top of page
8. CHỨC VỤ ĐA PHƯƠNG (Lu 9:1-62)
Đó...
...là một buổi tối đáng bực mình! Trong khi tôi đang nghiên cứu và viết sách, cứ 30 phút điện thoại lại reng liên tục. Lẽ ra tôi phải vui mừng nghỉ tay và tán gẫu với bạn bè qua điện thoại, nhưng những người gọi điện thoại chỉ toàn kể lể với tôi đủ điều, từ chiếc vé khiêu vũ cho đến những cuộc đầu tư... Lúc lên giường ngủ, tôi nghĩ đến việc phải cắt điện thoại và bắt đầu bảo vệ cuộc sống riêng tư của mình.
Lúc 11 giờ, có một người gọi điện cho tôi với ý định tự tử. Nhờ ơn Chúa, tôi đã có thể khuyên can anh ta tự chủ lấy mình. Lúc gác máy tôi cảm tạ Chúa vì tôi chưa cắt điện thoại. Khi trở lại giường ngủ tôi nghĩ đến Chúa Giê-xu và thời gian Ngài sử dụng. Lúc nào cũng có nhiều người đến với Ngài và Ngài đã không từ chối họ. Có lẽ Ngài không hề “cắt đường dây liên lạc” với họ.
Trong đoạn này, Bác sĩ Lu-ca mô tả một đời sống bận rộn của Con Người có lòng thương xót khi Ngài thi hành 4 nhiệm vụ:
1. Sai phái các sứ-đồ (Lu 9:1-11)
• Nhiệm vụ rao giảng (Lu 9:1-6): Trước đó vài tháng, mười hai môn-đệ đã được Chúa chọn ra và đồng hành với Ngài như những người hầu việc. Giờ đây, Chúa sắp sai họ ra đi từng đôi một (Mac 6:7) với nhiệm vụ riêng và thực hành điều họ đã học. Đây là “sự ra đi đơn độc” của họ.
Tuy nhiên, trước khi phái họ đi, Chúa đã trang bị cho họ mọi điều cần thiết để thực hiện nhiệm vụ cũng như dặn dò họ kỹ càng. Đoạn Kinh Thánh tương tự ở Mat 10:1-42 cho thấy 12 sứ-đồ chỉ được sai đến với dân Y-sơ-ra-ên (Lu 9:5-6). Lu-ca không để ý đến chi tiết này vì ông viết sách Phúc-Âm chủ yếu cho người ngoại và muốn nhấn mạnh rằng Phúc-Âm đã loan rộng khắp thế giới.
Quyền năng là khả năng hoàn thành nhiệm vụ, “thẩm quyền” là quyền để thực hiện nhiệm vụ đó. Chúa Giê-xu ban cho các sứ-đồ cả quyền năng và thẩm quyền ấy. Họ có thể đuổi quỷ và chữa bệnh nhưng nhiệm vụ quan trọng nhất Chúa giao họ chính là việc rao giảng Phúc-Âm. Từ “rao giảng” ở Lu 9:6 gợi lên hình ảnh một sứ-giả loan báo thông-điệp của Vua, có nghĩa là: rao giảng Phúc-Âm. Họ chính là những sứ-giả đem Phúc-Âm đến!
Khả năng chữa bệnh của các sứ-đồ là sự ban cho đặc biệt ch ứng thực chức vụ họ (Rô 15:18-19; IICôr 12:12; Hêb 2:1-4). Các phép lạ là chứng cớ Chúa sai họ đi và hành động qua họ (Mac 16:20). Hôm nay chúng ta có thể kiểm nghiệm chức vụ của một người qua lẽ thật của lời Chúa (IGi 2:18-29; IGi 4:1-6). Chỉ có phép lạ thôi sẽ không đủ chứng minh một người nào đó có thực sự được Chúa sai đi hay không, vì Sa-tan có thể khiến các “sứ-đồ giả” làm những dấu kỳ phép lạ (Mat 24:24; IICôr 11:13-15; IITês 2:9-10).
Chúa dạy các sứ-đồ phải mang những gì trên đường đi, đặc biệt Ngài nhấn mạnh về tính khẩn trương và phong cách bình dị họ phải có. Họ không được mang theo bao đựng thực phẩm nhưng phải tin rằng Đức Chúa Trời sẽ mở cửa những gia đình tử tế. Mat 10:11-15 cho biết họ phải chọn những gia đình ra sao nếu người ta không tiếp, các sứ-đồ phải phủi bụi nơi chân họ. Những người Do-thái chính thống cũng làm hành động đó mỗi khi họ rời khỏi địa phận người ngoại (Công 13:51; Lu 10:10-11).
• Sự lo sợ (Lu 9:7-9):
Khi các môn-đệ đã ra đi, Chúa Giê-xu cũng thi hành chức vụ tại Ga-li-lê trong một thời gian (Mat 11:1). Công việc của các sứ đồ gây sự chú ý lớn. Thật vậy, những việc họ làm thậm chí đã được bàn luận giữa các nhà cầm quyền cao cấp nhất! Hê-rốt An-ti-ba (Lu 3:1)là con vua Hê-rốt Đại đế, người sai giết Giăng Báp-tít (Lu 3:19-20; Mat 14:1-12).
Ai đã làm việc lạ lùng dường ấy?
Giăng chưa làm một phép lạ nào (Gi 10:41), nhưng mọi sự có thể thay đổi nếu Giăng s ống lại! Người Do-thái mong mỏi tiên-tri Ê-li xuất hiện, vì vậy có lẽ lời tiên-tri ấy đã được ứng nghiệm (Ma 4:5; Lu 1:17; Mat 11:10-14; Mat 17:11-13). Dĩ nhiên lương tâm Hê-rốt đang bị dằn vặt, ông tự hỏi không biết có phải Đức Chúa Trời đã sai Giăng trở lại đoán phạt ông hay không.
Hê-rốt tìm cách gặp Chúa Giê-xu, nhưng Chúa không giống như “những kẻ nổi danh” thức thời trong tôn giáo, Ngài không cho đó là cơ hội để từ bỏ chức vụ và hoà nhập với tầng lớp quyền cao chức trọng. Ngài gọi vua là “con chồn cáo” và không dễ bị những lời dọa dẫm của vua làm cho khiếp sợ (Lu 13:31-32).
Khi Hê-rốt gặp Chúa Giê-xu lần sau cùng, ông ta hy vọng Chúa sẽ làm phép lạ, nhưng Con Đức Chúa Trời không nói gì và không làm gì. Tên bạo Chúa Hê-rốt đã khiến lời từ Đức Chúa Trời câm nín trước hắn! (Lu 23:6-12)
• Kết luận (Lu 9:10-11): Các sứ-dồ trở về tường thuật sôi nổi nhiệm vụ họ cho Chúa nghe. Ngài khuyên họ tẻ ra để nghỉ ngơi (Mac 6:30-32).
Diễn giả nổi tiếng Vance Harner có lần đã nói: “Nếu không tẻ ra và nghỉ ngơi, chúng ta sẽ tách rời nhau”. Nhiệm vụ rao giảng và chữa bệnh của các sứ-đồ đòi hỏi nhiều nỗ lực, vì vậy họ cần có thời gian tịnh dưỡng về thể chất và tinh thần. Những tín-hữu hầu việc Chúa bận rộn hoặc quá sức nên xem đây là gương điển hình để noi theo.
Bị thu hút bởi những phép lạ Chúa làm, đoàn dân không rời Chúa nhưng cứ đi theo Ngài qua các thành. Khi Chúa cùng 12 sứ-đồ cập thuyền vào bờ, đoàn dân đã có mặt tại đó để gặp Ngài. Chúa động lòng thương xót họ và cứu giúp họ (Mat 14:13-14). Con Người không có một ngày nghỉ ngơi!
2. Nuôi đoàn dân đông (Lu 9:12-17)
Chúa chúng ta không thuộc loại người chỉ biết giảng đạo và nói với kẻ đói khát rằng hãy đi cho bình an. “Hãy sưởi cho ấm và ăn cho no!” (Gi 2:16). Các môn-đệ quá sốt ruột nên chỉ nhìn thấy đoàn dân đông (Lu 18:15 Mat 15:23), họ chưa hiểu được sự thương xót của Chúa Giê-xu và trách nhiệm Ngài đối với đoàn dân. Nhưng sẽ có một ngày họ thấu hiểu tường tận về Ngài.
Nếu bạn xem phép lạ này ở các sách Phúc-Âm, bạn sẽ thấy Chúa hỏi Phi-líp trước tiên về nơi mua thức ăn cho đoàn dân đông (Gi 6:5) Ngài chỉ muốn thử đức tin Phi-líp, “Ngài đã biết điều Ngài sẽ làm rồi” (Gi 6:6). Những lúc gặp khủng hoảng trong cuộc sống, khi nguồn “dự trữ” của bạn cạn kiệt nhưng trách nhiệm lại quá lớn, đó là lúc bạn nên biết rằng Đức Chúa Trời sẽ sẵn sàng giải quyết nan đề của bạn.
Chúa bắt đầu hành động từ những gì các môn-đệ có, Anh-rê phát hiện ra 5 cái bánh và 2 con cá do một cậu bé quyên góp rộng rời. Anh-rê có biết cậu bé này không? Có phải cậu bé đã tự nguyện dâng hết phần ăn trưa nhỏ bé của cậu? Trước khi chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời thực hiện những việc ngoài khả năng mình, hãy bắt đầu từ những việc ta có thể làm được và dâng cho Ngài những gì ta có. Khi đó, hãy cảm tạ Ngài vì có những người mẹ cho con mình những thứ để dâng Chúa.
Chúa ngước mặt lên trời, nguồn cung cấp thực phẩm hằng ngày cho chúng ta (Mat 6:11), cảm tạ, chúc phước trên thức ăn và khiến 5 cái bánh với 2 con cá trở nên đầy dẫy. Chúa Giê-xu là “nhà sản xuất”, còn các môn-đệ như những “nhà phân phối”. Điều kỳ lạ đã xảy ra, mọi người đều được phục vụ và thỏa lòng, lại có dư ra 12 giỏ bánh thừa, mỗi giỏ dành cho từng môn-đệ. Chúa Giê-xu chăm lo cho tôi tớ Ngài thật chu đáo!
Phép lạ này thật ý nghĩa nhưng nó không chỉ bày tỏ sự thương xót đối với những kẻ đói khát mà còn là dấu hiệu về Đấng Cứu Thế - Chúa chúng ta, bày tỏ sự ban phát nhân từ của Đức Chúa Trời để cứu con người. Ngày hôm sau, Chúa giảng về “bánh của sự sống” và kêu gọi mọi người tin nhận Ngài như họ đã nhận bánh (Gi 6:22-59). Họ quan tâm đến bọn trẻ hơn linh hồn và hoàn toàn không hiểu ý nghĩa thuộc linh của phép lạ này. Họ muốn tôn Ngài làm vua để Ngài ban bánh nuôi họ đến cuối đời (Gi 6:14-15).
Sau khi Chúa Giê-xu thăng thiên, có lẽ các môn-đệ thường được yên ủi khi nhớ đến phép lạ ấy. Phép lạ Chúa làm dạy họ phải có lòng thương xót, nhìn nan đề như cơ hội để Đức Chúa Trời hành động, dâng cho Ngài những gì họ có và tin rằng Ngài sẽ đáp ứng nhu cầu. Nếu chúng ta làm những việc trong khả năng mình, Chúa sẽ hành động và thực hiện phần còn lại. Corrie Ten Boom nói rằng: “Hãy để những lời hứa của Đức Chúa Trời soi sáng trên những nan đề của bạn”. Đó là lời khuyên hữu ích cho chúng ta.
3. Dạy dỗ (Lu 9:18-36)
Ở Phúc-âm Lu-ca, sự kiện Chúa nuôi đoàn dân đông chấm dứt công việc gọi là “chức vụ của Người Ga-li-lê vĩ đại” (Lu 4:14-9:17). Giờ đây, Chúa Giê-xu bắt đầu cuộc hành trình đến Giê-ru-sa-lem (Lu 9:51; Lu 13:22; Lu 17:11; Lu 18:31; Lu 19:11,28).
Đây có lẽ là thời gian Ngài và các môn-đệ nghỉ ngơi vì Ngài muốn chuẩn bị cho họ công việc sắp tới. Ở sách Công-vụ cũng có một đoạn tương đương nói về hành trình sau cùng của Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem. Trong cả 2 sách, chúng ta có “câu chuyện hai thành phố”. Trong Lu-ca từ Na-xa-rét đến Giê-ru-sa-lem và ở Công-vụ là từ Giê-ru-sa-lem đến Rô-ma.
Trong phân đoạn này, Chúa dạy các môn-đệ 3 bài học cơ bản về Thân vị, sự hy sinh và Vương quốc của Ngài.
(1). Thân vị Chúa Giê-xu (Lu 9:18-21):
Nếu bất cứ ai trong chúng ta hỏi bạn hữu về những gì người khác nói về mình, đó chính là biểu hiện của sự kiêu ngạo, nhưng đối với Chúa Giê-xu thật không phải thế. Mọi người nên biết rõ Chúa Giê-xu là ai, vì những gì chúng ta nghĩ về Chúa sẽ quyết định số phận đời đời của mình (Gi 8:24; IGi 4:1-5). Không thể nhầm lẫn về Chúa Giê-xu mà vẫn đúng với Đức Chúa Trời được.
Chúa Giê-xu cầu nguyện cả đêm trước khi chọn 12 sứ-đồ (Lu 6:12-13) và bây giờ Ngài cũng cầu nguyện trước khi các môn-đệ xưng nhận đức tin họ. Đã có những dư luận khác nhau về Chúa (Lu 9:7-8) nhưng các môn-đệ Chúa phải có những sự xác tín. Phi-e-rơ là người đại diện các môn-đệ đưa ra chứng cớ xác thực về thần tính của Chúa Giê-xu Christ. Đây là lần thứ 2 Phi-e-rơ công khai xưng nhận Đấng Christ (Gi 6:68-69). Ngoại trừ Giu-đa (Gi 6:70-71), tất cả các môn-đệ đều có đức tin nơi Chúa Giê-xu.
Chúa nghiêm cấm họ không được đồn đãi ra lẽ thật này. Trước hết thông-điệp về Đấng Christ không thể bị tách rời khỏi sự chết và sự phục sinh của Ngài. Ngài sắp cho họ biết thông-điệp này. Họ phải mất nhiều thời gian để hiểu rõ bài học mới mẻ này và sau khi Chúa Phục sinh họ mới thật sự hiểu hết ý nghĩa bài học (Lu 24:44-48).
Người Do-thái bấy giờ chỉ xem Chúa Giê-xu như người chữa bệnh và dạy dỗ đầy ơn. Nếu các sứ-đồ bắt đầu rao giảng rằng Chúa thật sự là Đấng Christ, có lẽ trong dân chúng sẽ nổi lên cuộc dấy loạn chống lại Rô-ma.
(2). Sự hy sinh (Lu 9:22-26):
Trước đây Chúa từng nói trước về sự chết hy sinh của Ngài một cách gián tiếp, nhưng giờ đây Ngài dạy môn-đệ lẽ thật này cách rõ ràng. Giăng giới thiệu Chúa là “Chiên Con của Đức Chúa Trời” (Gi 2:19). Chúa so sánh chính Ngài với con rắn trong đồng vắng (Gi 3:14) và với tiên-tri Giô-na (Mat 12:36-40) để báo trước về sự thương khó và sự chết của Ngài.
Trong Lu-ca, có 3 lần Chúa báo trước về sự thương khó của Ngài ở thành Giê-ru-sa-lem và đây là lời tuyên bố đầu tiên của Ngài (Lu 9:43-45; Lu 18:31-34). Các môn đệ thật sự không hiểu Chúa muốn nói gì, một phần do họ thiếu đức tin và chưa trưởng thành, phần khác do Đức Chúa Trời đã giấu khỏi họ để không hiểu lẽ thật này. Ngài chỉ dạy họ khi nào họ đã đủ sức nhận lấy lẽ thật (Gi 16:12). Có lẽ đây là một cú sốc khi các môn-đệ biết rằng các chức sắc tôn giáo của họ sẽ giết chính Chúa mình.
Chúa không dừng lại ở lời báo trước về sự chết của Ngài, Ngài cũng tuyên bố công khai về “thập tự giá” dành cho mỗi môn đệ. Phúc-âm Ma-thi-ơ cho ta biết đây là điều rất cần thiết vì Phi-e-rơ có ý muốn ngăn cản Chúa chịu thương khó (Mat 16:22).
Hãy nhớ rằng Chúa đang nói về địa vị “môn-đệ” chớ không phải địa vị làm “con”. Chúng ta được cứu rỗi không phải vì đã vác thập tự và theo Chúa Giê-xu, nhưng vì chúng ta tin Đấng Christ đã gánh thay tội lỗi ta trên thập tự. Sau khi trở nên con cái Đức Chúa Trời, chúng ta mới có thể trở thành môn-đệ Chúa.
Hiện nay, từ tương đương với “môn-đệ” có lẽ là “người học việc”. Môn-đồ không phải chỉ là người học qua những bài giảng và sách vở, nhưng người ấy phải học bằng cách sống và cộng sự với thầy mình qua kinh nghiệm hằng ngày. Rất nhiều tín-hữu chỉ muốn nghe giảng đạo để có thêm hiểu biết chớ không bao giờ thực hành những điều đã nghe.
Đến với dân La-mã, thập tự giá là biểu tượng của sự sỉ nhục, tội lỗi, đau đớn và bị ruồng bỏ. Không có cái chết nào nhục nhã hơn thế. Hình phạt đóng đinh chẳng còn được nói đến trong giới học thức và người ta cũng không còn nghĩ đến việc phải áp dụng hình phạt này cho dân họ cũng như chúng ta ngày nay không nghĩ đến việc ngồi vào những chiếc “ghế điện” bằng vàng hoặc bằng bạc! Chúa đặt ra những yêu cầu nghiêm túc đối với môn-đệ Ngài.
Chúng ta trước hết phải biết nói “không”với chính mình, không chỉ đối với những thú vui hoặc của cải vật chất, nhưng còn đối với “cái tôi” của mình - sau đó hãy vác thập tự mình và theo Chúa mỗi ngày. Làm như vậy có nghĩa là chúng ta sẽ đồng công với Ngài qua sự dâng mình, chịu khổ và hy sinh. Bạn không thể “đóng đinh” chính mình, bạn chỉ có thể “dâng thân thể mình” (Rô 12:1-2) và để Đức Chúa Trời thực hiện phần còn lại.
Dĩ nhiên, đối với thế gian, cách sống này dường như dại dột. Nhưng đối với Cơ-đốc nhân, đó là sự khôn ngoan. Cứu sự sống mình, bạn sẽ mất nó, vậy làm sao có thể tìm lại được sự sống? Nhưng nếu bạn dâng đời sống mình cho Đấng Christ, bạn sẽ giữ được sự sống ấy và có thể sống với đầy đủ ý nghĩa của nó. Nếu một người có cả thế gian, anh ta vẫn còn rất nghèo và không thể mua lại sự sống đã mất.
Địa vị môn-đệ Chúa là kết quả của sự rèn luyện hằng ngày: theo Chúa từng bước, từng ngày. Có một phụ nữ sau khi quét dọn mệt nhọc, đã nói với bạn mình rằng: “Rắc rối của cuộc sống chính ở chỗ nó cứ lặp lại mỗi ngày”. Người phụ nữ này đã suy nghĩ sai lệch. Một trong những điều tốt nhất cho cuộc sống, đó là chúng ta có thể giữ nó từng ngày từng giờ (Phuc 33:25).
Động cơ của chúng ta phải hướng về sự tôn vinh Đấng Christ. Nếu ai hổ thẹn về Ngài, sẽ chẳng bao giờ vác nổi thập tự giá và theo Ngài. Nếu chối từ Ngài, chúng ta sẽ bị chối từ trong ngày Chúa trở lại (Mac 8:38; IITim 2:11-13) và bị hổ thẹn trước mặt Ngài (IGi 2:28).
(3). Vương quốc của Chúa (Lu 9:27-36): Theo sự ghi chép của Phúc-âm Lu-ca sự hóa hình là sự kiện duy nhất xảy ra trong thời gian Chúa Giê-xu thi hành chức vụ trên đất, Chúa bày tỏ sự vinh hiển qua Thân vị Ngài.
Tuy không sử dụng từ “hóa hình”, nhưng Lu-ca đã tường thuật lại một diễn biến tương tự (Mat 17:12; Mac 9:2). “Hóa hình” có nghĩa như thay đổi hình dáng, phát sinh từ bên trong.
Đằng sau sự kiện này, có nguyên nhân nào không? Trước hết, đây là dấu hiệu Đức Chúa Trời hài lòng khi Phi-e-rơ xưng nhận Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời (Gi 1:14). Đó cũng là cách Cha trên trời yên ủi Con Ngài khi Chúa Giê-xu bắt đầu đến Giê-ru-sa-lem.
Đức Chúa Trời đã phán xuống khi Chúa Giê-xu chịu phép báp-têm (Lu 3:22) và Ngài đã phán lần nữa trong tuần lễ cuối cùng Chúa Giê-xu thi hành chức vụ trên đất (Gi 12:23-28). Kết quả của thập tự giá khổ nạn là mão triều thiên vinh hiển, đó là bài học mà Phi-e-rơ đã nhấn mạnh trong thư tín đầu tiên của ông (IPhi 4:12-5:4).
Lời Chúa Giê-xu phán trong Lu 9:27 cho thấy sự kiện này đã minh chứng cho sự thực hữu của Vương quốc Đức Chúa Trời. Điều này dường như rất có lý, vì các môn-đệ cứ ngờ vực về Vương quốc Đức Chúa Trời do đã nghe Chúa Giê-xu phán về thập tự giá (Chúng ta không nên quá khe khắt với họ, vì các tiên-tri cũng từng hoang mang bối rối như vậy – IPhi 1:10-12). Chúa khiến họ vững tin rằng mọi hứa ngôn trong Cựu-ước sẽ ứng nghiệm, nhưng trước hết Chúa phải chịu đau đớn trước khi Ngài có thể bước vào sự vinh hiển (IIPhi 1:12-21).
Ở đây cũng có một bài học thực tiễn khác, chúng ta có thể từng trải sự “biến hóa” thuộc linh mỗi ngày khi bước đi theo Chúa. Rô 12:1-2 và IICôr 3:18 cho ta biết phải làm gì để kinh nghiệm “sự biến hóa” ấy. Khi chúng ta dâng thân thể, tâm trí và ý chí mình cho Chúa, Ngài sẽ biến đổi chúng ta hầu cho chúng ta không bị lệ thuộc vào thế gian nữa.
Khi ngắm xem Chúa qua Lời Ngài (“gương”), chúng ta sẽ được Đức Thánh Linh biến hóa “từ vinh hiển” qua vinh hiển. Theo nghĩa thần học, từng trải này được gọi là “sự thánh hóa”. Chúng ta sẽ trở nên giống Đức Chúa Giê-xu Christ hơn qua từng trải đó. Sự thánh hóa chính là mục đích Đức Chúa Trời muốn dành cho mỗi con cái Ngài (Rô 8:19; IGi 3:2). Nên nhớ rằng Chúa chúng ta luôn thường xuyên cầu nguyện, đó là một trong những bí quyết để có một đời sống được đổi mới.
Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng đã cùng đi với Chúa Giê-xu khi Ngài khiến con gái Giai-ru sống lại (Lu 8:51) và họ cũng theo Ngài khi Ngài cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê (Mat 26:36-46).
Ba sự kiện này nhắc tôi nhớ lại câu Kinh Thánh ở Phi 3:10 “...cho đến nỗi tôi được biết Ngài (sự hóa hình), và quyền phép sự sống lại của Ngài (khiến con gái Giai-ru sống lại), và sự thông công thương khó của Ngài (trong vườn Ghết-sê-ma-nê). ..”
Có thể đây là “cuộc hội đồng Kinh Thánh” lớn nhất trên đất từ trước đến nay! Thậm chí dù không kể đến sự vinh hiển rực rỡ ấy. Bạn cũng có những “diễn giả” tuyệt vời nhất, đó là: Môi-se đại diện cho luật-pháp, Ê-li đại diện cho các tiên-tri.
Và Chúa Giê-xu Đấng đến thế gian để làm trọn luật-pháp và lời tiên-tri. Bạn còn có một chủ đề quan trọng nhất: sự chết của Chúa Giê-xu, Ngài sẽ chịu thương khó tại Giê-ru-sa-lem.
Môi-se đã từng giải thoát dân sự khỏi ách nô lệ của Ai-cập, tiên tri Ê-li đã giải phóng họ khỏi xiềng xích trói buộc của tà thần, nhưng chính Chúa Giê-xu sẽ chịu chết để giải thoát một thế giới hư mất khỏi ách tội lỗi và sự chết (Ga 1:4; Côl 1:13; Hêb 2:14-15). Khi mọi điều đang diễn tiến thì ba vị môn-đệ có đặc ân kia lại đang say ngủ! (Họ đã lặp lại sự thất bại này trong vườn Ghết-sê-ma-nê).
Lời đề nghị của Phi-e-rơ nhắc ta nhớ đến “lễ Lều Tạm” của người Do-thái được chép trong Thánh Kinh Cựu-ước nói về Vương Quốc Đức Chúa Trời trong tương lai (Lê 23:33-44; Xa 14:16-21). Phi-e-rơ chỉ muốn Chúa Giê-xu nhận lấy sự vinh hiển mà không trải qua sự thương khó, nhưng đó không phải là chương trình của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời ngắt lời Phi-e-rơ bằng cách khiến một đám mây vinh hiển bao phủ (Xu 13:21-22; Xu 40:35,38) và phán ra từ đám ấy (Phi-e-rơ cũng bị ngăn trở bởi Chúa Giê-xu (Mat 17:24-27) và Đức Thánh Linh (Công 10:44) . Lời phán kỳ diệu từ trời nhắc ta những câu Kinh Thánh ở Phuc 18:15; Thi 2:7; Ês 42:1. Khi đám mây tan đi, Ê-li và Môi-se cũng lìa khỏi đó.
