top of page
Các...
...môn-đệ không xem người mù là đối tượng đáng thương xót, nhưng chỉ xem anh ta như một đề tài cho cuộc bàn luận về thần học. Con người thật dễ dàng bàn luận một đề tài mơ hồ như “tội lỗi” hơn là sẵn sàng phục vụ nhu cầu của người khác.
Họ tin chắc rằng sự mù lòa bẩm sinh của người này do tội lỗi của chính anh ta hoặc của cha mẹ anh. Nhưng Chúa không hài lòng với tư tưởng của họ.
Xét cho cùng, mọi nan đề về thân thể con người đều là kết quả của tội lỗi chúng ta trong A-đam. Bởi sự bất tuân A-đam đã đem tội lỗi và sự chết vào thế gian (Rô 5:12). Dầu vậy, phê phán bệnh tật của ai do họ phạm tội ra sao, không thuộc phạm vi và quyền hạn của con người.
Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể biết lý do những người sinh ra bị tàn tật, và chỉ có Ngài mới thay đổi những bệnh tật ấy trở nên nguồn phước hạnh cho con người để quy vinh hiển danh Ngài.
Chắc hẳn người này và cha mẹ anh có lúc đã phạm tội, nhưng Chúa không xem tội lỗi họ là nguyên nhân của sự mù loà. Ngài cũng không phán rằng Đức Chúa Trời muốn người này mù loà để rồi trong những năm sau đó Chúa Giê-xu có thể thực hiện một phép lạ!
Vì trong các nguyên bản không có dùng các dấu chấm câu nên chúng ta có thể tự do đọc Gi 9:3,4 cách này: “Không phải người này phạm tội hay là cha mẹ anh. Nhưng để cho công việc của Đức Chúa Trời phải được thể hiện trong anh ấy, ta phải thực hiện những việc của Đấng đã sai ta, trong lúc còn là ngày”.
Cách chữa lành của Chúa thật kỳ diệu: Ngài thoa bùn trên mắt người mù và bảo anh ta đi rửa. Trước đó Chúa đã ch ữa lành cho hai người mù chỉ bằng hành động rờ mắt họ (Mat 9:27-31), và chữa cho một người mù khác bằng cách thấm nước miếng trên mắt người ấy (Mac 8:22-26). Dù có quyền năng chữa bệnh không thay đổi, nhưng Chúa chữa bệnh theo những phương cách khác nhau, nếu không con người sẽ quan tâm đến cách chữa bệnh rồi không nhận được thông-điệp của Ngài qua sự chữa bệnh.
Có ít nhất 2 lý do Chúa dùng đến bùn đất.
-Thứ nhất, đây là hình ảnh về thành nhục thể. Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người đầu tiên từ bụi đất và Ngài đã sai con Ngài đến trần gian như là một con người thật. Hãy chú ý trọng tâm ý nghĩa của thuật ngữ “Si-lô-ê” “chịu sai đi”, liên hệ với Gi 9:4 “...những việc của Đấng đã sai ta đến” (Gi 3:17,34; Gi 5:36; Gi 7:29; Gi 8:18,42). Chúa dùng hình ảnh đơn sơ này chỉ về việc Ngài được Cha sai đến thế gian.
-Lý do hai, bùn đất là thứ gây khó chịu, khích lệ người mù tin và vâng l ời. Khi mắt bạn bị ngứa ngáy khó chịu, bạn sẽ mau mắn chạy đi rửa sạch. Bạn có thể so sánh “sự khó chịu” này với sự cáo trách của Đức Thánh Linh khi Ngài dùng luật-pháp Đức Chúa Trời để xét đoán tội nhân.
Nhưng giờ đây vấn đề cần được quan tâm lại là sự nhận dạng: phải chăng người này thật sự là người ăn mày mù? Ai đã khiến người ấy thấy được? Ở phần cuối đoạn 9 một mâu thuẫn xảy ra quanh 2 thắc mắc ấy. Các lãnh đạo tôn giáo không muốn đối diện với sự thật rằng Chúa Giê-xu đã chữa lành cho người mù này và anh ta đã thấy.
Ở đoạn này, người ta hỏi người mù đến 4 lần: “Tại sao mắt ngươi đã mở được?” (Gi 9:10,15,19,26). Đó là những người hàng xóm và người Pha-ri-si. Chưa hài lòng với câu trả lời của người mù, người Pha-ri-si lại tiếp tục chất vấn cha mẹ anh và chính anh một lần cuối.
Mọi điều này trông có vẻ hợp lý và hữu hiệu, nhưng đó là thủ đoạn né tránh (không muốn đối diện sự thật) của dân chúng và các nhà lãnh đạo. Người Pha-ri-si không tin chứng cớ này, còn dân chúng sợ nói ra sự thật. Họ đều đặt một câu hỏi không hợp lý! Lẽ ra họ không nên hỏi rằng “thế nào?” nhưng phải hỏi “ai...?” Nhưng chúng ta thường có khuynh hướng hỏi “Thế nào” vì muốn hiểu được “quy trình” của một phép lạ thay vì chỉ tin nơi Đấng Christ, Đấng duy nhất có thể thực hiện phép lạ ấy.
Ni-cô-đem muốn biết làm thế nào để trở vào lòng mẹ (Gi 3:4,9). “Lẽ nào người này lấy thịt mình cho chúng ta ăn sao” (Gi 6:50). Dù có thể hiểu được quy trình của phép lạ, cũng không chắc rằng chúng ta đã kinh nghiệm được phép lạ ấy.
Khi được yêu cầu kể lại phép lạ, người mù được chữa lành này chỉ kể vắn tắt những điều xảy ra. Anh ta chỉ biết người đã chữa lành cho mình “tên gọi là Giê-xu”. Anh chưa từng thấy Chúa nhưng dĩ nhiên đã nghe được tiếng Ngài. Anh ta không chỉ không biết về nhân thân của Chúa mà còn không biết Ngài đi đâu. Lúc này, anh được chữa lành nhưng vẫn chưa được cứu rỗi. Sự sáng đã lố dạng, nhưng sẽ còn rạng rỡ hơn cho đến khi anh ta gặp được mặt Chúa và thờ phượng Ngài (Ch 4:18).
Có ít nhất 12 lần trong Phúc-âm Giăng, Chúa Giê-xu được gọi là “người” (Gi 4:29; Gi 5:12; Gi 8:40; Gi 9:11,24; Gi 10:33; Gi 11:47,50; Gi 18:14,17,29; Gi 19:5).
Sứ-đồ Giăng khẳng định Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời, đồng thời ông cũng nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giê-xu là con người thật. Sự hiện thân của Ngài không phải là một ảo ảnh! (IGi 1:1-4).
2. “Một Đấng tiên-tri” (Gi 9:13-23)
Những người Pha-ri-si vốn là người quan tâm đến niềm tin tôn giáo, nên việc chất vấn người được chữa lành là điều hợp lẽ. Họ tìm hiểu về phép lạ này từng chi tiết, càng chứng minh rằng Chúa Giê-xu thật đã chữa lành người mù. Vốn mù lòa từ lúc mới sinh, phép lạ kỳ diệu này đã khiến sự tối tăm bệnh tật của anh ta biến mất trong phút chốc! Kẻ thù Chúa luôn xem xét tỉ mỉ những phép lạ Ngài thực hiện.
Tuy vậy, hành động chữa bệnh trong ngày Sa-bát của Chúa cũng gây sự chú ý thường xuyên cho người Pha-ri-si. Làm việc trong ngày Sa-bát là phạm luật, vì vậy qua hành động hòa bùn, xức bùn và chữa lành người mù, Chúa Giê-xu bị xem là đã làm ba “công việc” phạm luật! Thay vì phải ngợi khen Đức Chúa Trời, người Pha-ri-si cố tìm chứng c ớ để bắt bớ Chúa Giê-xu.
Khi con người không muốn đối diện với sự thật nhưng lẩn tránh vấn đề vì sợ hãi (Gi 9:22), sẽ không thể nào có một kết luận thống nhất được. Lần nữa, Chúa Giê-xu là nguyên nhân của sự chia rẽ (Gi 9:16; Gi 7:12,13). Các lãnh đạo tôn giáo xét đoán trên cơ sở duy nhất: không ai phạm luật Sa-bát có thể là tiên-tri thật của Đức Chúa Trời. Họ là những con người có suy nghĩ phiến diện, chẳng khác gì một số người trong giáo hội hôm nay. Người Pha-ri-si không biết rằng Chúa Giê-xu muốn ban cho dân sự một điều kỳ diệu hơn cả ngày Sa-bát, đó là sự yên nghỉ thuộc linh từ Đức Chúa Trời (Mat 11:28-30).
Người mù được lành không sợ hãi trước sự ngăm đe của người Pha-ri-si. Khi được hỏi về suy nghĩ của bản thân đối với Chúa Giê-xu, anh ta dạn dĩ đáp “Ấy là một đấng tiên-tri” (Gi 9:17b). Một số tiên-tri thời Cựu-ước như Môi-se, Ê-li, Ê-li-sê đã làm được phép lạ. Dân Do-thái xem các tiên-tri như người thuộc về Đức Chúa Trời, có thể làm những việc kỳ diệu bởi quyền năng Đức Chúa Trời ban cho.
Dầu vậy, các lãnh đạo tôn giáo không muốn người ta tôn Chúa bằng danh hiệu cao quý ấy: “Người này không phải từ Đức Chúa Trời đến đâu...” (Gi 9:16). Có lẽ họ muốn khiến người ta không tin phép lạ Ngài. Nếu vậy, họ sẽ rao với mọi người rằng Ngài đã lập mưu lừa dối dân chúng. Họ khôn khéo cho mọi người tin rằng đây không phải là người vốn mù lòa từ lúc mới sinh.
Cách hay nhất để tạo được chứng cớ giả dối trên, họ phải chất vấn cha mẹ của người ăn xin này. Họ gọi hai ông bà vào và hỏi 2 câu (1) “Đây có quả thật là con trai các ngươi... chăng?” và (2) “Thế thì sao bây giờ nó sáng vậy?” Nếu ông bà không trả lời câu hỏi nào, ông bà sẽ gặp rắc rối. Nếu ông bà trả lời ngược lại sự mong đợi của các lãnh đạo, ông bà cũng gặp trở ngại. Thật là nan giải!
Họ từ tốn đáp câu thứ nhất: “Chúng tôi nhìn biết là con trai chúng tôi đó đã mù từ thuở sanh ra” (Gi 9:20). Nhưng ở câu hỏi thứ hai, họ trả lời một cách tránh né: “...tại làm sao thấy được, thì chúng tôi không rõ, chúng tôi cũng không biết ai mở mắt nó nữa...” (Gi 9:21). Sau đó, họ dùng chiến thuật c ũ gọi là “đùn đẩy trách nhiệm” bằng cách yêu cầu các người Pha-ri-si hỏi trực tiếp con trai họ, vì dù sao “nó đã đủ tuổi! ”
Điều gì ở đằng sau những câu trả lời khôn khéo ấy? Đó là sự sợ hãi con người. Chúng ta đã thấy điều này ở lễ Lều Tạm (Gi 7:13) và sẽ gặp lại lần nữa ở lễ Vượt Qua cuối cùng của Chúa (Gi 12:42). Những người này muốn tìm danh vọng của con người chớ không phải vinh hiển từ Đức Chúa Trời (Gi 5:44).
Chắc hẳn, bị dứt phép thông công trong nhà hội là điều quan trọng, nhưng chối bỏ chân-lý và bị hư mất đời đời là điều còn tệ hại hơn nhiều! “Sự sợ loài người gài bẫy” (Ch 29:25). Người Pha-ri-si muốn gài bẫy Chúa Giê-xu và cha mẹ của người mù cố tránh một cái bẫy khác, nhưng tất cả đang mắc bẫy của chính mình! Ông bà ấy lẽ ra nên hành động theo lời khuyên ở Ês 51:7,12.
Người Pha-ri-si có thể khoe khoang về “tình trạng tốt lành” của họ. Nói chung, họ giữ luật-pháp Môi-se về sự thờ phượng của dân Do-thái hằng bao thế kỷ qua. Nhưng họ không hiểu rằng Chúa Giê-xu đã làm trọn mọi sự luật-pháp đòi hỏi và giờ đây Ngài đang đem đến một điều mới mẻ. Thời Môi-se là thời kỳ chuẩn bị nhưng vào kỳ Chúa Giê-xu, mọi sự được hoàn tất (Gi 1:17).
3. “Người từ Đức Chúa Trời đến” (Gi 9:24-34)
Nôn nóng muốn xét xử, người Pha-ri-si gọi người mù được chữa lành vào, và lần này họ bắt anh phải thề “Hãy ngợi khen Đức Chúa Trời” (Gi 9:24b), là hình thức thề của người Do-thái tại tòa xét xử (Gi 7:19). Tuy nhiên, các quan tòa này đã tạo thành kiến cho mọi người ngay từ đầu! “Chúng ta biết người đó là kẻ có tội”! Họ muốn khuyên anh ta nên hợp tác với tòa án, nếu không, anh ta có thể bị rút phép thông công. Nhưng người này vốn kiên quyết hơn nhút nhát. Từng kinh nghiệm một phép lạ, anh không ngại gì kể lại cho họ mọi điều đã xảy ra.
Anh ta không đề cập đến tính cách Chúa Giê-xu, vì điều đó không thuộc hiểu biết và từng trải của anh. Anh chỉ biết một điều duy nhất: giờ đây anh có thể nhìn thấy. Lời chứng của anh (Gi 9:25) khiến tôi nhớ đến đoạn Thi 27:1-14. Mời bạn đọc đoạn Thi-thiên này trong tinh thần của đoạn 9. Từ quan điểm của người chữa lành, hãy xem: đoạn Kinh Thánh ấy trở nên ý nghĩa biết bao!
Đến lần thứ tư, câu hỏi được đặt ra: “Người mở mắt ngươi thể nào?” (Gi 9:10,15,19 26). Tôi hình dung rằng có lẽ người được chữa lành này đã rất kiên nhẫn đến phút cuối. Xét cho cùng, đời anh từng sống trong tối tăm mù lòa nhưng giờ đây anh đã thấy quá nhiều điều. Hẳn anh không muốn mất thời gian trong một tòa án của nhà hội, nhìn những bộ mặt giận dữ và phải trả lời những câu hỏi cũ rích!
Chúng ta thật đáng khâm phục sự dạn dĩ của người này vì anh đã hỏi những người Pha-ri-si cáu gắt kia rằng họ có muốn đi theo Chúa Giê-xu hay không. Biết trước họ sẽ chối từ, nhưng anh vẫn dạn dĩ hỏi họ điều ấy. Không thể bẻ bác được chứng cớ, các quan tòa bắt đầu “rủa sả” và một lần nữa Môi-se bị đem ra đối chứng! (Gi 5:46). Người Pha-ri-si tự cho mình là người thận trọng, thật ra họ là kẻ “bảo thủ”.
