top of page
1. HÃY NGHE PHÚC-ÂM (Lu 1:1-80)
Tác giả: Người từng viết cuốn sách chứa nhiều tin tốt lành cho mọi người, ấy là bác sĩ Lu-ca. Ông trình bày thông-điệp quan trọng: “Bởi Con Người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất” (Lu 19:10). Ông giới thiệu về Chúa Giê-xu Christ, Con Người đầy lòng thương xót đã đến giữa tội nhân, yêu thương, giúp đỡ và chết thay cho họ.
Qua...
...sách Phúc-Âm này, bạn sẽ gặp nhiều người: đoàn dân, đàn ông, phụ nữ, trẻ con, người nghèo, kẻ giàu, tội nhân lẫn thánh đồ. Đây là sách chứa một thông-điệp dành cho mọi người, bởi Lu-ca nhấn mạnh một đặc điểm chung về Chúa Giê-xu và sự cứu rỗi của Ngài.
“…một Phúc-Âm sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân” (Lu 2:10).
Bác sĩ Lu-ca chỉ được nhắc đến 3 lần trong Thánh Kinh Tân-ước: Côl 4:14; IITim 4:11; Phi 1:24. Ông viết sách Công-vụ và đồng hành với Phao-lô (so sánh Lu 1:1-4 với Công 1:1), chú ý những từ “chúng ta” ở Công 16:10-17; Công 20:4-15; Công 21:1-18; Công 27:1-28:16.
Có thể ông là người ngoại theo học nghề thầy thuốc nên không có gì ngạc nhiên khi ông mở đầu sách bằng câu chuyện chi tiết về sự ra đời của 2 con trẻ “đặc biệt” và nhấn mạnh về sự cảm thông của Đấng Christ đối với người bất hạnh! Ông viết sách bằng tinh thần nghiêm túc của một sử-gia và tấm lòng bác ái của người thầy thuốc.
Phúc-âm Lu-ca được viết cho Thê-ô-phi-lơ (“người yêu của Đức Chúa Trời”), có lẽ là một quan chức La-mã tin Chúa Giê-xu và bây giờ cần được củng cố niềm tin. Thê-ô-phi-lơ có thể đã tìm kiếm lẽ thật sau khi nghe về Phúc-Âm, vì Lu 1:4 viết “để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn”.
Cuộc đời và thông-điệp của Chúa Giê-xu gây ảnh hưởng lớn nên có nhiều sách viết về Ngài, nhưng không phải mọi sách đều đáng tin cậy. Lu-ca viết sách này cốt để người đọc biết một sự kiện chính xác về cuộc đời, chức vụ và thông-điệp của Chúa Giê-xu.
Lu-ca thận trọng thu thập các sự kiện, chứng cứ, lắng nghe người giảng đạo và chủ yếu có sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh (Gi 3:31; Gi 19:11) – Ấy chính là sự hà hơi của Thánh Linh Đức Chúa Trời trên thông-điệp của ông.
Qua đoạn 1, Lu-ca cho ta biết thể nào thông-điệp kỳ diệu từ Đức Chúa Trời đã đến với mọi tầng lớp khác nhau và được hưởng ứng ra sao. Bạn sẽ thấy có 4 thái độ hưởng ứng khác biệt:
1. Vô tín (Lu 1:5-25)
Có một ngày thật đen tối đến với dân tộc Y-sơ-ra-ên. Dân sự không nhận được lời tiên-tri nào từ Đức Chúa Trời trong 400 năm kể từ lúc Ma-la-chi nói về tiên-tri Ê-li (Ma 4:5-6). Những người lãnh đạo thuộc linh thời bấy giớ bị bắt bớ bởi truyền thống cố hữu, sự bại hoại của xã hội và bởi bạo chúa Hê-rốt; kẻ từng xử tử một trong chín (hoặc mười) người vợ mình không cần biết lý do chính đáng. Dẫu ngày ấy đen tối ra sao, Đức Chúa Trời vẫn luôn có những con người biết dấn thân và vâng phục.
• Thầy tế-lễ trung tín (Lu 1:5-7).
Xa-cha-ri (“Đức Giê-hô-va nhớ đến”) và Ê-li-sa-bét (nghĩa là “Đức Chúa Trời là giao-ước tôi”) là cặp vợ chồng tin kính thuộc dòng tế-lễ. Các thầy tế-lễ được phân thành 24 ban thứ (ISu 24:1-31) và mỗi thầy tế-lễ sẽ hầu việc trong đền thờ suốt 2 tuần lễ trong năm.
Dù quanh họ dẫy đầy sự vô tín, Xa-cha-ri và Ê-li-sa-bét vẫn trung tín vâng theo lời Đức Chúa Trời trong cách sống mẫu mực.
Nỗi khổ duy nhất của họ là không có con nối tự nên đã kiên trì cầu nguyện cho nan đề này. Họ đâu ngờ Đức Chúa Trời sẽ nhậm lời (họ) và ban cho họ không phải một thầy tế-lễ, nhưng là một tiên-tri! Đó không phải là tiên tri bình thường, vì con họ sẽ là sứ-giả dọn đường cho Đấng Rất Cao!
• Thầy tế-lễ kinh hãi (Lu 1:8-17).
Theo lệ, các thầy tế-lễ bắt thăm để xem ai sẽ lãnh nhiệm vụ gì và Xa-cha-ri được chọn để dâng hương trong nơi thánh. Vinh dự đặc biệt này dành cho thầy tế-lễ chỉ một lần duy nhất trong đời. Việc dâng hương được thực hiện khoảng 3 giờ chiều mỗi ngày, trước của lễ buổi sáng và sau của lễ buổi chiều. Có lẽ, Xa-cha-ri được dâng hương vào buổi chiều.
Nếu để ý, chắc bạn sẽ thấy Đức Chúa Trời thường nói với con cái Ngài cũng như kêu gọi họ lúc họ đang bận rộn với công việc thường nhật. Chẳng hạn, Môi-se và Đa-vít đang chăn chiên, Ghi-đê-ôn đang đ ập lúa, Phi-e-rơ cùng các bạn chài đang vá lưới lúc Chúa Giê-xu gọi họ. Thật khó điều khiển chiếc xe khi máy của nó không hoạt động!
Chúng ta bận rộn - chính là lúc Đức Chúa Trời khởi sự dẫn dắt chúng ta. Lu-ca nói về các thiên-sứ 23 lần trong Phúc-Âm này, thực ra, có rất nhiều thiên-sứ (Kh 5:11) chứ không chỉ 2 thiên-sứ thường được nói đến trong Kinh Thánh như Mi-ca-ên và Gáp-ri-ên (Đa 10:13,21; Đa 12:1; Giu 1:9; Kh 12:7; Đa 8:16; Đa 9:21; Lu 1:19,26). Khi Thiên-sứ Gáp-ri-ên xuất hiện bên bàn thờ xông hương, Xa-cha-ri rất hoảng sợ vì sự hiện diện của Thiên-sứ có thể là sự đoán phạt của Chúa.
Lời phán: “Đừng sợ!” được ghi lại nhiều lần trong Phúc-âm Lu-ca (Lu 1:13,30; Lu 2:10; Lu 5:10; Lu 8:50; Lu 12:7,32). Bạn hình dung xem, hẳn Xa-cha-ri xúc động biết bao khi nghe rằng vợ chồng ông sẽ có một con trai! “Sự vui mừng” cũng là chủ đề chính trong Phúc-âm Lu-ca, được nhắc đến ít nhất 19 lần. Tin tức tốt lành thực sự đem đến “sự vui mừng”!
Thiên-sứ Gáp-ri-ên cho Xa-cha-ri biết phải dặt tên con trẻ là Giăng (nghĩa là “Đức Giê-hô-va hay thương xót”) và dâng nó cho Đức Chúa trời để làm một Na-xi-rê trọn đời (Dân 6:1-21). Con trẻ này sẽ đầy dẫy Đức Thánh Linh trước khi ra đời (Lu 1:41), sẽ là tiên-tri của Đức Chúa Trời nói cho dân Y-sơ-ra-ên biết về Con Độc Sanh (Gi 1:15-34). Đức Chúa Trời sẽ dùng chức vụ của Giăng để khiến lòng nhiều người trở lại cùng Chúa của họ như tiên-tri Ê-sai đã báo trước (Ês 40:1-5).
• Thầy tế-lễ thiếu đức tin (Lu 1:18-22).
Có lẽ bạn nghĩ rằng sự hiện diện của thiên-sứ cùng với thông-điệp từ Đức Chúa Trời có thể củng cố niềm tin của Xa-cha-ri. Tiếc thay, không phải vậy. Thay vì tin nơi Đức Chúa Trời, thầy tế-lễ này chỉ nhìn thấy thực trạng của chính mình và vợ, rồi cho rằng chuyện sinh con không thể xảy ra. Ông cần có sự bảo đảm nào đó, có thể là một dấu hiệu từ Đức Chúa Trời chứ không chỉ ở lời nói suông của Gáp-ri-ên một sứ-giả của Đức Chúa Trời.
Dĩ nhiên đây là sự vô tín điều Đức Chúa trời không thể chấp nhận. Xa-cha-ri thực sự đang chất vấn Đức Chúa tr ời về khả năng thực thi lời hứa của Ngài! Ông há dễ quên điều Đức Chúa Trời đã làm cho Áp-ra-ham và Sa-ra sao? (Sa 18:9-15; Rô 4:18-25). Phải chăng ông cho rằng những giới hạn về thể chất của chính mình có thể ngăn trở Đức Chúa Trời toàn năng? Tuy nhiên trước khi quá phê phán Xa-cha-ri, chúng ta nên nhìn lại chính mình xem đức tin của chúng ta đang ở mức độ nào.
Đức tin đáng được chúc phước, nhưng sự vô tín phải bị lên án vì vậy Xa-cha-ri bị câm (có thể điếc - Lu 1:62) cho đến khi lời tiên-tri được thực hiện. “Ta đã tin, cho nên ta nói” (IICôr 4:13), nhưng Xa-cha-ri không tin nên ông không thể nói được. Đức Chúa Trời quả đã ban cho ông một “dấu hiệu” đặc biệt chỉ mình ông biết, hầu ông có thể sống với dấu hiệu ấy suốt 9 tháng sau đó.
• Thầy tế-lễ được ưu ái.
Xa-cha-ri chắc đã trải qua thời gian căng thẳng để hoàn thành tuần lễ nhiệm vụ của mình, chẳng phải vì tật nguyền, nhưng vì xúc động mãnh liệt (Lu 1:23-25). Ông hầu như không thể chờ đợi được nữa, mong sao trở về “miền núi” (Lu 1:39) nơi ông sống để thuật cho vợ nghe về tin mừng này.
Đức Chúa Trời thành tín với lời hứa của Ngài: Ê-li-sa-bét mang thai một con trai ở tuổi già. “Chẳng có sự gì là khó quá cho Ngài cả” (Giê 32:17). Có thể thấy sự ngạc nhiên và tính tò mò của những kẻ khác buộc Ê-li-sa-bét phải ẩn mình, nhưng vẫn ca ngợi Chúa về sự thương xót của Ngài. Bà không chỉ có một con trai nhưng sự ra đời của con bà là chứng cớ Đấng Mê-si-a sắp đến! Quả là những ngày vui mừng!
2. Bày tỏ niềm tin (Lu 1:26-38)
Khi Ê-li-sa-bét mang thai được 6 tháng, Thiên-sứ Gáp-ri-ên một lần nữa loan tin về sự ra đời của con trẻ kế tiếp cho nữ đồng trinh Ma-ri ở Na-xa-rét.
Ít ra, Thiên-sứ này đã xuất hiện ở những nơi khác nhau đến với những con người khác nhau: cụ già, thiếu phụ, thầy tế-lễ, con cháu Đa-vít, kẻ vô tín, người tin kính, đền thờ, Giê-ru-sa-lem, Na-xa-rét.
Người dân trong vùng Giu-đê rất khinh thường người Do-thái ở Ga-li-lê, họ tuyên bố rằng họ sẽ vi phạm luật-pháp nếu tiếp xúc với những người ngoại này (Mat 4:15). Họ đặc biệt khinh khi người ở Na-xa-rét (Gi 1:45-46). Dầu vậy bởi Ân-điển, Đức Chúa Trời đã chọn một nữ đồng trinh từ Na-xa-rét xứ Ga-li-lê để làm mẹ Đấng Mê-si-a của lời hứa.
Khi sự kiện này xảy đến với Ma-ri, người ta thiên về 2 thái cực: hoặc quá ca tụng bà đến nỗi Chúa Giê-xu chỉ chiếm vị trí phụ (Lu 1:32), hoặc không để tâm đến bà và thiếu sự tôn trọng đối với bà (Lu 1:48). Khi Ê-li-sa-bét đầy dẫy Đức Thánh Linh đã gọi bà là “Mẹ Chúa tôi” (Lu 1:43), lý do đó đủ để thấy bà đáng được tôn trọng.
Ta biết gì về Ma-ri? Nàng là nữ đồng trinh Do-thái thuộc đại tộc Giu-đa, con cháu vua Đa-vít (Ês 7:14). Nàng đã hứa hôn với người thợ mộc ở Na-xa-rét tên là Giô-sép (Mat 13:55) và rõ ràng cả hai đều rất nghèo (Lu 2:24; Lê 12:8).
Giữa vòng dân Do-thái thời bấy giờ, hứa hôn cũng có tính chất ràng buộc như hôn nhân và chỉ có thể chấm dứt bằng cách ly hôn. Thực ra, người nam và người nữ thời đó đã được gọi là “vợ chồng” trước khi tiến tới hôn nhân (so sánh Mat 1:19 và Lu 2:5). Vì những người nữ Do-thái lấy chồng rất sớm, nên có thể khi Thiên-sứ hiện đến với Ma-ri, nàng là thiếu nữ mới lớn.
• Sự ngạc nhiên của Ma-ri (Lu 1:26-33).
Đọc kỹ lời chào mừng của Thiên-sứ Gáp-ri-ên, bạn có thể hiểu rõ lý do Ma-ri bối rối s ợ sệt. “Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi Chúa ở cùng ngươi” Nhiều cổ bản Hy-lạp không có câu: “ngươi có phước trong đám đàn bà” (mà bạn tìm thấy ở đây trong Lu 1:42). Vì sao Thiên-sứ đến chào mừng Ma-ri? Bà được ơn Đức Chúa Trời ở phương diện nào? Chúa ở cùng bà ra sao?
Lời đáp của Ma-ri bày tỏ sự khiêm cung thành tâm của bà trước Đức Chúa Trời. Bà thực sự chưa bao giờ mong gặp Thiên-sứ để nhận những đặc ân thiên thượng ấy. “Bà không có gì lạ thường”. Để những điều này phải xảy đến cho bà. Nếu bà khác biệt với tất cả những người nữ Do-thái khác như một số nhà thần học tuyên bố, có lẽ lúc ấy bà sẽ nói với thiên-sứ rằng: “Ô, thời điểm đã đến! Ta đang đợi ngươi đây!” Không phải vậy, mọi sự xảy đến thật quá ngạc nhiên đối với bà.
Thiên-sứ Gáp-ri-ên báo cho bà tin mừng: bà sẽ làm mẹ Đấng Mê-si-a của lời hứa, Đấng bà sẽ đặt tên là Giê-xu (“Đức Giê-hô-va là sự cứu rỗi” Mat 1:21). Bạn hãy để ý rằng Thiên-sứ Gáp-ri-ên khẳng định cả thần tánh và nhân tánh của Chúa Giê-xu: là Con Ma-ri Ngài là Con Người, là Con của Đấng Rất Cao (Lu 1:32), Ngài là Con Đức Chúa Trời (Lu 1:35).
“Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta (nhân tánh của Ngài) tức là một con trai ban cho chúng ta (thần tánh Ngài)...” (Ês 9:5).
Lời xác nhận này chỉ về sự vĩ đại của Con (Lu 1:15) chứ không phải của mẹ. Ngài sẽ là một Vị Vua nối ngôi Đa-vít và cai trị Y-sơ-ra-ên đ ời đời! Nếu giải thích theo nghĩa đen lời Gáp-ri-ên nói trong Lu 1:30-31, ta cũng phải giải thích theo nghĩa đen lời Thiên-sứ ấy nói trong Lu 1:32-33. Vị này muốn nói đến giao-ước Đức Chúa Trời lập với Đa-vít (IISa 7:1-29) và vương quốc của Ngài hứa với dân Y-sơ-ra-ên (Ês 9:1-7,11-12,61,66; Gie 33:1-26).
Chúa Giê-xu đến thế gian để cứu rỗi con người, đồng thời thực hiện lời hứa Đức Chúa Trời đối với tổ phụ dân Do-thái (Rô 15:8). Hôm nay, Ngài đang ngự trên Thiên đàng (Công 2:29-36) không phải trên ngôi Đa-vít. Sẽ có một ngày, Ngài tái lâm để lập vương quốc công bình trên đất và làm trọn những lời hứa này.
• Sự thuận phục của Ma-ri (Lu 1:34-38).
Bà biết điều sẽ xảy đến nhưng không rõ bằng cách nào. Câu hỏi của bà trong câu 34 không phải chứng cớ của sự vô tín (Lu 1:18). Ngược lại, đó chính là sự bày tỏ đức tin. Bà tin vào lời hứa Đức Chúa Trời, nhưng không hiểu cách hành động của Ngài. Làm sao trinh nữ có thể sinh con?
Trước tiên Gáp-ri-ên giải thích rằng sự kiện này là một phép lạ do Thánh Linh Đức Chúa Trời hành động. Giô-sép chồng hứa của Ma-ri không phải là cha đứa trẻ (Mat 1:18-25), dù theo luật pháp Chúa Giê-xu được công nhận là con trai Giô-sép (Lu 3:23; Lu 4:22; Gi 1:45; Gi 6:42). Có thể ai đó nghĩ rằng Ma-ri không chung thủy với Giô-sép và Chúa Giê-xu là “con ngoại tình” (Gi 8:41). Đây là nỗi đau Ma-ri phải mang suốt đời (Lu 2:35).
Thiên-sứ Gáp-ri-ên cho biết rõ rằng con trẻ sinh ra sẽ là “Con Thánh” không mang bản chất tội lỗi của con người. Chúa Giê-xu là Đấng chẳng biết tội lỗi (IICôr 5:21), chưa từng phạm tội (IPhi 2:22) và trong Ngài không có tội lỗi (IGi 3:5).
Thân thể được sắm sẵn cho chính Ngài bởi Thánh Linh Đức Chúa Trời (Hêb 10:5), Đấng “che phủ” Ma-ri dưới bóng mình. Từ “che phủ” này được áp dụng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở nơi Chí Thánh trong đền tạm và đền thờ của người Do-thái (Xu 40:35). Tử cung Ma-ri đã trở thành nơi chí thánh cho Con Đức Chúa Trời!
Thiên-sứ chấm dứt thông-điệp với lời khích lệ Ma-ri: Ê-li-sa-bét người bà con của bà cũng đang chịu thai, chứng tỏ “không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được”. Đức Chúa Trời đã phán với Áp-ra-ham lời tương tự khi cho ông biết về sự ra đời của Y-sác (Sa 18:14).
Đức Chúa Trời chúng ta có thể làm được mọi sự, điều này được chứng minh qua Gióp (Giop 42:2) Giê-rê-mi (Giê 32:17), Chúa Giê-xu (Mat 19:26). Đức Chúa Trời thực hiện chương trình Ngài bằng quyền năng của Lời phán Ngài (Thi 33:9).
Đáp ứng đức tin của Ma-ri là thuận phục, hiến dâng bản thân để trở thành một đầy tớ sẵn sàng cho “tôi tớ Đức Chúa Trời”. Bà kinh nghiệm ơn Đức Chúa Trời (Lu 1:30), tin nơi Lời Ngài nên bà được Đức Thánh Linh sử dụng để thực hiện ý muốn Đức Chúa Trời.
“Tôi tớ” là chức phận thấp nhất được Ma-ri sử dụng để bày tỏ mức độ bà tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Bà hoàn toàn thuộc về Chúa: thể xác (Lu 1:38), linh hồn (Lu 1:46) và tâm thần (Lu 1:47).
Thật là một tấm gương đáng để chúng ta noi theo! (Rô 12:1-2).
3. Vui mừng (Lu 1:39-56)
Khi Ma-ri biết mình sắp làm mẹ và người bà con Ê-li-sa-bét sẽ sinh con trong vòng 3 tháng, bà muốn đi thăm Ê-li-xa-bét để cùng chia sẻ niềm vui. ”Sự vui mừng” là chủ đề chính của phân đoạn này, bạn sẽ thấy có 3 người vui mừng trong Chúa.
• Trước tiên là sự vui mừng của Ê-li-sa-bét (Lu 1:39-45).
Khi Ma-ri bước vào nhà, Ê-li-xa-bét nghe lời chào của bà, liền được Thánh Linh cảm động để nói ra lý do Ma-ri đến. Lời nói nơi môi miệng bà sử dụng nhiều lần từ “phước”. Để ý rằng bà không nói Ma-ri có phước “trên hết” những người nữ, nhưng nói Ma-ri có phước “trong đám” người nữ, và thật sự như thế.
Trong khi đó, chúng ta không muốn quy cho Ma-ri những điều chỉ thuộc về Đức Chúa Trời, cũng không muốn đánh giá thấp vị trí của bà trong chương trình Đức Chúa Trời.
Điều Ê-li-sa-bét muốn nhấn mạnh là đức tin của Ma-ri: “Phước cho người đã tin” (Lu 1:45). Chúng ta được cứu “nhờ ân-điển, bởi đức tin” (Êph 2:8,9). Ma-ri kinh nghiệm quyền năng Đức Chúa Trời bởi bà đã tin nơi Lời phán của Ngài.
• Kế đến là sự vui mừng của Giăng - con trẻ sắp sinh ra (Lu 1:41,44).
Có thể đây chính là thời điểm Giăng được đầy dẫy Đức Thánh Linh như lời Thiên-sứ báo trước (Lu 1:15). Ngay cả trước khi ra đời, Giăng đã vui mừng trong Chúa Giê-xu, và tiếp tục vui mừng suốt thời gian thi hành chức vụ trên đất (Gi 3:29-30).
Là Giăng Báp-tít ông có đặc quyền lớn lao, được nói về Đấng Cứu Thế cho dân tộc Do-thái.
• Người vui mừng thứ ba là Ma-ri (Lu 1:46-56).
Niềm hân hoan tràn ngập khiến bà bật lên lời ca tụng Chúa. Đầy dẫy Đức Thánh Linh sẽ khiến chúng ta có thể vui mừng ngợi khen Chúa trong cuộc sống (Êph 5:18-20) và sự đầy dẫy Lời Chúa cũng khiến chúng ta vui mừng như thế (Côl 3:16-17).
Bài ca của Ma-ri chứa đựng những lời trích dẫn được chép trong Thánh Kinh Cựu-ước, đặc biệt ở sách thi thiên và bài ca của An-ne trong ISa 2:1-10.
Ma-ri giấu Lời Chúa trong lòng và biến nó thành bài ca.
Bài ca này được gọi là “Bài ca của trinh nữ Ma-ri” (The Magnificat), Tiếng La-tinh ở Lu 1:46 ghi rằng “Magnafiticat anima mea Dominum” (Linh hồn tôi ngợi khen Chúa). Niềm khao khát mãnh liệt của bà là được ca tụng Chúa, không phải chính mình. Bà sử dụng những từ “Ngài đã...” nhiều lần khi kể lại những ơn phước Ngài đã ban cho ba người.
• Điều Đức Chúa Trời đã làm cho Ma-ri (Lu 1:46-49).
-Trước tiên, Ngài cứu rỗi bà (Lu 1:47). Điều này cho thấy Ma-ri là một tội nhân giống như chúng ta, cần phải tin nhận Chúa để được sự sống đời đời. Không chỉ cứu rỗi bà, Đức Chúa Trời còn chọn bà làm mẹ Đấng Christ (Lu 1:48).
Ngài “đoái đến” bà, nghĩa là Ngài lưu tâm đến bà và ban ơn cho bà. Không có gì ngạc nhiên nếu Ngài chọn một ai khác, nhưng Ngài đã chọn Ma-ri! Đức Chúa trời thật đã bày tỏ ân điển Ngài trên bà (ICôr 1:26-28).
Đức Chúa Trời không chỉ lưu tâm đến Ma-ri, Ngài còn bày tỏ quyền năng Ngài trên bà (Lu 1:49). Ma-ri không thể không ngợi khen: “Đấng toàn năng đã làm các việc lớn cho tôi” (Lu 8:39; ISa 12:24; IISa 7:21-23; Thi 126:2-3).
Ma-ri tin Đức Chúa Trời và đầu phục ý muốn Ngài, nên Ngài đã thực hiện một phép lạ trong cuộc đời bà và sử dụng bà để đưa Đấng Cứu Thế vào trần gian.
Điều Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta? (Lu 1:50-53). Trong khổ thơ kế tiếp, Ma-ri nhắc đến tất cả những người kính sợ Chúa trải các đời. Chúng ta đều được Chúa thương xót và kinh nghiệm sự cứu giúp của Ngài. Ma-ri kể ra 3 nhóm người được Đức Chúa Trời thương xót: người bất lực (Lu 1:51), người khiêm nhường (Lu 1:52) và người đói khát (Lu 1:53).
Người dân thời bấy giờ hầu như đều bất lực trước công lý và dân quyền. Họ đói khát, bị hà hiếp và bị nhụt chí (Lu 4:16-19), vô phương chống lại quy lệ này. Tổ chức bí mật của những nhà ái quốc cực đoạn Do-thái gọi là “những kẻ cuồng tín” đã dùng bạo lực để chống đối La-mã, nhưng các hoạt động của họ chỉ làm cho thực trạng càng thêm tồi tệ.
Ma-ri thấy Chúa đảo lộn tất cả mọi sự: người yếu đuối truất phế kẻ mạnh, người khiêm nhường đuổi kẻ kiêu ngạo, những người tầm thường được tôn cao, người đói khát được no đủ, kẻ giàu có về tay không. Ân-điển của Đức Chúa Trời hành động ngược với tư tưởng và quy lệ của thế gian (ICôr 1:26-28). Hội thánh cũng giống như những nhóm người đã tụ tập quanh Vua Đa-vít (ISa 22:2).
Điều Đức Chúa Trời đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên (Lu 1:54-55). “Ngài sẽ cứu dân mình ra khỏi tội” (Mat 1:21). Dẫu ở tình trạng thiếu thốn cơ cực, dân Y-sơ-ra-ên vẫn là tôi tớ Đức Chúa Trời, Ngài sẽ giúp họ thực hiện ý muốn Ngài. Đức Chúa Trời bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên, Ngài sẽ nhớ lại sự thương xót và thực hiện lời hứa Ngài (Thi 98:1-3; Sa 12:1-3; Sa 17:19; Sa 22:18; Sa 26:4; Sa 28:14).
Ma-ri ở với Ê-li-sa-bét cho đến khi Giăng ra đời, sau đó bà trở lại Na-xa-rét. Vào lúc này, việc Ma-ri có thai có thể dễ nhận ra và miệng đời đã bắt đầu xầm xì. Suy cho cùng bà xa gia đình đã 3 tháng và người ta có thể thắc mắc vì sao bà ra đi vội vã như thế? Lúc ấy Đức Chúa Trời đem tin mừng đến cho Giô-sép và chỉ dẫn ông những gì phải làm (Mat 1:18-25).
4. Ngợi khen (Lu 1:57-80)
Đức Chúa Trời ban phước dồi dào trên Xa-cha-ri và Ê-li-sa-bét. Ngài ban cho họ một con trai như Ngài đã h ứa. Họ đặt tên con là “Giăng” theo lời Đức Chúa Trời. Dân Do-thái xem con trẻ như sự ban cho của Đức Chúa Trời và “là cơ nghiệp bởi Đức Giê-hô-va mà ra” (Thi 127:3-5; Thi 128:1-3).
Thật như vậy! Họ không theo tập tục của dân ngoại bang vô thần bằng cách giết con mình hoặc bỏ rơi chúng. Chỉ riêng con số 1.500.000 thai nhi bị phá bỏ hằng năm ở Nước Mỹ đủ để bạn thấy chúng ta đã đi xa khỏi luật-pháp Đức Chúa Trời chừng nào rồi.
Tiến sĩ E.T.Sullivan nói rằng: “Sức mạnh vĩ đại nhất trên thế giới không phải là những trận động đất hay sấm sét; mà chính là những con trẻ”.
Theo l ệ, con trai sẽ được đặt tên theo cha hay người trong gia đình. Khi Ê-li-sa-bét khẳng định tên con là Giăng, bà con hàng xóm đều lấy làm lạ. Xa-cha-ri viết trên tấm bảng: “Giăng là tên nó” và đồng ý như vậy. Tức thì Đức Chúa Trời mở miệng ông. Bài ca tụng của Xa-cha-ri cho chúng ta 4 bức tranh xinh đẹp có ý nghĩa về sự hiện diện của Chúa Giê-xu trên thế gian:
(1). Cửa ngục tù rộng mở (Lu 1:68): Từ “cứu chuộc” có nghĩa như giải thoát bằng cách trả một giá “Có thể dùng để nói đến việc thả tù nhân, hoặc giải phóng nô lệ.” Chúa Giê-xu Christ đến thế gian để giải thoát cho những kẻ bị giam cầm (Lu 4:19), cứu những ai trong xiềng xích tội lỗi và sự chết (Êph 1:7; IPhi 1:18-21).
(2). Bức tranh thắng trận (Lu 1:69-75): Trong Kinh Thánh “sừng” là biểu tượng của sức mạnh và chiến thắng (IVua 22:11; Thi 89:17,24). Đây là bức tranh mô tả một đội quân sắp bị thất thủ, nhưng sau đó có sự cứu giúp đã đánh bại kẻ thù. Ở bức tranh trước, những kẻ bị cầm được tha. Nhưng ở bức tranh này, kẻ thù bị đánh bại hoàn toàn nên không thể bắt giữ thêm tù nhân nào. Nó có nghĩa là toàn thắng của con dân Đức Chúa Trời.
Sự cứu chuộc (Lu 1:69,71) mang ý nghĩa “khỏe khoắn, mạnh mẽ”. Dù kẻ bị giam cầm ở tình trạng nào đi nữa, Đấng cứu chuộc vẫn đem đến cho họ một sự mạnh mẽ, vững vàng thuộc linh. Khi tin nhận Chúa Giê-xu Christ là Đấng Cứu Thế, bạn được giải thoát khỏi quyền Sa-tan để bước vào Vương quốc của Đức Chúa Trời, được cứu rỗi và được tha thứ (Côl 1:12-14).
Đấng Cứu Thế từ đâu đến? Ngài sinh ra từ nhà Đa-vít (Lu 1:69) là Vị Vua chiến thắng mọi kẻ thù. Đức Chúa Trời phán trước rằng Đấng Cứu Thế sẽ là người Do-thái (Sa 12:1-3), dòng Giu-đa (Sa 49:10) con cháu Đa-vít (IISa 7:12-16), sanh trong thành Đa-vít (Bết-lê-hem) (Mi 5:1). Cả Ma-ri và Giô-sép cũng thuộc dòng Giu-đa (Lu 1:27 Mat 1:20). Sự hiện diện của Đấng Cứu Thế trên trần gian vốn gắn liền với giao-ước Đức Chúa Trời lập cùng dân Ngài (Lu 1:72) và được các tiên-tri báo trước (Lu 1:70).
Hãy nhớ rằng chiến thắng này là kết quả của sự thánh hóa và tinh thần hầu việc (Lu 1:74-75). Đức Chúa Trời giải thoát chúng ta không phải để chúng ta đi theo ý riêng mình (vì đó sẽ lại là xiềng xích) nhưng làm theo ý muốn Ngài và vui mừng trong sự tự do Ngài ban.
(3). Bức tranh của “sự tha nợ” (Lu 1:76-77)
“Tha tội” nghĩa là cất đi , xóa đi món nợ. Chúng ta đều mắc nợ Đức Chúa Trời -vì phạm luật-pháp Ngài và không sống theo tiêu chuẩn Ngài (Lu 7:40-50). Hơn thế nữa chúng ta bị phá sản thuộc linh không thể trả nỗi món nợ. Nhưng Đức Chúa Giê-xu đã đến và trả nợ thay cho chúng ta (Gi 1:29; Thi 103:12).
(4). Bức tranh “buổi bình minh của một ngày mới” (Lu 1:78-79).
Bình minh nghĩa là lúc mặt trời mọc. Chúa Giê-xu đến khi mọi người đang ở nơi tối tăm, trong bóng sự chết cùng sự khốn khó vây quanh. Nhưng Ngài đem đến sự sáng, sự sống và bình an. Đây là buổi bình minh của một ngày mới bởi Đức Chúa Trời đã bày tỏ lòng thương xót vô biên của Ngài (Mat 4:16).
Thầy tế-lễ Xa-cha-ri không nói được suốt 9 tháng, nhưng ông đã bù đắp sự yên lặng bấy lâu ấy khi bật lên bài ca tụng này cho Đức Chúa Trời! Ông vui mừng khôn xiết vì con ông được Đức Chúa Trời chọn để dọn đường cho Đấng Christ (Ês 40:1-3; Ma 3:1). Giăng là tiên-tri của Đấng Rất Cao (Lu 1:76), rao cho dân Y-sơ-ra-ên biết về Con của Đấng Rất Cao (Lu 1:32) Đấng được hoài thai trong tử cung Ma-ri bởi quyền năng Đấng Rất Cao (Lu 1:35).
Thay vì hưởng một cuộc sống an nhàn với tư cách thầy tế-lễ, Giăng sống nơi đồng vắng, nghiêm khắc với bản thân về thuộc linh lẫn thuộc thể, chờ đợi ngày Đức Chúa Trời sai ông dọn lòng dân Y-sơ-ra-ên đón Đấng Christ. Những người như Si-mê-ôn và An-ne (Lu 2:25-38) đã chờ đợi ngày này từ nhiều năm. Ngày ấy sẽ chóng đến!
Hôm nay Đức Chúa Trời đang kêu gọi chúng ta tin nhận Phúc-Âm của Ngài. Những ai tin đều kinh nghiệm sự vui mừng trong Ngài vẫn mong muốn ngợi khen Ngài. Nếu chỉ nói Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế, có lẽ vẫn chưa đầy đủ ý nghĩa. Chúng ta phải đồng thanh với Ma-ri rằng: “Tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi” (Lu 1:47)
2. CHÚA ĐÃ ĐẾN (Lu 2:1-52)
Đoạn 2 này có lẽ là đoạn quen thuộc và được ưa chuộng nhất trong sách Lu-ca. Vào đêm Giáng sinh hằng năm, tôi và vợ tôi thường đọc chung 21 câu đầu của đoạn này. Giờ đây các con đã khôn lớn, chúng tôi vẫn đọc... Câu chuyện xảy ra đã lâu, nhưng sao cứ mới mẻ khiến con cái Đức Chúa Trời chẳng bao giờ chán đọc!
Bác sĩ Lu-ca giới thiệu với chúng ta 3 nét đại cương về những năm trên đất của Đức Chúa Giê-xu Christ:
1. Hài nhi mới sinh (Lu 2:1-20)
“Yếu như một em bé” là một lối nói thông thường lại không thể áp dụng được với Hài nhi Giê-xu trong máng cỏ. Theo cách nói của con người là Ngài yếu như bất cứ em bé nào, nhưng đối với cõi trời Ngài là trung tâm quyền lực.
• Sự Giáng sinh của Hài nhi Giê-xu đã khiến Giô-sép và Ma-ri đến thành Bết-lê-hem (Lu 2:1-7).
Sê-sa Au-gút-tơ cai trị thời bấy giờ, nhưng chính Đức Chúa Trời đã thực hiện chương trình Ngài khi sử dụng sắc lệnh của Sê-sa để đưa Giô-sép và Ma-ri đi 80 dặm từ Na-xa-rét đến Bết-lê-hem, hầu Lời Ngài được ứng nghiệm.
Vì mục đích quân sự và thuế, cứ 14 năm một lần Rô-ma lại có cuộc điều tra dân số. Mỗi người nam Do-thái phải trở về quê quán mình để khai họ tên, nghề nghiệp, tài sản và gia đình. Khi Ma-ri nói: “xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền!” (Lu 1:38) cũng là lúc cuộc đời bà góp phần vào sự ứng nghiệm của lời tiên-tri.
Đức Chúa Trời phán rằng Đấng Christ sẽ là một Con Người, không phải thiên sứ (Sa 3:15; Hêb 2:16), là người Do-thái chứ không phải người ngoại (Sa 12:1-3; Dan 24:17). Ngài thuộc dòng Giu-đa (Sa 49:10), con cháu vua Đa-vít (IISa 7:1-17), sanh bởi một nữ đồng trinh (Ês 7:14) trong hành Bết-lê-hêm, tức thành Đa-vít (Mi 5:2).
Mọi sự đã ứng nghiệm như lời Kinh Thánh, như vậy Sê-sa hoàn toàn không biết mình đã đóng một vai trò quan trọng. A.T.Pièrson từng nói: “Lịch sử là câu chuyện của Ngài”.
Tổng thống James A. Garfield lại gọi lịch sử là “cuộn sách tiên-tri được mở ra”. Khi Lời Chúa chiếm hữu đời sống chúng ta, những biến cố lịch sử sẽ giúp chúng ta làm trọn ý muốn Ngài. Ngài phán: “Ta sẽ tỉnh thức, giữ lời phán ta đặng làm trọn” (Giê 1:12).
Ma-ri và Giô-sép tuy là vợ chồng, nhưng họ không ăn ở cùng nhau cho đến khi Chúa Giê-xu sinh ra, Ma-ri chỉ là “vị hôn thê” của Giô-sép (Mat 1:18-25). Có lẽ đối với Ma-ri, cuộc hành trình này thật là một thử thách đối với bà, nhưng bà vui mừng được thực hiện ý muốn Đức Chúa Trời và điều chắc chắn là bà cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi tránh được những lời đàm tiếu ở Na-xa-rét.
Các bà mẹ thời đó bọc trẻ sơ sinh bằng một giải vải dài để tay chân chúng được cứng cáp và an toàn “Máng cỏ” được nói đến ở Lu 2:7,12,16 có thể là máng ăn của gia súc hoặc khoảng đất được vào lại để nuôi gia xúc. Ngày nay khi qua vùng Đất Thánh (The Holy Land), bạn sẽ thấy những máng gia súc bằng đá thời xưa, có lẽ Hài nhi Giê-xu đã nằm trong một máng cỏ như thế. Nhiều học-giả cho rằng Chúa chúng ta sinh ra trong một hang đá, nơi ẩn náu của thú vật, không phải là chuồng gỗ như bạn thấy ngày nay.
“Bết-lê-hem” nghĩa là “nhà bánh” nơi Giáng sinh lý tưởng của Đấng được gọi là “Bánh của sự sống” (Gi 6:35). Bết-lê-hem - di sản lịch sử quý báu bao gồm sự qua đời của Ra-chên và sự sinh ra của Bên-gia-min (Sa 35:16-20; Mat 2:16-18), hôn nhân của Ru-tơ, những kỳ công của Đa-vít. Đáng chú ý là tên Bên-gia-min “Con trai tay hữu” và tên Đa-vít (“người yêu dấu”). Cả hai tên này được áp dụng cho Chúa chúng ta, vì Ngài là Con yêu dấu (Lu 3:22) tại bên hữu Đức Chúa Trời (Thi 110:1).
• Sự Giáng sinh của Chúa Giê-xu tác động đến các Thiên-sứ trên trời (Lu 2:8-14).
Hẳn các vị ấy sửng sốt biết bao khi thấy Đấng Sáng tạo giáng sinh như một vật thọ tạo! Ngôi Lời đã trở nên một con trẻ yên lặng! Lời giải thích rõ ràng nhất về sự kiện này được viết trong IICôr 8:9. Đáp ứng tốt nhất của tấm lòng chúng ta phải được thể hiện qua sự ngợi khen của tấm lòng chúng ta là kinh ngạc và tôn thờ. “Sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt...” (ITês 3:16).
Lời công bố đầu tiên về sự giáng sinh của Đấng Christ được thiên-sứ chuyển đến cho những người chăn chiên vô danh. Tại sao là những người chăn chiên mà không phải các thầy tế-lễ hay các học-giả tôn giáo? Khi đến với những người chăn chiên, Thiên-sứ bày tỏ cho họ biết ân-điển của Đức Chúa Trời đối với loài người.
Họ thật sự là những kẻ bị ruồng bỏ trong Y-sơ-ra-ên.
Công việc của họ không những khiến họ bị ô uế về mặt nghi thức mà còn cầm chân họ không đến được đền thờ trong vài tuần lễ liền nên không thể thực hiện nghi thức tinh sạch được. Đức Chúa Trời không gọi người giàu có hay kẻ thế lực, Ngài gọi người nghèo khổ và kẻ thấp hèn (ICôr 1:26-29; Lu 1:51-53).
Đấng Christ đã đến với tư cách “Người Chăn Chiên hiền lành” (Gi 10:1-30) và “Chiên Con Đức Chúa Trời” gánh thay tội lỗi thế gian (Gi 1:29). Có thể những người chăn chiên này đang canh giữ bầy chiên được dùng làm của tế-lễ trong đền thờ. Điều này rất có ý nghĩa khi tin mừng về Người Chăn Chiên và Chiên Con của Đức Chúa Trời được loan báo trước tiên cho những kẻ chăn khiêm nhường này.
Những người chăn chiên đâu dễ bị đánh lừa! Họ là những con người thực dụng, ít khi làm việc gì bằng trí tưởng tượng. Nếu họ nói rằng họ đã thấy Thiên-sứ, đi tìm và gặp Đấng Christ, bạn chắc sẽ tin. Đức Chúa Trời đã chọn những kẻ lao khổ để làm những chứng nhân đầu tiên nói cho mọi người biết: Con Đức Chúa Trời đã đến thế gian!
Trước tiên, một thiên-sứ (Gáp-ri-ên?) loan tin mừng, sau đó muôn vàn thiên-sứ đồng thanh ngợi khen Đức Chúa Trời. Từ hằng bao thế kỷ, đây là lần đầu tiên, sự vinh hiển Đức Chúa Trời đã tái hiện trên đất. Nếu các gã chăn can đảm kia còn sợ hãi về những điều mắt thấy tai nghe, bạn càng có cơ sở biết chắc đây là sự thật!
“Đừng sợ!” là một trong những chủ đề chính của câu chuyện Giáng sinh này (Lu 1:13,30,74; Mat 1:20). Nguyên văn thiên-sứ nói rằng: “Đừng sợ chi, vì này ta báo cho các ngươi một Phúc-Âm, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân” Thiên-sứ dùng từ có nghĩa là “công bố tin lành một từ được Lu-ca sử dụng trong cả Phúc-Âm và Công-vụ. Ta thấy Lu-ca nhấn mạnh về một Phúc-Âm cho cả thế giới, cho mọi người chứ không riêng gì dân Do-thái.
Phúc-Âm ấy là gì? Đức Chúa Trời không sai một tinh binh, một quan án hay một nhà cải cách, nhưng Ngài ban xuống một Đấng Christ để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của nhân loại. Đó là thông-điệp hòa bình cho một thế giới từng nếm trải quá nhiều mùi chiến tranh. Hiệp-ước hòa bình của Rô-ma (Roman Peace) được nhiều người biết đến có hiệu lực từ năm 27 TC, thế nhưng “không có chiến tranh” đâu có nghĩa là “có hòa bình”.
Triết-gia trường phái khắc kỷ Epictetus nói rằng: “Hoàng đế có thể đem hòa bình đến cho xứ sở bị chiến tranh, nhưng không thể đem hòa bình đến cho lòng giận dữ, sầu khổ, đố kỵ. Ông không thể ban sự bình an trong tâm hồn mà con người khao khát hơn cả sự hòa bình bề ngoài”.
Từ Do-thái “shalom” (hòa bình) có nghĩa vượt trội hơn một hiệp-định ngưng bắn, đình chiến trong các trận chiến trong cuộc sống. Nó có nghĩa như: khỏe mạnh, hạnh phúc, thịnh vượng, an ninh, toàn vẹn, hoàn hảo. Nó có liên quan đến con người nhiều hơn hoàn cảnh. Cuộc sống vốn khó khăn, xưa nay vẫn thế. Thuế cao, nạn thất nghiệp gia tăng, đạo đức con người cứ xuống dốc, bộ máy quân sự được kiểm soát chặt chẽ, Luật-pháp La-mã, triết-học Hy-lạp và cả Do-thái giáo cũng không thể đáp ứng được nhu cầu trong tâm hồn con người. Chính lúc ấy, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến thế gian!
Trong sự taọ dựng vũ trụ thiên-sứ đã ca ngợi Đức Chúa Trời (Giop 38:7), giờ đây họ lại ngợi khen Ngài vào khởi điểm của sự tạo dựng mới. Mục đích của kế hoạch cứu rỗi là “để ngợi khen Đức Chúa Trời” (Êph 1:6,12,14).
Vinh hiển Đức Chúa Trời từng ngự trong đền tạm (Xu 40:34) và đền thờ (IISu 7:1-3), nhưng đã vắng bóng một thời gian dài bởi tội lỗi dân sự (ISa 4:21; Exo 8:4; Exo 9:3; Exo 10:4,18; Exo 11:22-23). Giờ đây, vinh hiển của Đức Chúa Trời lại tái hiện trên đất trong thân vị Con Ngài (Gi 1:14). Máng cỏ thấp hèn kia lại là nơi chí thánh bởi Chúa Giê-xu đã ngự vào!
Sự Giáng sinh của Chúa Giê-xu đã lôi cuốn các gã chăn chiên ngoài đồng (Lu 2:15-20). “Chúng ta hãy tới thành Bết-lê-hem”, lời nói này chứng tỏ họ đang ở xa Bết-lê-hem. Tuy vậy, họ vẫn chấp nhận lên đường tìm Đấng Christ mới sinh ra. Hẳn họ phải nhờ người khác chăn hộ đàn chiên khi vội vã đến Bết-lê-hem.
Halford Luccock gọi hành trình này là: “Sự vội vã của Giáng sinh đầu tiên”, dĩ nhiên chẳng giống với việc đổ xô mua hàng vào dịp Giáng sinh như chúng ta thấy ngày nay!
Động từ thấy ở Lu 2:16 nghĩa là “đã gặp được sau khi tìm kiếm”. Các gã chăn chiên biết điều họ đang tìm kiếm: “một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ”. Và họ đã gặp Ngài! Họ thờ lạy Ngài, ngợi khen về ân-điển, sự nhân từ cùng sự mầu nhiệm Ngài đã bày tỏ cho họ.
Những gã chăn chiên ấy là những gương tốt cho chúng ta noi theo hôm nay. Họ đã đón nhận thông-điệp từ Đức Chúa Trời bằng đức tin, hưởng ứng bằng thái độ vâng phục nhanh chóng. Sau khi gặp Con Trẻ, họ loan báo tin mừng cho người khác: “Làm sáng danh và ngợi khen Đức Chúa Trời”. Họ thật đã thế chỗ các Thiên-sứ! (Lu 2:13-14) Sau đó, họ trở lại với công việc thường nhật của mình. Công việc chẳng có gì thay đổi, nhưng giờ đây họ là những con người được đổi mới!
Có lẽ vì lý do nào đó, những gã chăn chiên không được phép làm chứng trước pháp-luật. Tuy vậy, Đức Chúa Trời đã sử dụng những gã chăn chiên hèn mọn để làm chứng nhân đầu tiên, minh chứng rằng lời tiên-tri đã ứng nghiệm, Đấng Christ đã sinh ra. Các Thiên-sứ chưa từng kinh nghiệm được ân-điển của Đức Chúa Trời vì vậy họ không thể làm chứng như chúng ta. Nói cho người khác về Đấng Christ là nghĩa vụ cấp bách và là đặc quyền lớn lao.
Tín-hữu chúng ta phải trung tín!
2. Con trẻ (Lu 2:21-38)
Đến đây bác sĩ Lu-ca cho ta thấy có 3 cuộc gặp gỡ quan trọng trong đền thờ Giê-ru-sa-lem: Con trẻ Giê-xu gặp Môi-se (Lu 2:21-24), Si-mê-ôn (Lu 2:25-35) và An-ne (Lu 2:36-38).
(1). Môi-se (Lu 2:21-24).
Ta thấy từ “luật-pháp” được nhắc đến 5 lần trong Lu 2:24-40. Chúa Giê-xu đến để giải phóng dân Ngài khỏi sự trói buộc của luật-pháp, nhưng Ngài “sanh ra dưới luật-pháp” và vâng phục luật-pháp (Ga 4:1-7). Ngài không đến để phá bỏ luật-pháp nhưng để làm trọn luật-pháp (Mat 5:17,18).
Cha mẹ Chúa Giê-xu vâng theo luật-pháp bằng cách cho con trẻ chịu phép cắt bì sau khi sinh 8 ngày. Đó là dấu hiệu của giao-ước Đức Chúa Trời lập cùng Áp-ra-ham (Sa 17:1-27), mỗi người nam phải chịu phép cắt bì để bày tỏ niềm tin. Người Do-thái rất tự hào mình là dân của giao-ước Đức Chúa Trời, họ đã ngạo nghễ gọi những người ngoại là - ‘người không chịu cắt bì” (Êph 2:11-12).
Tiếc thay, phép cắt bì đã trở thành một nghi thức trống rỗng cho vô số người Do-thái, vì họ không nhận thức được một chân lý thuộc linh quan trọng hàm chứa trong đó (Phuc 10:15-20; Rô 2:28-29).
Donald Grey Barnhouse, một vị Mục sư kiêm tác giả ở Philadelphia nói rằng: “Phép cắt bì Ngài chịu là sự thương khó đầu tiên Ngài gánh thay ta”.
Phép cắt bì tượng trưng cho công việc Đấng Christ thực hiện trên thập tự giá để đối phố với bản tánh tội lỗi của chúng ta (Côl 2:10-11; Phi 3:1-3; Ga 6:15). Vâng lời Đức Chúa Trời, Ma-ri và Giô-sép đặt tên Ngài là GIÊ-XU, nghĩa là “Đức Giê-hô-va là sự cứu rỗi” (Mat 1:21).
• Phép cắt bì chỉ là nghi thức đầu tiên.
Khi con trẻ được 40 ngày Ma-ri và Giô-sép phải đến đền thờ để làm lễ chuộc tội như đã được mô tả trong Lê 12:1-8. Họ cũng phải “chuộc ” con trẻ vì là con đầu lòng của Ma-ri (Xu 13:1-12). Họ phải trả 5 siếc-lơ để chuộc “Đấng Cứu chuộc” Đấng một ngày kia sẽ cứu chúng ta bằng huyết báu Ngài (IPhi 1:18,19). Của lễ đơn sơ họ dâng lên chứng tỏ họ quá nghèo, không thể dâng nổi một con chiên con (IICôr 8:9). Nhưng chính Chúa Giê-xu Ngài là Chiên Con!
Mối liên hệ giữa Chúa chúng ta với luật-pháp đóng vai trò quan trọng trong nhiệm mạng cứu chuộc của Ngài. Ngài sanh ra dưới luật-pháp (Ga 4:4), mặc dù lên án những truyền thống tôn giáo của con người, Ngài vẫn vâng phục trọn vẹn luật-pháp của Đức Chúa Trời (Gi 8:46). Ngài mang sự rủa sả của luật-pháp vì chúng ta (Ga 3:13 và buông tha chúng ta khỏi ách nô lệ (Ga 5:1).
(2). Si-mê-ôn (Lu 2:25-35).
Cũng như Xa-cha-ri và Ê-li-sa-bét, Si-mê-ôn và An-ne là những người trung tín còn sót lại trong dân Do-thái nôn nả tìm kiếm Đấng Christ (Ma 3:16). Vì Si-mê-ôn sẵn sàng mong muốn được chết (Lu 2:29) nên người ta thường nghĩ rằng ông rất già, nhưng không có chỗ nào trong Kinh Thánh chứng tỏ điều ấy. Người ta cho rằng lúc ấy ông được 113 tuổi, nhưng đó cũng chỉ là lời truyền khẩu.
“Sự yên ủi của Y-sơ-ra-ên” nghĩa là hy vọng về Đấng Mê-si-a. Một trong những lời cầu nguyện theo truyền thống của dân Do-thái là: “Xin cho con nhìn thấy sự yên ủi của Y-sơ-ra-ên”. Lời cầu nguyện ấy của Si-mê-ôn được nhậm khi ông gặp Chúa Giê-xu Christ trong đền thờ.
Ông là người được Thánh Linh Đức Chúa Trời dắt dẫn, được dạy dỗ bởi Lời Ngài, vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời. Vì vậy, ông được đặc quyền nhìn thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Đối với con người được nhìn thấy sự cứu rỗi (tức Chúa Giê-xu Christ) trước khi qua đời thật có ý nghĩa biết bao!
Qua Lu 2:29-32, ta thấy đáp ứng của Si-mê-ôn khi gặp Chúa Giê-xu. Đây là bài ca Giáng sinh thứ năm và cuối cùng trong sách Lu-ca (Ê-li-sa-bét: Lu 1:42-45; Ma-ri: Lu 1:46-56; Xa-cha-ri: Lu 1:67-79; các Thiên-sứ: Lu 2:13-14).
-Trước hết, đây là một bài ca thờ phượng, ông chúc tụng Đức Chúa Trời vì đã giữ lời hứa Ngài và ban Đấng Christ. Ông nức lòng ngợi khen Đức Chúa Trời bởi Ngài ban cho ông đặc ân được nhìn thấy Đấng Christ.
Bài ca của ông cũng là một bài ca cứu rỗi: