...nhớ lại những từ này đã từng gây hứng thú biết bao! Chúng là ngưỡng cửa bước vào một thế giới thú vị của những câu chuyện huyền thoại, một thế giới mộng mơ giúp bạn quên đi tất cả những vấn-đề của tuổi ấu thơ.
Rồi - thình lình! Một ngày nọ bạn tiến tới một khúc quanh, và “ngày xửa ngày xưa .. .” trở thành trò trẻ con. Bạn khám phá ra rằng đời sống là một bãi chiến trường, chứ không phải một sân chơi, và những chuyện thần tiên không còn ý nghĩa nữa.
Bạn mong muốn một điều gì đó có thật.
Việc tìm kiếm một cái gì đó có thật không phải là điều mới mẻ. Nó đã từng có từ thuở ban đầu của lịch-sử. Con người luôn tìm kiếm sự thật và sự thỏa mãn trong của cải, những chuyện ly kỳ, sự chinh-phục, quyền thế, việc học hành, và ngay cả trong tôn-giáo.
Những kinh nghiệm này thật sự không có gì sự sai trật cả, trừ ra việc tự chúng chúng sẽ chẳng bao giờ thật sự làm con người thỏa mãn. Việc mong muốn một điều gì đó có thật và việc tìm ra một điều thật là hai việc khác hẳn. Giống như một đứa bé ăn kẹo bông gòn tại rạp xiếc, nhiều người trông mong “cắn” được một cái thật gì đó để rồi cuối cùng trong miệng chẳng có gì cả. Họ phí nhiều năm dài vô-giá để có được những điều trống rỗng thay thế cho sự thật.
Đây là chỗ thư tín thứ nhất của sứ-đồ Giăng bắt đầu. Được viết cách đây nhiều thế kỷ, bức thư này đề-cập đến một chủ- đề mãi mãi hợp thời: sự sống thật.
Giăng đã khám phá rằng sự thật làm thỏa mãn con người không thể tìm thấy trong các vật cụ thể hay những điều kỳ thú, mà là trong một Con Người – Chúa Giê-xu Christ, Con Đức Chúa Trời. Không phí phạm chút thời gian nào, vị sứ-đồ cho chúng ta biết về “sự thật sống động” này trong phân đoạn đầu của bức thư ông viết.
Khi đọc IGi 1:1-4, bạn học được 3 sự-kiện quan-trọng về sự sống thật:
1. Sự Sống Này Được Mạc Khải.
Khi bạn đọc thư tín của Giăng, bạn sẽ khám phá rằng ông ưa thích sử dụng một số từ, và trong các từ đó là từ “bày-tỏ.” Ông nói: “Và sự sống đã bày-tỏ ra” (c.2). Sự sống này đã không bị che khuất khiến chúng ta phải tìm kiếm và tìm cho được nó. Không, nó đã được bày-tỏ ra – được mạc-khải cách tỏ tường!
Nếu bạn là Đức Chúa Trời, bạn sẽ cố gắng bày-tỏ chính mình cho con người như thế nào? Làm thế nào bạn có thể cho họ biết, và ban-cho họ, loại sự sống bạn muốn họ tận hưởng?
Đức Chúa Trời đã bày-tỏ chính mình Ngài trong muôn vật (Rô 1:20), nhưng chỉ muôn vật thôi thì không bao giờ có thể cho chúng ta biết câu chuyện về tình yêu-thương của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời cũng đã mạc-khải chính mình Ngài cách đầy đủ hơn nhiều trong Lời Ngài, Quyển Thánh Kinh.
Nhưng sự mạc-khải cuối cùng và trọn-vẹn nhất của Đức Chúa Trời là trong Con Ngài, Chúa Giê-xu Christ. Chúa Giê-xu phán: “Ai đã thấy ta tức là đã thấy Cha” (Gi 14:9).
Bởi vì Chúa Giê-xu là sự mạc-khải của Đức Chúa Trời về chính mình Ngài, Ngài có một danh xưng rất đặc biệt: “Lời sự sống” (IGi 1:1).
Phúc-âm Giăng mở đầu bằng cùng danh hiệu này: “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời” (Gi 1:1).
Vì sao Chúa Giê-xu Christ có danh hiệu này?
Vì Đấng Christ đối với chúng ta như là lời nói của chúng ta đối với người khác. Lời nói của chúng ta bày tỏ với người khác điều chúng ta suy nghĩ và cách chúng ta cảm nhận. Đấng Christ bày-tỏ cho chúng ta tâm-trí và tấm-lòng của Đức Chúa Trời.
Ngài là phương tiện truyền thông sống động giữa Đức Chúa Trời và con người. Biết Chúa Giê-xu Christ tức là biết Đức Chúa Trời!
Giăng không nhầm lẫn trong nhận định của mình về Chúa Giê-xu Christ. Chúa Giê-xu là Con của Đức Chúa Cha – Con của Đức Chúa Trời (IGi 1:3). Trong thư tín của mình, Giăng nhiều lần cảnh cáo chúng ta đừng nghe lời các giáo-sư giả là những kẻ nói dối về Chúa Giê-xu Christ.
“Ai là kẻ nói dối, há chẳng phải kẻ chối Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ sao?” (IGi 2:22)
“Phàm thần nào xưng Chúa Giê-xu Christ lấy xác thịt mà ra đời, thần đó là bởi Đức Chúa Trời còn thần nào không xưng Đức Chúa Giê-xu, chẳng phải bởi Đức Chúa Trời” (IGi 4:2,3).
Nếu một người nhầm lẫn về Chúa Giê-xu Christ, người ấy cũng nhầm lẫn về Đức Chúa Trời, vì Chúa Giê-xu Christ là sự mạc-khải cuối cùng và trọn-vẹn của Đức Chúa Trời cho con người.
Thí-dụ, có những người nói với chúng ta rằng Chúa Giê-xu là một con người chứ không phải là Đức Chúa Trời. Giăng không có chỗ dành cho những giáo-sư như thế! Một trong những điều cuối cùng ông viết trong thư này là: “Chúng ta ở trong Đấng chân-thật, là ở trong Chúa Giê-xu Christ, Con của Ngài. Ấy chính Ngài là Đức Chúa Trời chân-thật, và là sự sống đời-đời” (IGi 5:20).
Việc giảng dạy giả dối là một vấn-đề nghiêm-trọng đến độ Giăng cũng viết về điều đó trong thư thứ hai của ông, răn bảo tín-đồ không được rước các giáo-sư giả vào nhà mình (IIGi 1:9,10).
Và ông vạch rõ rằng chối Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời là nghe theo những sự dối trá của Kẻ chống Đấng Christ (IGi 2:22,23).
Điều này đưa đến một giáo-lý căn-bản của Thánh Kinh làm rối trí nhiều người – giáo-lý Ba Ngôi.
Trong thư của mình, Giăng đề cập đến Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Linh. Chẳng hạn như ông nói: “Bởi điều này, hãy nhận biết Thánh Linh của Đức Chúa Trời: phàm thần nào xưng Chúa Giê-xu Christ lấy xác thịt mà ra đời, thần đó là bởi Đức Chúa Trời” (IGi 4:2).
Chỉ trong một câu ông đề-cập đến Đức Chúa Cha là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Con là Đức Chúa Trời, và Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời. Và trong IGi 4:13-15 là một câu khác đề-cập đến cả 3 Thân-Vị của Ba Ngôi.
Từ “Ba Ngôi” (Trinity) là sự kết hợp của từ “tri,” nghĩa là ba, và “unity”, nghĩa là một. Vậy “ba ngôi” là ba trong một, hoặc một trong ba. Để chắc chắn, từ “ba ngôi” không có trong Kinh Thánh, nhưng lẽ thật được giảng dạy trong đó (Mat 28:19,20; Gi 14:16,17,26; Gi IICôr13:14; Êph 4:4-6).
• Cơ-đốc nhân không tin rằng có ba Đức Chúa Trời.
Họ tin rằng một Đức Chúa Trời hiện hữu trong ba Thân-Vị – Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Linh. Cơ-đốc nhân cũng không tin cách đơn thuần rằng một Đức Chúa Trời bày-tỏ chính mình Ngài trong 3 cách khác nhau, giống như một người có thể vừa là một người chồng, một người cha, và một người con. Không, Thánh Kinh dạy rằng Đức Chúa Trời là một nhưng Ngài hiện hữu trong ba Thân-Vị.
Một giáo-sư dạy giáo-lý từng nói: “Cố gắng giải thích về Ba Ngôi thì bạn có thể mất trí. Nhưng cố gắng thanh minh về Ba Ngôi như là một vấn-đề không quan-trọng thì bạn sẽ mất linh-hồn!”
Và sứ-đồ Giăng nói: “Ai chối Con thì cũng không có Cha” (IGi 2:23). Không Thân Vị nào trong Ba ngôi có thể bị chối bỏ cả!
Khi bạn đọc các sách Phúc-Âm ký thuật lại cuộc đời Chúa Giê-xu, bạn nhìn thấy loại sự sống tuyệt diệu Đức Chúa Trời muốn chúng ta tận hưởng. Nhưng không phải bằng cách bắt chước Chúa Giê-xu, Gương mẫu của chúng ta, mà chúng ta có thể dự phần trong sự sống này. Không, có một cách thức tốt đẹp hơn nhiều:
2. Sự Sống Này Được Kinh Nghiệm
Hãy đọc lại 4 câu đầu của thư IGiăng lần nữa, và bạn sẽ nhận ra rằng vị sứ-đồ đã có một sự gặp gỡ riêng tư với Chúa Giê-xu Christ. Từng-trải của ông không phải là “kinh-nghiệm tôn-giáo” cũ kỹ kế thừa từ một người nào kh ác hay khám phá trong sách vở!
Không, Giăng biết Chúa Giê-xu Christ mặt đối mặt. Ông và các sứ-đồ khác đã nghe Chúa Giê-xu giảng. Họ đã ngắm nhìn Ngài khi Ngài sống với họ. Trên thực tế, họ đã xem xét Ngài rất kỹ lưỡng, và thậm chí đã sờ đến thân thể Ngài.
Họ biết rằng Chúa Giê-xu là thật – không phải một bóng ma, không phải một dị-tượng, mà là Đức Chúa Trời trong thân xác con người.
Một sinh-viên nào đó của thế kỷ 20 có thể nói: “Vâng, và điều này có nghĩa là Giăng đã có thuận lợi. Ông sống khi Chúa Giê-xu bước đi trên đất này. Ông biết Chúa Giê-xu cách riêng tư. Còn tôi l ại sinh ra trong thế kỷ 20 quá muộn màng!”
Nhưng đây là chỗ sinh-viên ấy đã sai lầm! Không phải việc các sứ-đồ gần gũi với Chúa Giê-xu Christ về thuộc thể khiến họ đổi mới. Đó chính là sự gần gũi về tâm-linh. Họ đã phó thác chính mình cho Ngài là Chúa và Cứu Chúa của họ. Chúa Giê-xu Christ là thật và đầy thu hút đối với Giăng và các môn-đệ khác của Ngài vì họ tin Ngài. Bởi tin Đấng Christ, họ đã kinh-nghiệm sự sống đời-đời!
Trong bức thư này, 6 lần Giăng dùng từ “sinh bởi Đức Chúa Trời.” Đây không phải là một ý tưởng do Giăng tự nghĩ ra ông đã nghe Chúa Giê-xu dùng những từ này.
Chúa Giê-xu đã phán: “Nếu một người chẳng sinh lại thì không thể thấy được Nước Đức Chúa Trời . . . Hễ chi sinh bởi xác thịt là xác thịt hễ chi sinh bởi Thánh Linh là thần. Chớ lấy làm lạ về đều ta nói với ngươi, “Các ngươi phải sinh lại” (Gi 3:3,6,7).
Chúng ta chỉ có thể kinh-nghiệm “sự sống thực” này sau khi chúng ta đã tin nhận Phúc-Âm, đặt đức-tin mình nơi Đấng Christ, và được “sanh bởi Đức Chúa Trời.”
“Ai tin Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ thì sanh bởi Đức Chúa Trời” (IGi 5:1). Sự sống đời-đời không phải là điều chúng ta có được bởi các việc lành hay bởi xứng đáng vì bản-tính tốt đẹp của mình. Sự sống đời-đời, sự sống thật, là một món quà từ Đức Chúa Trời ban-cho những ai tin nhận Con Ngài làm Cứu Chúa của họ.
Giăng viết sách Phúc-Âm của ông để cho mọi người biết làm cách nào nhận lãnh sự sống kỳ diệu này (Gi 20:31). Ông viết thư tín thứ nhất để cho mọi người biết làm thế nào để chắc chắn họ đã được sinh bởi Đức Chúa Trời (IGi 5:9-13).
Một sinh viên cao đẳng trở lại trường sau khi về nhà dự đám tang một người thân, và ngay sau đó thứ hạng của anh bắt đầu tụt xuống. Người khải-đạo của anh cho rằng cái chết của bà anh đã tác-động đến anh, và thời gian sẽ rịt lành vết thương lòng cho anh, nhưng thứ hạng lại càng tụt xuống thấp hơn.
Cuối cùng anh thú thật vấn-đề. Trong khi ở nhà, anh tình cờ nhìn vào quyển Kinh Thánh cũ của bà anh, và tại đó anh khám phá trong gia phổ rằng mình là một đứa con nuôi.
Anh nói với người khải-đạo: “Tôi không biết mình là con ruột của ai. Tôi không biết gốc gác của mình từ đâu!”
Việc đảm-bảo rằng chúng ta ở trong gia đình của Đức Chúa Trời – rằng chúng ta được “sinh bởi Đức Chúa Trời” – vô cùng quan-trọng đối với tất cả chúng ta. Một số đặc-tính luôn luôn đúng với tất cả con cái Đức Chúa Trời.
Một người được sinh bởi Đức Chúa Trời sống một đời sống công-bình (IGi 2:29). Một con cái Đức Chúa Trời không miệt mài trong tội-lỗi (đây là nghĩa của từ “phạm” theo bản King James, IGi 3:9). Một tín-đồ đôi khi sẽ phạm-tội (IGi 1:8-2:2), nhưng người ấy sẽ không tạo thói quen để phạm-tội.
Con cái Đức Chúa Trời cũng yêu-thương nhau và kính yêu Cha thiên-thượng của mình (IGi 4:7; IGi 5:1). Họ không yêu mến thế-gian quanh mình (IGi 2:15-17), và vì cớ điều này thế-gian ghen ghét họ (IGi 3:13). Thay vì bị đánh bại bởi những áp lực của thế-gian, và bị mất thăng bằng, con cái Đức Chúa Trời thắng hơn thế-gian (IGi 5:4). Đây là một dấu hiệu khác của con cái thật của Đức Chúa Trời.
Tại sao việc chúng ta biết rằng mình đã được sinh bởi Đức Chúa Trời thật là quan-trọng? Giăng cho chúng ta câu giải đáp.
Có 2 loại con cái trong thế-gian này: con cái Đức Chúa Trời và con cái ma quỷ (IGi 3:10). Bạn sẽ cho rằng một “con cái của ma quỷ” là một người sống trong tội-lỗi kinh khiếp, nhưng vấn-đề không phải luôn luôn là như thế. Một người không tin Chúa là một “con cái của ma quỷ.”
Người đó có thể đạo đức và thậm chí sùng đạo người đó có thể là một Cơ-đốc nhân giả. Nhưng vì người chưa hề được “sinh bởi Đức Chúa Trời” và từng-trải sự sống thuộc-linh cách cá nhân, nên người vẫn còn là “con cái” của Sa-tan.
Một Cơ-đốc nhân giả – và những người như thế rất phổ biến – thì giống như một đồng 10 đô-la giả.
Giả sử bạn có một tờ bạc giả và thật sự nghĩ rằng nó là thật. Bạn dùng nó để trả tiền một thùng xăng. Người quản lý trạm xăng dùng tờ bạc đó mua hàng cung-cấp. Người bán hàng dùng tiền đó trả cho người bán tạp hóa. Người bán tạp hóa xếp tờ giấy bạc này chung với 49 tờ 10 đô-la khác và đem đến ngân hàng. Và viên kế-toán nói: “Tôi rất tiếc, nhưng tờ bạc này là bạc giả.”
Tờ giấy bạc 10 đô-la đó có thể đã làm được nhiều điều tốt trong khi lưu hành, nhưng khi nó tới ngân hàng nó bị vạch trần cho thấy tính chất thật của nó, và nó bị ngưng lưu hành.
Một Cơ-đốc nhân giả cũng vậy. Người đó có thể làm nhiều điều tốt trong đời này, nhưng khi anh ta đối diện sự phán-xét sau cùng anh ta sẽ bị khước từ.
“Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỷ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép-lạ sao?’ Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: ‘Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!’” (Mat 7:22,23).
Mỗi chúng ta phải thành thật tự hỏi, “Tôi có phải là một con cái thật của Đức Chúa Trời không hay tôi là một Cơ-đốc nhân giả? Tôi đã thực sự được sinh bởi Đức Chúa Trời chưa?”
Nếu bạn chưa kinh-nghiệm sự sống đời-đời, tức sự sống thực này, bạn có thể kinh-nghiệm nó ngay giờ này! Hãy đọc kỹ IGi 5:9-15. Đức Chúa Trời đã hứa trong Lời Ngài. Ngài ban cho bạn món quà sự sống đời-đời. Hãy tin lời hứa của Ngài và cầu-xin Ngài món quà đó. “Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu” (Rô 10:13).
Chúng ta đã khám phá 2 sự-kiện quan-trọng về “sự sống thật”: nó được bày-tỏ trong Chúa Giê-xu Christ và nó được kinh-nghiệm khi chúng ta đặt đức-tin mình nơi Ngài là Cứu Chúa của chúng ta. Nhưng Giăng không dừng tại đây!
3. Sự Sống này được San sẻ
“Điều chúng tôi đã thấy và nghe chúng tôi loan báo (truyền) cho anh em” (IGi 1:3). Và một khi bạn đã kinh-nghiệm sự sống đầy thú vị này là thật, bạn sẽ mong muốn chia sẻ nó với những người khác, y như Giăng đã mong muốn “loan báo” nó với tất cả độc-giả của ông trong thế kỷ đầu tiên.
Một vị mục-sư nọ nhận được một cú điện thoại từ một phụ nữ đang giận dữ. Bà la to, “Tôi đã nhận được một tờ truyền-đạo đơn từ Hội thánh của ông, và tôi ghét việc ông dùng thư từ để làm người khác bực mình!”
Vị mục-sư từ tốn hỏi, “Có điều gì đáng bực mình về một bức thư từ một Hội thánh gửi đến?”
“Ông không có quyền tìm cách thay đổi tôn-giáo của tôi!”, bà ta hét lên. “Ông có tín ngưỡng của ông và tôi có tín ngưỡng của tôi, và tôi có đang tìm cách thay đổi tín ngưỡng của ông đâu!” (Bà ta thật sự đã làm như vậy, nhưng vị mục-sư không cãi trả lại bà.)
“Việc làm thay đổi tín ngưỡng của bà, hay tín ngưỡng của bất cứ ai khác, không phải là mục đích của chúng tôi,” vị mục-sư giải thích. “Nhưng chúng tôi đã kinh-nghiệm một sự sống mới kỳ diệu bởi đức-tin nơi Đấng Christ, và chúng tôi mong muốn làm tất cả những gì mình có thể để chia-sẻ sự sống đó với những người khác.”
Nhiều người (kể cả một số Cơ-đốc nhân) nghĩ rằng “làm-chứng” nghĩa là tranh cãi về những khác biệt trong niềm tin tôn-giáo, hoặc ngồi lại và so sánh các Hội thánh với nhau.
Đó không phải là điều Giăng suy nghĩ! Ông cho chúng ta biết rằng làm chứng có nghĩa là chia-sẻ những kinh-nghiệm thuộc-linh của mình với người khác – cả bằng đời sống lẫn bằng lời nói của chúng ta.
Giăng viết bức thư này để chia sẻ Đấng Christ với chúng ta. Khi bạn đọc nó, bạn sẽ khám phá rằng Giăng có 5 mục đích để chia-sẻ:
(1). Để anh em cũng được thông-công với chúng tôi (IGi 1:3).
Từ “thông-công” này là một từ quan-trọng trong từ vựng của một Cơ-đốc nhân. Nó chỉ có nghĩa là “có chung.” Là tội-nhân, con người không có gì chung với một Đức Chúa Trời thánh-khiết.
Nhưng Đức Chúa Trời bởi ân-điển Ngài đã sai Đấng Christ đến thế gian để có điểm chung với con người. Đấng Christ mang trên Chính Ngài một thân xác con người và trở thành một con người.
Sau đó Ngài đã bước lên Thập Tự và mang trên thân xác ấy tội-lỗi của cả thế-gian (IPhi 2:24). Vì Ngài đã trả giá cho tội-lỗi chúng ta, Ngài đã mở ra một con đường để Đức Chúa Trời tha thứ cho chúng ta và đem chúng ta vào trong gia đình của Ngài. Khi chúng ta tin nhận Đấng Christ, chúng ta trở nên “người dự phần vào bản tính thiên-thượng” (IIPhi 1:4).
Từ ngữ dịch là “người dự phần” trong thư của Phi-e-rơ có cùng gốc với từ Hy-lạp với từ được dịch là “thông-công” trong IGi 1:3.
Thật là một phép-lạ diệu kỳ! Chúa Giê-xu Christ mang trên chính Ngài bản-tính của con người hầu cho bởi đức-tin chúng ta có thể nhận lãnh chính bản-tính của Đức Chúa Trời!
Một tác-giả người Anh nổi tiếng đang rời khỏi Liverpool bằng tàu. Ông ta nhận thấy những hành khách khác đều đang vẫy tay với bạn bè trên bến tàu. Ông vội vã chạy lên bến và chặn một cậu bé lại.
“Cháu sẽ vẫy tay chào chú nếu chú trả tiền cho cháu chứ?” ông ta hỏi cậu bé, và dĩ nhiên cậu ta đồng ý. Tác-giả vội chạy trở xuống tàu và đứng tựa vào lan can tàu, vui sướng vì có người để vẫy tay chào. Và hẳn nhiên, cậu bé nọ đang vẫy tay lại chào ông!
Thật là một câu chuyện ngốc nghếch phải không? Có lẽ thế – nhưng nó nhắc nhở chúng ta rằng con người ghét sự cô độc. Tất cả chúng ta đều muốn được người khác cần đến mình.
Sự sống thực giúp giải quyết vấn-đề căn-bản của sự cô độc, vì Cơ-đốc nhân có mối thông-công chân-thật với Đức Chúa Trời và với nhau. Chúa Giê-xu hứa, “Và này, ta hằng ở với các ngươi luôn” (Mat 28:20).
Trong thư của mình, Giăng giải thích bí quyết của mối thông-công với Đức Chúa Trời và với các Cơ-đốc nhân khác. Đây là mục đích đầu tiên Giăng đề cập khi viết thư này – chia-sẻ kinh-nghiệm về sự sống đời-đời của ông.
(2). Để sự vui-mừng chúng ta được trọn-vẹn (Mat 1:4).
Sự thông-công là câu giải đáp của Đấng Christ cho sự cô độc của đời sống. Niềm vui-mừng là câu giải đáp của Ngài cho sự trống không, rỗng tuếch của đời sống.
Sứ-đồ Giăng dùng từ “sự vui-mừng” chỉ một lần trong thư của ông, nhưng ý tưởng của sự vui mừng xuyên suốt cả bức thư. Sự vui-mừng không phải là một điều gì đó chúng ta tự tạo ra cho chính mình sự vui-mừng là một sản phẩm phụ diệu kỳ của mối thông-công giữa chúng ta với Đức Chúa Trời.
Đa-vít biết sự vui-mừng mà Giăng đề cập đến người nói: “Trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc” (Thi 16:11).
Về cơ-bản, tội-lỗi là nguyên nhân của sự đau khổ bao trùm thế giới chúng ta ngày nay. Tội-lỗi hứa hẹn niềm vui nhưng nó lại luôn đem đến khổ đau. Những thú vui của tội-lỗi thì tạm thời – chúng chỉ kéo dài một giai đoạn ngắn (Hêb 11:25). Những sự khoái lạc của Đức Chúa Trời còn đến đời đời – chúng kéo dài mãi mãi (Thi 16:11).
Sự sống thật đem đến sự vui-mừng thật – chứ không phải một sự thay thế tạm bợ nào đó. Chúa Giê-xu phán trong đêm trước khi Ngài bị đóng đinh, “Không ai cướp lấy sự vui-mừng của các ngươi được” (Gi 16:22). “Ta nói cùng các ngươi những đều đó, hầu cho sự vui-mừng của ta ở trong các ngươi, và sự vui-mừng các ngươi được trọn-vẹn” (Gi 15:11).
Karl Marx đã viết, “Điều kiện tiên quyết để nhân dân được hạnh phúc là sự xóa bỏ tôn-giáo.” Nhưng thực tế, sứ-đồ Giăng đã viết, “Đức-tin nơi Chúa Giê-xu Christ đem lại cho anh em sự vui-mừng mà thế-gian không bao giờ có thể sao chép được. Chính mình tôi đã kinh-nghiệm sự vui-mừng này, và tôi mong muốn được chia-sẻ nó với anh em.”
(3). Để chúng ta đừng phạm tội (IGi 2:1).
Giăng đối diện vấn-đề tội-lỗi cách thẳng thắn (xin xem IGi 3:4-9, chẳng hạn) và công-bố giải đáp duy nhất cho điều bí ẩn này – đó là Con Người và việc làm của Chúa Giê-xu Christ. Đấng Christ không chỉ chết thay chúng ta để mang lấy án phạt của tội-lỗi chúng ta, nhưng Ngài đã sống lại từ kẻ chết để cầu-thay cho chúng ta trước ngai của Đức Chúa Trời: “Nếu có ai phạm-tội, thì chúng ta có Đấng cầu-thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Chúa Giê-xu Christ, tức là Đấng công-bình” (IGi 2:1).
• Đấng Christ là Đấng Thay Mặt cho chúng ta.
Ngài bênh vực chúng ta tại trước ngai Đức Chúa Cha. Sa-tan có thể đứng tại đó để kiện cáo anh em (Kh 12:10; Xa 3:1-10), nhưng Đấng Christ đứng tại đó với tư cách Trạng sư của chúng ta – Ngài cầu thay cho chúng ta! Để đáp lại những lời cầu-nguyện của Ngài, Đức Chúa Trời liên tục tha-thứ cho sự phạm-tội của chúng ta.
“Tôi muốn trở thành một Cơ-đốc nhân,” một phụ nữ quan tâm đến Phúc-Âm nói với vị mục-sư đến thăm, “nhưng tôi sợ tôi không thể giữ được. Tôi sợ mình lại phạm-tội nữa!”
Mở IGi 1:5-10 ra vị mục-sư nói, “Chắc hẳn bà sẽ lại phạm-tội, vì Đức Chúa Trời phán,“Nếu chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta” (c.8). Nhưng nếu bà phạm-tội, Đức Chúa Trời sẽ tha-thứ cho bà nếu bà xưng-tội mình với Ngài. Nhưng không nhất thiết là Cơ-đốc nhân phải phạm-tội. Khi chúng ta bước đi trong mối thông-công với Đức Chúa Trời và trong sự vâng theo Lời Ngài, Ngài ban-cho chúng ta khả năng để kháng cự lại và thắng hơn sự cám-dỗ.”
Kế đó vị mục-sư chợt nhớ rằng người phụ nữ này đã trải qua việc phẫu thuật vài tháng trước đó.
“Khi bà bị mổ,” ông hỏi, “liệu có khả năng xảy ra những điều phức tạp hay trục trặc gì sau đó không?”
“Dạ c ó chứ,” bà ta đáp, “Nhưng hễ khi nào tôi gặp nan-đề gì, tôi lại đến bác sĩ và ông ấy chữa trị cho tôi.”
Thế là lẽ thật được bày tỏ cho bà ta! “Tôi hiểu rồi!” bà giải thích. “Đấng Christ luôn sẵn sàng giữ tôi khỏi tội lỗi hoặc tha thứ cho tội lỗi của tôi!”
• Sự sống thực là một sự sống đắc thắng.
Trong bức thư này, Giăng cho chúng ta biết làm thế nào để nhờ đến phương sách thiên-thượng hầu kinh-nghiệm được sự đắc thắng đối với cám-dỗ và tội-lỗi.
(4). Để chúng ta không bị lừa dối (IGi 2:26).
Như chưa bao giờ trước đây, Cơ-đốc nhân ngày nay cần khả năng phân biệt giữa đúng và sai, giữa lẽ thật và sự sai lầm. Trong thế-hệ chúng ta, thật phổ biến quan-niệm cho rằng không có “điều tuyệt đối” – rằng không điều gì là luôn luôn đúng và không điều gì là luôn luôn sai.
Vì thế, những học thuyết giả dối phổ biến hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch-sử – và hầu hết những người nam và nữ dường như sẵn lòng chấp nhận hầu như bất kỳ sự giảng dạy nào ngoại trừ những lẽ thật của Thánh Kinh.
Trong thư tín của Giăng có một từ ngữ mà không tác-giả Tân-ước nào khác sử dụng – từ “Kẻ chống Đấng Christ” (IGi 2:18,22; IGi 4:3; IIGi 1:7). Tiền tố “anti ” có 2 nghĩa: chống lại và thay thế.
Trong thế-gian này có những giáo-sư giả dối chống nghịch với Đấng Christ, và phương pháp của chúng để “dỗ dành” người ta là dùng những lời giả dối. Họ đưa ra một Đấng Christ thay thế, một sự cứu-rỗi thay thế, và một Thánh Kinh thay thế. Họ muốn đem đến cho bạn một điều gì đó thay thế cho Lời chân-thật của Đức Chúa Trời và sự sống đời-đời chân-thật.
• Đấng Christ là Lẽ Thật (Gi 14:6), nhưng Sa-tan là kẻ nói dối (Gi 8:44). Ma quỷ dẫn người ta đi lạc đường – không nhất thiết với những tội-lỗi lớn lao thấy được, nhưng với những sự thật chỉ đúng một nửa và những lời dối trá hoàn toàn.
Nó bắt đầu việc dỗ dành con người trong Vườn Ê-đen. Nó đã hỏi Ê-va, “Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn?” Thậm chí lúc đó, nó vẫn chưa để lộ cho bà thấy bản-chất thật của mình, nhưng giả dạng là một tạo vật xinh đẹp (IICôr 11:13-15).
Ngày nay Sa-tan thường truyền-bá những lời dối trá của nó ngay cả qua những nhóm người sùng đạo! Không phải mọi người đứng trên tòa giảng đều đang rao giảng lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời. Những nhà truyền-đạo giả và các giáo sư tôn-giáo giả luôn thuộc trong số những công cụ ưa thích và hữu hiệu nhất của ma quỷ.
Làm thế nào Cơ-đốc nhân ngày nay có thể nhận ra những lời giả dối của Sa-tan? Làm sao họ có thể nhận diện các giáo-sư giả? Làm thế nào họ có thể lớn lên trong sự thông biết lẽ thật để không trở thành nạn nhân của các học-thuyết giả dối?
Giăng trả lời những câu hỏi này. Đặc-điểm của sự sống thật là khả năng phân biệt.
Đức Thánh Linh, được Giăng đề cập đến như là “sự xức dầu . . . mà các con đã nhận lãnh nơi Ngài” (IGi 2:27), là lời giải đáp của Đấng Christ cho nhu-cầu phân biệt của chúng ta. Thánh Linh là Giáo-sư của chúng ta: chính Ngài giúp chúng ta có thể nhận ra lẽ thật và sự sai lầm và cứ ở trong Đấng Christ. Ngài là sự bảo vệ của chúng ta chống lại sự ngu dốt, sự phỉnh gạt, và điều giả dối.
Chúng ta sẽ lại chú ý đến sự phân biệt các học-thuyết giả dối và các giáo-sư giả trong các chương 5 và 6 của quyển sách này.
(5). Để chúng ta biết mình được cứu (IGi 5:13).
Chúng ta đã đề-cập đến lẽ thật này rồi, nhưng thật quan trọng là nó cần phải được nhắc lại. Sự sống thực không xây dựng trên những hy-vọng – hay những mơ ước hão huyền – dựa trên những điều giả sử của con người. Nó được xây dựng trên sự xác-quyết.
Trên thực tế, khi đọc thư tín của Giăng bạn gặp từ biết trên 30 lần. Nếu được hỏi rằng liệu mình có sẽ lên thiên đàng không, không Cơ-đốc nhân nào cần phải nói “Tôi hy-vọng thế” hay “Tôi nghĩ vậy.” Người ấy cần phải không chút nghi ngờ gì về điều này.