Những sự kiện này thật kỳ diệu, nhưng đó không phải là nền tảng cho một đời sống Cơ-đốc nhân nhất quán. Đời sống ấy chỉ có thể đến từ Lời Đức Chúa Trời. Kinh nghiệm sẽ đến rồi đi, nhưng Lời Chúa còn tồn tại mãi mãi. Ký ức của chúng ta về những từng trải sẽ phai nhạt nhưng Lời Đức Chúa Trời chẳng bao giờ thay đổi.
Chúng ta c àng nắm giữ nhiều sự kiện, nó càng khiến đời sống chúng ta ít có ảnh hưởng hơn.
Đó là lý do Đức Chúa Trời phán: “Hãy nghe Người” và cũng là nguyên nhân Phi-e-rơ lặp lại lời này trong thư tín của ông (IIPhi 1:12-21) “sự hóa hình” của bản thân chúng ta do sự đổi mới từ bên trong (Rô 12:1-2) và sự đổi mới ấy do Lời Đức Chúa Trời (IICôr 3:18).
4. Chịu đựng (Lu 9:37-62)
“Ta ở với các ngươi và nhịn các ngươi cho đến chừng nào?” (Lu 9:41). Có thể bạn tưởng đây là lời trách cứ của một ông thầy dạy học quá sức hoặc của một tướng chỉ huy thiếu kiên nhẫn. Đây là lời trách của Con Đức Chúa Trời thánh khiết! Chúng ta dễ quên Chúa đã phải chịu thương khó ra sao khi thi hành chức vụ trên đất, đặc biệt Ngài phải chịu đựng các môn-đệ mình.
Khi phân tích phân đoạn này, bạn có thể hiểu lý do Chúa phán những lời như vậy: Ngài buồn bực bởi những yếu đuối thất bại của các môn-đệ.
“Ngài ban cho họ quyền phép trừ quỷ” (Lu 9:37-45), vậy mà đức tin họ quá yếu đuối đến nỗi chẳng trừ được một quỷ nào.
Khi nuôi 5.000 người, Ngài bày tỏ cho họ thấy sự thương xót, nhưng họ lại có thái độ ích kỷ và không có tình yêu thương (Lu 9:46-56). Ngài dạy họ về ý nghĩa của việc theo Ngài, nhưng những kẻ tình nguyện ấy lại trở thành những môn-đệ chỉ nghĩ đến bản thân trước tiên (Lu 9:57-62). Lẽ dĩ nhiên Chúa đã phải chịu khổ vì thái độ của họ!
• Thiếu quyền năng (Lu 9:37-45):
Chúng ta thật chẳng dám ở trên đỉnh núi vinh quang khi ở dưới thung lũng có chiến trận đang xảy ra! Có một “con một” cần được Chúa cứu giúp và còn nhiều con trẻ khác nữa, nhưng các môn-đệ chẳng làm được gì. Họ đã được ban cho quyền phép (Lu 9:1), nhưng không đắc thắng.
Vì sao như vậy? Nếu bạn xem sự kiện này ở ba sách Phúc-Âm (Mat 17:1-23 Mac 9:1-32), bạn sẽ khám phá những điều họ thiếu sót trong cuộc sống. Trước hết, họ thiếu đức tin (Mat 17:19-20). Họ vốn sinh ra từ dòng dõi vô tín và đã thiếu niềm tin khi sử dụng quyền năng Chúa ban. Hơn nữa, họ cũng thiếu sự cầu nguyện và kiêng ăn (Mac 9:29).
Điều này chứng tỏ 9 môn-đệ còn lại đã để mặc cho những thành quả rèn luyện bấy lâu của họ bị sa sút dần trong thời gian ngắn vắng Chúa. Cho dù chúng ta có thể nhận bất cứ sự ban cho thuộc linh nào đi nữa, những sự ban cho đó tự nó chẳng bao giờ hành động tự động cả.
Ma quỷ cố vật ngã người bệnh lần cuối nhưng Chúa Giê-xu quở nặng nó và đuổi nó ra. Chúa dịu dàng trao đứa con trai lại cho cha nó và đem 12 môn-đệ đi với Ngài để dạy họ bài học khác về Thập tự giá. Chính tại thập tự giá, Chúa đã khiến Sa-tan nếm mùi thất bại thảm hại (Gi 19:31-32; Côl 2:15).
• Thiếu tình yêu (Lu 9:46-56):
Các môn đệ chẳng có sự yêu thương lẫn nhau, lẽ ra không nên tranh cãi vấn đề ai là người cao trọng nhất (Lu 9:46-48). Có lẽ sở dĩ có cuộc tranh luận này là do họ có lòng đố kỵ (khi ba môn-đệ được ở cùng Chúa trên núi), hoặc do họ kiêu ngạo (vì chín môn-đệ còn lại đã thất bại trong việc đuổi quỷ). Trước đó, Chúa cũng đòi đóng thuế cho Phi-e-rơ (Mat 17:24-27), điều này có thể khơi lên sự ghen tị nào đó.
Trong Nước Thiên đàng, mẫu mực của sự cao trọng chính là con trẻ - yếu đuối, cần được giúp đỡ, cô thế, sống bởi đức tin mà thôi. Con trẻ mà cố gắng hành động như người lớn, đó là điều không hay. Nhưng “người lớn” lại hành động như trẻ con, thì càng tồi tệ hơn (ICôr 13:4-5; ICôr 14:20) Hành động như con nít và tính hồn nhiên như con trẻ là hai tính cách khác nhau hoàn toàn.
Các môn-đệ bày tỏ sự thiếu yêu thương đối với những người tin Chúa không cùng nhóm họ (Lu 9:49-50). Sự yêu thương là điều cần có nơi những “con trai của sấm sét” (Mac 3:17)! Có lẽ Giăng cố “chiếm cảm tình” Chúa khi hăng hái bảo vệ danh Chúa, nhưng Chúa không hề cảm động về điều đó. Những tín-hữu nào cho rằng nhóm của họ là nhóm duy nhất được Chúa thừa nhận và ban phước sẽ thấy thất vọng khi vào thiên đàng.
Các môn-đệ cũng không yêu thương kẻ thù (Lu 9:51-56). Gia-cơ và Giăng đã thấy tiên-tri Ê-li trên núi, nên họ cho rằng có thể “bắt chước” Ê-li khiến lửa từ trời giáng xuống (IIVua 1:1-18)! Dân Sa-ma-ri và dân Do-thái đã thù nhau hằng bao thế kỷ trước (IIVua 17:24-41), nên có thể hiểu rằng làng của người Sa-ma-ri này không tiếp Chúa Giê-xu khi Ngài trên đường đến Giê-ru-sa-lem (Gi 4:9,20). Chúa trách mắng lòng thù hận của họ, đoạn Ngài đến một làng khác (Mat 5:37-38). Sau này Phúc-Âm đã đến với xứ Sa-ma-ri (Công 8:11-40).
• Vô kỷ luật (Lu 9:57-62):
Lẽ ra đã có ba người trở thành môn-đệ Chúa, nhưng họ chẳng đáp ứng được những điều kiện Chúa đưa ra.
Người đầu tiên là một thầy thông giáo (Mat 8:19), ông tình nguyện theo Chúa nhưng đã thối lui khi biết cái giá phải trả là sự dấn thân.
Hiển nhiên, ông không thể theo Chúa được vì đã quen với những tiện nghi vật chất. Người thứ hai được Chúa Giê-xu gọi (thật hân hạnh thay!) nhưng đã bị loại bỏ vì không bằng lòng vác thập tự giá và chết với bản ngã.
Anh ta lo lắng cho tang lễ kẻ khác trong khi phải quyết định cho chính bản thân mình! Chúa không có ý nói rằng chúng ta không kính cha mẹ, Ngài chỉ muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đừng để cho tình yêu gia đình lấn át tình yêu dành cho Chúa.
Chúng ta phải yêu mến Chúa nhiều đến mức độ nếu đem so sánh với tình yêu dành cho gia đình, dường như chúng ta không tôn trọng người trong gia đình hơn (Lu 14:26)! Người thứ ba cũng tình nguyện theo Chúa nhưng không được, vì anh ta “ngó lại đằng sau” thay vì phải nhìn về phía trước. Lời giã biệt thân thương với người nhà không có gì sai trái (IVua 19:19-21) nhưng nếu nó làm “cản trở” sự vâng phục, đó sẽ là tội.
Chúa biết rằng tấm lòng người này không dành trọn cho Ngài nhưng còn nhìn lại mọi sự ở phía sau (Sa 19:17,26; Phi 3:13-14). Đó là lý do chẳng có gì ngạc nhiên khi “người làm công” quá ít! (Lu 10:2).
Có lẽ điều Chúa dạy môn đệ và đoàn dân đã ít nhiều gây dựng được họ. Họ thiếu năng lực, thiếu tình yêu, kỷ luật và làm buồn lòng Chúa. Nếu chúng ta hôm nay cũng thiếu những yêu cầu thuộc linh này, chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở thành môn đệ thật sự của Chúa Giê-xu cả. Tuy vậy, khi đến với Chúa, chúng ta sẽ có mọi sự đó, “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu giè giữ” (IITim 1:7). Chúng ta đang làm Chúa vui lòng hay buồn bực?
9. CƠ-ĐỐC NHÂN LÀM GÌ GIỮA THẾ GIAN (Lu 10:1-42)
Ba sự kiện ở đoạn 10 cho ta thấy có ba nhiệm vụ mà mỗi Cơ-đốc nhân phải thực hiện, đó cũng là giải đáp cho câu hỏi “Cơ-đốc nhân làm gì giữa thế gian?”
Trước hết, chúng ta là đại sứ của Chúa được Ngài sai đi giữa thế gian để đại diện cho Ngài (Lu 10:1-24). Chúng ta cũng là người lân cận tìm cơ hội bày tỏ sự thương xót trong danh Đấng Christ (Lu 10:25-37). Tuy vậy, trọng tâm của nhiệm vụ chúng ta là phải sống cho Đấng Christ, nên chúng ta phải là những người thờ phượng chúa, dành thời gian lắng nghe lời Ngài và giao thông với Ngài (Lu 10:38-42).
Dù đang ở nơi cánh đồng mùa gặt, ngoài đường phố hay tại nhà riêng, đặc quyền lớn lao nhất và niềm vui tuyệt vời nhất của chúng ta là thực hiện ý muốn Đức Chúa Trời.
1. Đại sứ: đại diện Chúa (Lu 10:1-24)
Đừng nhầm lẫn sự kiện này với sự kiện 12 sứ đồ được Chúa sai đi (Lu 9:1-11; Mat 10:1-42). Có những điểm giống nhau trong nhiệm vụ được giao và đây là điều bình thường vì cả hai nhóm đều được một Chủ sai đi để thi hành cùng một công tác.
Mười hai sứ đồ thi hành chức vụ ở Ga-li-lê, nhưng 70 môn đệ này được sai đến xứ Giu-đê. Trong đoạn này, họ không được gọi là “sứ-đồ”, họ là những “môn-đệ vô danh”.
Vì sao Lu-ca là người duy nhất chép lại sự kiện này?
Vì sao Chúa Giê-xu chọn 70 người chớ không phải một con số khác? (Có một số bản văn dịch là 72 người). Mười hai sứ- đồ được chọn lựa ứng với số 12 con trai Gia-cốp và 12 chi phái trong Y-sơ-ra-ên. Do đó, có thể 70 môn-đệ được chọn ra ứng với 70 dân tộc được kể tên trong Sa 10:1-32 Lu-ca nhấn mạnh về tính phổ biến của Phúc-Âm, vì vậy thật hữu lý khi Đức Thánh Linh dẫn dắt ông trong việc ghi lại sự kiện này. Điều này có ý nghĩa như “Chúa Giê-xu muốn Phúc-Âm được rao ra cho mọi dân tộc”.
• Sự giải thích (Lu 10:1-12):
Những môn đệ này tuy không được gọi là “các sứ-đồ” nhưng họ vẫn được sai đi với nhiệm vụ đại diện Chúa. Họ thật sự là những đại sứ của Vua Thiên đàng. Ngài không những sai họ đi mà còn giao họ nhiệm vụ “dọn đường” cho Ngài. Thật hân hạnh khi họ được Chúa kêu gọi!
• Việc kêu gọi của họ cũng thật khó khăn (Lu 10:2). “Gặt” là công việc nặng nhọc, dù có nhiều người giúp bạn huống chi những người này được sai vào một đồng lúa mênh mông nhưng quá ít con gặt giúp họ thu hoạch vụ mùa lớn. Thay vì cầu xin một công việc dễ hơn, họ phải xin có nhiều người hơn nữa để cùng cộng tác với họ. Hôm nay, chúng ta cũng cần cầu nguyện như vậy. (Hãy nhớ rằng chính người làm công chớ không phải những người đứng “nhìn” và cầu xin có thêm nhiều người làm công nữa! Rất nhiều tín hữu cũng đang cầu xin có thêm người làm công việc mà bản thân họ không muốn làm).
• Sự kêu gọi của họ rất nguy hiểm.
Khi “lấn chiếm” lãnh thổ kẻ thù (Lu 10:17), họ sẽ như những “chiên con giữa bầy muông sói” (Lu 10:3). Nhưng bao lâu họ còn tin cậy nơi Chúa, họ sẽ đắc thắng luôn. Vance Havner thường chia sẻ rằng: “Bất cứ ai sống cho Chúa Giê-xu cách nghiêm túc đều trở thành mục tiêu tấn công của ma quỷ. Đa số các tín hữu trong Hội thánh chưa gây rắc rối cho Sa-tan đủ để khơi dậy sự chống trả của nó!”
Các môn-đệ cần có kỷ luật bản thân và đức tin để thi hành nhiệm vụ (Lu 10:4-8). Họ phải làm việc khẩn trương. Chúa không muốn họ bị vướng bận với những vấn đề hoặc trễ nãi trên đường đi bởi những lời chào hỏi quá trau chuốt kiểu Đông phương. Họ phải tin rằng Đức Chúa Trời sẽ chu cấp mọi sự cho họ. Họ cũng không nên e ngại khi nhận sự giúp đỡ của kẻ khác. Trái lại, họ đang hầu việc Chúa và đem ơn phước đến từng gia đình, cho nên “người làm công đáng được tiền lương mình” (Lu 10:7; ICôr 9:14; ITi 5:18).
Họ là những đại sứ hòa bình, đem sự chữa lành đến cho kẻ bệnh hoạn, sự giải thoát cho kẻ bị trói buộc khỏi ma quỉ và Phúc-Âm cứu rỗi cho tội nhân hư mất. Giống như đoàn quân của Giô-suê khi xưa, họ là những người tiên phong loan báo sự hòa bình cho các thành phố. Nếu thành phố nào khước từ hoà bình, tức là chọn cho mình sự đoán phạt (Phuc 20:10-18). Thật nguy hiểm thay khi khước từ các sứ giả của Đức Chúa Trời!
Chúng ta cần biết rằng quyền năng đặc biệt Chúa Giê-xu ban cho mười sứ-đồ (Lu 9:1) và 70 môn-đệ không phải là những gì chúng ta tuyên bố hôm nay. Nhiệm vụ rao giảng của họ rất đặc biệt, và Chúa cũng không hứa ban cho họ sự sống lâu. Nhiệm vụ Chúa giao mỗi chúng ta chính là rao truyền Phúc-Âm chớ không phải làm phép lạ (Mat 28:19-20; Lu 24:46-49).
• Lời buộc tội (Lu 10:13-16):
Dường như đây là ngôn ngữ sắc bén từ môi miệng Con Đức Chúa Trời, chúng ta chẳng dám bỏ qua cũng không thể giải thích khác đi. Ngài kể tên ba thành phố cổ đã bị Đức Chúa Trời đoán phạt, đó là thành Sô-đôm (Sa 19:1-38) Ty-rơ và Si-đôn (Exe 26-28; Es 23:1-18). Ngài dùng ba thành phố đó để cảnh cáo ba thành phố đương thời: Cô-ra-xin, Bết-sai-đa và Ca-bê-na-um. Ba thành phố này đã hưởng nhiều đặc ân hơn ba thành phố xưa nên phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. nếu Sô-đôm, Ty-rơ và Si-đôn từng bị phá huỷ, lẽ nào Cô-ra-xin, Bết-sai-đa và Ca-bê-na-um có thể thoát được?
Nghe lời sứ giả của Đấng Christ nghĩa là nghe Lời Ngài, khước từ những người Ngài sai đi cũng đồng nghĩa với việc khước từ Ngài. “Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy” (Gi 20:21; IICôr 5:18-21). Một quốc gia đối xử với một vị đại sứ như thế nào sẽ nói lên cách quốc gia đó đối xử ra sao với chính quyền được vị đại sứ đại diện. Để có thêm một ví dụ minh hoạ đầy thú vị cho lẽ thật này, mời bạn đọc sách IISa 10:1-19.
• Sự vui mừng (Lu 10:17-24):
Ở đây có cả ba niềm vui, niềm vui trong sự hầu việc (Lu 10:17-19), niềm vui trong sự cứu rỗi (Lu 10:20) và niềm vui trong đặc ân (Lu 10:21-24) Chúa ban.
Chúng ta có thể hiểu các môn đệ vui mừng biết bao khi trở về thuật lại những thành quả của họ cho Chúa nghe. Ngài đã ban cho họ quyền phép để chữa bệnh, đuổi quỉ và rao giảng lời Chúa. Họ đã thành công! Nhưng trong sự vui mừng, họ không quên tôn vinh danh Đức Chúa Trời (“vì danh Chúa” (Lu 10:17). Các môn đệ thành công trong chức vụ họ từ thành này đến thành khác. Đối với Chúa, những thành quả này là một phần của cuộc chiến đánh bại Sa-tan (Es 14:4-23; Gi 12:31-32; Kh 12:8,9).
Là những người tin Chúa, “dù bản thân chúng ta yếu đuối, nhưng chúng ta có thể mạnh mẽ nhờ sức toàn năng của Ngài” (Eph 6:10). Mỗi thành quả đạt được đều rất quan trọng đối với Chúa, dù dưới mắt chúng ta đôi khi nó chẳng có ý nghĩa gì. Vào ngày sau-rốt Sa-tan mới bị Chúa Giê-xu quăng vào hồ lửa đời đời (Kh 20:10), nhưng ngay hôm nay con cái Đức Chúa Trời bởi đức tin có thể tuyên bố sự đắc thắng của Đấng Christ tại Gô-gô-tha (Co 2:15).
Tuy vậy, kẻ thù sẽ không chịu đầu hàng! Sa-tan chắc chắn sẽ tấn công các tôi tớ Chúa và tìm dịp tiêu diệt họ. Đó là lý do Chúa thêm lời yên ủi trong Lu 10:19.Ngài bảo đảm với họ rằng quyền phép họ nhận được sẽ không bị mất đi hầu cho sau khi hoàn thành công tác rao giảng, họ có thể giày đạp “con rắn xưa” mà chẳng hề sợ hãi (Kh 12:9; Sa 3:15).
Chúa dặn các môn đệ chớ vui mừng vì những thành tích đạt được, nhưng nên vui mừng vì tên họ đã được “ghi” trên thiên đàng. (Đây là một lời bảo đảm – Kh 20:12-15; Phi 4:3). Cùng kỳ diệu như các phép lạ môn đệ Chúa thực hiện, phép lạ “vĩ đại hơn hết chính là một linh hồn hư mất được cứu rỗi. Theo nghĩa tiếng Hy-lạp, từ “ghi” (biên) có nghĩa như “ghi vào biên bản hay trên một vật gì cách chính thức và long trọng”. Nó từng được dùng cho việc ký một chúc thư, hôn thú, hiệp ước hoà bình. Và cũng được dùng cho việc thu nhận một công dân!
Niềm vui mừng lớn lao nhất của chúng ta chẳng thể tìm thấy qua sự hầu việc ngay cả trong sự cứu rỗi chúng ta nhận được, nhưng niềm vui ấy chỉ có thể tìm thấy qua sự vâng theo ý muốn tốt lành của Cha trên trời, vì đó là nền tảng của sự hầu việc và sự cứu rỗi. Chúng ta thấy Chúa Giê-xu vui mừng bởi Đức Thánh Linh theo ý muốn của Đức Chúa Trời là Cha Ngài! “Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa” (Thi 40:8).
Chúa Giê-xu không vui mừng vì cớ các tội nhân không hiểu lẽ thật của Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời “không muốn cho một người nào chết mất” (IIPhi 3:9). Chúa nức lòng vì sự hiểu biết lẽ thật không do nơi năng lực hoặc sự học thức của con người. Nếu không, có lẽ hầu hết mọi người sẽ không vào được thiên đàng.
Khi 12 sứ-đồ và 70 môn-đệ rao giảng Phúc-Âm, họ không thấy “những kẻ khôn ngoan, người sáng dạ” hạ mình tiếp nhận lẽ thật và ân điển Đức Chúa Trời, chỉ thấy những người bình thường trong xã hội tin nhận đạo (Lu 7:29-30; ICôr 26:29). Theo ý muốn tốt lành của Đức Chúa Trời, tội nhân phải hạ mình xuống trước khi họ được cất nhắc lên (IPhi 5:6 Gia 4:6).
Các sứ giả của Chúa Giê-xu là những người có phước. Họ có thể chứng kiến và nghe mọi điều mà các thánh cao trọng thời Cựu-ước hằng mong mỏi thấy và nghe, nhưng không được. Đấng Christ đã thi hành chức vụ Ngài và các môn đệ là một phần của công việc Ngài!
2. Người lân cận - sống theo Chúa (Lu 10:25-37)
Các thầy dạy luật thời bấy giờ thường tranh luận những vấn đề thần học giữa công chúng, và câu hỏi được thầy dạy luật này đưa ra cũng là câu hỏi được dân Do-thái quan tâm. Thầy dạy luật đặt ra một câu hỏi chính đáng nhưng với một chủ ý xấu xa mong đưa Chúa Giê-xu vào tình huống khó xử. Thế nhưng, chính Chúa đã đưa thầy dạy luật vào “thế đường cùng”!
Chúa hướng thầy dạy luật về luật pháp, chẳng phải vì luật pháp có thể cứu chúng ta (Ga 2:16,21; Ga 3:21), nhưng vì luật pháp cho chúng ta thấy mình cần được cứu rỗi. Không có một sự qui đạo thật nào lại thiếu sự chịu thuyết phục và Đức Chúa Trời đã dùng luật pháp để thuyết phục tội nhân (Rô 3:20).
Thầy dạy luật đã trả lời đúng nhưng không áp dụng câu trả lời cho chính bản thân mình và tự thừa nhận mình thiếu tình yêu đối với Đức Chúa Trời và người lân cận. Vì thế, thay vì hạ mình xuống nhờ sự thương xót của Đức Chúa Trời để được xưng công bình (Lu 18:9-14), ông ta cố bào chữa cho mình và lẩn tránh sự thật. Ông đưa ra “chiến thuật tranh cãi cũ rích”. Hãy định nghĩa từ vựng thầy dùng! Thầy có ý gì khi nói về “người lân cận? Ai là người lân cận tôi?”
Chúa không nói rằng câu chuyện Ngài kể là một ví dụ, vì vậy có thể đây là câu chuyện thật. Đối với Chúa Giê-xu, thật nguy hiểm và thất sách khi kể một câu chuyện khiến người Do-thái bị xem như kẻ xấu và người Sa-ma-ri như người tốt. Người Do-thái có thể nói rằng: “Thầy chỉ dựng lên câu chuyện ấy mà thôi. Chúng tôi đều biết rằng chuyện đó không thể xảy ra”. Mặt khác có thể những kẻ nghe Chúa kể cả thầy dạy luật này biết rằng câu chuyện ấy có thật. Dù suy diễn ở cách nào, câu chuyện này thật sự dựa trên hiện thực.
Điều tồi tệ nhất chúng ta có thể vấp phải khi sử dụng một ví dụ nào đó đặc biệt trong câu chuyện này, đó là biến câu chuyện ấy thành một ngụ ngôn và làm cho mỗi sự việc tượng trưng một điều gì đó. Nạn nhân trở thành tội nhân hư mất dở sống dở chết trên con đường sự sống (chỉ sống về thể xác nhưng chết về thuộc linh).
Thầy tế lễ và người Lê-vi tiêu biểu cho luật pháp và của lễ, không ai hoặc điều gì có thể cứu tội nhân ấy. Người Sa-ma-ri là Chúa Giê-xu Christ đã cứu sống nạn nhân, lo tiền thuốc thang và hứa sẽ trở lại. Nhà quán tượng trưng cho Hội thánh địa phương nơi những tín hữu được chăm sóc, và “2 đơ-ni-ê” là hai thánh lễ báp-tem và tiệc thánh.
Nếu bạn tiếp cận Kinh Thánh theo cách này, bạn có thể làm cho Kinh Thánh diễn giải mọi điều “vừa ý” bạn và chắc chắn bạn sẽ không nhận được những thông điệp trong ý muốn Đức Chúa Trời.
Con đường từ Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô thật nguy hiểm. Vì những người giúp việc trong đền thờ thường đi đường này nên bạn có thể nghĩ rằng người Do-thái hoặc Rô-ma lẽ ra nên có kế hoạch làm cho nó an toàn hơn. Duy trì một hệ thống tôn giáo thật dễ dàng hơn là phát triển vùng lân cận. Chúng ta có thể nghĩ ra những lý do biện hộ cho thầy tế lễ và người Lê-vi khi họ làm ngơ trước nạn nhân.
Thầy tế lễ hầu việc Đức Chúa Trời trong đền thờ suốt tuần nên rất nôn nóng trở về nhà. Có lẽ những tên cướp vẫn còn lẩn quất đâu đây và sử dụng nạn nhân này làm “mồi nhử”. Tại sao liều lĩnh như thế? Con đường n ày từng có người qua lại, nên chắc sẽ có ai đó đến đây giúp người bị nạn. Thầy tế lễ bỏ đi, người Lê-vi đến cũng hành động như thầy tế lễ, nghĩa là chẳng làm gì cho nạn nhân cả! Thật một người khoác áo tôn giáo lại làm gương xấu như thế!
Khi xem người Sa-ma-ri như kẻ hào hiệp Chúa Giê-xu đã giải nguôi lòng thù hận của người Do-thái, bởi dân Do-thái và dân Sa-ma-ri thù địch nhau (Gi 4:9; Gi 8:48). Không phải người Do-thái giúp đỡ người Sa-ma-ri, nhưng chính người Sa-ma-ri đã giúp người Do-thái là kẻ bị đồng hương bỏ rơi! Người Sa-ma-ri này đã yêu những kẻ ghét mình, liều thân giúp kẻ gặp nạn và dùng số tiền anh ta có (đó là tiền công của 2 ngày làm việc) để lo việc thuốc thang cho nạn nhân. Vậy mà anh ta chẳng hề được mọi người tán thưởng, kính trọng gì cả.
Hành động của người Sa-ma-ri này thực sự giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về ý nghĩa của “lòng thương xót” (Lu 10:37) và đó cũng là hình ảnh minh hoạ chức vụ của Chúa Giê-xu. Người Sa-ma-ri đã cảm nhận nhu cầu của người bị nạn nên lấy lòng thương xót anh ta, không có lý do nào giải thích được vì sao người Sa-ma-ri phải thay đổi kế hoạch mình và sử dụng tiền của chính mình chỉ để giúp một “kẻ thù” đang gặp nạn, nhưng lòng thương xót đâu cần có lý do! Là một “chuyên gia” về luật pháp, hẳn thầy thông giáo biết rằng Đức Chúa Trời đòi hỏi dân Ngài phải có lòng thương xót dù đối với khách lạ và kẻ thù (Le 19:33-34; Xu 23:4,5; Mi 6:8).
Bạn hãy xem, Chúa Giê-xu đã giành lại thế chủ động trước câu hỏi của thầy dạy luật một cách khôn ngoan làm sao! Cố trốn tránh trách nhiệm, th ầy dạy luật đặt câu hỏi “ai là người lân cận tôi?” Nhưng Chúa lại hỏi rằng: “Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp?” Câu hỏi lớn được đặt ra ở đây: “Tôi có thể làm người lân cận đối với ai?” câu hỏi này chẳng liên quan gì đến phương diện địa lý, quyền công dân hay chủng tộc. Bất cứ nơi đâu có người cần đến chúng ta, ở đó chúng ta có thể là người lân cận của họ để bày tỏ lòng thương xót giống Chúa Giê-xu.
Thầy dạy luật muốn bàn luận từ “người lân cận” theo cách tổng quát, nhưng Chúa buộc ông ta phải xem xét một con người cụ thể đang gặp khó khăn. Chúng ta rất dễ bàn luận về những lý tưởng mơ hồ nhưng chẳng giải quyết được những nan đề chính. Ta có thể bàn những vấn đề như “sự nghèo khó” hay “cơ hội kiếm việc” nhưng chẳng bao giờ giúp một gia đình nghèo khó nào hoặc giúp ai kiếm việc làm.
Dĩ nhiên thầy dạy luật muốn đưa ra vấn đề có phần phức tạp và triết lý hơn, nhưng Chúa Giê-xu khiến vấn đề trở nên đơn giản và thực tế. Ngài chuyển vấn đề từ “bổn phận” sang lòng yêu thương, từ “thảo luận” sang thực hành. Ngài chỉ muốn dạy chúng ta đừng lấy những điều này làm cớ để không thực hành gì cả. Không phải những ai tham gia thảo luận đều có lòng tận tâm thực sự!
Một trong những câu chuyện tôi rất thích về ông D.L.Moody đã minh hoạ cho quan điểm nói trên. Nhân dịp tham dự một hội nghị ở Indianapolis, ông Moody hẹn gặp ca sĩ Ira Sankey lúc 6 giờ chiều tại một góc đường. Khi Sankey đến, ông Moody mời anh ta lên một bục gỗ và hát tại đó. Chẳng mấy chốc, đám đông đã vây quanh. Khi ấy nhà truyền giáo bắt đầu nói đôi lời và mời mọi người theo ông đến ngôi nhà hát gần đó. Chẳng bao lâu thính đường đầy ắp người và nhà truyền đạo Tin lành cho những người khao khát thuộc linh. Khi các đại biểu hội nghị vừa đến nơi, Moody ngưng giảng và nói, “Bây giờ chúng ta phải kết thúc ở đây vì các vị trong hội nghị muốn đến bàn luận vấn đề: Làm sao để tiếp cận quần chúng?” (Nghe hay đấy! )
Khi đọc đoạn Kinh Thánh này, có thể chúng ta chỉ nghĩ đến “giá đắt của sự quan tâm”nhưng cái giá sẽ còn đắt hơn nhiều nếu không quan tâm gì cả. Bởi sự thờ ơ, thầy tế lễ và người Lê-vi đánh mất nhiều điều hơn những gì người Sa-ma-ri làm vì sự quan tâm lo lắng của anh ta. Họ đánh mất cơ hội trở thành con người hữu ích hơn, những quản gia trung tín gìn giữ những gì Đức Chúa Trời ban cho. Lẽ ra họ có thể đem ảnh hưởng t ốt vào một thế giới xấu, nhưng họ đã chọn làm gương xấu.
Chính hành động thương xót của người Sa-ma-ri nhân lành đã thôi thúc mạnh mẽ những con người dấn thân khắp thế giới.
Bạn đừng bao giờ cho rằng làm một việc như thế là hoài công! Đối với Đức Chúa Trời, không có hành động phục vụ đầy lòng yêu thương nào trong danh Chúa Giê-xu lại bị lãng quên cả! Điều đó tuỳ vào quan điểm của bạn. Đối với kẻ cướp, người khách Giu-đa này là đối tượng để chúng vơ vét nên chúng tấn công anh ta. Đối với thầy tế lễ và người Lê-vi, anh ta là mối bận tâm cần phải tránh xa, nên họ bỏ mặc anh ở đó. Thế nhưng đối với người Sa-ma-ri nhân lành này, anh ta là người lân cận đáng được yêu thương và giúp đỡ nên đã chăm sóc anh ta. Lời Chúa phán với thầy dạy luật cũng là lời Ngài muốn dạy chúng ta hôm nay: “Hãy đi, làm theo như vậy”.
3. Người thờ phượng Chúa - lắng nghe lời Ngài (Lu 10:38-42)
Thực chất của sự thờ phượng, đó là tất cả những gì ta có thể làm cho Chúa trong đời sống Cơ-đốc nhân. Điều quan trọng, chúng ta phải là những sứ giả nhiệt tình đem thông điệp Phúc-Âm đến cho những linh hồn hư mất, đặc biệt hãy như người Sa-ma-ri đầy lòng thương xót, tận tâm cứu giúp những kẻ bất hạnh cô thế đang cần sự thương xót của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, trước khi có thể rao giảng về Đấng Christ hoặc thi hành công tác chăm sóc, chúng ta phải dành thời gian tương giao với Chúa và học Lời Ngài. Chúng ta hãy “dành thời gian để thánh hoá’.
Ma-ri ở làng Bê-tha-ni là người được nhắc đến 3 lần trong Phúc-âm Lu-ca. Trong mỗi sự kiện, bà đều ở một vị trí giống nhau: nơi chân Chúa Giê-xu. Bà ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Ngài (Lu 10:39), sấp mình xuống nơi Chúa bày tỏ nỗi đau khổ (Gi 11:32) và xức dầu nơi chân Chúa để thờ phượng Ngài (Gi 12:3). Đáng chú ý, ở mỗi trường hợp đều phảng phất một loại hương vị ở Lu 10:1-42, đó là hương vị thức ăn, ở Gi 11:39 có “mùi” của sự chết và Gi 12:1-11 có mùi dầu thơm.
Ma-ri và Ma-thê có sự khác biệt nhau, dường như mỗi người theo Chúa phải có một sự chọn lựa: hoặc là người hầu việc Chúa như Ma-thê, hoặc là người thờ phượng Chúa như Ma-ri. Dĩ nhiên cá tính và năng khiếu của chúng ta không giống nhau, nhưng không có nghĩa là đời sống Cơ-đốc nhân phải thuộc một trong hai trường hợp trên. Đây cũng là tư tưởng Charles Wesley bày tỏ qua một trong những thánh ca ông sáng tác:
“Nếu phải trung tín với lời Chúa dạy,
Tôi vẫn luôn chọn phần tốt hơn
Hãy hầu việc Ngài bằng đôi tay khéo léo của Ma-thê
Và bằng tấm lòng yêu Chúa của Ma-ri...”
Dường như Chúa muốn chúng ta noi gương Ma-ri trong sự thờ phượng và Ma-thê trong sự hầu việc. Phước thay cho những người sống quân bình!
• Hãy xem trường hợp của Ma-thê.
Bà tiếp Chúa vào nhà rồi bỏ mặc Ngài ở đó, vì phải chuẩn bị một bữa ăn “thịnh soạn” không cần thiết đối với Ngài! Chuẩn bị một bữa ăn là công việc không có gì sai trái, nhưng điều chúng ta làm có liên quan đến Chúa thật quan trọng hơn những gì ta làm cho Ngài. Đừng nghĩ bạn phải hành động theo một trong hai trường hợp này, bởi vì đây là vấn đề về sự quân bình. Ma-ri đã phụ với Ma-thê làm việc trong bếp và tranh thủ nghe lời Chúa dạy. Sau khi Ma-ri rời khỏi bếp, Ma-thê cảm thấy mình bị “bỏ rơi” nên bà bắt đầu trách móc với ý nghĩ cả Chúa Giê-xu và Ma-ri đã không quan tâm đến bà!
Thật tai hại đối với đời sống Cơ-đốc nhân khi chỉ cố sức làm việc Chúa nhưng không để thời gian tương giao với Ngài. “Ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Gi 15:5). Ma-ri đã chọn phần tốt hơn, là phần không ai có thể cất đi được, bà biết mình không thể sống “chỉ nhờ bánh mà thôi” (Mat 4:4). Những khi chúng ta trách cứ kẻ khác và tự thương hại mình vì đã đổ nhiều công sức vào việc gì, khi ấy ta hãy tự kiểm điểm lại đời sống mình. Có lẽ trong những bận rộn đó, ta đã thờ ơ với Chúa. Nan đề của Ma-thê không phải ở chỗ bà bận rộn với nhiều công việc, nhưng ở chỗ bà đã để công việc kéo mình đi quá xa và xao lãng với lời Chúa. Bà đã hầu việc hai chủ! Nếu vấn đề hầu việc Chúa khiến đời sống ta trở nên khó khăn, có lẽ đã có gì không ổn trong sự hầu việc ấy rồi!
Điều quan trọng, chúng ta phải đặt lên trên những ưu tiên chính đáng: Chúa Giê-xu phải là ưu tiên hàng đầu, sau đó là tha nhân rồi mới đến bản thân chúng ta.Dành thời giờ “sấp mình xuống chân Chúa” mỗi ngày là điều tối quan trọng chúng ta phải thực hiện. Hãy để Ngài nói với chúng ta qua lời Ngài. Phần quan trọng nhất trong đời sống Cơ-đốc nhân là phần chỉ có Chúa Giê-xu mới thấy được. Nếu không gặp Chúa riêng tư mỗi ngày, chẳng bao lâu chúng ta sẽ giống hệt Ma-thê:rất bận rộn nhưng không có phước!
Ở cương vị mục sư, tôi thường hỏi nhiều người về những vấn đề quan trọng như “bạn có thể cho tôi biết đời sống theo Chúa hiện nay của bạn không?” Thay cho câu trả lời thường là cái nhìn bối rối, đầu cúi xuống, hoặc lời thú nhận lí nhí: “Từ lâu tôi đã không đọc Kinh Thánh và cầu nguyện”. Chính họ cũng không biết vì sao bản thân lại rơi vào những nan đề như vậy!
Theo Gi 12:1-2, Ma-thê đã học được bài học cho bà, để sửa soạn bữa tiệc đãi Chúa Giê-xu, 12 môn đệ, anh và em bà – cả thảy 15 người – đã không có một lời phàn nàn nào được thốt lên! Sự bình an của Đức Chúa Trời ngự trong tâm hồn bà vì bà đã học ngồi bên chân Chúa Giê-xu.
Hôm nay chúng ta là những sứ giả, người lân cận và người thờ phượng Chúa. Trong ba vị trí kể trên, người thờ phượng Chúa là người có phước nhất.
Phước thay cho những người sống quân bình!
10. NHỮNG BÀI HỌC CHO ĐỜI SỐNG (Lu 11:1-54)
Lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu phát sinh từ một buổi cầu nguyện, một phép lạ và một lời mời dùng bữa. Chúa dùng những trường hợp này để dạy dỗ về bốn chủ đề thuộc linh: sự cầu nguyện, Sa-tan, cơ hội thuộc linh và sự giả hình. Hôm nay chúng ta cần hiểu và áp dụng những lẽ thật ấy vào đời sống mình.
1. Sự cầu nguyện (Lu 11:1-13)
• Vị trí ưu tiên của sự cầu nguyện (Lu 11:1): Chúng ta thường biết về Giăng Báp-tít như một tiên tri, một người tử đạo, nhưng môn-đệ Chúa nhớ đến ông như một con người chuyên cầu nguyện. Giăng là “hài nhi kỳ diệu” được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong bụng mẹ, nhưng ông vẫn luôn cầu nguyện. Ông được ban cho đặc ân rao truyền Đấng Cứu Thế cho dân Y-sơ-ra-ên, nhưng ông vẫn phải cầu nguyện. Chúa Giê-xu phán rằng Giăng là tiên tri lớn nhất (Lu 7:28), nhưng Giăng vẫn phải sống bằng sự cầu nguyện.Nếu sự cầu nguyện là vấn đề sống còn đối với một con người được ban cho nhiều đặc ân như thế, vậy chúng ta là những kẻ không có những lợi thế ấy, cần phải cầu nguyện nhiều hơn dường nào!
Môn đồ Giăng đã cầu nguyện, nên môn đệ Chúa Giê-xu cũng muốn học nhiều hơn về cách cầu nguyện. Họ không xin Thầy mình dạy cách giảng đạo hay làm những dấu lạ, họ chỉ xin Ngài dạy họ cách cầu nguyện. Hôm nay, đôi lúc chúng ta nghĩ rằng nếu chỉ sống với Chúa khi Ngài hiện diện trên đất, chúng ta ắt sẽ trở thành những Cơ-đốc nhân mạnh mẽ hơn, nhưng thật không phải thế! Các môn-đệ đã ở cùng Chúa nhưng họ không có nhiều thời gian. Họ có thể thực hiện nhiều phép lạ, nhưng vẫn muốn học cách cầu nguyện.
Nhưng lý lẽ mạnh mẽ nhất cho sự ưu tiên trong cầu nguyện là sự kiện: Chúa Giê-xu của chúng ta là người cầu nguyện. Chúng ta thấy Ngài cầu nguyện khi chịu phép báp-têm (Lu 3:21), trước khi chọn 12 sứ-đồ (Lu 6:12), khi đoàn dân đông kéo đến (Lu 5:16), trước khi Chúa yêu cầu 12 sứ-đồ xưng nhận đức tin (Lu 9:18) và khi Ngài ở Núi Hóa hình (Lu 9:29).
Các môn đệ đều biết Ngài thường cầu nguyện một mình (Mac 1:35) nên họ muốn học nơi Ngài bí quyết để có quyền năng và sự khôn ngoan thuộc linh. Nếu Chúa Giê-xu vẫn là Con toàn hảo của Đức Chúa Trời còn cần phải cầu nguyện khi “còn trong xác thịt” (He 5:7), vậy bạn và tôi cần cầu nguyện nhiều hơn biết bao! Lời cầu nguyện có hiệu quả là sự cung ứng cho mỗi nhu cầu và là giải pháp cho mỗi nan đề.
• Bài cầu nguyện chung (Lu 11:2-4): Chúng ta gọi bài cầu nguyện này là “bài cầu nguyện của Chúa” không phải vì Ngài đã cầu nguyện như vậy (Ngài chưa bao giờ cầu xin sự tha t ội) nhưng vì Ngài đã dạy các môn đệ cách cầu nguyện. Không có gì bất hợp lý nếu sử dụng bài cầu nguyện này cách cá nhân hoặc giữa nhiều người trong Hội thánh bao lâu chúng ta cầu nguyện với một tấm lòng tin rằng đó là lời cầu nguyện chân thật và thuận phục.
Thật dễ dàng đọc thuộc lòng những lời cầu nguyện ấy nhưng thật sự không hiểu ý nghĩa của bài cầu nguyện, thậm chí điều này cũng xảy ra khi chúng ta tôn vinh hoặc giảng đạo cho người khác! Sự sai trật hoàn toàn về phía chúng ta chớ không phải nơi bài cầu nguyện.
Đây là “bài cầu nguyện mẫu” dùng để hướng dẫn chúng ta cách cầu nguyện riêng (tương tự với Mat 6:9-15). Qua đó, chúng ta biết rằng lời cầu nguyện thật xuất phát từ mối liên hệ thuộc linh với Đức Chúa Trời hầu cho chúng ta có thể gọi Ngài là “Cha” bằng đức tin nơi Chúa Giê-xu (Rô 8:14-17; Ga 4:1-7).
Bill Moyers thư ký báo chí của tổng thống Lyndon Johnson đang cầu nguyện tạ ơn Chúa trong một bữa ăn của nhân viên, bất ngờ Tổng thống Johnson quát: “Tôi không nghe được gì cả!” Moyers nhẹ nhàng đáp: “Thưa Tổng thống, tôi đâu có nói với ông”. Đó cũng là điều nhắc nhở chúng ta rằng: cầu nguyện là lúc ta thưa chuyện với Đức Chúa Trời.
Lời cầu nguyện đích thực cũng bày tỏ hai trách nhiệm: ca ngợi Nước Đức Chúa Trời và làm theo ý muốn Ngài (Lu 11:2). Mục đích của sự cầu nguyện không phải để ý riêng của con người được thực hiện trên trời, nhưng để ý muốn Đức Chúa Trời được thực thi trên đất. Cầu nguyện không phải là kể lể với Đức Chúa Trời những điều chúng ta muốn và hưởng thụ những điều ấy một cách ích kỷ.
Cầu nguyện là cầu xin Đức Chúa Trời sử dụng chúng ta để hoàn thành điều Ngài muốn để danh Ngài được vinh hiển, vương quốc Ngài được mở mang và củng cố, ý muốn Ngài được thành tựu. Những khi tôi mong Đức Chúa Trời lắng nghe và nhận lời cầu nguyện của mình, tôi phải kiểm lại những lời cầu xin của riêng mình dựa trên những mối quan tâm này.
Cơ-đốc nhân cần phải biết Lời Đức Chúa Trời vì qua đó chúng ta khám phá được ý muốn Ngài. Đừng bao giờ tách rời sự cầu nguyện với Lời Đức Chúa Trời (Gi 15:7). Khi thi hành chức vụ, tôi từng chứng kiến những người tự xưng là Cơ-đốc nhân nhưng không vâng lời Chúa, họ tự biện hộ rằng: “Tôi đã cầu nguyện về vấn đề đó và được Chúa đồng ý!”
Điều này cũng bao gồm cả việc một cô gái lập gia đình với một thanh niên ngoại đạo (IICor 6:14-18), một thanh niên sống với một cô gái không phải là vợ mình (ITes 4:1-8) và một Mục sư lập ra nhà thờ riêng, vì cho rằng mọi Hội thánh khác đều đi sai đường, chỉ mình anh ta mới có “sự khôn ngoan thuộc linh” (Phi 2:1-16).
Khi đã có được sự đảm bảo trong mối thông công với Đức Chúa Trời và ý chỉ của Ngài, chúng ta có thể trình bày những lời cầu xin cho Ngài. Chúng ta có thể xin Ngài cung ứng nhu cầu mỗi này, tha thứ những gì chúng ta đã làm trong ngày qua và dẫn dắt chúng ta trong tương lai. Mọi nhu cầu của chúng ta có thể bao gồm trong ba lãnh vực cầu xin sau đây: V ật chất và sự cung ứng thuộc thể, đạo đức và sự toàn vẹn thuộc linh, sự bảo vệ và hướng dẫn thiên thượng. Nếu cầu nguyện theo cách này, chúng ta có thể chắc chắn rằng chúng ta đang cầu nguyện theo ý Đức Chúa Trời.
• Kiên trì cầu nguyện (Lu 11:5-8): Qua thí dụ này, Chúa Giê-xu không nói rằng Đức Chúa Trời giống như người láng giềng cau có.Thực sự, Chúa chỉ muốn nói điều ngược lại. Nếu một kẻ láng giềng mệt mỏi, ích kỷ kia cuối cùng đã đáp ứng mọi nhu cầu của người bạn gây phiền phức cho anh ta, vậy Cha yêu thương trên trời sẽ đáp ứng nhu cầu của con cái yêu dấu Ngài nhiều hơn dường nào! Chúa muốn diễn giải từ những sự việc nhỏ đến sự việc lớn hơn.
Chúng ta đều biết lời cầu nguyện dựa trên cơ sở của địa vị làm con (“Lạy Cha...”) chớ không phải tình bạn, nhưng Chúa Giê-xu lại dùng tình bạn để minh hoạ sự kiên trì trong cầu nguyện. Đức Chúa Cha không giống như người láng giềng này, vì Ngài chẳng bao giờ “ngủ” cũng không bao giờ thiếu kiên nhẫn hay cáu gắt. Ngài luôn rộng rời và vui mừng khi chu cấp cho con cái mình. Người bạn đứng chờ nơi cửa cứ tiếp tục gõ cửa cốt để đạt được điều anh muốn, nhưng Đức Chúa Trời là Đấng nhanh chóng đáp ứng mọi lời kêu xin của con cái Ngài (Lu 18:1-8).
Một lý lẽ đơn giản, nếu sự kiên trì cuối cùng cũng đem lại kết quả cho người gõ cửa nhà người bạn thiếu thiện chí thì sự kiên trì sẽ đem lại phước hạnh cho những ai cầu xin Cha yêu thương trên trời bội phần hơn dường nào. Nói cho cùng, chúng ta là con trong nhà với Ngài.
Từ “làm rộn” (Lu 11:8) còn có nghĩa là“không biết xấu hổ”, có lẽ muốn nói đến người đứng ngoài cửa đã không ngại đánh thức bạn mình, cũng có thể từ này muốn ám chỉ người trong nhà. Tiếp đãi khách phương xa đã trở thành luật lệ cơ bản ở Đông phương (Sa 18:1-2). Nếu người nào chối từ tiếp khách lạ, nghĩa là đã bôi nhọ danh dự cả làng và người ấy sẽ bị mọi kẻ lân cận xa lánh. Người bạn trong nhà biết luật lệ này nên không muốn gây bất lợi cho bản thân và gia đình, vì vậy anh ta phải trở dậy để chu cấp cho bạn mình.
Vì sao Cha trên trời nhậm lời cầu nguyện của chúng ta? Ngài nhậm lời cầu nguyện chẳng phải chỉ để đáp ứng nhu cầu của con cái Ngài, nhưng còn để danh Ngài được vinh hiển”. Danh Ngài được tôn thánh”. Khi con cái Đức Chúa Trời cầu nguyện, danh Đức Chúa Trời phải được đặt ở hàng đầu. Cách Đức Chúa Trời chăm sóc con cái Ngài là một chứng cớ cho thế giới biết rằng Ngài là Đấng đáng tin cậy.Philip Brooks nói rằng: cầu nguyện không phải là hành động “khắc phục” sự miễn cưỡng của Đức Chúa Trời, nhưng là cách làm Đức Chúa Trời vui lòng ở mức độ cao nhất. Kiên trì cầu nguyện không phải là “nỗ lực làm Đức Chúa Trời đổi ý” (“ý Cha được nên”) nhưng để đưa chúng ta đến chỗ xứng đáng để Đức Chúa Trời đáp lời.
Những lời hứa dành cho người cầu nguyện (Lu 11:9-13):Điều quan trọng ở đây chính là: “Hãy xin... hãy tin... hãy gõ cửa...” Xin bạn đừng đến với Chúa chỉ trong những lúc khẩn cấp “giữa đêm khuya”, nhưng hãy giữ mối giao thông “vĩnh cửu” (Gi 15:1), còn Phao-lô kêu gọi: “Hãy cầu nguyện không thôi” (ITes 5:17). Khi chúng ta cầu nguyện, Đức Chúa Trời hoặc sẽ nhậm lời, hoặc sẽ cho chúng ta biết vì sao Ngài không thể nhậm lời. Như vậy, tuỳ chúng ta có thể làm bất cứ điều gì cần thiết trong cuộc sống để Đức Chúa Trời tin cậy và trả lời cầu nguyện cho chúng ta.
Bạn hãy chú ý rằng bài học này kết thúc với sự xác quyết Đức Chúa Trời là Cha (Lu 11:11-13). Vì Ngài biết chúng ta và yêu thương chúng ta, bạn không cần phải lo lắng về cách Ngài nhậm lời cầu nguyện của bạn. Một lần nữa, Chúa Giê-xu lại dẫn chứng từ việc nhỏ đến việc lớn hơn: Nếu một người cha trên đất biết cho con mình những gì tốt nhất, chắc chắn Cha trên trời sẽ còn làm nhiều điều hơn thế, thậm chí Ngài còn ban “Đức Thánh Linh” cho người xin Ngài (Lu 11:13; Mat 7:11), đó là những ơn phước chỉ một số ít người đặc biệt trong thời Cựu-ước mới xứng đáng được nhận lãnh.
2. Sa-tan (Lu 11:14-28)
• Lời vu cáo (Lu 11:14-16): Đây là phép lạ đuổi quỷ lần thứ ba Chúa thực hiện để rồi bị kẻ thù vu cáo Ngài nhờ chúa quỷ để đuổi quỷ! (Mat 9:32-34; Mat 12:22-37). Thay vì vui mừng bởi Đức Chúa Trời đã ban một Đấng Christ, các chức sắc tôn giáo lại chống đối lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời và tìm phương làm cho người ta không tin nơi công việc của Chúa Giê-xu cũng như phẩm cách Ngài. Bạn hình dung xem, những kẻ này “mù lòa” đến nỗi không phân biệt được công việc của Đức Chúa Trời và công việc của Sa-tan!
Bê-ên-xê-bun là tên của một trong những thần Ba-anh của người Phi-li-tin (IIVua 1:1-3) nó có nghĩa là “Thần ruồi”. Một nghĩa khác, Bê-ên-xê-bun là “chúa cư trú”, có liên quan đến lời giải thích của Chúa Giê-xu ở câu 18-26. Người Do-thái thường dùng tên này khi nhắc đến Sa-tan.
Lời yêu cầu trong c.16 cũng là phần của lời vu cáo. Họ muốn nói rằng: “Nếu Thầy đang hầu việc Đức Chúa Trời, hãy chứng minh bằng cách cho chúng tôi một dấu lạ từ trời, chớ không chỉ là một phép lạ trên đất”. Họ đang thử Đức Chúa Trời, thật là một điều nguy hiểm!
• Lời phản bác (Lu 11:17-22): Đáp lại lời vu cáo của họ, Chúa Giê-xu đưa ra ba lý lẽ.
-Trước tiên, lời vu cáo của họ vô căn cứ. Vì sao Sa-tan lại có thể chống lại chính nó và phân rẽ nước nó? (Hãy nhớ rằng Chúa Giê-xu tin ma quỉ cũng có vương quốc hùng mạnh của nó) (Eph 2:1-3 Eph 6:10).
-Lý lẽ thứ hai, đó là lời vu cáo của họ tự lên án họ: Vậy người Do-thái đuổi quỷ nhờ quyền phép nào? Công việc họ làm khác với công việc của Chúa Giê-xu như thế nào? Ngược lại, những phép lạ của Chúa Giê-xu chứng minh rằng Vương quốc Đức Chúa Trời đang hiện diện tại đây, chớ không phải vương quốc Sa-tan! Cuối cùng, lời buộc tội của họ thực sự đã thừa nhận sự thực hữu của quyền phép Chúa, vì Ngài không thể đánh bại Sa-tan nếu Ngài không mạnh hơn nó.
Chúa minh họa về Sa-tan như một kẻ cầm khí giới giữ cửa nhà và của cải nó. Nhưng Ngài đã tấn công lãnh địa nó, huỷ diệt khí giới nó và thu chiến lợi phẩm của nó (Co 2:15; Gi 12:31-33; IGi 3:8). Chúa chúng ta đã dẫn đắt những kẻ phu tù (Eph 4:8) và giải thoát những kẻ bị giam cầm (Lu 4:18). Dẫu quyền phép Ngài chỉ ở một giới hạn cho phép nào đó, Sa-tan vẫn là một kẻ thù bị đánh bại hoàn toàn.
• Ứng dụng (Lu 11:23-28): Trong cuộc chiến thuộc linh không thể có thái độ trung lập (Lu 11:13; Lu 9:50), vì thái độ đó cũng đồng nghĩa với sự chống đối Chúa. Có hai thế lực thuộc linh ở thế gian, và ta phải chọn một trong hai. Sa-tan là đứa luôn phân rẽ và huỷ diệt, nhưng Chúa Giê-xu là Đấng xây dựng và củng cố. Ta phải có một quyết định, nếu không chọn lựa gì cả nghĩa là chúng ta đã chọn con đường nghịch cùng Chúa.
Ngài cho ta thấy hiểm họa của thái độ trung lập khi kể câu chuyện về một người và tà ma. Thân thể con người là “nhà của ma quỷ” (Lu 11:14,17,21). Có lẽ vì lý do nào đó, con quỉ này quyết định bỏ “nhà” đi nơi khác. Tình trạng của người này lập tức trở nên khá hơn, nhưng anh ta không mời Chúa ngự vào đời sống mình. Hay nói cách khác, anh ta vẫn giữ thái độ trung lập. Điều gì xảy ra sau đó? Con quỷ kia bèn trở về dẫn theo bảy quỷ khác mạnh hơn nó và khiến tình trạng người này tồi tệ hơn trước.
Oswald Chambers nói rằng: “Thái độ trung lập trong niềm tin tôn giáo luôn là tính hèn nhát.” Chúa sẽ biến thái độ hèn nhát ấy ra nỗi kinh hoàng? Người theo Chúa Giê-xu không phải là người chỉ nói những lời hợp lý giống như người đàn bà đã cất tiếng rằng: “Phước cho dạ đã mang Ngài và vú đã cho Ngài bú” (Lu 11:27). Bà ta rất thành thực, nhưng như thế chưa đủ. Theo Chúa Giê-xu là khi chúng ta lắng nghe lời Ngài và vâng theo ý muốn Ngài (Lu 6:46-49; Lu 8:19-21).
3. Cơ hội thuộc linh (Lu 11:29-36)
Các môn đệ xúc động vì đám đông theo Chúa, nhưng Ngài biết rõ lòng người nên chẳng tỏ ra xúc động gì cả. Để giữ cho các sứ đồ không bị chao đảo trước “thành quả”của họ, Chúa dùng những câu chuyện Kinh Thánh để dạy dỗ họ. Ngài dùng ba ví dụ minh hoạ để cho thấy tính nghiêm túc của những cơ hội thuộc linh.
Giô-na (Lu 11:29-30,32): Các chức sắc tôn giáo luôn yêu cầu Chúa Giê-xu làm dấu lạ để chứng tỏ Ngài là Đấng Mê-si-a. Dấu lạ duy nhất Ngài hứa bày tỏ là “dấu lạ của Giô-na”: sự chết, chôn và phục sinh. Sự phục sinh của Chúa chứng tỏ Ngài là Đấng Christ - Con Đức Chúa Trời (Ro 1:4), đây cũng là điều Phi-e-rơ rao giảng cho dân Y-sơ-ra-ên vào Ngày lễ Ngũ tuần (Cong 2:22). Lời chứng của Hội Thánh đầu tiên là bằng cớ về sự phục sinh của Đấng Christ (Công 1:28; Công 3:15; Công 5:30-32; Công 13:32-33), Giô-na là một phép lạ sống động. Chúa Giê-xu của chúng ta cũng vậy.
• Sa-lô-môn (Lu 11:31): Ở đây Chúa nhấn mạnh về sự khôn ngoan của một vị vua, không phải là “tác phẩm” của một tiên tri. Nữ hoàng của Vương quốc Sê-ba từ nơi xa xôi đã đến chỉ để nghe sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn (IVua 10:1-29). Nhưng giờ đây Chúa Giê-xu - Con Đức Chúa Trời đang ở giữa đám đông, vậy mà dân Do Thái không tin Lời Ngài. Cho dù, Chúa làm dấu lạ, cũng không thể thay đổi lòng họ. Họ muốn thấy sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, nhưng lại hài lòng với nếp sống tôn giáo cũ rích của mình.
Điều quan trọng của những ví dụ minh hoạ này là chúng có liên quan đến dân ngoại.Khi tiên tri Giô-na rao giảng cho dân ngoại thành Ni-ni-ve, họ ăn năn và được tha thứ. Khi nữ hoàng ngoại bang nghe nói về sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn, bà sửng sốt và tin ngay. Nếu dân Do-thái được hưởng mọi đặc ân Đức Chúa Trời ban cho nhưng không ăn năn tội, vậy chính dân thành Ni-ni-ve và cả Nữ hoàng xứ Sê-ba sẽ làm chứng nghịch cùng họ trong ngày xét đoán của Đức Chúa Trời. Chúa đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên quá nhiều cơ hội thuộc linh, tiếc thay, họ vẫn không tin (Lu 13:34-35; Gi 12:35-41).
Minh hoạ thứ ba được rút ra từ nếp sống hằng ngày chớ không phải từ lịch sử đã qua, và đó cũng là điều Chúa từng dạy trước (Mat 6:22-23). Lời Chúa là ánh sáng soi giữa thế gian tối tăm (Thi 119:105; Ch 6:23). Ánh sáng soi “bên ngoài” vẫn chưa đủ, nó phải bước vào soi sáng đời sống chúng ta trước khi chúng ta có thể làm bất cứ điều ích lợi nào. “Sự bày giãi lời Chúa soi sáng cho, ban sự thông hiểu cho người thật thà” (Thi 119:130). Ánh mặt trời rực rỡ nhất cũng không thể làm cho kẻ mù loà thấy được.
Khi tin nhận Chúa Giê-xu, mắt chúng ta được mở ra, ánh sáng thuộc linh soi rọi trong lòng và chúng ta trở nên con cái sáng láng (Gi 8:12; IICôr 4:3-6; Eph 5:8-14). Điều quan trọng, chúng ta phải sử dụng ánh sáng ấy một cách đúng đắn để có một nhận thức riêng về đức tin. Nếu chúng ta để con mắt này hướng đến những điều thuộc về Đức Chúa Trời, còn mắt kia hướng về thế gian (IGi 2:16), thì sự sáng sẽ trở nên tối tăm! Đối với Cơ-đốc nhân, không có đời sống “tranh tối tranh sáng” như vậy, vì Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải đầu phục và vâng lời Ngài (Lu 11:23).
Có ba nhân vật trong Kinh Thánh minh hoạ cho lẽ thật này. Họ đều bắt đầu bước đi trong ánh sáng và kết thúc cuộc đời trong sự tối tăm vì họ là những người “đi hai hàng”. Tên Sam-sôn có nghĩa như “ánh sáng mặt trời” thế nhưng ông ta lại kết thúc cuộc đời như một nô lệ mù loà trong ngục tối vì không vượt qua nổi “sự mê tham của xác thịt” (Cac 16:1-32). Lót bắt đầu cuộc sống như người hành hương cùng với ông chú Áp-ra-ham của mình. Ông kết thúc cuộc đời như một kẻ say sưa trong hang động và phạm tội loạn luân (Sa 19:30-38) vì đã không vượt qua “sự mê tham của mắt” (Sa 13:10-11). Ông muốn hầu việc hai chủ nên nhìn về hai hướng!
Vua Sau-lơ bắt đầu cai trị như một nhà lãnh đạo quốc gia khiêm nhường nhưng lòng kiêu ngạo đã đưa ông đến “động ” của một bà bóng (ISa 28:1-25) và tự sát giữa sa trường (ISa 31:1-13). Tội của ông là “sự kiêu ngạo của đời”, nó khiến ông không thể đầu phục và vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời.
Mỗi chúng ta đều đang ở trong ánh sáng hoặc bóng tối. Thật đáng sợ khi có một số người cứng lòng chống nghịch cùng Đức Chúa Trời, đến nỗi họ không thể phân biệt đúng sai! Họ cho rằng mình đang sống trong sự sáng, nhưng thực ra đang đi trong sự tối tăm. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si tuyên bố họ đã “thấy sự sáng” khi học về luật pháp, nhưng ngược lại, họ đang sống trong sự tối tăm (Gi 12:35-50).
4. Sự giả hình (Lu 11:37-54)
Khi Chúa thi hành chức vụ ở giai đoạn này, các chức sắc tôn giáo tìm phương diệt Ngài. Vì sao một người Pha-ri-si mời Ngài về nhà dùng bữa? Nếu ông ta thực lòng tìm kiếm lẽ thật, ông phải nói với Chúa cách riêng tư. Dường như ông ta cố tìm một cơ hội kiện cáo Ngài và nghĩ rằng ông có thể thực hiện được ý đồ ấy khi Chúa không rửa tay trước bữa ăn (Mac 7:2-3). Biết rõ ý nghĩ của đám đông, Chúa dùng “sự phân tích thuộc linh” của người Pha-ri-si để trả lời họ.
• Chúa phơi bày ý nghĩ ngu xuẩn của họ (Lu 11:37-41):
Lầm lẫn cơ bản của người Pha-ri-si là suy nghĩ cho rằng sự công bình chỉ như một vấn đề của nh ững hành động bên ngoài và họ đánh giá thấp những thái độ bên trong. Họ cẩn thận giữ cho bên ngoài tinh sạch nhưng bỏ qua “sự dữ” bên trong. Dường như họ quên rằng chính Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người bề ngoài cũng tạo dựng con người bên trong “con người bên trong” cũng cần sự tinh sạch nữa (Thi 51:6,10).
Người Pha-ri-si khoe khoang về sự dâng hiến và công đức mình (Mat 6:1-4; Lu 18:11-12)nhưng không dâng lên Đức Chúa Trời những gì thuộc tấm lòng bên trong. Làm tinh sạch con người bên trong mới là cách làm sạch con người bên ngoài (Lu 11:41).
Kenneth Wuest đã dẫn dịch câu này theo một cách khác: “Đúng hơn, mọi điều bên trong hãy dâng như của bố thí, và nhìn xem, mọi điều sẽ sạch cho ngươi”.
Cách làm sạch một những ngôn từ bẩn thỉu không phải bởi đánh răng, nhưng do tẩy uế lòng bạn.
• Chúa lên án tội lỗi họ (Lu 11:42-52): Sáu chữ “khốn thay” dùng ở đây cũng giống như những “khốn thay” trong Mat 23:1-39. Chúa bắt đầu lên án tội lỗi của người Pha-ri-si (Lu 11:42) và chuyển sang tội lỗi của các thầy dạy luật, vì chính sự “diễn giải” luật pháp của họ đã hình thành căn cơ cho cả hệ thống tôn giáo của người Pha-ri-si (Lu 11:45-52).
Ba “khốn thay” đầu tiên đã lên án chính những người Pha-ri-si vì họ đã không biết những ưu tiên nào đáng thực hiện trước. Quá chú trọng việc dâng phần mười thậm chí đến những chiếc lá nhỏ xíu hoặc hạt của các thảo dược, họ đã quên đi những điều quan trọng như sự công bình và sự nhơn từ (Mi 6:7-8). Họ chỉ là con trẻ thuộc linh! Chúa Giê-xu không nói họ phải ngưng việc dâng phần mười, nhưng Ngài muốn họ đặt ra hoạt động tôn giáo trong cái nhìn đúng đắn.
Họ cũng đặt danh vọng lên trên phẩm cách. Họ cho rằng nếu ngồi ở ngôi cao sang và được những kẻ danh giá chào hỏi, sẽ khiến họ có vẻ “thuộc linh”. Danh tiếng chỉ là những gì con người biết về chúng ta ở bề ngoài, nhưng phẩm cách là điều chỉ có Đức Chúa Trời mới biết.
Sự so sánh ở Lu 11:44 có lẽ đã gây bực tức dữ dội cho nhiều người cũng những người Pha-ri-si có mặt ở đó. Người Do-thái khi xưa rất thận trọng để tránh xa sự ô uế của xác chết (Dan 19:11-22), vì thế họ đánh dấu mồ mả cẩn thận. Nhưng người Pha-ri-si giống như mả không được đánh dấu (“mả loạn”) nên không giống mồ mả chút nào! Điều này có nghĩa như họ đã vô tình làm kẻ khác bị ô uế khi nghĩ rằng mình đang giúp kẻ khác “thánh khiết” hơn! Thay vì giúp kẻ khác, người Pha-ri-si đang làm hại họ.
Các thầy dạy luật cảm thấy “khó chịu” khi nghe lời Chúa và cố sức biện hộ cho bản thân. Đáp lại Chúa dùng ba minh hoạ sống động gánh nặng, mồ mả, và chìa khoá.
Các thầy dạy luật chỉ luôn chất thêm gánh nặng cho kẻ khác, nhưng không hề muốn giúp họ mang lấy những gánh nặng ấy. Bi thảm thay, những kẻ “rao giảng” lời Đức Chúa Trời lại tạo thêm nan đề cho kẻ khác, những kẻ vốn dĩ phải mang quá nhiều gánh nặng rồi! Một mục sư là bạn tôi, mỗi ngày ông cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, xin giúp con hôm nay đừng chất thêm cho ai những gánh nặng” Chúa Giê-xu đã biết những “gánh nặng tôn giáo” này, nên Ngài đã ân cần mời gọi kẻ mệt mỏi đến với Ngài (Mat 11:28-30).
Các thầy dạy luật rất giỏi trong việc tô điểm quá khứ và ca ngợi các tiên tri là những người bị giết bởi tổ chức giáo hội của họ. Lịch sử Kinh Thánh và cả lịch sử Hội thánh đã chứng minh rằng tôi tớ thật của Đức Chúa Trời luôn bị chối từ bởi những con người cần nghe họ giảng nhất. Nhưng dòng dõi kế tự lại tôn trọng những người tử đạo này. Người Pha-ri-si giống như “mồ mả giấu kín, nhưng các thầy thông giáo lại xây lên những mồ mả công phu!”
Sự tử đạo được chép đầu tiên trong Kinh Thánh Cựu-ước, đó là sự chết của A-bên, người sau cùng là Xa-cha-ri (Sa 4:1-15; IISu 24:20-27 và xin nhớ rằng IISử ký là sách sau cùng trong Kinh Thánh của người Hê-bơ-rơ) Chúa Giê-xu không nói rằng các thầy thông giáo và người Pha-ri-si phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc các tiên tri thời Cựu Ước bị giết hại. Đúng hơn, Ngài nhấn mạnh rằng con người giống như các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đã đối xử tệ hại với tôi tớ của Đức Chúa Trời. Tội lỗi cuối cùng của họ là việc đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự.
Tóm lại, các thầy dạy luật đã cướp khỏi kẻ khác sự hiểu biết về Lời Đức Chúa Trời. Thật tệ hại khi họ không những kh ông thể vào được Nước Thiên đàng, mà còn ngăn trở kẻ khác bước vào Thiên đàng! Giăng dạy lời Đức Chúa Trời là điều rất quan trọng và không phải ai cũng có thể làm được (Gia 3:1). Tiếc thay, những kẻ xưng là người “hiểu biết Kinh Thánh” lại là những con người chẳng được trang bị gì cả nên họ không thể thay đổi sự ngu xuẩn của mình.
Tuy nhiên, cũng có một khía cạnh khác: các thầy dạy luật thuyết phục kẻ khác rằng không ai có thể hiểu rõ và giải thích được luật pháp ngoại trừ các giáo sư lỗi lạc đầy hiểu biết. Ngày hôm nay, đôi lúc chúng ta cũng bày tỏ thái độ kiêu căng như thế. Giáo sư nào diễn giải quá mức ngôn ngữ Kinh Thánh đều khiến người ta có cảm giác Đức Thánh Linh không thể dạy dỗ những người không biết ngôn ngữ Hy-lạp và Hê-bơ-rơ.
Hiện nay, có nhiều loại Kinh Thánh nghiên cứu (một số rất có ích) khiến bạn không biết liệu người học có thể học và hiểu được điều gì từ một cuốn Kinh Thánh đơn giản hay không. Chúng ta đừng coi thường sự hiểu biết Cơ-đốc nhân chính và sâu rộng, nhưng cũng nên giữ mọi sự ở mức quân bình.
Đức Chúa Giê-xu là “chìa khoá” của Lời Đức Chúa Trời (Lu 24:44-48). Nếu cất đi chìa khoá này, bạn không thể hiểu những điều Đức Chúa Trời đã viết. Cũng bổ ích và cần thiết như việc học Thần đạo, việc học Kinh Thánh đòi hỏi một điều kiện cao nhất đó là một tấm lòng hạ mình và một ý chí vâng phục. Một số giáo viên Kinh Thánh giỏi nhất tôi từng biết trong cuộc đời hầu việc Chúa, họ là những người học lẽ thật từ Lời Đức Chúa Trời bằng “đầu gối” mình và giữa thử thách của cuộc sống. Họ được chính Đức Thánh Linh dạy dỗ chớ không do con người.
• Chúa gây tức giận cho họ (Lu 11:53-54): Những kẻ giả hình không muốn tội lỗi mình bị phơi bày, vì sẽ làm tổn hại danh tiếng họ. Thay vì chống đối Đức Chúa Trời, lẽ ra những con người này phải hạ mình trước Chúa để tìm kếm sự thương xót của Ngài. Họ ngang nhiên tấn công Chúa bằng những “câu hỏi mẹo” hòng gài bẫy và vu cho Ngài theo phái dị giáo để bắt Ngài. Con Đức Chúa Trời lại bị đối xử một cách vô ơn như thế!
Ngày nay cũng có những quy lệ tôn giáo rất giống những quy lệ được các thầy thông giáo và người Pha-ri-si bảo vệ. Những người lãnh đạo trong tôn giáo diễn giải và áp dụng Lời Kinh Thánh cho các tín hữu, bạn không được phép đặt những câu hỏi hóc búa hoặc đưa ra ý kiến phản bác. Những lãnh đạo này lợi dụng con người và hành động cho có l ệ hoặc chẳng làm gì để làm nhẹ đi gánh nặng của kẻ khác.
Tệ hại hơn hết, họ đã dùng quy lệ tôn giáo để che đậy tội lỗi mình. Lẽ thật từ Đức Chúa Trời khiến chúng ta được tự do, nhưng những con người này chỉ dẫn người vào xiềng xích trói buộc càng thêm.
Đức Chúa Trời đã ban cho Hội Thánh Ngài những giáo sư (Eph 4:11), nên chúng ta phải lắng nghe họ. Tuy nhiên, ta cũng nên xem xét lại những gì mình nghe bằng cách đối chiếu với Kinh Thánh để biết chắc rằng các giáo sư ấy đang giảng dạy lẽ thật (ITe 5:19-21). Chúng ta không nên cho phép bất cứ ai đưa chúng ta vào vòng trói buộc và lợi dụng chúng ta (IICo 11:20).
Có ánh sáng của Lời Đức Chúa Trời và đặc quyền được cầu nguyện là một ơn phước kỳ diệu Chúa dành cho chúng ta. Kẻ thù muốn cướp khỏi chúng ta những phước hạnh của sự tăng trưởng thuộc linh và sự tự do trong Chúa. Kế hoạch của ma quỉ là thay thế lẽ thật bằng sự giả hình để khiến chúng ta quan tâm con người bề ngoài hơn con người bề trong: chăm về danh lợi hơn phẩm cách.
Hiểm hoạ này nghiêm trọng đến nỗi Chúa Giê-xu phải nói thêm ở Lu 12:1-59. Vậy chúng ta hãy cẩn thận!
11. HỠI ANH EM, HÃY COI CHỪNG (Lu 12:1-59)
Các môn-đệ Chúa có lẽ không nhận biết họ đang gặp nhiều nguy hiểm. Trước hết, hằng ngàn người vây quanh họ là những người chỉ muốn xem Chúa Giê-xu làm phép lạ hoặc đáp ứng nhu cầu riêng của họ, thật ra họ chẳng hề muốn nghe lẽ thật thuộc linh. trong khi đó, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si lại lập mưu chống nghịch cùng Chúa. Cái bẫy của “sự ái mộ” và sự sợ hãi loài người đã đem thất bại không ít đến cho các tôi tớ Chúa.
Trong Lu-ca ghi lại năm lời cảnh cáo của Chúa Giê-xu. Ngày nay dân Chúa phải lưu tâm đến bốn lời cảnh cáo nếu muốn trở thành môn đệ trung tín của Ngài, còn thế giới hư mất phải chú ý đến lời cảnh cáo thứ năm.
1. Hãy coi chừng sự giả hình (Lu 12:1-12)
Từ “kẻ giả hình” theo ngôn ngữ Hy Lạp nghĩa là “kẻ đóng kịch”. Trong mọi tầng lớp xã hội đều có những kẻ giả hình, những người cố 1àm cho kẻ khác khâm phục và kính trọng mình hầu giấu đi “cái tôi” thật bên trong. Kẻ giả hình trong đời sống Cơ-đốc là người cố tạo ra vẻ “thuộc linh quá mức” so với thực chất của họ. Họ biết rằng chính họ đang đóng kịch và mong không ai phát hiện ra thực trạng của họ. Đời sống theo Chúa của họ chỉ là một “chiếc mặt nạ” mà thôi.
Có thể hiểu vì sao Chúa Giê-xu đưa ra lời khuyên này trong giờ phút riêng tư với môn đệ. Có thể các môn đệ đã bị cám dỗ khi hài lòng với sự hâm mộ của đám đông, hoặc có thể họ muốn tránh những phiền phức khi đồng tình với các thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Chúng ta đều muốn kẻ khác thích mình và dường như “đóng kịch” là hành động dễ làm khiến nhiều người muốn nhìn thật dễ dàng để đóng vai trò mà những khác muốn xem. Vậy làm sao chúng ta có thể tránh được sự giả hình trong đời sống?
-Trước tiên, chúng ta phải hiểu rõ sự giả hình là gì (Lu 12:1) Chúa so sánh sự giả hình với chất “men”, điều mà mọi người Do-thái đều cho rằng có liên hệ với đến điều xấu (Xu 12:15-20. Phao-lô cũng dùng “men” để nói về tội lỗi. Xem ICôr 5:6-8' Ga 5:9). Giống như chất men, sự giả hình khởi đầu rất “ít” nhưng phát triển nhanh chóng và âm ỉ. Khi hình thành, sự giả hình tiêm nhiễm vào cả con người. Sự giả hình phục vụ cho cái tôi cũng như chất men giúp cho bột nhào bánh vậy: “men” ấy sẽ dậy lên! (ICôr 4:6,18-19; ICôr 5:2). Chẳng bao lâu, lòng kiêu ngạo sẽ thao túng và khiến nhân cách nhanh chóng bị hủy hoại!
Nếu muốn tránh sự giả hình trong đời sống, chúng ta phải tránh xa chất “men” đó, dù là “một chút”.
Bước đầu, chúng ta chỉ “giả vờ” và sau đó, sự giả hình được tập tành nhanh chóng. Càng giữ lâu sự giả dối, tình trạng giả hình càng trở nên tệ hại hơn. Ông Walter Scott nói ràng: