đấng Christ trong các sách Phúc-Âm có sự giới thiệu về Đấng Christ và trong Công-vụ cho đến Khải-huyền, nói về sự chiếm hữu của Đấng Christ.
Đời sống Cơ-đốc của bạn phải bắt đầu có sự ngạc nhiên và ý nghĩa mới khi bạn nhận thức được tất cả những gì bạn có trong Đấng Christ. Và tất cả những điều này đều bởi ân-điển - không bởi luật-pháp! Bạn là một con trưởng-thành trong gia đình của Đức Chúa Trời, người thừa-kế của Đức Chúa Trời. Bạn có đang sử dụng quyền thừa-kế của bạn không? Đây là chủ-đề Phao-lô bàn đến trong phần kế tiếp.
7. ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI TRƯỞNG-THÀNH! (Ga 4:1-18)
Một trong những bi kịch của chủ nghĩa chủ luật là việc tạo ra dáng dấp thuộc-linh trưởng-thành, khi trong thực tế nó đang đưa tín-hữu trở lại “thời thơ ấu thứ hai” trong kinh-nghiệm Cơ-đốc nhân. Tín-hữu Ga-la-ti, như hầu hết mọi Cơ-đốc, muốn lớn lên và hướng về Đấng Christ nhưng họ bắt đầu cách sai trật.
Kinh-nghiệm của họ không khác biệt bao nhiêu với kinh-nghiệm của những Cơ-đốc nhân ngày nay những người có liên-hệ đến những phong trào làm theo luật-pháp, với hy vọng trở thành những Cơ-đốc nhân tốt hơn. Động cơ của họ có thể đúng, nhưng phương pháp của họ bị sai.
Đây là chân-lý Phao-lô cố gắng truyền-đạt đến những tín-hữu đáng yêu của ông tại Ga-la-ti. Giáo sư Do-thái đã làm cho họ mê muội nghĩ rằng luật-pháp sẽ khiến họ trở nên những Cơ-đốc nhân tốt hơn. Bản chất cũ của họ cảm thấy hấp dẫn đối với luật-pháp, vì luật-pháp có thể giúp họ làm được nhiều điều và đo lường những kết quả thấy được.
Khi họ tự đánh-giá mình và những thành quả của họ, họ có được ý niệm thành đạt và hẳn nhiên kèm theo đôi chút hãnh diện. Họ cho rằng họ đang tiến tới trong bước đường thuộc-linh nhưng kỳ thực họ đang thụt lùi.
Những người như vậy đang ở trong tình trạng giống như các hành khách trên chuyến bay nghe vị phi-công thông báo: “Người điều khiển đã lạc vị trí và chúng ta đang bay mất hướng trên một tiếng đồng hồ rồi. Đó là một tin không may. Nhưng tin mừng là chúng ta đang có một khoảng thời gian thật tuyệt diệu”
Phao-lô đưa ra 3 giải pháp trong phần này khi ông tìm cách thuyết phục người Ga-la-ti rằng họ không cần làm theo luật-pháp để sống cuôc sống Cơ-đốc. Họ có tất cả những điều cần thiết trong Chúa Giê-xu Christ.
1. Phao-lô giải thích quyền làm con nuôi của họ (Ga 4:1-7)
Trong số các phước hạnh của từng trải Cơ-đốc là sự làm con nuôi (Ga 4:5; Êph 1:5). Chúng ta không gia nhập gia đình của Đức Chúa Trời bằng sự làm con nuôi, theo cách một đứa bé không nơi nương tựa gia nhập một gia đình yêu thương ở trong xã hội của chúng ta. Cách duy nhất để trở thành thành viên trong gia đình Đức Chúa Trời là sinh-lại, được “sanh-lại” (Gi 3:3).
Chữ “sự làm con nuôi” trong Tân-ước có nghĩa “đặt vào vị trí như con trai trưởng-thành”. Nó phải liên quan đến vị thế chúng ta trong gia đình của Đức Chúa Trời:chúng ta không phải là con trẻ nhưng là con trai trưởng-thành với tất cả đặc quyền làm con.
Thật đáng tiếc nhiều bản dịch Tân-ước không phân biệt giữa con cái Đức Chúa Trời và con trai của Đức Chúa Trời. Chúng ta là con cái Đức Chúa Trời bởi tin nơi Đấng Christ, được sinh trong gia đình Đức Chúa Trời.
Nhưng mỗi con cái Chúa được đặt để trong gia đình với vai trò là con trai, và vì là con trai người ấy có mọi đặc quyền đặc lợi đúng pháp-luật của một người con. Khi một tội-nhân tin nhận Đấng Christ và được cứu-rỗi, đối với tình trạng của người ấy, anh ta là “trẻ con thuộc-linh” cần phải lớn lên (IPhi 2:2-3) nhưng đối với địa-vị, anh ta là một con trưởng-thành có thể sử dụng sự giàu có của Đức Chúa Cha và có thể thực hiện mọi đặc ân tuyệt vời của quyền là con.
Chúng ta gia nhập gia đình Đức Chúa Trời bằng sự tái-sinh, nhưng chúng ta hưởng gia đình Đức Chúa Trời bằng sự nhận làm con nuôi. Cơ-đốc nhân không phải chờ để bắt đầu hưởng sự giàu có thuộc-linh có sẵn trong Đấng Christ. “Nếu ngươi là con, thì cũng là kẻ kế-tự bởi ơn của Đức Chúa Trời” (Ga 4:7). Bây giờ Phao-lô bàn về việc làm con nuôi. Ông nhắc chúng ta 3 yếu tố.
Hiện trạng chúng ta là gì: con cái phục dưới các lề thói thế-gian (Ga 4:1-3). Cho dù người cha có giàu có đến bao nhiêu, con trai thơ ấu hoặc đứa trẻ mới biết đi của ông không thể hưởng của cải giàu có ấy.
Trong thế giới La-mã, con cái của những người giàu có được các nô-lệ chăm-sóc. Cho dù bố của nó là ai, đứa con vẫn là một đứa trẻ ở dưới sự bảo-hộ của một đầy-tớ.
Thực ra, đứa bé không khác biệt gì nhiều so với người đầy-tớ bảo bọc nó. Người chủ nhà ra lệnh cho đầy-tớ. Người đầy-tớ ra lệnh cho đứa bé.
Đây là tình trạng thuộc-linh của người Do-thái dưới thời luật-pháp. Bạn nhớ luật-pháp là “người giám-hộ” giữ dân-tộc trong kỷ-cương và dọn đường cho sự đến của Đấng Christ (Ga 3:23-25).
Vì thế, khi người theo đạo Do-thái huớng dẫn người Ga-la-ti trở lại với việc làm luật-pháp, họ không những đưa tín-hữu Ga-la-ti vào sự ràng buộc của tôn-giáo, nhưng còn đưa họ vào sự ấu trĩ non trẻ thuộc-linh.
Phao-lô nói rằng người Do-thái, giống như trẻ con, phải phục dưới “mọi lề thói của thế-gian”. Chữ mọi lề thói mang nghĩa nguyên-tắc căn-bản, những điều cơ bản. Trải qua 15 thế kỷ, dân Y-sơ-ra-ên ở trong trường mẫu giáo và tiểu học, học “những điều sơ học thiêng-liêng” để được sẵn sàng khi Chúa Giê-xu đến.
Sau đó họ được mạc khải trọn vẹn vì Chúa Giê-xu Christ là “An-pha và Ô-mê-ga” (Kh 22:13) Ngài có đủ mọi lời mạc khải của Đức Chúa Trời cho con người. Ngài là lời phán cuối cùng của Đức Chúa Trời (Hêb 1:1-3).
Vậy thì làm theo luật-pháp không phải là bước hướng đến sự trưởng-thành nhưng là bước lùi lại thời trẻ con. Luật-pháp không phải là sự mạc khải cuối cùng của Đức Chúa Trời nó chỉ là bước chuẩn bị cho sự bày tỏ ra sau cùng trong Đấng Christ.
Biết về A, B, C... là điều rất quan-trọng, vì đó là nền tảng cho sự hiểu biết về ngôn ngữ. Nhưng nếu người ấy chỉ ngồi trong thư viện đọc bảng vần A, B, C... thay vì đọc những tác-phẩm văn học ở chung quanh anh ta thì điều đó nói lên rằng người đó còn ấu trĩ và dốt nát, không trưởng-thành và khôn ngoan.
Dưới sự chi phối của luật-pháp, người Do-thái là những con trẻ trong tay người giám-hộ, chớ không phải là những con trai hưởng tự-do.
Những gì Đức Chúa Trời làm: đã cứu-chuộc chúng ta (Ga 4:4-5). Ý tưởng kỳ hạn đã được trọn (Ga 4:4) ám chỉ đến thời điểm khi thế-gian sẵn sàng thích hợp cho Đấng Cứu Thế ra đời.
Các sử-gia cho chúng ta biết thế giới La-mã đang ở trong tình trạng mong đợi lớn lao, họ trông đợi một vị cứu-tin vào thời Chúa Giê-xu Giáng Sinh. Các tôn-giáo cổ xưa đang tàn lụi các triết-lý lâu đời vô nghĩa và không còn ảnh hưởng đến sự thay đổi trong cuộc sống con người.
Nhiều tôn-giáo thần bí mới lạ đang thâm nhâp vào đế quốc. Sự phá sản của tôn-giáo và khao khát thuộc-linh xảy ra khắp nơi. Đức Chúa Trời đang sửa soạn thế gian tấm lòng khát khao sự đến của Con Ngài.
Từ quan điểm lịch-sử này, chính đế quốc La-mã đã giúp chuẩn bị thế giới cho sự chào đời của Đấng Cứu thế. Những con đường nối thành phố này với thành phố khác, và mọi thành phố có liên-hệ cơ-bản với thủ đô La-mã.
Luật-pháp La-mã bảo vệ quyền của công-dân, và quân lính bảo vệ hòa bình. Nhờ cả 2 cuộc chinh-phục của người Hy-lạp và La-mã, tiếng La-tinh và Hy-lạp được phổ biến rộng khắp đế quốc.
Sự Giáng Sinh của Đấng Christ tại Bết-lê-hem không phải là việc tình cờ đó là cuộc hẹn: Chúa Giê-xu đến theo “kỳ hạn đã được trọn”. (Và cũng nên chú ý Ngài sẽ trở lại trần-gian khi thời gian đã sẵn sàng).
Phao-lô cẩn thận đưa ra 2 bản thể của Chúa Giê-xu Christ (Ga 4:4), Ngài vừa là Đức Chúa Trời vừa là người. Là Đức Chúa Trời, Chúa Giê-xu “từ Cha xuống trần gian” (Gi 16:28) nhưng là con người, Ngài “được sanh ra bởi người nữ”.
Lời hứa thời xưa dạy rằng Đấng Cứu Chuộc sẽ thuộc “dòng dõi người nữ” (Sa 3:15) và Chúa Giê-xu làm ứng nghiệm lời hứa ấy (Ês 7:14; Mat 1:18-25).
Phao-lô cho chúng ta biết Đấng đã đến - là Con Đức Chúa Trời ông nói cho chúng ta biết lúc Ngài đến và cách Ngài đến. Bây giờ ông cho biết lý-do Ngài đến: “để chuộc những kẻ ở dưới luật-pháp” (Ga 4:5).
Cứu-chuộc là từ ngữ đã dùng trước đây (Ga 3:13) nó có nghĩa là “trả giá để trả tự-do”. Một người có thể mua một nô-lệ tại bất cứ thành phố nào của đế quốc La-mã (trong toàn đế quốc c ó khoảng 60.000.000 nô-lệ), để giữ làm người phục-vụ cho mình hoặc thả cho tự-do.
• Chúa Giê-xu đến để cho chúng ta tự-do.
Do đó, trở lại với luật-pháp là phá bỏ chính công-giá của Đấng Christ trên thập-tự giá. Ngài không chuộc chúng ta để khiến chúng ta trở nên nô-lệ, nhưng là con cái Ngài! Dưới ách nô-lệ của luật-pháp, người Do-thái chỉ là những con trẻ, nhưng dưới ân-điển, người tin Chúa là con trai của Đức Chúa Trời có vị trí xứng đáng trong gia đình Đức Chúa Trời.
Có lẽ tại điểm này chúng ta cần một bảng so sánh để hiểu rõ hơn về sự khác biệt giữa sự “làm con cái Đức Chúa Trời” và “làm con trai Đức Chúa Trời”.
-Con cái: bởi sự sinh lại bước vào gia đình dưới sự giám-hộ, chưa được thừa-kế. | -Con trai: Bởi sự nhận làm con, vui hưởng gia đình, sự tự-do của người trưởng-thành và người kế-tự của cha. |
Chúng ta là: Con trai và người kế-tự (Ga 4:6-7).
Lại một lần nữa, Ba ngôi Đức Chúa Trời có liên quan đến từng trải thuộc-linh của chúng ta: Đức Chúa Cha sai Đức Chúa Con chịu chết thế chúng ta, và Đức Chúa Con sai Đức Thánh Linh của Ngài sống trong chúng ta.
Sự tương phản ở đây không phải giữa các con chưa trưởng thành với các con trai thành nhân, nhưng giữa tôi tớ và con cái trong gia đình. Giống như đứa con hoang đàng, tín-hữu Ga-la-ti muốn Cha của họ chấp nhận như là đầy-tớ, trong khi họ là con thật sự (Lu 15:18-19).
Chúng ta dễ dàng thấy những khác biệt.
Thí dụ:
Người con có cùng bản tánh như người cha, nhưng đầy tớ thì không. Khi chúng ta tin nhận Đấng Christ, Đức Thánh Linh ngự vào lòng chúng ta điều này có nghĩa chúng ta là “người dự phần bổn-tánh của Đức Chúa Trời” (IIPhi 1:4).
Luật-pháp không thể nào ban cho con người bản tánh của Đức Chúa Trời. Tất cả những gì luật-pháp có thể làm là cho con người thấy được nỗi khát khao cần có bản-tánh của Đức Chúa Trời. Vì vậy, khi người tin Chúa quay trở lại với luật pháp, người ấy đang gạt bỏ chính bản tánh Đức Chúa Trời hiện hữu trong lòng mình, và người đang tạo điều kiện cho bản-tánh cũ (xác thịt) có cơ hội hành động.
Người con có cha, trong khi đầy tớ có người chủ. Chẳng có đầy tớ nào gọi chủ là “cha” cả. Khi tội nhân tin nhận Đấng Christ, người ấy nhận lãnh Thánh Linh ngự vào lòng mình, và Đức Thánh Linh phán với người ấy rằng người ấy là con của Đức Chúa Cha (Rô 8:15-16).
Theo lẽ tự nhiên đứa bé khóc, nhưng không phải nói chuyện với cha của nó. Khi Đức Thánh Linh ngự trong lòng, Ngài kêu rằng: “A-ba! Cha!” (Ga 4:6) và để đáp lại, chúng ta kêu rằng, “A-ba! Cha!” (Rô 8:15).
Chữ A-ba là từ ngữ A-ram tương đương với nghĩa tiếng Anh là “papa” (cha). Điều này cho thấy sự gần gũi giữa đứa trẻ với cha mình. Không có đầy-tớ nào hưởng được hạnh phúc này.
Người con vâng lời vì yêu thương, trong khi đầy tớ vâng lời vì sợ hãi. Đức Thánh Linh hành động trong lòng người tín hữu để thúc đẩy và tăng thêm lòng yêu mến Đức Chúa Trời trong người ấy.
“Trái của Thánh Linh là lòng yêu thương” (Ga 5:22). “Tình yêu của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh” (Rô 5:5).
Giáo sư Do-thái nói với tín-hữu Ga-la-ti rằng họ sẽ trở nên Cơ-đốc nhân tốt hơn khi làm theo luật-pháp, nhưng luật pháp không thể nào làm ra sự vâng-lời. Chỉ có tình yêu thương mới làm được điều ấy.
“Nếu các ngươi yêu mến ta, thì gìn giữ các điều răn ta” (Gi 14:15).
Người con giàu có, trong khi đầy tớ thiếu thốn. Chúng ta vừa là “con vừa là người thừa-kế”. Và vì chúng ta được nhận làm con nuôi - được đặt làm con trai thành nhân trong gia đình - chúng ta có thể bắt đầu sử dụng của thừa kế ngay từ bây giờ.
Đức Chúa Trời sắm sẵn cho chúng ta sự giàu có vô hạn của ân-điển Ngài (Êph 1:7; Êph 2:7), sự giàu có của Ngài ở nơi vinh-hiển (Phi 4:19), sự dư dật của lòng nhân-từ Ngài (Rô 2:4), sự giàu có khôn-ngoan của Ngài (Rô 11:33) - và mọi sự giàu có của Đức Chúa Trời đều có trong Đấng Christ (Côl 1:19; Côl 2:3).
Người con có tương lai, trong khi đầy-tớ thì không. Trong lúc nhiều người chủ tốt bụng cung cấp vật thực cho đầy-tớ của họ trong tuổi già, nhưng họ không bị buộc phải làm như thế. Người cha luôn chu-cấp sự cần dùng cho con (IICôr 12:14).
Về một ý nghĩa nào đó, sự làm con nuôi của chúng ta chưa kết thúc, bởi vì chúng ta đang chờ đợi Đấng Christ tái-lâm và sự cứu-chuộc thân thể chúng ta (Rô 8:23). Một số học-giả cho rằng giai đoạn thứ hai trong việc làm con nuôi này phù hợp với thực tế của người La-mã khi một người nhận nuôi người nào làm con của mình.
Trước tiên có nghi thức riêng tư vào lúc này đứa con được mua sau đó là buổi lễ công-khai, vào lúc này việc nhận con nuôi được công-khai tuyên bố trước mặt những người có chức quyền.
Cơ-đốc nhân đã kinh-nghiệm giai đoạn thứ nhất: Chúng ta đã được Chúa Giê-xu Christ mua-chuộc và ban Thánh Linh ngự vào lòng. Chúng ta đang chờ đợi giai đoạn thứ hai: giai đoạn công-khai tuyên-bố lúc Đấng Christ tái-lâm khi ấy “chúng ta sẽ nên giống như Ngài” (IGi 3:1-3). Chúng ta là “con và người kế-tự”, và phần tốt nhất trong gia tài thừa-kế của chúng ta chưa xảy đến (IPhi 1:1-5).
2. Phao-lô xót xa cho sự lùi bước của họ (Ga 4:8-11)
Điều gì thực sự xảy ra khi người Ga-la-ti từ bỏ ân-điển để quay trở lại với luật-pháp? Đầu tiên, họ từ bỏ tự-do để nhận lấy ách nô-lệ. Khi họ là những tội-nhân tối tăm, họ đã hầu việc cho các tà-thần và chuốc lấy nhiều đau đớn của sự làm nô-lệ cho thần tượng. Nhưng rồi họ đã tin nhận Chúa Giê-xu Christ và được cứu thoát khỏi lòng mê tín và cảnh nô-lệ.
Bây giờ họ đang từ bỏ tự-do trong Đấng Christ và quay trở lại ách nô-lệ. Họ đang “rút tên” ra khỏi trường ân-điển và đăng ký nhập học nơi trường mẫu giáo của luật-pháp! Họ đang hủy phá tất cả những điều tốt lành Đức Chúa Trời đã làm trong họ qua chức-vụ Phao-lô.
Nhóm từ những lề thói hèn yếu nghèo nàn nói cho chúng ta mức-độ của sự thối lui của họ. Họ đang bỏ quyền-năng của Phúc-Âm để nhận lấy sự yếu đuối của luật-pháp, và khướt từ sự giàu có của Phúc-Âm để nhận sự nghèo khó của luật-pháp.
Luật-pháp chưa bao giờ làm cho người nào giàu có hoặc mạnh mẽ ngược lại, luật-pháp chỉ cho con người biết sự yếu đuối và sự suy sụp thuộc-linh. Không có gì lạ Phao-lô khóc vì các tín-hữu này khi thấy họ lìa bỏ tự do để chịu nô-lệ, bỏ sự mạnh mẽ để chịu yếu hèn, và bỏ sự giàu có để chịu cảnh nghèo khó.
Họ làm điều này như thế nào? Bằng cách thừa nhận hệ thống tôn-giáo trong Cựu-ước với việc giữ “ngày, tháng, mùa, năm” (Ga 4:10).
Điều này có phải có nghĩa là việc Cơ-đốc nhân để ra một ngày trong năm để kỷ niệm sự Giáng Sinh của Đấng Christ? là sai không? Hay việc kỷ niệm sự Giáng Lâm của Đức Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ tuần, hoặc kỷ niệm phước hạnh của mùa gặt trong mùa thu, là tội-lỗi không?
Không cần thiết. Nếu chúng ta tuân theo những ngày đặc biệt như các nô-lệ, hy vọng đạt được giá trị thiêng-liêng nào đó, lúc đó chúng ta đang phạm-tội. Nhưng nếu trong việc tuân giữ, chúng ta bày tỏ tự-do trong Đấng Christ và để cho Đức Thánh Linh làm cho chúng ta dư dật trong ân-điển Ngài, sau đó sự tuân giữ có thể là một ơn phước thuộc-linh.
Kinh Thánh Tân-ước cho biết rõ Cơ-đốc nhân không phải đăt ra những quy định trong tôn-giáo đối với nhau (Rô 14:4-13). Chúng ta không khen ngợi con người giữ ngày lễ, cũng không rủa sả người không làm điều ấy.
Nhưng nếu có người cho rằng anh ta đang cứu-rỗi linh-hồn mình, hoặc tự động lớn lên trong ân-điển, vì tuân giữ theo phép tắc giáo hội, người ấy hẳn là con người chủ luật.
Các giáo hội Phúc-Âm của chúng ta có nhiều điều lệ khác nhau, và chúng ta sai khi vượt ra ngoài Lời Đức Chúa Trời trong việc so sánh, phê-phán hoặc lên án. Nhưng tất cả chúng ta phải biết rằng tinh thần luật-pháp phục-vụ cho xác thịt, dẫn đến kiêu-ngạo và khiến những sự kiện bên ngoài thay thế cho từng-trải bên trong.
3. Phao-lô tìm kiếm lòng thương yêu của họ (Ga 4:12-18)
Phao-lô là một người cha thuộc-linh tuyệt vời ông biết cách cân bằng giữa sự quở trách với tình yêu. Bây giờ ông chuyển từ “hình phạt” sang “hành động yêu thương” khi ông nhắc các tín-hữu nhớ lại lòng yêu thương của họ dành cho ông và lòng yêu thương của ông dành cho họ.
Có lúc họ sẵn lòng dâng bất cứ điều gì cho Phao-lô, lòng yêu thương của họ quả là lớn lao nhưng bây giờ ông đã trở thành kẻ thù của họ. Người theo đạo Do-thái đã len vào đánh cắp lòng yêu thương của họ.
Các nhà giải-kinh ao ước Phao-lô đã nói rõ ràng hơn ở đây, vì chúng ta không chắc ông đang nói về những sự kiện nào. Khi Phao-lô thăm viếng họ, ông đang chịu đau đớn vì nỗi khổ nào đó về xác thịt.
Như đã thấy trong chương một, nếu Phao-lô viết thư này cho các Hội thánh miền nam Ga-la-ti, thì ông muốn nhắc đến chuyến hành trình truyền-giáo lần thứ nhất của ông, được ghi lại trong Công 13:1-14:28.
Rõ ràng Phao-lô không có ý dịnh đến thăm những thành phố này, nhưng ông buộc phải đến vì lý-do sức khỏe. Chúng ta chỉ có thể suy đoán những việc liên quan đến điều này. Một số người cho rằng ông bị sốt rét những người khác nghĩ ông bị đau mắt (Ga 4:15). Cho dù lý-do gì, chắc chắn đã làm cho bộ dạng của Phao-lô có phần tiều tụy vì ông khen-ngợi tín-hữu Ga-la-ti về cách họ tiếp đãi ông mặc dầu ông bệnh tật.
Đối với họ, Phao-lô là thiên-sứ của Đức Chúa Trời. Thật là một việc tuyệt vời khi người ta chấp nhận tôi-tớ Đức Chúa Trời không vì dáng dấp bên ngoài nhưng vì họ đại diện cho Chúa mang sứ-điệp của Ngài đến cho con người.
Bây giờ Phao-lô hỏi họ: “Điều gì đã xảy ra cho tình yêu thương ấy? Điều gì đã xảy ra cho sự thiêng-liêng - niềm hạnh phúc - anh em đã từng-trải khi nghe Phúc-Âm và tin nhận Đấng Christ?”
Dĩ nhiên, Phao-lô biết những gì đã xảy ra: người theo đạo Giu-đa đã len lỏi vào và đánh cắp tấm lòng của họ.
Một trong những dấu hiệu của một giáo-sư giả là tìm đủ cách để lôi kéo các tín-hữu của người khác theo mình, chớ không đơn giản là chỉ đưa họ đến với chân-lý hay thân vị của Đấng Christ.
Không phải giáo-sư Do-thái đến Ga-la-ti và dắt dẫn họ đến với Đấng Christ nhưng chính Phao-lô đã làm việc ấy.
Giống như các hệ-phái ngày nay, các giáo-sư giả này không chinh-phục người hư-mất về cho Đấng Christ, nhưng đánh cắp chiên của những người chăn thật của Đức Chúa Trời. Phao-lô đã chứng tỏ là người bạn yêu thương của họ. Ông đã “trở nên giống như họ” (Ga 4:12). Bây giờ họ quay mặt khỏi Phao-lô và chạy theo người chăn giả.
Phao-lô truyền cho họ chân-lý, nhưng giáo-sư Do-thái nói cho họ sự dối trá. Phao-lô tìm cách làm vinh-hiển Chúa Giê-xu Christ, nhưng người Do-thái tôn-vinh họ và những người theo mình.
“Những người đó vì anh em mà sốt sắng, thì không phải là ý tốt nhưng họ muốn anh em lìa bỏ chúng tôi, hầu cho anh em sốt sắng vì họ” (Ga 4:17).
Một tôi-tớ thật của Đức Chúa Trời không “sử dụng con người” để tự đề cao mình hay công việc của mình người ấy phục-vụ bằng tình yêu để giúp người ta biết Đấng Christ rõ hơn và ngợi-khen Ngài.
Hãy coi chừng những người làm việc cho tôn-giáo muốn lòng trung-thành tuyệt đối của anh em vì họ cho rằng mình là người duy nhất đúng. Người ấy sẽ dùng anh em bao lâu người ấy có thể và rồi bỏ rơi anh em cho người khác - và sự sa ngã của anh em sẽ là sự đau đớn. Nhiệm-vụ của người lãnh đạo thuộc-linh là khiến người khác kính mến và theo Đấng Christ, chớ không tự đề cao bản thân và chức-vụ của mình.
“Bạn hữu làm cho thương tích, ấy bởi lòng thành-tín Còn sự hôn hít của kẻ ghen ghét lấy làm giả ngụy” (Ch 27:6). Phao-lô đã nói cho họ biết chân-lý để chứng tỏ lòng yêu thương của ông đối với người Ga-la-ti nhưng họ không chấp nhận. Họ thích “những cái hôn” của người Do-thái, và không nhận ra những nụ hôn này đang đưa họ đến nô-lệ và buồn rầu. Đấng Christ đã khiến họ nên con cái và người kế-tự, nhưng họ nhanh chóng trở thành nô-lệ và những nguời ăn mày.
Họ đã đánh mất kinh nghiệm của sự cứu rỗi - họ vẫn là Cơ-đốc nhân, không tận hưởng niềm vui của ơn cứu-rỗi và thay vào đó họ tìm sự thỏa mãn qua việc làm. Buồn thay, họ không nhận ra sự mất mát của mình. Họ thật sự nghĩ rằng mình đang trở thành Cơ-đốc nhân tốt hơn khi thay thế ân-điển bằng lu ật-pháp, và dùng những hành vi tôn-giáo của xác thịt thế cho bông trái của Thánh Linh.
Đời sống Cơ-đốc của bạn có đang hướng vào tự-do hay lui vào ách nô-lệ? Hãy suy nghĩ cẩn thận trước khi trả lời.
8. HÃY GẶP MẸ CỦA BẠN (Ga 3:19-31)
Làm cha mẹ dường như chúng ta chẳng bao giờ phát triển nhanh hơn con cái mình .“Khi còn bé, con cái chúng ta chỉ bằng nắm tay nhưng lúc lớn khôn, chúng chiếm đầy trong trái tim!” Tôi nhớ lại lời mẹ tôi nói: “Khi con cái còn nhỏ, chúng dẫm trên chân của con nhưng khi chúng trưởng thành, chúng đè nặng lên trái tim con.”
Đây là những gì Phao-lô đang trải qua khi ông tìm cách giúp tín-hữu Ga-la-ti thoát khỏi cuộc sống tâm-linh rối reng. Lúc mới đến với họ bằng Phúc-Âm, ông đã “cố gắng khó nhọc” để nhìn thấy họ trở lại với Chúa. Nhưng trên hết, Đức Chúa Giê-xu đã chịu khốn khổ trên thập-tự giá để có thể làm nên sự cứu rỗi cho họ (Ês 53:11), sự đau đớn của Phao-lô không đáng so sánh chút nào.
Nhưng bây giờ người Ga-la-ti đang quay trở lại với việc làm của luật-pháp và trải qua bước đi “trẻ con lần thứ hai” Phao-lô lại phải chịu đau đớn vì họ. Ông mong mỏi nhìn thấy Đấng Christ thành hình trong họ, y như chúng ta những người làm cha mẹ đợi chờ con cái trưởng thành trong ý muốn Đức Chúa Trời.
Vì người Do-thái viện dẫn luật-pháp, nên Phao-lô chấp nhận thách thức của họ và dùng luật-pháp để minh-chứng cho họ thấy Cơ-đốc nhân không ở dưới quyền luật-pháp. Ông dùng câu chuyện quen thu ộc nói về Ích-ma-ên và Y-sác (Sa 16:1-21:34) và rút ra những chân-lý căn-bản về mối liên-hệ của Cơ-đốc nhân với Luật-pháp Môi- se.
Các sự kiện miêu tả trong Kinh Thánh thực sự đã diễn ra, nhưng Phao-lô dùng chúng như một ẩn-dụ, một chuyện ẩn tàng một ý nghĩa sâu sắc. Có lẽ ẩn-dụ nổi tiếng nhất trong tiếng Anh là “Thiên Lộ Lịch Trình” của John Bunyan, trong đó Bunyan lần theo dấu vết từng trải của Cơ-đốc nhân từ thành phố hủy diệt đến thiên-đàng.
Trong ẩn-dụ, con người và hành động tiêu biểu cho những ý nghĩa tiềm ẩn, vì vậy câu chuyện có thể đọc ở hai mức-độ: nghĩa đen và nghĩa bóng.
Việc Phao-lô dùng Sáng-thế-ký trong phần này không cho phép chúng ta tìm “các ý nghĩa tiềm ẩn” trong tất cả sự kiện của Kinh Thánh Cựu-ước. Nếu dùng cách hiểu như vậy đối với Kinh Thánh, chúng ta có thể khiến Kinh Thánh thật sự mang ý nghĩa theo bất cứ điều gì chúng ta thích.
Từ điều này phát sinh nhiều lời dạy dỗ sai trật. Đức Thánh Linh thần cảm cho Phao-lô thấy rõ ý nghĩa giấu kín của câu chuyện chép trong Sáng-thế ký. Chúng ta phải luôn luôn giải nghĩa Kinh Thánh Cựu-ước trong ánh sáng của Tân-ước, nơi nào Kinh Thánh Tân-ước cho phép, chúng ta có thể tra cứu ý nghĩa ẩn giấu của Cựu-ước. Nếu không, chúng ta nên thừa nhận lời phán rõ ràng của Kinh Thánh và không tìm cách “thiêng-liêng hóa” mọi sự.
1. Các sự kiện lịch-sử (Ga 4:19-23)
Có lẽ cách dễ nhất để hiểu rõ câu chuyện lịch-sử là phải lần theo dấu vết từng trải của Áp-ra-ham được ghi lại trong Sa 12:1-21:34. Dùng tuổi tác của ông làm người dẫn đường, chúng ta sẽ theo dấu vết các sự kiện mà Phao- lô dựa vào để lập-luận cho sự tự-do Cơ-đốc.
-Năm 75 tuổi - Áp-ra-ham được Đức Chúa Trời kêu gọi đến xứ Ca-na-an và Đức Chúa Trời hứa ban cho ông nhiều con cháu (Sa 12:1-9). Cả Áp-ra-ham và vợ, Sa- ra, đều muốn có con, nhưng Sa-ra son sẻ. Đức Chúa Trời đợi chờ cho đến khi cả hai ông bà “không còn hy vọng” mới thực hiện phép-lạ ban cho họ một con trai (Rô 4:16-25).
-Năm 85 tuổi - Con trai lời-hứa chưa đến, vì vậy Sa-ra nóng lòng. Bà gợi ý Áp-ra-ham cưới nàng A-ga, nàng hầu của mình, để giữa người này có thể có con trai. Việc làm này đúng pháp-luật với xã hội thời ấy, nhưng không theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Áp- ra-ham làm theo lời đề nghị của Sa-ra và cưới A-ga (Sa 16:1-3).
-Năm 86 tuổi - nàng A-ga mang thai và Sa-ra ghen tức! Trong gia đình quá căng thẳng đến nỗi Sa-ra đuổi A-ga ra khỏi nhà. Nhưng Chúa can thiệp, đưa A-ga trở lại và hứa săn-sóc nàng cùng con trai của nàng. Khi Áp-ra-ham 86 tuổi, A-ga sinh con trai và ông đặt tên là Ích-ma-ên (Sa 16:4-16).
-Năm 99 tuổi - Đức Chúa Trời lại phán hứa với Áp-ra-ham rằng ông sẽ có con trai do Sa-ra sanh ra và ông phải đặt tên là Y-sác. Về sau, Đức Chúa Trời lại hiện ra và nhắc lại lời-hứa với Sa-ra (Sa 17:1-18:33).
-Năm 100 tuổi - Con trai lời-hứa sanh ra (Sa 21:1-7). Ông bà đặt tên là Y- sác (có nghĩa là “vui cười”) như Đức Chúa Trời đã truyền-lệnh. Nhưng sự ra đời của Y-sác tạo nên một khó khăn mới trong gia đình: Ích-ma-ên ganh tị trêu chọc.
Trong 14 năm, Ích-ma-ên là con trai duy nhất của cha ông, rất thân thiết với cha. Chúng ta nghĩ Ích-ma-ên sẽ phản ứng thế nào với sự có mặt của một đối thủ?
-Năm 103 tuổi - Theo phong tục, người Do-thái cho con thôi bú khoảng ba tuổi, và nhân dịp ấy mở tiệc ăn mừng. Tại buổi tiệc mừng, Ích-ma-ên bắt đầu trêu chọc Y-sác (Sa 21:8) gây rắc rối trong gia đình. Chỉ có một biện pháp duy nhất để dàn xếp sự rắc rối, và một giá phải trả: A-ga và con trai của nàng phải ra đi. Áp-ra-ham buồn lòng để cho con mình ra đi, vì đây là điều Chúa phán dạy ông phải làm (Sa 21:9-14).
Nhìn bề ngoài, câu chuyện này có vẻ không hơn gì một chuyện cổ tích nói về một rắc rối trong gia đình, nhưng bên trong có nhiều ý nghĩa chứa đựng năng quyền thuộc linh lớn lao. Áp-ra-ham, hai người vợ, và hai con trai tiêu-biểu cho các thực trạng thuộc-linh và các mối quan hệ của họ dạy chúng ta nhiều bài học.
2. Chân lý thuộc linh (Ga 4:24-29)
Bây giờ Phao-lô giải thích những ý nghĩa thuộc linh tiềm ẩn chứa đằng sau các sự kiện lịch-sử này có thể được phân loại như sau:
GIAO ƯỚC CŨ-Luật pháp | GIAO ƯỚC MỚI-Ân điển |
A-ga người nữ nô lệ | Sa-ra, người nữ tự chủ |
Ích-ma-ên, được sinh ra theo ý muốn xác thịt. | Y-sác, được sinh ra cách lạ lùng |
Giê-ru-sa-lem trên đất trong ách nô lệ. | Giê-ru-sa-lem trên trời, được tự do. |
Phao-lô bắt đầu bằng hai người con trai, Ích-ma-ên và Y-sác (Ga 4:22-23), và giải thích rằng họ minh họa cho 2 sự sinh ra: sinh ra về phần xác làm chúng ta thành tội-nhân và sinh ra về phần thiêng-liêng khiến chúng ta trở nên con cái Đức Chúa Trời.
Khi nghĩ về điều này và đọc trong Sa 21:1-12, bạn sẽ khám phá ra một số chân-lý thuộc-linh kỳ diệu nói về ơn cứu-rỗi của b ạn.
Y-sác minh họa cho tín-hữu nói riêng.
• Ông được sinh ra bởi quyền phép Đức Chúa Trời.
Thực ra, Đức Chúa Trời cố ý chờ đợi 25 năm mới ban con trai cho ông bà Áp-ra-ham và Sa-ra. Y-sác “sanh ra theo Thánh Linh” (Ga 4:29), và dĩ nhiên, Cơ-đốc nhân “được sanh bởi Thánh Linh” (Gi 3:1-7).
Y-sác chào đời bởi Áp-ra-ham (người đại diện cho đức-tin, Ga 3:9) và Sa-ra (người đại diện cho ân-điển) để được sinh ra “nhờ ân-điển...bởi đức-tin” như mọi Cơ-đốc nhân thật khác (Êph 2:8-9).
• Ông đem lại sự vui mừng.
Tên của Y-sác có nghĩa là “sự vui cười”, chắc chắn cậu bé Y-sác đã đem lại niềm vui mừng cho cha mẹ đã có tuổi. Cứu rỗi là một kinh nghiệm vui mừng, không chỉ đối với bản thân kẻ tin, nhưng còn đối với người chung quanh nữa.
• Y-Sác lớn lên và thôi bú sữa (Sa 21:8).
Cứu rỗi là sự khởi đầu chớ không phải kết thúc. Sau khi sinh ra, chúng ta phải lớn lên (IPhi 2:2; IIPhi 3:18). Việc dứt sữa xảy ra cùng lúc đứa trẻ lớn khôn: chúng ta phải bỏ đi “những điều thuộc về con trẻ” (ICôr 13:11).
Chúng ta thấy dễ dàng nắm giữ “các điều sơ học” của những ngày đầu mới tin Chúa và không sở hữu được những “khí mạnh” của Cơ-đốc nhân trưởng thành. Trẻ con không thích bị cho thôi bú, nhưng nó không thể nào trở thành người lớn cho đến khi nào chịu dứt sữa. (Thi 131:1-3).
• Ông bị bắt bớ (Sa 21:9).
Ích-ma-ên (con trai theo xác thịt) đã gây phiền toái cho Y-sác, giống như bản chất cũ gây khó khăn cho chúng ta. (Phao-lô sẽ đề cập chi tiết trong Ga 5:16). Ích-ma-ên không tạo nên rắc rối nào trong gia đình cho đến lúc Y-sác sinh ra, giống như con người cũ không gây phiền toái cho chúng ta cho đến khi chúng ta mặc lấy người mới và tuân-phục Đấng Christ.
Trong gia đình của Áp-ra-ham chúng ta thấy những xung đột cơ-bản mà Cơ-đốc nhân ngày nay đối diện:
-A-ga chống lại Sa-ra = Luật-pháp nghịch lại với Ân-điển.
-Ích-ma-ên nghịch lại với Y-sác = Xác thịt nghịch với Thánh Linh.
Thật là quan-trọng khi biết rằng chúng ta không thể phân rẽ 4 yếu tố này.
Người Do-thái dạy rằng luật-pháp làm cho tín-hữu thiêng-liêng hơn, nhưng Phao-lô nói rõ luật-pháp chỉ sinh ra tranh chiến xác thịt bên trong đời sống Cơ-đốc nhân (Rô 7:19).
Không có luật-pháp nào đủ mạnh để thay đổi hoặc kiềm chế Ích- ma-ên, nhưng Y-sác chẳng hề cần đến luật-pháp nào. Người ta nói rằng, “Bản chất cũ không biết luật-pháp và bản chất mới không cần luật-pháp.”
Phao-lô đã giải thích ý nghĩa của 2 người con trai, bây giờ ông giải thích đến hai người vợ, Sa-ra và A-ga. Phao-lô muốn minh họa những nét tương phản giữa Luật-pháp và Ân-điển và chứng-tỏ rằng người tin Chúa không ở dưới luật-pháp nhưng ở dưới tự-do của yêu thương đến từ ân-điển Đức Chúa Trời.
Hãy chú ý các sự kiện về A-ga để thấy luật-pháp không còn quyền hạn gì trên Cơ-đốc nhân nữa.
A-ga là vợ thứ của Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời không bắt đầu từ A-ga Ngài bắt đầu với Sa-ra.
Theo cách Ngài đối đãi với con người, Đức Chúa Trời bắt đầu bằng ân-điển của Ngài.Trong vườn Ê-đen, Đức Chúa Trời chu-cấp cho A-đam và Ê-va bằng ân-điển. Thậm chí sau khi họ phạm-tội, Ngài cũng dự bị cho họ áo bằng da con thú để che thân trong ân-điển của Ngài (Sa 3:21).
Ngài không ban cho họ luật-pháp phải tuân-theo để làm phương pháp cứu-rỗi thay vào đó, Ngài ban lời-hứa trong ân-điển để họ tin theo: lời-hứa về Đấng Cứu Chuộc Toàn Thắng (Sa 3:15).
Trong mối tương-giao của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên cũng vậy, Đức Chúa Trời hành động trên nền tảng của ân-điển chớ không phải luật-pháp.
Giao-ước Ngài lập với Áp-ra-ham (Sa 15) thuộc về ân-điển, vì Áp-ra-ham nằm ngủ mê trong khi Ngài lập giao-ước với ông. Khi Đức Chúa Trời giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, điều đó cũng đặt nền tảng trên ân-điển chớ không phải luật-pháp vì lúc bấy giờ luật-pháp chưa được ban xuống.
Giống như A-ga, vợ thứ của Áp-ra-ham, luật-pháp “được thêm vào” (Ga 3:19). A-ga đóng vai trò tạm thời, và rồi lui khỏi, giống như luật-pháp thực hiện chức năng đặc biệt của nó và sau đó được cất bỏ đi (Ga 3:24-25).
• A-ga là một nô-lệ.
Trong phần này nàng được gọi là “người nữ tôi-mọi” hay “người nữ nô-lệ” (Ga 4:22-23,30-31). Sa-ra là người nữ tự-do, và vì vậy địa vị của nàng là người tự-do nhưng A-ga, mặc dầu lấy Áp-ra-ham làm chồng nhưng vẫn còn là đầy-tớ.
Cũng vậy, luật-pháp được ban-cho như một đầy-tớ. “Vậy thì luật-pháp phục vụ điều gì?” (Ga 3:19).
Luật-pháp đóng vai trò như chiếc gương soi chỉ ra tội-lỗi của con người (Rô 3:20), như một thầy-giáo canh giữ con người và cuối cùng dẫn họ đến với Đấng Christ (Ga 3:23-25) nhưng luật-pháp không bao giờ được coi như người mẹ!
• A-ga vốn không được định sinh con.
Việc Áp-ra-ham cưới Sa-ra ngoài ý định của Đức Chúa Trời đó là kết quả của lòng vô-tín và không kiên nhẫn của Sa-ra và Áp-ra-ham. A-ga cố gắng làm những gì chỉ có Sa-ra mới thực hiện được và nàng đã thất bại.
Luật-pháp không thể ban sự sống (Ga 3:221), hoặc sự công-bình (Ga 2:21), hoặc ân-tứ Thánh Linh (Ga 3:2), hoặc cơ-nghiệp thiêng-liêng (Ga 3:18).
Y-sác sinh ra làm con thừa-tự của Áp-ra-ham (Sa 21:10), nhưng Ích-ma-ên không thể dự-phần trong cơ nghiệp được. Người Do-thái cố làm cho A-ga trở thành người mẹ, trong khi Phao-lô đang nặng lòng vì tín-hữu của ông để họ có thể ngày càng giống Đấng Christ hơn.
Tôn-giáo hoặc luật-lệ nhiều đến đâu cũng không thể đem sự sống đến cho tội-nhân chết mất. Chỉ có Đấng Christ mới có thể làm điều đó bởi Phúc-Âm.
• A-ga sinh ra một nô-lệ.
Ích-ma-ên là một “người hoang dã” (Sa 16:12), và mặc dù là một nô-lệ, không ai có thể trị-phục người được, kể cả mẹ anh ta. Giống như Ích-ma-ên, con người cũ (xác thịt) đang tranh chiến với Đức Chúa Trời, và luật-pháp không thể thay đổi hoặc cai trị nó.
Bởi bản chất, Thánh Linh và xác thịt “trái nghịch nhau” (Ga 5:17), và dù có nhiều hoạt động tôn-giáo bao nhiêu cũng không thay đổi được bức tranh. Bất kỳ ai chọn A-ga (Luật-pháp) làm người mẹ của mình sẽ trải qua ách tôi-mọi (Ga 4:8-11,22-25,30-31 Ga 5:1). Nhưng ai chọn Sa-ra (Ân-điển) làm mẹ sẽ hưởng tự-do trong Đấng Christ.
Đức Chúa Trời muốn con cái Ngài được tự-do (Ga 5:1).
• A-ga bị đuổi đi.
Chính Sa-ra ra-lệnh: “Hãy đuổi con đòi với con nó đi đi” (Sa 21:9-10), và sau đó Đức Chúa Trời chấp thận điều đó (Sa 21:12). Ích-ma- ên đã ở trong nhà ít nhất 17 năm, nhưng người không được ở lâu cuối cùng ông phải bị đuổi ra khỏi nhà. Trong gia đình không có chỗ dành cho A-ga và Ích-ma-ên cùng với Sa-ra và Y-sác hai người phải ra đi.
Luật pháp và ân-điển, xác thịt và Thánh Linh không thể thỏa hiệp sống chung với nhau được. Đức Chúa Trời không đòi hỏi A-ga và Ích-ma-ên thỉnh thoảng ghé thăm gia đình sự chấm dứt mối quan-hệ này là vĩnh viễn.
Người Do-thái trong thời Phao-lô - và trong thời đại chúng ta ngày nay - đang cố sức hòa hợp Sa-ra với A-ga, Y-sác với Ích-ma-ên sự hòa hợp ấy trái với Lời Đức Chúa Trời. Không thể nào pha trộn luật-pháp với ân-điển, đức-tin với việc làm, sự công-bình do Đức Chúa Trời ban cho với nổ lực tìm kiếm công-bình của con người.
• A-ga không lập gia đình trở lại.
Đức Chúa Trời không bao giờ ban luật-pháp cho bất kỳ quốc gia hay dân-tộc nào, kể cả Hội thánh của Ngài. Vì giáo-sư Do-thái áp đặt luật-pháp lên tín-hữu Ga-la-ti là chống lại chính kế hoạch của Đức Chúa Trời.
Vào thời Phao-lô, đất nước Y-sơ-ra-ên ở dưới ách của luật-pháp, trong khi Hội thánh đang hưởng tự-do trong ân-điển của “Giê-ru-sa-lem trên trời” (Ga 4:26).
Giáo sư Do-thái muốn “kết giao” núi Si-na-i với Núi Si-ôn trên trời (Hêb 12:22), nhưng làm điều này sẽ phủ nhận những gì Chúa Giê-xu đã làm tại Đồi Gô-gô-tha (Ga 2:21).
A-ga không được cưới trở lại.
Từ quan-điểm của con người, dường như có vẻ nhẫn tâm khi Đức Chúa Trời phải ra-lệnh Áp-ra-ham đuổi người con trai ông rất mực yêu thương. Nhưng đó là giải pháp duy nhất cho nan-đề, vì “đứa con hoang” không thể nào sống chung với con của lời-hứa được.
Tuy nhiên, trong cái nhìn sâu xa hơn, hãy nghĩ đến cái giá Đức Chúa Trời phải trả khi ban Con Ngài gánh chịu sự rủa sả của luật-pháp để giải phóng chúng ta được tự-do.
Tấm lòng đau đớn của Áp-ra-ham dẫn đến tự-do cho Y-sác Đức Chúa Trời ban-cho Con Ngài đưa đến tự-do của chúng ta trong Đấng Christ.
3. Những phước hạnh thực tế (Ga 4:30-31)
Giống như Y-sác, Cơ-đốc nhân chúng ta là những con cái của lời-hứa bởi ân-điển. Giao-ước của ân-điển, được vẽ nên bởi Sa-ra, là mẹ thiêng-liêng của chúng ta. Luật-pháp và bản chất cũ (A-ga và Ích-ma-ên) muốn buộc tội và đem chúng ta vào trong ách nô-lệ. Chúng ta phải giải quyết vấn-đề này bằng cách nào?
Chúng ta có thể tìm cách thay đổi luật-pháp và bản chất cũ. Điều này phải thất bại, vì không thể nào thay đổi luật-pháp và con người cũ.
“Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt” (Gi 3:6), và chúng ta có thể nói thêm rằng, xác thịt luôn luôn là xác thịt. Đức Chúa Trời không tìm cách biến đổi Ích-ma-ên và A-ga, bằng sức mạnh hoặc bằng giáo dục bạn và tôi cũng không thể thay đổi con người cũ và luật-pháp được.
Chúng ta có thể tìm cách thỏa hiệp với luật-pháp và con người cũ. Điều này không thực hiện trong gia đình của Áp-ra-ham, và cũng không xảy ra trong đời sống chúng ta.
Tín-hữu Ga-la-ti đang ra sức đem lại sự thỏa hiệp như thế, nhưng điều đó chỉ dần dần đưa họ đến ách nô-lệ. Các giáo-sư giả ngày nay nói với chúng ta, “Đừng lìa bỏ Đấng Christ nhưng hãy đi vào đời sống Cơ-đốc nhân sâu-nhiệm bằng cách thực hành luật-pháp kết hợp với đức-tin đặt nơi Đấng Christ”.
Hãy mời A-ga và Ích-ma-ên trở về nhà. Nhưng đây chỉ là lối mòn trở lại kiếp nô-lệ: “Sao còn trở hướng về lề thói hèn yếu nghèo nàn đó mà suy phục nữa ư?” (Ga 4:9).
Chúng ta có thể đuổi luật-pháp và xác thịt ra khỏi. Đây là những gì chúng ta nên làm.
Trước hết, Phao-lô áp dụng điều này cho dân-tộc Y-sơ-ra-ên (Ga 4:25-27) sau đó ông dành cho cá nhân tín-hữu. Dân-tộc Y-sơ-ra-ên đã ở trong ách nô-lệ dưới luật-pháp, nhưng đây chỉ là việc tạm thời, chuẩn bị họ cho sự ra đời của Đấng Christ. Bây giờ Đấng Christ đã đến, luật pháp phải ra đi. Giống như Y-sác, Chúa Giê-xu Christ là con của lời-hứa, được sanh ra bởi quyền-phép mầu-nhiệm của Đức Chúa Trời. Một khi Ngài đã đến và chết thay cho con người, thì luật-pháp phải ra đi.
Phao-lô trích dẫn Ês 54:1, lời tiên-tri ứng-dụng cho Sa-ra bị son sẻ trước khi sanh Y-sác nhưng cũng ứng dụng cho Hội thánh (Ga 4:27).
Hãy lưu ý sự khác biệt:
Y-SƠ-RA-ÊN | HỘI THÁNH |
Giê-ru-sa-lem trên đất | Giê-ru-sa-lem trên trời |
nô lệ | tự do |
việc làm luật pháp khô cứng | ân điển sanh bông trái |