Sự sống thực thật là một sự sống tự-do và lý thú vì nó đặt nền tảng trên sự hiểu biết về những sự thật vững chắc. Chúa Giê-xu đã hứa, “Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi (khiến các ngươi được tự-do)” (Gi 8:32).
Các sứ-đồ của Chúa Giê-xu đã làm-chứng: “Chúng tôi không theo những huyền thoại giả tưởng (những chuyện khéo đặt để, hoang đường)” (IIPhi 1:16). Những người này, hầu hết đều chết cho đức-tin mình, đã không dâng hiến đời mình cho một trò lừa khôn-ngoan do chính mình đặt ra, như một số nhà chỉ trích Cơ-đốc giáo khẳng định cách ngu xuẩn. Họ biết mình đã nhìn thấy điều gì!
Cách đây nhiều năm một người làm trò mua vui lưu diễn tự quảng cáo mình là “Người Bay.” Ông ta leo lên bờ tường của những tòa nhà cao tầng hoặc các viện bảo tàng mà không cần dây thừng trợ giúp hay lưới để bảo vệ. Thường cả khu phố hay đổ xô ra để xem ông ta.
Trong một lần biểu diễn nọ, Người Bay này leo tới một điểm trên bờ tường của một tòa nhà và ngừng lại như thể ông không biết mình phải làm gì kế tiếp. Rồi ông giơ tay phải ra bám lấy một mảng xi-măng nhô ra để đu người lên cao hơn. Nhưng thay vì tiến lên cao hơn, ông ta thét to rồi rơi xuống đất và nằm chết trên lề đường.
Khi cảnh sát mở bàn tay phải của ông ra, họ không thấy mảng xi-măng nào cả. Đó là một nắm mạng nhện dơ bẩn! Người Bay đã cố gắng leo trên mạng nhện, và kết quả là như thế.
Chúa Giê-xu cảnh cáo sự tin chắc giả dối như vậy trong đoạn văn chúng ta đã trích dẫn. Nhiều người xưng là Cơ-đốc nhân sẽ bị khước từ trong ngày phán-xét của Đức Chúa Trời
Trong thư của mình Giăng nói, “Tôi muốn anh em chắc chắn rằng mình có sự sống đời đời.”
Khi đọc bức thư thú vị này, bạn sẽ khám phá rằng Giăng thường lặp đi lặp lại. Ông luôn nhắc đến 3 chủ-đề của các chương này: sự vâng-lời, tình yêu-thương, và lẽ thật. Trong chương 1 và 2, vị sứ-đồ nhấn mạnh mối thông-công, và ông cho chúng ta biết rằng những điều kiện cho sự thông-công là: sự vâng-lời (IGi 1:5-2:6), tình yêu-thương (IGi 2:7-17), và lẽ thật (IGi 2:18-29).
Trong phân nửa sau của bức thư, Giăng đề cập chính yếu đến địa-vị làm con – việc chúng ta “được sinh bởi Đức Chúa Trời.” Làm thế nào một người thực sự biết mình là con cái Đức Chúa Trời ? Giăng nói địa-vị làm con được bày-tỏ bởi sự vâng-lời (IGi 3:1-24), tình yêu-thương (IGi 4:1-21), và lẽ thật (IGi 5:1-21).
• Sự vâng lời – tình yêu thương – lẽ thật.
Vì sao Giăng lại dùng những sự thử-nghiệm về mối thông-công và địa-vị làm con đặc biệt này? Vì một lý-do rất thực tiễn.
Khi Đức Chúa Trời tạo dựng nên chúng ta, Ngài dựng nên chúng ta theo ảnh-tượng của chính Ngài (Sa 1:26,27). Điều này có nghĩa là chúng ta có một tính-chất người theo mẫu-mực của Đức Chúa Trời. Chúng ta có một khối óc để suy nghĩ, một trái tim để cảm nhận, và một ý chí để quyết định.
Đôi lúc chúng ta đề-cập đến những khía cạnh này của tính chất người của chúng ta như là lý-trí, tình cảm, và ý chí.
Sự sống thật phải liên quan đến tất cả các yếu-tố của tính-chất con người.
Hầu hết mọi người ngày nay đều không thỏa mãn vì toàn thể con người của họ chưa hề được điều khiển bởi một điều gì đó chân-thật và có ý nghĩa. Khi một người được Đức Chúa Trời sinh lại bởi đức-tin nơi Đấng Christ, Thánh Linh Đức Chúa Trời ngự vào đời sống người ấy để cư ngụ tại đó vĩnh viễn.
Khi người ấy có mối thông-công với Đức Chúa Trời trong việc đọc và học Kinh Thánh và cầu-nguyện, Đức Thánh Linh có thể làm chủ tâm-trí, tấm-lòng, và ước muốn của người. Và rồi việc gì sẽ xảy ra?
-Một lý-trí được Thánh Linh làm chủ biết và hiểu lẽ thật.
-Một trái tim được Thánh Linh làm chủ cảm nhận tình yêu thương.
-Một ý chí được Thánh Linh làm chủ khiến chúng ta có ý muốn vâng lời.
Giăng muốn khắc sâu sự thật này trong lòng chúng ta, và đó là lý-do vì sao ông dùng một loạt những sự tương phản trong bức thư của mình: lẽ thật trái với những sự giả dối, tình yêu-thương trái với lòng ghen ghét, và sự vâng-lời trái với sự bất-tuân.
Không có sự trung lập trong sự sống thật. Chúng ta phải ở bên này hoặc bên kia.
Thế thì, đây là sự sống thật. Nó được bày-tỏ trong Đấng Christ nó được kinh-nghiệm bởi những ai tin nơi Đấng Christ và nó có thể được chia-sẻ hôm nay.
Sự sống này bắt đầu với địa-vị làm con và tiếp tục trong mối thông-công. Trước hết chúng ta được sinh bởi Đức Chúa Trời kế đó chúng ta bước đi (sống) với Đức Chúa Trời.
Điều này có nghĩa là có 2 loại người không thể hưởng được sự vui-mừng và đắc thắng mà chúng ta đang suy gẫm: những người chưa hề được sinh bởi Đức Chúa Trời và những người, dầu đã được cứu, nhưng không có mối thông-công với Đức Chúa Trời.
Thật là một việc làm khôn-ngoan khi chúng ta tự thử mình (IICôr 13:5) để biết xem mình có đủ tư cách hưởng được từng-trải thuộc-linh mà thư tín của Giăng đề cập đến chăng.
Chúng ta đã nhấn mạnh tầm quan-trọng của việc sinh bởi Đức Chúa Trời, nhưng nếu bạn có nghi ngờ hay thắc mắc điều gì, việc xem xét lại sự-kiện hai có thể hữu ích.
Nếu một tín-đồ thật không có mối thông-công với Đức Chúa Trời, thường là vì một trong 3 lý-do:
1. Người đó đã bất-tuân ý chỉ của Đức Chúa Trời.
2. Người đó không đang hòa thuận với các anh em tín-hữu khác.
3. Người đó tin một điều giả dối và vì vậy đang sống giả dối. Ngay cả một Cơ-đốc nhân vẫn có thể bị nhầm lẫn trong việc thông-hiểu lẽ thật. Đó là lý-do vì sao Giăng cảnh cáo chúng ta, “Hỡi các con cái bé mọn, chớ để cho ai lừa dối mình” (IGi 3:7).
Ba lý-do này tương đương với 3 chủ-đề quan-trọng của Giăng: sự vâng-lời, tình yêu-thương, và lẽ-thật. Một khi người tín-đồ khám phá vì sao mình không có mối thông-công với Đức Chúa Trời, người ấy cần phải xưng-tội đó (hoặc những tội đó) với Chúa và cầu-xin sự tha thứ trọn-vẹn của Ngài (IGi 1:9-2:2). Một tín-đồ không bao giờ có thể có mối thông-công vui-mừng với Chúa nếu tội-lỗi ở giữa người ấy và Đức Chúa Trời.
Lời mời gọi của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta ngày nay là, “Các con hãy đến vui hưởng mối thông-công với Ta và với nhau! Hãy đến và chia-sẻ sự sống thực!”
2. NÓI VÀ BƯỚC ĐI (IGi 1:5-2:6)
(IGi 1:5-10)
Mọi sinh vật sống đều có kẻ thù của nó. Côn trùng phải canh chừng những con chim đói rình rập, và chim chóc phải đề phòng những chú mèo và chó đói. Ngay đến con người phải tránh xe cộ và chống lại mầm mống bệnh tật.
Sự sống thực cũng có kẻ thù của nó, và chúng ta đọc về điều đó trong phần này. Kẻ thù này là tội-lỗi. Trong những câu này, 9 lần Giăng đề cập đến tội-lỗi, vì thế đề-tài này hiển nhiên không phải là không quan-trọng. Giăng minh-họa chủ-đề của mình bằng cách dùng sự tương phản giữa sự sáng và sự tối tăm: Đức Chúa Trời là sự sáng tội-lỗi là sự tối tăm.
Nhưng cũng có một sự tương phản nữa ở đây – sự tương phản giữa nói và làm. Bốn lần Giăng viết, “Ví bằng chúng ta nói” hoặc “Kẻ nào nói” (IGi 1:6,8,10; IGi 2:4). Rõ ràng đời sống Cơ-đốc nhân chúng ta không chỉ đơn giản là “nói” chúng ta cũng phải “bước đi, ” hay sống, theo điều mình tin.
Nếu chúng ta thông-công với Đức Chúa Trời (nếu chúng ta “đang bước đi trong sự sáng”), đời sống chúng ta sẽ hỗ trợ cho những gì môi miệng chúng ta nói ra. Nhưng nếu chúng ta đang sống trong tội-lỗi (“bước đi trong sự tối tăm”), thì đời sống chúng ta sẽ đi ngược lại những gì môi miệng chúng ta nói ra, khiến chúng ta trở thành những kẻ giả hình.
Tân-ước gọi đời sống Cơ-đốc là một sự “bước đi”. Việc bước đi này bắt đầu với một bước đức-tin khi chúng ta tin nhận Đấng Christ là Cứu Chúa của mình. Nhưng sự cứu-rỗi không phải là cuối cùng – nó chỉ là sự bắt đầu – của đời sống thuộc-linh. “Việc bước đi” liên quan đến sự tiến triển, và Cơ-đốc nhân có bổn-phận phải tấn tới trong đời sống thuộc-linh.
Giống như một đứa trẻ phải học đi và phải vượt qua những khó khăn trong việc này, một Cơ-đốc nhân phải học “bước đi trong sự sáng.” Và sự khó khăn cơ bản được nói đến ở đây là vấn đề tội lỗi này.
Dĩ nhiên, tội-lỗi không chỉ đơn giản là sự bất-tuân bề ngoài tội-lỗi cũng là sự phản loạn hay thèm muốn bên trong. Thí-dụ, chúng ta được cảnh cáo về những mê tham của xác thịt và mê tham của mắt và về sự kiêu-ngạo của đời (IGi 2:16), tất cả những điều đó đều là tội-lỗi. Tại đó tội-lỗi là sự trái (vi phạm) luật-pháp (IGi 3:4), hay theo nghĩa đen, là “tình trạng không có luật-pháp.” Tội-lỗi là việc không chịu tuân theo luật-pháp Đức Chúa Trời.
Tình trạng không có luật-pháp, hay độc lập khỏi luật-pháp, chính là bản-chất của tội-lỗi. Nếu một tín-đồ quyết định sống một cuộc sống độc lập, làm thế nào người ấy có thể bước đi trong mối thông-công với Đức Chúa Trời?
“Nếu hai người không đồng ý với nhau, thì há cùng đi chung được sao?” (Am 3:3).
Cả trong Cựu-ước lẫn trong Tân-ước Kinh Thánh không hề thanh minh cho tội-lỗi của các thánh-đồ. Trong việc trốn khỏi một cơn đói kém, Áp-ra-ham trở nên yếu đức-tin và đi xuống Ai-cập và nói dối cùng Pha-ra-ôn (Sa 12:1-20). Về sau, vị tộc-trưởng này đã cố gắng “giúp Đức Chúa Trời” bằng cách cưới A-ga và sinh được một con trai (Sa 16:1-16).
Trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Trời đã tha-thứ cho Áp-ra-ham, nhưng Áp-ra-ham phải gặt những gì ông đã gieo ra. Đức Chúa Trời có thể và sẽ tẩy sạch những điều được ghi chép lại, nhưng Ngài không thay đổi những hậu quả. Không ai có thể phục hồi một quả trứng.
Phi-e-rơ đã chối Chúa 3 lần và ra sức giết một người trong vườn khi Chúa Giê-xu bị bắt. Sa-tan là một kẻ nói dối và giết người (Gi 8:44), và Phi-e-rơ đang làm lợi cho nó! Dĩ nhiên, Đấng Christ đã tha-thứ cho Phi-e-rơ (Gi 21:15-23), nhưng điều Phi-e-rơ đã làm gây tác hại lớn lao cho lời chứng của ông và ngăn trở công tác của Chúa.
Việc Cơ-đốc nhân phạm tội làm một số người phiền lòng – đặc biệt là những tín-đồ mới. Họ quên rằng việc họ nhận lãnh bản-tính mới không làm mất đi bản-tính cũ vốn có. Bản-tánh cũ (bắt nguồn từ khi sanh ra đời) chống nghịch với bản-tính mới chúng ta nhận lãnh khi được sinh lại (Ga 5:16-26).
Không mức độ kỷ luật tự giác nào, không bộ luật-lệ, phép tắc nào do con người đặt ra, có thể khống chế bản tính cũ này. Chỉ Thánh Linh Đức Chúa Trời mới có thể giúp chúng ta “tiêu diệt” bản-tính cũ (Rô 8:12,13) và sinh ra bông trái Thánh Linh (Ga 5:22,23) trong chúng ta qua bản-tính mới.
Việc các thánh đồ phạm-tội được đề-cập đến trong Kinh Thánh không phải để khiến chúng ta ngã lòng, nhưng để cảnh tỉnh chúng ta.
“Tại sao ông cứ giảng cho Cơ-đốc nhân chúng tôi về tội-lỗi?” một thuộc-viên Hội thánh giận dữ nói với vị mục-sư của bà. “Xét cho cùng, tội-lỗi trong đời sống một Cơ-đốc nhân khác biệt với tội-lỗi trong đời sống một người chưa được cứu chứ!”
“Đúng thế,” vị mục sư đáp, “nó thật khác biệt. Nó tồi tệ hơn nhiều!”
Vì vậy, tất cả chúng ta phải giải quyết vấn-đề tội-lỗi nếu chúng ta mong muốn hưởng sự sống thực. Trong phần này, Giăng giải thích ba cách thức thực hiện điều đó:
1. Chúng ta có thể cố gắng che đậy tội-lỗi của mình
“Đức Chúa Trời là sự sáng, và trong Ngài không có sự tối tăm” (IGi 1:5). Khi chúng ta được cứu, Đức Chúa Trời gọi chúng ta ra khỏi sự tối tăm để bước vào sự sáng của Ngài (IPhi 2:9). Chúng ta là con cái của sự sáng (ITês 5:5). Những kẻ làm điều sai quấy ghét sự sáng (Gi 3:19-21). Khi sự sáng chiếu soi trên chúng ta, nó phơi bày bản chất thực của chúng ta (Êph 5:8-13).
Sự sáng tạo ra sự sống và sự tăng-trưởng cùng vẻ tươi đẹp, nhưng tội-lỗi là sự tối tăm, và sự tối tăm với sự sáng không thể hiện diện trong cùng một chỗ. Nếu chúng ta đang bước đi trong sự sáng, bóng tối tăm phải tan đi. Nếu chúng ta đang nắm giữ tội-lỗi, thì sự sáng tiêu biến đi. Không có vùng đất ở giữa, không có khu vực “xám” mơ hồ, nơi tội-lỗi có liên quan tới.
Cơ-đốc nhân cố gắng che đậy tội-lỗi của mình như thế nào? Bằng cách nói dối! Trước hết, chúng ta nói dối với những người khác (IGi 1:6). Chúng ta muốn các bạn bè Cơ-đốc nghĩ là mình “thuộc-linh”, vì vậy chúng ta nói dối về đời sống chúng ta và cố gắng tạo một ấn tượng tốt đẹp nơi họ. Chúng ta muốn họ nghĩ rằng chúng ta đang bước đi trong sự sáng, mặc dù trên thực tế chúng ta đang bước đi trong sự tối tăm.
Một khi một người bắt đầu nói dối với những người khác, sớm muộn gì người đó cũng sẽ nói dối với chính mình, và đoạn văn của chúng ta đề-cập đến việc này (c.8). Vấn đề bây giờ không phải là lừa dối người khác, mà là lừa dối chính mình. Có thể lắm một tín-đồ sống trong tội lỗi nhưng lại tự cho rằng mọi sự trong mối tương quan giữa người ấy với Chúa đều tốt đẹp.
Có lẽ tấm gương cổ điển của việc này là Vua Đa-vít (IISa 11:1-12:23). Trước tiên Đa-vít ham muốn Bát Sê-ba. Sau đó người thật sự phạm-tội tà-dâm. Thay vì công-khai thú nhận điều mình đã làm, người cố che đậy tội-lỗi mình. Người cố dối gạt chồng Bát Sê-ba, làm cho ông say, rồi ra lệnh giết chết ông. Người nói dối với bản thân mình và cố điều khiển việc triều chính theo thường lệ.
Khi tiên-tri Na-than ra mắt người thuật lại một câu chuyện giả sử tương tự, Đa-vít lên án người kia, dù ông không hề cảm thấy chính mình bị định-tội gì cả. Một khi chúng ta bắt đầu lừa dối những người khác, chẳng bao lâu sau chúng ta sẽ thật sự tin lời nói dối của mình.
Nhưng chiều hướng thuộc-linh trở nên ngày càng tồi tệ hơn: bước kế tiếp là việc cố gắng nói dối với Đức Chúa Trời (IGi 1:10). Chúng ta đã khiến mình trở thành những kẻ nói dối giờ đây chúng ta cố làm cho Đức Chúa Trời trở thành một kẻ nói dối! Chúng ta phủ nhận Lời Ngài phán rằng “tất cả mọi người đều đã phạm tội,” và chúng ta xác nhận rằng mình ngoại lệ đối với quy luật này.
Chúng ta áp-dụng Lời Đức Chúa Trời cho những người khác chứ không cho bản thân mình. Chúng ta ngồi dự suốt các buổi nhóm nhà thờ hoặc những buổi học Kinh Thánh nhưng không hề nhận được sự dạy dỗ gì từ Kinh Thánh cả. Những tín-đồ ở trình độ thấp này thường hay kịch liệt phê phán các Cơ-đốc nhân khác, nhưng lại mạnh mẽ phản đối việc áp-dụng Lời Chúa vào đời sống riêng tư của họ.
Hình ảnh mô-tả tấm lòng con người được Thánh Linh soi sáng cho chúng ta nhìn thấy thực sự kinh khiếp! Một tín-đồ nói dối về mối giao-thông của mình (c.6) về bản-chất của mình – “Tôi chẳng bao giờ có thể làm một việc như thế!” (c.8) và về những việc làm của mình (c.10).
Tội lỗi có một cách thức lan truyền gây chết người, phải không?
Tại điểm này chúng ta phải thảo luận một yếu tố hết sức quan trọng trong kinh-nghiệm về sự sống thực của mình. Yếu-tố đó là sự chân-thật. Chúng ta phải thành thật với chính mình, thành thật với những người khác, và thành thật với Đức Chúa Trời. Đoạn văn của chúng ta mô-tả một tín-đồ đang sống một đời sống không thành thật: người ấy là một tín-đồ giả. Người ấy đang đóng một vai diễn chứ không đang sống một đời sống thực. Người ấy giả dối.
Loại người này từng-trải những mất mát gì?
Một mặt, người ấy mất Lời Chúa. Người ấy không còn “làm theo lẽ-thật” (c.6) rồi lẽ thật không còn ở trong người (c.8) và rồi người biến lẽ th ật thành ra những sự dối trá (c.10)! Chúa Giê-xu phán, “Lời Ngài là lẽ thật” (Gi 17:17) nhưng một người sống giả dối đánh mất Lời Chúa. Một trong những dấu hiệu của việc bước đi trong sự tối tăm là một sự đánh mất phước hạnh từ Kinh Thánh. Bạn không thể nhận được lợi ích gì trong việc đọc Lời Chúa khi đang bước đi trong sự tối tăm.
Nhưng một người không thành thật đánh mất một điều khác: người đánh mất mối thông-công với Đức Chúa Trời và với dân-sự của Đức Chúa Trời (IGi 1:6,7). Kết quả là, sự cầu-nguyện trở thành một hình thức trống rỗng đối với người. Việc thờ-phượng là thói quen nhàm chán. Người trở nên hay chỉ trích các Cơ-đốc nhân khác và bắt đầu vắng mặt ở nhà thờ: “Sự sáng với sự tối có thông đồng với nhau được chăng?” (IICôr 6:14).
Một người chồng sa ngã, chẳng hạn, đang bước đi trong sự tối tăm thuộc-linh, xa cách mối thông công với Đức Chúa Trời, không bao giờ có thể vui hưởng sự thông công đầy trọn với người vợ Cơ-đốc của mình là người đang bước đi trong sự sáng.
Theo một cách thức hời hợt bên ngoài, cặp vợ chồng này có thể có tình bậu bạn nhưng mối thông-công thuộc-linh thực sự thì không thể có được. Sự bất-năng trong việc san sẻ những kinh-nghiệm thuộc-linh này gây ra nhiều vấn-đề cá nhân trong gia đình và giữa các thuộc-viên của các hội thánh địa phương.
Một nhóm thuộc-viên trong hội thánh đang bàn cãi về vị mục-sư mới của mình.
Một người nói, “Vì một lý-do nào đó, tôi thật sự không cảm thấy thoải mái với ông ấy. Tôi tin ông ta là một người tốt, đúng thế – nhưng có điều gì đó dường như đang ngăn cách giữa chúng tôi.”
Một thuộc-viên khác đáp, “Vâng, tôi nghĩ là tôi hiểu điều anh muốn nói. Tôi đã từng gặp vấn-đề tương tự với ông ta, nhưng giờ thì không còn nữa. Tôi và mục-sư có mối thông-công khắng khít với nhau.”
“Ông ấy đã làm gì để mọi việc tốt đẹp hơn thế?”
“Ông ấy chẳng làm gì cả,” người bạn nói. “Chính tôi đã thay đổi.”
“Anh đã thay đổi à?”
“Đúng vậy, tôi đã quyết định cởi mở và thành thật về mọi thứ, theo cách vị mục-sư đã làm.
Anh thấy đó, không có một dấu vết giả hình nào trong đời sống ông ấy, còn trong đời sống của tôi lại có quá nhiều việc giả bộ đến nỗi chúng tôi đã không hiểu được nhau. Cả ông ấy và tôi đều biết tôi là một người giả dối. Từ khi tôi bắt đầu sống một đời sống Cơ-đốc chân thật, mọi việc tốt đẹp hơn.”
Một nan-đề của sự không thành thật là nếu chỉ ghi nhớ hết những lời nói giả dối và những sự giả vờ của mình thôi, chúng ta đã mất hết cả thời gian! Abraham Lincoln đã từng nói nếu một người định trở thành một kẻ nói dối, người ấy tốt hơn nên có một trí nhớ tốt! Khi một người sử dụng tất cả năng lực của mình trong việc giả vờ, người ấy không còn hơi sức để mà sống và đời sống trở nên hời hợt và vô vị. Một người giả vờ không chỉ cướp đi hiện thực của chính mình, mà người ấy còn khiến mình không lớn lên được: cái tôi thật của người ấy bị che giấu dưới cái tôi giả tạo.
Sự mất mát thứ ba thực sự là kết quả của 2 điều đầu:
-Người tín-đồ đánh mất tính-cách của mình (IGi 2:4). Tiến trình này bắt đầu với việc người ấy nói dối và kết thúc với việc anh ta trở thành một kẻ dối trá!
Sự giả dối, hay thiếu thành thật, của anh ta thoạt đầu là một vai mà anh ta diễn. Rồi nó không còn là một vai diễn nữa – nó đã trở thành chính bản-chất của đời sống anh ta. Tính cách của anh ta đã băng hoại. Anh ta không còn là một kẻ dối trá vì anh ta nói dối nữa giờ đây anh ta nói dối bởi vì sự dối trá đã tiêm nhiễm thành bản-tính của con người anh.
Có đáng ngạc nhiên chăng khi Đức Chúa Trời cảnh cáo, “Người nào giấu tội-lỗi mình sẽ không được may mắn (thịnh vượng)” (Ch 28:13)? Đa-vít đã cố gắng che đậy tội-lỗi mình và người phải trả giá bằng chính sức khỏe (Thi 32:3,4), sự vui-mừng (Thi 51:1-19), gia đình, và gần như cả vương quốc của người. Nếu chúng ta mong muốn tận hưởng sự sống thực, chúng ta không bao giờ được che giấu tội-lỗi của mình.
Chúng ta cần phải làm gì ?
2. Chúng ta có thể xưng tội mình
Giăng nêu lên 2 danh hiệu thật hay dành cho Chúa Giê-xu Christ: Đấng Biện Hộ và Đấng Cứu Chuộc (Propitiation) (IGi 2:1,2). Việc chúng ta hiểu được 2 danh hiệu này rất quan-trọng vì nó tiêu-biểu cho 2 chức-vụ mà duy chính mình Chúa thực hiện.
Chúng ta hãy bắt đầu với từ Propitiation.
Nếu bạn tra từ này trong tự điển, bạn có thể nhận được ý sai của nghĩa từ này. Tự điển cho chúng ta biết rằng động từ “propitiate” có nghĩa là “làm một người đang giận dữ dịu xuống.”
Nếu áp dụng điều này với Đấng Christ, bạn có được hình ảnh kinh khiếp của một Đức Chúa Trời đang thịnh nộ, sắp tiêu diệt cả thế-gian, và một Đấng Cứu Thế đầy yêu thương phó chính mình Ngài để làm Đức Chúa Trời đang nổi giận nguôi đi – và đây không phải là hình-ảnh về sự cứu-rỗi của Thánh Kinh!
Hẳn nhiên Đức Chúa Trời giận dữ đối với tội-lỗi xét cho cùng, Ngài rất mực thánh-khiết. Nhưng Kinh Thánh cam đoan một lần nữa với chúng ta rằng “Đức Chúa Trời thật yêu-thương (chứ không phải ghét bỏ) thế gian” (Gi 3:16).
Không, từ “propitiation” không có nghĩa là việc làm cho một Đức Chúa Trời đang thịnh nộ nguôi cơn giận. Đúng hơn, nó có nghĩa là việc thỏa đáng luật-pháp thánh khiết của Đức Chúa Trời. “Đức Chúa Trời là sự sáng” (IGi 1:5), và vì vậy Ngài không thể nào làm ngơ đối với tội-lỗi. Nhưng “Đức Chúa Trời là tình yêu-thương” (IGi 4:8) nữa, và mong muốn cứu-rỗi tội-nhân.
Vậy thì, làm thế nào một Đức Chúa Trời thánh-khiết có thể duy trì sự công-chính của riêng Ngài mà vẫn tha thứ tội-nhân được? Câu trả lời là sự hy-sinh của Đấng Christ. Tại thập-tự giá, Đức Chúa Trời trong sự thánh-khiết của Ngài đã đoán-phạt tội-lỗi. Đức Chúa Trời bởi tình yêu-thương Ngài đã ban Chúa Giê-xu Christ đến thế-gian làm Đấng Cứu Chuộc.
Đức Chúa Trời thật công-bình trong việc Ngài hình phạt tội-lỗi, nhưng Ngài cũng đầy yêu-thương trong việc Ngài ban sự tha-thứ dư dật qua những gì Chúa Giê-xu đã thực hiện tại Đồi Gô-gô-tha. (Xin đọc IGi 4:10 và cũng xin suy gẫm Rô 3:23-26)
Đấng Christ là của lễ chuộc tội-lỗi cho cả thế-gian, nhưng Ngài là Đấng Biện Hộ chỉ cho những kẻ tin Ngài mà thôi. “Chúng ta (các Cơ-đốc nhân) có đấng cầu-thay với Đức Chúa Cha.” Từ “biện hộ” được dùng để áp dụng cho các luật-sư. Từ ngữ Giăng dùng rất giống từ mà Chúa Giê-xu đã dùng khi Ngài nói về sự hiện đến của Đức Thánh Linh (Gi 14:16,26; Gi 15:26). Theo nghĩa đen, nó có nghĩa là “một người được gọi đến bên cạnh.” Khi một người được gọi ra hầu tòa, người ấy có một trạng-sư (luật-sư) đi theo để đứng cạnh bên và biện-hộ cho vụ-kiện của mình.
Chúa Giê-xu đã hoàn tất công việc của Ngài trên đất (Gi 17:4) – việc phó dâng mạng sống Ngài làm một của lễ chuộc-tội. Ngày nay Ngài có một “công tác chưa hoàn tất” trên thiên-đàng. Ngài thay mặt cho chúng ta trước ngai Đức Chúa Trời. Là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta, Ngài cảm-thông với những sự yếu đuối và những cám-dỗ của chúng ta và ban ân-điển cho chúng ta (Hêb 4:15,16; Hêb 7:23-28). Là trạng-sư của chúng ta, Ngài giúp chúng ta khi chúng ta phạm-tội. Khi chúng ta xưng thú tội-lỗi với Đức Chúa Trời, vì cớ lời biện-hộ của Đấng Christ, Đức Chúa Trời tha-thứ cho chúng ta.
Cựu-ước chứa đựng một bức tranh đẹp đẽ về việc này. Giê-hô-sua (Xa 3:1-7) là thầy tế lễ thượng phẩm của Do-thái sau khi dân Do-thái bị lưu đày ở Ba-by-lôn trở về xứ. Cả dân tộc đã phạm tội để tượng trưng cho điều này, Giê-hô-sua đứng trước mặt Đức Chúa Trời trong bộ áo bẩn và Sa-tan đứng bên hữu Giê-hô-sua để kiện cáo người (Kh 12:10).
Đức Chúa Cha là Đấng phán xét Giê-hô-sua, tượng trưng cho dân-sự, là người bị kết tội Sa-tan là công-tố viên đang khởi-tố. (Thánh Kinh gọi nó là kẻ kiện cáo của anh em.) Mọi sự trông như thể Sa-tan đã có một trường hợp rõ rành rành để thắng kiện. Nhưng Giê-hô-sua lại có một trạng-sư đứng bên hữu Đức Chúa Trời, và việc này đã làm tình huống thay đổi. Đấng Christ ban cho Giê-hô-sua một bộ áo mới và làm im bặt những lời kiện-cáo của Sa-tan.
Đây là điều được xem xét khi Chúa Giê-xu Christ được gọi là “Đấng Biện Hộ.” Ngài thay mặt cho những kẻ tin Ngài trước ngai Đức Chúa Trời, và công-trạng của sự hy-sinh của Ngài khiến tội-lỗi của tín-đồ có thể được tha-thứ. Vì cớ Đấng Christ đã chết thay cho dân-sự Ngài, Ngài thỏa mãn sự công-chính của Đức Chúa Trời.
(“Tiền công của tội-lỗi là sự chết.”) Vì Ngài sống cho chúng ta tại bên hữu Đức Chúa Trời, Ngài có thể ứng-dụng sự hy-sinh của Ngài vào nhu-cầu của chúng ta mỗi ngày.
Tất cả những điều Ngài đòi hỏi là khi chúng ta thất bại chúng ta xưng tội-lỗi mình.
“Xưng tội” có nghĩa là gì?
Xưng tội lỗi bao hàm nhiều ý nghĩa hơn là chỉ thừa nhận chúng. Từ “xưng” thực ra có nghĩa là “nói cùng một cách (về).” Vậy, xưng thú tội có nghĩa là nói về tội cùng một cách như Đức Chúa Trời nói về nó.
Một nhà khải-đạo đang cố gắng giúp một người đã tiến tới phía trước trong suốt một buổi truyền-giảng. “Tôi là một Cơ-đốc nhân,” người ấy nói, “nhưng có tội-lỗi trong đời sống tôi, và tôi cần được giúp đỡ.” Nhà khải-đạo đưa cho anh ta xem IGi 1:9 và đề nghị anh ta xưng-tội với Đức Chúa Trời.