Người có tính dè dặt thật sự sẽ xem xét những điều tốt đẹp nhất trong quá khứ và vận dụng chúng, đồng thời cũng có sự hiểu biết về những điều mới mẻ Đức Chúa Trời đang hành động. Những điều mới đã thay thế những gì cũ kỹ (Mat 13:52). Người bảo thủ thường giữ lại những gì thuộc quá khứ, bảo vệ nó vì không muốn có sự thay đổi nào và nghịch lại những điều mới mẻ Đức Chúa Trời muốn hành động. Nếu người Pha-ri-si thật sự hiểu về Môi-se, có lẽ họ đã hiểu Chúa Giê-xu là ai và công việc của Ngài ra sao.
Các lãnh đạo biết rõ về Môi-se, nhưng không biết gì về Chúa Giê-xu. Họ không biết nguồn gốc của Ngài từ đâu. Chính Ngài đã cho họ biết Ngài từ thiên đàng do Cha trên trời sai đến (Gi 6:33,38,41-42,50-51). Họ cho rằng Ngài là con ruột của bà Ma-ri và ông Giô-sép, người Na-xa-rét (Gi 6:42; Gi 7:41-42). Họ chỉ xét đoán “theo xác thịt” (Gi 8:15) chớ không có cái nhìn sâu sắc về thuộc linh.
Đối với người được chữa lành, anh không thể ngờ rằng những người Pha-ri-si lại không biết ai đã mở mắt cho anh! Đã có mấy ai đi trong thành Giê-ru-sa-lem mở mắt người mù được? Thay vì tìm hiểu về phép lạ, các lãnh đạo tôn giáo này lẽ ra nên tìm hiểu Đấng đã thực hiện phép lạ để biết Ngài. Các “chuyên gia“ này muốn bỏ đi ”Hòn Đá” được ban xuống cho họ (Công 4:12).
Người ăn xin mù đã dạy cho các “chuyên gia” kia một bài thần học thực dụng. Có lẽ anh nhớ đến Thi 66:18 “Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi”, Chúa Giê-xu bị họ gọi là kẻ có tội (Gi 9:24) nhưng Ngài đã được Đức Chúa Trời sử dụng để mở mắt người mù này! Anh cũng bình luận thêm: chính Chúa Giê-xu đã chữa lành một người mù từ thuở lọt lòng mẹ. Đối với mọi người, điều này chưa từng xảy ra trước đó. Đức Chúa Trời không chỉ nhậm lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu mà còn ban cho Ngài quyền năng để khiến người mù được sáng mắt. Như vậy, làm sao có thể nói Chúa Giê-xu là người có tội được?
Những kẻ “cuồng tín” về tôn giáo này không muốn đối diện với chứng cớ hay chân-lý nào, bởi lòng họ đã cứng cỏi. Nếu người Pha-ri-si thật lòng suy xét mọi việc, họ sẽ biết rằng Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, Đấng họ phải nhờ cậy để được cứu rỗi. Các nhà lãnh đạo lại sỉ vả người được chữa lành và xem anh ta là kẻ “sinh trong tội lỗi”.
Dầu vậy, anh ta sẽ không chết trong tội lỗi mình (Gi 8:21,24) vì ở cuối đoạn này, anh đã tin nhận Chúa Giê-xu. Chúng ta thảy đều sinh ra trong tội lỗi (Thi 51:5), nhưng không nhất thiết sẽ sống hoặc chết trong tội lỗi (Côl 3:6,7). Đức tin nơi Chúa Giê-xu sẽ cứu chúng ta khỏi tội và ban cho chúng ta cũng sống tự do đầy vui mừng.
Các lãnh đạo tôn giáo công khai khai trừ người mù ra khỏi nhà hội. Như vậy, anh ta đã bị phân cách khỏi bạn hữu, gia đình và bị dân Do-thái xem như “kẻ có tội”. Nhưng Chúa Giê-xu đã đến với những người bị ruồng bỏ, Ngài chẳng bao giờ để họ cô đơn.
4. Con Đức Chúa Trời (Gi 9:35-41)
Người Chăn Chiên hiền lành luôn luôn chăm sóc bầy chiên mình. Chúa Giê-xu biết người được chữa lành đã bị dứt phép thông công nên Ngài tìm anh để tỏ cho anh về chính Ngài. Bạn nên nhớ rằng anh này biết tiếng nói của Chúa, nhưng chưa hề thấy mặt Ngài.
Giờ đây, sự hiểu biết về Chúa Giê-xu và đức tin của anh này đã đạt đến mức độ cao nhất. Nếu chỉ biết rằng Ngài “tên gọi là Giê-xu” thậm chí là “đấng tiên tri”hay “Người từ Đức Chúa Trời đến”, điều đó vẫn chưa đủ! “Ai tin Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ thì sinh bởi Đức Chúa Trời” (IGi 5:1).
Giăng viết Phúc-Âm này để chứng minh Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, đồng thời trình bày cho độc-giả những chứng cớ về những con người đã gặp Chúa Giê-xu, khẳng định Ngài là Con Đức Chúa Trời. Người ăn xin mù này là một trong số những chứng nhân ấy.
• Chúa Giê-xu xưng Ngài là Con Đức Chúa Trời (Gi 9:35 Gi 5:25). Người ăn xin tin điều ấy nên anh đã được cứu (Gi 9:38), “Chiên ta nghe tiếng ta” (Gi 10:27). Người ăn xin không ở tình trạng “thấy rồi tin”, nhưng “nghe rồi tin”. Không chỉ tin nơi Đấng Christ, anh ta còn thờ lạy Ngài. Nếu Chúa Giê-xu không phải là Đức Chúa Trời, vậy tại sao Ngài chấp nhận sự thờ phượng ấy? Sứ-đồ Phi-e-rơ, Phao-lô, Ba-na-ba hẳn đã không chấp nhận người khác thờ lạy họ như vậy (Công 10:25-26; Công 14:11-15).
Giăng Báp-tít từng khẳng định Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời (Gi 1:31), Na-tha-na-ên cũng vậy (Gi 1:49). Chúa Giê-xu tuyên bố về Ngài với danh xưng “Con Đức Chúa Trời” (Gi 5:25; Gi 9:35), Phi-e-rơ xác nhận điều ấy (Gi 6:69). Giờ đây người ăn xin mù được chữa lành đã gia nhập vào nhóm chứng nhân ấy.
Khi Chúa đi đến đâu, người Pha-ri-si đều tìm cách đến đó mong có thể bắt bẻ Ngài trong lời nói và việc làm. Hiểu lòng họ, Chúa Giê-xu kết thúc tình tiết này bằng một bài giảng ngắn gọn nhưng sâu sắc về sự mù lòa thuộc linh.
• Gi 9:39 không hề mâu thuẫn với Gi 3:16-17.
Mục đích Chúa đến thế gian để cứu rỗi con người, nhưng kết quả của sự kiện Ngài đến thế gian khiến một số kẻ không tin sẽ bị kết án. Cùng một mặt trời khiến cho hạt giống nẩy nở kết quả, nhưng cũng soi rõ sâu bọ dưới những khe đá. Các lãnh đạo tôn giáo “mù lòa” nên không muốn tiếp nhận mặt trời ấy.
Vì vậy, ánh sáng của chân-lý càng khiến họ mù lòa hơn. Người ăn xin tiếp nhận hạt giống của Chúa nên anh được sáng mắt cả về thuộc thể lẫn thuộc linh.
Không ai mù lòa bằng kẻ không muốn thấy, là kẻ cho rằng mình hiểu mọi chân-lý và không cần học gì nữa (Gi 9:28,34).
Người Pha-ri-si lắng nghe Chúa, biết Ngài muốn nói về chính họ. Họ liền hỏi lại “Còn chúng ta cũng là kẻ mù chăng?”, họ mong một câu trả lời phủ định. Chúa Giê-xu từng gọi họ là “kẻ mù dẫn đưa kẻ mù” (Mat 15:14) vì vậy họ biết câu trả lời. Họ đã bị mù lòa bởi lòng kiêu ngạo, sự công bình riêng truyền thống và cách giải nghĩa sai Lời Đức Chúa Trời.
Câu trả lời của Chúa Giê-xu tựa như một nghịch lý: “Nếu các ngươi là kẻ mù, thì không có tội lỗi chi hết, nhưng vì các ngươi nói rằng: chúng ta thấy, nên tội lỗi các ngươi vẫn còn lại” (Gi 9:11).
Sự mù lòa ít ra cũng là một cớ để không biết điều gì đang xảy ra, nhưng những chức sắc này thật biết những điều đang xảy ra! Chúa đã thực hiện nhiều phép lạ, vậy mà họ chẳng để tâm đến chứng cớ ấy hầu có một quyết định đúng đắn.
• Chúa Giê-xu là sự sáng của thế gian (Gi 8:12 Gi 9:5). Người nào không nhìn thấy ánh sáng, đó là người mù. Những ai không muốn nhìn, người ấy đã làm cho bản thân trở nên mù lòa. Người ăn xin bị mù về thể xác lẫn tâm linh, nhưng sau đó đôi mắt và tấm lòng của anh được mở ra.
Vì sao? Bởi anh đã lắng nghe Lời Chúa, tin theo, vâng lời và kinh nghiệm được ơn phước Đức Chúa Trời. Còn người Pha-ri-si tuy có đôi mắt thuộc thể tốt lành nhưng đôi mắt tâm linh đã mù lòa. Nếu họ lắng nghe lời Chúa và thật tâm suy xét chứng cớ, họ cũng sẽ tin Chúa Giê-xu và được tái sinh.
Người Pha-ri-si đã “thấy” theo nghĩa nào? Họ thấy sự thay đổi của người ăn xin mù lòa và không thể phủ nhận sự lành bệnh của anh ta. Họ thấy những công việc kỳ diệu Chúa Giê-xu thực hiện. Ngay cả Ni-cô-đem là đồng hương của họ cũng tỏ ra ngạc nhiên trước những phép lạ ấy (Gi 3:2).
Nếu họ xem xét chứng cớ ấy thành thật, hẳn họ đã hiểu lẽ thật. “Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, sẽ biết đạo lý ta” (Gi 7:17). “Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống!” (Gi 5:40).
Đoạn 10 là phần tiếp theo bài giảng của Chúa trước mặt những người Pha-ri-si. Việc người mù được chữa lành lại được nhắc đến ở Gi 10:21. Thật ra từ “đuổi ra” ở Gi 9:35 có thể được xem là “đem ra” ở Gi 10:4. Người mù bị “đuổi ra” khỏi nhà hội, nhưng được Đấng Chăn Chiên hiền lành “đem ra” để nhận vào đàn chiên của Ngài! Trọng tâm của đoạn 10 sắp đến nói về Chúa Giê-xu, Người Chăn Chiên Hiền Lành và chân thật, khác với những người Pha-ri-si là kẻ chăn giả.
Chúng ta không gặp lại người mù được chữa lành này nữa, nhưng chắc hẳn anh đã theo Chúa Giê-xu và gia nhập vào nhóm chứng nhân của Chúa. Mong rằng anh ta có thể đem cha mẹ đang sợ hãi của mình đến với Chúa Giê-xu. Bị dứt phép thông công khỏi nhà hội hẳn là một từng trải đau buồn đối với anh, nhưng chắc chắn anh đã tìm thấy sự trợ giúp và khích lệ về tâm linh rất nhiều trong mối giao thông với Chúa Giê-xu Christ, điều mà anh chưa từng có qua những nghi lễ của Do-thái giáo.
Ngày nay, vẫn có những con người đứng trước sự lựa chọn giữa Đấng Christ và gia đình, hoặc giữa Đấng Christ và truyền-thống giáo hội. Người mù này đã có sự lựa chọn đúng đắn, dù cái giá phải trả rất đắt.
“Nhưng con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, Càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa” (Ch 4:18).
10. NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH VÀ BẦY CHIÊN (Gi 10:1-42)
Có lẽ bạn nhớ chương trình TV mang tên “Candid Camera” đư ợc thực hiện tại một trường dự bị đặc biệt nơi các sinh viên đều có trình độ cao hơn trung bình nhiều.
Các nhân viên chương trình “Candid Camera” trong tư thế những cố vấn nghề nghiệp. Dựa trên các bài trắc nghiệm và phỏng vấn rất đáng tin (đối với sinh viên) họ sẽ khuyên những sinh viên ưu tú này nên theo đuổi nghề nghiệp nào được xem là thích hiệp nhất. Cậu kia nôn nóng chờ đợi “lời phán quyết” của nhà tham vấn. Cậu hy vọng được cho biết mình sẽ là hiệu trưởng của một trường đại học nào đó, hay chủ tịch Ngân hàng, thậm chí có thể là một nhà nghiên cứu khoa học.
Nhưng không, nhà tham vấn không nghĩ như vậy! Gương mặt cậu học trò biến sắc khi ông ta nhận xét: “Này cậu bé, sau khi xem xét đánh giá bài trắc nghiệm và cuộc phỏng vấn của cậu, tôi cho rằng nghề thích hợp nhất dành cho cậu là “nghề chăn chiên!”
Sinh viên này không biết nên cười hay khóc. Xét cho cùng, có ai muốn mình trở thành một “gã chăn chiên” đâu? Tại sao phải phí cuộc đời vì “lũ chiên ngu ngốc” thậm chí không biết đường về nhà?
Phúc-âm Giăng 10:1-42 tập trung vào hình ảnh bầy chiên, chuồng chiên và người chăn chiên. Đây là hình ảnh rất nông thôn và Đông phương, nhưng cũng là hình ảnh đầy ý nghĩa đối với chúng ta hôm nay và cả thế giới công nghiệp hóa này nữa.
Phao-lô đã dùng hình ảnh này khi khuyên nhủ những người lãnh đạo Hội thánh Ê-phê-sô (Công 20:28). Những chân-lý tập trung quanh hình ảnh về người chăn chiên và bầy chiên luôn xuất hiện suốt Kinh Thánh, rất ý nghĩa với chúng ta hôm nay. Những hình ảnh được Chúa sử dụng giúp ta hiểu Ngài là ai và Ngài muốn làm gì cho chúng ta.
Để tiếp cận với đoạn Phúc-Âm hơi khó hiểu này, ta hãy chú ý đến 3 lời tuyên bố của Chúa Giê-xu về chính Ngài:
1. “Ta là Cái Cửa” (Gi 10:1-10)
Chúa giảng bài này khi đối đầu với các lãnh đạo Do-thái, sau khi người mù được chữa lành bị dứt phép thông công trong nhà hội (Gi 9:1-41). Ngài đã phán với họ một cách tóm tắt về sự sáng và sự tối tăm, nhưng giờ đây Ngài chuyển sang hình ảnh người chăn chiên và bầy chiên.
Vì sao? Bởi người Do-thái quan niệm rằng “người chăn chiên” giống như một lãnh đạo về thuộc linh hoặc chính trị. Vua và các tiên-tri được xem như những “người chăn chiên”. Dân Y-sơ-ra-ên được đặc ân làm “bầy chiên của Chúa” (Thi 100:3). Để biết thêm, bạn có thể đọc Ês 56:9-12; Giê 23:1-4; Giê 25:32-38; Êxe 34:1-31; Xa 11:1-17.
Chúa mở đầu bài giảng bằng một hình ảnh minh họa rất quen thuộc và dễ hiểu với mọi người (Xa 10:1-6). Chuồng chiên thường là một mảnh đất được rào kín bằng những tảng đá có cửa ra vào. Vào đêm, người chăn chiên (hoặc người canh cửa) sẽ canh giữ bầy chiên bằng cách nằm chắn ngang cửa chuồng. Các bầy chiên thường được ở chung trong một chuồng. Vào buổi sáng, những người chăn đến gọi chiên mình và tập trung chúng lại. Mỗi con chiên đều nhận biết tiếng của chủ nó.
Người chăn chiên thật sẽ đi vào qua c ửa chuồng và người gác cửa chuồng có thể nhận biết người ấy. Kẻ trộm cướp không thể qua cửa chiên nên phải dùng thủ đoạn trèo tường vào. Dù chúng vào được, cũng không thể dẫn dụ chiên vì chiên chỉ nghe theo tiếng chủ nó. Kẻ chăn giả không thể dẫn dắt được bầy chiên nên phải cướp chúng đi.
Rõ ràng những kẻ nghe Chúa giảng không hiểu điều Ngài phán cũng như lý do Ngài phán điều đó. (Lời dạy của Ngài ở đoạn 10 này không giống những ví dụ được chép ở 3 Phúc-Âm khác). Bài học được Chúa dạy dỗ trong hoàn cảnh người ăn xin mù bị dứt phép thông công khỏi nhà hội (Gi 9:34). Những kẻ chăn giả không quan tâm đến anh ta, ngược lại đã đối xử tàn nhẫn và đuổi anh đi. Chúa Giê-xu, Người Chăn Chiên thật đã đến và tiếp nhận.
Tiếc thay, Gi 10:1 thường được giải thích rằng chuồng chiên là nơi trên trời và những ai muốn vào đó không bởi Chúa Giê-xu đều bị hư mất. Nhưng sự dạy dỗ ở đây là một lẽ thật (Công 4:12) nhưng nó không căn cứ trên câu này. Chúa Giê-xu giải thích rõ rằng chuồng chiên là dân tộc Y-sơ-ra-ên (Gi 10:16), Người ngoại là bầy “chiên khác” không thuộc “chuồng” Y-sơ-ra-ên.
Chúa đã đến với dân tộc Y-sơ-ra-ên theo một phương cách nhất định như lời tiên-tri trong Thánh Kinh. Mọi người chăn bầy thật phải được Đức Chúa Trời kêu gọi và sai đi. Nếu người chăn nói ra Lời Đức Chúa Trời, chiên sẽ nghe tiếng người ấy và không ngại đi theo. Người chăn thật sẽ yêu thương và chăm sóc chiên mình.
Vì dân sự không hiểu lời dạy thâm thúy của Chúa, Ngài tiếp tục đưa ra một minh họa thực tiễn khác (Gi 10:7-10). Ngài phán: “Ta là cửa của chiên”. Ngài có thể khiến chiên rời khỏi “chuồng” (Do-thái giáo) để nhập vào “bầy” của Ngài. Người Pha-ri-si đuổi người ăn xin ra khỏi nhà hội, nhưng Chúa Giê-xu đã dắt người ấy ra khỏi Do-thái giáo để gia nhập vào bầy chiên Đức Chúa Trời!
Người chăn không chỉ dắt chiên đi mà còn dẫn chiên về. Những chiên ấy đã thuộc “một bầy” (không phải “chuồng”), đó là Hội thánh Ngài. Ngài là cửa cứu rỗi (Gi 10:9), nên ai tin nhận Ngài sẽ thuộc về bầy chiên và chuồng chiên của Chúa, được hưởng đặc ân kỳ diệu khi “vào ra và gặp đồng cỏ”. Khi hiểu rằng người chăn là “cửa của chiên”, bạn sẽ thấy hình ảnh này rất sống động.
Là Cánh cửa, Chúa Giê-xu có thể giải thoát tội nhân khỏi ách tôi mọi và dắt họ vào sự tự do. Họ “được cứu rỗi” (Gi 10:9b)! Được cứu rỗi nghĩa là được cứu thoát cách bình an vô sự. Từ này thường được dùng để chỉ về một người đã bình phục sau một căn bệnh trầm kha, vượt qua một cơn bão ác liệt, sống sót sau cuộc chiến, hay được tha bổng tại tòa án. Có một số nhà truyền đạo ngày nay muốn gạt bỏ từ “có vẻ lỗi thời” này, nhưng chính Chúa Giê-xu đã sử dụng từ ấy!
Chúa Giê-xu muốn nói đến các chức sắc đền thờ thời bấy giờ (Gi 10:8). Ngài không lên án mọi tiên-tri hay tôi tớ nào của Đức Chúa Trời, là người thi hành chức vụ trước khi Ngài đến thế gian. Lời tuyên bố “hết thảy những kẻ đã đến trước ta đều là quân trộm cướp” được viết ở thì hiện tại chớ không phải quá khứ, chứng tỏ Ngài nhắc đến các chức sắc đương thời.
Họ không phải là người chăn bầy thật, cũng không được Đức Chúa Trời giao phó nhiệm-vụ nào. Họ không hề yêu thương bầy chiên, nhưng hiếp đáp và hất hủi chiên. Người ăn xin mù là một bằng chứng cụ thể về những hành động “quân trộm cướp đã làm!”
Thánh Kinh Phúc-Âm cho thấy rõ các lãnh đạo Y-sơ-ra-ên thời bấy giờ chỉ chăm lo cho bản thân họ. Người Pha-ri-si là “kẻ ham tiền tài” (Lu 16:14) thậm chí hiếp đáp đàn bà góa (Mac 12:40). Họ đã biến đền thờ Đức Chúa Trời thành “ổ trộm cướp” (Mat 21:13), lại còn âm mưu giết Chúa Giê-xu để Rô-ma không tước đi những đặc quyền của họ (Gi 11:49-53).
Người chăn chiên thật đến cứu chiên, nhưng những kẻ chăn giả chỉ lợi dụng và hiếp đáp chiên. Bản chất thật của kẻ chăn giả là “kẻ trộm” (Gi 10:10), nó cũng có thể là Sa-tan. Nhưng ta sẽ thấy rằng trong tay Người Chăn Chiên thật và Cha trên trời, chiên thật sự được bình an (Gi 10:27-29).
Khi bước qua “Cửa Chiên”, bạn sẽ có sự sống và được cứu rỗi. Khi “vào ra” Cửa Chiên, bạn thật sự kinh nghiệm cuộc sống vui thỏa trong “đồng cỏ” xanh tươi của Chúa. Bầy chiên Ngài vui mừng được sống dư dật và tự do. Chúa không chỉ đã ban sự sống của Ngài cho ta trong quá kh ứ nhưng Ngài cũng ban cho chúng ta mọi sự thuộc về Ngài ngay giờ phút này!
Trọng tâm của phân đoạn đầu nói về Cửa Chiên. Tiếp theo, Chúa nói đến hình ảnh “Người Chăn Chiên” với lời tuyên bố thứ hai.
2. “Ta là Người Chăn Chiên Hiền Lành” (Gi 10:11-21)
Đây là lời phán thứ tư của Chúa trong Phúc-âm Giăng “TA LÀ...” (Gi 6:35; Gi 8:12; Gi 10:9). Chắc hẳn khi phán lời này, Chúa muốn so sánh Ngài với những kẻ chăn chiên giả, là kẻ có trách nhiệm với Do-thái giáo thời bấy giờ. Ngài gọi họ là “quân trộm cướp” và giờ đây Ngài cũng gọi họ là “kẻ chăn thuê” (Gi 10:12)
Từ “hiền lành” được hiểu là “bản chất tốt đẹp, đáng yêu, không thiên vị”. Từ này được dùng để mô tả một điều lý tưởng, một mẫu mực để người khác noi theo. Sự nhân lành của Chúa chúng ta là bản tính vốn có của Ngài. Gọi Ngài là “nhân lành” cũng đồng nghĩa với cách gọi Ngài là “Đức Chúa Trời” vậy (Mac 10:17-18).
Một số nhân vật nổi tiếng được chép trong Kinh Thánh cũng làm nghề chăn chiên như: A-bên, các trưởng lão, Môi-se, Đa-vít. Hôm nay khi đi qua Vùng Đất Thánh (Holy Land), bạn sẽ thấy những người chăn chiên dẫn bầy chiên đi và tỏ ra thân thiết với từng con chiên, họ biết rõ cá tính và nhu cầu riêng của mỗi con chiên. Bạn hãy nhớ rằng người chăn chiên không có ý định nuôi chiên để giết nó, trừ khi phải dâng chiên làm của lễ. Họ nuôi chiên để lấy lông, sữa và chiên con.
Chúa Giê-xu bày tỏ 4 nhiệm vụ đặc biệt của Ngài với tư cách là Người Chăn Chiên Hiền Lành.
-Thứ nhất: Ngài phó sự sống vì chiên (Gi 10:11-13). Dưới hệ thống tôn giáo cũ, chiên phải chết thay cho người chăn. Nhưng giờ đây Người Chăn Chiên hiền Lành lại chết thay chiên mình! Qua bài giảng này Chúa khẳng định 5 lần về sự chết thay của Ngài (c.11,15,17-18). Ngài không chết như vị thánh tử đạo bị con người giết hại, nhưng Ngài chết với tư cách của người thế mạng, vui lòng phó sự sống Ngài vì cớ chúng ta.
Khi Ngài phán rằng Ngài phó sự sống “vì chiên”, điều này không nên bị tách rời khỏi bài học Kinh Thánh kế tiếp về thập-tự giá. Ngài cũng chết thay cho dân Y-sơ-ra-ên (Gi 11:50-52) và cho cả thế gian (Gi 6:51). Huyết Chúa Giê-xu dù có đủ cho sự cứu rỗi tất cả thế gian, nhưng nó chỉ có hiệu lực cho những ai tin đến Chúa.
Chúa so sánh Ngài khác xa với kẻ chăn thuê là người coi sóc đàn chiên vì được trả công. Khi nguy hiểm ập đến, kẻ chăn thuê bỏ trốn. Nhưng người chăn chiên thật ở lại bảo vệ đàn chiên mình. Người Chăn Chiên Hiền Lành chuộc bầy chiên, chiên thuộc về Người vì Người đã phó sự sống vì chiên mình. Bản chất chiên vốn rất khờ dại và dễ gặp nguy hiểm nên chúng cần có một người chăn coi sóc chúng.
Trong Kinh Thánh, con cái Đức Chúa Trời được ví như bầy chiên và đây là sự so sánh hợp lý. Chiên là vật nuôi rất sạch sẽ, không như heo hoặc chó (IIPhi 2:20-22). Chúng không đủ sức tự vệ nên rất cần có sự chăm sóc của người chăn (Thi 23:1-6). Theo cách nói của Wesley, chúng “có xu hướng đi vẩn vơ”, cần người tìm kiếm và đem về chuồng (Lu 15:3-7). Chiên là con vật sống hiền hòa, rất hữu ích cho người chăn.
Nói cách khác, chúng tượng trưng cho những người tin cậy nơi Chúa Giê-xu và thuộc về bầy chiên Ngài.
Khác biệt với người chăn chiên nhân lành, người Pha-ri-si không có tình yêu đối với người ăn xin nên đã đuổi anh ta khỏi nhà hội. Chúa Giê-xu tìm đến và quan tâm chăm sóc anh.
-Thứ hai: Người Chăn Chiên Hiền Lành không chỉ phó mạng sống vì chiên, Người còn quen chiên mình (Gi 10:14-15). Qua Phúc-âm Giăng, từ “quen” có nghĩa là biết nhiều hơn cả lĩnh vực tri-thức. Nó bày tỏ mối giao-thông mật thiết giữa Đức Chúa Trời và con cái Ngài (Gi 17:3). Người chăn chiên ở Đông phương biết rõ chiên mình nên cũng biết cách chăm sóc chúng hữu hiệu nhất.
• Từ ban đầu, Chúa biết tên chúng ta (Gi 10:3)
Ngài biết Si-môn (Gi 1:42) và còn đặt cho ông một tên mới. Ngài gọi tên ông Xa-chê (Lu 19:5) khi Ngài kêu tên Ma-ri trong vườn, bà nhận biết Người chăn của mình (Gi 20:16). Nếu bạn từng bị “lạc” trong mê cung vận hành của máy vi tính, bạn mới có thể khâm phục Người chăn chiên hiền lành, vì đã biết rõ tên từng con chiên của Người.
• Chúa cũng biết cá tính của chúng ta.
Mọi con chiên đều có bản chất chung giống nhau, nhưng mỗi con có cá tính khác nhau. Vì vậy người chăn chiên hiền lành nhận biết những cá tính của chúng. Chiên này có thể sợ chỗ đồi cao, còn chiên khác lại sợ bóng tối, ... Người chăn chiên có tinh thần trách nhiệm sẽ xem xét những nhu cầu đặc biệt ấy khi chăn bầy chiên mình.
Có bao giờ bạn để ý đến sự khác nhau giữa 12 sứ-đồ? Phi-e-rơ là người bốc đồng và bộc trực, còn Thô-ma luôn dè dặt và nghi ngờ. Anh-rê lại là con người dễ gần gũi với người khác, lúc nào cũng đem người đến với Chúa Giê-xu. Trong khi đó, Giu-đa là kẻ chỉ muốn lợi dụng người khác để kiếm lợi cho bản thân. Chúa Giê-xu biết rõ từng người và cũng biết cách đối xử với họ.
Vì biết cá tính chúng ta, Chúa cũng biết nhu cầu của chúng ta nữa. Chúng ta lại thường không biết rõ nhu cầu của chính mình! Thi 23:1-6 là những vần thơ tuyệt vời mô tả cách Đấng Chăn Chiên Hiền Lành chăm sóc bầy chiên Ngài. Nơi đồng cỏ xanh tươi, mé nước bình tịnh và dù tại trũng bóng chết, chiên vẫn không hề sợ hãi vì Người Chăn đang chăm sóc và đáp ứng nhu cầu chúng. Nếu nói Thi 23:1 với Thi 23:6 bạn sẽ có một chủ đề chính của đoạn thơ này “Tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì...trọn đời tôi”.
Khi Người chăn chăm sóc chiên, chiên trở nên thân thiết với người hơn. Đấng Chăn Chiên Hiền Lành biết chiên Ngài và chiên cũng biết Ngài. Chiên quen nghe tiếng Ngài (Lời Ngài) và kinh nghiệm sự chăm sóc thường nhật của Ngài. Khi chiên đi theo Người chăn, chúng học được cách yêu mến và tin cậy Người. Chúa yêu “kẻ thuộc về mình” (Gi 13:1) và bày tỏ tình yêu Ngài qua cách quan tâm chăm sóc họ.
