...ngày 24 tháng 5 năm 1738, một giáo-sĩ chán nản “miễn cưỡng” đến dự một hội đồng tôn giáo tại Luân-đôn. Có một phép-lạ xảy ra. Ông ta viết trong nhật-ký của mình, “Khoảng trước chín giờ thiếu mười lăm phút, tôi thấy lòng mình ấm áp lạ kỳ. Tôi cảm nhận rằng tôi đã tin cậy vào Đấng Christ, chỉ một mình Ngài, để nhận ơn cứu rỗi và Ngài bảo đảm với tôi rằng Ngài đã cất đi mọi tội-lỗi tôi, và cứu tôi thoát khỏi luật-pháp của tội-lỗi và sự chết”.
Vị giáo-sĩ ấy là John Wesley. Sứ-điệp ông nghe tối hôm đó là lời mở đầu trong sách giải nghĩa thư Rô-ma của Martin Luther. Trước đó vài tháng, Wesley viết trong nhật-ký của mình: “Tôi đến Hoa Kỳ để truyền-đạo cho người da đỏ nhưng than ôi! ai sẽ cứu tôi?” Đêm đó tại phố Aldersgate, câu hỏi của ông đã được giải đáp. Và kết quả là cơn Phấn Hưng Wesley vĩ đại đã tràn khắp Anh Quốc và thay đổi đất nước này.
Thư Phao-lô gởi cho người Rô-ma vẫn đang biến đổi đời sống nhiều người, giống như đã thay đổi lòng của Martin Luther và John Wesley vậy. Trên hết thảy các câu Kinh Thánh khác đã đem Luther ra khỏi tôn giáo thuần túy vào trong niềm vui mừng về ơn cứu rỗi do ân-điển bởi đức tin đó là Rô 1:17: “Người công-bình sẽ sống bởi đức tin”.
Giáo hội Tin Lành Cải Chánh và Cơn Phấn Hưng của Wesley là kết quả của bức thư kỳ diệu do Phao-lô viết tại Cô-rinh-tô khoảng năm 56 sau Chúa. Bức thư được chuyển đến cho các tín-hữu tại Rô-ma do một trong những chấp-sự của Hội thánh tại Xen-cơ-rê, chị Phê-bê (Rô 16:1)
Hãy hình dung đi! Bạn và tôi có thể đọc và nghiên cứu cùng một bức thư được Thánh Linh hà hơi mang lại sự sống và quyền năng cho Luther và Wesley! Và cùng một Đức Thánh Linh đã dạy dỗ họ cũng có thể dạy bảo chúng ta nữa! Bạn và tôi có thể từng trải sự phấn hưng trong tấm lòng mình, trong gia đình mình và Hội thánh nếu sứ-điệp của bức thư này thu hút chúng ta như đã thu hút những người có đức tin trong nhiều thế kỷ qua.
Trong những câu mở đầu của bức thư, Phao-lô tự giới thiệu về mình cho các tín-hữu tại Rô-ma. Chắc chắn một số trong họ biết rõ về vị sứ-đồ, vì ông chào thăm họ trong chương cuối nhưng Phao-lô chưa hề gặp mặt nhiều người trong số ấy. Vì vậy, trong 17 câu mở đầu này, Phao-lô dùng 3 cách để cố gắng tự gắn bó mình với độc-giả Rô-ma của ông.
1. Ông giới thiệu những quyền hạn của ông (Rô 1:1-7)
Vào thời xưa, người viết thư luôn mở đầu bằng tên của mình. Nhưng thời đó có nhiều người mang tên Phao-lô, vì vậy tác-giả phải tự bày tỏ mình và thuyết phục người đọc biết rằng ông có quyền gởi thư này. Phao-lô có những quyền hạn nào?
a. Ông là tôi tớ của Chúa Giê-xu Christ (Rô 1:1a)
- Phao-lô dùng chữ tôi-tớ có ý nghĩa đối với người Rô-ma, vì đó là chữ nô lệ. Người ta ước tính có 6 triệu nô lệ trong đế quốc Rô-ma nô lệ được người ta xem như một tài sản, chớ không phải con người. Bằng tấm lòng tận hiến cho Chúa, Phao-lô tự đặt mình làm nô lệ cho Đấng Christ, làm tôi tớ của Ngài và vâng theo ý chỉ của Ngài.
b. Ông là một sứ-đồ (Ro 1:1b)
Chữ này có nghĩa “người được ủy quyền làm một sứ-mạng”. Trong thời đó sứ mạng ấy được áp dụng cho các đại diện của hoàng đế hoặc các sứ-thần của nhà vua. Một trong những yêu cầu đòi hỏi người làm chức sứ đồ là phải có kinh nghiệm nhìn thấy Đấng Christ sống lại (ICôr 9:1-2).
Phao-lô nhìn thấy Đấng Christ đang trên đường đến Đa-mách (Công 9:1-9), và lúc ấy chính Đấng Christ đã gọi ông làm sứ-đồ cho dân ngoại. Phao-lô nhận lãnh sự bày tỏ thiên thượng từ Đấng Christ và ông có bổn phận phải chia sẻ lại cho các Hội thánh.
c. Ông là người giảng Phúc-Âm (Rô 1:1c-4)
- Khi còn là ra-bi Do-thái, Phao-lô được biệt riêng ra làm người Pha-ri-si cho luật-pháp và truyền-thống của người Do-thái. Nhưng khi đầu phục Đấng Christ, ông được biệt riêng ra cho chức-vụ rao-giảng Phúc-Âm.
Phúc-Âm có nghĩa “Tin tức tốt lành”.
Đó là sứ-điệp Chúa Giê-xu chịu chết thay tội-lỗi chúng ta, bị chôn, và sống lại, hiện nay có quyền năng cứu chuộc tất cả mọi người để lòng tin cậy Ngài (ICôr 15:1-4).
Đó là “Phúc-Âm của Đức Chúa Trời” (Rô 1:1) vì Phúc-Âm ấy bắt nguồn từ Đức Chúa Trời chớ không phải do con người phát minh ra. Đó là “Phúc-Âm c ủa Chúa Giê-xu Christ” (Rô 1:16) vì Phúc-Âm ấy tập trung vào Đấng Christ, Đấng Cứu Rỗi.
Phao-lô cũng gọi Phúc-Âm ấy là “Phúc-Âm của Con Ngài” (Rô 1:9) cho thấy Chúa Giê-xu Christ là Đức Chúa Trời! Trong Rô 16:25-26, Phao-lô gọi Phúc-Âm là “Phúc-Âm của tôi”.
Ở đây ông muốn nói ông coi trọng giáo-lý của Hội thánh và địa vị của dân ngoại trong chức-vụ của ông theo chương trình của Đức Chúa Trời.
Phúc-Âm không phải là sứ-điệp mới nhưng Phúc-Âm đã được Đức Chúa Trời hứa trong Cựu-ước, bắt đầu trong Sa 3:15. Chắc chắn tiên-tri Ê-sai đã rao-giảng Phúc-Âm trong các phân đoạn như ủs 1: 18 và các chương Ês 53:1-12; Ês 55:1-13.
Sự cứu rỗi chúng ta có ngày nay đã được hứa bởi các đấng tiên-tri, mặc dầu họ không hiểu hết những gì họ nói và viết (IPhi 1:10-12).
Chúa Giê-xu Christ là trung tâm của sứ-điệp Phúc-Âm. Phao-lô nhận biết Ngài là một con người, một người Do-thái, và là Con Đức Chúa Trời. Ngài được sanh ra bởi nữ đồng trinh (Ês 7:14; Mat 1:18-25) thuộc dòng dõi Đa-vít, điều này khiến Ngài có quyền trên ngôi Đa-vít. Ngài chết thay cho tội lỗi thế gian, sau đó Ngài từ kẻ chết sống lại. Chính sự chết thay kỳ diệu và sự sống lại vinh hiển của Ngài đã làm nên Phúc-Âm và đây chính là Phúc-Âm Phao-lô rao-giảng.
d. Ông là nhà truyền-giáo cho dân ngoại (Rô 1:5-7) - Truyền giáo là chữ “sứ-đồ viết theo tiếng La-tinh - người được sai đi”. Có thể có nhiều tập thể con cái Chúa tại Rô-ma nhưng chẳng có nhà thờ nào cả, vì trong Rô-ma chương 16 Phao-lô chào thăm môt số “Hội thánh nhóm tại nhà riêng” (Rô 16:5,10,11,14). Chúng ta không biết chắc các Hội thánh này bắt đầu như thế nào, nhưng rất có thể các tín-hữu từ Rô-ma có mặt tại lễ Ngũ Tuần đã thành lập các Hội thánh trong chuyến họ trở về Rô-ma. (Công 2:10).
Cả người Do-thái lẫn ngoại bang cùng tham dự trong mối thông-công này, vì trong bức thư Phao-lô gởi cho cả hai. (Cho người Do-thái: Rô 2:17-29; Rô 4:1; Rô 7:1. Cho dân ngoại: 1:13; Rô 11:13-24; Rô 15:15-21). Các Hội thánh tại Rô-ma không do Phi-e-rơ hoặc bất cứ sứ-đồ nào khác thành lập.
Nếu các Hội thánh ấy đã được thành lập, chắc chắn Phao-lô đã không có chương trình đến thăm Rô-ma, vì chủ trương của ông là chỉ thi hành chức-vụ nơi chưa có sứ-đồ nào khác đến rao-giảng (Rô 15:20-21).
Hãy lưu ý sự lặp lại của chữ được gọi: Phao-lô được gọi làm sứ-đồ con cái Chúa được gọi thuộc về Chúa Giê-xu Christ và họ còn được gọi làm thánh-đồ. (Không phải trở nên thánh-đồ vì họ đã là thánh-đồ rồi!
Thánh-đồ là người được biệt riêng ra, người tin cậy Chúa Giê-xu Christ được biệt riêng ra và là thánh-đồ). Sự cứu rỗi không phải là điều chúng ta làm cho Đức Chúa Trời nhưng chính Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta trong ân-điển Ngài (IITês 2:13-14). Khi tin nhận Đấng Christ, bạn được cứu bởi hồng-ân của Ngài và kinh nghiệm được sự bình-an của Ngài.
Phao-lô được Đức Chúa Trời đặc biệt giao phó đem Phúc-Âm đến cho dân ngoại (chữ các dân tộc có nghĩa là dân ngoại bang), và đây là lý-do tại sao ông có kế hoạch đến Rô-ma, thủ đô của toàn đế quốc. Ông là người truyền-rao Phúc-Âm, và Phúc-Âm ấy dành cho mọi dân-tộc. Thực ra, Phao-lô nóng lòng đi đến Tây-ban-Nha để rao-giảng về Đấng Christ tại đó (Rô 15:28).
Giới thiệu xong về các quyền hạn của mình, Phao-lô chuyển sang tạo dựng mối quan hệ thứ hai giữa bản thân ông và con cái Chúa tại Rô-ma.
2. Ông bày tỏ lòng quan tâm (Rô 1:8-15)
Chúng ta có thể hiểu rõ mối quan tâm của Phao-lô đối với các Hội thánh ông đã thành lập, nhưng tại sao ông lại quan tâm đến các con cái Chúa tại Rô-ma? Nhiều người trong số họ không biết ông, tuy nhiên ông muốn bảo đảm với họ ông quan tâm sâu sắc về lợi ích của họ. Hãy lưu ý các bằng chứng nói về lòng quan tâm của Phao-lô.
a. Ông biết ơn Chúa vì họ (Rô 1:8)
- “cả thế gian” - có nghĩa toàn đế quốc Rô-ma - biết về đức tin của con cái Chúa tại Rô-ma. Vào thời ấy việc đi lại tương đối phổ biến và “mọi con đường đều dẫn đến Rô-ma”.
Chẳng có gì ngạc nhiên khi tiếng đồn về Hội thánh lan truyền ra nước ngoài, lời chứng này lan nhanh làm cho chức vụ của Phao-lô càng dễ dàng hơn khi ông đi từ nơi này đến nơi khác, và có thể cho thấy lời chứng này phát ra từ trung tâm của Đế Quốc Rô-ma đi các nơi.
b. Ông cầu thay cho họ (Rô 1:9-10)
- Họ không biết Phao-lô ủng hộ họ bằng lời cầu nguyện, nhưng Chúa biết và coi trọng điều đó. (Tôi thắc mắc không biết có bao nhiêu người trong chúng ta biết người khác đang cầu thay cho chúng ta không?) Một trong những điều Phao-lô mong mỏi trong lời cầu thay đó là Đức Chúa Trời sẽ cho phép ông viếng thăm Rô-ma và hầu việc Chúa với các Hội thánh tại đó.
Đáng lẽ ông đã thăm viếng Hội thánh tại Rô-ma sớm hơn, nhưng công việc truyền-giáo làm ông luôn bận rộn (Rô 15:15-33). Ông sắp rời Cô-rinh-tô đến Giê-ru-sa-lem để chuyển giao số tiền dâng đặc biệt ông nhận nơi các Hội thánh ngoại bang gởi cho các thánh-đồ nghèo người Do-thái. Ông hy vọng có thể từ Giê-ru-sa-lem đi thẳng đến Rô-ma, sau đó tiếp tục đi Tây Ban Nha ông mong ước có một chuyến đi thuận lợi.
Thực ra, Phao-lô đã trải qua một chuyến đi nguy hiểm ông đã đến Rô-ma vừa làm người tù vừa làm người giảng Phúc-Âm. Tại Giê-ru-sa-lem ông bị bắt trong đền thờ, bị các bậc cầm quyền Do-thái vu oan và cuối cùng đày đến Rô-ma làm tù-nhân trong nhà ngục của Đế quốc, bị xử án trước mặt hoàng đế Sê-sa.
Khi Phao-lô viết thư này, ông không có ý nói rằng ông sẽ trải qua cảnh tù đày và thậm chí còn bị chìm tàu trước khi đến Rô-ma! Vào cuối bức thư (Rô 15:30-33), ông yêu cầu con cái Chúa tại Rô-ma cầu thay cho ông khi dự tính cho chuyến đi này và thật là tốt lành khi họ đã cầu-nguyện cho ông!
c. Ông yêu thương họ (Rô 1:11-12) -
“Tôi mong mỏi đến thăm anh em!” Đây là tấm lòng của người chăn bầy có trong Phao-lô, nhà truyền-giáo vĩ đại. Phao-lô rất yêu quý một số thánh-đồ tại Rô-ma như A-qui-la và Bê-rít-sin (Rô 16:3-4), những ngư ời đã liều mạng sống mình vì ông “Bẹt-si-đơ rất yêu dấu” (Rô 16: 12) và nhiều người khác đã làm việc và chịu khổ với Phao-lô.
Nhưng ông cũng yêu thương các tín-hữu ông không biết, và ông mong mỏi chia sẻ ơn phước thuộc linh với họ. Ông đang trông đợi đến dịp được thông-công phước hạnh trong tình yêu của Đấng Christ.
d. Ông mắc nợ họ (Rô 1:13-14)
- Là vị sứ-đồ cho dân ngoại, Phao-lô có bổn phận hầu việc Chúa tại Rô-ma. Đáng lẽ ông đã làm trọn bổn phận ấy sớm hơn, nhưng các công việc khác đã ngăn trở ông. Thỉnh thoảng Phao-lô bị ngăn trở vì công việc của Sa-tan (ITês 2:17-20) nhưng trong trường hợp này ông bị ngăn trở vì công việc Chúa.
Có nhiều việc phải làm tại Tiểu-Á và Hy-lạp đến nỗi ông không thể rãnh rỗi để đi ngay đến Rô-ma được. Nhưng Phao-lô phải trả xong nợ yêu thương của mình cho nên ông làm theo mệnh-lệnh của Đức Chúa Trời.
Người Hy-lạp xem mọi người không phải người Hy-lạp là người man rợ. Chìm ngập trong triết-lý trải qua nhiều thế kỷ, người Hy-lạp tự cho mình là khôn ngoan và mọi người khác đều ngu dốt. Nhưng Phao-lô cảm thấy có trách-nhiệm với tất cả mọi người, giống như chúng ta cần phải cưu mang cả thế giới. Phao-lô không thể thoát khỏi nợ cho đến khi ông nói cho nhiều người nghe về Phúc-Âm Cứu Rỗi trong Đấng Christ càng nhiều càng tốt.
e. Ông sẵn lòng đến thăm họ (Rô 1:15)
- Trong bản Kinh Thánh King James có hai chữ khác nhau trong tiếng Hy-lạp được dịch là “sẵn sàng”. Một chữ có nghĩa là “sẵn lòng” chép trong Công 21:13 “Tôi sẵn lòng vì danh Chúa Giê-xu Christ chịu chết tại Giê-ru-sa-lem.” Chữ còn lại, được dùng trong Rô 1:15 có nghĩa “tha thiết, mong ước”.
Phao-lô không mong chết, mặc dầu ông sắp phải chết. Nhưng ông tha thiết mong ước viếng thăm Rô-ma để có thể hầu việc Chúa giữa vòng con cái Chúa tại đó. Đó không phải là nỗi mong ước gặp mặt, nhưng là nỗi mong đợi của người chinh phục linh hồn tội nhân.
Sau khi đọc năm bằng chứng về mối quan tâm của Phao-lô dành cho con cái Chúa tại Rô-ma, các thánh-đồ không thể không dâng lên lời cảm tạ Đức Chúa Trời vì sứ-đồ Phao-lô và mong mỏi của ông đến hầu việc Chúa giữa vòng họ.
Thực ra, Phao-lô đã giải thích Phúc-Âm ông rao-giảng trong thư gởi cho người Rô-ma là bức thư chuẩn bị tinh thần các tín-hữu cho chuyến viếng thăm của ông. Chắc chắn các giáo-sư giả đã đến Rô-ma tìm cách đầu độc tín-hữu chống lại Phao-lô (xem Rô 3:8).
Một số cáo buộc Phao-lô đã chống lại luật-pháp số khác nói rằng ông là kẻ phản bội dân-tộc Do-thái. Còn số khác nữa xuyên tạc lời giảng dạy của ông về ân-điển và ra sức chứng minh rằng Phao-lô đã dạy cách sống tự do. Vì vậy không lạ gì khi Phao-lô mong mỏi đến thăm Rô-ma! Ông muốn chia sẻ với họ về sự trọn vẹn của Phúc-Âm Đấng Christ.
Nhưng liệu Phúc-Âm của Đấng Christ có hành động trong thành phố Rô-ma rộng lớn như đã xảy ra tại các nơi khác không? Phao-lô sẽ thành công hay thất bại tại đó? Rất có thể vị sứ-đồ cảm nhận những chống đối này và tự hỏi trong suy nghĩ, đ ó là lý-do tại sao ông tạo mối liên hệ thứ ba giữa ông và độc-giả của ông.
3. Ông khẳng định sự tin tưởng của mình (Rô 1:16-17)
Thật là một lời chứng: “Tôi mắc nợ! Tôi mong mỏí! Tôi không hổ thẹn!”. Tại sao ngay cả Phao-lô cũng bị cám dỗ hổ thẹn về Phúc-Âm khi ông suy nghĩ về chuyến đi đến Rô-ma của mình?
-Trước tiên, Phúc-Âm có liên quan đến một người thợ mộc Do-thái nghèo đã bị người ta đóng đinh trên thập-tự giá. Người Rô-ma không mặn nồng gì đối với người Do-thái, và hình án đóng đinh là hình thức xử-tử thấp hèn nhất dành cho tội-phạm. Tại sao bạn đặt lòng tin vào một người Do-thái bị đóng đinh?
Rô-ma là thành phố kiêu căng, và Phúc-Âm đến từ thành Giê-ru-sa-lem là thủ-đô của một trong những nước nhược tiểu do Rô-ma thống-trị. Con cái Chúa vào thời ấy không thuộc vào số người ưu tú trong xã hội họ là những thường dân thậm chí còn là nô-lệ.
Thành phố Rô-ma đã biết đến nhiều triết-gia vĩ đại và các triết-lý hay tại sao lại phải lưu tâm đến một truyền-thuyết về một người Do-thái đã từ kẻ chết sống lại? (ICôr 1:18-25).
Cơ-đốc nhân nhìn nhận nhau như anh em chị em, tất cả hiệp-một trong Đấng Christ chống lại mầm mống kiêu ngạo và phẩm hạnh của người Rô-ma. Suy nghĩ về một người may trại Do-thái nhỏ bé, đang trên đường đến Rô-ma để rao-giảng sứ-điệp hầu như là chuyện khôi hài.
Nhưng Phao-lô không xấu hổ về Phúc-Âm. Ông tin tưởng về sứ-điệp ông rao-giảng, và ông cho chúng ta một số lý-do giải thích tại sao ông không hổ-thẹn.
a. Căn nguyên của Phúc-Âm: Đó là Phúc-Âm của Đấng Christ (Rô 1:16a)
-Bất kỳ sứ-điệp nào do Sê-sa tuyên báo cũng đều được người dân Rô-ma chú ý. Nhưng sứ-điệp Phúc-Âm đến từ Con Đức Chúa Trời và về chính Ngài! Trong câu mở đầu, Phao-lô gọi sứ-điệp n ày là “Phúc-Âm của Đức Chúa Trời” (Rô 1:1). Làm thế nào Phao-lô lại có thể xấu hổ về một Phúc-Âm đến từ Đức Chúa Trời và tập trung vào Con Ngài là Chúa Giê-xu Christ được?
Suốt những năm trung học, tôi được bầu làm học sinh phụ trách văn phòng, các học sinh khác phụ trách hội trường ngồi tại các trạm khác nhau chung quanh trường, nhưng tôi được giao nhiệm-vụ ngồi ngay cạnh cửa ra vào văn phòng nhà trường. Tôi được uỷ thác phải truyền đạt các thông tin đến cho các thầy cô giáo và đội ngũ nhân viên trong trường, có khi còn đi đến các trường khác nữa.
Tôi bảo đảm với bạn rằng, thật vui mỗi khi bước vào lớp học lại còn cắt ngang giờ học nữa chớ! Chẳng có thầy cô nào rầy la tôi cả, vì tất cả họ đều biết rằng tôi mang thông báo của thầy hiệu trưởng đến. Tôi chưa hề e ngại hoặc xấu hổ, vì tôi biết xuất xứ của các thông-điệp tôi đang chuyển đến nơi nhận.
b. Hoạt động của Phúc-Âm: Đó là quyền năng của Đức Chúa Trời (Rô 1:16b)
- Tại sao lại hổ-thẹn về quyền phép? Quyền năng là điều người Rô-ma rất hãnh diện. Có thể người Hy-lạp có triết-lý, nhưng người Rô-ma có quyền năng. Nỗi sợ hãi người Rô-ma lởn vởn trên đầu trong khắp cả đế quốc như đám mây.
Họ không phải là người chiến thắng ư? Không phải các đoàn quân La-mã đồn trú khắp nơi sao? Nhưng có tất cả binh lực trong tay, Rô-ma vẫn là một đất nước yếu.
Triết-gia Seneca gọi thành phố Rô-ma là “hang ổ gian ác” nhà-văn Juvenal gọi nó là “cống ô uế chảy trong đó chứa đầy những chất cặn bã của trận lụt trong toàn đế quốc”.
Phao-lô không hổ-thẹn là điều chẳng gì ngạc nhiên: ông đang đem đến cho thành phố Rô-ma tội lỗi một sứ-điệp có quyền năng thay đổi đời sống con người! Ông đã chứng kiến công việc của Phúc-Âm làm ra tại các thành phố gian ác khác như Cô-rinh-tô và Ê-phê-sô và ông tin tưởng rằng Phúc-Âm sẽ hành động tại Rô-ma.
Phúc-Âm đã biến đổi cuộc đời riêng tư của ông, và ông biết Phúc-Âm có thể biến cải cuộc đời của người khác. Còn có lý-do thứ ba cho biết tại sao Phao-lô không hổ-thẹn.
c. Kết quả của Phúc-Âm: đó là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin (Rô 1:16c)
- Chữ “cứu rỗi” chứa đựng ý nghĩa lớn lao trong thời của Phao-lô. Ý nghĩa cơ bản ấy là “sự giải thoát”, giải thoát cho cá nhân và cho đất nước. Vị hoàng đế trị vì đang được xem như là vị cứu tinh, giống như bác sĩ cứu chữa bạn khỏi tật bệnh.
Phúc-Âm giải thoát tội-nhân ra khỏi sự đoán phạt của sự chết và quyền lực của tội-lỗi. “Cứu rỗi” là chủ đề chính trong bức thư này ơn cứu rỗi là nhu cầu lớn lao của con loài ngươì. (Rô 10:1,9-10). Nếu con người được Đức Chúa Trời cứu rỗi linh hồn, chắc chắn họ phải tuyên xưng đức tin vào Chúa Giê-xu Christ như Phúc-Âm rao báo.
d. Sự hoạt động của Phúc-Âm: “mọi kẻ tin” (Rô 1:16d)
- Đây không phải là sứ-điệp dành riêng cho người Do-thái hay dân ngoại. Phúc-Âm ấy dành cho tất cả mọi người, vì mọi người đều cần phải được cứu rỗi. “Hãy đi khắp thế gian giảng Phúc-Âm cho mọi người” là mạng-lệnh Đấng Christ đã truyền (Rô; Mac16:15). “Trước là người Do-thái” không có ý nói là người Do-thái tốt hơn dân ngoại bang vì “chẳng có sự khác biệt nào” trong sự đoán phạt hoặc sự cứu rỗi (Rô 2:6-11; Rô 10:9-13). Phúc-Âm đến “ngươì Do-thái trước” trong chức-vụ của Chúa Giê-xu Christ (Mat 10:5-7) và các sứ-đồ (Công 3:26). Thật lạ lùng khi có một sứ-điệp quyền năng có thể mang đến cho tất cả mọi ngườí!
Đức Chúa Trời không đòi hỏi con người phải cư xử tốt, nhưng phải tin. Chính đức tin nơi Đấng Christ đã cứu rỗi tội-nhân. Sự sống đời đời trong Đấng Christ là quà tặng dành cho tất cả mọi người, cho dù nhu cầu của họ hoặc tình trạng của họ trong cuộc sống có là gì đi nữa.
Rô 1:17 là câu chìa khóa của bức thư. Qua câu Kinh Thánh ấy Phao-lô nêu ra chủ đề: “sự công-bình của Đức Chúa Trời”. Chữ “công-bình” được dùng cách này hay cách khác trên 60 lần trong bức thư (công-bình, xưng-nghĩa, được kể là công-bình).
Sự công-bình của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Phúc-Âm vì trong sự chết của Chúa Giê-xu Christ, Đức Chúa Trời đã đoán phạt tội-lỗi để bày tỏ đức công-bình của Ngài và trong sự sống lại của Đấng Christ, Ngài bày tỏ sự công-bình bằng cách sắm sẵn ơn cứu rỗi cho tất cả mọi tội nhân tin Ngài.
Vấn đề: “Làm thế nào Đức Chúa Trời thánh-khiết lại có thể tha thứ cho tội-nhân mà vẫn là Đấng Thánh-Khiết?” được giải đáp trong Phúc-Âm. Bởi sự chết và sống lại của Đấng Christ, chúng ta thấy Đức Chúa Trời là “công-bình và Đấng xưng công-bình” (Rô 3:26).
Phúc-Âm tỏ bày sự công-bình có được bởi đức tin. Trong Cựu-ước, công-bình là do việc làm, nhưng chẳng bao lâu tội-nhân phát hiện ra họ không thể vâng theo luật-pháp Đức Chúa Trời và thỏa mãn được những đòi hỏi công-bình của Đức Chúa Trời.