“Có lẽ bạn tưởng tôi chẳng hề trải những thăng trầm của cuộc sống, nhưng chỉ có một lối bằng phẳng thênh thang của kiến-thức thuộc-linh với niềm vui và sự thanh thản miên man. Chẳng hề như vậy! Tôi thường cảm thấy hết sức khốn khổ và mọi sự dường như u ám nhất”.
Đó...
...là lời nói của Tiến-sĩ John Henry Jowett, người từng được gọi là “Nhà truyền-giáo lừng danh nhất trong giới nói tiếng Anh” vào thời ông. Làm mục-sư ở những Hội thánh lớn, ông đã giảng-dạy cho những hội chúng đông đảo và viết ra những cuốn sách bán chạy nhất.
“Tôi là đối tượng của tinh thần chán-nản thật đáng sợ đến nỗi tôi mong rằng không ai trong số các bạn rơi vào những thái cực khốn khổ như tôi.”
Những lời ấy được Charles Haddon Spurgeon chia sẻ trong một bài-gi ảng. Chức-vụ xuất sắc của ông tại Luân-đôn hẳn đã khiến ông trở nên nhà truyền-giáo lừng lẫy nhất mà Anh quốc chưa từng có.
Nản-lòng là tình trạng có thể xảy đến với mọi người, không phân biệt ai. Thật ra, sự nản-lòng dường như tấn công những người thành đạt nhiều hơn những người không thành đạt. Vì càng leo cao, chúng ta có thể bị ngã xuống sâu hơn.
Chẳng ngạc nhiên gì khi chúng ta biết sứ-đồ cao trọng như Phao-lô từng “bị đè nén quá chừng” và “đến nỗi mất lòng trông-cậy giữ sự sống” (IICôr 1:8). Cao trọng qua tính cách và chức-vụ, nhưng Phao-lô cũng chỉ là con người như chúng ta.
Phao-lô có thể đã thoát được khỏi những gánh nặng nếu ông không được Chúa kêu gọi (IICôr 1:1) và không quan tâm giúp đỡ người khác. Ông đã thành lập Hội thánh tại Cô-rinh-tô và thi hành chức-vụ ở đó được 1 năm 6 tháng (Công 18:1-18).
Khi những vấn-đề nghiêm trọng của Hội thánh xảy ra sau khi ông ra đi, ông cử Ti-mô-thê đến giải quyết những nan-đề đó (ICôr 4:17) và viết bức thư mà chúng ta gọi là ICô-rinh-tô.
Chẳng may, nan-đề trở nên tệ-hại hơn nên Phao-lô phải thực hiện chuyến viếng thăm “buồn rầu”đến Cô-rinh-tô đối phó với những kẻ gây-rối (IICôr 2:1). Dầu vậy, vẫn không có giải-pháp nào cho nan-đề này.
Sau đó, Phao-lô viết một “bức thơ nghiêm khắc” được cộng-sự của ông là Tít đem đi (IICôr 2:4-9; IICôr 7:8-12). Sau nhiều đau buồn, cuối cùng Phao-lô gặp lại Tít và được nghe tường thuật khích lệ rằng nan-đề đã được giải quyết.
Đó là lúc ông viết bức thư chúng ta gọi là IICô-rinh-tô.
• Phao-lô viết thư này với nhiều lý-do.
-Trước tiên, ông muốn khích lệ Hội thánh tha-thứ và phục-hồi địa-vị cho thuộc-viên đã gây mọi rắc rối này (IICôr 2:6-11). Ông cũng muốn giải thích lý-do ông thay đổi kế hoạch (IICôr 1:15-22) và bênh vực quyền sứ-đồ của mình (IICôr 4:1-2; IICôr 10:1-12:21).
-Sau hết, ông muốn khích lệ Hội thánh dự phần vào “việc quyên góp viện trợ”được ông phát động để giúp đỡ các thánh-đồ nghèo khó xứ Giu-đê (IICôr 8:1-9:15).
Một trong những từ quan-trọng ở thư tín này là “yên-ủi hay khích lệ” tiếng Hy-lạp có nghĩa “gọi về phía mình để giúp đỡ”. Động từ này được sử dụng 18 lần trong thư tín và danh từ 11 lần. Mặc cho mọi thử thách đã trải qua, Phao-lô (bởi ơn Đức Chúa Trời) vẫn có thể viết ra một bức thư chan chứa sự yên-ủi.
Phao-lô có bí quyết thành công gì khi trải qua những áp lực và thử thách” Bí quyết của ông là Đức Chúa Trời. Lúc cảm thấy nản lòng và sắp bỏ cuộc, b ạn đừng chú ý vào bản thân, và hãy hướng về Đức Chúa Trời. Bởi từng trải khốn khó của bản thân, Phao-lô cho chúng ta biết phương cách có thể tìm thấy sự yên-ủi nơi Đức Chúa Trời.
Ông cho chúng ta 3 điều nhắc nhở đơn giản.
2. Hãy nhớ Đức Chúa Trời là gì đối với bạn (IICôr 1:3)
Phao-lô mở đầu thư tín bằng một bài ca chúc tụng. Chắc hẳn, ông không thể ca ngợi về những hoàn cảnh của mình, nhưng có thể ca ngợi Đức Chúa Trời Đấng tể-trị mọi hoàn cảnh. Phao-lô biết rằng sự ngợi-khen là một yếu tố quan trọng để đắc thắng sự nản lòng và cơn buồn phiền. “Ngợi-khen thay đổi mọi sự” cũng giống như “cầu-nguyện thay đổi mọi sự”.
Hãy ngợi-khen Ngài vì Ngài là Đức Chúa Trời! Bạn thấy nhóm từ “ngợi-khen Đức Chúa Trời” ở 2 chỗ trong Kinh Thánh Tân-ước: Êph 1:3 và IPhi 1:3.
Ở Êph 1:3 Phao-lô ngợi-khen Đức Chúa Trời về điều Ngài thực hiện trong quá khứ, khi “chọn chúng ta trong (Đấng Christ)” (Êph 1:4) và ban cho chúng ta “đủ mọi thứ phước thiêng-liêng”.
Ở IPhi 1:3 Phi-e-rơ ngợi-khen Đức Chúa Trời về những phước hạnh trong tương lai và “sự trông-cậy sống”.
Nhưng ở thư IICô-rinh-tô, Phao-lô ngợi khen Đức Chúa Trời về những ơn phước hiện tại, những điều Đức Chúa Trời đang hoàn thành ngay lúc ấy.
Trải suốt những kinh hoàng của cuộc chiến 30 năm, mục-sư Martin Rinkart đã trung-tín giúp đỡ người dân ở Eilenburg, Saxony. Một ngày ông chủ trì đến 40 tang lễ, với tổng số trên 4.000 tang lễ suốt giai đoạn thi hành chức-vụ.
Nhưng, từ từng trải khiếp kinh này, ông đã viết ra “một bài cầu-nguyện trong bữa ăn” cho trẻ con mà hôm nay được chúng ta sử dụng như một bài ca cảm tạ:
“Nào, chúng ta hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của mình,
Bằng tấm lòng, đôi tay và tiếng nói
Đấng đã thực hiện những điều kỳ diệu,
Trong Ngài thế giới của Ngài hoan hỉ! ”
Hãy ngợi-khen Ngài vì Ngài là Cha Đức Chúa Giê-xu! Chính nhờ Chúa Giê-xu, chúng ta có thể gọi Đức Chúa Trời là “Cha” và thậm chí có thể đến gần Ngài như con cái Ngài.
Đức Chúa Trời nhìn thấy chúng ta qua Con Ngài và yêu thương chúng ta như Ngài yêu Con Ngài vậy (Gi 17:26). Chúng ta là “những người yêu dấu của Đức Chúa Trời” (Rô 1:7) vì chúng ta “được tiếp nhận trong Con yêu dấu của Ngài” (Êph 1:6).
Bất cứ điều gì Đức Chúa Cha đã làm cho Chúa Giê-xu khi Chúa Giê-xu thi hành chức vụ trên đất, Ngài cũng có thể làm cho chúng ta hôm nay. Chúng ta được Đức Chúa Trời yêu quý vì Con Ngài được Ngài yêu quý và vì chúng ta là công-dân “Nước của Con rất yêu dấu Ngài” (con của tình yêu Ngài) (Côl 1:13).
Chúng ta được Đức Chúa Cha quý trọng và Ngài đảm-bảo chắc chắn rằng những áp lực của cuộc sống sẽ không hủy diệt chúng ta.
Hãy ngợi-khen Ngài vì Ngài là Cha hay thương-xót! Đối với dân Do-thái, chữ “cha của...” mang ý nghĩa “người sáng tạo ra...” Sa-tan là “cha sự nói dối” (Gi 8:44) vì những dối trá khởi nguồn từ nó.
Theo Sa 4:21 Giu-banh là tổ-phụ của những nhạc cụ vì ông sáng tạo ra ống sáo và đàn hạc. Đức Chúa Trời là Cha hay thương-xót vì mọi sự thuơng-xót đều khởi nguồn từ Ngài và chỉ được bảo-đảm nơi Ngài.
Bởi ân-điển, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những điều chúng ta không xứng đáng nhận lãnh, và bởi lòng thương-xót, Ngài không ban cho chúng ta những điều chúng ta đáng phải nhận lãnh.
“Ấy là nhờ sự nhân-từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương-xót của Ngài chẳng dứt” (Ca 3:22).
Sự thương-xót của Đức Chúa Trời thật phong phú (Nêh 9:19), dịu dàng (Thi 25:6) và rất lớn (Dân 14:19). Kinh Thánh luôn nói đến sự nhân-từ dư dật của Chúa” mà sự cung ứng thật vô-tận (Thi 5:7; Thi 51:1; Thi 69:13,16 Thi 106:7,45; Ca 3:32).
Hãy ngợi khen Ngài vì Ngài là Đức Chúa Trời ban mọi sự yên-ủi! Từ “yên-ủi hay an-ủi (từ cùng gốc theo tiếng Hy-lạp) được lặp lại 11 lần trong (IICôr 1:1-11). Chúng ta đừng nghĩ đến “yên-ủi” theo những thuật ngữ về “sự cảm-thông”, vì sự cảm-thông có thể khiến chúng ta yếu đuối thay vì làm chúng ta mạnh mẽ.
Đức Chúa Trời không vỗ đầu chúng ta để khen-ngợi rồi cho chúng ta cây kẹo hay một món đồ chơi nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng ta khỏi những khốn khổ.
Không hề vậy, Ngài đặt năng lực nơi lòng chúng ta hầu cho chúng ta có thể đối diện với những thử thách và đắc thắng chúng.
Theo tiếng Anh từ “yên-ủi” (comfort) xuất phát từ 2 từ La-tinh nghĩa là “với sức mạnh”. Từ Hy-lạp nghĩa là “đi bên cạnh và giúp đỡ”. Chính từ này được sử dụng cho Đức Thánh Linh (“Đấng Yên-ủi”) trong Gi 14:1-16:33.
Đức Chúa Trời có thể yên-ủi chúng ta bởi Lời Ngài và qua Thánh Linh Ngài. Nhưng đôi lúc Ngài cũng dùng những tín-hữu khác để ban sự yên-ủi cho chúng ta khi cần (IICôr 2:7,8 IICôr 7:6-7). Thật tuyệt biết bao nếu chúng ta đều mang biệt danh “Ba-ra-ba – con trai của sự yên-ủi”! (Công 4:36).
Khi bạn cảm thấy chán-nản bởi những hoàn cảnh khó khăn bạn rất dễ nhìn bản thân và cảm xúc của mình hoặc chú ý vào những nan-đề quanh mình.
Nhưng bước đầu tiên ta phải thực hiện là: hãy nhìn lên Chúa bằng đức-tin và nhận biết mọi quyền-năng của Đức Chúa Trời đối với mình.
“Tôi ngước mắt lên trên núi: Sự tiếp trợ tôi đến từ đâu? Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giê-hô-va, là Đấng đã dựng nên trời và đất” (Thi 121:1,2).
3. Hãy nhớ những điều Đức Chúa Trời làm cho bạn (IICôr 1:4,8-11)
Trước tiên, Ngài cho phép thử thách xảy đến: Ngôn ngữ Hy-lạp có 10 từ cơ bản nói về sự chịu-khổ, trong đó có 5 từ được Phao-lô dùng để viết thư tín này. Từ được sử dụng thường xuyên nhất là từ “thlipsis”, mang ý nghĩa “eo hẹp, bị hạn chế, bị đè nén” và trong thư tín này dịch là “hoạn-nạn” (IICôr 2:4; IICôr 4:17), “đau khổ” (IICôr 1:4) và “khó khăn” (IICôr 1:4,8).
Cảm thấy mình bị giam hãm bởi những nghịch-cảnh, nên cách duy nhất Phao-lô có thể hành động là đương đầu với hoàn cảnh.
Ở (IICôr 1:5-6), Phao-lô dùng từ “pathêma” – “sự đau đớn” – từ này cũng được sử dụng để nói về sự đau đớn của Đấng Christ chúng ta (IPhi 2:11; IPhi 5:1).
Có những sự đau đớn chúng ta chịu chỉ vì chúng ta là người phàm nên phải bị đau, nhưng cũng có những đau đớn khác xảy đến cho chúng ta là dân của Đức Chúa Trời muốn hầu-việc Ngài.
• Chúng ta đừng nghĩ rằng khó khăn là một tai nạn.
Đối với Cơ-đốc nhân, mọi sự đều được Đức Chúa Trời định sẵn. Khi những thử-thách của cuộc sống xảy đến, chỉ có 3 quan điểm con người có vận dụng: Nếu thử-thách xảy đến cho chúng ta là kết quả của “số phận” hay “may rủi” vậy phản ứng duy nhất của chúng ta là đầu hàng.
Không ai có thể điều khiển được số phận hay may rủi. Nếu chúng ta phải tự điều khiển mọi sự, vậy hiện trạng của chúng ta xem như đồng nghĩa với vô vọng. Nhưng nếu Đức Chúa Trời điều khiển mọi sự và chúng ta tin-cậy nơi Ngài, khi ấy chúng ta có thể thắng hơn hoàn-cảnh nhờ sự tiếp-trợ của Ngài.
Đức Chúa Trời yên-ủi chúng ta trong mọi đau-khổ của mình bằng cách dùng Lời Ngài để dạy chúng ta biết rằng chính Ngài là Đấng cho phép mọi thử-thách xảy ra.
Ngài cũng yên-ủi chúng ta nhiều hơn bằng cách nhắc ta nhớ Ngài đang tể-trị mọi thử-thách (IPhi 1:8) “Chúng tôi đã bị đè nén quá chừng, quá sức mình, đến nỗi mất lòng trông-cậy giữ sự sống”.
Phao-lô mệt mỏi như một con vật thồ hàng với những gánh nặng quá tải. Nhưng Đức Chúa Trời biết khả năng chịu đựng của Phao-lô và Ngài tể-trị hoàn cảnh.
Chúng ta không biết Phao-lô gặp “hoạn-nạn” cụ thể nào, nhưng nó đáng sợ đủ để ông tưởng mình sắp chết. Chúng ta không biết có phải đó là sự nguy hiểm từ phía những kẻ thù của ông (ICôr 15:30-32; Công 19:21), bệnh tật ngặt nghèo hoặc sự tấn công đặc biệt của ma quỷ hay chăng, nhưng chúng ta hẳn biết rằng Đức Chúa Trời đã điều khiển mọi hoàn-cảnh và bảo vệ tôi-tớ Ngài.
Khi Đức Chúa Trời đặt con cái Ngài trong lò lửa thử thách, Ngài giữ tay Ngài trên bộ chỉnh nhiệt và mắt Ngài trên nhiệt kế (ICôr 10:13; IPhi 1:6-7).
Phao-lô có thể mất hy vọng giữ sự sống, nhưng Đức Chúa Trời không hề mất hy vọng nơi Phao-lô.
- Ngài giúp chúng ta có thể chịu được thử-thách (IICôr 1:9). Việc đầu tiên Đức Chúa Trời phải làm là cho chúng ta biết tình trạng yếu đuối trong bản thân mình. Phao-lô là một tôi-tớ dày dặn và đầy ơn của Đức Chúa Trời, từng trải mọi thử thách hoạn-nạn (IICôr 4:8-12; IICôr 11:23). Chắc hẳn mọi từng trải này đã giúp ông đương đầu với những khó-khăn mới và khắc-phục chúng.
Nhưng Đức Chúa Trời muốn chúng ta tin-cậy Ngài – chớ không phải ân-tứ, tài năng, kinh-nghiệm, hay “những thành tích thuộc-linh”. Ngay khi chúng ta cảm thấy tự tin và có thể giáp mặt với kẻ thù, là lúc chúng ta thất bại thảm hại.
“Vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ” (IICôr 12:10).
Khi bạn và tôi chết về bản ngã, bấy giờ quyền-năng Phục Sinh của Đức Chúa Trời có thể hành động. Chính khi Áp-ra-ham và Sa-ra gần như chết về thân thể, là lúc quyền-năng Phục Sinh của Đức Chúa Trời khiến họ sinh đứa con như lời hứa (Rô 4:16-25).
Tuy nhiên, “chết về cái tôi” không có nghĩa là sự tự mãn nhàn rỗi, chẳng làm gì và chờ đợi Đức Chúa Trời làm mọi sự.
Bạn có thể chắc rằng Phao-lô đã cầu-nguyện, truy cứu Kinh Thánh, hội ý với các cộng-sự, và nhờ-cậy Đức Chúa Trời hành động. Đức Chúa Trời Đấng khiến kẻ chết sống lại thỏa đáp được bất cứ nan-đề nào của cuộc sống. Ngài có thể làm được mọi sự, nhưng chúng ta phải sẵn sàng cho Ngài.
Phao-lô không phủ nhận cảm xúc của ông, Đức Chúa Trời cũng không muốn chúng ta phủ nhận cảm xúc của mình.
“Chúng tôi khốn đốn đủ mọi cách, ngoài thì có sự chiến trận, trong thì có sự lo sợ” (IICôr 7:5).
Nhóm từ “án xử-tử” trong IICôr 1:9 có thể nói về một bản án công khai, một lệnh bắt giữ và xử-án Phao-lô.
Hãy nhớ rằng người Do-thái không tin đã săn lùng Phao-lô và muốn trừ khử ông (Công 20:19). Trong danh mục về những nguy hiểm Phao-lô trải qua, ta không nên bỏ sót phần “nguy với giữa dân mình”(IICôr 11:26).
• Ngài giải-cứu chúng ta khỏi thử thách (IICôr 1:10).
Phao-lô nhìn thấy bàn tay giải-cứu của Đức Chúa Trời dù khi ông chùn bước, cân nhắc hay suy tính. Từ Phao-lô sử dụng mang ý nghĩa “giúp thoát khỏi cơn khốn khổ, cứu và bảo vệ”.
Không phải lúc nào Đức Chúa Trời cũng giải-cứu chúng ta tức thời, Ngài cũng không giải-cứu mỗi con cái Ngài cùng một phương cách. Gia-cơ bị xử chém đầu, nhưng Phi-e-rơ được tha khỏi ngục (Công 12:1-25).
Cả 2 điều được giải-cứu, nhưng theo những phương cách khác nhau. Đôi lúc, Đức Chúa Trời giải-cứu chúng ta khỏi thử-thách, và lúc khác Ngài lại giải-cứu chúng ta qua chính thử-thách chúng ta chịu.
Sự giải-cứu của Đức Chúa Trời nhằm để đáp ứng đức-tin Phao-lô, cũng như đức-tin của nhiều tín-hữu đang khẩn-nguyện tại Cô-rinh-tô (IICôr 1:11)
“Kẻ khốn cùng này có kêu cầu, Đức Giê-hô-va bèn nhậm lời người, giải-cứu người khỏi các điều gian-truân” (Thi 34:6).
• Sau cùng, Ngài được vinh-hiển qua những thử-thách chúng ta nếm trải (IICôr 1:11).
Khi Phao-lô thuật lại những việc Đức Chúa Trời làm cho ông, một bài ca tôn vinh và cảm tạ từ các thánh-đồ đã đến nơi ngôi Đức Chúa Trời.
Sự hầu việc cao trọng nhất mà bạn và tôi có thể thực hiện, đó là quy vinh-hiển cho Đức Chúa Trời, và lắm lúc sự hầu-việc ấy cũng bao gồm sự chịu-khổ nữa. “Ân-tứ được ban” đề cập đến việc Phao-lô được giải-cứu khỏi sự chết.
Thật là một ân-tứ kỳ diệu!
Phao-lô chẳng bao giờ xấu hổ khi nhờ các tín-hữu cầu thay cho ông. Trong ít nhất 7 thư tín, ông nhắc đến nhu cầu to lớn của mình về việc cầu-thay (Rô 15:30-32; Êph 6:18-19; Phi 1:19; Côl 4:3; ITês 5:25; IITês 3:1; Phi 1:22). Phao-lô và các tín-hữu Cô-rinh-tô đang giúp đỡ nhau (IICôr 1:11,24).
Mới đây, một người bạn truyền-giáo của tôi kể rằng đứa con gái của anh được giải-cứu cách mầu-nhiệm khỏi một căn bệnh bị xem là một căn bệnh chết người. Ngay giờ phút đứa con gái ấy quá yếu sức, nhiều bằng hữu ở Hoa-kỳ đã tiếp tục cầu-nguyện cho gia đình này Đức Chúa Trời đã nhậm lời và chữa lành đứa con gái.
Sự giúp đỡ cao quý nhất chúng ta có thể dành cho tôi-tớ Đức Chúa Trời, ấy là “giúp nhau bằng sự cầu-nguyện”.
Từ “sunupourgèo” có nghĩa “giúp nhau” được sử dụng duy nhất ở đây trong Kinh Thánh Tân-ước tiếng Hy-lạp, và được tạo thành từ 3 từ: “với, dưới, làm việc”.
Đây là bức tranh của những người làm việc dưới gánh nặng, chung sức nhau để công việc được hoàn tất. Thật đáng khích-lệ khi biết rằng Đức Thánh Linh cũng hỗ trợ chúng ta trong sự cầu-nguyện và giúp chúng ta mang nổi gánh nặng (Rô 8:26).
Nếu chúng ta đầu-phục Đức Chúa Trời, tin-cậy và vâng theo mọi điều Ngài truyền bảo.
Ngài sẽ thực hiện mục đích của Ngài qua những thử thách của cuộc sống chúng ta. Những khó khăn có thể “khiến đức-tin chúng ta tăng-trưởng và làm mạnh mẽ đời sống cầu-nguyện của chúng ta.
Khó khăn có thể kéo chúng ta đến gần hơn với các tín-hữu khác khi họ chia sẻ gánh nặng với chúng ta. Những khó khăn nó thể được sử dụng để quy vinh hiển danh Đức Chúa Trời. Vì vậy, khi bạn thấy mình rơi vào những thử thách của cuộc sống, hãy nhớ đến Đức Chúa Trời là gì đối với bạn và những điều Ngài làm cho bạn.
4. Hãy nhớ những điều Đức Chúa Trời hành động qua bạn (IICôr 1:4-7)
Trong lúc hoạn-nạn, đa số chúng ta chỉ nghĩ đến bản thân và quên kẻ khác. Chúng ta trở nên những cái “bể chứa” thay vì là những “mạch nước”. Nhưng một lý-do thử thách xảy đến, ấy là để bạn và tôi có thể học biết cách trở nên những mạch nước phước hạnh, yên-ủi khích lệ những người khác. Chúng ta có thể yên-ủi họ, bởi Đức Chúa Trời đã yên-ủi chúng ta.
Một trong những nhà truyền-giáo tôi tâm đắc là Tiến-sĩ George W. Truett, người đã làm mục-sư Hội thánh First Baptist ở Dallas, Texas gần 50 năm. Trong một bài-giảng, ông kể về cặp vợ chồng vô-tín có đứa con nhỏ chết bất ngờ. Tiến-sĩ Truett chủ trì tang lễ và sau đó ông vui mừng thấy cả 2 vợ chồng tin nhận Chúa Giê-xu.
Nhiều tháng sau, có một người mẹ trẻ mất con. Lần nữa, Tấn-sĩ Truett được mời đến yên-ủi bà. Nhưng, trong lời chia sẻ của ông, dường như không câu nào có vẻ yên-ủi bà mẹ.
Thế nhưng tại lễ tang, bà mẹ đã được thay đổi đi bên cạnh người mẹ trẻ và nói: “Tôi đã trải qua hoàn cảnh này và tôi biết những điều bà đang trải qua. Đức Chúa Trời đã gọi tôi, vượt qua bóng tối và tôi đã đến với Ngài. Ngài đã yên-ủi tôi và Ngài sẽ yên-ủi bà!”
Tấn-sĩ Truett nói: “Có thể trong nhiều ngày, nhiều tháng người mẹ thứ nhất có thể giúp cho người mẹ thứ hai nhiều hơn những gì tôi có thể làm, vì người mẹ thứ nhất đã chính mình đi trên con đường đau khổ”.
Tuy nhiên, Phao-lô nói rõ rằng chúng ta không nhất thiết phải trải qua những thử thách như nhau mới có thể chia-sẻ được sự yên-ủi của Đức Chúa Trời. Nếu đã nếm biết sự yên-ủi của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể “yên-ủi kẻ khác trong sự khốn nạn nào họ gặp” (IICôr 1:4b).
Dĩ nhiên, nếu chúng ta trải qua những hoạn nạn tương tự, chúng có thể giúp ta gần gũi hơn với kẻ khác và hiểu rõ tâm trạng họ nhưng những từng trải của chúng ta không thể thay đổi sự yên-ủi của Đức Chúa Trời. Sự yên-ủi ấy vẫn luôn sẵn có và hữu hiệu cho dù những từng trải của chúng ta thế nào đi nữa.
Ở IICôr 12:1-21. Phao-lô sẽ cho chúng ta một điển hình về nguyên-tắc này. Ông được ban cho “một cái giằm xóc vào thịt”, một thứ hoạn nạn về thể xác luôn giáng trên ông.
Chúng ta không rõ “cái giằm xóc vào thịt” này là gì, cũng không cần thiết phải biết. Chúng ta thật biết rằng Phao-lô đã kinh nghiệm ân-điển Đức Chúa Trời và chia sẻ sự yên-ủi đó cho chúng ta.
Dù bạn gặp thử thách ra sao, lời phán “Ân-điển ta đủ cho ngươi rồi” (IICôr 12:9) là một lời hứa bạn có thể nắm giữ. Nếu Phao-lô không chịu khổ, có lẽ chúng ta đã không có lời hứa ấy.
Không dễ gì hiểu được vấn-đề đau khổ của con người, vì có những mầu-nhiệm trong hành động của Đức Chúa Trời chúng ta không bao giờ biết rõ cho đến khi vào thiên-đàng. Đôi lúc chúng ta chịu-khổ vì tội-lỗi và sự chống nghịch của mình, giống như Giô-na.
Cũng có khi chúng ta chịu-khổ để không phạm-tội như trường hợp của Phao-lô (IICôr 12:7). Hoạn-nạn có thể hoàn thiện tính cách chúng ta (Rô 5:1-5) và giúp ta dự phần vào bản tính Đức Chúa Trời (Êph 12:1-11).
Nhưng hoạn-nạn còn có thể giúp chúng ta chăm-sóc kẻ khác. Ở mỗi Hội thánh, có những tôi-tớ trưởng-thành của Đức Chúa Trời đã trải qua hoạn-nạn và kinh-nghiệm ơn thương-xót của Đức Chúa Trời, và họ là những “người yên-ủi” tuyệt vời trong hội chúng.
Phao-lô kinh-nghiệm hoạn-nạn, không như hình phạt về sự vi phạm nào đó của ông, nhưng như sự chuẩn bị cho công việc ông sắp thực hiện – chăm-sóc những kẻ khác trong sự khốn khố.
Hãy nghĩ đến những thử thách vua Đa-vít đã chịu để có thể nhận được niềm yên-ủi lớn lao qua những gì chúng ta tìm thấy trong sách Thi-thiên.
Câu Kinh Thánh IICôr 1:17 cho thấy rõ luôn có khả năng hoàn cảnh có thể đảo ngược: tín-hữu Cô-rinh-tô có thể vượt qua những thử thách và nhận ân-điển Đức Chúa Trời hầu có thể yên-ủi kẻ khác. Đôi lúc Đức Chúa Trời kêu gọi một gia đình Hội thánh trải qua những thử thách đặc biệt để Ngài có thể ban cho họ ơn dư dật đặc biệt.
Sự khích lệ đầy ân-điển của Đức Chúa Trời giúp đỡ chúng ta nếu chúng ta học hỏi chịu đựng. “Sự chịu đựng kiên trì là bằng chứng của đức-tin. Nếu chúng ta trở nên cay đắng và phê-phán Chúa, nếu chúng ta chống nghịch thay vì đầu phục, khi ấy những thử thách chúng ta chịu sẽ gây hại cho chúng ta thay vì làm ích lợi cho chúng ta, khả năng chịu hoạn nạn cách kiên trì mà không bỏ cuộc là dấu hiệu của sự trưởng-thành thuộc-linh” (Hêb 12:1-7).
Đức Chúa Trời phải hành động trong chúng ta trước khi Ngài có thể hành động qua chúng ta. Đối với chúng ta, thật dễ tăng-trưởng trong sự hiểu biết hơn là tăng-trưởng trong ân-điển (IPhi 4:18).
Học hỏi chân-lý của Đức Chúa Trời và đưa nó vào đầu chúng ta là một chuyện, nhưng sống theo chân-lý của Đức Chúa Trời và áp-dụng nó vào bản tính của chúng ta lại là một chuyện hoàn toàn khác.
Đức Chúa Trời đã đặt thanh niên Giô-sép trong 13 năm hoạn-nạn trước khi Ngài khiến ông trở nên quan tể-tướng của Ai-cập. Giô-sép đã trở thành con người vĩ đại biết bao! Đức Chúa Trời luôn chuẩn bị chúng ta cho điều Ngài dành sẵn cho chúng ta, và một phần của sự chuẩn bị đó là sự đau-khổ.
Trong ánh sáng này, IICôr 1:5 rất ý nghĩa: ngay cả Chúa Giê-xu của chúng ta cũng đã phải chịu-khổ! Khi chịu-khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời là lúc chúng ta đang dự phần vào sự chịu-khổ của Đấng Christ.
Điều này không liên hệ đến “sự chịu-khổ thay kẻ khác” của Chúa trên thập-tự, vì chỉ có Ngài mới có thể chịu chết như sự thay thế vô-tội cho chúng ta (IPhi 2:21-25).
Ở đây Phao-lô muốn đề cập đến “sự thông-công thương khó của Ngài” (Phi 3:10), giống như Đấng Christ, những thử-thách chúng ta chịu vì chúng ta muốn trung-tín làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời.
Đây là sự chịu-khổ “vì sự công-bình” (Mat 5:10-12).
Nhưng khi hoạn-nạn gia tăng thì sự ban ơn của Đức Chúa Trời cũng gia tăng. Chữ “chứa chan” gợi lên hình ảnh một con sông tuôn chảy.
“Nhưng Ngài lại ban cho ta ơn lớn hơn nữa” (Gi 4:6).
Đây là một nguyên-tắc quan trọng cần biết: Đức Chúa Trời có ân-điển dư dật cho mọi nhu cầu chúng ta, nhưng Ngài sẽ không ban ơn ấy trước.
Chúng ta đến ngôi ơn phước bởi đức-tin “hầu cho được thương-xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng” (Hêb 416). Từ Hy-lạp nghĩa là “giúp đỡ khi bạn cần, sự giúp đỡ đúng lúc ”.
Tôi có đọc câu chuyện về một tín-đồ sốt sắng bị bắt bớ vì niềm tin và bị xử thiêu-sống tại cột. Vào đêm trước ngày thi hành án, ông ta không biết mình có đủ ơn để trở thành “ngọn đuốc người” hay không. Vì vậy, ông thử-nghiệm lòng can đảm của mình bằng cách đặt ngón tay vào ngọn lửa đèn cầy.
Dĩ nhiên, anh bị lửa đốt nóng và phải rút tay lại vì đau đớn. Ông chắc rằng mình sẽ chẳng bao giờ có thể đối đầu với sự tử-đạo mà không nản lòng. Nhưng hôm sau, Đức Chúa Trời đã ban cho ông ơn cần thiết, nên ông đã bày tỏ một chứng-cớ vui mừng và đắc thắng trước kẻ thù.
Giờ đây chúng ta có thể hiểu rõ hơn ICôr 1:9 vì nếu chúng ta có thể dự phòng ơn của Đức Chúa Trời để dùng khi khẩn cấp, chúng ta sẽ có xu hướng cậy nơi bản thân chớ không cậy nơi “Đức Chúa Trời của mọi ơn” (IPhi 5:10).
Mọi nguồn tài nguyên Đức Chúa Trời ban cho chúng ta có thể được cất giữ để sử dụng cho tương lai, như tiền bạc, lương thực, tri-thức v.v.. nhưng ân-điển của Đức Chúa Trời không thể được tích trữ như vậy.
Khi chúng ta kinh-nghiệm ơn phước của Đức Chúa Trời trong đời sống thường nhật ơn ấy được đầu tư trong đời sống chúng ta như phẩm chất tin kính (Rô 5:1-5). Sự đầu-tư này đem lại ích lợi khi những hoạn-nạn mới xảy đến trên đường đi của chúng ta, vì phẩm chất tin kính Chúa giúp chúng ta có thể chịu được hoạn-nạn hầu làm vinh hiển danh Đức Chúa Trời.
Có một “tình đồng đội” đối với sự chịu-khổ, nó có thể kéo chúng ta đến gần Đấng Christ và những người thuộc về Ngài. Nhưng nếu chúng ta khởi sự đắm mình trong sự than thân trách phận – thì hoạn-nạn sẽ tạo ra sự cô lập thay vì quan hệ gắn bó. Chúng ta sẽ xây lên những bức tường chớ không phải những nhịp cầu.
Điều quan trọng là bạn hãy hướng sự chú ý nơi Đức Chúa Trời chớ không nơi bản thân. Hãy nhớ Đức Chúa Trời là gì đối với bạn – Ngài là “Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Giê-xu chúng ta, là Cha hay thương-xót, là Đức Chúa Trời ban mọi sự yên-ủi” (IICôr 1:3).
Hãy nhớ những điều Đức Chúa Trời làm cho bạn – rằng Ngài có quyền tể-trị trên những thử thách của bạn để khiến chúng xảy ra vì ích lợi của bạn và vì vinh hiển của Ngài.
Sau hết, hãy nhớ những điều Đức Chúa Trời hành động qua bạn và hãy để Ngài sử dụng bạn làm sự yên-ủi kẻ khác.
2. BẠN KHÔNG CẦN PHẢI THẤT VỌNG! (IICôr 1:12-2:17)
Trong cuốn sách nhan đề “Những Nét Nổi Bật Trong Sự Can Đảm” (Profiles in Courase), John F. Kennedy viết: “những khủng hoảng lớn sản sinh những con người vĩ đại và những công việc vĩ đại của lòng can đảm”.
Thật đúng khi cho rằng cơn khủng hoảng tạo nên một con người, nhưng cũng đúng khi nói rằng khủng hoảng phơi bày bản chất thật của một con người. Quan tòa Phi-lát đã đối diện với một cơn khủng hoảng lớn, nhưng cách giải quyết của ông không giúp ông trở nên can-đảm hay tuyệt vời.
Cách chúng ta giải quyết những khó khăn của cuộc sống tùy thuộc nhiều nơi tính cách chúng ta vì những gì cuộc sống đem đến cho chúng ta tùy vào những gì cuộc sống tìm thấy trong chúng ta.
Trong chính bức thư riêng này, Phao-lô đã mở lòng mình ra với tín-hữu Cô-rinh-tô (cùng với chúng ta) và bày tỏ những thử-thách hoạn-nạn ông đã trải qua.
-Trước tiên, ông bị người Cô-rinh-tô chỉ trích gay gắt vì đã thay đổi kế hoạch và rõ ràng đã thất hứa.
Lúc bấy giờ, xảy ra vấn đề chống đối về quyền sứ-đồ trong Hội thánh.
Một trong những thành viên Hội thánh – có lẽ là người lãnh-đạo – đã phải bị kỷ-luật, và điều này khiến Phao-lô hết sức đau buồn.
-Sau cùng, xảy ra những hoàn-cảnh khốn khó Phao-lô gặp phải ở xứ A-si (IICôr 1:8-11), một thử-thách quá khắc nghiệt đến nỗi Phao-lô mất lòng trông-cậy giữ được sự sống.
Điều gì giúp Phao-lô không nản lòng? Nếu đương đầu với hoàn-cảnh tương tự, người khác có lẽ đã gục ngã! Tuy vậy, Phao-lô không chỉ đắc thắng mọi hoàn-cảnh mà từ từng trải ấy ông đã viết ra một bức thư tuyệt vời thậm chí hôm nay vẫn đang giúp con cái Đức Chúa Trời kinh nghiệm được sự đắc thắng.
Những nguồn năng lực thuộc-linh nào đã giúp Phao-lô vững vàng như vậy?
1. Lương-tâm thánh-sạch (IICôr 1:12-24)
Theo tiếng Anh, từ “lương-tâm” (consciènce) có nguồn gốc từ 2 chữ La-tinh “com” (nghĩa là “với”) và “scire” (nghĩa là “biết”). Lương-tâm là phần nội tâm “nhận biết với” tư tưởng chúng ta để bênh vực khi chúng ta hành động đúng, nhưng tố cáo khi chúng ta làm sai.
-Lương-tâm không phải luật-pháp Đức Chúa Trời nhưng nó làm chứng cho luật-pháp.
-Lương-tâm là cửa sổ đón nhận sự sáng nếu cửa sổ ấy trở nên bụi bặm vì chúng ta không vâng-phục, vậy sự sáng sẽ ngày càng trở nên lu mờ (Mat 6:22-23; Rô 2:14-16).
Phao-lô sử dụng từ “lương-tâm” 23 lần trong các thư tín và trong chức-vụ rao-giảng của ông ở sách Công-vụ.
“Cũng vì cớ ấy, nên tôi gắng sức cho có lương-tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người” (Công 24:16).
Khi một người có tính chính-trực, không giả dối, người ấy có thể đáng tin-cậy.
Vì vậy các tín-hữu Cô-rinh-tô cáo Phao-lô về sự lừa dối và vô trách-nhiệm? Vì ông đã buộc phải thay đổi kế hoạch. Ông vốn đã hứa sẽ trú đông tại Cô-rinh-tô “nếu Chúa cho phép” (ICôr 16:2-8). Phao-lô muốn gom góp tiền dâng mà tín-hữu Cô-rinh-tô góp giúp các tín-đồ Do-thái nghèo khó và để Hội thánh có quyền sai ông cùng các cộng-sự của ông đến Giê-ru-sa-lem.
Đối diện nhiều với sự hối tiếc và bẽ bàng, Phao-lô đã phải thay đổi những kế hoạch này. Tôi rất thông-cảm với ông, vì trong chức-vụ hạn hẹp của tôi, lắm lúc tôi đã phải thay đổi kế hoạch và hủy bỏ những buổi nhóm họp mà không được lợi ích gì của quyền sứ-đồ!
Will Roger nói: “Kế hoạch kéo bạn vào những sự việc, nhưng bạn phải hành động theo cách của mình”.
Giờ đây, Phao-lô định thực hiện 2 cuộc thăm viếng đến thành Cô-rinh-tô, một lần trên đường đến xứ Ma-xê-đoan và một lần trên đường rời xứ Ma-xê-đoan. Khi ấy Phao-lô sẽ kết hợp tiền dâng của tín-hữu Cô-rinh-tô với tiền dâng của tín-hữu các Hội thánh xứ Ma-xê-đoan và tiếp tục đến Giê-ru-sa-lem.
Tiếc thay, cả kế hoạch B cũng bị hủy bỏ.
Vì sao? Vì lòng yêu thương của Phao-lô không thể chịu nổi một “cuộc viếng thăm buồn rầu” nữa (IICôr 1:23; IICôr 2:1-3). Phao-lô thông báo cho Hội thánh Cô-rinh-tô sự thay đổi kế hoạch của ông, nhưng điều này cũng không làm lắng dịu sự chống đối.
Họ cáo ông làm theo “sự khôn ngoan xác thịt” (IICôr 1:12), xao lãng ý chỉ của Đức Chúa Trời (IICôr 1:17) và lập những kế hoạch chỉ để thỏa mãn chính mình. Họ muốn nói rằng: “Nếu Phao-lô nói hay viết điều gì, ông ta thật sự muốn nói một điều khác! Ông ấy nói “vâng”, nghĩa là “không”và “không” nghĩa là “vâng”.
Những hiểu lầm giữa con cái Đức Chúa Trời thường rất khó gỡ rối. Vì hiểu lầm này sẽ dẫn đến hiểu lầm khác. Một khi chúng ta bắt đầu nghi ngờ sự trung-thực của người khác hay không tin lời nói của họ, cửa sổ sẽ được mở cho mọi thứ nan-đề.
Nhưng cho dù những kẻ tố cáo Phao-lô nói gì đi nữa, ông vẫn vững vàng bởi có một lương-tâm thánh-sạch. Điều ông viết, lời ông nói và cách ông sống đều nhất quán với nhau. Xét cho cùng, ông đã bổ sung cho kế hoạch ban đầu rằng “nếu Chúa cho phép” (ICôr 16:7 chú ý Gia 4:13-17).
Khi có một lương-tâm thánh-sạch, bạn sẽ sống trong sự nhận biết về ngày Chúa Giê-xu Christ tái-lâm (IICôr 1:14) “Ngày Đức Chúa Giê-xu” chỉ về thời-điểm Đấng Christ hiện ra và cất Hội thánh Ngài lên trời. Phao-lô biết chắc rằng ông sẽ làm vẻ vang cho các tín-hữu Cô-rinh-tô cũng như họ sẽ làm vẻ vang cho ông trước Ngôi Phán-Xét của Đấng Christ.
Dù hôm nay xảy ra những hiểu lầm nào chăng nữa, nhưng tất cả sẽ được tha thứ, được quên đi và được biến đổi thành sự vinh-hiển khi chúng ta đứng trước mặt Chúa Giê-xu Christ để dâng lời chúc tụng Ngài.
Khi có một lương-tâm thánh-sạch, bạn sẽ rất chú trọng ý muốn Đức Chúa Trời (c.15-18). Phao-lô không lập kế hoạch một cách cẩu thả hay bừa bãi, nhưng ông tìm kiếm sự dẫn dắt của Chúa. Đôi lúc, ông không biết rõ Đức Chúa Trời muốn ông làm gì (Công 16:6-10), nhưng ông biết cách chờ đợi Chúa.
Động cơ của Phao-lô rất chân thật: ông muốn tìm cách làm đẹp lòng Chúa chớ không phải đẹp lòng con người. Khi chúng ta yên lặng suy xét hoàn-cảnh khó khăn của phương tiện vận chuyển và thông-tin thời bấy giờ, hẳn có thể thán phục rằng Phao-lô đã không gặp nhiều trở ngại khi thực hiện nhiều kế hoạch với giờ giấc bận rộn của mình.
Chúa Giê-xu dạy chúng ta truyền-đạt điều mình muốn nói: “Con chỉ cần nói đơn giản “vâng” hoặc “không” là đủ. Củng cố lời hứa bằng một lời thề chứng tỏ đã có gì giả dối” (Mat 5:37).
Chỉ có kẻ xấu tính mới lắm lời để củng cố cho câu trả lời có hay không của mình.
Người Cô-rinh-tô biết Phao-lô là người có phẩm cách chính trực vì ông là người có một lương-tâm thánh sạch. Suốt 18 tháng thi hành chức-vụ giữa vòng họ, Phao-lô đã tỏ mình trung-tín và không thay đổi.
Khi có một lương-tâm thánh sạch, bạn sẽ ngợi-khen Chúa Giê-xu Christ (IICôr 1:19-20). Bạn không thể ngợi-khen Đấng Christ lại đồng thời làm điều giả dối.
Nếu làm vậy, bạn sẽ xúc phạm đến lương-tâm và hủy hoại phẩm cách của chính mình để cuối cùng sự thật rồi cũng lộ ra.
Tín-hữu Cô-rinh-tô được cứu do Phao-l ô và các bạn ông đã rao-giảng về Chúa Giê-xu Christ cho họ. Làm sao Đức Chúa Trời có thể bày tỏ cách sống thật của mình.
Đối với Chúa Giê-xu, không có trường hợp “phải” hoặc “không”. Ngài là sự trả lời “vâng vĩnh cửu” của Đức Chúa Trời đối với những ai tin-cậy Ngài.
“Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói “A-men” làm sáng danh Đức Chúa Trời” (IICôr 1:20).
Chúa Giê-xu Christ bày tỏ những lời hứa, làm trọn lời hứa và giúp chúng ta nắm giữ lời hứa! Một trong những phước hạnh dành cho một lương-tâm tốt, đó là phước hạnh mà chúng ta không sợ đối diện với Đức Chúa Trời hoặc con người hay khi nắm giữ lời hứa Đức Chúa Trời ban qua Lời Ngài.
Phao-lô không hề phạm-tội “giả mạo” Lời Đức Chúa Trời để biện hộ cho những hành vi tội-lỗi của mình (IICôr 4:2).
Sau cùng, nếu có một lương-tâm thánh sạch, bạn sẽ ở trong mối tương-giao tốt đẹp với Thánh Linh Đức Chúa Trời (IICôr 1:21-24).
Từ “được thiết lập” là một thuật ngữ thương mại có liên quan đến việc cam kết làm trọn một hợp đồng. Đó là sự bảo-đảm của người bán đối với người mua, rằng sản phẩm sẽ y như quảng cáo hoặc dịch vụ sẽ được thực hiện như đã hứa.
Thánh Linh là sự bảo-đảm của Đức Chúa Trời rằng Ngài đáng tin-cậy và Ngài sẽ thực hiện mọi điều đã hứa. Phao-lô cẩn thận để không làm buồn lòng Đức Thánh Linh, và vì Đức Thánh Linh không lên án ông nên ông biết những động cơ của mình rất trong sáng cũng như lương-tâm rất thánh-sạch.
(IICôr 1:21). Trong Cựu-ước, các tiên-tri, thầy tế-lễ và vua mới là những người được Đức Chúa Trời xức dầu. Họ được xức dầu để chuẩn bị cho chức-vụ.
Thánh Linh có thể giúp chúng ta hầu-việc Đức Chúa Trời và sống đời sống tin kính khi chúng ta đầu phục Ngài.
Thánh Linh ban cho chúng ta khả năng suy xét đặc biệt về thuộc-linh mà chúng ta cần để hầu-việc Đức Chúa Trời cách đẹp lòng Ngài (IGi 2:20-27).
Đức Thánh Linh cũng ấn-chứng cho chúng ta (IICôr 1:22 Eph 1:13) để chúng ta thuộc về Đấng Christ và được Ngài nhìn nhận. Lời-chứng của Đức Thánh Linh ở trong lòng bảo-đảm rằng chúng ta là con cái thật của Đức Chúa Trời chớ không phải con cái giả hiệu (Rô 5:5 Rô 8:9). Đức Thánh Linh còn bảo-đảm rằng Ngài sẽ bảo vệ chúng ta, vì chúng ta là tài sản của Ngài.
Sau hết, Đức Thánh Linh giúp chúng ta có thể phục-vụ kẻ khác (IICôr 1:23-24), không như kẻ “chuyên quyền thuộc-linh” bảo người khác những điều phải làm, nhưng như tôi tớ tìm cách giúp người khác tăng-trưởng. Những giáo-sư giả xâm phạm Hội thánh Cô-rinh-tô vướng phải tội những kẻ chuyên quyền (IICôr 11:1-34).
Hôm nay, Thánh Linh có thể khiến chúng ta vui mừng hưởng những phước hạnh của thiên-đàng ở trong lòng! Nhờ có Đức Thánh Linh là Đấng ngự vào lòng, Phao-lô đã có thể giữ lương-tâm thánh sạch và đối diện với mọi hiểu lầm bằng tình yêu thương với lòng nhịn nhục.
Nếu bạn sống để làm vui lòng con người, vậy những hiểu lầm sẽ khiến bạn buồn chán nhưng nếu sống để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, bạn có thể đối diện với mọi sự hiểu lầm bằng đức-tin và sự can đảm.
2. Tấm lòng yêu thương (IICôr 2:1-11)
Tôi thường trích dẫn một vần thơ vô danh mô tả cách trọn vẹn một trong những vấn đề mà con cái Đức Chúa Trời như chúng ta thường hay gặp phải:
“Sống trên trời với những thánh-đồ ta yêu quý,
Hẳn sẽ là niềm hãnh diện!
Sống dưới trần với thánh-đồ ta quen biết.
Ồ đó lại là chuyện khác!”
Một thuộc viên Hội thánh Cô-rinh-tô đã khiến Phao-lô hết sức đau buồn. Chúng ta không biết chắc đây có phải là cùng một người Phao-lô đã đề cập ở ICôr 5:1-13 hay không, là kẻ đang sống trong sự thông-dâm lộ liễu hay đây là một người khác là người phản đối quyền sứ-đồ của Phao-lô.
Phao-lô đã thực hiện cuộc viếng thăm nhanh chóng đến thành Cô-rinh-tô để giải quyết vấn-đề này (ICôr 12:14; ICôr 13:1) và cũng viết cho họ một “bức thư buồn rầu” nói về thực trạng ấy. Trong mọi điều này ông bày tỏ lòng thương-xót. Bạn hãy chú ý những chứng cớ về tình yêu thương của Phao-lô.
- Trước tiên, Phao-lô đặt kẻ khác lên hàng đầu (IICôr 2:1-4).
Ông không nghĩ đến những cảm xúc của bản thân, nhưng nghĩ đến những cảm xúc của người khác trước hết. Trong chức-vụ Cơ-đốc, những ai đem đến cho chúng ta niềm vui lớn, cũng có thể gây cho chúng ta buồn bã nhiều, và đây chính là điều Phao-lô kinh nghiệm.
Ông gởi cho tín-hữu Cô-rinh-tô một bức thư nghiêm túc, được viết ra từ tấm lòng quặn thắt và chứa chan tình yêu Cơ-đốc. Ước mong lớn của Phao-lô là Hội thánh vâng-lời Chúa, kỷ-luật người phạm-tội và đem lại sự thanh-sạch cùng sự bình-an trong hội chúng.
“Bạn hữu làm cho thương tích, ấy bởi lòng thành-tín, còn sự hôn hít của kẻ ghen ghét lấy làm giả ngụy” (Ch 27:6).
Phao-lô biết rằng lời lẽ của ông sẽ làm tổn thương những người ông yêu mến, và điều này khiến ông đau lòng. Nhưng (như mọi cha mẹ có lòng yêu thương) ông cũng biết rằng: làm đau lòng người khác và làm hại cho người khác là hai điều khác nhau hoàn toàn.
Lắm lúc, những người yêu mến chúng ta phải làm đau lòng chúng ta để giúp ta không làm hại bản thân mình.
Lẽ ra Phao-lô đã có thể thực hiện quyền sứ-đồ và yêu cầu các tín-hữu tôn trọng và vâng-lời ông, nhưng ông muốn thi hành chức-vụ bằng tình yêu thương và lòng nhịn nhục.
Đức Chúa Trời biết rằng sự thay đổi kế hoạch của Phao-lô xuất phát từ động cơ làm giảm bớt sự buồn rầu cho Hội thánh Cô-rinh-tô (IICôr 1:23,24).
Tình yêu thương luôn suy xét xúc cảm của kẻ khác và tìm cách đặt lợi ích họ lên hàng đầu mọi sự.
-Nhưng tình yêu cũng tìm cách giúp người khác tăng-trưởng (IICôr 2:5,6).
Đáng chú ý lời Phao-lô không nêu tên của người chống đối ông và chia rẽ tập thể Hội thánh. Tuy nhiên, Phao-lô bảo Hội thánh phải kỷ-luật người này vì ích lợi của người đó.
Nếu người bị ám chỉ là người phạm-tội thông-dâm đã đề cập ở ICôr 5:1-11, vậy những câu Kinh Thánh này cho thấy Hội thánh đã tổ chức một buổi họp và kỷ-luật người ấy người ấy đã ăn-năn tội và được phục-hồi địa-vị.
Sự sửa phạt thật là bằng cớ của tình yêu (Hêb 12:1-29). Một số bậc phụ huynh trẻ, có “quan niệm mới“ về cách nuôi dạy con cái đã không sửa-phạt sự bất tuân của con mình vì tuyên bố rằng họ rất yêu con cái. Nhưng nếu họ thật sự yêu con cái mình, họ đã sửa phạt chúng rồi.
Kỷ-luật Hội thánh không phải là một vấn-đề phổ biến hay một thông lệ. Có quá nhiều Hội thánh “giấu biệt” những việc như thế thay vì vâng-theo Lời Chúa và dạn dĩ đối diện với thực trạng bằng cách “lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật” (Êph 4:15).
“Bình-an bằng bất cứ giá nào” không phải là một nguyên tắc Kinh Thánh, vì không thể có sự bình-an thuộc linh thật nếu không có sự thánh-sạch (Gia 2:13-18). Những nan đề “bị giấu biệt” bằng cách nào đó sẽ gia tăng và còn tạo thêm cả những vấn đề tệ hại hơn sau đó.
Người mà Phao-lô đương đầu và là người mà Hội thánh kỷ-luật, đã được nâng đỡ bằng sự quan tâm đầy lòng yêu thương này. Lúc còn bé, tôi luôn không tán thành hình thức kỷ-luật cha mẹ dành cho mình, dù phải công nhận rằng tôi đáng phải nhận lãnh hơn thế.
Nhưng giờ đây khi nhớ lại, tôi có thể cảm tạ Đức Chúa Trời rằng cha mẹ yêu thương tôi đủ để đánh tôi đau và ngăn cản tôi gây hại cho chính mình. Bây giờ tôi đã hiểu những điều cha mẹ thật sự muốn bày tỏ khi nói: “Điều này làm cha mẹ đau nhiều hơn con”.
-Sau hết, tình yêu tha-thứ và yên-ủi (IICôr 2:7-11).
Phao-lô kêu gọi t ập thể Hội thánh tha-thứ người phạm-lỗi, và ông trình bày những lý-do chính đáng củng cố cho lời khuyên này.
Trước tiên, họ phải tha thứ cho người phạm-lỗi vì lợi ích của người ấy, “hầu cho người khỏi bị sa ngã vì sự buồn rầu quá lớn” (IICôr 2:7-8).
Sự tha-thứ là phương thuốc giúp chữa lành những tấm lòng tan vỡ. Điều quan trọng là Hội thánh phải làm cho người ăn-năn tin chắc về sự yêu thương của Hội thánh.
Trong chức-vụ mục-sư của tôi, tôi từng dự những buổi nhóm tại đó những thuộc viên bị kỷ-luật đã được tha-thứ và phục-hồi mối thông công.
Đó là những giờ phút cao quý, thánh-khiết trong đời tôi. Khi một tập thể Hội thánh giúp một anh em được tha-thứ tin chắc tội-lỗi mình được quên lãng và mối thông-công đã được phục-hồi, có một cảm biết về sự hiện diện của Chúa thật là một kinh-nghiệm tuyệt diệu.
Mỗi phụ huynh khi sửa phạt con cái phải áp dụng kỷ-luật này với sự bảo-đảm về tình yêu cùng sự tha-thứ, nếu không, kỷ-luật sẽ gây tai hại hơn ích lợi.
Họ phải xác định tình yêu thương của mình đối với người anh em đã được tha-thứ vì cớ Chúa (IICôr 2:9-10). Xét cho cùng, kỷ-luật là một vấn đề về sự vâng-phục chúa cũng là một sự bắt buộc dành cho một anh em.
V ấn đề không đơn giản là giữa một anh em phạm-tội và một sứ-đồ buồn rầu nó cũng là vấn đề giữa một anh em phạm-tội với một Đấng Christ đau buồn. Người phạm-tội nghịch với Phao-lô và Hội thánh, người ấy hầu như đã nghịch với Chúa.
Khi những lãnh đạo Hội thánh nhút nhát, cố “che đậy” những thực trạng thay vì thành thật đối diện với chúng, vậy họ đang làm buồn lòng Đấng Christ.
Phao-lô nêu lý-do thứ ba: Hội thánh phải tha-thứ cho người phạm-lỗi vì ích lợi của Hội thánh (IICôr 2:11). Nếu trong hội chúng có tinh thần không tha-thứ vì tội-lỗi đã không được giải quyết bằng thái độ Kinh Thánh, tinh thần này cho Sa-tan một “chỗ đổ bộ” để từ đó nó có thể hành động trong hội chúng.
Chúng ta làm buồn lòng Thánh Linh Đ ức Chúa Trời và “nhường chỗ cho ma quỷ” khi giữ tinh thần cố chấp (Êph 4:27-32).
Một trong những “mưu chước” của Sa-tan là kiện cáo những Cơ-đốc nhân đã phạm-tội để khiến họ có cảm giác thực trạng mình vô phương cứu chữa. Có một số người viết thư hoặc gọi điện cho tôi để yêu cầu được giúp đỡ vì họ bị sự thúc ép và kiện cáo của ma quỷ.
Đức Thánh Linh cáo trách tội-lỗi chúng ta để chúng ta xưng ra và trở lại với Đấng Christ hầu được sạch-tội, nhưng Sa-tan kiện cáo chúng ta về tội-lỗi để chúng ta nản lòng và bỏ cuộc.
Khi một anh em phạm-lỗi bị kỷ-luật theo Kinh Thánh và ăn-năn, vậy tập thể Hội thánh phải tha-thứ và phục-hồi tư cách thuộc viên ấy, vấn-đề phải được quên đi và không bao giờ bị khơi lại.
Nếu tập thể Hội thánh hay một cá nhân nào trong đó mang tinh thần không tha-thứ, Sa-tan sẽ lợi dụng thái-độ ấy làm bàn đạp cho những cuộc đột kích mới chống lại Hội thánh.
Phao-lô đã có thể vượt qua những vấn-đề gặp phải, vì ông có một lương-tâm thánh-sạch và một tấm lòng thương-xót. Nhưng, còn một nguồn linh lực thứ 3 khiến ông đắc thắng.
3. Một đức-tin đắc thắng (IICôr 2:12-17)
Dường như kế hoạch của Phao-lô ở A-si đã hoàn toàn thất bại. Tít ở đâu? Chuyện gì đang xảy ra ở thành Cô-rinh-tô. Phao-lô đang có những cửa mở ra cho “chức-vụ tại Trô-ách, nhưng ông không có sự bình-an trong lòng để bước qua những cửa đó.
Nói theo cách loài người, đây giống như kết thúc của cuộc chiến trong đó Sa-tan là kẻ chiến thắng.
Một điều ngoại lệ! Phao-lô có một đức-tin đắc thắng! Ông đã có thể bật lên lời chúc tụng và viết: “Tạ ơn Đức Chúa Trời!” (IICôr 2:14). Bài ca chúc tụng này ra đời từ những điều Phao-lô biết chắc, bởi ông tin-cậy Chúa.
Phao-lô biết chắc Đức Chúa Trời đang dẫn dắt ông (IICôr 2:14a). Mọi hoàn-cảnh đã không dễ chịu, và Phao-lô đã không thể lý giải những thay đổi cùng những điều gây nản lòng. Nhưng ông biết chắc Đức Chúa Trời đã tể-trị mọi sự.
Cơ-đốc nhân luôn có thể biết chắc rằng bao lâu chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời và tìm cách vâng-phục ý chỉ Ngài, Ngài sẽ hiệp mọi sự làm ích lợi cho chúng ta (Rô 8:28). Lời hứa này không phải là cớ để biện hộ cho sự bất cẩn nhưng đó là lời yên-ủi cho niềm tin-quyết.
Một người bạn của tôi muốn gặp một lãnh đạo là Cơ-đốc ở phía sau “màn sắt” và chuẩn bị xuất bản một cuốn sách, nhưng mọi sự sắp đặt đều thất bại. Bạn tôi đơn điệu trong một nơi xa lạ, nghĩ ngợi không biết phải làm gì kế tiếp đây, khi anh “tình cờ” tiếp xúc v ới một người lạ, chính là người đã đưa anh đến đúng những lãnh đạo anh muốn tìm! Đó là sự định liệu của Đức Chúa Trời hành động, sự ứng-nghiệm của (Rô 8:28).
Phao-lô cũng biết chắc Đức Chúa Trời đang dẫn dắt ông trong sự đắc thắng (IICôr 2:14b). Bức tranh ở đây là bức tranh về “lễ mừng chiến thắng của dân Rô-ma” (Roman Triumph), một sự ngưỡng mộ đặc biệt mà Rô-ma dành cho những tướng thắng trận của họ.
Lễ này tương tự như cuộc diễu hành có trong các băng giấy của dân Hoa-kỳ (Ticker tape parade).
Nếu một tướng tổng chỉ huy thắng trận hoàn toàn trên đất lạ, và nếu giết được tối thiểu 5.000 địch quân cũng như dành được lãnh thổ mới về cho hoàng đế, vị tướng ấy sẽ được quyền làm bất cứ điều gì tại lễ mừng chiến thắng. Đoàn diễu hành bao gồm viên chỉ huy ngồi trên cỗ xe bằng vàng, vây quanh bởi các tướng lãnh.
Đám rước bao gồm sự phô trương những chiến lợi phẩm cũng như tù binh địch bị bắt giữ. Các thầy tế-lễ Rô-ma cũng có mặt trong đám rước, mang theo hương liệu đang cháy để bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với đội quân chiến thắng.
Đoàn diễu hành sẽ đi theo một con đường đặc biệt xuyên qua thành phố và dừng tại đấu trường Maximus nơi những tù binh vô vọng sẽ làm trò tiêu khiển cho mọi người bằng cách đấu với dã thú. Đó là một ngày rất đặc biệt tại Rô-ma khi mọi công dân được thết đãi bằng một “lễ mừng chiến thắng” thật đầy đủ.
Chi tiết lịch-sử này ứng-dụng ra sao đối với Cơ-đốc nhân nặng lòng hôm nay?
Tướng tổng chỉ huy của chúng ta là Chúa Giê-xu Christ đã đến đất lạ (thế gian) và đánh bại hoàn toàn kẻ thù (Sa-tan). Thay vì diệt 5.000 người, Ngài đã ban sự sống cho hơn 5.000 người – thêm 3.000 người tại lễ Ngũ tuần và 2.000 người nữa không lâu sau lễ Ngũ tuần (Công 2:41; Công 4:4).
Chúa Giê-xu Christ đã giành được chiến lợi phẩm là những linh-hồn hư-mất từng ở trong vòng xiềng xích của tội lỗi và Sa-tan (Lu 11:14-22; Côl 2:15; Êph 4:8). Thật là một chiến thắng lừng lẫy!
Những người con của viên tướng thắng trận này sẽ bước đi sau cỗ xe của cha mình, dự phần trong chiến thắng của cha và đó là vị trí của những Cơ-đốc nhân hôm nay –bước đi trong chiến thắng của Đấng Christ.
Chúng ta không chiến đấu để được chiến thắng chúng ta chiến đấu từ chiến thắng.
Thực trạng không có vẻ gì là chiến thắng đối với Phao-lô tại A-si hay tại thành Cô-rinh-tô, nhưng ông tin Đức Chúa Trời – và Đức Chúa Trời đã đổi bại thành thắng.
Sau hết, Phao-lô biết chắc Đức Chúa Trời đang sử dụng ông khi Ngài dẫn dắt ông (IICôr 2:14-17).
Khi các thầy tế-lễ Rô-ma xông hương trong đoàn diễu hành, mùi hương ấy tác động đến mọi người theo những cách khác nhau.
Đối với binh lính thắng trận, mùi hương mang ý nghĩa sự sống và chiến thắng nhưng đối với địch quân bị đánh bại, mùi hương mang ý nghĩa chiến bại và chết chóc. Họ đi để bị dã thú giết chết.
Khi sử dụng hình ảnh về hương liệu Phao-lô đã phác hoạ nhiệm-vụ của Cơ-đốc nhân.
Phao-lô nhìn Cơ-đốc nhân như một hương liệu, tỏa hương thơm về Chúa Giê-xu Christ trong đời sống và việc làm của mình.
Đối với Đức Chúa Trời, Cơ-đốc nhân là hương thơm của cuộc sống, nhưng đối với kẻ vô-tín, chúng ta như mùi hương c ủa sự chết. Nói cách khác, đời sống và chức-vụ của Cơ-đốc nhân là vấn đề về sự sống và sự chết.
Cách chúng ta sống và làm việc có thể mang ý nghĩa sự sống hoặc sự chết đối với một thế giới hư-mất quanh ta.
Chẳng lạ gì khi Phao-lô kêu lên “Ai xứng đáng cho những sự này?” (IICôr 2:16) và cho lời giải đáp ở chương kế tiếp “tài năng của chúng tôi đến từ Đức Chúa Trời” (IICôr 3:5). Ông nhắc tín-hữu Cô-rinh-tô nhớ rằng lòng ông thánh-sạch và những động cơ của ông rất chân thật.
Xét cho cùng, khi Phao-lô bước đi trong sự huấn luyện tài tình của Đấng Christ đắc thắng, không cần phải tỏ ra khôn-ngoan hay “thông thái rởm” về Lời Đức Chúa Trời! Các tín-hữu Cô-rinh-tô có thể hiểu lầm ông, nhưng Đức Chúa Trời biết lòng ông.
Chúng ta không cần phải thất vọng! Mọi hoàn-cảnh có thể làm ta chán nản và con người có thể nghịch với chúng ta cũng như hiểu lầm chúng ta nhưng chúng ta đã có những nguồn linh lực nơi Đấng Christ để thắng trận: một lương-tâm thánh-sạch, một tấm lòng thương xót và một đức tin đắc thắng.
“Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?... Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần” (Rô 8:31,37).
3. TỪ VINH HIỂN QUA VINH HIỂN (IICôr 3:1-18)
Mỗi khi bạn thấy những điều chân thật, bạn sẽ thấy có người đề cao những thứ giả mạo. Cả những nhà phê bình nghệ thuật cũng bị đánh lừa bởi những “kiệt tác” giả mạo, và các nhà xuất bản lương thiện đã mua những “bản thảo giá trị” chỉ để khám phá chúng là đồ giả.
Henry Ward Beecher thật có lý khi nói: “Một sự giả dối luôn cần có một sự thật để nó lợi dụng”.
Ngay khi Phúc-Âm về ân-điển Đức Chúa Trời bắt đầu lan rộng giữa vòng dân ngoại thì một “Phúc-Âm” giả hiệu xuất hiện – một sự pha trộn luật-pháp với ân-điển.
Sự pha trộn này được tạo ra do một nhóm người nhiệt huyết mà chúng ta phải gọi là “những người theo đạo Do-thái”. Phao-lô viết thư cho người Ga-la-ti để bác bỏ những học thuyết của họ, và bạn sẽ thấy ông đề cập đến các học thuyết đó nhiều lần trong thư tín IICô-rinh-tô.
Trọng tâm của những học thuyết đó nhằm vào sự cứu-rỗi bởi đức-tin trong Đấng Christ kèm theo việc tuân giữ luật-pháp (xem Công 15:1).
Họ cũng dạy rằng người tin Chúa được trọn vẹn trong đức tin mình bằng cách sống theo luật Môi-se.
“Phúc-Âm về sự tuân theo luật-pháp” của họ rất phổ biến, bởi bản chất con người vốn thích đạt đến những mục tiêu tôn giáo thay vì chỉ tin nhận Đấng Christ và hành động theo Thánh Linh. Đánh giá “tôn giáo” thật dễ hơn nhiều khi đánh giá sự công-bình thật.
Phao-lô xem những giáo sư giả như những kẻ “giả mạo” lời Đức Chúa Trời (IICôr 2:17), những “kẻ tống tiền đội lốt tôn-giáo” lừa gạt người nhẹ dạ, Phao-lô bác bỏ những cách dạy Kinh Thánh quanh co của họ (IICôr 4:2) và xem thường xu hướng họ khoe khoang về những người họ dắt về Chúa (IICôr 10:12-18).
Một lý-do tín-hữu Cô-rinh-tô chậm trễ trong việc đóng góp cho sự quyên tiền đặc biệt, là vì những người đạo Do-thái đã “cướp bóc” của Hội thánh (IICôr 11:7-12,20; IICôr 12:14).
Phao-lô phản bác những học thuyết và việc làm của các giáo-sư giả ra sao? Bằng cách bày tỏ vinh hiển trội hơn trong chức-vụ của Phúc-Âm về ân-điển Đức Chúa Trời.
Trong IICôr 3:1-18, Phao-lô so sánh chức-vụ của giao-ước cũ (luật-pháp) với chức-vụ của giao-ước mới (ân-điển), và chứng minh tính cao trọng của chức-vụ thuộc giao-ước mới.
Hãy chú ý những điểm tương phản ông trình bày.
1. Bảng đá - Lòng người (IICôr 3:1-3)
Những người Do-thái giáo khoe khoang rằng họ đã mang những “thơ gởi gắm” (IICôr 3:1) của “những người quan trọng” trong Hội thánh Giê-ru-sa-lem, và cho Phao-lô là người không có những ủy nhiệm thư như vậy.
Thật buồn khi một người đo giá trị của bản thân bằng những điều người khác nói về mình thay vì bằng những điều Đức Chúa Trời biết về mình Phao-lô không cần ủy nhiệm thư nào của các lãnh đạo Hội thánh: đời sống và chức-vụ của ông là những sự gởi gắm duy nhất ông cần.
Khi Đức Chúa Trời ban luật-pháp, Ngài viết trên những bảng đá và những bảng này được đặt trong hòm giao-ước. Cho dù dân Y-sơ-ra-ên có thể đọc được 2 bảng đá này, thì từng trải đó cũng không thể thay đổi được đời sống họ.
Luật-pháp là hình thức bên ngoài và con người cần một năng lực bên trong nếu muốn đời sống mình được thay đổi. Người theo chủ nghĩa luật-pháp có thể khuyên chúng ta “hãy làm điều này” hay “đừng làm điều đó! ” nhưng người ấy không thể cho chúng ta năng lực vâng-theo.
Nếu chúng ta vâng-theo, thường thì sự vâng-theo đó không xuất phát từ tấm lòng, và chúng ta sẽ đi đến tình trạng tệ hại hơn trước!
• Chức-vụ của ân-điển thay đổi lòng người.
Thánh Linh Đức Chúa Trời dùng lời Ngài để viết nơi lòng người. Lúc Phao-lô đến với tín-hữu Cô-rinh-tô, họ chỉ là những tội-nhân gian ác, nhưng chức-vụ của Phúc-Âm về ân-điển Đức Chúa Trời do Phao-lô thi hành đã thay dổi hoàn toàn đời sống họ (ICôr 6:9-11).
Kinh-nghiệm về ân-điển Đức Chúa Trời có ý nghĩa đối với họ nhiều hơn những thư gởi gắm do các giáo-sư giả đem đến. Tín-hữu Cô-rinh-tô đã được viết cách yêu thương trên lòng Phao-lô, và Thánh Linh Đức Chúa Trời đã viết chân-lý nơi lòng họ, khiến họ trở nên những “thư tín sống động của Đấng Christ”.
Sự trắc-nghiệm về chức-vụ là những đời sống được thay đổi, chớ không phải là những thông-cáo báo chí hay các con số thống kê. Người theo chủ nghĩa luật-pháp rất dễ khoe mình, vì người ấy có thể “đánh giá chức-vụ mình bằng những tiêu-chuẩn bên ngoài.
Người tin Chúa nhẫn nại thi hành chức-vụ bởi Thánh Linh Đức Chúa Trời phải dành kết quả cho Chúa. Thật thê thảm khi tín-hữu Cô-rinh-tô nghe theo những người Do-thái giáo khoe khoang và làm tan vỡ lòng người đã từng cứu họ khỏi sự đoán-phạt.
2. Sự chết - Sự sống (IICôr 3:4-6)
Phao-lô nhanh chóng quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời chớ không cho bản thân, sự tin chắc của ông (“tin cậy” ở nơi Đức Chúa Trời và tài năng của ông đến từ Đức Chúa Trời.
Phao-lô là người thông-minh và học-thức, nhưng ông không cậy vào khả năng của riêng mình. Ông nhờ cậy nơi Chúa.
Dĩ nhiên những người theo chủ nghĩa luật-pháp nói với mọi người rằng bất cứ ai cũng có thể vâng-theo luật-pháp và trở nên thuộc-linh. Một chức-vụ thuộc luật-pháp có cách thổi phồng cái tôi của con người.
Khi bạn chú trọng đến ân-điển Đức Chúa Trời, bạn phải cho mọi người biết họ là tội-nhân hư-mất không có khả năng tự cứu mình.
Phao-lô làm chứng rằng: “...bèn là ơn Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi”