top of page
6. KẺ GIẢ MẠO (IGi 3:1-10)
Bộ...
...Tài Chánh Mỹ có một nhóm người đặc biệt có bổn-phận theo dõi những kẻ làm giả mạo. Đương nhiên, những người này cần biết một tờ giấy bạc giả khi họ nhìn thấy nó.
Họ học nhận diện những tờ bạc giả như thế nào?
Thật lạ là họ không được huấn luyện bằng cách dành nhiều giờ xem xét những tờ bạc giả. Đúng hơn, họ nghiên cứu bạc thật. Họ trở nên quá quen thuộc với những tờ bạc thật đến nổi họ có thể chỉ ra một tờ bạc giả bằng cách nhìn vào nó hay, thường thì chỉ bằng cách sờ thử nó.
Đây là phương cách trong IGi 3:1-24, báo trước cho chúng ta rằng trong thế giới ngày nay có những Cơ-đốc nhân giả – tức “con cái của ma quỷ” (c.10). Nhưng thay vì liệt-kê những đặc-tính xấu xa của con cái Sa-tan, Thánh Kinh mô-tả con cái Đức Chúa Trời thật rõ ràng cho chúng ta. Sự trái ngược giữa hai bên thật hiển nhiên.
Câu trọng tâm của chương này là câu IGi 10: một con cái thật của Đức Chúa Trời làm theo sự công-bình và yêu mến các Cơ-đốc nhân khác bất chấp những sự khác biệt nhau. Câu 1-10 đề cập tới đề-tài đầu, và câu 11-24 liên-hệ đề-tài sau.
Làm theo sự công-bình và yêu-thương anh em mình, dĩ nhiên, không phải là những chủ-đề mới mẻ. Hai đề-tài quan-trọng này được trình bày trong 2 chương đầu của thư tín này, nhưng trong chương 3 phương pháp trình bày khác hẳn. Hai chương đầu nhấn mạnh vào mối thông-công: một Cơ-đốc nhân ở trong mối thông-công với Đức Chúa Trời sẽ làm theo sự công-bình và sẽ yêu-thương anh em. Nhưng chương 3-5 nhấn mạnh vào địa-vị làm con. Vì một Cơ-đốc nhân được “sanh bởi Đức Chúa Trời,” người ấy sẽ làm theo sự công-bình và yêu mến anh em mình.
“Được sanh bởi Đức Chúa Trời” là ý tưởng nền-tảng đối với các chương này (IGi 2:29; IGi 3:9; IGi 4:7; IGi 5:1,4,18).
Khi bạn đọc IGi 3:1-10 trong Bản văn Authorized, có thể bạn phải ngạc nhiên vì câu 6 và 9 dường như trái ngược hẳn với IGi 1:8-9. Bản dịch Authorized của các động từ ở đây không chính xác. Điều mà bản văn Hy-lạp thực sự nói là: “Không ai ở trong Ngài mà miệt mài trong tội-lỗi không ai miệt mài trong tội-lỗi mà từng được thấy Ngài hoặc biết Ngài” (c.6).
“Không ai được sanh bởi Đức Chúa Trời mà miệt mài trong tội-lỗi . . . người ấy không thể miệt mài trong tội-lỗi vì người được sanh bởi Đức Chúa Trời” (c.9).
“Miệt mài” tội-lỗi là cứ phạm-tội hoài và điều đó như một lối sống. Nó không nói đến việc thỉnh thoảng mới phạm một tội. Rõ ràng là không Cơ-đốc nhân nào vô-tội cả (IGi 1:8-10), nhưng Đức Chúa Trời trông mong một tín-đồ chân-thật phạm tội ít đi, chứ không phạm-tội thường xuyên.
Mọi nhân vật vĩ đại được đề-cập đến trong Kinh Thánh có lúc cũng đã phạm-tội.
-Áp-ra-ham nói dối về vợ mình (Sa 12:1-20).
-Môi-se nổi nóng và bất-tuân Đức Chúa Trời (Dan 20:7-13).
-Phi-e-rơ chối Chúa 3 lần (Mat 26:69-75).
Nhưng tội-lỗi không phải là thói quen không thay đổi được của những người này. Đó là một việc bất ngờ xảy ra trong đời sống họ, hoàn toàn trái ngược với thói quen bình thường của họ. Và khi họ phạm-tội, họ thú nhận tội đó và cầu xin Đức Chúa Trời tha-thứ cho mình.
Một người chưa được cứu (ngay cả nếu người ấy tự xưng là một Cơ-đốc nhân nhưng lại là một tín-đồ giả) sống một đời sống thường xuyên phạm tội. Tội-lỗi – đặc biệt là tội vô-tín – là một điều bình thường trong đời sống người ấy (Êph 2:1-3). Người ấy không có nguồn cậy trông thiên-thượng nào để nương tựa. Sự tuyên xưng đức-tin của người ấy, nếu có, là không chân-thật.
Đây là điều phân biệt được xem xét trong Êph 3:1-10 – một tín-đồ thật không sống trong tội-lỗi thường xuyên. Người ấy có thể phạm-tội – một hành động sai trật có tính cách không thường xuyên – nhưng người ấy sẽ không miệt mài trong tội-lỗi – tức tạo nên một thói quen không thay đổi được của hành động đó.
Sự khác biệt là một Cơ-đốc nhân thật biết Đức Chúa Trời. Một Cơ-đốc nhân giả có thể nói về Đức Chúa Trời và tham gia vào các “hoạt động tôn-giáo,” nhưng người ấy không thật sự biết Đức Chúa Trời. Người đã được “sanh bởi Đức Chúa Trời” nhờ đức-tin nơi Đấng Christ biết Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh. Và bởi vì người ấy biết Ba ngôi Đức Chúa Trời, người ấy sống một đời sống vâng lời: người ấy không miệt mài trong tội-lỗi.
Giăng nêu cho chúng ta 3 lý-do để sống một đời sống thánh-khiết:
1. Đức Chúa Cha yêu thương chúng ta (IGi 3:1-3)
Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta thì vô nhưng. Câu 1 có thể được dịch là, “Hãy xem, Đức Chúa Cha đã ban cho chúng ta loại tình yêu đặc biệt, khác với thế gian này biết bao.” Trong khi chúng ta là kẻ thù nghịch của Đức Chúa Trời Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con Ngài chết thế chúng ta!
Toàn thể kế hoạch cứu-rỗi diệu kỳ bắt đầu với tình yêu của Đức Chúa Trời.
Nhiều dịch-giả thêm một phần vào câu IGi 1: “Mà cho chúng ta được gọi là con cái Đức Chúa Trời, và chúng ta thật là con cái Ngài.” “Con Đức Chúa Trời” không chỉ là một danh xưng rỗng tuyếch mà chúng ta mang nó là một thực tế! Chúng ta là con cái Đức Chúa Trời! Chúng ta không trông mong thế-gian hiểu mối quan-hệ lạ lùng này, vì họ thậm chí không hiểu Đức Chúa Trời. Chỉ người nào biết Đức Chúa Trời qua Đấng Christ mới có thể thấu hiểu đầy đủ việc được gọi là con Đức Chúa Trời có nghĩa gì.
Câu 1 cho chúng ta biết chúng ta hiện là gì và câu 2 cho chúng ta biết chúng ta sẽ là gì. Dĩ nhiên, ở đây ám chỉ thời điểm mà Đấng Christ sẽ trở lại vì cớ hội thánh Ngài. Điều này được đề-cập trong IGi 2:28 như một sự khích-lệ để sống thánh-khiết, và giờ đây nó được lặp lại.
Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta không dừng lại khi chúng ta được sinh lại. Nó tiếp tục suốt cuộc đời chúng ta và đeo đuổi chúng ta đến tận lúc Chúa Giê-xu Christ trở lại! Khi Chúa chúng ta hiện đến, mọi tín-đồ thật sẽ trông thấy Ngài và sẽ trở nên giống như Ngài (Phi 3:20,21). Hẳn nhiên, điều này có nghĩa là họ sẽ có thân thể mới vinh-hiển, thích hợp với thiên đàng.
Nhưng vị sứ-đồ không dừng ở đây! Ông đã cho chúng ta biết chúng ta hiện là gì và chúng ta sẽ là gì. Giờ đây, trong IGi 3:3, ông cho chúng ta biết chúng ta cần phải làm gì. Bởi vì sự trở lại của Đấng Christ, chúng ta cần phải giữ đời sống mình thanh-sạch.
Tất cả mọi điều này nhắc nhở chúng ta về tình yêu của Đức Chúa Cha. Vì Đức Chúa Cha yêu-thương chúng ta và sai Con Ngài chết thế chúng ta, chúng ta được làm con cái Đức Chúa Trời. Vì cớ Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, Ngài muốn một ngày kia chúng ta sẽ được sống với Ngài.
Sự cứu-rỗi, từ lúc bắt đầu đến khi hoàn tất, là một sự bày-tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Chúng ta được cứu bởi ân-điển của Đức Chúa Trời (Êph 2:8,9 Tit 2:11-15), nhưng sự dự bị cho sự cứu-rỗi của chúng ta xuất phát từ tình yêu của Đức Chúa Trời. Và vì chúng ta đã từng-trãi tình yêu của Đức Chúa Cha, chúng ta không mong muốn sống trong tội-lỗi.
Một người vô-tín mà phạm-tội thì là một tạo vật phạm tội chống nghịch lại Đấng Tạo Hoá mình. Một Cơ-đốc nhân mà phạm-tội thì là một đứa con phạm-tội chống nghịch lại Cha mình. Kẻ vô-tín phạm tội nghịch lại luật-pháp tín- đồ phạm-tội nghịch lại tình yêu thương.
Điều này nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa của nhóm từ rất thường được lặp lại trong Thánh Kinh: “sự kính sợ Đức Giê-hô-va”. Nhóm từ này không ám chỉ là con cái Đức Chúa Trời phải sống trong một bầu không khí khiếp sợ, “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần sợ hãi” (IITim 1:7). Đúng hơn, điều này ám chỉ rằng con cái Đức Chúa Trời phải tôn kính Cha mình và sẽ không cố ý bất tuân Ngài hay thử sự nhịn-nhục của Ngài.
Một nhóm thiếu niên đang có một cuộc vui, và có người đề nghị là chúng phải đi đến một nhà hàng nào đó để được vui vẻ.
“Mình muốn bạn đưa mình về nhà,” Jan nói với nhóm bạn hẹn của cô, “cha mẹ mình không thích chỗ đó.”
“Bộ sợ ba bạn sẽ đánh bạn hả?” một trong các cô gái mỉa mai hỏi.
“Không đâu,” Jan đáp, “Mình không sợ ba mình sẽ đánh mình, nhưng mình sợ mình có thể làm ông buồn lòng.”
Cô hiểu nguyên-tắc là một con cái thật của Đức Chúa Trời, đã từng kinh-nghiệm tình yêu của Đức Chúa Trời, không mong muốn phạm-tội nghịch lại tình yêu ấy.
2. Đức Chúa Con đã chết thay chúng ta (IGi 3:4-8)
Ở đây, Giăng chuyển từ sự hiện đến của Chúa Giê-xu trong tương lai (IGi 3:2) sang sự hiện ra của Ngài trong quá-khứ (c.5).
Giăng nêu 2 lý-do vì sao Chúa Giê-xu đã đến và đã chết: (a) để cất tội-lỗi chúng ta đi (c.4-6), và (b) để hủy phá công việc của ma quỷ (c.7,8). Đối với một con cái Đức Chúa Trời việc phạm-tội nói lên rằng người ấy không hiểu hoặc đánh giá đúng điều Chúa Giê-xu đã thực hiện cho mình trên thập-tự giá.
(1) Đấng Christ đã hiện ra để cất tội-lỗi chúng ta đi (IGi 3:4-6).
Có nhiều định nghĩa của tội lỗi trong Kinh Thánh: “Bất cứ điều gì không bởi đức-tin là tội-lỗi” (Rô 14:23).
“Tư tưởng ngu dại là tội-lỗi” (Ch 24:9).
“Cho nên, kẻ biết điều lành mà chẳng làm là phạm-tội” (Gia 4:17).
“Mọi sự không công-bình đều là tội” (IGi 5:17).
Nhưng thư tín Giăng định nghĩa tội là sự trái luật-pháp (IGi 3:4). Nó xem tội là sự làm ô uế (IGi 1:9-2:2), nhưng ở đây nó xem tội là sự coi thường, không tuân theo.
Ở đây không nhấn mạnh vào tội-lỗi (số nhiều), mà vào tội (số ít): “Hễ ai miệt mài trong tội (số ít).” Tội-lỗi (số nhiều) là kết quả, nhưng tội (số ít) là gốc rễ.
Đức Chúa Trời là tình yêu thương không có nghĩa là Ngài không có phép-tắc hay luật-lệ gì cho gia đình của Ngài. “Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài” (IGi 2:3). “Và chúng ta xin điều chi mặc dầu, thì nhận được điều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp ý Ngài” (IGi 3:22). “Chúng ta biết mình yêu con cái Đức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài” (IGi 5:2).
Con cái Đức Chúa Trời không bị ràng buộc với luật-pháp Cựu-ước, vì Đấng Christ đã giải phóng chúng ta và ban cho chúng ta sự tự-do (Ga 5:1-6). Nhưng con cái Đức Chúa Trời cũng không được trái luật-pháp! Họ “đối với Đức Chúa Trời không phải là không luật-pháp, nhưng ở dưới luật-pháp của Đấng Christ” (ICôr 9:21).
Tội-lỗi về căn-bản là một vấn-đề của ý muốn. Về phần chúng ta, khẳng định ý muốn của mình chống nghịch lại ý muốn Đức Chúa Trời là phản loạn, và sự phản loạn là gốc rễ của tội-lỗi. Tội-lỗi không chỉ đơn giản tự bộc lộ trong hành vi trái luật-pháp, mà chính bản-chất của tội-lỗi là sự trái luật-pháp. Dù cho hành vi bên ngoài của một người có tội có thể là gì đi nữa, thái-độ bên trong của người ấy vẫn là một thái-độ của sự phản loạn.
Cô bé Judy đang đi trong xe hơi với cha cô. Cô quyết định đứng lên trên băng ghế phía trước. Cha cô ra lệnh cho cô ngồi xuống và thắt dây lưng an toàn vào, nhưng cô không chịu. Ông bảo cô lần thứ nhì, nhưng cô bé lại từ chối.
Cuối cùng ông bố nói, “Nếu con không ngồi xuống ngay lập tức, ba sẽ tấp xe vào lề đường và phát vào mông con đấy!”, và trước điều này cô bé chịu nghe theo. Nhưng trong vài phút cô nói thầm, “Ba ơi, trong lòng con vẫn đứng.”
Thật là sự trái luật-pháp! Một sự phản loạn! Mặc dù có sự ép buộc từ bên ngoài, nhưng vẫn có sự phản loạn ở bên trong và thái-độ này là bản-chất của tội-lỗi.
Nhưng sau khi một người trở nên con cái Đức Chúa Trời, được tái-sinh bởi đức-tin nơi Chúa Giê-xu Christ, người ấy không thể thực hành sự trái luật-pháp được! Trước hết, Chúa Giê-xu Christ không hề có tội, và ở trong Ngài có nghĩa là đồng nhất hoá với Đấng vô-tội. Và thậm chí hơn thế nữa, Chúa Giê-xu Christ đã chết để cất tội-lỗi chúng ta đi!
Nếu chúng ta biết con người của Đấng Christ, và nếu chúng ta có phần trong phước hạnh của sự chết Ngài, chúng ta không thể cố ý bất tuân Đức Chúa Trời. Toàn thể công tác của thập-tự giá bị chối bỏ khi một người tự xưng là Cơ-đốc nhân cố tình phạm-tội. Đây là một lý-do vì sao Phao-lô gọi những người như thế là “kẻ thù nghịch thập-tự giá của Đấng Christ” (Phi 3:18,19).
“Ai ở trong Ngài thì không miệt mài trong tội” (IGi 3:6).
• “Ở” là một trong những từ Giăng ưa thích nhất.
Ở trong Đấng Christ nghĩa là ở trong mối thông-công với Ngài, không để bất cứ điều gì xen vào giữa chúng ta với Đấng Christ. Địa-vị làm con (việc sanh bởi Đức Chúa Trời) đem đến sự hiệp-nhất giữa chúng ta với Đấng Christ nhưng mối thông-công khiến sự giao-thông của chúng ta với Đấng Christ có thể thực hiện được. Chính sự giao-thông này (việc ở) với Đấng Christ giữ chúng ta khỏi cố ý bất-tuân Lời Ngài.
Một người cố tình và thường xuyên phạm-tội đang chứng tỏ rằng người ấy không biết Đấng Christ và vì vậy không thể đang ở trong Ngài.
Trong sự chết của Đấng Christ trên thập-tự giá không chỉ có sự cứu-chuộc chúng ta khỏi sự đoán-phạt mà cũng có nhiều điều khác diệu kỳ giống như vậy. Qua sự chết của Ngài, Đấng Christ đã phá tan quyền lực của nguyên-tắc tội-lỗi trong đời sống chúng ta.
Chủ-đề của Rô 6:1-8:39 là sự đồng nhất này với Đấng Christ trong sự chết và sự sống lại của Ngài. Đấng Christ không chỉ chết thay tôi, mà tôi đã chết với Đấng Christ! Giờ đây tôi có thể phó dâng chính mình cho Ngài và tội-lỗi sẽ không có quyền thống-trị trên tôi.
(2). Đấng Christ đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỷ (IGi 3:7-8).
Lô-gíc ở đây thật rõ rệt: nếu một người biết Đức Chúa Trời, người ấy sẽ vâng lời Đức Chúa Trời nếu người ấy thuộc về ma quỷ, người ấy sẽ vâng lời ma quỷ.
Giăng chấp nhận tính chất xác thực của cá nhân một kẻ ác. Kẻ thù này có nhiều danh hiệu khác nhau trong Thánh Kinh: Sa-tan (kẻ địch, kẻ thù), ma quỷ (kẻ kiện cáo), A-ba-đôn hay A-pô-ly-ôn (kẻ hủy diệt), vua của thế gian này, con rồng, v.v. . . Dù bạn gọi nó danh hiệu gì, hãy nhớ rằng hoạt động chính yếu của nó là chống lại Đấng Christ và dân-sự của Đức Chúa Trời.
Sự đối lập ở đây là giữa Đấng Christ (Đấng không có tội-lỗi, c.5) và ma quỷ (kẻ không thể làm gì ngoài ra phạm tội).
• Gốc gác của Sa-tan là một điều bí ẩn.
Nhiều học-giả tin nó đã từng là một trong các thiên-sứ cao-trọng nhất, được Đức Chúa Trời đặt trên trái đất và trên các thiên-sứ khác, và nó đã phạm-tội chống lại Đức Chúa Trời và đã bị quăng xuống (Ês 14:9-17; Êxe 28:12-14).
Sa-tan không còn đời-đời, như Đức Chúa Trời, vì nó là một vật thọ tạo. Nó không được tạo dựng với bản-chất tội-lỗi. Bản-tánh hiện nay của nó là một kết quả của sự phản nghịch trong quá-khứ của nó. Sa-tan không giống như Đức Chúa Trời: nó không toàn-năng, toàn-tri, hay có mặt khắp mọi nơi. Tuy nhiên, nó được trợ giúp bởi một đạo quân của các tạo vật thần-linh được biết đến như các quỷ dữ, là những kẻ khiến nó có thể hành động t ại nhiều nơi trong cùng một lúc (Êph 6:10-12).
Sa-tan là một kẻ phản nghịch, nhưng Đấng Christ là Con biết vâng-lời của Đức Chúa Trời. Đấng Christ “đã vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên thập-tự giá” (Phi 2:8). Đấng Christ là Đức Chúa Trời nhưng sẵn lòng trở nên một tôi-tớ. Sa-tan là một tôi-tớ lại muốn trở thành Đức Chúa Trời. Từ buổi đầu của công việc nó, Sa-tan đã từng là một kẻ có tội, và Đấng Christ đã đến để hủy phá công việc của ma quỷ.
“Hủy phá” (IGi 3:8) không có nghĩa là “tiêu diệt.” Sa-tan chắc chắn vẫn còn đang hoạt động ngày nay! Ở đây, “hủy phá” có nghĩa là “làm cho không còn hiệu quả, cướp đi quyền hành.” Sa-tan đã không bị tiêu diệt, nhưng quyền hành của nó đã bị giảm đi và vũ khí nó đã bị làm cho hư hại. Nó vẫn còn là một kẻ thù mạnh mẽ, nhưng nó không đối địch được với quyền-năng của Đức Chúa Trời.
Chúa Giê-xu ví sánh thế-gian này với một dinh thự ch ứa nhiều món hàng quý giá. Một người mạnh sức đang canh giữ dinh thự này (Lu 11:14-23). Sa-tan là người mạnh sức, và “hàng hóa” của nó là những người nam và nữ bị hư-mất. Cách duy nhất để giải thoát các “hàng hóa” này là cột người mạnh sức lại, và đó chính là điều Chúa Giê-xu đã làm trên thập-tự giá. Chúa Giê-xu, khi đến thế-gian, đã xâm chiếm “dinh thự” của Sa-tan.
Khi Ngài chết, Ngài đã bẻ gãy quyền lực của Sa-tan và đoạt được các hàng hóa của nó! Mỗi lần một tội-nhân hư-mất được chinh-phục về cho Đấng Christ, thì lại có thêm “chiến lợi phẩm” của Sa-tan bị tước đoạt khỏi nó.
Suốt nhiều tháng sau khi Thế Chiến II chấm dứt, người ta phát hiện các đội lính Nhật ẩn núp trong các hang động và các rừng già của các đảo ở Thái Bình Dương. Một số trong những người đã tan rã hàng ngũ này đang sống giống như những người man rợ đầy kinh hãi họ không biết chiến tranh đã qua rồi. Một khi hiểu được rằng không còn cần thiết phải chiến đấu nữa, họ đã đầu hàng.
Cơ-đốc nhân có thể yên nghỉ trong lẽ thật là Sa-tan là một kẻ thù đã bị đánh bại. Có thể nó vẫn còn thắng vài chiến trận ở đây đó, nhưng nó đã thua trận chiến rồi! Nó đã bị kết án, nhưng sẽ có một khoảng thời gian trước khi án phạt được ban ra. Một người biết Đấng Christ, và đã được giải phóng khỏi ách của tội-lỗi nhờ sự chết của Đấng Christ trên thập-tự giá, không mong muốn vâng theo Sa-tan và sống giống như một kẻ phản nghịch.
“Hỡi các con cái bé mọn, chớ để ai lừa dối mình!” Cơ-đốc nhân giả đang cố tìm cách thuyết phục các tín-đồ thật rằng một người có thể “đã được cứu” tuy nhiên vẫn phạm (mưu đồ) tội. Giăng không phủ nhận rằng Cơ-đốc nhân có phạm-tội, nhưng ông thật sự phủ nhận là Cơ-đốc nhân có thể sống trong tội-lỗi. Một người có thể ưa thích cố ý phạm-tội và không cảm thấy bị cáo trách hay từng trải sự sửa phạt của Đức Chúa Trời tốt hơn nên tự tra-xét xem mình đã thực sự được sinh bởi Đức Chúa Trời chưa.
3. Đức Chúa Thánh Linh sống trong chúng ta (IGi 3:9,10)
“Hễ ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì không phạm-tội!”
Vì sao? Vì người ấy mang trong mình một bản-tính mới, và bản-tính đó không thể phạm-tội. Giăng gọi bản-tính này là “hạt giống” của Đức Chúa Trời.
Khi một người nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình, những biến đổi lớn lao về tâm-linh xảy ra trong người ấy. Người ấy được ban cho một vị-trí mới trước mặt Đức Chúa Trời, được nhận là công-bình trong cách nhìn của Đức Chúa Trời. Vị-trí mới này được gọi là “sự xưng công-bình.” Nó không bao giờ đổi thay và không bao giờ mất đi được.
Cơ-đốc nhân mới cũng được ban cho một địa-vị mới: người ấy được biệt riêng cho các mục đích riêng của Đức Chúa Trời để sống cho sự vinh-hiển của Ngài. Địa vị mới này được gọi là “sự thánh hóa, ” và nó có một cách thức đổi mới mỗi ngày. Sau một thời gian chúng ta gần gũi với Đấng Christ nhiều hơn và sẵn sàng vâng-lời Ngài nhiều hơn.
Nhưng có lẽ sự biến đổi gây ấn tượng sâu sắc nhất trong một tín-đồ mới là điều chúng ta gọi là “sự tái-sinh.” Người ấy được sinh lại “trong gia đình của Đức Chúa Trời. (“Tái” có nghĩa là “một lần nữa” và “sinh” nghĩa là “sự sinh ra.”)
Sự xưng công-bình muốn nói đến một vị-trí mới trước mặt Đức Chúa Trời, sự thánh hóa hàm ý được biệt riêng cho Đức Chúa Trời, và sự tái-sinh ám chỉ một bản-tính mới – bản-tính của Đức Chúa Trời (IIPhi 1:4).
Cách duy nhất để bước vào gia đình Đức Chúa Trời là bởi việc tin nơi Đấng Christ và kinh-nghiệm sự sinh lại mới mẻ này. “Ai tin Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ thì sinh bởi Đức Chúa Trời” (IGi 5:1).
Sự sống thuộc thể chỉ sinh ra sự sống thuộc thể sự sống thuộc-linh sinh ra sự sống thuộc-linh.
“Hễ chi sinh bởi xác thịt là xác thịt hễ chi sinh bởi Thánh Linh là thần” (Gi 3:6).
Cơ-đốc nhân đã được sinh lại, “chẳng phải bởi giống hay hư-nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư-nát, là bởi Lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời” (IPhi 1:23). Ấy vậy, “cha mẹ thuộc-linh” của một Cơ-đốc nhân là Lời Đức Chúa Trời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Thánh Linh của Đức Chúa Trời dùng Lời Đức Chúa Trời để cáo trách tội-lỗi và bày-tỏ Đấng Cứu Chuộc.
Chúng ta được cứu bởi đức-tin (Êph 2:8,9), và “đức-tin đến bởi việc người ta nghe, mà người ta nghe, là khi Lời của Đức Chúa Trời được rao-giảng” (Rô 10:17). Trong phép-lạ của sự tái-sinh, Đức Thánh Linh truyền sự sống mới – sự sống của Đức Chúa Trời – vào một tội-nhân đã tin nhận Ngài, và kết quả là cá nhân đó được sinh vào trong gia đình của Đức Chúa Trời.
Giống y như con cái về phần xác mang bản-tính của cha mẹ chúng, con cái thuộc-linh của Đức Chúa Trời cũng mang bản tính của Ngài. “Hạt giống” thiên-thượng ở trong họ. Một Cơ-đốc nhân có một bản-tính cũ do sự sinh ra về phần xác và một bản-tính mới từ sự sinh ra thuộc-linh. Tân-ước đối chiếu 2 bản-tính này và cho chúng những tên gọi khác nhau:
- Bản tánh cũ: | - Bản tánh mới: |
“con người cũ của chúng ta” (Ro 6:6) | “con người mới” (Co 3:10) |
“xác thịt” (Ga 5:24) | “Thánh Linh” (Ga 5:17) |
“giống hay hư nát” (IPhi 1:23) | “hạt giống của Đức Chúa Trời” (IGi 3:9) |