• Thứ ba: Đấng Chăn Chiên Hiền Lành dẫn chiên khác về bầy Ngài (Gi 10:16). “Chuồng” là Do-thái giáo (Gi 10:1), nhưng còn có chuồng khác là những người ngoại không thuộc giao-ước của Y-sơ-ra-ên (Êph 2:11). Trong buổi đầu thi hành chức vụ, Chúa Giê-xu đã quan tâm đến “những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên” (Mat 10:5,6 Mat 15:24-27).
Người tin Chúa trong ngày lễ Ngũ Tuần đầu tiên là người Do-thái và những người mộ đạo từ nơi khác đến (Công 2:5,14), nhưng Hội thánh không chỉ giới hạn trong một “bầy chiên Do-thái”.
Phi-e-rơ cũng rao thông-điệp Phúc-Âm đến với người ngoại (Công 10:1-11:30). Phao-lô cũng rao-giảng Phúc-Âm cho dân ngoại ở những nơi xa trong đế quốc La-mã (Công 13:1).
Chỉ có một bầy chiên thuộc về Đấng Chăn Hiền Lành. Đức Chúa Trời khiến con cái Ngài sống khắp nơi trên thế gian này (Công 18:1-11) và Ngài sẽ gọi họ nhóm lại với nhau.
• Sứ-điệp Phúc-Âm của Giăng thật rõ ràng.
“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian” (Gi 3:16).
Chúa Giê-xu từng bất chấp phong tục tập quán của con người để làm chứng cho một người đàn bà Sa-ma-ri. Ngài không muốn duy trì kiểu thờ phượng “độc quyền” của các lãnh đạo Do-thái. Ngài chết thay cho cả một thế giới hư mất và ông muốn con cái Ngài đến với những tội nhân hư mất để rao sứ-điệp của sự sống đời đời cho họ.
• Sau cùng: Đấng Chăn Chiên Hiền Lành sẽ sống lại (Gi 10:17-18). Sự chết tự nguyện của Ngài khiến Ngài phục sinh trong vinh hiển. Dưới mắt loài người, dường như Chúa Giê-xu đã bị xử tử nhưng đối với Đưc Chúa Trời Ngài đã vui lòng phó sự sống mình. Trên thập tự giá Ngài thốt lên rằng: “Mọi việc đã được trọn” (Gi 19:30). Ba ngày sau, Ngài “lấy lại” sự sống và phục sinh từ cõi chết. Cha trên trời là Đấng yêu thương đã ban cho Ngài quyền phép này.
Có vài chỗ trong Kinh Thánh cho biết là Đấng khiến Con Ngài sống lại (Công 2:32; Rô 6:4; Hêb 13:20). Ở đây, Chúa Giê-xu lại phán rằng Ngài có quyền lấy lại sự sống. Cả hai chi tiết trên đều là những chân-lý, vì Cha và Con đồng công với nhau (Gi 5:17,19).
Ở bài giảng trước đó, Chúa Giê-xu muốn nói rằng Ngài có quyền khiến mình sống lại từ cõi chết (Gi 5:26). Dĩ nhiên chính lời phán ấy đã gây sự chống đối từ phía dân Do-thái, vì chẳng khác nào Chúa Giê-xu muốn nói rằng: “Ta là Đức Chúa Trời!”
Những kẻ nghe Chúa Giê-xu dạy dỗ đã phản ứng ra sao? “Người Giu-đa lại chia phe ra nữa” (Gi 10:19). Hãy để ý từ “nữa” (Gi 9:16; Gi 7:43). Một lần nữa, Chúa Giê-xu bị cáo rằng Ngài bị quỷ ám (Gi 7:20; Gi 8:48,52). Người ta muốn làm bất cứ điều gì để lẩn tránh chân-lý!
Vì Chúa Giê-xu là “Cái Cửa”, nên chúng ta sẽ nghĩ đến một sự phân cách: khi cửa đóng lại sẽ khiến một số người ở trong và số khác ở ngoài! Ngài là Đấng Chăn hiền Lành nên Ngài phải phân cách chiên với muông sói. Đối với Chúa, không thể có sự trung lập vì điều chúng ta tin nơi Ngài sẽ quyết định sự sống hoặc sự chết (Gi 8:24).
Lời tuyên bố thứ ba của Chúa sẽ là lời phán gây sửng sốt nhất.
3. “Ta là Con Đức Chúa Trời” (Gi 10:22-42)
Những sự kiện chép trong phân đoạn này xảy ra khoảng sau hai tháng rưỡi kể từ lúc những sự kiện xảy ra ở câu 1-21. Giăng để những sự kiện này đi gần nhau vì ở hai bài giảng, Chúa đều dùng hình ảnh về người chăn chiên và bầy chiên.
• Cuộc gặp mặt (Gi 10:22-24): Lễ khánh thành đền thờ được tổ chức vào tháng 12, gần lễ Giáng sinh của Cơ-đốc giáo. Lễ này kỷ niệm ngày đền thờ được xây cất do Judas Maccabeaus năm 164 TC, sau đó đã bị quân Rô-ma dày xéo. Sự kiện lịch sử này dường như có liên hệ với Lời Chúa Giê-xu phán ở câu 36, vì Ngài được Cha trên trời biệt ra và sai đến thế gian. Các lãnh đạo Do-thái kỷ niệm một sự kiện lớn trong lịch sử nhưng lại đánh mất cơ hội ngay trong đền thờ của chính họ!
Các lãnh đạo nhóm quanh Chúa trong đền thờ để buộc Ngài lắng nghe họ. Họ muốn dùng thì giờ này cho “cuộc tranh cãi” và không muốn Chúa nhắc đến vấn đề này nữa. Họ cứ nói với Ngài “Thầy để chúng tôi nghĩ vơ vẩn mãi cho đến khi nào? Nếu thầy là Đấng Christ, hãy nói rõ cho chúng tôi”. Đáp lại họ, Chúa đưa ra lời giải thích (Gi 10:25-38) nhắc họ nhớ những điều Ngài đã dạy họ trước đó. Ngài nhấn mạnh chứng cớ về Lời Ngài (“Ta đã bảo các ngươi...”) và việc Ngài làm (Gi 5:17; Gi 7:14).
Lúc này, lời giải thích của Chúa càng lúc trở nên sâu sắc hơn. Ngài bày tỏ cho các quan trưởng Giu-đa biết lý do họ không hiểu Lời Ngài và ý nghĩa của việc Ngài làm, vì họ không phải là chiên của Ngài. Theo quan điểm con người: chúng ta trở thành chiên của Chúa khi tin theo Ngài. Nhưng với quan điểm của Đức Chúa Trời, chúng ta tin Chúa vì là chiên của Ngài. Có một sự mầu nhiệm mà chúng ta không thể thấu đáo hoặc giải nghĩa được, nhưng chỉ có thể vui mừng tiếp nhận (Rô 11:33-36). Đức Chúa Trời biết rõ bầy chiên Ngài, chiên nghe tiếng Ngài và đáp lại.
Khi tội nhân nghe lời Chúa, người ấy không biết gì về sự lựa chọn mầu nhiệm này, nhưng chỉ biết rằng Đấng Christ đã chết thay tội lỗi thế gian và người ấy có thể đón nhận món quà sự sống bởi tin nhận Đấng Christ. Khi tin nhận Ngài, người ấy trở nên con cái trong gia đình Đức Chúa Trời và là chiên trong bầy. Sau đó, người ấy cũng hiểu rằng mình đã được “chọn trong Đấng Christ đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời” (Eph 1:4), cũng biết rằng mỗi tội nhân được cứu là một “món quà tình yêu” của Cha trên trời ban cho Con Ngài (Gi 10:29; Gi 17:2,6,9,11-12,24).
Qua Kinh Thánh, sự lựa chọn của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người hoàn toàn cân xứng nhau. Những điều gì Đức Chúa Trời đã kết hiệp lại, chúng ta đừng tách rời chúng ra.
Chúa tiếp tục giải thích: Chiên Ngài được an toàn trong tay Ngài và trong Đức Chúa Trời. “Nó chẳng chết mất bao giờ” là một lời hứa của Chúa (Gi 3:16; Gi 6:39; Gi 17:12; Gi 18:9). Những kẻ chăn chiên giả đem đến sự hủy diệt (Gi 10:10) nhưng Đấng Chăn Hiền Lành bảo đảm Chiên Ngài chẳng bao giờ hư mất.
Sự an toàn của bầy chiên Đức Chúa Trời được bảo đảm ở nhiều phương diện. Trước tiên, chúng ta được “sự sống đời đời” – theo nghĩa chính xác: đó là sự sống không lệ thuộc bất cứ hoàn cảnh nào và có tính bất diệt. Kế đến, sự sống này là sự ban cho, chúng ta không thể mua hoặc có được. Nếu chúng ta được cứu không bởi việc lành của bản thân nhưng bởi ân-điển Đức Chúa Trời, vậy chúng ta không thể bị hư mất bởi “những việc làm xấu” trước đây (Rô 11:6). Nhưng điều quan trọng nhất là, Chúa Giê-xu đã cho chúng ta lời hứa rằng Chiên Ngài sẽ không hư mất và lời hứa ấy sẽ không hề qua đi.
Chúng ta cần hiểu rằng Chúa muốn nói về bầy chiên là những người tin nhận Ngài, chớ không kể những kẻ giả hình. Chó và heo sẽ ô uế trong tội lỗi chúng (IIPhi 2:20-22) nhưng chiên là vật tinh sạch sẽ theo Người Chăn vào đồng cỏ xanh tươi.
Giáo-sư giả sẽ khoe khoang về đức tin và việc làm mình, nhưng chẳng bao giờ có thể bước vào thiên-đàng được (Mat 7:13-29). Chúng ta đều biết những ai xưng mình là người tin Chúa nhưng sau đó phạm tội trở lại đều là những người chưa bao giờ thật sự tin nhận Chúa. Chúa Giê-xu không bảo đảm sự an toàn cho bất cứ ai không thuộc bầy chiên thật của Ngài.
Khi suy ngẫm lại lời dạy của Chúa về chức vụ Ngài với tư cách là Đấng Chăn Chiên Hiền Lành, bạn sẽ thấy Ngài có mối liên hệ với bầy chiên theo ba ý nghĩa. Ngài có mối liên hệ “đầy yêu thương” vì đã chết thay bầy chiên mình. Mối liên hệ của Ngài với bầy chiên cũng là mối liên hệ “sống” vì Ngài chăm sóc bầy chiên luôn.
Đó còn là mối liên hệ lâu dài vì Ngài bảo vệ chiên và không để một con nào hư mất.
Chúa đưa ra một lời tuyên bố mà Ngài biết rằng sẽ khiến kẻ thù sửng sốt và có thêm lý do để nghịch cùng Ngài (Gi 10:30). Các lãnh đạo cũng chỉ chờ đợi một “câu trả lời đơn giản” ấy. “Ta với Cha là một” là lời tuyên bố thật rõ ràng về Thần tính Chúa được chép trong Kinh Thánh. Lời tuyên bố này còn có ý nghĩa mạnh mẽ hơn lời Chúa phán rằng Ngài từ trên trời xuống (Gi 6:1-71) hay Ngài hiện hữu trước Áp-ra-ham (Gi 8:58).
Thuật ngữ “một” không có nghĩa là Cha và Con là những bản thể giống nhau, nhưng là “một” về thể yếu. Cha là Đức Chúa Trời và Con cũng chính là Đức Chúa Trời, nhưng Cha không phải là Con và Con không phải là Cha. Ngài muốn nói về “sự hiệp một” chớ không phải sự đồng dạng (Gi 17:21-24).
Các lãnh đạo Do-thái trưởng hiểu rõ điều Chúa muốn nói. Một số nhà thần học theo phái tự do muốn làm giảm mức độ quan trọng của lời Chúa phán nhưng những ai nghe lời Chúa đều biết Ngài muốn phán rằng “Ta là Đức Chúa Trời” (Gi 10:33). Dĩ nhiên, ai nói lời ấy sẽ bị kết tội lộng ngôn và theo luật Do-thái tội lộng ngôn sẽ bị xử chết (Lê 24:16; Dân 15:30; Phuc 21:22).
Chúa sử dụng Thi 82:6 để bác lại lời buộc tội của các lãnh đạo và dập tắt âm mưu họ. Đoạn Thi 82:1-8 là một hình ảnh tại toà xét xử nơi Đức Chúa Trời nhóm các quan án trên đất lại, cho họ biết rằng một ngày nào đó họ cũng sẽ bị xét đoán. Từ Hê-bơ-rơ “Elohim” có thể hiểu là “Đức Chúa Trời” hay “quan án” như ở Xu 21:6 và Xu 22:8-9.
Trong Cựu-ước, từ “Elohim” cũng được dùng để chỉ về Đức Chúa Trời. Các lãnh đạo Do-thái biết ngôn ngữ họ nên cũng hiểu rằng Chúa muốn phán về một chân-lý. Nếu Đức Chúa Trời gọi những quan án loài người là “thần” vậy tại sao họ lại ném đá Ngài vì Ngài cũng áp dụng danh ấy cho chính mình?
Gi 10:36 là lời phán trọng tâm vì nó bày tỏ hai điều xác thực về thần tính của Đấng Christ, thứ nhất, Cha đã biệt Con ra thánh và sai Con đến thế gian. Thứ hai, Chúa Giê-xu đã dạn dĩ khẳng định “Ta là Con Đức Chúa Trời” (Gi 5:25). Chúa đã trả lời cho họ một cách rõ ràng nhưng không tin lẽ thật ấy.
Liệu họ có tin không? Chúa đã mời gọi, kêu nài họ tin Ngài chỉ trên cơ sở phép lạ Ngài làm (Gi 10:37,38). Nếu tin nơi phép lạ Ngài, họ sẽ biết Cha cũng như được mở mắt để biết Con và tin nhận Ngài. Vấn đề đơn giản ở đây chỉ là việc thật lòng xem xét chứng cớ và sẵn sàng tiếp nhận lẽ thật.
Một lần nữa, họ muốn bắt Ngài (Gi 7:44; Gi 8:59) nhưng Ngài lánh khỏi nơi ấy. Ngài không trở lại thành Giê-ru-sa-lem cho đến “Chủ nhật Lễ Lá” khi Ngài bày tỏ chính mình là Vua của Y-sơ-ra-ên.
Giăng Báp-tít đã từng thi hành chức vụ tại thành Bê-tha-ba-ra (Gi 1:28), nhưng chúng ta không biết rõ ở đâu. Thành Bê-tha-ba-ra ở bên kia sông Giô-đanh, có lẽ cách Giê-ru-sa-lem 18-20 dặm. Một số bản đồ đặt vị trí thành này gần như đối diện với Giê-ru-sa-lem, ở phía Đông của thành Giê-ri-cô.
Vì sao Chúa Giê-xu đến đó? Lý do trước hết, đó là nơi ẩn mình an toàn và các lãnh đạo Do-thái dường như không theo Ngài đến đó. Nơi ấy cũng thích hợp để Chúa chuẩn bị cho tuần lễ cuối cùng của Ngài trong chức vụ trên đất, sau đó Ngài sẽ phó mạng sống vì bầy chiên mình. Khi nhớ đến phép báp-têm do Giăng thực hiện và những từng trải đã qua (Gi 1:20-34; Mat 3:13-17), hẳn Chúa đã được củng cố tinh thần mạnh mẽ để chuẩn bị cho sự thương khó Ngài phải chịu.
Dân chúng tiếp tục đến với Chúa Giê-xu và Ngài dạy dỗ họ. Đáng chú ý là lời chứng của Giăng Báp-tít vẫn có kết quả lâu dài kể từ khi ông qua đời! Lời chứng của ông về Chúa Giê-xu đã khiến nhiều người tin nhận Đấng Christ. Dù không làm phép lạ, nhưng Giăng là một chứng nhân trung tín của Chúa Giê-xu. “Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống” (Gi 3:30).
Bạn đã hưởng ứng ra sao đối với 3 lời tuyên bố kỳ diệu của Chúa Giê-xu được chép trong đoạn Kinh Thánh này?
-Ngài là Cái Cửa.
Bạn đã “bước vào” bằng đức tin để được cứu chưa?
-Ngài là Đấng Chăn Chiên Hiền Lành.
Bạn nghe tiếng Ngài và tin nhận Ngài chưa? Cuối cùng, Ngài đã phó mạng sống mình vì chính bạn!
-Ngài là Con Đức Chúa Trời.
Bạn tin như vậy không? Bạn đã đầu phục Ngài để tiếp nhận sự sống đời đời chưa?
Xin bạn hãy nhớ lời khuyên dạy nghiêm túc của Ngài: “Nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi” (Gi 8:24).
11. PHÉP LẠ CUỐI CÙNG VÀ KẺ THÙ CUỐI CÙNG (Gi 11:1-57)
Việc khiến La-xa-rơ sống lại từ cõi chết không phải là phép lạ cuối cùng trước khi Chúa bước lên thập-giá, nhưng chắc hẳn là một phép lạ kỳ diệu nhất gây chú ý mạnh mẽ cho bạn hữu và kẻ thù Chúa.
Giăng chọn phép lạ này trong số 7 phép lạ được ghi lại trong Phúc-Âm của ông, vì đó thật là phép lạ tạo nên một đỉnh điểm trong chức vụ của Chúa trên đất. Ngài cũng đã khiến những người chết khác sống lại, nhưng La-xa-rơ là người ở trong mộ 4 ngày. Với phép lạ ấy, các lãnh đạo Do-thái không thể phủ nhận hay tránh né sự thật được.
Nếu Chúa Giê-xu không thể làm được gì đối với sự chết, vậy Ngài cũng không thể làm được điều gì khác. “Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Đấng Christ về đời này mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết” (ICôr 15:19). Kẻ thù cuối cùng của con người là sự chết (ICôr 15:26) nhưng Chúa Giê-xu đã chiến thắng kẻ thù nguy hiểm này hoàn toàn và mãi mãi.
• Tr ọng tâm của Phúc-âm Giăng 11 là đức tin.
Bạn sẽ thấy động từ “tin” trong đoạn này ít nhất là 8 lần. Một chủ đề khác nữa, đó là “sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Gi 11:4,40). Qua điều Chúa phán và làm, Ngài muốn khích lệ đức tin của 3 nhóm người
1. Các môn-đệ (Gi 11:1-16)
Đôi lúc chúng ta nghĩ về các môn-đệ Chúa như những “thánh nhân siêu hạng”, nhưng trong trường hợp này hoàn toàn khác hẳn. Họ thường nghi ngờ Chúa mình nên Ngài luôn tìm cách khích lệ niềm tin họ. Dù sao, sẽ có một ngày Chúa phải xa họ và họ phải tiếp tục nhiệm mạng Ngài giao phó. Nếu đức tin họ yếu đuối, công việc họ sẽ chẳng bao giờ kết quả.
Chúa Giê-xu ở Bê-tha-ba-ra cách làng Bê-tha-ni khoảng 20 dặm (Gi 1:28 Gi 10:10). Ngày kia, Ngài nghe tin buồn rằng La-xa-rơ là người Ngài yêu mến đang bị bệnh. Nếu người đưa tin đi nhanh và không dừng lại nơi đâu cuộc hành trình có thể mất một ngày.
Hôm sau, Chúa tiễn người ấy về với lời khích lệ chép ở câu 4. Sau đó Chúa nán lại hai ngày trước khi lên đường đi Bê-tha-ni. Lúc Ngài và các môn-đệ đến nơi, La-xa-rơ đã chết được 4 ngày. Như vậy, La-xa-rơ đã chết vào đúng ngày người đưa tin đến gặp Chúa Giê-xu.
Diễn biến của các sự kiện có thể xảy ra trong những ngày như sau:
-Ngày thứ Gi 1: người đưa tin đến gặp Chúa Giê-xu (La-xa-rơ chết)
-Ngày thứ Gi 2: người đưa tin trở về Bê-tha-ni
-Ngày thứ Gi 3: Chúa nán lại một ngày nữa, sau đó Ngài lên đường
-Ngày thứ Gi 4: Chúa đến Bê-tha-ni
Khi người đưa tin về đến nhà đã thấy La-xa-rơ chết rồi, không hiểu sứ điệp của Ngài có làm cho hai chị em đau đớn khi anh họ đã chết và chôn rồi? Chúa Giê-xu đã khích lệ họ tin Lời Ngài cho dù hoàn cảnh có tỏ ra chán nản như thế nào.
• Dĩ nhiên môn-đệ Chúa bối rối về nhiều vấn đề.
-Trước hết, “nếu Chúa yêu La-xa-rơ dường ấy, sao Ngài để ông ta lâm bệnh” Hơn nữa, sao Ngài trì hoãn thời gian đến với hai chị em? Ngài không thể chữa lành La-xa-rơ từ xa như Ngài đã chữa lành con trai quan thị vệ đó sao? (Gi 4:43-54).
Kinh Thánh cho biết Ngài có mối liên hệ rất thân thiết với gia đình này (Gi 11:3,5,36), nhưng hành động Chúa dường như mâu thuẫn với tình yêu Ngài dành cho họ!
Tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho người thuộc về Ngài không phải là kiểu tình yêu “nuông chiều”, nhưng là một tình yêu trọn vẹn. Vấn đề Ngài yêu chúng ta và chúng ta yêu Ngài không bảo đảm rằng chúng ta sẽ chẳng gặp nan đề hay đau buồn nào trong cuộc sống. Đức Chúa Trời yêu Con Ngài, nhưng vẫn để Con yêu dấu mình uống chén đắng và nếm trải sự đau đớn nhục nhã trên thập tự giá. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng tình yêu và sự đau khổ không thể hòa hiệp với nhau. Hai điều ấy thật sự hiệp-một trong Chúa Giê-xu.
Chúa Giê-xu có thể chặn đứng cơn bệnh của La-xa-rơ, thậm chí chữa lành ông bằng lời phán của Ngài ngay nơi Ngài ở, nhưng Ngài không muốn làm vậy. Qua cơn bệnh của La-xa-rơ, Ngài nhìn thấy cơ hội làm vinh hiển danh Cha trên trời. Là người tin Chúa, việc chúng ta tạo sự tiện lợi cho bản thân không quan trọng bằng việc quy vinh hiển danh Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh.
Trong lời cầu xin với Chúa, hai chị em không yêu cầu Chúa làm điều họ muốn. Họ chỉ cho Ngài biết nhu cầu mình và nhắc Ngài nhớ đến tình yêu Ngài đối với La-xa-rơ.
Họ biết rằng Chúa sẽ gặp nguy hiểm nếu trở lại xứ Giu-đê vì các lãnh đạo Do-thái muốn giết Ngài. Có lẽ hai chị em mong Ngài chỉ cần phán một lời, hẳn anh họ sẽ bình phục.
-Lời Chúa phán với hai chị em (Gi 11:23) không có nghĩa là anh họ sẽ không chết. Lời Ngài phán cho biết sự chết chưa phải là kết quả cuối cùng, vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời mới là kết quả cuối cùng. (Hãy để ý rằng một lần nữa Chúa Giê-xu xưng Ngài là “Con Đức Chúa Trời”). Ngài muốn họ tin chắc nơi lời hứa này. Ngài cũng nhắc Ma-thê nhớ lại lời Ngài đã phán trước với bà khi bà có ý cản trở việc mở cửa mồ (Gi 11:39-40).
Khi đối diện với bệnh tật, sự nản lòng, mất kiên nhẫn thậm chí sự chết, nguồn an ủi khích lệ duy nhất của chúng ta là Lời Đức Chúa Trời. Chúng ta phải sống bằng đức tin chớ không phải hoàn cảnh bên ngoài. Tình trạng của La-xa-rơ dường như vô vọng, nhưng hai chị em biết rằng Chúa Giê-xu là Đấng làm chủ mọi hoàn cảnh. Lời hứa ở Thi 50:15 thật tương tự với hoàn cảnh này: “Trong ngày gian truân hãy kêu cầu cùng ta Ta sẽ giải cứu ngươi, và ngươi sẽ ngợi khen ta”.
Vì sao Chúa trì hoãn việc đi đến Bê-tha-ni? Ngài không có ý chờ La-xa-rơ chết, vì ông thật đã chết trước. Ngài sống theo một thời gian biểu mầu nhiệm (Gi 11:9)từ Đức Chúa Trời nên Ngài muốn chờ đợi ý Chúa trên trời về thời điểm Ngài đến Bê-tha-ni. Việc người chết trong mộ 4 ngày khiến phép lạ Chúa trở nên chứng cớ mạnh mẽ và là cơ hội thuận lợi để dân chúng tin theo, trong đó có cả các môn-đệ Chúa (Gi 11:15).
Khi Chúa cho biết Ngài sẽ trở lại xứ Giu-đê, các môn-đệ tỏ ra lo lắng vì biết điều ấy sẽ nguy hiểm cho Ngài (Bê-tha-ni chỉ cách Giê-ru-sa-lem khoảng hai dặm). Chúa Giê-xu vui lòng phó sự sống Ngài vì bạn hữu (Gi 15:13). Ngài biết việc trở lại Giu-đê và phép lạ Ngài khiến La-xa-rơ sống lại, sẽ khiến sự kiện Ngài bị bắt và chịu chết nhanh chóng xảy đến.
Chúa trấn an sự sợ hãi của các môn-đệ, nhắc họ nhớ rằng Ngài sống theo giờ giấc Cha đã định, nên không điều gì có thể làm tổn hại họ. Như chúng ta đã biết, đây cũng là một chủ đề quan trọng trong Phúc-âm Giăng (Gi 2:4; Gi 7:6,8,30; Gi 8:20; Gi 12:23; Gi 13:1; Gi 17:1). Các môn-đệ không chỉ mù mờ về chương trình của Chúa, mà còn hiểu sai mục đích của chuyến viếng thăm này. Họ nghĩ nếu La-xa-rơ đang ngủ, vậy ông ta đã bình phục! Đây là một thực tế điển hình chứng tỏ họ không thể hiểu chân-lý thuộc linh.
“Nếu người ngủ, hẳn đã khá hơn. Vậy chúng ta sao phải bận tâm đến Bê-tha-ni?”
Ngài cho họ biết rõ: La-xa-rơ đã chết. Đối với người tin Chúa, sự chết được ví như giấc ngủ – (Công 7:60; ICôr 15:51; ITês 4:13-18). Ngài không có ý nói rằng Ngài vui mừng khi bạn hữu chết, nhưng vui vì Ngài đã không có mặt nơi đó, hầu cho giờ đây Ngài có thể bày tỏ với các môn-đệ về quyền năng Ngài. Mục đích cuối cùng sẽ là vinh hiển của Đức Chúa Trời và sự khích lệ đức tin các môn-đệ Chúa.
Thái độ của Thô-ma chẳng nói lên được điều gì. Đức tin các môn-đệ cần phải được khích lệ mạnh mẽ hơn! (Tên “Thô-ma” theo ngôn ngữ Aramaic nghĩa là “sinh đôi”theo tiếng Hy-lạp là Đi-đim (Didymus). Chúng ta không rõ Thô-ma có người anh em sinh đôi nào, nhưng lắm lúc chúng ta dường như là “anh em sinh đôi” của Thô-ma khi xét lại thái độ vô tín và sự ngã lòng của mình! Chính Thô-ma là người đòi phải được nhìn thấy chứng cớ trước khi tiếp nhận chân-lý về sự sống lại của Chúa (Gi 20:24-28).
Thô-ma quả là người đa nghi, nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng ông có tinh thần sốt sắng: sẵn sàng đi với Chúa Giê-xu trong nguy hiểm và gian nan của đời mình. Dù không thể tán thành với đức tin Thô-ma, nhưng chúng ta hẳn có thể hoan nghênh lòng trung thành và can đảm của ông.
2. Hai chị em (Gi 11:17-40)
Không chỉ quan tâm đến đức tin của các môn-đệ, Chúa Giê-xu còn quan tâm đến đức tin cả hai chị em Ma-ri và Ma-thê (c.26,40). Mỗi từng trải về sự đau buồn và thử thách đều khiến đức tin chúng ta tăng trưởng, nhưng sự tăng trưởng thuộc linh ấy không tự nhiên có được.
Chúng ta phải tích cực hưởng ứng với lời Đức Chúa Trời và Thánh Linh Ngài. Chúa Giê-xu ban cho hai chị em một lời hứa (Gi 11:4) và giờ đây Ngài muốn biết mức độ tiếp nhận của họ. Câu chuyện chép ở Lu 10:38-42 cho thấy Ma-ri và Ma-thê có cá tính hoàn toàn khác nhau.
Ma-thê là người sốt sắng làm việc, còn Ma-ri là người trầm ngâm thích ngồi dưới chân Chúa để nghe Ngài dạy dỗ. Chúa không lên án tinh thần phục vụ của Ma-thê, nhưng trách bà vì đã để nhiều việc chi phối mình. Ma-thê cần có những ưu tiên và mục tiêu đối với những công việc đẹp lòng Đức Chúa Trời. Chúng ta cần có một cuộc sống quân bình như ý của một vần thơ do Wesley viết:
“Trung tín với lời khuyên của Chúa,
tôi chọn phần tốt nhất cho Ngài:
Như Ma-thê: đôi tay khéo léo
Như Ma-ri: tấm lòng mến yêu”
Chúng ta mong đợi Ma-thê sẽ chạy ra đón Chúa Giê-xu, còn Ma-ri ở trong nhà than khóc với bạn hữu. Sau đó, Ma-ri lặp lại lời chào Chúa giống như Ma-thê (Gi 11:32), dường như họ đã nói với nhau lời này khi chờ Chúa đến. Dù trong câu nói của họ lộ một chút thất vọng, nhưng cũng bày tỏ bằng chứng về đức tin, vì chưa có ai chết khi Chúa hiện diện. Chữ “nếu” nghe vĩ đại làm sao? Thật vô ích khi tưởng tượng điều có thể xảy ra, “nếu...! ”
Ma-thê nhanh chóng xưng nhận đức tin nơi Chúa Giê-xu (Gi 11:22). Chúa đáp lại đức tin ấy khi bảo đảm với bà rằng La-xa-rơ anh bà sẽ sống lại. Ngài đang nói đến hoàn cảnh hiện tại, nhưng Ma-thê lại hiểu lời Ngài theo ý nghĩa của sự sống lại trong ngày sau rốt (Gi 5:28-29; Dan 12:2,3). Đây là một điển hình trong Phúc-Âm Giăng về những người không hiểu chân lý thuộc linh nên không thể hiểu lời Chúa Giê-xu.
Khi chép lời Ma-thê, đây là lần thứ 5 Ngài phán “TA LÀ...” Đáng chú ý rằng Chúa không phủ nhận điều Ma-thê nói về sự sống lại trong ngày sau rốt. Sự sống lại của thân thể con người là giáo lý quan trọng trong Do-thái giáo chính thống.
Nhưng qua lời phán kỳ diệu của Chúa “TA LÀ”, Ngài đã thay đổi hoàn toàn giáo-lý này. Khi làm vậy, Ngài đem đến cho Ma-thê nguồn an ủi lớn.
-Trước hết, Chúa đem giáo lý về sự sống lại từ bóng tối ra ánh sáng. Sự mạc khải trong Cựu-ước về sự chết và sự sống lại không rõ nghĩa và không trọn vẹn. Giáo lý này còn đang “ở trong bóng tối”.
Thật ra có một số đoạn trong Thi-thiên và Truyền-đạo đều khiến người ta nghĩ rằng sự chết là một kết thúc và không có gì hy vọng bên kia phần mộ. Các giáo-sư giả rất thích sử dụng những đoạn Kinh Thánh này để bổ sung cho những tà thuyết của họ, nhưng lại bỏ qua (hoặc cắt nghĩa sai) những giáo-lý rõ ràng được chép trong Thánh Kinh Tân-ước.
Xét cho cùng, ngoài Chúa Giê-xu ra, Đa-vít hay Sa-lô-môn đều không phải là người “phô bày sự sống và sự không hề chết ra cho rõ ràng” (IITim 1:10)!
Qua sự dạy dỗ, các phép lạ và sự sống lại của Chúa, Ngài đã cho chúng ta biết rõ ràng về sự sống lại của thân thể con người. Ngài tuyên bố một lần đủ cả rằng sự chết là điều phải xảy đến, có một sự sống sau khi chết, và thân thể con người sẽ được sống lại ngày sau rốt bởi quyền năng Đức Chúa Trời.
Chúa thay đổi giáo-lý về sự sống lại này theo cách thứ hai: Ngài đem giáo-lý ấy ra khỏi sách vở và đặt nó vào chính thân vị Ngài: “Ta là sự sống lại và sự sống” (Gi 11:25). Khi cảm tạ Đức Chúa Trời về những điều dạy dỗ trong Kinh Thánh (những điều Ma-thê biết là do Thánh Kinh Cựu-ước), chúng ta nhận biết rằng mình được cứu rỗi là do Đấng Cứu Chu ộc – Chúa Giê-xu, chớ không bởi một giáo-lý được chép trong sách. Khi biết Ngài qua đức tin, chúng ta sẽ không sợ hãi bóng của sự chết!
Khi đau bệnh, bạn cần một bác sĩ chớ không phải một cuốn sách y học hay một công thức nào. Khi bị kiện cáo, bạn cần một luật sư chớ không phải một cuốn sách luật. Tương tự như vậy, khi đối diện với kẻ thù sau cùng là sự chết, bạn cần có Đấng Christ chớ không phải một giáo-lý được chép trong sách: “...anh em ở trong Đức Chúa Giê-xu, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh và sự cứu chuộc cho chúng ta” (ICôr 1:30). Khi thuộc về Ngài, bạn sẽ có mọi điều mình cần trong sự sống, sự chết, thời giờ và cả sự vĩnh cửu nữa!
Có lẽ sự thay đổi kỳ diệu nhất mà Chúa Giê-xu đã thực hiện, đó là cách Ngài đem giáo-lý về sự sống lại trong ngày sau rốt sang hiện tại. Ma-thê trông đợi về tương lai, biết rằng La-xa-rơ sẽ sống lại và bà sẽ được gặp anh mình. Bạn hữu bà nhớ lại những sự kiện đã qua nên nói rằng: “Người đã mở mắt kẻ mù được, há chẳng có thể cũng làm cho người này không chết sao?” (Gi 11:37). Chúa muốn hướng sự chú ý của họ vào hiện tại: bất cứ nơi đâu Ngài hiện diện, nơi ấy đều có quyền năng phục sinh của Đức Chúa Trời (Rô 6:4; Ga 2:20; Phi 3:10).
Chúa Giê-xu xác nhận rằng những người tin Ngài sẽ sống lại từ cõi chết (Gi 11:25), sau đó Ngài bày tỏ lẽ thật kế tiếp rằng người tin Ngài sẽ “không bao giờ chết!” (Gi 11:26). Việc ấy sẽ xảy ra như thế nào? Bạn hãy xem câu trả lời ở ITês 4:13,17.
Khi Chúa Giê-xu tái lâm trên không trung để rước người tin Ngài đi, những ai đang sống vào thời điểm Chúa đến sẽ không bao giờ chết. Họ sẽ được biến hóa và được cất lên không trung gặp Ngài!
Ma-thê không lưỡng lự khi xác nhận đức tin mình. Bà gọi Chúa Giê-xu với ba danh hiệu: Chúa, Đấng Christ (Mê-si-a) và Con Đức Chúa Trời. Câu nói “tôi tin” được viết ở thì hiện tại hoàn thành, chỉ rõ một đức tin đã định hình “Tôi đã tin và sẽ còn tiếp tục tin!”
• Chúa đã khiến Ma-thê xưng ra đức tin.
Giờ đây Ngài phải giúp Ma-ri. Vì sao Ma-thê lại “lén” kêu Ma-ri? Có lẽ vì sự an toàn của Chúa, bởi họ biết các nhà lãnh đạo đang rình bắt Chúa Giê-xu. Khi Ma-ri đứng dậy đón Chúa, bạn hữu bà nghĩ rằng bà sẽ đến mộ anh để khóc. Họ muốn chia buồn cùng Ma-ri nên đi theo. Bạn hãy hình dung sự ngạc nhiên của họ khi gặp Chúa Giê-xu! Ma-ri là người được nhắc đến ba lần trong Thánh Kinh Tân-ước, mỗi lần bà đều ngồi ở dưới chân Chúa Giê-xu (Lu 10:39; Gi 11:32; Gi 12:3).
Ma-ri ngồi dưới chân Chúa để nghe lời Ngài, sấp mình xuống chân Chúa để bày tỏ sự đau khổ, và dùng dầu quí xức chân Chúa để thờ phượng Ngài. Những lời duy nhất Ma-ri nói ở Gi 11:32 là lời lặp lại điều Ma-thê đã nói ở câu Gi 11:21.
Ma-ri không thể nói gì nhiều hơn vì vừa dằn được cơn đau buồn và bắt đầu khóc. Bạn hữu bà cũng khóc với bà như phong tục người Do-thái vẫn làm. Chúa bày tỏ sự cảm động của mình khi Ngài khóc. Có lẽ Ngài đã thay đổi tâm trạng từ cảm động sang phẫn nộ. Ngài phẫn nộ điều gì? Đó là sự huỷ diệt mà tội lỗi đã đem vào thế gian Ngài tạo dựng. Sự chết là kẻ thù và Sa-tan đã sử dụng nỗi kinh khi ếp của sự chết làm vũ khí lợi hại cho nó (Hêb 2:14-18). Dĩ nhiên, điều đó khiến Chúa phẫn nộ!
Việc Chúa khóc cho chúng ta thấy nhân tính của Đấng Christ, Ngài thâm nhập vào một từng trải của đời sống con người hầu biết rõ tâm tư tình cảm chúng ta. Thật ra, khi ở trong thân vị Con Người hoàn thiện, Chúa Giê-xu từng trải những điều này sâu sắc hơn chúng ta. Những giọt nước mắt của Ngài cũng giúp ta hiểu Ngài là Đấng có lòng thương xót Ngài thật sự là “Người từng trải sự buồn bực” (Ês 53:3).
Hôm nay, Ngài là Thầy Tế-Lễ Thượng Phẩm thành tín và có lòng thương xót, nên chúng ta có thể đến trước ngôi ơn phước để tìm ơn giúp đỡ khi cần (Hêb 4:14-16).
Qua những giọt nước mắt của Chúa, chúng ta thấy thảm trạng của tội lỗi và cả sự vinh hiển trên trời. Có lẽ Chúa khóc cho La-xa-rơ vì biết rằng Ngài sẽ gọi bạn hữu Ngài từ thiên đàng trở lại một thế giới gian ác nơi mà một ngày kia La-xa-rơ cũng phải chết một lần nữa. Vốn từ trên trời xuống thế gian, Chúa Giê-xu biết rõ những gì La-xa-rơ sắp bỏ lại phía sau.
Qua những giọt nước mắt của Chúa, người chứng kiến có thể thấy một bằng chứng về tình yêu của Ngài. Nhưng, một số người lý luận: “Nếu Ngài yêu La-xa-rơ dường ấy, há chẳng thể làm cho người ấy không chết sao?” Cũng có thể họ cho rằng: “Chúa Giê-xu khóc vì không thể làm được gì. Đó là những giọt nước mắt đầy nuối tiếc”.
Nói cách khác, không ai có mặt ở đó thật sự chờ đợi một phép lạ! Bởi lẽ ấy, không ai có thể tố cáo Chúa về việc “âm mưu” bày ra sự kiện này và thông đồng với hai chị em cùng bạn hữu họ. Cả các môn-đệ Chúa cũng không tin rằng Chúa Giê-xu có thể khiến La-xa-rơ sống lại từ cõi chết!
Ma-thê là người tuyên xưng đức tin (Gi 11:27) và cũng là người đánh mất đức tin vào phút cuối: “Mở cửa mộ sao? Bây giờ người chết đã có mùi!” Chúa ôn tồn nhắc Ma-thê nhớ lại lời Ngài phán trước đó ba ngày (Gi 11:4) và khuyên bà hãy có lòng tin. Khi đức tin thật đặt nền tảng trên lời hứa của Đức Chúa Trời sẽ khiến quyền năng Đức Chúa Trời hành động. Ma-thê trấn tĩnh lại, và hòn đá được lăn ra.
3. Người Giu-đa (Gi 11:41-57)
Đến đây, nội dung tập trung vào đức tin của những người chứng kiến sự kiện này. Họ là người đã đến an ủi Ma-ri và Ma-thê. Chúa Giê-xu cầu nguyện (Gi 11:41; Gi 6:11) và cảm tạ Đức Chúa Trời về việc lời cầu nguyện của Chúa đã được nhậm.
Vậy Ngài cầu xin điều này khi nào? Có lẽ Ngài đã cầu nguyện ngay khi biết tin La-xa-rơ bị đau (Gi 11:4). Đức Chúa Trời đã cho Chúa Giê-xu biết trước chương trình Ngài nên Chúa Giê-xu vâng theo ý Cha. Giờ đây, Ngài cầu nguyện vì những người chứng kiến này không có lòng tin, hầu cho họ biết rằng Đức Chúa Trời đã sai Ngài đến.
Có một tác giả Thanh giáo cho rằng nếu Chúa không gọi tên La-xa-rơ khi Ngài kêu lớn tiếng, có lẽ Ngài sẽ làm cả nghĩa trang biến mất! Vì La-xa-rơ bị buộc chặt bằng vải liệm đáng lẽ ông không thể đi ra cửa mộ được, nhưng quyền năng Đức Chúa Trời đã đưa ông đi ra. Đó là một phép lạ rõ ràng, thậm chí những kẻ có lòng ganh ghét nhất cũng không thể phủ nhận.
Sự sống lại của La-xa-rơ là một điển hình về điều xảy đến đối với một tội nhân khi tin nhận Đấng Christ (Êph 2:1-10). La-xa-rơ đã chết và mọi tội nhân đều là “kẻ chết”. Người chết bị mục rữa vì sự chết và sự hư hoại luôn đồng hành với nhau.
• Mọi kẻ hư mất đều “chết” về mặt tâm linh.
Một số xác chết này có thể “mục rữa”hơn xác chết khác, nhưng không hề có tình trạng xác này “chết hơn” xác kia. Vì tất cả đều chết.
Bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, La-xa-rơ được sống lại. Những ai tin nhận Đấng Christ đều được ban cho sự sống mới thoát khỏi mồ mả của tội lỗi (Gi 5:24). La-xa-rơ được cởi bỏ lớp vải liệm (Côl 3:10) và được hưởng sự tự do mới. Bạn sẽ thấy ông ngồi đồng bàn với Chúa Giê-xu (Gi 12:2). Mọi người tin Chúa đều đồng ngồi với Đấng Christ tại các nơi trên trời (Êph 2:6) để dự yến tiệc thuộc linh trong mối tương giao với Chúa.
Bởi sự thay đổi kỳ diệu ở La-xa-rơ, nhiều người muốn được thấy ông, và Đức Chúa Trời đã dùng “bằng chứng sống” này để đem con người đến với sự cứu rỗi (Gi 12:9-11). Các sách Phúc-Âm không chép gì thêm về La-xa-rơ, nhưng sự hiện diện của ông trong đời sống hằng ngày đủ để thuyết phục người khác tin rằng Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời. Vì chứng cớ này gây ảnh hưởng mạnh mẽ, các lãnh đạo Do-thái muốn bắt và giết La-xa-rơ hòng dập tắt chứng cớ ấy.
Qua những phép lạ Chúa làm trước đó, dân sự hưởng ứng bằng cách chia phe ra. Một số người tin Chúa đã làm chứng về phép lạ này vào ngày Chủ nhật trước Lễ Phục Sinh (Gi 12:17-18). Nhưng một số khác đi báo cho các cấp lãnh đạo những điều xảy ra ở Ba-thê-tha-ni. Những kẻ “báo tin” này đã ở rất gần Nước Trời, nhưng chẳng hề có dấu hiệu tin nhận nơi họ.
Khi lòng người không muốn đầu phục chân-lý, vậy ân-điển Đức Chúa Trời không thể đem người ấy đến sự cứu rỗi được. Những người này lẽ ra đã có thể kinh nghiệm được một sự sống lại về thuộc linh trong đời sống họ!
Tòa Công Luận nhanh chóng được triệu tập để bàn việc “đối phó” với Chúa Giê-xu. Họ không muốn tìm kiếm chân-lý, chỉ kiếm cách bảo vệ những quyền lợi ích kỷ của bản thân. Nếu Chúa tập hợp được nhiều người tin theo, Ngài sẽ gây sự chú ý cho nhà cầm quyền La-mã, và điều này có thể gây tổn hại cho “cơ đồ” của người Giu-đa.
Là thầy cả thượng phẩm đương niên, Cai-phe thuộc dòng Sa-đu-sê chớ không phải dòng Pha-ri-si (Công 23:6-10), nhưng hai phe này luôn hiệp nhau để chống một kẻ thù.
Cai-phe không hề chuẩn bị trước đã thốt ra một lời tiên-tri: rằng Chúa Giê-xu sẽ vì dân mà chết để họ không bị hư mất. “Người đã bị dứt khỏi đất người sống, là vì cớ tội lỗi dân ta đáng chịu đánh phạt” (Ês 53:8). Cùng với khải-tượng này bày tỏ về đại gia đình Đức Chúa Trời, Giăng giải thích thêm rằng: Chúa Giê-xu không những chết vì dân Do-thái mà thôi, nhưng cũng vì mọi con cái Đức Chúa Trời là những người sẽ nhóm nhau trong một gia đình nơi thiên đàng (Gi 4:42; Gi 10:16).
Ngày ấy, các quan chức lập mưu để giết Ngài (Mat 12:14; Lu 19:47; Gi 5:18; Gi 7:1,19-20,25). Họ nghĩ rằng họ đã làm chủ được tình hình, nhưng Đức Chúa Trời mới là Đấng thực hiện kế hoạch tiền định của Ngài (Công 2:23). Thật ra, họ muốn trì hoãn kế hoạch này đến sau lễ Vượt Qua, nhưng Đức Chúa Trời đã hành động theo cách khác.
Chúa Giê-xu rút về thành Ép-ra-im, cách Giê-ru-sa-lem khoảng 15 dặm về phía Bắc Ngài ở yên lặng cùng các môn đệ tại đó. Dân chúng tập trung về Giê-ru-sa-lem để dự lễ Vượt Qua, họ thắc mắc chẳng biết Chúa sẽ dự kỳ lễ này khi đang gặp nguy hiểm hay không. Giờ đây Ngài đã bị liệt vào danh sách bị “truy nã”, vì toà Công Luận rao rằng ai biết Chúa Giê-xu ở đâu phải báo cho họ.
Đoạn 11 bày tỏ thần tính của Chúa Giê-xu cùng sự bại hoại hoàn toàn của lòng người.Người giàu nơi âm phủ đã lý luận rằng: “Nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn” (Lu 16:30). La-xa-rơ đã sống lại từ cõi chết, nhưng các quan trưởng lại muốn giết ông! Phép lạ thật sự bày tỏ quyền năng Đức Chúa Trời, nhưng chính phép lạ không thể truyền đạt ân-điển Đức Chúa Trời được.
Đây là giai đoạn đầy kịch tính nhất trong lịch sử khi con người làm điều gian ác nhất và Đức Chúa Trời bày tỏ sự kỳ diệu vô đối của Ngài.
Nào ta hãy đến tôn thờ Ngài – là Christ – là Chúa!
12. ĐẤNG CHRIST VÀ GIAI ĐOẠN KHỦNG HOẢNG (Gi 12:1-50)
Ở đoạn 12, Giăng ghi lại giai đoạn khủng hoảng lớn lần thứ hai trong chức vụ Chúa Giê-xu được chính ông chứng kiến. Khủng hoảng đầu tiên xảy ra khi các môn-đệ không muốn đồng hành với Chúa (Gi 6:66) dù Ngài là “đường đi” (Gi 14:6). Trong đoạn này, Giăng cho biết nhiều người không tin Ngài (Gi 12:37) dù Ngài là “chân-lý”. Giai đoạn khủng hoảng thứ ba sẽ xảy ra ở đoạn Gi 19: dù Chúa là “Sự sống”, con người vẫn muốn đóng đinh Ngài.
Mở đầu Phúc-Âm, Giăng cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-xu đã “đến trong xứ mình (thế gian) nhưng dân mình (con người) chẳng hề nhận lấy” (Gi 1:11). Trong 12 đoạn đầu, Giăng đưa ra các chứng cớ và nhân chứng nối tiếp nhau, hầu giúp ta tin rằng Chúa Giê-xu thật sự là Đấng Christ Con Đức Chúa Trời. Mọi chứng cớ ấy đều được các quan trưởng trong xứ chứng kiến trực tiếp, nhưng họ vẫn chối bỏ những lẽ thật của Chúa. Bị “dân mình” chối bỏ, Chúa Giê-xu đến với các môn-đệ Ngài, họ là những người Ngài “yêu cho đến cuối cùng” (Gi 13:1).
Qua đoạn 12, chúng ta sẽ thấy Chúa Giê-xu đến với 4 nhóm người và học được nhiều điều khi nghiên cứu đoạn này.
1. Chúa Giê-xu và bạn hữu Ngài (Gi 12:1-11)
Chúa Giê-xu biết các lãnh đạo Do-thái tìm bắt và giết Ngài (Gi 11:53,57) nhưng Ngài vẫn trở lại Bê-tha-ni là nơi chỉ cách thành luỹ kẻ thù hai dặm – Vì sao? Ngài trở lại Bê-tha-ni hầu có thể ở yên tĩnh cùng các bạn hữu Ngài là Ma-ri, Ma-thê và La-xa-rơ. Thật đúng với cá tính mỗi người, Ma-thê bận rộn hầu việc Chúa, còn Ma-ri thờ phượng nơi chân Ngài (Lu 10:38-42).
Câu chuyện Ma-ri xức dầu cho Chúa Giê-xu cũng được chép trong Phúc-âm Ma-thi-ơ 26:6-13 và Mac 14:3-9. Bạn đừng nhầm lẫn với sự kiện được chép ở Lu 7:36-50 nói về một đàn bà trước đó làm kỵ nữ đã đến xức dầu cho Chúa tại nhà Si-môn người Pha-ri-si. Ma-ri là người nữ đạo đức đã xức dầu cho Chúa trong nhà Si-môn là người trước đây bị phung (Mac 14:3).
Sự kiện ở Lu 7:1-50 xảy ra tại Ga-li-lê còn câu chuyện chúng ta xem ở đoạn này xảy ra tại xứ Giu-đê. Chẳng có gì lạ khi hai người đều mang tên “Si-môn”, vì đó là một tên thông dụng thời bấy giờ.
Khi đối chiếu sự kiện này chép ở ba sách Phúc-Âm, bạn biết rằng Ma-ri đã xức dầu trên đầu và dưới chân Chúa. Hành động ấy xuất phát từ một tình yêu thánh khiết trong lòng bà, vì bà biết Chúa sắp phải chịu thương khó và chết. Do ngồi nơi chân Chúa và lắng nghe Ngài dạy dỗ, Ma-ri biết điều Chúa sẽ thực hiện. Thật ý nghĩa khi Ma-ri không đi với những người đàn bà đến mộ xức dầu xác Chúa (Mac 16:1).
Theo một ý nghĩa nào đó, Ma-ri muốn bày tỏ sự tận tâm của bà với Chúa trước khi không còn cơ hội. Bà muốn dâng cho Ngài “những bông hồng” khi Ngài còn sống trên đất chớ không muốn đem chúng đến phần mộ! Hành động yêu mến và thờ phượng Chúa của Ma-ri mang tính “công khai, tự nguyện, dâng hiến, rời rộng, cá nhân và không ngượng ngùng”. Chúa Giê-xu gọi đó là “một việc tốt” (Mat 26:10; Mac 14:6). Ngài khen ngợi và bênh vực cho bà trước mọi người.
Một người lao động phải dành dụm tiền lương của một năm mới có thể mua được loại dầu quý giá ấy. Giống như vua Đa-vít, Ma-ri không muốn dâng cho Chúa những gì “không đáng giá” (IISa 24:24).
Hành động thờ phượng tuyệt vời này đã khiến hương thơm tỏa khắp ngôi nhà họ đang dùng bữa, và phước hạnh của việc Ma-ri làm đã được cả thế giới biết đến (Mat 26:13; Mac 14:9). Ma-ri đâu biết rằng sự yêu mến bà dành cho Đấng Christ trong buổi tối ấy sẽ trở thành một phước hạnh cho những người tin Chúa khắp thế giới trong những thể kỷ tiếp nối!
Khi phục nơi chân Chúa, Ma-ri đã chọn vị trí của một tôi tớ. Khi xõa tóc ra (phục nữ Do-thái không làm vậy trước mọi người), bà đã khiêm cung đặt niềm kiêu hãnh của bản thân nơi chân Chúa (ICôr 11:15). Dĩ nhiên, Ma-ri đã bị hiểu lầm và chỉ trích, nhưng đó là điều thường xảy đến cho những ai muốn dâng Chúa điều tốt nhất.
Chính Giu-đa là kẻ mở đầu chỉ trích và thật đáng buồn khi các môn-đệ khác cũng dự phần vào. Họ đâu biết Giu-đa từng là “tay trộm cắp” (Gi 12:6) nên tán đồng sự “quan tâm” của hắn đối với kẻ nghèo khó. Xét cho cùng, Giu-đa là người “giữ túi bạc”, đặc biệt vào kỳ lễ Vượt Qua hắn muốn dự phần với những kẻ “bạc phước” (Gi 12:21-30). Vào giờ phút cuối, các môn-đệ vẫn cho rằng Giu-đa là một môn-đệ tận tụy của Chúa Giê-xu.
Câu nói đầu tiên của Giu-đa ở Gi 12:5 cũng được chép trong sách Phúc-âm Ma-thi-ơ và Mác. Câu nói sau cùng của Giu-đa được chép trong Mat 27:4. Giu-đa vốn là tay trộm cắp nên quen ăn cắp tiền trong các hộp tiền hắn giữ (tiếng Hy-lạp gọi là “cái túi”, trước đây vốn là một hộp nhỏ giữ những chiếc miệng kèn của những nhạc khí dùng hơi.
Sau cùng, nó có nghĩa như một “cái hộp” nhỏ, đặc biệt là hòm đựng tiền. Bản dịch Cựu-ước bằng tiếng Hy-lạp sử dụng từ này ở IISu 24:8-10 nói về “cái hòm” đựng tiền của vua Giô-ách).
Dĩ nhiên Giu-đa quyết định phản Chúa và muốn thực hiện những việc hắn có thể làm vì cho rằng bản thân đang ở trong tình trạng xấu. Có lẽ hắn mong Chúa Giê-xu sẽ đánh bại La-mã và lập vương quốc mới để hắn làm “quan coi kho”!
Việc làm của Ma-ri là một sự chúc phước đối với Chúa Giê-xu và là một phước hạnh cho đời sống bà. Bà cũng là một phước hạnh đối với gia đình khi làm tỏa ra hương thơm (Phi 4:18). Hôm nay, bà cũng là một phước hạnh đối với Hội thánh Chúa khắp thế giới. Hành động tận tuỵ của bà trong ngôi làng bé nhỏ ở thành Bê-tha-ni khi xưa vẫn luôn làm xao động những “làn sóng phước hạnh”.
Ngày nay, người ta đặt tên con gái mình là “Ma-ri”, nhưng không có cha mẹ nào đặt tên “Giu-đa” cho con trai họ. Tên Giu-đa (Judas) được ghi trong từ điển đồng nghĩa với “kẻ lừa thầy phản bạn”. Ma-ri và Giu-đa được thấy trong Ch 10:7 “kỷ niệm người công bình được khen ngợi, nhưng tên kẻ gian ác rục đi”. Tr 7:1 chép rằng “Danh tiếng hơn dầu quý giá” và Ma-ri là người có được 2 điều trên.
• Mat 26:14-15 khiến chúng ta có cảm giác rằng ngay sau khi bị Chúa quở trách, Giu-đa đã tìm gặp các thầy tế-lễ để mặc cả về việc nộp Chúa Giê-xu. Nhưng dường như những sự kiện ở Mat 21:1-25:46 xảy ra trước. Rất có thể lời Chúa trách Giu-đa đã góp phần vào quyết định phản bội Chúa của hắn. Việc Chúa báo trước về sự chết của Ngài cũng là nhân tố thúc đẩy Giu-đa ra đi khi cơ hội đã đến.
Khi xem sự kiện này, chúng ta cũng thấy những người tiêu biểu làm gương cho chúng ta,
-Ma-thê đại diện cho “sự hầu việc” khi bà phục vụ bữa ăn đã chuẩn bị từ trước cho Chúa. Đây cũng là một “của lễ có mùi thơm” không khác gì dầu quý giá của Ma-ri (Hêb 13:16).
-Ma-ri đại diện cho “sự thờ phượng” và
-La-xa-rơ đại diện cho “sự làm chứng” (Gi 11:9-11). Những người đến Bê-tha-ni cốt để xem La-xa-rơ là người được khiến sống lại từ cõi chết.
Không có câu nói nào của La-xa-rơ được ghi lại trong Thánh Kinh Tân-ước, nhưng sự sống kỳ diệu của ông là một chứng cớ hữu hiệu cho danh Chúa Giê-xu (Ngược lại, Giăng Báp-tít chưa hề làm phép lạ những lời nói của ông đã khiến nhiều người đến với Chúa Giê-xu (Gi 10:40-42).
Hôm nay chúng ta phải bước đi “trong đời mới” (Rô 6:4) vì đã “được sống lại với Đấng Christ” (Êph 2:1-10; Côl 3:1). Thật vậy đời sống Cơ-đốc nhân phải thể hiện mức quân bình về sự thờ phượng, hầu việc và làm chứng cho Chúa.
Tuy nhiên, việc La-xa-rơ là một phép lạ sống khiến ông bị rơi vào tình trạng nguy hiểm: các nhà lãnh đạo Do-thái muốn giết ông như họ muốn giết Chúa Giê-xu vậy! Chúa chúng ta thật có lý khi gọi họ là con cái của ma quỷ vì họ là kẻ giết người (Gi 8:42-44).
Họ đuổi người mù được chữa lành ra khỏi nhà hội chớ không cho phép người ấy làm chứng về Chúa Giê-xu trong ngày Sa-bát. Họ cũng tìm cách đưa La-xa-rơ trở lại phần mộ vì ông đã khiến nhiều người tin nơi Chúa Giê-xu, khi con người không muốn tiếp nhận chứng cớ về chân-lý, họ sẽ tìm cách tống khứ điều ấy đi!
Cho dù các môn-đệ đã có thái độ tệ bạc đối với Ma-ri nhưng buổi tối thông công yên tịnh này đã đem lại sự khích lệ mạnh mẽ cho Đấng Christ khi Ngài đối diện với những thử thách trong tuần lễ cuối cùng trước khi bước lên thập-tự giá. Chúng ta cần xét lại lòng mình và gia đình mình để biết chúng ta có đang làm vui lòng Chúa qua sự thờ phượng, hầu việc và làm chứng của mình hay không.
2. Chúa Giê-Xu và những người đến dự lễ Vượt Qua (Gi 12:12-19)
Từ một bữa ăn tối yên tịnh tại Bê-tha-ni, Giăng chuyển sang quanh cảnh của một đám đông ồn ào ở Giê-ru-sa-lem. Bốn sách Phúc-Âm đều chép lại sự kiện này. Đây là cuộc diễu hành công khai duy nhất được Chúa cho phép khi Ngài thi hành chức vụ trên đất.
Mục đích của Ngài nhằm làm ứng nghiệm lời tiên-tri trong Cựu-ước (Xa 9:9). Sự kiện này đã gây lòng tức giận đối với các lãnh đạo tôn giáo, cuối cùng dẫn đến việc Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên thập-tự giá.
Có 3 nhóm người trong đám đông hôm ấy:
(1). Những người đến dự lễ Vượt Qua từ bên ngoài (Gi 12:12,18).
(2). Dân trong vùng đã chứng kiến và làm chứng sự sống lại của La-xa-rơ (Gi 12:17)
(3). Các quan trưởng là những người quan tâm đặc biệt đến việc Chúa Giê-xu làm tại kỳ lễ (Gi 12:19). Ở mỗi kỳ lễ, dân chúng đều nôn nóng chờ đợi, hoang mang về sự hiện diện của Chúa và điều Ngài sẽ làm. Sự chờ đợi của họ như thể Chúa sắp dấy lên một cuộc cách mạng và tự lập mình làm vua nhưng đó không phải là mục đích của Ngài.
Sự kiện này có ý nghĩa gì đối với Chúa Giê-xu? Thứ nhất, nó thể hiện sự vâng lời của Ngài đối với ý Cha trên trời. Tiên-tri Xa-cha-ri (Xa 9:9) báo trước rằng Đấng Mê-si-a sẽ vào thành Giê-ru-sa-lem theo cách ấy, và Chúa Giê-xu đã làm trọn lời tiên-tri.
“Con gái Si-ôn” cũng là danh hiệu dành cho thành Giê-ru-sa-lem (Giê 4:31; Ca 2:4,8,10). Chúa Giê-xu muốn tuyên bố công khai với dân sự rằng Ngài thật là vua Y-sơ-ra-ên (Gi 1:49). Đấng Mê-si của giao-ước. Có lẽ, nhiều người đến dự lễ hy vọng đây là thời điểm Chúa sẽ tiêu diệt La-mã và giải phóng dân tộc Y-sơ-ra-ên!
Cuộc diễu hành này có ý nghĩa gì đối với người La-mã? Kinh thánh không ghi lại quan điểm của nhà cầm quyền La-mã, nhưng chắc hẳn họ đã kiểm soát rất chặt chẽ vào ngày đó. Trong kỳ lễ Vượt Qua hằng năm, cũng thường xảy ra việc một số nhà dân tộc chủ nghĩa Do-thái tìm cách xui dân nổi loạn.
Có lẽ dân La-mã cho rằng đám đông này cũng có mục đích tương tự. Tôi hình dung rằng một số lính La-mã chắc đã nhạo cười cuộc diễu hành tưng bừng này, vì nó chẳng giống như lễ kỷ niệm “chiến thắng của quân La-mã” tại thành Rô-ma.
Khi một tướng La-mã thắng trận trên xứ người, đã giết ít nhất là 5.000 kẻ thù và dành được một lãnh địa mới, người ấy sẽ được dân La-mã đón mừng khi trở lại thành phố! Kẻ thắng trận được phép phô bày các chiến lợi phẩm và những viên chỉ huy địch mình bắt được. Đám đông sẽ tập trung tại vũ đài nơi những tù binh bị buộc làm trò tiêu khiển cho dân chúng bằng cách thi đấu với dã thú. So với lễ mừng chiến thắng của La-mã, việc tiến vào thành Giê-ru-sa-lem của Chúa Giê-xu chẳng có ý nghĩa gì!
Cuộc diễu hành này có ý nghĩa gì đối với dân Do-thái? Dân từ mọi nơi đến dự lễ đã đón mừng Chúa Giê-xu, trải áo ra trước mặt Ngài, dùng lá kè vẫy chào Ngài như dấu hiệu của sự hòa bình và chiến thắng (Kh 7:9). Họ trích dẫn Thi 118:26 là câu Kinh Thánh nói về Đấng Mê-si-a và tuyên bố Ngài là “Vua Y-sơ-ra-ên”. Trong khi họ làm điều này, Chúa Giê-xu đã khóc! (Lu 19:37-44).
Tên gọi “Giê-ru-sa-lem” có nghĩa là “thành phố hòa bình” hoặc “nền hòa bình”. Dân chúng hy vọng (Chúa Giê-xu sẽ đem đến sự hòa bình như họ hằng mong đợi. Tuy nhiên, Ngài khóc vì nhìn thấy viễn cảnh của đất nước này: chiến tranh, đau khổ, sự hủy diệt và tan lạc.
Khi Chúa giáng sinh, thiên-sứ loan báo “bình an dưới đất” (Lu 2:13-14) nhưng khi thi hành chức vụ, Chúa Giê-xu lại báo trước về “chiến tranh trên đất” (Lu 12:51). Thật ý nghĩa khi dân chúng hô lên rằng “bình an ở trên trời” (Lu 19:38), vì đó là nơi duy nhất có sự bình an hôm nay!
Dân tộc này đã đánh mất biết bao cơ hội, các nhà lãnh đạo của họ cũng không nhận biết thời điểm Đức Chúa Trời viếng thăm. Họ không có sự hiểu biết về Kinh Thánh. Trong tương lai, dân Y-sơ-ra-ên sẽ chứng kiến Vua họ ngự đến theo cách hoàn toàn khác! (Kh 19:11). Ngài sẽ tái lâm trong vinh hiển (chớ không phải trong sự khiêm nhường) cùng với các thiên-binh hầu việc Ngài. Đó sẽ là một cảnh tượng đắc thắng khi Ngài đến tiêu diệt kẻ thù và lập vương quốc Ngài.
Một chủ đề tái hiện trong Kinh Thánh, đó là không thể có sự vinh hiển mà trước hết không trải qua sự thương khó. Chúa biết Ngài phải chịu chết trên thập-tự giá trước khi có thể bước vào sự vinh hiển (Lu 24:26). Các nhà thần-học Do-thái chẳng hề để tâm đến sự thương khó của Đấng Mê-si-a và vương quốc vinh hiển được các tiên-tri báo trước. Một số giáo-sư khác cho rằng có hai Đấng Mê-si-a: Một Đấng sẽ chịu thương khó và một Đấng sẽ cai trị thế gian. Cả những môn-đệ Chúa cũng lờ mờ về những điều sắp xảy đến! (Gi 11:16).
Các lãnh đạo Do-thái phản ứng ra sao trước sự kiện Chúa tiến vào Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn? Khi xem thấy đám đông đi theo ngợi khen Chúa Giê-xu, họ biết rằng Ngài đã chiếm trọn tình cảm của dân chúng trong ngày ấy. Họ muốn giải quyết trước một “cuộc nổi loạn” lớn có thể xảy ra trong kỳ lễ Vượt Qua.
Có lẽ Chúa Giê-xu sẽ thực hiện một phép lạ lớn để thu phục tư tưởng tình cảm của những kẻ nghèo khổ! Họ chẳng hiểu gì về tấm lòng của Đấng Christ, và cũng chẳng hề biết Chúa muốn “mượn tay họ” để Tòa Công Luận sẽ hành động trong kỳ lễ này. Chiên Con Đức Chúa Trời phải phó mạng sống Ngài khi các chiên con dùng cho lễ Vượt Qua sắp bị giết.
Câu nói: “Kìa! Cả thiên hạ đều chạy theo người!” (Gi 12:19) vừa là câu “cường điệu”, vừa là một lời tiên-tri. Ở phân đoạn kế tiếp, chúng ta sẽ gặp những khách thập phương ngoài địa phận Y-sơ-ra-ên.
3. Chúa Giê-xu và khách thập phương (Gi 12:20-36)
Sau khi vào Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đã dọn dẹp đền thờ lần thứ nhất. Ngài trích dẫn Kinh Thánh Ês 56:7 và Giê 7:11 “Há chẳng có lời chép: Nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân hay sao? Nhưng các ngươi đã làm thành cái hang trộm cướp?” (Mac 11:17). Có lẽ khi nghe lời này, người Hy-lạp được sự khích lệ lớn.
Một trong những chủ đề lớn trong Phúc-âm Giăng là: Chúa Giê-xu là Đấng Christ của thế gian, chớ không chỉ là Đấng Cứu Chuộc Y-sơ-ra-ên. Ngài là Chiên Con Đức Chúa Trời. Đấng cất tội lỗi thế gian đi (Gi 1:29), bởi vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian” (Gi 3:16). Người Sa-ma-ri nhận Ngài là “Cứu Chúa của thế gian” (Gi 4:42).
Ngài phó sự sống mình vì thế gian hầu có thể ban cho thế gian sự sống (Gi 6:33). Ngài là Sự sáng của thế gian (Gi 8:12). Trọng tâm của Phúc-âm Giăng được mọi người biết đến thật rõ ràng và không thể phủ nhận được: Ngài sẽ đem về “bầy chiên khác” không thuộc bầy Do-thái (Gi 10:16; Gi 11:51-52).
Đoạn Kinh thánh này cho thấy những người Gờ-réc có thói quen đến thờ phượng Đức Chúa Trời vào kỳ lễ. Họ không phải là khách thập phương hiếu kỳ hay những kẻ “một lần tìm hiểu cho biết”. Hẳn họ là người kính sợ Đức Chúa Trời, là người ngoại dự lễ trong nhà hội Do-thái và tìm biết chân-lý, nhưng vẫn chưa có sự giác ngộ về đạo Đức Chúa Trời. Những người ngoại đã gặp Chúa Giê-xu khi Ngài còn là một con trẻ (Mat 2:1-23), và bây giờ những người ngoại cũng đến gặp Chúa trước khi Ngài chịu chết.
Những người Gờ-réc xin Phi-líp cho họ được tiếp chuyện với Chúa Giê-xu. Phi-líp thuật lại cho Anh-rê (là người thường dẫn kẻ khác đến với Chúa Giê-xu) và Anh-rê trình với Chúa lời cầu xin này. Có lẽ, nhiều người rất muốn tiếp chuyện riêng với Chúa Giê-xu, nhưng họ sợ người Pha-ri-si (Gi 9:22). Dù là người ngoại, nhưng những người Gờ-réc không sợ nguy hiểm và những điều bất lợi xảy đến cho mình.
Chủ đề trọng tâm của bài giảng này nói về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Gi 12:23,28). Chúng ta tưởng Chúa sẽ nói giờ đã đến, Con Người phải bị đóng đinh. Nhưng Chúa nhìn thấy sự vinh hiển đằng sau thập tự giá (Lu 24:26; Hêb 12:2). Thật vậy, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là một chủ đề chính trong những đoạn còn lại của Phúc-âm Giăng (Gi 13:31-32; Gi 14:13; Gi 17:1,4-5,22,24).
Chúa dùng hình ảnh về hạt giống để minh họa chân-lý thuộc linh tuyệt vời, rằng không thể có sự vinh hiển mà không có sự thương khó không thể có sự sống kết quả nếu không có sự khải hoàn nếu không có sự hy sinh. Về bản chất, hạt giống vốn yếu ớt và vô dụng, nhưng khi “chết” đi, nó thực hiện trọn mục đích mình. Nếu hạt giống biết “nói”, chắc nó sẽ phàn nàn vì bị chôn trong lớp đất lạnh lẽo tối tăm! Tuy nhiên, chỉ có một cách duy nhất để hạt giống đạt được mục đích, nó phải bị gieo xuống đất.
Con cái Đức Chúa Trời được ví như những hạt giống của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, sự sống ấy sẽ chẳng bao giờ kết quả nếu chúng ta không dâng mình cho Đức Chúa Trời và để Ngài “gieo chúng ta” xuống. Chúng ta phải chết về bản ngã mình để sống cho Đức Chúa Trời (Ga 2:20; Rô 6:1-23). Cách duy nhất để đạt được một đời sống kết quả chỉ bởi cách noi theo Chúa Giê-xu qua sự chết, chôn và sống lại.
Khi phán những lời này, Chúa muốn khuyên chúng ta dâng đời sống mình cho Ngài. Bạn hãy chú ý những hình ảnh tương phản: “Ở một mình” hoặc “kết quả được nhiều”, “mất” sự sống hoặc “giữ” được sự sống, “hầu việc” cái tôi hoặc “hầu việc Đấng Christ”, hài lòng với cái tôi hoặc được Đức Chúa Trời tôn quý.
Tôi được biết có một số tín-hữu đi thăm một địa điểm truyền-giáo ở vùng hẻo lánh để tìm hiểu tình hình truyền-giáo ở đó. Khi họ chứng kiến nhóm truyền-giáo hoạt động, họ rất cảm kích về tinh thần truyền-giáo của những người này. Một tín-h ữu đã thốt lên: “Chắc hẳn các bạn thật đã chôn mình ở đây!” Một người truyền-giáo trả lời: “Chúng tôi không chôn mình, chúng tôi được “trồng” ở đây!”
Chúa biết Ngài sắp đương đầu với sự thương khó và sự chết và nhân tính của Ngài sẽ phản ứng trước những thử thách này. Tâm thần Ngài bối rối, không phải vì nghi ngờ ý muốn Đức Chúa Trời nhưng vì Ngài biết rõ những điều liên quan đến thập-tự giá. Bạn hãy để ý, Chúa không nói “ta sẽ làm gì?” vì biết trước nhiệm mạng đã được giao Ngài chỉ nói rằng: “ta sẽ nói gì?” Trong giờ phút chịu thương khó và đầu phục (Gi 12:27). bạn chỉ có thể có 2 lời cầu nguyện, hoặc “Lạy Cha, xin hãy cứu con”, hoặc “Lạy Cha, xin hãy làm vinh hiển danh Ngài!”
Trong một bài giảng của tôi ở đài phát thanh, tôi nói: “Đức Chúa Trời không muốn chúng ta ở tình trạng “tiện nghi” nhưng muốn chúng ta được “thích nghi”. Ngay sau khi chương trình chấm dứt, chuông điện thoại trong phòng tôi reo lên.
Một thính giả giấu tên muốn tranh luận với tôi về câu nói trên, giọng nói bên kia sừng sộ: “Thích nghi với cái gì chớ? Bộ ông chưa đọc Rô 12:2 sao? Chép rằng: “Đừng làm theo đời này”.
Tôi đáp: “Vâng, dĩ nhiên tôi đã đọc” Rô 12:2. Vậy ông cũng chưa đọc Rô 8:29 sao? Đức Chúa Trời đã định sẵn cho chúng ta “để nên giống như hình bóng Con Ngài”.
Sau một chút yên lặng, (tôi mừng vì ông ta chuẩn bị trả tiền điện thoại) ông ậm ừ đáp lời tôi: “Vâng”
Vấn đề đặt ra là: “tiện nghi” hay ‘thích nghi”. Nếu chỉ chăm về cuộc sống tiện nghi, vậy chúng ta sẽ “cố bảo vệ” những kế hoạch và ước muốn của mình, chăm về sự sống của bản thân để chẳng bao giờ được “trồng” xuống. Nhưng nếu chúng ta dâng đời sống mình và để Đức Chúa Trời “trồng” chúng ta, chúng ta sẽ không bao giờ “ở một mình”, nhưng có niềm vui được kết quả cho vinh hiển Đức Chúa Trời. “Nếu ai (người Do-thái hoặc người Gờ-réc) hầu việc ta, thì phải theo ta”,