top of page
Họ...
...không chỉ khẳng định sự hiểu biết của mình mà còn tuyên bố về đức tin và sự biết chắc của họ. “Chúng tôi biết... chúng tôi tin...” Đây hoàn toàn là câu nói của đức tin, và tôi tin rằng Chúa cũng hài lòng với câu nói ấy. Trong lời cầu nguyện của Chúa được chép ở đoạn kế tiếp, Chúa trình với Cha về các môn-đệ Ngài và về tình trạng thuộc linh của họ (Gi 17:6-8).
Chúa hẳn biết rõ sự yếu đuối của họ, nhưng Ngài cũng thừa nhận ngay những bằng cớ về sự tăng trưởng của họ trong đức tin và sự hiểu biết. Nhưng con người có thể có đức tin, sự thông hiểu, sự trông cậy nhưng vẫn làm Chúa buồn lòng. Nếu chúng ta không đem đức tin vào thực tiễn, ứng dụng sự hiểu biết và yên nghỉ nơi sự trông cậy, chúng ta sẽ thất bại khi gặp thử thách. Đó là điều đã xảy đến với các môn-đệ, và Chúa cho họ biết rằng hoàn cảnh ấy sẽ đến với họ.
Trước đó, Chúa cho Phi-e-rơ biết ông sẽ chối Ngài, nhưng giờ đây Ngài cho tất cả các môn-đệ biết họ sẽ lìa bỏ Ngài. Ở đây Giăng không trích dẫn lời tiên-tri trong Kinh Thánh Cựu-ước (Xa 13:7) được chép laị ở Mat 26:31 Câu nói này của Chúa có lẽ là lời khuyên Phi-e-rơ đừng đi theo Ngài khi Ngài bị bắt. “Hãy để cho những kẻ này đi” là lời Chúa nói trong vườn (Gi 18:8), khi Ngài biết việc các môn-đệ nấn ná lại sẽ không an toàn cho họ.
Chúa hứa Ngài sẽ chẳng bao giờ lìa bỏ chúng ta (Mat 28:20; Hêb 13:5), vậy mà các môn-đệ lại lìa bỏ Ngài. Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng cùng Chúa đi vào vườn nhưng sau đó họ ngủ say. Chúa biết Ngài được Cha ở cùng. “Ta không ở một mình, nhưng Cha là Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta” (Gi 8:16). “Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta chẳng để ta ở một mình” (Gi 8:29). Con được yên ủi biết bao khi biết mình đang làm theo ý muốn Cha và có thể cậy nơi sự giúp sức của Cha.
Tuy nhiên, đã có lúc, Chúa thật sự cảm nhận sự thiếu vắng của Cha: “Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mat 27:46; Thi 22:1). Khi Chúa gánh tội thay chúng ta, Ngài bị phân cách với Đức Chúa Trời. Ngài chịu sự cô đơn hầu chúng ta chẳng bao giờ ở một mình. Ngài bị lìa bỏ để chúng ta chẳng bao giờ bị bỏ ra ngoài.
Câu 33 là lời tóm tắt, cũng là đỉnh điểm của bài giảng tại Phòng Cao. Vì sao Chúa rao sứ-điệp này? Hầu cho các môn-đệ có sự bình an giữa thế gian đầy khốn khổ này. Bạn hãy so sánh giữa “ở trong ta” với “ở trong thế gian”. Ở trong Đấng Christ, có sự bình an nhưng ở trong thế gian có sự hoạn nạn. Đây là vị trí ta cần tuyên bố ra: Chúng ta là người ở trong Đấng Christ nên có thể thắng thế gian và mọi sự thù địch của nó.
George Morrison định nghĩa sự bình an là “chủ hữu nguồn tài nguyên thỏa đáng”. Trong Chúa Giê-xu, chúng ta có mọi sự mình cần. Nhưng sự bình an cũng phụ thuộc nơi mối liên hệ đúng đắn, vì của cải thuộc linh tùy thuộc vào mối liên hệ thuộc linh. Chìa khóa chính là “ở trong ta”. Trong chính bản thân, chúng ta chẳng có gì, nhưng “trong Đấng Christ”, chúng ta có mọi sự mình cần.
Mỗi Cơ-đốc nhân đều là người đắc thắng: “sự thắng hơn thế gian ấy là đức tin của chúng ta” (IGi 5:4). Thế gian muốn thắng hơn chúng ta và đó là lý do Sa-tan “mượn tay” thế gian để bắt bớ và đàn áp Cơ-đốc nhân. Thế gian chỉ muốn chúng ta “rập khuôn” theo nó, chớ không muốn chúng ta khác biệt.
Khi chúng ta đầu phục Đấng Christ và tin cậy nơi Ngài, Ngài sẽ giúp chúng ta đắc thắng. Chúng ta phải xác nhận địa vị thuộc linh của mình trong Đấng Christ và tin Ngài để được đắc thắng.
“Hãy vững lòng” là lời yên ủi của Chúa được lập lại nhiều lần, nghĩa là “hãy vui mừng!”. Cũng có câu “hãy vững lòng” nói về sự tha tội của Chúa (Mat 9:1-8), về quyền năng Ngài (Mat 9:18-22) và về sự hiện diện của Ngài (Mat 14:22-27). Trong Gi 16:33 này Chúa rao ra niềm vui về sự đắc thắng của Ngài đối với thế gian. Chúng ta cũng là kẻ đắc thắng vì Chúa trước hết đã chiến thắng thay chúng ta.
Khi xem lại đoạn Kinh Thánh này, chúng ta có thể thấy rằng 3 cách giải thích của Chúa hợp nhất với nhau. Ngài bày tỏ một nguyên tắc kỳ diệu: Đức Chúa Trời biến đổi sự buồn rầu ra vui mừng. Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ hành động trên đời sống chúng ta khi chúng ta cầu nguyện và tin nơi lời hứa Ngài. Đức Chúa Trời đã định rằng công việc Ngài phải được thực hiện qua sự cầu nguyện với lòng tin cậy. Chúng ta sẽ không thể cầu nguyện có hiệu quả nếu không xác nhận ra địa vị đắc thắng của mình trong Đấng Christ.
Câu 33 cũng là câu mở đầu cho lời cầu nguyện của Chúa như Thầy tế-lễ thượng phẩm cao trọng. Ngài từng dạy dỗ về Lời Đức Chúa Trời cho các môn-đệ và giờ đây Ngài cầu nguyện cho họ. Lời Đức Chúa Trời và sự cầu nguyện phải luôn đi đôi với nhau (Công 6:4). Chúa dùng từ “thế gian” 17 lần trong lời cầu nguyện này, vì qua đó Ngài bày tỏ cho chúng ta biết cách đắc thắng thế gian. Chính Ngài đã đương đầu với sự ghen ghét của thế gian và ma quỷ, nhưng Ngài có thể chịu đựng sự thương khó ấy và đắc thắng.
Có sự vui mừng khi chúng ta bằng lòng để Đức Chúa Trời biến đổi sự buồn rầu thành vui mừng. Có sự vui mừng khi chúng ta được Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện. Và cũng có sự vui mừng khi chúng ta đắc thắng thế gian.
Hãy vui mừng!
18. LỜI CẦU NGUYỆN CỦA ĐẤNG ĐẮC THẮNG (Gi 17:1-26)
Hầu hết các học-giả Kinh Thánh đều muốn 4 sách Phúc-Âm được hài hòa với lời cầu nguyện của Chúa (được chép trong Gi 17:1-26) tại Phòng Cao sau khi chấm dứt lời giảng dạy cho các môn-đệ. Sau đó, Ngài cùng môn-đệ hát thánh thơ về lễ Vượt Qua của dân Y-sơ-ra-ên, rời phòng cao, đến vườn Ghết-sê-ma-nê nơi Chúa thường gặp các môn-đệ, và Ngài cầu nguyện (Mat 26:30-46; Mac 14:26-42).
Dù Chúa cầu nguyện nơi Phòng Cao hay trong vườn Ghết-sê-ma-nê, đó vẫn là lời cầu nguyện vĩ đại nhất trên đất và cũng là lời cầu nguyện vĩ đại nhất được chép trong Kinh Thánh. Giăng 17 hẳn là đo ạn thiêng liêng nhất trong cả Phúc-Âm.
Chúng ta phải xem đoạn Kinh Thánh này trong tinh thần khiêm cung và thờ phượng. Chúng ta được đặc ân lắng nghe Con Đức Chúa Trời thưa chuyện cùng Cha Ngài trước khi Ngài sắp phó mạng sống mình làm giá cứu chuộc tội nhân.
Cho dù hoàn cảnh nào đã xảy đến vào đêm ấy, lời cầu nguyện của Chúa chứng tỏ Ngài đã và đang là Đấng chiến thắng, Ngài không phải là một “nạn nhân, Ngài là Đấng đắc thắng!” Ngài khích lệ các môn-đệ rằng: “Hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi!” (Gi 16:33). Từ thế gian được sử dụng 17 lần trong lời cầu nguyện này, vì vậy rất dễ thấy sự liên hệ giữa lời cầu nguyện của Chúa với Gi 16:33. Nếu bạn với tôi hiểu và áp dụng những chân-lý bày tỏ qua lời cầu nguyện sâu sắc này, chúng ta cũng sẽ đắc thắng mọi sự.
Tiến trình của tư tưởng trong lời cầu nguyện này không khó hiểu lắm. Chúa Giê-xu trước hết đã cầu nguyện cho chính Ngài và trình cho Cha biết công việc trên đất của Ngài đã hoàn tất (Gi 17:1-5). Sau đó Ngài cầu thay cho các môn-đệ, cầu xin Cha gìn giữ và thánh hóa họ (Gi 17:6-19).
Ngài kết thúc lời cầu nguyện khi cầu thay cho bạn, cho tôi và cả Hội thánh, hầu cho chúng ta có thể hiệp-một trong Ngài và dự phần vinh hiển của Ngài trong tương lai (Gi 17:20-26).
Vì sao Chúa cầu nguyện những lời này? Chắc hẳn Ngài muốn chuẩn bị cho chính mình để chịu sự thương khó sắp đến. Khi Ngài nghĩ đến sự vinh hiển Cha đã hứa, Ngài nhận được sức mới để chịu sự thương khó (Hêb 12:1-3). Ngài cũng nhớ đến các môn-đệ (Gi 17:13). Lời cầu nguyện này yên ủi các môn-đệ biết bao! Ngài cầu xin cho các môn-đệ để họ được bình an, vui mừng, hiệp-một và được vinh hiển trong tương lai. Ngài cũng cầu nguyện cho chúng ta hôm nay, hầu cho chúng ta có thể biết mọi điều Ngài làm cho chúng ta và ban cho chúng ta, cũng như mọi điều Ngài sẽ làm cho chúng ta khi chúng ta đến thiên đàng.
Trong lời cầu nguyện này, Chúa bày tỏ 4 đặc ân kỳ diệu chúng ta có trong địa vị con cái Ngài, những đặc ân giúp chúng ta đắc thắng.
1. Chúng ta dự phần sự sống của Chúa (Gi 17:1-5)
Mở đầu bài cầu nguyện Chúa cầu xin cho chính Ngài, nhưng trong sự cầu xin cho bản thân, Chúa cũng cầu thay cho chúng ta.
Tiến sĩ R. A. Torrey nói rằng: “Một lời cầu nguyện cho bản thân chưa hẳn là lời cầu nguyện ích kỷ”.
Khi xem xét những lời cầu nguyện trong Kinh Thánh, ta sẽ thấy rằng câu nói trên rất hợp lý. Gánh nặng của Chúa là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và sự vinh hiển ấy được bày tỏ qua công việc Chúa hoàn tất trên cây thập-tự. Vì đầy tớ của Đức Chúa Trời có toàn quyền cầu xin Cha Ngài giúp đỡ để làm vinh hiển danh Cha.
“Danh Cha được nên thánh” là lời đầu tiên trong bài cầu nguyện chung (Mat 6:9) và đó cũng là vấn đề Chúa trình bày đầu tiên trong lời cầu nguyện của Ngài.
Câu “Thưa Cha, giờ đã đến” nhắc ta nhớ rằng nhiều lần trong Phúc-âm Giăng đề cập đến từ “giờ” bắt đầu ở Gi 2:4 (xem đoạn 1 của Phúc-âm Giăng) Chúa Giê-xu đã sống theo một thời gian biểu từ trời khi Ngài hiện diện trên đất và Ngài biết Ngài đang làm theo ý Cha. “Kỳ mạng tôi ở nơi tay Chúa” (Thi 31:15).
Từ quan trọng “vinh hiển” được sử dụng 4 lần trong phân đoạn này, nên chúng ta phải phân biệt cẩn thận những lần Chúa đề cập đến từ “vinh hiển” với ý khác nhau. Trong Thi 17:5 Ngài nhắc đến sự vinh hiển Ngài vốn có từ trước nơi Cha, là sự vinh hiển Ngài vui lòng từ bỏ khi giáng sinh nơi thế gian để hầu việc, chịu thương-khó và chết.
Trong Gi 17:4, Ngài thưa với Cha rằng đời sống và chức vụ trên đất của Ngài đã làm vinh hiển danh Cha, vì Ngài đã hoàn thành công việc Cha giao cho. Trong Gi 17:1,5, Chúa cầu xin Cha ban lại cho Ngài sự vinh hiển vốn có của Ngài, hầu cho Con Đức Chúa Trời có thể làm vinh hiển Cha khi trở về thiên-đàng.
Từ “vinh hiển” được sử dụng 7 lần trong lời cầu nguyện này, vì vậy sự vinh hiển là chủ đề chính. Chúa đã làm vinh hiển Cha qua những phép lạ Ngài làm (Gi 2:11; Gi 11:40) nhưng chắc hẳn sự vinh hiển vĩ đại nhất Ngài dành cho Cha được thể hiện qua sự thương-khó và sự chết của Ngài (Gi 12:23-25; Gi 13:31-32).
Theo quan điểm con người, Gô-gô-tha là nơi phô bày tội lỗi kinh khiếp của loài người, nhưng đối với Đức Chúa Trời, thập-tự giá đã bày tỏ và tôn cao ân phước cũng như sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu biết trước về việc Ngài sẽ trở về trời khi nói rằng “Con... làm xong công việc Cha giao cho làm” (Gi 17:4). “Công việc” này bao gồm những sứ-điệp và phép-lạ Ngài thực hiện trên đất (Gi 5:17-19), việc huấn luyện dạy dỗ các môn-đệ để chuẩn bị cho chức vụ của họ trong tương lai, và quan trọng nhất là sự hy sinh của Ngài trên thập-tự giá (Hêb 9:24-28; Hêb 10:11-18).
Trên nền tảng của “công việc” đã được hoàn tất này, tín hữu chúng ta được ban cho sự sống đời đời (Hêb 17:2-3). Từ “ban cho” được sử dụng nhiều lần trong lời cầu nguyện của Chúa. Có 6 lần Ngài nói rằng những người tin nhận là tặng phẩm của Cha cho Con (Gi 17:2,6,9,11,12,24). Chúng ta thường nghĩ về Chúa Giê-xu như tặng phẩm của Đức Chúa Trời cho chúng ta (Gi 3:16), còn Chúa lại xác định rằng những kẻ tin nhận là món quà tình yêu Cha ban cho Con yêu dấu của mình!
“Sự sống đời đời” là một chủ đề quan trọng trong Phúc-âm Giăng được nhắc đến ít nhất 17 lần. Sự sống ấy là “món quà vô điều kiện” Đức Chúa Trời ban cho những ai tin nơi Con Ngài (Gi 3:15-16; Gi 6:47; Gi 10:28). Cha cũng cho Con quyền ban sự sống đời đời trên những kẻ Cha giao cho Con.
Đối với con người, chúng ta nhận được món quà của sự sống đời đời khi tin nhận Chúa Giê-xu. Nhưng theo quan điểm Đức Chúa Trời, chúng ta là những người được Đức Chúa Trời chọn lựa và giao cho Con Ngài (Chúa Giê-xu). Đây là một sự mầu nhiệm mà trí tuệ con người không thể hiểu đầy đủ hoặc giải thích được. Chúng ta phải tiếp nhận điều ấy bằng đức tin!
Nhưng “sự sống đời đời” là gì? Đó là việc nhìn biết Đức Chúa Trời của mỗi cá nhân. Không chỉ biết Ngài, con người còn phải có mối liên hệ mật thiết với Ngài bởi đức tin nơi Chúa Giê-xu. Chúng ta không thể biết Cha mà không biết Con (Gi 14:6-11). “Tin Đức Chúa Trời” chưa đủ, vì điều đó không bao giờ cứu được tội nhân hư mất khỏi hỏa ngục đời đời.
“Ma quỷ cũng tin như vậy và run sợ” (Gia 2:19). Lời bàn luận của Chúa Giê-xu trước các quan Do-thái cho thấy rõ con người có thể rất mộ đạo nhưng vẫn không biết Đức Chúa Trời. Sự sống đời đời không phải là điều chúng ta tạo ra được bởi phẩm cách hay đạo đức của riêng mình. Đó là món quà chúng ta đón nhận khi nhìn biết mình là tội nhân, ăn năn và tin cậy nơi một mình Chúa Giê-xu mà thôi.
Cha nhậm lời cầu xin của Con và ban sự vinh hiển cho Con. Hôm nay, nơi thiên-đàng có sự hiện diện của một Con người vinh hiển, Con người ra từ Đức Chúa Trời, đó là Chúa Giê-xu! Bởi Ngài được vinh hiển nơi thiên đàng, nên tội nhân trên đất có thể được cứu rỗi. Bất cứ ai tin cậy Chúa Giê-xu sẽ đón nhận món quà của sự sống đời đời.
Vì chúng ta có sự sống của Chúa, nên luôn đắc thắng. Chúng ta cũng sự phần sự đắc thắng của Ngài!
“Hễ sự gì sinh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta” (IGi 5:4).
Khi được sinh ra lần đầu tiên, bạn thuộc dòng dõi “A-đam” và là kẻ hư mất.
Khi bạn được tái sinh bởi đức tin nơi Đấng Christ, bạn là người đắc thắng! Sa-tan luôn tìm cách che khuất chân lý quý báu về công việc được làm trọn của Đấng Christ, vì nó biết rằng đây là nền tảng cho sự đắc thắng thuộc linh. “Chúng đã thắng nó (Sa-tan) bởi huyết Chiên Con” (Kh 12:11). Đừng để Sa-tan tước mất nơi bạn quyền năng đắc thắng bởi công việc Chúa Giê-xu đã làm trọn!
2. Chúng ta biết danh Ngài (Gi 17:6-12)
Chúa Giê-xu được ban cho sự sống đời đời của chính Ngài (Gi 17:2). Nhưng Ngài cũng bày tỏ cho các môn-đệ về danh Cha Ngài (Gi 17:6). Dân Do-thái thời Cựu-ước từng biết danh Đức Chúa Trời của họ là “Giê-hô-va”, (Êxe 3:11-14).
Chúa Giê-xu từng phán về Ngài khi sử dụng những chữ “TA LÀ...” để các môn-đệ hiểu ý nghĩa của Lời Ngài: “Ta là bánh của sự sống” (Gi 6:35) “Ta là sự sáng của thế gian” (Gi 8:12) “Ta là người chăn chiên hiền lành” (Gi 10:11) v.v.. Nói cách khác, Chúa đã bày tỏ danh vinh hiển của Cha Ngài khi cho các môn-đệ biết Ngài là tất cả những gì họ cần.
Nhưng danh Cha không chỉ bao hàm có thể, vì Chúa Giê-xu cũng cho môn-đệ biết Đức Chúa Trời là Cha trên trời của họ. Từ “Cha” được sử dụng 53 lần trong Gi 13:1-17:26 và 122 lần trong toàn sách Phúc-âm Giăng. Qua những sứ-điệp Chúa rao cho dân Do-thái, Ngài giải thích rằng Cha đã sai Ngài đến, Ngài là một với Cha, Lời Ngài từ Cha mà đến. Đó là lời tuyên bố rõ ràng về thần tính Chúa, nhưng dân sự không muốn tin Ngài.
Trong Kinh Thánh, “danh” thường chỉ về “bản tính”, vì đa số các tên gọi đều được dùng để bày tỏ, bản tính đặc biệt của người mang tên ấy. Gia-cốp là người “mưu mô”nên tên của ông theo tên gốc Do-thái nghĩa là “chiếm vị”, gài bẫy” hoặc “lừa dối” (Sa 25:26). Tên của Y-sác nghĩa là “vui cười” (Sa 21:6) vì ông đã khiến cho Áp-ra-ham và Sa-ra vui mừng. Tên của Chúa Giê-xu cũng b ày tỏ rằng Ngài là Đấng Christ (Mat 1:21).
“Con đã tỏ danh Cha ra” có nghĩa là “Con đã bày tỏ bản tính của Cha”. Giãi bày “về Cha là một trong những công việc của Con (Gi 1:18). Theo tiếng Hy-lạp “giãi bày” có nghĩa như “bộc lộ, dẫn dắt, chỉ đường. Chúa Giê-xu không bày tỏ Cha một cách bất ngờ trong ánh sáng rực rỡ của sự vinh hiển, vì các môn-đệ không thể “chịu nổi” kinh nghiệm này. Dần dần, qua lời Ngài và việc Ngài làm, Ngài bày tỏ cho họ biết bản tính Đức Chúa Trời khi họ có thể tiếp nhận được (Gi 16:12).
Trọng tâm của phân đoạn này nói về sự bình an của người tin Chúa Đức Ch úa Trời luôn gìn giữ những người thuộc về Ngài (Gi 17:11-12). Sự bình an chúng ta có không tuỳ thuộc nơi phẩm cách hay đạo đức của bản thân chúng ta, nhưng do nơi bản tính Đức Chúa Trời. Khi sống trên đất, Chúa Giê-xu đã gìn giữ các môn-đệ để họ có thể nhờ cậy nơi Ngài.
“Con gìn giữ họ trong danh Cha” (Gi 17:12).
Nếu Đấng Christ bị hạn chế trong thân vị con người, còn có thể gìn giữ các môn-đệ khi Ngài sống trên đất, vậy Ngài há không thể giữ họ ngay hôm nay khi Ngài được vinh hiển nơi thiên-đàng hay sao? Cha, Con và Đức Thánh Linh hẳn có thể bảo vệ và ban sự bình an cho mọi kẻ thuộc về Đức Chúa Trời!
Hơn thế, những người thuộc về Đức Chúa Trời là tặng phẩm của Cha cho Con. Lẽ nào Cha lại ban cho Con món quà không có giá trị bền lâu? Các môn-đệ đã thuộc về Cha qua sự thọ tạo và giao-ước Ngài (vì họ là người Do-thái), nhưng giờ đây họ cũng thuộc về Con. Trước mặt Chúa, chúng ta có giá trị biết bao! Ngài không những gìn giữ chúng ta mà còn cầu thay chúng ta nữa! Khi nào bạn cảm thấy Chúa “quên” bạn, hay tình yêu Ngài dường như “quá xa”, hãy đọc Rô 8:28-29 để có sự vui mừng!
Sự bình an của chúng ta cũng thể hiện ở phương diện khác: chúng ta phải tôn vinh Chúa (Gi 17:10). Qua mọi thất bại và lầm lỗi, các môn-đệ vẫn được đề cao: “Con nhân họ được tôn vinh”.
Liệu Đức Chúa Trời có được vinh hiển khi một người nào đó thuộc về Ngài, tin nơi Chúa Giê-xu, nhưng không thể đến được thiên-đàng? Hẳn là không! Khi dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, Môi-se luận rằng: “Sao để cho người Ê-díp-tô nói rằng: Ngài đưa chúng nó ra khỏi xứ đặng làm hại cho, giết đi tại trong núi, cùng diệt chúng nó khỏi mặt đất?” (Xu 32:12). Đức Chúa Trời dĩ nhiên biết rõ mọi sự, vậy sao Ngài cứu họ khi biết họ sẽ sa ngã trên đường? Điều gì Đức Chúa Trời đã bắt đầu thực hiện, Ngài sẽ làm cho trọn (Phi 1:6).
Đức Chúa Trời chu cấp cho chúng ta mọi nguồn tài nguyên thiêng liêng để tôn vinh Ngài và giữ lòng trung tín. Chúng ta có Lời Ngài (Gi 17:7-8) và Lời ấy bày tỏ cho chúng ta mọi điều mình có trong Chúa Giê-xu, giúp ta được trung tín và vững lòng. Chúng ta cũng có Con Đức Chúa Trời là Đấng cầu thay cho mình (Gi 17:9; Rô 8:34; Hêb 4:14-16). Vì Cha luôn nhậm lời Con (Gi 11:41-42) nên sự cầu thay này giúp chúng ta có sự bình an và lòng vững vàng.
Chúng ta cũng có mối thông công với Hội thánh “để họ cũng hiệp làm một như chúng ta vậy” (Gi 17:11). Kinh Thánh Tân-ước không nói đến những tín-đồ sống biệt lập! Bất cứ nơi đâu bạn thấy có sự hiện diện của các thánh-đồ, họ đều ở trong mối thông-công với nhau.
Vì sao? Vì con cái Đức Chúa Trời luôn cần đến nhau. Mở đầu bài giảng tại Phòng Cao, Chúa Giê-xu đã rửa chân các môn-đệ dạy họ tinh thần phục vụ lẫn nhau. Trong những giờ phút sắp tới, họ (trong đó có cả Phi-e-rơ “đầy tự tin”) sẽ khám phá sự yếu đuối của mình và cần đến sự yên ủi của nhau.
Vậy, người tin Chúa được vững lòng trong Đấng Christ vì nhiều lý do: bản chất Đức Chúa Trời, bản chất sự cứu rỗi, vinh hiển Đức Chúa Trời, sự cầu thay của Chúa Giê-xu. Vậy còn Giu-đa thì sao? Anh ta có vững lòng chăng? Anh ta vấp ngã ra sao? Vì sao Chúa Giê-xu không giữ Giu-đa trong sự bình an? Vì một lý do đơn giản: Giu-đa chưa từng thuộc về Đấng Christ. Chúa Giê-xu luôn trung tín gìn giữ mọi kẻ Cha giao cho Ngài, nhưng Giu-đa không phải là kẻ Cha đã ban cho Con (Gi 18:8-9). Giu-đa không phải là người tin Chúa (Gi 6:64-71), chưa từng được tinh sạch (Gi 13:11), không thuộc trong số người được chọn (Gi 13:18).
Giu-đa không phải là điển hình về một tín-đồ đã “đánh mất sự cứu rỗi” dành cho mình. Anh ta là mẫu người vô tín, khoe khoang sự cứu rỗi nhưng cuối cùng để lộ ra bộ mặt của kẻ giả dối. Chúa Giê-xu luôn gìn giữ mọi kẻ Cha giao cho Ngài (Gi 10:26-30)!
Chúng ta đắc thắng vì có sự sống của Chúa. Chúng ta cũng có một đặc quyền thứ ba để đắc thắng:
3. Chúng ta có Lời Chúa (Gi 17:13-19)
“Con đã truyền lời Cha cho họ” (Gi 17:14; Gi 17:8). Lời Chúa là tặng phẩm của Đức Chúa Trời cho chúng ta. Cha đã truyền cho Con Lời Ngài (Gi 17:8) để Con phán với các môn-đệ sau đó các môn-đệ loan báo cho chúng ta khi được sự hà hơi của Đức Thánh Linh (IIPhi 1:20-22; IITim 3:16).
Chúng ta đừng xem nhẹ Lời Đức Chúa Trời, vì những ai đắc thắng đều có Lời Đức Chúa Trời và biết cách sử dụng nó trong đời sống hằng ngày.
Lời Đức Chúa Trời giúp chúng ta đắc thắng thế gian ra sao? Trước hết, Lời Ngài ban cho chúng ta sự vui mừng (Gi 17:13) và sự vui mừng đầy dẫy trong lòng sẽ giúp ta có sức mạnh để đắc thắng (Nêh 8:10). Chúng ta thường nghĩ về Chúa Giê-xu ở phương diện là “người từng trải sự buồn bực” (Ês 53:3), và đúng như vậy. Nhưng Ngài cũng là con người nếm biết sự vui mừng sâu sắc, sự vui mừng vĩnh cửu. Gi 17:13 chính là trọng tâm của lời cầu nguyện này và chủ đề của nó là sự vui mừng!
Chúa Giê-xu đã nói đến sự vui mừng của Ngài trước đó (Gi 15:11) và giải thích rằng sự vui mừng xuất phát từ sự biến đổi chớ không phải sự thay thế (Gi 16:20-22). Sự vui mừng cũng đến từ lời cầu nguyện được nhậm (Gi 16:23-24). Giờ đây Ngài bày tỏ rằng niềm vui cũng đến từ Lời Đức Chúa Trời. Người tin Chúa sẽ không tìm thấy sự vui mừng trong thế gian nhưng nơi Lời Đức Chúa Trời. Giống như Giăng Báp-tít, chúng ta hãy vui mừng hân hoan khi nghe tiếng của Chàng Rể (Gi 3:29)!
Chúng ta đừng phác họa một Chúa Giê-xu đi tới lui với vẻ mặt buồn bã! Ngài là Con người đầy dẫy sự vui mừng nên Ngài bày tỏ sự vui mừng cho kẻ khác. Niềm vui của Ngài không phải là sự khinh suất thoáng qua đối với một thế giới tội lỗi nhưng là sự vui mừng bất tận nơi Cha trên trời và Lời Ngài.
Chúa Giê-xu không bị lệ thuộc vào những hoàn cảnh bên ngoài nhưng cậy nơi những nguồn tâm linh ẩn chứa trong Lời Đức Chúa Trời. Đây là sự vui mừng Ngài muốn chúng ta có, nên chúng ta có thể tìm được sự vui mừng ấy qua Lời Ngài “Lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy” (Giê 15:16).
“Tôi vui mừng về đường chứng cớ Chúa, như thể vui mừng về của cải hiếm hiệm” (Thi 119:11).
“Tôi vui vẻ về lời Chúa, khác nào kẻ tìm được mồi lớn” (Thi 119:162).
Lời Đức Chúa Trời không chỉ truyền đạt niềm vui của Chúa Giê-xu, nhưng cũng đảm bảo cho chúng ta về tình yêu của Ngài (Gi 17:14). Thế gian ghen ghét chúng ta, nhưng chúng ta có thể đối diện với sự ghen ghét ấy bằng chính tình yêu của Đức Chúa Trời, một tình yêu được truyền đạt cho chúng ta bởi Đức Thánh Linh qua Lời Đức Chúa Trời. Thế gian ghen ghét chúng ta vì chúng ta không thuộc về thế gian (Gi 15:18-19), không rập khuôn theo những việc làm và tiêu chuẩn của nó (Rô 12:2). Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta hiểu rõ về thế gian, phơi trần những dối trá và mưu kế hiểm độc của nó.
Thế gian luôn tranh chiến với tình yêu của Đức Chúa Trời (IGi 2:15-17) nhưng Lời Đức Chúa Trời giúp ta nhận được tình yêu của Ngài. Bước đi đầu tiên khiến con người hướng về lối sống thế gian, đó là xao lãng Lời Đức Chúa Trời.
Moody đã viết ở bìa trước cuốn Kinh Thánh của ông: “Quyển sách này sẽ giữ bạn cách xa tội lỗi, nếu không, tội lỗi sẽ giữ bạn xa cách với sách này”. Đối với dân Ai-cập trụ lửa giống như bóng tối nhưng đó lại là ánh sáng soi đường dân Do-thái. Vì vậy, lời Đức Chúa Trời là sự sáng cho chúng ta giữa thế giới tối tăm này nhưng thế gian không hiểu gì về những điều thuộc về Đức Chúa Trời (Xu 14:20; ICôr 2:12-16).
Lời Đức Chúa Trời không chỉ đem đến tình yêu và sự vui mừng cho chúng ta, nhưng lời Ngài cũng truyền đạt quyền năng Đức Chúa Trời để chúng ta có một đời sống thánh khiết (Gi 17:15-17). Những gánh nặng Chúa dâng lên Cha trong lời cầu nguyện của Ngài (Gi 17:6-12) là sự yên ủi, cũng là sự thánh khiết được ứng dụng qua đời sống tin kính để làm sáng danh Đức Chúa Trời.
Chúng ta sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian, nên chúng ta đừng rập khuôn theo thế gian. Đôi khi chúng ta cho rằng “sống cách biệt với thế gian” dễ chịu hơn sống ở thế gian, nhưng sự thật không phải thế. Dù đi đâu, bản ngã tội lỗi vẫn “đồng hành” với chúng ta, và quyền của sự tối tăm cứ bén gót theo chúng ta. Tôi từng chứng kiến một số người sống trong sự “cách biệt” để trở nên thánh khiết hơn, nhưng chỉ khám phá ra rằng điều ấy chẳng có tác dụng gì.
Sự thánh hóa thật (nghĩa là được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời) là kết quả của việc rao truyền lời Đức Chúa Trời. “Các ngươi đã được trong sạch, vì lời ta đã bảo cho” (Gi 15:3). Khi được cứu, đó là lúc bạn được Đức Chúa Trời biệt riêng ra. Khi trưởng thành trong đức tin, bạn sẽ càng kinh nghiệm nhiều hơn về sự thánh hóa. Bạn sẽ yêu mến Đức Chúa Trời nhiều hơn tội lỗi, muốn hầu việc Ngài để đem phước hạnh đến cho tha nhân. Mọi sự đều đến từ Lời Đức Chúa Trời.
Chân-lý của Đức Chúa Trời được bày tỏ cho chúng ta qua 3 hình thức: Lời Ngài là chân-lý (Gi 17:17) Con Ngài là chân-lý (Gi 14:6) và Thánh Linh Ngài là chân-lý (IGi 5:6). Chúng ta cần cả 3 trên để kinh nghiệm được sự thánh hóa thật, một sự thánh hóa tác động đến cả con người bên trong chúng ta.
-Bằng trí tuệ chúng ta học biết lẽ thật của Đức Chúa Trời qua lời Kinh Thánh.
-Bằng tấm lòng, chúng ta yêu mến chân-lý của Đức Chúa Trời, tức là Con Ngài.
-Bằng ý chí, chúng ta đầu phục Thánh Linh và sống theo chân-lý của Đức Chúa Trời mỗi ngày. Cần có tất cả 3 để kinh nghiệm sự thánh hóa một cách trọn vẹn.
Nếu chỉ học Kinh Thánh để biết “một mớ” giáo-lý vẫn chưa đủ. Chúng ta phải yêu mến Chúa Giê-xu nhiều hơn khi biết về Ngài và những điều Ngài làm cho chúng ta. Việc hiểu biết và yêu mến Chúa phải dẫn đến cách sống, để Thánh Linh Đức Chúa Trời giúp chúng ta vâng theo lời Ngài. Đây là cách chúng ta làm vinh hiển danh Chúa giữa thế giới tội lỗi hôm nay.
Lời Đức Chúa Trời ban cho chúng ta niềm vui, tình yêu và quyền năng sống một đời sống thánh khiết. Lời Ngài cũng chu cấp cho chúng ta mọi sự cần thiết để chúng ta có thể hầu việc và làm chứng về Ngài giữa thế gian này (Gi 17:18-19).
Sự thánh hóa không nhằm mục đích hưởng thụ hay khoe khoang về chính mình, nhưng để chúng ta có thể bày tỏ về Đấng Christ giữa thế gian và dẫn dắt kẻ khác đến với Ngài. Chúa Giê-xu đã biệt riêng chính Ngài cho chúng ta, giờ đây Ngài biệt riêng chúng ta cho Ngài. Cha trên trời đã sai Ngài đến thế gian, giờ đây Ngài cũng sai chúng ta giữa thế gian vậy.
Chúng ta là những người “nhận chỉ thị” nên phải vâng lời! Chúa Giê-xu “được biệt riêng” nơi thiên đàng để cầu thay cho chúng ta, hầu sự chứng đạo của chúng ta đem lại kết quả tốt đẹp khi nhiều người ăn năn tội và trở về cùng Chúa.
Làm sao thế gian có thể thắng hơn chúng ta khi chúng ta có Lời Đức Chúa Trời soi sáng, giúp sức và khích lệ mình?
4. Chúng ta được dự phần sự vinh hiển của Ngài (Gi 17:20-26)
Ở đây, Chúa hướng sự quan tâm của Ngài về tương lai, Ngài bắt đầu cầu nguyện cho chúng ta hôm nay, cho cả Hội thánh trải qua các thời đại. Ngài đã cầu thay về sự vững lòng và thánh hóa, giờ đây mối ưu tư của Ngài là sự hiệp-một. Ngài mong những kẻ thuộc về Ngài kinh nghiệm sự hiệp-một thuộc linh, giống như sự hiệp một của Cha và con. Các Cơ-đốc nhân có thể có những mối thông công khác nhau, nhưng đều thuộc về Chúa và hiệp-một với nhau.
Các môn-đệ thường có tinh thần ích kỷ, cạnh tranh và chia rẽ. Điều này đã làm buồn lòng Đấng Christ. Tôi tự hỏi Chúa sẽ nghĩ gì khi chứng kiến tình trạng của Hội thánh hôm nay. Nhà truyền-giáo Thomas Brooks viết: “Sự bất hòa và chia rẽ không khiến người ta trở thành Cơ-đốc nhân. Chó sói quan tâm đến chiên con là điều dĩ nhiên, nhưng chiên con quan tâm lẫn nhau mới là điều kỳ diệu!”
Nền tảng cho sự hiệp-một của Cơ-đốc nhân thật là gì? Đó là con người Chúa Giê-xu, công việc và sự vinh hiển của Ngài (Gi 17:2-5). Ngài đã ban cho chúng ta sự vinh hiển của Ngài, Ngài hứa rằng chúng ta sẽ kinh nghiệm nhiều hơn về sự vinh hiển ấy khi chúng ta đến được thiên-đàng!
Mọi Cơ-đốc nhân thật đều có sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong đời sống mình. Sự hài hoà của Cơ-đốc nhân không dựa trên những điều thuộc bên ngoài nhưng thuộc về những điều bên trong, những điều thuộc về sự vĩnh cửu của Thánh Linh trong con người. Chúng ta phải nhìn xa hơn những yếu tố về sự ra đời đầu tiên của mình (như chủng tộc, màu da, tài năng...) để xây dựng mối thông công của chúng ta dựa trên những yếu tố thiết thực cho sự tái sinh của mình.
Chúng ta đang có sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong mình (Gi 17:22; Rô 8:29) và ngày kia chúng ta sẽ “ngắm xem sự vinh hiển” ấy tại thiên đàng (Gi 17:24). Khi chúng ta tăng trưởng trong Chúa, sự vinh hiển cũng bắt đầu lớn dần và bày tỏ chính nó qua những điều chúng ta nói và làm, cũng thể hiện qua cách chúng ta nói và làm nữa. Người đời sẽ không thấy và ngợi khen chúng ta, nhưng họ sẽ thấy Chúa và ngợi khen Ngài (Mat 5:16; ICôr 6:19-20).
Một trong những điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất cho thế gian, đó là cách các Cơ-đốc nhân yêu mến nhau và sống hòa thuận với nhau. Đây là chứng cớ Chúa chúng ta muốn được bày tỏ trong thế gian, “đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến” (ICôr 17:21).
Thế gian hư mất không thể nhìn biết Đức Chúa Trời, nhưng họ có thể nhìn thấy Cơ-đốc nhân, và những gì họ thấy nơi chúng ta sẽ quyết định mức độ niềm tin của họ về Đức Chúa Trời. Nếu nhìn thấy tình yêu thương và sự hiệp-một, họ sẽ tin rằng Đức Chúa Trời là tình yêu. Nhưng nếu chứng kiến sự ghen ghét và chia rẽ, họ sẽ khước từ sứ-điệp của Phúc-Âm.
Chúa Giê-xu yên ủi chúng ta rằng một số người sẽ tin nhận bởi sự làm chứng của chúng ta (Gi 17:20), tuy nhiên chúng ta phải biết chắc rằng sự làm chứng của mình có mang tính chân thật và xuất phát từ lòng yêu thương hay không. Nếu không phải như vậy, chúng ta chỉ càng làm cho tội nhân hư mất cách xa với Đấng Christ hơn nữa!
Có mọi lý do cho thấy tại sao Cơ-đốc nhân phải yêu mến và hiệp-một với nhau. Chúng ta cùng tin nơi một Đấng Christ và cùng dự phần một sự vinh hiển. Ngày kia, chúng ta cũng sẽ chung hưởng một thiên-đàng! Chúng ta thuộc về một Cha, muốn thực hiện cùng một công việc làm chứng cho thế giới hư mất rằng chỉ có Chúa Giê-xu mới có thể cứu họ khỏi tội lỗi.
Chúng ta tin nơi một chân-lý dù có thể nhìn theo những quan điểm khác nhau về một số vấn đề giáo-lý thứ yếu, nhưng chúng ta có nhiều quan điểm chung và điều này đáng phải khích lệ chúng ta yêu mến nhau để gây dựng sự hiệp-một thuộc linh chân thật.
Tôi thường sử dụng Gi 17:24 cho bài giảng luận trong tang lễ. Bạn có biết Cơ-đốc nhân đến thiên-đàng bằng cách nào không? Chính bởi cái giá Chúa Giê-xu đã trả (Gi 3:14-16), lời hứa Ngài đã phán (Gi 14:1-6) và lời cầu nguyện Ngài đã trình dâng Cha (Gi 17:24). Cha luôn nhậm lời cầu xin của Con Ngài để chúng ta biết rằng những Cơ-đốc nhân qua đời sẽ đi đến thiên-đàng và ngắm xem sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Trong Gi 17:24,25, Chúa Giê-xu không cầu xin Cha điều gì nữa. Ngài chỉ trình cho Cha biết về công việc của Ngài nơi thế gian và đưa ra những lời tuyên bố quan trọng đối với chúng ta. Ngài cho biết rằng thế gian không nhìn biết Đức Chúa Trời nhưng chúng ta biết Ngài qua sự bày tỏ của Con đối với chúng ta. Thế gian chắc hẳn đã có nhiều cơ hội để biết Cha, nhưng thế gian vẫn cứ chọn con đường tối tăm để đi trong sự mù lòa và cứng lòng. Là Cơ-đốc nhân, chúng ta có nhiệm-vụ làm chứng cho thế gian hư mất này và rao truyên sứ-điệp cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Chúa Giê-xu cũng rao ra tầm quan trọng của chân-lý và tình yêu thương trong Hội thánh. Cơ-đốc nhân được biết danh Đức Chúa Trời (bản tính Ngài) và cũng được dự phần vào bản tính thiêng liêng ấy. Chúa Giê-xu nói rõ rằng chân-lý và tình yêu thương phải đồng hành với nhau (Êph 4:15).
Thật h ữu lý khi người ta có câu “chân-lý không có tình yêu thương sẽ là sự tàn bạo, nhưng tình yêu thương không có chân-lý sẽ là sự giả hình”.
Trí tuệ con người tăng trưởng khi tiếp nhận lẽ thật, nhưng tấm lòng con người sẽ rộng mở khi ban phát tình yêu. Chỉ có sự hiểu biết thôi sẽ dẫn đến lòng kiêu ngạo (ICôr 8:1) và nếu chỉ có tình yêu thương, con người sẽ đi đến những quyết định sai lầm (Phi 1:9-10). Tình yêu của C-đốc nhân không nên là một thứ tình yêu mù quáng!
Khi xem lại bài cầu nguyện này, bạn sẽ thấy có những ưu tiên thuộc linh trong lòng Đấng Christ: sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sự thánh hóa của những người thuộc về Đức Chúa Trời, sự hiệp một của Hội thánh, công tác rao truyền Phúc-Âm cho thế gian hư mất. Ngày nay, chúng ta hãy có sự khôn ngoan để tập trung vào những ưu tiên kể trên.
Sẽ có một ngaỳ, mỗi người trong chúng ta đều phải báo cáo lại công tác của mình. Chúng ta sẽ đứng trước ngai phán xét của Đấng Christ và trình dâng “bản báo cáo tổng kết” của chính mình.
Tôi mong rằng chúng ta sẽ có thể thưa với Chúa: “Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm” (Gi 17:4).
19. TỘI LỖI VÀ ÂN-ĐIỂN NƠI VƯỜN GHẾT-SÊ-MA-NÊ (Gi 18:1-27)
Chức vụ đặc biệt của Chúa đối với các môn-đệ giờ đây đã chấm dứt, và công tác cứu chuộc nhân loại sắp bắt đầu. Con người đã làm điều xấu xa nhất, nhưng Đức Chúa Trời sẽ đáp lại bằng điều tốt đẹp nhất.
“... Nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân-điển lại càng dư dật hơn nữa” (Rô 5:20).
Để hiểu những chân-lý trong Gi 18:1-27 và nắm vững những bài học ẩn chứa trong đó, cách tốt nhất là chúng ta hãy chú ý đến những biểu tượng có liên quan trong đoạn Kinh Thánh này. Phúc-âm Giăng đầy dẫy các biểu tượng, trong đó có một số biểu tượng rất rõ nét. Những biểu tượng ấy mang những lẽ thật thuộc linh quan trọng. Qua phân đoạn này, có 5 biểu tượng đầy ý nghĩa:
1. Vườn Ghết-sê-ma-nê - Sự vâng phục (Gi 18:1)
Khe Xết-rôn nằm ở phía đông Giê-ru-sa-lem, giữa bức tường thành và núi Ô-li-ve, còn vườn Ghết-sê-ma-nê trên sườn phía tây núi Ô-li-ve. Chúa Giê-xu thường đến vườn này cùng với các môn-đệ để nghỉ ngơi và cầu nguyện (Lu 22:39). Thành Giê-ru-sa-lem tập trung khách thập phương đến dự lễ Vượt Qua, nên Chúa Giê-xu muốn lánh xa chốn nhộn nhịp kia để tìm một nơi yên tịnh. Ngài biết Giu-đa sẽ đến tìm Ngài và Ngài đã sẵn sàng.
Lịch sử loài người khởi điểm tại một khu vườn (Sa 2:8) và tại đó lần đầu tiên con người đã phạm tội. A-đam đầu tiên bất tuân mạng lịnh Đức Chúa Trời bị đuổi khỏi vườn. Nhưng “A-đam sau hết” (ICôr 15:45) vâng phục khi bước vào vườn Ghết-sê-ma-nê. A-đam đầu tiên đã đem tội lỗi và sự chết đến cho nhân loại tại khu vườn, nhưng bởi sự vâng phục, Chúa Giê-xu đã đem sự công-bình và sự sống đến cho mọi kẻ tin nhận Ngài. Ngài là Con người “vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự” (Phi 2:8).
Tên gọi “Ghết-sê-ma-nê” có nghĩa là “máy ép dầu”. Hôm nay vẫn có nững cây ô-liu già nơi vườn Ghết-sê-ma-nê, dù đó không phải là những cây ô-li-ve trong thời Chúa Giê-xu. Người ta sẽ hái trái ô-liu để ép lấy dầu. Thật là một hình ảnh của sự thương-khó! Vì vậy, Chúa Giê-xu sẽ đi qua cái “máy ép dầu” và “bàn ép rượu – Ês 63:3) để nếm sự xét đoán thay chúng ta.
Khe Xết-rôn cũng là hình ảnh có ý nghĩa. Xết-rôn nghĩa là “mờ tối”, nói đến dòng nước sẫm bị nhuộm bởi huyết của con sinh tế trong đền thờ. Chúa cùng các môn-đệ sắp vượt qua dòng nước sẫm ấy. Chúa sẽ nếm trải “các lượn sóng và nước lớn” do cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (Thi 42:7; Gion 2:3).
• Khe Xết-rôn mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt.
Đây là nơi vua Đa-vít đã vượt qua khi bị dân tộc mình chối từ và bị con trai là Áp-sa-lôn mưu phản (IISa 15:1-37; Gi 18:23). Chúa Giê-xu cũng bị dân sự Ngài khước từ và bị một môn-đệ phản bội! Đáng chú ý là A-hi-tô-phe mưu-sĩ phản bội Đa-vít đã treo cổ (IISa 17:23), còn Áp-sa-lôn con trai bất hiếu của Đa-vít bị vướng vào nhành cây và bị giết trong tình trạng lơ lửng ấy (IISa 18:9-17). Dĩ nhiên, Giu-đa đã ra ngoài và treo cổ (Mat 27:3-10).
Chúa Giê-xu biết rõ mọi điều sẽ xảy đến cho Ngài, nhưng Ngài vẫn đi đến vườn Ghết-sê-ma-nê trong tinh thần vâng phục ý Cha. Ngài để 8 môn-đệ ở lại gần cổng vườn, rồi cùng Phi-e-rơ, Gia-cơ với Giăng đến một nơi trong vườn để cầu nguyện (Mat 26:36-46; Mac 14:32-42).
Trong giờ khủng hoảng này, tâm thần Ngài ao ước được sự khích lệ và đồng công của các môn-đệ, thế mà họ lại đi ngủ! Con người thật dễ dàng khoe khoang sự tận tụy của mình đối với Đấng Christ, nhưng khi sự thử nghiệm xảy đến, họ lại thất bại thảm hại. Tuy nhiên, trước khi xét đoán họ gay gắt, chúng ta nên xét lại lòng mình.
2. Cái hôn - Sự phản bội (Gi 18:2-9)
Giu-đa đã sống với Chúa có lẽ gần 3 năm, được nghe Ngài dạy dỗ rất nhiều nhưng vẫn không biết nhiều về Ngài. Kẻ phản bội này thật sự đã dẫn những quân lính canh đền thờ với gươm giáo và gậy gộc trang bị đầy đủ! (Mat 26:55). Giu-đa đã khinh thường những đặc ân Chúa ban cho và đánh mất những cơ hội quý báu.
Từ “cơ binh” ở Mat 18:3 có nghĩa là một đội lính La-mã khoảng 600 người! Dường như không phải Giu-đa đã đem một đám đông như thế đến vườn, nhưng chắc hẳn đám lính này đã được tập hợp sẵn cho Giu-đa theo yêu cầu của hắn. Lẽ nào Giu-đa không biết rằng Chúa Con Đức Chúa Trời sẽ vui lòng phó mình mà chẳng cần có xô xát nào?
Chúa Giê-xu ở tình trạng hoàn toàn tự chủ, Ngài biết mọi điều sắp xảy đến (Gi 13:1,3,11; Gi 16:19). Giu-đa sợ có sự nhầm lẫn, nên tìm cách nhận diện Chúa bằng một cái hôn (Mat 26:48-49). Chúa Giê-xu khiến Giu-đa và những kẻ bắt Ngài đều sửng sốt bởi sự bày tỏ đầy can đảm của Ngài trước mặt họ. Ngài chẳng có lý do gì để sợ hãi hay lẩn trốn, nhưng vui lòng phó sự sống mình vì bầy chiên. Hơn thế, khi phó mình vào tay kẻ thù, Chúa đã bảo vệ được các môn-đệ. Ngài giữ họ trong sự bình an không chỉ về phương diện tâm linh (Gi 17:11-12) mà còn về mặt thể xác nữa.
Vì sao quân lính bắt Chúa đều thối lui và té xuống đất khi nghe Ngài phán: “Chính ta đây”? Những người Do-thái hiện diện ở đó đến giật mình vì lời phán: “Ta là” của Ngài, đó là lời xác nhận thần tính Chúa. Lính La-mã giật mình vì thái độ của Ngài, cho thấy rõ ràng Ngài là Đấng đang nắm quyền điều khiển. Đây thật là một tình huống căng thẳng và chúng ta không biết Giu-đa đã nói gì với họ về Chúa Giê-xu hầu giúp họ đối phó với tình huống này.
Các lãnh đạo Do-thái đã bao lần tìm phương bắt Chúa Giê-xu, nhưng đều thất bại. Họ trang bị cả một cơ binh cho sự chống nghịch này, nhưng đã bị áp đảo tinh thần khi chứng kiến sự phó mình và sự bình tĩnh của Chúa. Có lẽ đây là biểu hiện về quyền năng hoặc sự oai nghiêm của Chúa Giê-xu. “Khi kẻ làm ác, kẻ cừu địch và thù nghịch tôi, xông vào tôi, đặng ăn nuối thịt tôi, thì chúng nó đều vấp ngã” (Thi 27:2).
Nụ hôn Giu-đa dành cho Chúa chắc hẳn là một trong những hành động lừa dối bất nghĩa nhất trong lịch sử con người hoặc lịch sử Hội thánh. Thời đó, nụ hôn biểu hiện cho tình cảm và lòng tận tụy. Những thành viên trong gia đình thường hôn nhau khi họp mặt hoặc lúc chia tay, nhưng Giu-đa không phải là người trong gia đình Đức Chúa Trời.
Các môn-đệ chào thầy họ bằng cái hôn bày tỏ sự tận tụy và vâng lời. Nhưng Giu-đa thật sự không phải là môn-đệ Chúa Giê-xu dù hắn thuộc nhóm môn-đệ Ngài. Tại vườn Ghết-sê-ma-nê, Giu-đa đã đứng về phía kẻ thù, chớ không thuộc về những bạn hữu của Chúa Giê-xu!
Ngày nay khi con người “giả vờ” hiểu biết và yêu mến Chúa Giê-xu họ cũng phạm tội giống như Giu-đa vậy. Phản bội Đấng Christ cũng đủ là một hành động tồi tệ, nhưng thực hiện điều này bằng cái hôn (một dấu hiệu tình cảm) là sự lừa dối hèn hạ nhất, sinh ra từ ma quỷ.
3. Thanh gươm - Sự chống nghịch (Gi 18:10)
Tất cả các môn-đệ trước đây từng xác quyết mạnh mẽ về lòng trung tín của họ đối với Đấng Christ (Mat 26:35). Phi-e-rơ muốn bày tỏ điều đó nên đã nhanh nhẹn rút gươm khiêu chiến! Rõ ràng, ông hiểu sai điều Chúa muốn nói về những thanh gươm trong buổi tối hôm đó (Lu 22:35-38).
Ngài cho các môn-đệ biết trước rằng hoàn cảnh sẽ thay đổi và họ sẽ bị đối xử như kẻ có tội. Ngài không có ý nói rằng họ phải dùng gươm hữu hình chống trả trong trận chiến thuộc linh này. Ngài muốn họ sẵn sàng đương đầu với sự chống đối và hoạn nạn. Ngài lo lắng và bảo vệ họ suốt những năm tháng trên đất, nhưng giờ là lúc Ngài sẽ trở về cùng Cha. Họ sẽ sống nhờ Đức Thánh Linh để có sự khôn ngoan. Phi-e-rơ chỉ tiếp nhận Lời Chúa theo nghĩa đen nên cho rằng mình có nhiệm-vụ phải tuyên chiến!
Thanh gươm của Phi-e-rơ tượng trưng cho sự chống nghịch ý muốn Đức Chúa Trời. Phi-e-rơ lẽ ra nên biết rằng Chúa Giê-xu sẽ bị bắt và Ngài vui lòng phó mình trong tay kẻ thù địch (Mat 16:21; Mat 17:22-23; Mat 20:17-19). Phi-e-rơ dễ dàng sai phạm biết bao! Ông đã chiến đấu không đúng kẻ thù, sử dụng vũ khí bất hợp lý với động cơ sai lầm và gặt kết quả thất bại! Phi-e-rơ công khai chống lại ý muốn Đức Chúa Trời và ngăn trở công tác Chúa Giê-xu sắp hoàn tất! Dù chúng ta thừa nhận rằng Phi-e-rơ can đảm và thành thật, nhưng đây là sự bày tỏ lòng sốt sắng thiếu hiểu biết.
Tại sao Phi-e-rơ thất bại thảm hại như vậy? Vì ông đã tranh luận với Chúa khi Ngài cho ông biết rằng ông sẽ chối Ngài vào đêm đó. Phi-e-rơ đã ngủ thay vì phải cầu nguyện, đã lý luận thay vì phải lắng nghe. Ông bắt chước kẻ thù khi trang bị gươm đao! Phi-e-rơ phải khám phá ra rằng gươm Thánh Linh chính là vũ khí tôi tớ Đức Chúa Trời sử dụng trong trận chiến thuộc linh (Hêb 4:12; Êph 6:17). Phi-e-rơ sẽ dùng đ ến gươm ấy trong lễ Ngũ Tuần và thu phục được 3.000 linh hồn!
Chúa Giê-xu không cần sự bảo vệ của Phi-e-rơ. Ngài có thể triệu tập một đoàn thiên-binh nếu Ngài muốn được giải cứu (Mat 26:52-54). Lu-ca cho chúng ta biết Chúa đã chữa lành tai của Man-chu (Lu 22:51), một hành động bày tỏ sự nhân từ Ngài.
Đối với Phi-e-rơ, nếu Chúa không chữa lành tai Man-chu, có lẽ Phi-e-rơ đã bị bắt và bị đóng đinh! Phi-e-rơ hành động như một người Do-thái cực đoan, chớ không giống một môn-đệ của Chúa Giê-xu.
Đây cũng là một hành động nhân từ đối với Man-chu. Xét cho cùng, Man-chu chỉ là một đ ầy tớ, vậy tại sao phải quan tâm những gì xảy đến với một kẻ tôi tớ. Anh ta cũng là một kẻ thù, đứng chung với bọn bắt Chúa, vậy anh ta phải trả giá!
Cũng có thể Man-chu đã thật sự bắt Chúa? Chúng ta không rõ nhưng nếu vậy, anh ta đã tra tay trên Con thánh của Đức Chúa Trời. Dầu vậy, Chúa không xét đoán Man-chu dù anh ta là tội nhân đáng chịu sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Ngược lại, Ngài đã chữa lành cho anh ta! Đó là phép lạ sau cùng của Chúa trước mọi người trước khi Ngài bước lên thập-giá.
Bạn hãy nhớ rằng phép lạ này cũng bày tỏ sự nhân từ của Chúa đối với chúng ta. Nếu Chúa Giê-xu có quyền năng khiến đám người kia sửng sốt và chữa lành tai Man-chu, vậy Ngài đã có thể tự cứu mình khỏi sự bắt bớ, thương-khó và chết. Nhưng Ngài đã vui lòng phó mình! Ngài làm điều ấy vì chúng ta!
Thật đáng buồn cho những tín-hữu có thiện ý nhưng thiếu hiểu biết, chỉ muốn dùng gươm để bảo vệ Chúa Giê-xu. Phi-e-rơ đả thương Man-chu, đó là hành động người tin Chúa thật không nên làm. Phi-e-rơ đã gây tác hại cho chứng cớ về Đấng Christ cũng như suy nghĩ lệch lạc rằng môn-đệ Chúa phải ghét kẻ thù và tiêu diệt chúng (xem lời Chúa nói trước Phi-lát trong Gi 18:36).
4. Chén - Sự đầu phục (Gi 18:11-14).
Phi-e-rơ mang trong tay thanh gươm, nhưng Chúa chúng ta có trong tay một chén đắng. Phi-e-rơ chống lại ý muốn Đức Chúa Trời nhưng Đấng Christ làm theo ý Cha Ngài. Trước đó, Chúa cầu nguyện rằng: “Cha ơi! Nếu có thể được, xin cho chén này lìa khỏi con! Nhưng không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha” (Mat 26:39).
“Chén” bày tỏ sự thương khó Chúa sẽ chịu và sự phân cách với Cha mà Ngài sẽ nếm trải trên thập-tự giá. Ngài cầu nguyện điều này 3 lần, chứng tỏ Ngài cảm nhận được cái giá Ngài sẽ trả cho sự cứu rỗi chúng ta. Tâm thần Ngài hẳn bối rối đến cao độ khi nghĩ đến việc thế tội cho con người.
Việc uống chén thường được sử dụng trong Kinh Thánh để minh họa sự từng trải thương-khó và khốn khổ? Khi dân Ba-by-lôn chiếm thành Giê-ru-sa-lem, thành này đã bị “uống cạn chén thạnh nộ” (Ês 51:17). Giê-rê-mi bày tỏ sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng các nước khi nói về chén rượu được đổ ra (Giê 25:15-28).
Cũng có một “chén chia buồn” (Giê 16:7) và “chén đầy tràn” về sự vui mừng (Thi 23:5). Chúa so sánh sự thương khó của Ngài với việc uống chén và làm phép báp-têm (Mat 20:22-23).
Khi lập Tiệc Thánh, Ngài so sánh “chén” với huyết Ngài, là huyết đã đổ ra để chuộc tội con người (Mat 26:27-28). Hình ảnh này rất quen thuộc đối với các môn-đệ khi xưa và hôm nay cũng vậy. “Uống chén” có nghĩa là vượt qua một từng trải đầy thử thách. Thật ra một vài giải thưởng được tạo dáng như một chiếu cố cho thấy rằng người thắng cuộc đã trải qua những thử nghiệm khắt khe và đã chịu đựng được tất cả.
Chúa Giê-xu chấp nhận uống chén này vì nó được chính Cha trên trời chuẩn bị sẵn và ban cho Ngài. Chúa không chống lại muốn của Cha, bởi Ngài đã đến thế gian để làm trọn ý Cha và hoàn thành công tác Cha giao cho. “Hỡi Đức Chúa Trời, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa” (Thi 40:8). “Chén” này đã được Cha chuẩn bị và kiểm tra “hàm lượng” chứa trong đó, nên Chúa Giê-xu không có gì để sợ hãi cả!
Đây là một bài học bổ ích cho chúng ta: đừng bao giờ sợ hãi khi nhận “chén” Cha ban cho chúng ta. Đấng Christ đã uống chén trước chúng ta nên chúng ta chỉ việc noi dấu chân Ngài. Chúng ta cũng đừng sợ những gì chứa đựng trong “chén” vì Cha đã chuẩn bị chén ấy cho chúng ta bằng tình yêu.
Nếu chúng ta xin “bánh”, Ngài chẳng bao giờ cho chúng ta “đá”. “Chén” mà Ngài dành sẵn sẽ không chứa đựng điều gì bất lợi cho chúng ta cả. Chúng ta có thể chịu khổ và ngã lòng, nhưng Ngài sẽ biến đổi nghịch cảnh ấy thành sự vinh hiển!
• Chúa Giê-xu sẵn sàng phó mình vào tay kẻ thù.
Họ trói Ngài và điệu Ngài đến nhà An-ne gần đó. An-ne vốn là thầy tế-lễ thượng phẩm đương niên (cho đến khi bị người La-mã truất phế). Giờ đây Cai-phe con rễ ông cũng là thầy tế-lễ thượng phẩm. Đức Chúa Trời đã định rằng thầy tế-lễ phải hầu việc Đức Chúa Trời trọn đời mình, vì vậy có thể thấy rằng Do-thái giáo bấy giờ đang ở trong tình trạng đáng buồn.
Người ta đều biết rằng gia đình thầy tế-lễ th ượng phẩm này từng “hầu việc” trong đền thờ. Vì vậy, việc Chúa Giê-xu dọn dẹp đền thờ hai lần có lẽ đã khơi dậy lòng ghen ghét của gia đình họ đối với Ngài.
Cuộc thẩm tra trước mặt An-ne chẳng khác nào một cuộc xét không chính thức. Đây là một cuộc xét xử bất hợp pháp và đầy tính hung bạo. Bạn hãy hình dung xem, một tên lính được phép đánh bị cáo! Một kẻ không còn đương nhiệm lại có quyền thẩm tra bị cáo!
Dĩ nhiên, An-ne cố “moi” chứng cớ buộc tội Chúa, nhằm đi đến một sự tuyên án có lợi cho bản thân ông ta Chúa Giê-xu đã dạy dỗ diều gì? Điều đó có mang tính chất phá hoại không? Chúa Giê-xu bảo ông ta hãy hỏi những người đã nghe Ngài giảng dạy vì Ngài không nói điều gì bí mật cả. An-ne cũng có thể đã đích thân đến nghe Chúa giảng d ạy rồi!
Còn các môn-đệ Chúa thì sao? Phải chăng họ muốn lật đổ nhà cầm quyền? Một người trong số họ chẳng phải đã dùng đến gươm giáo giữa vườn Ghết-sê-ma-nê đó sao? Chúa Giê-xu cẩn trọng không nói điều gì về các môn-đệ. Bạn hãy nghĩ xem: Khi Phi-e-rơ ở trong sân thầy tế-lễ thượng phẩm đang chối Chúa, đó cũng là lúc Chúa bị tra hỏi nhưng vẫn bảo vệ Phi-e-rơ!
Theo luật-pháp Do-thái, những nhân chứng phải được gọi đến trước bị cáo bị hỏi cung. An-ne đã coi thường luật-pháp, và sau đó hội đồng các thầy tế-lễ đã mướn những nhân chứng giả. Chúa Giê-xu biết quyền lợi của Ngài (đưa ra bằng chứng sai trái của chúng – Gi 18:23) nhưng Ngài không chống lại. Ngài đã nêu một tấm gương hầu chúng ta có thể chịu đựng sự oan ức xảy đến cho mình (IPhi 2:19-24; IPhi 4:12-19).
5. Đống lửa - Sự chối bỏ (Gi 18:15-27)
Chúa Giê-xu đã bảo trước cho Phi-e-rơ rằng ông sẽ chối Ngài 3 lần (Gi 13:38; Mat 26:34) nhưng Ngài sẽ phục hồi ông trong mối giao thông và hầu việc Ngài (Lu 22:32). Phi-e-rơ đi theo đám đông chớ không lánh đi (Gi 18:8; Mat 26:30-32).
Nếu Phi-e-rơ lánh khỏi nơi đó, có lẽ ông đã không rơi vào tình trạng chối Chúa. Mặc dù khâm phục tình yêu và lòng can đảm của Phi-e-rơ, chúng ta cũng không thể đồng tình với hành động của ông bởi ông đã bước ngay vào chỗ đầy sự cám dỗ. Đây là điều Chúa đã cho ông biết trong vườn (Mat 26:41).
Chúng ta không biết “một môn-đệ khác” đi với Phi-e-rơ vào sân thầy tế-lễ thượng phẩm là ai. Người đó có thể là Giăng, mặc dù thật khó hiểu vì sao một người đánh cá lại quen biết một thầy tế-lễ thượng phẩm cùng gia đình người. Người đó có thể là Ni-cô-đem hay Giô-sép ở A-ri-ma-thê? Chắc hẳn họ có quyền đến đây.
Khi theo dõi Phi-e-rơ, bạn sẽ thấy ông dần dần đi vào chỗ bị cám dỗ và phạm tội. Hành động của Phi-e-rơ giống với lời mô tả ở Thi 1:1. Trước hết, Phi-e-rơ đã đứng chung với những kẻ vô tín khi theo Chúa vào trong sân thầy tế-lễ thượng phẩm. Lẽ ra, ông phải vâng theo lời Chúa khuyên và lánh khỏi nơi này.
Kế đó Phi-e-rơ đứng chung với kẻ thù gần đống lửa (Thi 18:16,18) và trước đó rất lâu ông cũng đã ngồi chung với họ (Lu 22:55). Lúc này đã quá trễ, và chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi ông đã chối Chúa đến 3 lần!
Lần thứ nhất, một đầy tớ gái hỏi Phi-e-rơ: “Còn ngươi, cũng là môn-đệ của người đó, phải chăng?” Theo ngôn ngữ Hy-lạp, câu hỏi này cho biết đầy tớ gái đó chờ đợi một câu trả lời phủ định và đó là điều cô ta đã nhận được! Phi-e-rơ chối Chúa khi không thừa nhận mình là môn-đệ Ngài.
Phi-e-rơ luôn ở gần đống lửa, nên dĩ nhiên bị tiếp cận một lần nữa. Một đầy tớ gái khác cũng hỏi một câu tương tự và chờ đợi câu trả lời phủ nhận (Gi 18:25).
Câu hỏi thứ ba do một người bà con của Man-chu đặt ra!. Theo ngôn ngữ Hy-lạp, cấu trúc của câu hỏi này cho biết anh ta chờ đợi một lời đáp khẳng định: “Ta há chẳng từng thấy ngươi ở trong vườn với người sao?” (Gi 18:26). Người này chăm chú nhìn Phi-e-rơ có lẽ vì anh ta đứng gần Man-chu trong lúc Chúa Giê-xu bị bắt. Một số người chứng kiến cũng bàn luận về điều này (Mat 26:73; Mac 14:70), vì vậy Phi-e-rơ bị vây chặt bởi những kẻ thách đố kia!
Lúc này, sự kháng cự của Phi-e-rơ hoàn toàn bị khống chế. Ông bắt đầu “rủa sả mà thề” (Mat 26:74). Điều này không có nghĩa là ông lộng ngôn, nhưng có nghĩa là ông đặt mình dưới sự rủa sả để khẳng định lời nói mình. Trong cuộc thử nghiệm này, Phi-e-rơ dùng bản thân để thề nhằm mục đích thuyết phục những kẻ tố cáo ông tin rằng ông đã nói “thật”.
Chính vào giờ đó: gà bắt đầu gáy (Mat 18:27) đúng như lời Chúa đã báo trước (Mat 26:34).
Có 4 canh: chiều tối (6-9 giờ tối) giữa đêm (9-12 giờ khuya), gà gáy (12-3 giờ sáng) và sáng (3-6 giờ sáng) (Mac 13:35). Tiếng gà gáy nhắc Phi-e-rơ nhớ lại lời Chúa, nên ông đi ra ngoài khóc lóc đắng cay.
Tiếng gà gáy là một đảm bảo cho Phi-e-rơ biết rằng Chúa Giê-xu hoàn toàn làm chủ hoàn c ảnh dù Ngài bị trói và bị các chức sắc quấy rối. Bởi kiểm soát một con gà Chúa cho thấy quyền tể-trị của Ngài. Trong Sa 1:26 Đức Chúa Trời đã ban cho con người quyền quản-trị loài cá biển, chim trời, súc vật và mọi loài khắp đất.
Phi-e-rơ đã chứng kiến Chúa Giê-xu bày tỏ quyền năng Ngài trên loài cá biển (Lu 5:1-11; Mat 17:24-27) và loài súc vật (Mat 21:1-11). Nhưng giờ đây ông nhận biết quyền tể-trị của Ngài trên loài chim nữa.
• Tiếng gà gáy cũng là lời kêu gọi sự ăn năn.
“Đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình” (Lu 22:32) Lu-ca cho chúng ta biết rằng Chúa đã quay lại nhìn Phi-e-rơ (Lu 22:61), cái nhìn đầy yêu thương làm tan vỡ lòng Phi-e-rơ. Phi-e-rơ là người chứng kiến sự thương-khó của Chúa Giê-xu (IPhi 5:1) và chính ông đã góp phần vào sự thương-khó của Ngài bằng những lời chối Chúa của mình.
Bạn hãy nhớ rằng tiếng gà gáy là âm thanh báo hiệu buổi bình minh của một ngày mới! “Sự khóc lóc đến trọ ban đêm nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng” (Thi 30:5). Thật đáng để so sánh Phi-e-rơ với Giu-đa. Phi-e-rơ khóc than về tội lỗi mình và ăn năn, còn Giu-đa thừa nhận tội lỗi mình nhưng chẳng bao giờ thật sự ăn năn.
Giu-đa chỉ “hối hận” chớ không hề ăn năn.
Khi Giu-đa bước ra ngoài, trời đã tối (Gi 13:30), nhưng lúc Phi-e-rơ đi ra khóc lóc đắng cay, bình minh của một ngày mới mở ra. Có một sự khác biệt rõ rệt giữa sự buồn rầu dẫn đến sự ăn năn thật và sự buồn rầu theo thế gian (tiếc nuối và hối hận) dẫn đến sự chết (IICôr 7:9-10). Chúng ta sẽ thấy Chúa Giê-xu phục hồi lại địa vị của Phi-e-rơ (Gi 21:1-25), giúp ông hầu việc Ngài bằng quyền năng và ơn phước lớn lao.
Giữa vườn Ghết-sê-ma-nê đêm ấy, bạn sẽ thấy sự hiện diện của tội lỗi và ân-điển. Phi-e-rơ phạm tội nghịch cùng ý muốn Đức Chúa Trời. Giu-đa phạm tội lừa dối tệ hại nhất. Đám đông phạm tội khước từ Con Đức Chúa Trời và đối xử với Ngài như loại tội phạm thấp hèn nhất.
Dầu vậy, Chúa thật nhân từ biết bao! Giống như vua Đa-vít, Ng ài đã đi qua khe Xết-rôn, biết rõ Giu-đa sẽ phản bội Ngài. Ngài bước vào vườn Ghết-sê-ma-nê trong sự vâng phục ý muốn Cha trên trời. Ngài còn chữa lành tai Man-chu cũng như bảo vệ cho các môn-đệ. Ngài phó mình vào tay những kẻ tội lỗi hầu có thể chịu thương khó và chết thay chúng ta.
“Kỳ diệu thay ái tình Chúa thắm tươi
Xui tôi vui dâng hồn, thân, cả rày...” (TC 95)
Hôm nay, trong tay bạn có gì? Thanh gươm hay chén đắng?
20. CHỊU THƯƠNG-KHÓ DƯỚI TAY BÔN-XƠ-PHI-LÁT (Gi 18:28-19:16)
-Trước khi cho người bắt Chúa Giê-xu các lãnh đạo Do-thái đã có ý định giết Ngài (Gi 11:47-54). Tuy nhiên, hội đồng lãnh đạo Do-thái không có quyền thi hành án đối với phạm nhân, vì vậy họ cần có sự “hợp tác” và chấp thuận của Rô-ma, nghĩa là họ phải tìm đến quan tổng-đốc Rô-ma: Bôn-xơ Phi-lát.
“Cuộc xét xử” của người Do-thái và của ngư ời Rô-ma đều trải qua ba giai đoạn. Sau khi bị bắt Chúa Giê-xu bị giải đến nhà An-ne và ở đó Ngài bị xét hỏi một cách vô luật-pháp (Gi 18:12-14,19-23). An-ne mong “moi” được chi tiết chứng minh Chúa Giê-xu là kẻ thù của dân Do-thái. Ông ta muốn công bố rằng Đạo lý của Chúa và các môn-đệ Ngài đã chống lại Rô-ma, như vậy Ngài “đáng” bị xử chết!
-Giai đoạn hai của cuộc xét xử được chuyển giao cho Cai-phe và trong đêm ấy các thành viên trong tòa Công Luận tìm mọi cách làm chứng dối về Ngài (Mat 26:57-68; Mac 14:53-65). Khi Chúa Giê-xu thẳng thắn thừa nhận Ngài là Đấng Christ, cả hội đồng buộc tội lộng ngôn cho Ngài.
Với tội ấy, theo luật-pháp của họ thì Ngài phải bị xử tử. Tuy nhiên, hội đồng các lãnh đạo phải họp lại vào sáng hôm sau để đưa ra lời tuyên án vì xử kiện giữa ban đêm là trái luật.
-Giai đoạn xét xử lần thứ ba phải được thực hiện “càng sớm càng tốt” để họ có thể xử tội chết cho Chúa Giê-xu! (Mat 27:1; Lu 22:66-71) và họ đã làm như vậy!
Cuộc xét xử của người Rô-ma cũng trải qua 3 giai đoạn: trước mặt quan tổng đốc Phi-lát (Gi 18:28-38), trước mặt vua Hê-rốt (Lu 23:6-12) và một lần nữa việc xét xử được giao lại cho Phi-lát (Lu 18:39-19:16; Mat 27:15-26; Mac 15:6-15; Lu 23:13-25).
Phúc-âm Giăng chỉ ghi lại những câu hỏi của An-ne và Phi-lát Cai-phe được đề cập thoáng qua. Giăng chủ yếu tập trung vào cuộc xét xử của người Rô-ma. Giăng viết Phúc-Âm trong hoàn cảnh dân tộc Do-thái bị người Rô-ma chia cắt, Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, quyền lực Rô-ma bao trùm khắp nơi.
Bôn-xơ Phi-lát nhậm chức từ năm 26-36 SC và chẳng lấy được lòng dân Do-thái cho lắm. Ông ta sẵn sàng tàn bạo khi cần (Lu 13:1-2), nhưng cũng hiểu quyền hạn của người Do-thái và biết cách lợi dụng nó.
Cách ông ta xét xử Chúa cho thấy ông là con người không dứt khoát, yếu mềm và dễ thỏa hiệp.
Người Rô-ma có câu châm-ngôn: “Hãy để sự công-bình được hành động cho dù các tầng trời sập xuống!” Phi-lát chẳng quan tâm gì đến sự công bình, chỉ nghĩ đến bản thân, địa vị mình và lợi ích của Rô-ma. Tuy nhiên, ông ta đã không đạt được 3 điều trên!
Khi đọc Phúc-âm Giăng, bạn sẽ thấy Phi-lát cố tìm “cách thoái thác” để làm vừa lòng 2 phía. Ông ta sợ đoàn dân, nhưng cũng sợ “phạm nhân”! Có ít nhất 3 lần Phi-lát tuyên bố Chúa Giê-xu không phạm tội lỗi nào (Lu 23:14; Gi 19:4; Lu 23:22; Gi 19:6), thế nhưng ông lại không phóng thích Ngài!
Cuộc xét xử của người Rô-ma do Phi-lát chủ trì xoay quanh 4 câu hỏi chính:
1. “Các ngươi kiện người này về khoản gì?” (Gi 18:28-32)
Ngay khi tòa Công Luận biểu quyết xử án Chúa Giê-xu, Ngài bị điệu đến dinh thự nơi quan tổng đốc Phi-lát ở trong mùa lễ Vượt Qua.
Nhà cầm quyền La-mã thường cho người đến Giê-ru-sa-lem trong kỳ lễ Vượt Qua để ngăn chặn những cuộc bạo động và nổi dậy của những người nhóm chủ nghĩa dân tộc Do-thái. Các lãnh đạo tôn giáo chẳng ngần ngại chi khi vu cáo người vô tội, nhưng rất “thận trọng” giữ mình khỏi sự ô uế khi bước trên đất người ngoại! Thật là thảm họa nếu bị ô uế về mặt nghi thức trong 7 ngày lễ Vượt Qua!
Phi-lát đã đặt một câu hỏi hợp lý về sự vu cáo. Thay vì xác định tội một cách rõ ràng, các quan trưởng Do-thái chỉ nói lòng vòng. Ở Lu 23:2 họ vu cáo Chúa 3 tội:
(1). Xui dân làm loạn.
(2). Chống lại việc nộp thuế cho Sê-sa và
(3). Xưng mình là Đấng Christ là Vua.
Phi-lát chẳng thiết tha quan tâm đến một vụ kiện nào của người Do-thái, đặc biệt là vào kỳ lễ Vượt Qua, nên ông muốn né tránh vấn đề. Xét cho cùng, nếu phạm nhân kia gây rối cho dân Do-thái vậy hãy để dân Do-thái xử theo luật-pháp họ. Rô-ma đã chấp thuận cho dân Do-thái sử dụng pháp quyền của mình đặc biệt trong những vấn đề có liên quan đến tập quán và luật-lệ tôn giáo Do-thái (Công 18:12-16).
Khi xem xét 3 lời tố cáo nghịch cùng Chúa Giê-xu, bạn sẽ thấy rằng những lời tố cáo ấy không thể chấp nhận được. Bởi vì, Ngài không hề “lật đổ” nhà cầm quyền, hay giáo hội. Dĩ nhiên Ngài từng lên án người Pha-ri-si và sự giả hình của họ, nhưng Ngài không phải là người đầu tiên hay duy nhất làm điều đó. Chúa đã chúc phước cho dân tộc Do-thái và đem đến cho họ sự trông cậy. Việc một số người Do-thái bạo động muốn tôn Ngài làm vua (Gi 6:15), đó không phải là lỗi của Ngài. Bởi Ngài đã lánh đi khỏi những cuộc ủng hộ về mặt chính trị này.
Nói về việc chống đối nộp thuế cho Sê-sa, Chúa Giê-xu đã dạy điều ngược lại! Ngài phán: “Hãy trả cho Sê-sa vật gì của Sê-sa và trả cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời” (Mat 22:21).
Ngài tuyên bố mình là Vua nhưng không theo ý nghĩa chính trị. Ngay cả môn-đệ Chúa cũng không hiểu hoàn toàn những chân-lý thuộc linh cho đến lúc Chúa Phục sinh (Công 1:1-8). Dân chúng đôi lúc cũng không hiểu Ngài (Lu 19:11). Dĩ nhiên, các lãnh đạo Do-thái muốn tìm bất cứ chứng cớ nào có thể được để tố cáo Chúa và bảo vệ lời chứng dối đó!
2. “Chính ngươi là Vua dân Giu-đa, phải chăng?” (Gi 18:33-38)
Câu hỏi Chúa Giê-xu có phải là Vua dân Giu-đa (Do-thái) hay không, đều được chép trong 4 sách Phúc-Âm. Là một quan chức La-mã, Phi-lát hẳn sẽ quan tâm nhiều về những lời tuyên bố của bất cứ vua nào. Sự trông mong về Đấng Mê-si-a luôn bùng dậy cao độ trong mùa lễ Vượt Qua, cũng là cơ hội thuận lợi cho những người Do-thái cực đoan xui giục dân chúng làm loạn hoặc chống lại Rô-ma. Dĩ nhiên, Phi-lát thấy mình có cơ sở khi đặt câu hỏi về vương quyền của Đấng Christ.
Tuy nhiên, Phi-lát không lường trước câu trả lời của Chúa: “Thật như lời” (Mat 27:11). Nhưng khi Chúa đặt lại một câu hỏi. “Ngươi nói điều đó tự ý mình, hay là có người đã nói điều đó với ngươi về ta?” (Gi 18:34), Ngài thật sự muốn hỏi điều gì? “Ngươi đang nghĩ về vua nào? Vua Rô-ma hay Vua Do-thái? Vua thế gian hay Vua thiên-đàng?” Chúa Giê-xu không lẩn tránh vấn đề, Ngài buộc Phi-lát phải làm sáng tỏ vấn đề theo suy nghĩ của ông ta. Tóm lại, người bị xét xử không phải là Chúa Giê-xu, nhưng chính là Phi-lát!
Nếu Phi-lát nghĩ về vua Rô-ma, vậy Chúa Giê-xu có thể bị xem là kẻ chống nghịch. Nếu ông ta nghĩ về vua Do-thái, vậy những vấn đề chính trị có thể được thông qua, đáng chú ý rằng Phi-lát đã gọi Chúa Giê-xu bằng danh hiệu “Vua” ít nhất 4 lần suốt cuộc xử án, thậm chí còn ghi danh ấy vào tấm bảng treo trên thập-tự giá (Gi 18:39; Gi 19:3,14,15,19).
Câu trả lời của Phi-lát trước mặt Chúa Giê-xu bày tỏ suy nghĩ của dân Rô-ma về dân Do-thái. Giọng nói ông ta hẳn đã biểu hiện sự khinh thường và mỉa mai: “Nào có phải ta là người Do-thái đâu?” Chúa Giê-xu không phải là phạm nhân do bị Phi-lát bắt, nhưng bởi các quan trưởng trong dân Ngài! Không có lửa sao có khói? Vì vậy, Phi-lát đã hỏi: “Ngươi đã làm điều gì?”
Bằng thái độ khoan dung, Chúa vui lòng giải thích về chính Ngài và Vương quốc Ngài. Vâng, Ngài thừa nhận mình là Vua, nhưng Vương quốc Ngài không đến từ quyền lực thế gian. Dân Do-thái ở dưới quyền La-mã, Phi-lát ở dưới quyền Sê-sa. Nhưng Chúa Giê-xu nhận được quyền năng từ Đức Chúa Trời.
Vương quốc Ngài là Vương quốc thuộc linh, ngự trị trong lòng những người theo Ngài và Ngài không dựa vào phương tiện thế tục hay con người để đạt được mục đích mình. Nếu vương quốc Ngài thuộc về thế gian, vậy lúc này những người theo Ngài đã có thể tập hợp thành một quân đội sẵn sàng chống trả để giải thoát cho Ngài!
Chúa Giê-xu không nói rằng Ngài không có Vương quốc ở thế gian, cũng không nói rằng Ngài sẽ không bao giờ cai trị trên đất. Ngài thật sự có một Vương quốc ở thế gian này, vương quốc ấy hiện diện bất cứ nơi đâu có những con người tin cậy và đầu phục sự tể trị của Ngài. Ngày kia, Ngài sẽ tái lâm để thiết lập Vương quốc công-bình của Ngài trên đất (Dân 7:13-28). Mối quan tâm của Phi-lát chính là nguồn cội của Vương quốc này: Chúa Giê-xu nhận thẩm quyền từ đâu?
Trong Gi 18:37 Chúa cho biết Ngài là ai và Vương quốc nào thuộc về Ngài. Có lẽ Phi-lát không hiểu được ý nghĩa của những lời sâu sắc này, nhưng chúng ta hôm nay có thể hiểu rõ ý nghĩa Chúa muốn nói. Ngài đã được “sinh” ra, điều đó bày tỏ nhân tính Ngài. Nhưng Ngài đã “giáng thế” cho thấy thần tính Ngài. Sự kiện Ngài “giáng thế” có nghĩa là Ngài đã hiện-hữu từ trước khi sinh ra tại B ết-lê-hem. Đây là một chân-lý quan trọng được lặp lại nhiều lần trong Phúc-âm Giăng (Gi 1:9-10; Gi 3:17,19; Gi 9:39; Gi 10:36; Gi 12:46; Gi 16:28; Gi 17:18).
Chúa không những chỉ cho Phi-lát biết về nguồn gốc Ngài, mà còn giải thích về chức vụ Ngài: làm chứng cho chân-lý. Vương quốc Ngài là Vương quốc của chân-lý thuộc linh, vì vậy Ngài thu phục dân sự không bởi bạo quyền nhưng bởi sự cáo trách và thuyết phục. Ngài nói chân-lý về Lời Đức Chúa Trời nên những ai thuộc về Ngài đều hưởng ứng theo lời kêu gọi của Ngài (Gi 8:47; Gi 10:27). Vũ khí của người Rô-ma là gươm giáo, nhưng vũ khí của Chúa là lẽ thật của Đức Chúa Trời, là Gươm Thánh Linh (Êph 6:17).
Chúng ta thật không thể biết Phi-lát đã đặt câu hỏi “nổi tiếng” kia với thái độ nào: “Chân-lý là gì?”
Francis Bacon đã viết: “Lẽ thật là gì? Phi-lát hỏi một cách bỡn cợt chớ không muốn biết lời giải đáp”.
Tuy nhiên, chúng ta không biết chắc Phi-lát có bỡn cợt thật sự hay không. Có lẽ ông đã hỏi thật lòng. Từ bao thế kỷ qua, các triết-gia Rô-ma và Hy-lạp đã bàn cãi về chính câu hỏi này, nhưng không đi đến kết luận nào hợp lý cả, chúng ta không biết Phi-lát đã cười nhạo hay thở dài khi hỏi câu ấy. Vì vậy thật không khôn ngoan khi đưa ra kết luận về vấn đề này.
Ít ra, Phi-lát cũng can đảm đối đầu với đám đông và tuyên phán: