...bạn đã nghe nhà truyền-đạo nào đó nói: “Nếu bạn từng tìm thấy Hội thánh toàn-vẹn, xin đừng gia nhập vào. Nếu bạn gia nhập, Hội thánh ấy sẽ không còn toàn-vẹn nữa!”
Do các Hội thánh địa phương được lập ra bởi những con người, được cứu bởi ân-điển Đức Chúa Trời, nên không Hội thánh thánh nào toàn hảo. Nhưng có một số Hội thánh đạt đến gần lý-tưởng của Kinh Thánh Tân-ước hơn những Hội thánh khác.
Hội thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca thuộc hạng ấy.
Có tối thiểu 4 lần trong thư này Phao-lô đã cảm-tạ vì Hội thánh và cách Hội thánh đáp ứng chức-vụ ông (ITês 1:2; ITês 2:13; ITês 3:9; ITês 5:18). Không phải mọi mục-sư đều biết cảm-tạ như vậy.
Những đặc điểm nào của Hội thánh này đã khiến nó quá lý-tưởng và là một sự vui-mừng dường ấy cho lòng Phao-lô?
1. Một dân được chọn (ITês 1:1-4)
Từ “Hội Thánh” trong c.1 có nghĩa “một dân được kêu gọi ra”. Mỗi khi bạn đọc về một sự kêu-gọi trong Kinh Thánh, nó chỉ về sự lựa-chọn thiêng-liêng.
Đức Chúa Trời muốn chọn một dân ra từ thế-gian này (Cong 15:13-18). Bảy lần trong Giăng 17 Chúa chúng ta đã đề cập đến những Cơ-đốc nhân như những người Cha đã ban cho Ngài giữa thế-gian (Gi 17:2,6,9,11,12,24). Phao-lô tuyên-bố rằng ông biết các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã được Đức Chúa Trời lựa-chọn (ITês 1:4).
Giáo-lý về sự lựa chọn thiên-thượng làm cho một số người bối rối và khiến những người khác sợ hãi, nhưng không đáp-ứng nào hợp lý cả, Một giáo-sư đại chủng-viện có lần bảo tôi: “Hãy thử giải thích sự lựa chọn và bạn có thể mất trí. Nhưng biện hộ nó cho bạn có thể mất linh-hồn mình!”
Chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu toàn bộ khái niệm về sự lựa chọn ở mặt bên này của thiên-đàng. Nhưng chúng ta không n ên bỏ qua giáo-lý quan-trọng này được dạy dỗ suốt Kinh Thánh. Chúng ta hãy để ý những sự kiện rõ ràng về sự lựa-chọn thiên-thượng.
1. Sự cứu-rỗi khởi đầu từ Đức Chúa Trời.
“Từ lúc ban đầu Đức Chúa Trời đã chọn anh em đến sự cứu-rỗi” (IITês 2:13).
“Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn ta, bèn là ta đã chọn các ngươi” (Gi 15:16).
“Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ” (Êph 1:4).
Toàn bộ kế hoạch cứu-rỗi đã được cưu mang trong lòng Đức Chúa Trời trước khi loài người được dựng nên hay vũ trụ được thành hình.
2. Sự cứu-rỗi liên quan đến tình yêu của Đức Chúa Trời.
Phao-lô gọi các thánh-đồ này là “anh em yêu dấu” không chỉ được Phao-lô yêu dấu (ITês 2:17), nhưng cũng được Đức Chúa Trời yêu dấu. Tình yêu của Đức Chúa Trời đã làm cho Gô-gô-tha hiện hữu (Rô 5:8), nơi Chúa Giê-xu chết thay tội-lỗi chúng ta. Không chỉ tình yêu của Đức Chúa Trời cứu tội-nhân, nhưng cũng bởi ân-điển của Đức Chúa Trời.
Bởi ân-điển Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những điều ta không xứng đáng nhận và bởi sự thương-xót Ngài không ban cho chúng ta những điều chúng ta thật đáng phải chịu.
Điều này giải thích vì sao Phao-lô thường mở đầu các bức thư với câu “Nguyền xin ân-điển và sự bình-an ban cho anh em từ Đức Chúa Trời là Cha chúng ta và Đức Chúa Giê-xu” (ITês 1:1)
3. Sự cứu-rỗi liên quan đến đức-tin
“Ấy là nhờ ân-điển, bởi đức-tin mà anh em được cứu” (Êph 2:8).
Phao-lô, Si-la (Sin-vanh là cách đọc của người La-mã) cùng Ti-mô-thê đã đem Phúc-Âm đến thành Tê-sa-lô-ni-ca và rao-giảng trong quyền-năng của Đức Chúa Trời (ITês 1:5). Một số người nghe sứ-điệp tin theo và từ bỏ các thần-tượng hư-không của họ đặng thờ-phượng Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật (ITês 1:9).
Thánh Linh Đức Chúa Trời đã dùng Lời Đức Chúa Trời để tạo ra đức-tin (Rô 10:17). Phao-lô gọi điều này là “sự nên thánh của Thánh Linh và niềm tin chân-lý” (IITês 2:13)
4. Sự cứu-rỗi liên quan đến Ba-ngôi Đức Chúa Trời.
Khi đọc thư tín này, bạn khám phá ra giáo-lý về Ba-Ngôi Đức Chúa Trời. Cơ-đốc nhân tin nơi một Đức Chúa Trời hiện hữu trong Ba-Ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh.
Hãy nhớ rằng cả Ba-ngôi đều có liên quan trong sự cứu-rỗi dành cho chúng ta. Điều này sẽ giúp bạn thoát khỏi những thái cực nguy hiểm đó là chối bỏ trách-nhiệm của con người hoặc giảm nhẹ quyền tể-trị thiên-thượng – vì cả 2 điều này được dạy trong Kinh Thánh.
Nói về Đức Chúa Cha, tôi đã được cứu khi Ngài chọn tôi trong Đấng Christ trước khi sáng-thế. Nói về Đức Chúa Con, tôi đã được cứu khi Ngài chết thay tôi trên thập-tự giá. Nói về Đức Thánh Linh tôi đã được cứu vào một đêm thứ bảy trong tháng 5/1945 khi tôi nghe về Đạo và tin nhận Chúa Giê-xu.
Lúc ấy, toàn bộ kế hoạch này được kết hợp với nhau và tôi đã trở nên con cái Đức Chúa Trời. Đêm ấy nếu bạn hỏi tôi rằng tôi có phải là một trong những người được chọn không, có lẽ tôi sẽ không nói nên lời. Lúc ấy tôi không biết gì về sự lựa-chọn. Nhưng Đức Thánh Linh đã làm-chứng trong lòng tôi rằng tôi là con cái Đức Chúa Trời.
5. Sự cứu-rỗi thay đổi đời sống: Làm sao Phao-lô đã biết rằng những tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca được Đức Chúa Trời chọn lựa? Ông đã nhìn thấy một sự thay đổi trong đời sống họ. Nếu bạn đặt ITês 1:3 gần ITês 1:9-10 bạn sẽ có bức tranh sau:
-Công việc của đức-tin anh em.
-Công lao của lòng yêu-thương anh em.
-Và sự bền đỗ về sự hy-vọng.
-Anh em bỏ hình-tượng đặng đến với Đức Chúa Trời.
-Đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật.
-Đặng chờ đợi Con Ngài từ trên trời.
Người nào tuyên bố mình là một trong những người được lựa-chọn của Đức Chúa Trời, nhưng đời sống không thay đổi, chỉ đang tự lừa dối mình. Những ai được Đức Chúa Trời chọn lựa, Ngài thay đổi họ.
Điều này không có nghĩa là họ hoàn hảo, nhưng họ là những người có một đời sống mới không thể bị che khuất.
Đức-tin, hy-vọng và tình-yêu là 3 đức tính chủ yếu của đời sống Cơ-đốc nhân và là 3 chứng-cớ lớn nhất của sự cứu-rỗi. Đức-tin phải luôn dẫn đến việc làm (Gia 2:14-26). Có người đã nói: “Chúng ta không phải được cứu bởi đức-tin cộng với việc làm, nhưng bởi một đức-tin hành động”.
Nếu các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca tiếp tục thờ lạy những th ần-tượng chết của họ trong khi xưng nhận đức-tin trong Đức Chúa Trời hằng sống, điều đó chứng-tỏ rằng họ không thuộc những người được Đức Chúa Trời chọn.
Tình-yêu cũng là một bằng-chứng của sự cứu-rỗi: “Sự yêu thưong của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta” (Rô 5:5). Chúng ta “được Đức Chúa Trời dạy phải yêu thương nhau” (ITês 4:9). Chúng ta hầu-việc Đấng Christ vì chúng ta yêu Ngài Đây là “công lao của lòng yêu thương” Phao-lô đã đề cập đến. “Nếu các ngươi yêu mến ta, hãy giữ gìn các điều răn ta” (Gi 14:15)
Bằng chứng thứ 3 của sự cứu-rỗi là hy-vọng, sự chờ đợi Chúa Giê-xu tái-lâm (ITês 1:10). Sự tái-lâm của Chúa Giê-xu là chủ đề nổi bật của cả 2 thư Tê-sa-lô-ni-ca. Những người không được cứu không nôn nả chờ đợi sự tái-lâm của Chúa. Thật ra, khi Chúa chúng ta tiếp Hội thánh Ngài lên không trung, những người không được cứu sẽ hoàn toàn ngạc nhiên (ITês 5:1-11).
Đức-tin, hy-vọng và tình-yêu là những bằng-chứng của sự cứu-rỗi. Những phẩm chất thuộc-linh này được kết lại với nhau và chỉ có thể đến từ Đức Chúa Trời. Để có thêm chứng-cớ, hãy xem các đoạn sau: ICôr 13:13; Rô 5:2-5; Ga 5:5-6; Côl 1:4-5; Hêb 6:10-12; Hêb 10:22-24; IPhi 1:21-22.
Một Hội thánh địa phương phải bao gồm những người được chọn đã được cứu bởi ân-điển Đức Chúa Trời. Một vấn-đề ngày nay là sự hiện diện của những kẻ vô tín trong Hội thánh có thể có tên trên danh sách Hội thánh, nhưng không được ghi tên trong sách sự sống của Chiên Con.
Mỗi thuộc-viên Hội thánh phải xét lòng mình để khẳng định mình có thật sự đã được tái-sinh và thuộc những người được chọn của Đức Chúa Trời hay không.
2. Một dân mẫu mực (ITês 1:5-7)
Từ chính sự khởi đầu này của Hội thánh, Phao-lô nhìn với niềm vui và lòng biết ơn như những Cơ-đốc nhân xứng đáng với tên gọi. Họ là những tấm gương trong một số lãnh vực của đời sống họ.
1. Họ đã tiếp nhận Đạo (ITês 1:5).
Phúc-Âm đã đến với họ qua chức-vụ của Phao-lô và các cộng sự của ông. Nhiều nhà truyền-đạo và triết-gia lưu hành thời đó chỉ quan tâm đến việc làm tiền những người dốt nát. Nhưng Đức Thánh Linh đã dùng Đạo Ngài bằng quyền-năng lớn lao, và các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã đáp-ứng bằng cách tiếp nhận cả sứ-điệp lẫn các sứ-giả.
Bất chấp cơn bắt bớ tại Phi-líp, Phao-lô và Si-la đã “dạn dĩ rao truyền đạo Tin Lành” (ITês 2:2), dân chúng tin theo và được cứu. Họ chưa bao giờ đánh mất sự nôn nả đối với Lời Đức Chúa Trời (ITês 2:13).
2. Họ noi theo các lãnh đạo thuộc-linh của mình (ITês 1:6a)
Từ “những người noi theo” thật ra là “những người bắt chước”. Các tân tín-hữu này không chỉ đã tiếp nhận sứ-điệp và các sứ-giả, mà họ còn bắt chước đời sống của những người ấy. Điều này dẫn đến một cơn bắt bớ gay gắt. Quan trọng là những Cơ-đốc nhân trẻ tuổi tôn-trọng chức-vụ lãnh đạo thuộc-linh và học theo những Cơ-đốc nhân trưởng thành. Cũng như đứa trẻ sơ sinh cần một gia đình, Cơ-đốc nhân mới được sinh ra cũng cần có Hội thánh địa phương và những lãnh đạo ở đó “Hãy vâng lời những kẻ cai-trị anh em (về thuộc-linh) và đầu-phục họ: vì họ gìn giữ linh-hồn anh em” (Hêb 13:17). Chúng ta làm những Cơ-đốc nhân trưởng-thành để cứu linh-hồn người vẫn chưa đủ, chúng ta cũng phải gìn giữ các linh-hồn và khích-lệ những Cơ-đốc nhân mới vâng-lời Đức Chúa Trời.
3. Họ chịu khổ vì Đấng Christ (ITês 1:6b)
Trong việc từ bỏ thần-tượng để hầu-việc Đức Chúa Trời, các Cơ-đốc nhân này đã khiến bạn hữu và người thân họ nổi giận, và điều này dẫn đến sự bắt bớ. Chắc hẳn vài người trong số họ đã mất việc làm vì niềm tin mới của mình.
Giống như những kẻ vô-tín đã bắt bớ các Cơ-đốc nhân ở xứ Giu-đê, những kẻ vô-tín người ngoại cũng bắt bớ các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca (ITês 2:14-16). Đức-tin luôn được thử-nghiệm và sự bắt bớ là một trong những sự thử-nghiệm (Mat 13:21; IITim 3:12).
4. Họ khích lệ các Hội thánh khác (ITês 1:7)
Cơ-đốc nhân hoặc khích-lệ nhau hoặc làm nản-lòng nhau. Nguyên-tắc này cũng áp-dụng cho các Hội thánh. Phao-lô đã sử dụng các Hội thánh xứ Ma-xê-đoan như một tác nhân kích thích Hội thánh Cô-rinh-tô dâng tiền quyên góp cho việc truyền-giáo (IICôr 8:1-8).
Dù là những Cơ-đốc nhân mới, nhưng các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã nêu một gương tốt khích-lệ các hội chúng lân cận. Các Hội thánh đừng bao giờ tranh cạnh nhau một cách trần tục, nhưng có thể “khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành” (Hêb 10:24).
Trong mọi phương diện, Hội thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca thật mẫu mực, Bí quyết được tìm thấy trong đức-tin, hy vọng và tình yêu của họ, vì đây là những nhân-tố thúc đẩy thuộc-linh của đời sống Cơ-đốc.
3. Một dân nhiệt tình (ITês 1:8)
“Công việc của đức-tin và công lao của lòng yêu thương” của họ đã tự bày tỏ qua việc họ chia-sẻ Phúc-Âm với người khác. Họ vừa là “người tiếp nhận” (Đạo đã đến với họ, c.5) và vừa là “người truyền-đi” (Đạo đã đồn ra từ họ, c.8). Mỗi Cơ-đốc nhân và mỗi Hội thánh địa phương phải tiếp nhận và truyền-đi Lời Đức Chúa Trời.
Động từ “vang ra” thật sự có nghĩa là “vang như một kèn trumpet”. Nhưng các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã không “thổi kèn của mình” như người Pha-ri-si từng làm (Mat 6:1-4). Họ đang loan báo ra Phúc-Âm về sự cứu-rỗi, và sứ-điệp của họ đã có một âm thanh rõ ràng và đích xác đối với nó (ICôr 14:8). Bất cứ nơi nào Phao-lô đi đến, người ta đều cho ông biết về đức-tin của các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca.
Chia-sẻ sứ-điệp cứu-rỗi với thế-giới hư-mất chính là trách-nhiệm và đặc quyền của mỗi Hội thánh địa phương. Ở cuối 4 sách Phúc-Âm và đầu sách Công-vụ, có những nhiệm-vụ cho các Hội thánh vâng-theo (Mat 28:18-20; Mac 16:15-16; Lu 24:46-49; Gi 20:21; Công 1:8).
Nhiều hội chúng sẵn sàng trả tiền cho một nhân-viên để thực hiện việc làm-chứng và chinh-phục linh-hồn người. Nhưng trong các Hội thánh thời Tân-ước, cả hội chúng có liên quan trong việc chia-sẻ Phúc-Âm (Công 2:44-47; Công 5:42).
Một nghiên-cứu mới đây về sự phát triển của Hội thánh cho thấy rằng 70-80% sự phát triển của một Hội thánh là kết quả của bạn hữu làm-chứng cho bạn hữu và người thân làm-chứng cho người thân. Mặc dù sự truyền-giảng Phúc-Âm theo cách thăm viếng và những phương pháp tiếp cận khác giúp hỗ trợ nhiều nhưng sự tiếp xúc riêng tư đem đến mùa gặt.
Nhưng sự lựa chọn và sự truyền-giảng Phúc-Âm đi đôi với nhau. Người nói rằng: “Đức Chúa Trời sẽ cứu những ai Ngài muốn cứu và Ngài không cần sự giúp đỡ của tôi” thật không hiểu sự lựa chọn lẫn sự truyền-giảng Phúc-Âm. Trong Kinh Thánh, sự lựa chọn luôn có liên quan đến trách-nhiệm.
Đức Chúa Trời đã chọn dân Y-sơ-ra-ên và khiến họ trở nên một dân-tộc được chọn hầu cho họ có thể làm-chứng cho người ngoại.
Tương tự như vậy, Đức Chúa Trời đã chọn lựa Hội thánh để chúng ta có thể là những chứng-nhân hôm nay, sự kiện chúng ta là những người được Đức Chúa Trời chọn không miễn trừ chúng ta nhiệm-vụ truyền-giảng Phúc-Âm.
Ngược lại giáo-lý về sự chọn lựa là một trong những điều khích-lệ lớn nhất đối với việc truyền-giảng Phúc-Âm.
Từng-trải của Phao-lô tại Cô-rinh-tô (Công 18:1-11) là một minh họa hoàn hảo về chân-lý này. Cô-rinh-tô là một thành phố tội-lỗi và không dễ gì thành lập một Hội thánh ở đó.
Dân chúng là những tội-nhân bất kính (ICôr 6:9-11), nhưng Phao-lô đã giảng đạo cách trung-tín. Khi sự bắt bớ nổi lên từ phía những người Do-thái không tin, Phao-lô rời nhà hội vào nhà của Giút-tu.
Lúc ấy Đức Chúa Trời đã khích-lệ Phao-lô: “Đừng sợ chi, nhưng hãy nói và chớ làm thinh ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu, vì ta có nhiều người trong thành này” (Công 18:9-10).
Việc Đức Chúa Trời có những người được Ngài chọn trong thành Cô-rinh-tô đã khích-lệ Phao-lô ở lại đó một năm rưỡi.
Nếu sự cứu-rỗi là công việc của con người, chúng ta có lẽ đã có mọi quyền để nản-lòng và bỏ cuộc. “Nhưng sự cứu-rỗi là công việc của Đức Chúa Trời, và Ngài sử dụng Phúc-Âm chúng tôi gọi anh em” (IITês 2:14).
Cùng một Đức Chúa Trời đã định đoạt cứu cánh (sự cứu-rỗi những kẻ hư-mất) cũng định đoạt phương tiện cho cứu cánh ấy (việc rao-giảng Phúc-Âm). Không có mâu thuẫn nào giữa quyền tể-trị thiên-thượng và trách-nhiệm của con người, cho dù chúng ta không thể dung hòa cả 2 điều ấy.
Ngày nay chúng ta cần nhiều Hội thánh hơn nữa nơi có những người nhiệt tình rao sứ-điệp về sự cứu-rỗi cho người khác. Khi tôi viết điều này, 2,4 tỷ người trên thế giới chúng ta không nhận được sự làm-chứng cụ thể nào về Phúc-Âm giữa vòng họ, hoặc không có tập thể Hội thánh nào.
Mặc dù có phương tiện ra-dio, ti-vi và máy in, chúng ta đang lui đi trong công tác đến với những kẻ hư-mất. Bạn có phải là một Cơ-đốc nhân nhiệt-thành? Hội thánh của bạn có nhiệt-tình về sự làm-chứng chăng?
4. Một dân đầy hy vọng (ITês 1:9-10)
Công việc của đức-tin họ đã khiến họ trở nên một dân được chọn, vì họ đã bỏ thần-tượng để trở lại với Đức Chúa Trời và tin nhận Chúa Giê-xu Christ. Công lao của tình yêu thương họ đã khiến họ trở nên một dân mẫu mực và nhiệt-tình vì đã sống bởi Lời Đức Chúa Trời và chia-sẻ Phúc-Âm. Sự bền đỗ về hy vọng của họ khiến họ trở nên một dân đầy hy vọng, trông-đợi sự tái-lâm của Cứu Chúa.
Trong những câu này, Phao-lô liên hệ sự đến lần thứ hai của Đấng Christ vì sự cứu rỗi của họ. Vì tin nhận Đấng Christ, họ đã trông đợi sự tái lâm của Ngài bằng niềm hy vọng đầy vui mừng và biết rằng họ sẽ được giải cứu “khỏi cơn thạnh nộ hầu đến” (c.10). Phao-lô lặp lại chân lý này trong ITês 5:9-10 và ông làm rõ chân lý ấy lần nữa trong IITês 1:5-10.
Khi thờ phượng thần-tượng, các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã không có hy vọng nào. Nhưng khi họ tin nhận “Đức Chúa Trời hằng sống” họ đã có một hy vọng sống (IPhi 1:2-3). Ai trong chúng ta đã được lớn lên trong giáo lý Cơ-đốc không thể hiểu được ách nô-lệ của việc thờ thần-tượng của người ngoại đạo.
Trước khi Phao-lô đem Phúc-Âm đến với họ, những người này đã không có hy vọng nào và “không có Đức Chúa Trời giữa thế-gian này” (Êph 2:12). Hãy đọc Thi 115:1-19 để có một mô tả sống động về việc thế nào là thờ một thần-tượng.
Cơ-đốc nhân là “con cái của Đức Chúa Trời hằng sống” (Rô 9:26). Thân thể họ là “đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống” (IICôr 6:16), được “Thánh Linh của Đức Chúa Trời hằng sống” ngự vào (IICôr 3:3).
Hội thánh là “Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống” (ITim 3:15), và vì Hội thánh Ngài, Đức Chúa Trời đang chuẩn bị “thành của Đức Chúa Trời hằng sống” (Hêb 12:22). Đức Chúa Trời hằng sống đã ban cho chúng ta một hy vọng sống bằng cách khiến Chúa Giê-xu Con Ngài sống lại từ cõi chết.
Hai khía cạnh về sự tái-lâm của Chúa phải được phân biệt. Trước hết, Chúa Giê-xu sẽ đến giữa không trung để tiếp Hội thánh Ngài (ITês 4:13-18). Điều này sẽ mở ra một thời kỳ đại nạn trên đất (ITês 5:1-3). Vào cuối thời kỳ này, Ngài sẽ tái-lâm trên đất cùng với Hội thánh Ngài (IITês 1:5-10; Kh 19:11-21), đánh bại kẻ thù Ngài, và lập Vương quốc Ngài (Kh 20:1-6).
Từ được dịch là “chờ đợi” trong c. 10 nghĩa là “chờ ai đó với sự kiên-nhẫn, tin-quyết và kỳ vọng”. Chờ đợi bao hàm hành động và sự chịu đựng. Một số tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca từ bỏ công việc họ và trở nên những kẻ rãnh rỗi, lý-luận rằng Chúa sẽ chóng đến.
Nhưng nếu chúng ta thật sự tin Chúa sắp đến, chúng ta sẽ chứng tỏ đức-tin mình bằng cách giữ cho mình bận rộn và vâng-lời Chúa. Ví-dụ của Chúa chúng ta về những nén bạc (Lu 19:11-27) dạy rằng chúng ta phải “bận rộn” (bận, trong trường hợp này là đầu tư tiền bạc) cho đến khi Ngài tái-lâm.
Cơ-đốc nhân đang chờ đợi Chúa Giê-xu, và Ngài có thể tái-lâm bất cứ lúc nào. Chúng ta sẽ không chờ đợi bất cứ “dấu hiệu nào” chúng ta đang chờ đợi Đấng Christ. Chúng ta đang chờ đợi sự cứu-chuộc thân thể (Rô 8:23-25) và hy vọng về sự công-bình (Ga 5:5).
Khi Chúa Giê-xu tái-lâm, chúng ta sẽ nhận được thân thể mới (Phi 3:20-21), và chúng ta sẽ giống như Ngài (IGi 3:1-2). Ngài sẽ đưa chúng ta về nhà Ngài đã sắm sẵn (Gi 14:1-6) và Ngài sẽ ban thưởng cho chúng ta về sự hầu-việc đã được giao cho chúng ta trong danh Ngài (Rô 14:10-12).
Một Hội thánh địa phương thật sự sống trong sự chờ mong gặp Chúa Giê-xu bất cứ lúc nào sẽ là một nhóm người đắc thắng và gây ấn tượng sâu sắc. Chờ đợi sự tái-lâm của Chúa là một động cơ lớn cho sự chinh-phục linh-hồn người (ITês 2:19-20) và sự vững vàng của Cơ-đốc nhân (ITês 3:11-13).
Đó là một sự yên-ủi kỳ diệu trong cơn buồn rầu (ITês 4:13-18) và là m ột sự khích-lệ lớn cho đời sống tin kính (ITês 5:23-24). Thật bi thảm khi các Hội thánh quên đi giáo-lý kỳ diệu này. Còn bi thảm hơn nếu các Hội thánh tin và rao-giảng giáo-lý ấy – nhưng không thực hành theo.
Phao-lô nhớ cách Hội thánh này đã ra đời ra sao (ITês 1:3), và ông đã dâng lời cảm-tạ về các đặc tính thuộc-linh của họ: Họ là những người được chọn, mẫu-mực, nhiệt-tình và đầy hy-vọng.
Nhưng các Hội thánh được lập nên từ những cá nhân. Khi bạn và tôi nói đến Hội thánh, chúng ta đừng bao giờ nói “họ”. Chúng ta phải nói “chúng ta”. Chúng ta là Hội thánh! Điều này có nghĩa là nếu bạn và tôi có những đặc-tính thuộc-linh này, Hội thánh chúng ta sẽ trở nên điều Đức Chúa Trời muốn. Kết quả sẽ là sự chinh-phục những kẻ hư-mất và sự ngợi-khen Chúa.
Điều mà mỗi Hội thánh cần có là điều mà mỗi Cơ-đốc nhân cần có được chọn (được tái-sinh), mẫu-mực (bắt chước những người làm đúng), nhiệt tình (chia sẻ Phúc-Âm với người khác), và đầy hy-vọng (mỗi ngày trông-đợi Chúa Giê-xu tái-lâm).
Có lẽ đây là lúc để làm một bảng kiểm kê.
2. GIÚP CON TĂNG-TRƯỞNG (ITês 2:1-12)
Chương 1 của ITê-sa-lô-ni-ca đã giới thiệu với chúng ta Phao-lô người truyền-giảng Phúc-Âm. Chương này giới thiệu với chúng ta Phao-lô vị mục-sư, vì nó giải thích vị sứ-đồ cao trọng này đã chăm-sóc tân tín-hữu ở các Hội thánh do ông thành lập.
Phao-lô xem “sự lo lắng về hết thảy các Hội thánh” (IICôr 11:28) là một gánh nặng lớn hơn mọi hoạn nạn và khó khăn ông đã trải qua trong chức-vụ mình (IICôr 11:23).
Như Đức Chúa Trời sử dụng con người để đem Phúc-Âm đến với những kẻ hư-mất Ngài cũng dùng con người để chăm-sóc những con đỏ trong Đấng Christ và giúp đỡ dẫn dắt họ đến sự trưởng-thành. Hội thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca đã ra đời bởi sự rao-giảng trung-tín của vị sứ-đồ này cùng những người giúp việc cho ông, và Hội thánh đã được nuôi-dưỡng bởi sự giảng dạy trung-tín do Phao-lô cùng các bạn ông dành cho Hội thánh non trẻ này. Điều này đã giúp họ đứng vững giữa cơn bắt bớ.
Trong những câu này, Phao-lô nhắc họ về loại chức-vụ ông có khi ông dạy dỗ và chăm-sóc Hội thánh non trẻ này. Có 3 bức tranh về chức-vụ của ông được nổi bật.
1. Quản gia trung-tín (ITês 2:1-6)
Phúc-Âm đã được ủy thác cho Phao-lô (ITês 2:4). Đó không phải là một sứ-điệp do ông tạo ra hay do ông nhận từ loài người (Ga 1:11-12). Phao-lô xem mình như một quản-gia về sứ-điệp của Đức Chúa Trời.
Một quản-gia không làm chủ cái gì cả, nhưng có và sử dụng mọi thứ thuộc về chủ mình. Giô-sép là một quản-gia trong gia đình Phô-ti-pha (Sa 39:1-6). Ông coi sóc mọi công việc của chủ và sử dụng tất cả của cải của chủ để phát triển sự thịnh vượng của chủ. Ngày kia mọi quản-gia phải khai trình về chức quản-gia của mình (Lu 16:1-2). Nếu người nào tỏ ra thiếu trung-tín, người ấy sẽ khốn khổ.
Sứ-điệp của Phúc-Âm là một của cải Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng ta. Chúng ta đừng chôn nó, chúng ta phải đầu tư nó để nó sẽ nhân lên và sinh ra “những phần lãi thuộc-linh” cho vinh-hiển Đức Chúa Trời. Một số Cơ-đốc nhân nghĩ rằng tránh-nhiệm duy nhất của Hội thánh là bảo vệ Phúc-Âm khỏi những ai muốn thay đổi nó (Ga 1:6-9).
Nhưng chúng ta cũng phải chia-sẻ Phúc-Âm, nếu không chúng ta đang bảo vệ Phúc-Âm một cách vô ích.
Sự trung-tín là phẩm chất quan-trọng nhất mà một quản-gia có được (ICôr 4:1-2). Người ấy có thể không được biết đến dưới mắt loài người, nhưng người ấy không dám bất trung dưới mắt Đức Chúa Trời.
“Không phải để đẹp lòng loài người, nhưng để đẹp lòng Đức Chúa Trời, là Đấng dò xét lòng chúng tôi” (ITês 2:4).
Cơ-đốc nhân nào “phô trương mình” sẽ đánh mất sự chuẩn nhận của Đức Chúa Trời. Khi xem những đặc điểm của chức-vụ Phao-lô như một quản-gia, chúng ta sẽ hiểu sự trung-tín có nghĩa ra sao.
(1). Tính cách chức-vụ của ông (ITês 2:1-2)
Phao-lô và Si-la đã bị đánh đòn và bị sỉ nhục tại thành Phi-líp, Nhưng họ vẫn đến thành Tê-sa-lô-ni-ca và giảng đạo. Đa số chúng ta có lẽ sẽ đi nghỉ hoặc tìm một cớ để không thi hành chức-vụ.
Phao-lô đã can đảm – ông không phải là người bỏ cuộc. Ông đã có một “sự dạn dĩ thánh” từ sự dấn thân cho Đức Chúa Trời. Giống như những sứ-đồ khác đi trước mình, Phao-lô đã dạn dĩ rao Phúc-Âm (Công 4:13,29,31)
Sự giảng đạo của ông đã ở “giữa cơn đại chiến”. Đây là một thuật ngữ về điền kinh có nghĩa là “một cuộc đua tài, một cuộc chiến đấu”. Thế giới Hy-lạp đã quen thuộc với những cuộc đua tài về điền kinh, và Phao-lô thường sử dụng ý niệm này để minh họa cho những chân-lý thuộc-linh (ICôr 9:24-27; Phi 3:13-14; IITim 4:7).
Ông đã sử dụng cùng một từ này trong Phi 1:30 để phác hoạ đời sống Cơ-đốc nhân như một cuộc đua tài điền kinh đòi hỏi sự tận tụy và năng lực. Thành lập Hội thánh tại thành Phi-líp là một việc khó nhưng cũng không dễ gì thành lập một Hội thánh ở thành Tê-sa-lô-ni-ca bấy giờ.
(2). Sứ-điệp của chức-vụ ông (ITês 2:3a)
“Vì sự kêu gọi của chúng tôi không xuất phát từ sai lầm” (NIV). Ở đây ông cho họ biết chắc rằng sứ-điệp của ông là chân-thật. Sáu lần trong thư này ông đề cập đến Phúc-Âm. Sứ-điệp này về sự chết và sống lại của Đấng Christ (ICôr 15:1-6) là một sứ-điệp và là Phúc-Âm thật duy nhất (Ga 1:6-12). Phao-lô đã tiếp nhận Phúc-Âm này từ Đức Chúa Trời, chẳng phải từ con người. Đó là Phúc-Âm duy nhất cứu được tội-nhân hư-mất.
(3). Động cơ của chức-vụ ông (ITês 2:3b)
Ông không phạm-tội “không thanh-sạch” vì những động-cơ của ông trong sáng. Có thể rao-giảng sứ-điệp đúng với những động-cơ sai (Phi 1:14-19).
Tiếc thay, một số người thời Phao-lô đã dùng tôn-giáo như một phương tiện làm tiền. Phao-lô đã không sử dụng Phúc-Âm như “một cái lốt che đậy sự tham-lam” (Phi 2:5). Ông công khai và thành thật trong mọi việc, và thậm chí ông đã làm một nghề để giúp bản thân (IITês 3:8-10)
-Phao-lô rất nhạy cảm về những vấn-đề tiền bạc.
Ông không muốn cho ai một lý-do nào để cáo ông là người mua bán tôn-giáo (ICôr 9:1-18). Là sứ-đồ, ông có đặc quyền nhân sự trợ giúp. Nhưng ông đã từ bỏ quyền lợi ấy để thoát khỏi bất cứ sự trách móc nào có thể xảy ra làm hổ thẹn cho chức-vụ ông.
(4). Phương pháp của chức-vụ ông (ICôr 2:3c)
Phao-lô chẳng dùng điều gian dối hay sự lừa đảo để chinh-phục những người qui đạo. Từ được dịch là “điều gian dối” mang ý nghĩa “đặt bẫy”. Nói cách khác, Phao-lô đã không bẫy người ta vào chỗ được cứu, cách mà một người bán hàng khôn khéo bẫy người ta vào chỗ phải mua sản phẩm của mình.
Sự làm-chứng về thuộc-linh và “nghệ thuật bán hàng Cơ-đốc” khác nhau. Sự cứu-rỗi không nằm ở cuối một lý-luận khôn khéo hay một lời trình bày tinh tế. Nó là kết quả của Lời Đức Chúa Trời và quyền-năng của Thánh Linh (ITês 1:5).
Chúng tôi thường nghe “tôi không quan tâm phương pháp của ông ra sao, miễn là sứ-điệp của ông đúng”. Nhưng có một số phương pháp không xứng hợp cho Phúc-Âm. Những phương pháp ấy rẻ tiền, nhưng khi Phúc-Âm là một sứ-điệp đắt giá đòi hỏi sự chết của Con Một Đức Chúa Trời.
Những phương pháp ấy trần tục và lấy con người làm trung tâm, trong khi Phúc-Âm là một sứ-điệp thiên-thượng tập trung vào vinh-hiển của Đức Chúa Trời.
Kẻ thù của Phao-lô ở thành Tê-sa-lô-ni-ca đã cáo ông là kẻ bán dạo rẻ tiền về sứ-điệp mới này. Họ nói rằng động-cơ duy nhất của ông là để làm tiền. Trong sự mô tả bản thân như một quản-gia trung-tín, Phao-lô đã trả lời những kẻ chỉ trích này và các độc-giả của Phao-lô biết rằng ông đã nói chân-lý (Hãy truy nguyên nhóm từ “như anh em đã biết” trong ITês 1:5; ITês 2:1,5,11; ITês 3:3-4; ITês 4:2; ITês 5:2).
Phao-lô đã nhờ đến lời-chứng của Đức Chúa Trời (ITês 2:5) và lời-chứng của chính họ. Ông đã có một “lương-tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người.” Công 24:16).
• Phao-lô đã ghê tởm sự dua nịnh (Công 2:5).
Đa-vít cũng ghét tội-lỗi này: “Chúng đều dùng lời phù phiếm mà nói lẫn nhau, lấy môi dua nịnh và hai lòng mà trò chuyện nhau” (Thi 12:2).
Có lần tôi đọc rằng một kẻ dua nịnh là kẻ dùng mánh khóe hơn là truyền đạt. Một người dua nịnh có thể sử dụng sự thật hoặc điều giả dối để đạt được mục đích bất khiết của mình, tức là kiểm soát những quyết định của bạn vì tư lợi của kẻ ấy.
-Một số người thậm chí đã tâng bốc bản thân.
“Vì nó tự khoe mình trong con mắt của chính nó” (Thi 36:2). Đây là tội-lỗi của Ha-man, kẻ xấu xa trong sách Ê-xơ-tê. Ông ta quá quan tâm đến sự tâng bốc bản thân đến nỗi đã lập mưu giết hại mọi người dân Do-thái để đạt được mục đích đó.
-Một số người tìm cách dua nịnh Đức Chúa Trời. “Nhưng chúng nó (Y-sơ-ra-ên) lấy miệng dua nịnh Ngài, và dùng lưỡi mình nói dối với Ngài” (Thi 78:36).
Sự dua nịnh là một dạng khác của sự nói dối. Nó có nghĩa là nói một điều gì với Đức Chúa Trời bằng môi miệng bạn trong khi lòng bạn cách xa Ngài (Mac 7:6).
Một số Cơ-đốc nhân tìm cách chinh phục bè bạn và gây ảnh hưởng đến người khác bằng cách cậy đến cái tôi mình. Một chức-vụ thật của Phúc-Âm đối phó thẳng thắn (nhưng một cách yêu-thương) với tội-lỗi cùng sự đoán-xét và chẳng để lại cho kẻ vô-tín điều gì để khoe về chính mình.
Phương pháp của Phao-lô thanh sạch cũng như mục đích của ông: ông bày tỏ Lời Đức Chúa Trời trong quyền-năng của Thánh Linh và phó thác cho Đức Chúa Trời hành động.
2. Người mẹ yêu thương (ITês 2:7-8)
Điều nhấn mạnh về người quản-gia là sự trung-tín điều nhấn mạnh về người mẹ là sự dịu-dàng. Là một sứ-đồ, Phao-lô là người có quyền hạn, nhưng ông luôn dùng quyền hạn mình trong tình yêu-thương.
Những con đỏ trong Đấng Christ cảm biết sự chăm-sóc yêu-thương dịu-dàng của ông khi ông nuôi-dưỡng họ. Ông thật sự giống một người mẹ yêu-thương chăm-sóc con cái mình.
Cần có thời gian và năng-lực để chăm-sóc con cái. Phao-lô đã không giao những người qui đạo của ông cho các vú em, ông đã hy sinh và tự chăm-sóc họ. Ông không bảo họ “đọc một cuốn sách” như một sự thay thế cho chức-vụ của cá nhân ông (dù văn phẩm Cơ-đốc tốt có thể giúp các tín-hữu non trẻ tăng-trưởng).
Phao-lô đã có kiên nhẫn với những Cơ-đốc nhân mới. Bốn đứa con của chúng tôi giờ đây đã ở tuổi trưởng-thành, nhưng tôi có thể đoan chắc với bạn rằng vợ tôi và tôi đã cần đến nhiều kiên-nhẫn trước khi chúng đạt đến tình trạng ấy. (Để cân-bằng mọi sự, cha mẹ chúng ta đã cần sự kiên-nhẫn với chúng ta! ).
Trẻ con không lớn lên tức thời. Chúng đều trải qua những đau bệnh trong khi lớn lên và đương đầu với những vấn-đề khi chúng trưởng-thành. Tình yêu của Phao-lô dành cho họ đã khiến ông kiên-nhẫn, vì tình-yêu hay nhịn-nhục và nhân-từ (ICôr 13:4).
Phao-lô cũng đã nuôi nấng họ. Câu 7 có thể đọc là “thậm chí như một người mẹ nuôi con ấp ủ chính con mình vậy?” Bài học ở đây là gì? Một người mẹ nuôi con dành cả đời sống mình cho đứa con. Đây chính xác là điều Phao-lô đã viết trong c.8. Bạn không thể là một người mẹ nuôi con và lại giao con mình cho người khác. Đứa bé ấy phải ở trong vòng tay của bạn, gần lòng bạn.
Người mẹ nuôi con ăn thức ăn và biến nó thành sữa cho đứa bé. Cơ-đốc nhân trưởng-thành ăn Lời Đức Chúa Trời và rồi chia-sẻ chất dinh-dưỡng của nó cho các tín-hữu non trẻ hơn để họ có thể tăng-trưởng (IPhi 2:1-3). Một đứa trẻ bú sữa có thể trở bệnh do phản ứng với chất người mẹ đã ăn. Cơ-đốc nhân đang chăm-sóc người khác phải cẩn thận để không tự mình ăn những thứ không ổn.
Bên cạnh những hy sinh, sự kiên-nhẫn và cung-cấp chất dinh-dưỡng một người mẹ còn bảo vệ con mình. Chính sự kiện này đã có thể giúp vua Sa-lô-môn khám phá ra người đàn bà nào là mẹ thật của đứa trẻ sống (IVua 3:16-28). Phao-lô sẵn lòng không chỉ cống hiến Phúc-Âm mà còn chính sự sống của ông nữa. Tình yêu ông dành cho các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca quá lớn đến nỗi ông sẽ chết vì họ nếu cần thiết.
Nhưng, thật không dễ làm một “người mẹ nuôi con”. Cả Môi-se cũng đã cảm nhận gánh nặng của sự chăm-sóc dân-sự Đức Chúa Trời.
“Tôi há có thọ thai dân này sao? Há có sinh đẻ nó sao? Mà Ngài lại hán biểu tôi rằng: Hãy ẵm dân này trong lòng người, như ngươi cha nuôi bồng đứa trẻ bú, cho đến xứ mà Ngài có thề hứa ban cho tổ-phụ của chúng ta?” (Dân 11:12).
Nhưng nếu chúng ta không nuôi-dưỡng những Cơ-đốc nhân mới bằng sữa của Đạo, họ không bao giờ có thể trưởng-thành để đánh giá đúng đắn đồ ăn đặc của Đạo (Hêb 5:11-14).
3. Người Cha quan tâm (ITês 2:9-12)
Phao-lô xem mình như một “người cha thuộc-linh” đối với các tín-hữu ở thành Tê-sa-lô-ni-ca, giống như cách ông đối cùng các thánh-đồ ở thành Cô-rinh-tô vậy.
“Bởi chưng, dẫu anh em có vô số thầy giáo trong Đấng Christ, nhưng chẳng có nhiều cha vì trong Đức Chúa Giê-xu, tôi đã trở nên cha của anh em bởi Phúc-Âm” (ICôr 4:15)
Thánh Linh Đức Chúa Trời đã dùng Lời Đức Chúa Trời trong chức vụ của Phao-lô, và nhiều người tại thành Tê-sa-lô-ni-ca đã được tái-sinh trong gia đình của Đức Chúa Trời.
Nhưng người cha này không chỉ sinh con cái của mình ra, ông còn chăm-sóc họ. Khi bênh vực công việc của chính mình trước những sự vu cáo, Phao-lô đã chỉ ra 3 nhiệm-vụ của ông với tư cách một người cha thuộc-linh đối với các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca.
(1). Công việc của ông (ITês 2:9)
Người cha này làm việc để giúp đỡ gia đình. Cho dù các Cơ-đốc nhân ở thành Phi-líp đã gởi phần giúp về tài chính (Phi 4:15-16), Phao-lô vẫn may trại và chi tiêu theo cách riêng của ông.
Không ai có thể tố cáo ông lợi dụng chức-vụ vì tư lợi. Sau đó, Phao-lô đã dùng sự kiện này để làm hổ thẹn những Cơ-đốc nhân biếng nhác trong Hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca (IITês 3:6).
Phao-lô đã dùng những từ “công lao và sự khó nhọc”. J. B. Philips đã dịch những từ này là “những cuộc chiến đấu và công việc gian khó của chúng tôi”.
“Công việc cực nhọc và sự gian khổ” là một cách dịch khác. Không dễ gì vừa may trại vừa giảng đạo cùng một lúc. Thật không có gì lạ Phao-lô đã làm việc cực nhọc “đêm và ngày” (Công 20:31). Ông đã làm việc cực nhọc vì yêu-thương các tín-hữu và muốn giúp đỡ họ càng nhiều càng tốt.
“Vì không phải tôi tìm của cải anh em, bèn là chính anh em vậy, vì chẳng phải con cái nên để dành cho cha mẹ, nhưng cha mẹ để dành cho con cái” (IICôr 12:14).
(2). Cách ăn ở của ông (ITês2:10).
Những người cha phải sống để làm những tấm gương tốt đối với con cái. Ông có thể kêu gọi các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca làm-chứng rằng đời sống ông mẫu-mực trong mọi phương diện.
Không một thuộc-viên nào trong hội chúng có thể cáo ông là một gương tồi tệ. Hơn nữa, Đức Chúa Trời đã làm-chứng cho đời sống Phao-lô, và Phao-lô đã không ngại gọi Đức Chúa Trời như một nhân-chứng rằng ông đã sống một đời sống tận tuỵ, trong khi chăm-sóc tập thể Hội thánh.
• Đời sống ông thật thánh-khiết.
Theo ngôn ngữ Hy-lạp, từ này có nghĩa là “cẩn thận làm trọn những nhiệm-vụ Đức Chúa Trời giao cho một người.” Từ tiếng Anh gần với từ này là “pious” (mộ đạo). Nếu bạn nghĩ đến lòng mộ đạo theo nghĩa tốt đẹp nhất, chớ không phải như một loại tôn-giáo giả hiệu nào đó. Cũng từ này cũng được áp-dụng cho đặc tính của Đức Chúa Trời trong Kh 15:4 và Kh 16:5.
Đời sống của ông cũng công bình. Từ này chỉ về tính toàn-vẹn, sự ngay thẳng về tính cách và hành vi. Đây không phải là “sự công-bình của luật-pháp”, nhưng là sự công-bình thực tế được Đức Chúa Trời hành động trong đời sống chúng ta khi chúng ta đầu-phục Ngài (Phi 3:4-10).
• Đời sống Phao-lô cũng không chỗ trách được.
Theo nghĩa đen từ này nghĩa là “không thể tìm thấy lỗi”. Kẻ thù Phao-lô có thể đã cáo ông, nhưng không ai có thể đưa ra lời buộc tội nào nghịch lại Phao-lô và chứng minh nó. Cơ-đốc nhân được xem là “không thể chê trách và vô-tội” khi họ sống giữa thế-gian này (Phi 2:15).
(3). Lời nói của ông (ITês 2:11-12).
Một người cha không chỉ giúp đỡ gia đình bằng cách làm việc và dạy dỗ gia đình bằng cách nêu gương tốt. Người ấy còn phải dành thời gian nói chuyện với các thành-viên trong gia đình. Phao-lô đã biết tầm quan-trọng của việc dạy những tân tín-hữu này những chân-lý giúp họ tăng-trưởng trong Chúa.
• Phao-lô đã đến với mỗi Cơ-đốc nhân cách riêng tư.
“Vì anh em biết chúng tôi đã đến với mỗi người trong anh em như người cha đến với con cái mình” (ITês 2:11).
Dù bận rộn như vậy, Phao-lô vẫn dành thời gian cho việc khuyên bảo các thuộc-viên trong hội chúng cách riêng tư. Trong lúc tiếp xúc với một nhóm đông hơn là một việc tốt, các nhà lãnh đạo cũng cần dành thời gian với mọi người trên căn bản từng người một.
Chúa chúng ta không bao giờ quá bận rộn đến nỗi không thể nói chuyện với các cá nhân, cho dù Ngài đã giảng đạo cho nhiều đám đông. Chắc chắn, đây là công việc khó khăn và đòi hỏi nhiều nỗ lực. Nhưng đó là công việc bổ ích quy vinh-hiển Đức Chúa Trời.
• Phao-lô đã khích-lệ các tân tín-hữu.
Đây là điều một người cha làm cho con cái mình vì con trẻ dễ chán-nản. Các Cơ-đốc nhân mới cần có người khích-lệ họ trong Chúa. Từ “thúc giục” trong Bản dịch King James của chúng ta nghĩa là “kêu-gọi về một phía, khích-lệ”.
Điều này không có nghĩa là Phao-lô đã trách mắng họ. Đúng hơn, nó có nghĩa là ông khích-lệ họ tiếp tục bước đi với Chúa.
Có lần tôi nhận được bức thư của một thính-giả đài phát thanh cảm-ơn tôi về những sự khích-lệ trong các sứ-điệp bà đã nghe.
Bà viết: “Khi chúng tôi đi nhà thờ, mọi điều mục-sư chúng tôi làm là trách mắng chúng tôi, đánh đập chúng tôi. Chúng tôi thật sự mệt mỏi về điều này. Thật khỏe khoắn khi nghe vài lời khích-lệ!”
• Phao-lô cũng đã yên-ủi họ.
Từ này mang cùng một ý nghĩa “khích-lệ”, với sự nhấn mạnh về sự hoạt động. Phao-lô không chỉ giúp họ cảm thấy được khích-lệ hơn, nhưng ông giúp họ muốn hành động tốt hơn.
Một người cha không nên nuông chiều con, đúng hơn, người ấy phải khích-lệ đứa trẻ trở lại đúng đường và cố gắng thêm. Sự khích-lệ Cơ-đốc không nên trở thành một thuốc gây mê buộc chúng ta ngủ. Đó phải là một chất kích thích đánh thức chúng ta để hành động tốt hơn.
• Sau cùng, Phao-lô đã giao nhiệm-vụ cho họ.
Từ này nghĩa là Phao-lô “đã làm-chứng với họ” từ kinh nghiệm của riêng ông với Chúa. Nó mang ý nghĩa những lời làm-chứng liên quan đến bản thân. Đôi khi chúng ta trải qua những khó khăn hầu cho chúng ta có thể chia-sẻ với các Cơ-đốc nhân mới điều Chúa đã làm. Đức Chúa Trời “yên-ủi chúng tôi trong mọi hoạn-nạn, hầu cho chúng tôi có thể yên-ủi những ai trong bất cứ sự hoạn-nạn nào bằng sự yên-ủi mà chính chúng tôi đã nhận từ Đức Chúa Trời” (IICôr 1:4).
Chúng ta những người làm cha mẹ biết rằng con cái mình (nhất là các thanh thiếu niên) không thích nghe chúng ta nói: “Bây giờ, nhớ lại lúc bố còn nhỏ...” Nhưng đây là một phần quan-trọng của việc giáo dục một gia đình. Thật là điều kỳ diệu khi một “người cha thuộc-linh” có thể khích-lệ và giúp đỡ “con cái” mình bằng kinh-nghiệm của chính mình với Chúa.
“Hỡi các con, hãy đến nghe ta, ta sẽ dạy các con sự kính sợ Chúa” (Thi 34:11).
Mục đích cho chức-vụ này của người cha đối với các tín-hữu là gì? Mục tiêu của ông là con cái ông có thể “ăn ở một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời” (ITês 2:12). Giống như một người cha muốn tự hào về con cái mình, thì Chúa cũng muốn được vinh-hiển qua đời sống của con cái Ngài.
“Tôi rất vui mừng mà thấy vài người trong con cái bà bước đi trong chân lý” (IIGi 1:4). Phao-lô đã chăm-sóc họ theo cách riêng như vậy vì ông muốn dạy họ cách ăn ở.
-Mọi con cái phải học cách ăn ở.
Người ấy phải có những mẫu-mực tốt để noi theo. Phao-lô đã khuyên họ ăn ở “xứng đáng với Đức Chúa Trời” (Côl 1:10; Phi 1:27). Chúng ta phải ăn ở xứng đáng với sự kêu-gọi chúng ta có trong Chúa Giê-xu (Êph 4:1). Đức Chúa Trời đã gọi chúng ta.
-Chúng ta được cứu bởi ân-điển.
Chúng ta là một phần thuộc vương quốc đời đời và dự phần sự vinh-hiển của Ngài. Sự tin chắc này phải điều khiển đời sống chúng ta và khiến chúng ta muốn làm đẹp lòng Chúa.
Động từ trong câu 12 ở thì hiện tại: “Là Đấng đang tiếp tục gọi anh em”. Đức Chúa Trời đã gọi chúng ta đến sự cứu-rỗi (IITês 2:13-14) và Ngài liên tục gọi chúng ta đến một đời sống thánh-khiết và vâng-lời.
“Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở (hành vi), vì có chép rằng: hãy nên-thánh, vì ta là thánh” (IPhi 1:15-16).
Đoạn này cho chúng ta một gương đẹp đẽ về cuộc đi thăm tiếp theo trong Kinh Thánh Tân-ước. Phao-lô đã cho họ thấy cách nuôi những con đỏ.
Chúng ta phải là những quản-gia trung-tín, những người mẹ yêu-thương và những người cha lo lắng. Con cái cần kỷ-luật cũng như tình-yêu. Thật ra, kỷ-luật là một chứng cớ của tình-yêu.
Không có gì lạ khi Hội thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca phát triển bất chấp sự bắt bớ, và chia-sẻ Phúc-Âm với những người khác xung quanh đó. Họ đã được sinh ra đúng (đoạn 1) và được nuôi-dưỡng đúng (đoạn 2). Đây là một gương tốt cho chúng ta noi theo.
3. ĐAU KHỔ GIA TĂNG (ITês 2:13-20)
Thật không dễ làm một Cơ-đốc nhân ở Tê-sa-lô-ni-ca nơi các tín-hữu đã đối diện sự bắt bớ và hoạn-nạn. Hoàn-cảnh của họ giải thích cho sự chọn từ của Phao-lô: “sự khốn khó” (ITês 1:6; ITês 3:3) nghĩa là “áp lực từ những hoàn-cảnh”, “chịu-khổ” (ITês 2:14), cũng là từ được sử dụng cho sự chịu-khổ của Chúa chúng ta “bắt bớ” (ITês 2:15) nghĩa là “kéo ra và loại bỏ”, thù nghịch (ITês 2:15), được dùng như những luồng gió thổi ngược và cản trở sự tiến triển và “ngăn trở” (ITês 2:18) phác họa một con đường gồ ghề đến nỗi sự đi lại bị tắc nghẽn.
Nhưng giữa hoạn-nạn, các Cơ-đốc nhân Tê-sa-lô-ni-ca đã kinh-nghiệm sự vui-mừng. Họ đã tiếp nhận chức-vụ của Phao-lô về Đạo “giữa nhiều sự khốn khổ, với sự vui-mừng của Thánh Linh” (ITês 1:6). Chắc hẳn Phao-lô đã nặng lòng về anh em mình, những người đang trải hoạn-nạn, nhưng ông cũng có sự vui-mừng (ITês 2:19-20).
Đó là sự ứng-nghiệm lời-hứa của Chúa chúng ta: “Các ngươi sẽ có hoạn-nạn trong thế-gian, nhưng hãy cứ vui-mừng, Ta đã thắng thế-gian rồi” (Gi 16:33).
Các Hội thánh kinh-nghiệm sự đau-khổ gia tăng khi họ tìm cách chinh-phục những người hư-mất và làm vinh-hiển Chúa. Chúng ta có thể không kinh-nghiệm cùng một hình thức bắt bớ về chính-trị và tôn-giáo mà những Cơ-đốc nhân đầu tiên đã chịu (mặc dù ở một số nơi trên thế giới ngày nay sự bắt bớ mang tính gay gắt giống như thời bấy giờ).
Nhưng nếu chúng ta muốn sống “cách nhân-đức trong Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ chịu khổ vì cớ Ngài” (IITim 3:12). Trong đoạn này, Phao-lô giải thích những nguồn năng-lực thiên-thượng chúng ta có trong giờ hoạn-nạn và bắt bớ.
1. Lời Đức Chúa Trời trong chúng ta (ITês 2:13)
Hội thánh đã được lập trên trời của Đức Chúa Trời (ITês 1:6), sứ-điệp Phúc-Âm của Chúa Giê-xu. Cũng chính Lời này đã đem chúng ta đến sự cứu-rỗi, cũng khiến chúng ta có thể sống cho Đấng Christ và chịu-khổ vì cớ Ngài. Phao-lô đầy lòng cảm-tạ vì các thánh-đồ ở Tê-sa-lô-ni-ca đã có những thái-độ thuộc-linh đúng đắn đối với Lời Đức Chúa Trời. Điều này giúp họ chịu đựng trong kỳ hoạn-nạn.
a. Họ đánh giá đúng đắn Lời Đức Chúa Trời:
Họ đã không nhận Lời này như lời của loài người, họ tiếp nhận nó như Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta đừng cư xử với Kinh Thánh như bất cứ cuốn sách nào khác, vì Kinh Thánh khác hẳn về nguồn gốc, đặc điểm, nội dung và giá-trị.
• Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời.
Nó đã được Thánh Linh Đức Chúa Trời hà hơi vào (IITim 3:16) và được viết ra do những người thuộc về Đức Chúa Trời là những người được Thánh Linh sử dụng (IIPhi 1:20-21).
Lời Đức Chúa Trời là thánh, trong sạch và trọn-vẹn (Thi 19:7-9). Kinh Thánh đã được viết bằng một giá rất cao, không chỉ đối với những người viết, nhưng còn đối với Chúa Giê-xu Đấng đã trở nên Con người hầu cho Lời Đức Chúa Trời có thể được ban cho chúng ta.
Cách một Cơ-đốc nhân cư xử với Kinh Thánh cho thấy mức-độ quan tâm của người ấy đối với Chúa Giê-xu. Ngài là Ngôi Lời sống (Gi 1:1,14), và Kinh Thánh là Lời được viết ra nhưng cả 2 có cùng bản chất.
Cả 2 đều là bánh (Gi 6:48; Mat 4:4), sự sáng (Gi 8:12; Thi 119:105), và chân-lý (Gi 14:6; Gi 17:17).
Đức Thánh Linh đã sinh ra Chúa Giê-xu bởi một thánh nữ (Lu 1:35). Và Ngài đã sinh ra Kinh Thánh bởi những người thuộc về Đức Chúa Trời (IIPhi 1:20-21). Chúa Giê-xu là Con đời-đời của Đức Chúa Trời đến vĩnh cửu (Rô 1:25) và Lời Đức Chúa Trời sẽ còn đời-đời (Thi 119:89; IPhi 1:23,25).
Có thể là một thành kiến cá nhân, nhưng tôi không thích nhìn thấy Kinh Thánh ở trên sàn nhà hoặc ở cuối giá sách. Nếu mang nhiều sách trong đó có Kinh Thánh của mình, tôi cố gắng nhớ đặt Kinh Thánh ở vị-trí trên cùng.
Nếu chúng ta hiểu rõ giá-trị của Kinh Thánh là lời được hà hơi của của Đức Chúa Trời, thế thì chúng ta sẽ bày tỏ sự hiểu đó qua cách đối xử của mình với Kinh Thánh.
Có phải bạn thích có Kinh Thánh hơn thức ăn không? Gióp đã nói: “Tôi vẫn kính mến lời của miệng Ngài hơn đồ ăn cần thiết của tôi” (Giop 23:12) Lời của Đức Chúa Trời là bánh (Mat 4:4) sữa và đồ ăn đặc (Hêb 5:11-14) thậm chí là mật ong (Thi 109:103). Ma-ri chọn Lời Chúa, nhưng chị bà là Ma-thê bận tâm đến việc dọn bữa ăn (Lu 10:38-42). Ma-ri được phước trong khi Ma-thê đánh mất chiến thắng.
Phải chăng bạn thích có lời Đức Chúa Trời hơn tiền bạc? Tác-giả Th-thiên 119 cho biết rõ Lời Đức Chúa Trời có ý nghĩa nhiều với ông hơn “mọi của cải” (Thi 119:14) “hằng ngàn đồng vàng bạc” (Thi 119:72) “vàng ròng” (Thi 119:127) và hơn cả “lợi lộc lớn” (Thi 119:162).
Tôi nhớ đến một đôi vợ chồng trẻ mà tôi đã tìm cách giúp đỡ ở một trong những Hội thánh của tôi. Họ có một đứa con trai nhỏ đáng yêu, nhưng họ thật chẳng quan tâm gì đến việc đến nhà thờ và Trường Chúa nhật. Đứa con trai nhỏ đã không nhận được sự giáo huấn, Cơ-đốc cần thiết cho nó.
Một cuộc thăm viếng gia đình này đã cho tôi biết vì sao: người cha muốn có nhiều tiền nên ông làm việc vào những Chúa nhật để có tiền gấp đôi. Anh ta không bị bắt buộc làm việc vào Ngày của Chúa, nhưng anh muốn có tiền hơn Lời Đức Chúa Trời. Anh kiếm nhiều tiền hơn, nhưng chưa bao giờ có thể giữ được tiền. Đứa con nhỏ của anh trở bệnh và số tiền có thêm đó đã đến với các bác sĩ.
Có phải bạn thích Lời Đức Chúa Trời hơn giấc ngủ? “Canh đêm chưa khuya, mắt tôi mở tỉnh ra, đặng suy gẫm Lời Chúa” (Thi 119:148).
Người Do-thái có 3 canh đêm: từ lúc mặt trời lặn đến 10 giờ tối, từ 10 giờ tối đến 2 giờ sáng và từ 2 giờ sáng đến rạng đông.
Tác giả Thi-thiên đã tỉnh thức 3 lần mỗi đêm để có thể dành thờ gian cho Lời Chúa. Nhưng có một số Cơ-đốc nhân không thể ra khỏi giường vào sáng Chúa nhật để học Lời Chúa.
Nếu muốn thắng trong hoạn nạn, chúng ta phải đánh giá đúng Lời Chúa. Nhưng có một thái-độ thứ 2 chúng ta phải bày tỏ đối với Kinh Thánh.
b. Họ nắm giữ Lời Chúa:
Phao-lô sử dụng 2 từ khác nhau để nói về “tiếp nhận”: từ thứ nhất đơn giản nghĩa là “chấp nhận từ người khác”, còn từ thứ 2 nghĩa là “tiếp đón”. Một từ nghĩa là “sự nghe của tai” trong khi từ kia nghĩa là “sự nghe của lòng”. Các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca không chỉ nghe Lời Chúa họ còn đặt nó vào con người bên trong của mình và khiến nó thành một phần của đời sống mình.
Chúa Giê-xu nhiều lần cảnh cáo dân chúng về cách nghe sai lạc, và những lời khuyến cáo của Ngài vẫn cần thiết: “Ai có tai, hãy nghe! ” Nói cách khác “Hãy chú ý việc bạn nghe” Mat 13:9). Hãy lợi dụng mọi cơ-hội bạn có để nghe Lời Đức Chúa Trời.
Nhưng Ngài đã đưa ra lời khuyến cáo khác trong Mac 4:24: “Hãy cẩn thận về điều mình nghe”. Các Cơ-đốc nhân rất thường nghe Lời Đức Chúa Trời trong Trường Chúa nhật và nhà thờ, rồi sau đó bước vào xe hơi, mở radio và nghe những chương trình góp phần xóa đi những ấn tượng do Lời chúa tạo nên. Khi chúng tôi viếng thăm những hội chúng của các Hội thánh ở Anh quốc, vợ tôi và tôi cảm kích hành động họ ngồi lại sau lời cầu-nguyện chúc phước.
Họ suy gẫn Lời Chúa và để Thánh Linh dạy dỗ mình. Điều này ích lợi hơn là chạy ào ra khỏi nhà thờ và đùa giỡn với bè bạn.
Lời khuyến cáo thứ 3 của Chúa chúng ta là ở Lu 8:18: “Vậy hãy coi chừng về cách các ngươi nghe”. Nhiều người là những kẻ nghe hời hợt và không thể chuyên tâm nghe sự dạy dỗ của Lời Đức Chúa Trời. Những người này có “đôi tai ngứa ngáy” và muốn có sự giải trí tôn-giáo (IITim 4:3).
Vài người trong số họ “chậm nghe” (Hêb 5:11), quá biếng nhác nên không thể chuyên tâm và chú ý. Một trong những ngày này, các Hội thánh của chúng ta sẽ bị đói do một nạn đói “về việc nghe Lời Chúa” (Am 8:11). Có quá nhiều Hội thánh đã thay thế sự rao-giảng Lời Đức Chúa Trời bằng sự giải trí và nhiều người không còn tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời nữa.
Chúng ta nắm giữ Lời Chúa ra sao? Bằng cách hiểu và tiếp nhận Lời Chúa vào lòng mình, và bằng cách suy gẫm lời Ngài, hầu cho nó trở thành một phần của con người bên trong. Sự suy gẫm dành cho đời sống thuộc-linh giống như sự tiêu hóa dành cho đời sống thuộc-thể. Nếu bạn không tiêu hóa thức ăn, bạn sẽ chết. Phải mất thời gian để suy gẫm, nhưng đó là cách duy nhất để nắm giữ Lời Chúa và tăng-trưởng.
c. Họ áp dụng Lời Chúa:
Họ vâng Lời Chúa bằng đức-tin, và Lời Chúa hành động trong đời sống họ. Đánh giá đúng Kinh Thánh vẫn chưa đủ, ngay cả nắm giữ Kinh Thánh. Chúng ta phải áp-dụng Lời Chúa vào đời sống mình và hãy là những người nghe và làm theo Lời Chúa (Gia 1:19-25).
Lời Đức Chúa Trời tiềm ẩn quyền-năng để làm trọn ý muốn Đức Chúa Trời. “Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được” (Lu 1:37). Có thể nói: “Những điều răn của Đức Chúa Trời là những điều Đức Chúa Trời có thể giúp thực hiện được”.
Chúa Giê-xu đã ra lệnh cho người tàn tật giơ tay ra – chính việc người ấy không thể làm được. Nhưng Lời mệnh-lệnh ấy đã ban cho ông quyền-năng để vâng-theo. Ông tin-cậy Lời Chúa, vâng theo và được lành lặn (Mac 3:1-5). Khi chúng ta tin Lời Đức Chúa Trời và vâng theo, Ngài bày tỏ quyền-năng, năng-lực thiên-thượng – hành động trong đời sống chúng ta để làm trọn mục đích Ngài.
Lời Đức Chúa Trời trong chúng ta là một nguồn quyền-năng lớn giữa lúc thử-thách và hoạn-nạn. Nếu chúng ta đánh giá đúng Lời Chúa (tấm-lòng), nắm giữ Lời Chúa (tâm-trí) và áp-dụng Lời Chúa (ý-chí), khi ấy cả con người sẽ được Lời Đức Chúa Trời điều khiển và Ngài sẽ ban cho chúng ta sự chiến thắng.
2. Dân của Đức Chúa Trời ở quanh chúng ta (ITês 2:14-16)
Trong công việc mục-sư của tôi, tôi thường thấy rằng những người chịu khổ có thể trở nên tự kỷ trung tâm và nghĩ rằng mình là người duy nhất trải qua lò lửa. Mọi người đều trải qua hoạn-nạn của con người bình thường chẳng hạn như bệnh tật, đau khổ, mất mát. Nhưng tôi muốn nói đến hoạn-nạn chúng ta chịu do chúng ta là Cơ-đốc nhân.
Có lẽ gia đình bạn không nhìn nhận bạn vì đức-tin của bạn, hoặc có lẽ bạn đã bị gạt ra khỏi sự thăng chức trong việc làm do bạn là Cơ-đốc nhân. Những từng-trải này gây tổn thương, nhưng chúng không phải là những từng-trải của riêng chúng ta.
Các Cơ-đốc nhân khác đang trải qua những thử-thách giống như vậy, và nhiều người ở những nơi khác trên thế giới đối đầu với sự khó-khăn lớn hơn nhiều.
Các thánh-đồ Tê-sa-lô-ni-ca không chỉ là những người bắt chước Chúa và Phao-lô (ITês 1:6), nhưng họ cũng trở nên những người bắt chước các tín-hữu Do-thái trong từng-trải của họ về sự bắt-bớ. Các thánh-đồ xứ Giu-đê đã chịu khổ trong tay dân ngoại. Nhưng hãy nhớ rằng ngay cả sự bắt-bớ này của dân ngoại đã được kích động bởi những người Do-thái không tin (Công 17:5,13). Chúa Giê-xu đã báo trước rằng điều này sẽ xảy ra (Gi 15:18-27).
Có phải Phao-lô muốn đưa ra chứng-c ớ về “sự mù quáng tôn-giáo” khi ông tố cáo những người Do-thái về việc giết Chúa Giê-xu và bắt bớ các Cơ-đốc nhân? Không ông chỉ xác định một sự kiện của lịch-sử?
Không chỗ nào Kinh Thánh tố cáo tất cả mọi người Do-thái về điều mà một số ít người Do-thái đã làm tại Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đê khi Đấng Christ bị đóng đinh trên thập-tự giá và Hội thánh được thành lập.
Những người La-mã cũng tham gia trong việc xử án và sự chết của Đấng Christ và vì vấn-đề đó, chính tội-lỗi họ đã đưa Ngài lên thập-tự giá (Ês 53:6).
Không chỗ nào trong niềm tin Cơ-đốc dành cho chủ nghĩa bài Do-thái cả. Bản thân Phao-lô đã yêu-thương những người bạn Do-thái của ông và tìm cách giúp đỡ họ (Công 24:17; Rô 9:1-5).
Đức Chúa Trời đã gọi dân Y-sơ-ra-ên, để trở thành nguồn phước cho cả thế giới (Sa 12:1-3; Sa 22:18). Qua dân Y-sơ-ra-ên Ngài đã ban những lời-hứa, những giao-ước, và lời của Đức Chúa Trời và qua dân Y-sơ-ra-ên, Chúa Giê-xu Đấng Cứu Thế đã đến thế-gian “Sự cứu-rỗi bởi người Giu-đa mà đến” (Gi 4:22). Các Cơ-đốc nhân đầu tiên là những người Do-thái, cũng như Phao-lô, là nhà truyền-đạo Cơ-đốc vĩ đại nhất.
Vậy, tại sao các lãnh đạo Y-sơ-ra-ên thường chối bỏ Chúa Giê-xu và bắt bớ những người theo Ngài? Họ chỉ đang lặp lại tội-lỗi của tổ-phụ họ. Tổ-phụ họ đã bắt-bớ các tiên-tri từ trước khi Chúa Giê-xu đến trên đất (Mat 5:10-12). Họ không thể hiểu rằng luật-pháp của họ chỉ là một sự chuẩn bị tạm thời cho giao-ước mới về ân-điển của Đức Chúa Trời.
Bằng cách chối bỏ lẽ thật, họ đã bảo vệ những truyền thống do con người lập ra (Mac 7:1-8). Ví-dụ của Chúa chúng ta trong Lu 20:9-19) giải thích những thái-độ tội-lỗi của họ.
Điều đáng buồn đó là dân Y-sơ-ra-ên đã làm cho đầy-dẫy tội-lỗi mình (ITês 2:16p) và để dành cơn thạnh nộ cho ngày xét-đoán. Hình ảnh này được sử dụng trong Sa 15:16, và Chúa Giê-xu đã sử dụng hình ảnh đó trong bài giảng của Ngài nghịch lại người Pha-ri-si (Mat 23:32).
Đức Chúa Trời kiên-nhẫn chờ đợi khi tội-nhân chống nghịch Ngài, và Ngài theo dõi khi lượng tội-lỗi và sự đoán-phạt của họ đầy-dẫy. Khi thời giờ đã đến, sự kiên-nhẫn của Đức Chúa Trời sẽ chấm dứt và sự đoán-phạt sẽ ập xuống.
Theo một ý niệm, sự đoán-phạt đã giáng trên Y-sơ-ra-ên, vì họ từng là một dân bị tản lạc, và xứ sở họ ở Palestine bị dưới sự cai-trị của người La-mã (Phuc 28:15). Nhưng một sự đoán-phạt lớn hơn phải giáng xuống trong tương lai, vì vào năm 70 SC, quân đội La-mã đã bao vây Giê-ru-sa-lem, phá hủy thành và đền thờ, và làm chấm dứt giai đoạn sự kiên-nhẫn của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài suốt chức-vụ của các sứ-đồ (Mat 22:1-11). Thật bi thảm nhưng đúng là những người công-bình đã chịu-khổ vì tội-lỗi của kẻ ác.
Phao-lô khích-lệ những Cơ-đốc nhân chịu-khổ bằng cách cho họ tin chắc rằng những từng-trải của họ không mới mẻ hoặc biệt lập. Những người khác đã chịu-khổ trước họ và thậm chí đang chịu-khổ cùng họ. Các Hội thánh xứ Giu-đê đã không bị tiêu diệt bởi hoạn-nạn, việc xảy ra chỉ giúp họ đã được sàng lọc và gia tăng. Nhưng những kẻ bắt bớ muốn làm cho đầy-dẫy lượng thạnh nộ chất trên đầu họ. Các thánh-đồ đã được cứu toàn-vẹn (Hêb 7:25), nhưng những kẻ có tội sẽ trải qua cơn thạnh nộ sau hết (ITês 2:16).
Đây là một trong những giá-trị lớn của Hội thánh địa phương: chúng ta đứng chung với nhau trong kỳ khó khăn và khích-lệ lẫn nhau. Chính lúc Ê-li tách mình khỏi những người Y-sơ-ra-ên trung-tín, ông đã trở nên chán-nản và muốn bỏ cuộc.
Một lý-do Phao-lô sai Ti-mô-thê trở lại thành Tê-sa-lô-ni-ca là để khích-lệ các tín-hữu (ITês 3:1-4). Một thánh-đồ cô độc rất có thể bị tổn thương đối với những sự tấn công của Sa-tan. Chúng ta cần lẫn nhau trong những cuộc chiến của đời sống.
3. Sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời trước mặt chúng ta (ITês 2:17-20)
Phao-lô không xấu hổ khi xác nhận tình cảm của ông đối với các Cơ-đốc nhân Tê-sa-lô-ni-ca. Ông cảm giác như thể mình đã để họ “mồ côi” (ITês 2:17) vì ông là người cha và người mẹ thuộc-linh của họ (ITês 2:7,11). Phao-lô muốn ở lại đó lâu hơn để giúp họ hiểu biết vững vàng trong đức-tin, nhưng kẻ thù đã đuổi ông ra. Tuy nhi ên, sự vắng mặt của Phao-lô chỉ là thuộc-thể, ông vẫn ở cùng họ trong tấm-lòng (xem Phi 1:7).
Phao-lô đã thực hiện mọi nỗ lực có thể để trở lại với họ, dù Sa-tan “đang phá đường và dựng lên những rào cản” (nghĩa đen của “ngăn trở” trong ITês 2:18). Phao-lô đã có cùng một ước muốn sâu sắc ở cùng họ như Chúa Giê-xu muốn ở cùng các môn-đệ Ngài trước sự chịu chết của Ngài (Lu 22:15).
Nhưng Phao-lô đã không nhìn lại và chịu lùi bước để hối tiếc và ăn-năn. Ngược lại, ông nhìn về phía trước và vui-mừng. Đối với Cơ-đốc nhân, điều tốt nhất vẫn chưa đến. Phao-lô nhìn về phía trên bằng đức-tin và thấy các bạn hữu ông trong sự hiện diện của Chúa Giê-xu Christ đầy vinh-hiển.
Trong lúc hoạn-nạn và thử-thách, quan-trọng là chúng ta có quan-điểm sâu sắc về mọi sự. Phao-lô sống trong thời tương lai, cũng như hiện tại. Những hành động của ông chịu chi phối bởi điều Đức Chúa Trời sẽ thực hiện trong tương lai. Ông biết rằng Chúa Giê-xu sẽ tái-lâm và trao phần thưởng cho chức-vụ trung-tín của ông.
Và vào ngày ấy, các thánh-đồ ở Tê-sa-lô-ni-ca sẽ quy vinh-hiển cho Đức Chúa Trời và đem sự vui-mừng đến cho lòng Phao-lô. Như bài hát quen thuộc có lời “Tất cả đều có giá-trị, khi chúng ta gặp Chúa Giê-xu”.
Sự kiện một ngày kia chúng ta sẽ đứng tại Tòa án của Đấng Christ phải thúc đẩy chúng ta trung-tín bất chấp mọi khó-khăn. Chúng ta phải nhớ rằng sự trung-tín là điều quan-trọng (ICôr 4:2).
Tại tòa án của Đấng Christ, công việc của chúng ta sẽ được xét đoán và phần thưởng sẽ được ban cho (ICôr 4:1-5; IICôr 5:9-10; Rô 14:10-12). Trong các thư tín, Phao-lô thường phác họa những phần thưởng này như những mão triều-thiên. Từ được sử dụng bày tỏ “vương miện của người chiến thắng” tại cuộc đua, không phải vương miện hoàng gia của vua. Đó là từ “Stephanos” từ đó chúng ta có tên Stephen và Stephanie.
Phao-lô không nói rằng ông sẽ nhận một mão triều-thiên dù điều này được gợi ý. Ông nói rằng chính các thánh-đồ sẽ là mão triều-thiên của ông khi ông gặp họ tại tòa án của Chúa. Chắc chắn, một số tín-hữu trong Hội thánh không sống như họ đáng phải sống, và một số người là gánh nặng cho Phao-lô. Nhưng khi ông nhìn về phía trước và thấy họ trong vinh-hiển, họ đã đem đến sự vui-mừng cho lòng ông.
Niềm vui này về việc chào hỏi các tín-hữu nơi thiên-đàng cũng kèm theo một lời cảnh cáo nghiêm túc: chúng ta sẽ mất niềm vui nếu chúng ta đến thiên-đàng tay không. Cơ-đốc nhân nào không thật lòng cố gắng chinh-phục người khác đến với Đấng Christ, sẽ không kinh-nghiệm sự vinh-hiển và niềm vui này khi Chúa Giê-xu tái-lâm.
“Chờ đợi Con Ngài” (ITês 1:10) thì vẫn chưa đủ. Chúng ta còn phải làm-chứng cho Đức Chúa Trời và hầu-việc Con Ngài, hầu cho khi đến thiên-đàng chúng ta sẽ có những chiến tích để trình dâng cho vinh-hiển Ngài. Có một sự vui-mừng và phần thưởng đặc biệt cho người chinh-phục linh-hồn (Đa 12:3).
Cũng có một mão triều-thiên cho Cơ-đốc nhân nào khuất phục được thân thể mình và giữ cho nó trong vòng kiểm soát vì vinh-hiển của Đức Chúa Trời (ICôr 9:24-27). Sự tự chủ sinh ra bởi Thánh Linh (Ga 5:23).
Vì thân thể chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời, chúng ta phải cẩn thận đừng làm ô uế chúng. Điều cuối cùng trong việc dâng thân thể cho Đức Chúa Trời là chết vì cớ Ngài, và có một mão triều-thiên cho điều này (Kh 2:10).
Những ai thiết tha trông chờ sự hiện ra của Đấng Christ sẽ nhận được “mão triều-thiên của sự công-bình” (IITim 4:8). Mục-sư trung-tín có thể nhìn thấy trước “mão triều-thiên vinh-hiển” (IPhi 5:4).
Chúng ta đừng bao giờ nhìn những phần thưởng trong tương lai như một phương tiện để phô trương với những thánh-đồ khác. Như những trưởng-lão được mô tả trong sách Kh 4:4 (một bức tranh về Hội thánh vinh-hiển), chúng ta sẽ thờ-phượng Chúa và đặt mão triều-thiên của mình tại chân Ngài (Kh 4:10).
Xét cho cùng, công việc của chúng ta đã được thực hiện trong quyền-năng của Ngài và vì vinh-hiển Ngài, vì vậy Ngài xứng đáng nhận mọi sự ngợi-khen.
Sự kiện Đức Chúa Trời hứa ban thưởng cho chúng ta là một chứng cớ khác về ân-điển Ngài. Đức Chúa Trời đã có thể đòi hỏi sự hầu-việc của chúng ta chỉ trên cơ sở mọi điều Ngài đã làm cho chúng ta. Động-cơ để chúng ta hầu-việc Ngài đó là tình-yêu. Trong ân-điển, Ngài ban cho chúng ta những phần thưởng để chúng ta có thể có điều gì đó dâng lại cho Ngài.
Khi các Cơ-đốc nhân tại Tê-sa-lô-ni-ca đọc thư này, có lẽ nó đã khích lệ họ rất nhiều. Họ đang trải qua sự bắt-bớ và hoạn-nạn gay go, và có lẽ vài người trong số họ đã bị cám-dỗ bỏ cuộc.
Phao-lô khích-lệ họ: “Đừng bỏ cuộc! Hãy nắm giữ những nguồn linh lực anh em có trong Chúa Giê-xu. Anh em có Lời Đức Chúa Trời trong lòng mình, dân của Đức Chúa Trời ở quanh mình, và vinh-hiển của Đức Chúa Trời ở trước mặt mình. Không cần thiết phải bỏ cuộc”.
4. HÃY ĐỨNG (ITês 3:1-13)
Trước khi một đứa trẻ có thể bước đi, nó phải học cách đứng. Cha mẹ thường dạy con trẻ đứng và rồi bước đi. Phao-lô là “người cha thuộc-linh” của các tín-hữu này, nhưng ông buộc phải rời khỏi Tê-sa-lô-ni-ca. Vậy làm sao ông có thể giúp những Cơ-đốc nhân non trẻ này học cách đứng giữa những thử thách của cuộc sống?
Trong 2 chương đầu, Phao-lô đã giải thích cách Hội thánh ra đời và được nuôi-dưỡng. Giờ đây, ông đề cập đến bước kế tiếp trong sự trưởng-thành: cách Hội thánh phải đứng. Từ chính trong chương này là “vững-vàng” (ITês 3:2,13). Tư tưởng chính được bày tỏ trong c.ITês 8: “Vì hiện nay chúng tôi sống, thấy anh em đứng vững trong Chúa”
Phao-lô giải thích 3 chức-vụ ông thực hiện để giúp những Cơ-đốc nhân mới này trở nên vững-vàng.
1. Ông sai một người giúp việc đến với họ (ITês 3:1-5)
Khi Phao-lô và các bạn ông rời thành Tê-sa-lô-ni-ca, họ đi đến thành Bê-rê và giảng dạy Lời Chúa. Nhưng những kẻ gây rối ở Tê-sa-lô-ni-ca theo họ và gây ra sự chống đối. Phao-lô bỏ đi đến thành A-thên, trong khi Si-la và Ti-mô-thê ở lại Bê-rê (Công 17:10-15).
Rõ ràng, Ti-mô-thê đã đến cùng Phao-lô tại thành A-thên (chú ý “chúng tôi” ở ITês 3:1-2), nhưng Phao-lô đã sai Ti-mô-thê trở lại Tê-sa-lô-ni-ca để giúp Hội thánh non trẻ này đang trải qua những gian-khổ.
Có nhiều yếu tố quan-trọng liên quan đến sự ra đi này.
1. Sự quan tâm của Phao-lô (c.1).
Từ “do đó” mở đầu chương này có liên quan đến ITês 2:17-20 chỗ Phao-lô bày tỏ tình-yêu lớn của ông đối với các tín-hữu này. Chính vì tình-yêu này mà ông không thể bỏ rơi họ khi họ cần sự giúp đỡ thuộc-linh. Phao-lô không chỉ là người truyền giảng Phúc-Âm ông còn là một mục-sư. Ông biết rằng việc thu phục linh-hồn người chỉ là một phần trong nhiệm-vụ Đức Chúa trời đã giao cho ông. Những tân tín-hữu này cũng phải được dạy dỗ và làm cho vững-vàng trong đức-tin.
Thay vào đó, Phao-lô đã quyết định ở lại một mình tại thành A-thên hầu cho Ti-mô-thê có thể trở lại thành Tê-sa-lô-ni-ca và làm vững vàng các thánh-đồ. Từ được dịch là “ở lại” trong c.1 có nghĩa “để những người thân yêu gần cái chết”. Ở ITês 2:17 ông nói rằng ông cảm thấy “bị mồ côi” từ những bạn hữu ở Tê-sa-lô-ni-ca, và từ tiếng Hy-lạp có thể cũng mang nghĩa “bị cướp đi”. Phao-lô không phải là một “người chăn thuê” bỏ rơi chiên khi có nguy hiểm (Gi 10:12-13). Bỏ lại những tân tín hữu này giống như một kinh nghiệm về sự chết.
Đây là một bài học bổ ích cho những người giúp việc Cơ-đốc ngày nay. Phao-lô yêu các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca đến nỗi ông liều sự sống của chính mình để trở lại với họ. Ông yêu các thánh-đồ tại thành Phi-líp đến nỗi vui lòng ở ngoài thiên-đàng để khích-lệ họ (Phi 1:22-26). Ông muốn ban chính mình và những gì ông có cho họ, như một người cha chu-cấp cho con cái thân yêu. “Tôi sẽ rất vui lòng phí của và phí trọn mình tôi vì anh em” (IICôr 12:15).
2. Tính cách của Ti-mô-thê (c.2).
Không phải mọi Cơ-đốc nhân đều được trang bị để gây-dựng những Cơ-đốc nhân khác trong đức-tin. Nói theo cách lý-tư ởng, mọi Cơ-đốc nhân phải trưởng-thành đủ để giúp đỡ Cơ-đốc nhân khác tăng-trưởng trong Chúa và học cách đứng trên chính đôi chân mình.
Tiếc thay, một số Cơ-đốc nhân giống như những người được mô-tả trong Hêb 5:11-14. Họ đã thụt lùi trong bước đường thuộc-linh mình và đã quên những chân-lý cơ-bản của Lời Chúa. Thay vì dạy dỗ người khác, bản thân họ cần phải được dạy dỗ lại. Họ đang trải qua thời con trẻ lần thứ 2 về thuộc-linh.
Ti-mô-thê là con người lý-tưởng để được gởi đến Hội thánh nhằm giúp họ đứng vững.
Ti-mô-thê và Tít là những “trợ-lý đặc biệt” của Phao-lô được ông dùng như những người giải quyết rắc rối mỗi khi các Hội thánh có vấn-đề. Phao-lô cử Ti-mô-thê đến Cô-rinh-tô để giúp dàn xếp những vấn đề ở đó (ICôr 16:10-11). Ông cũng định cử Ti-mô-thê đến giúp các thánh-đồ ở thành Phi-líp (Phi 2:19-23).
Loại người nào có thể giúp các tín-hữu non trẻ hơn trưởng-thành trong Chúa? Trước hết, chính người ấy phải là một Cơ-đốc nhân: “Ti-mô-thê, là anh em chúng tôi...” (ITês 3:2).
Chúng ta không thể dẫn dắt người khác đến nơi mà chính chúng ta chưa đến, chúng ta cũng không thể chia-sẻ điều chúng ta không có. Phao-lô đã dẫn Ti-mô-thê đến đức-tin trong Đấng Christ (ITi 1:2) vì vậy Ti-mô-thê thật sự là một người anh em.
Nhưng Ti-mô-thê cũng là một mục-sư (người phục-vụ). Đây đơn giản là từ Hy-lạp chỉ về một đầy-tớ. Từ tiếng Anh “deacon” đến từ từ này – “diakonos”. Ti-mô-thê không ngại làm việc. Ông đã trung-tín hầu-việc cùng Phao-lô (Phi 2:22) và biết cách dạy dỗ trong các Hội thánh.
Gây-dựng những Cơ-đốc nhân mới là một điều đòi hỏi nhiều nỗ lực. Họ có nhiều vấn-đề và thường không tăng-trưởng nhanh như chúng ta nghĩ họ đáng phải đạt được. Việc dạy dỗ họ đòi hỏi tình yêu-thương cùng lòng kiên-nhẫn, và Ti-mô-thê đã có được những phẩm chất này.
Ti-mô-thê là một cộng sự tốt, ông là một người “bạn cùng làm việc”. Ông không tìm cách điều hành để phô trương bản thân và khiến mọi người theo mình. Trước hết, ông là một người bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Trời Đấng đã hành động trong và qua Ti-mô-thê để hoàn thành công-tác Ngài (Phi 2:13; ICôr 3:9).
Nhưng Ti-mô-thê cũng là bạn cùng làm việc với các tín-hữu khác. Ông vâng-lời Phao-lô và rời xa thành A-thên đến Tê-sa-lô-ni-ca. Ông trở lại với Phao-lô tại thành Cô-rinh-tô mang theo tin tức về Hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca. Không có gì ngạc nhiên khi Phao-lô viết về ông: “Vì tôi không có ai như người đồng tình với tôi, là người sẽ thật lòng lo về việc anh em” (Phi 2:20).
3. Xung đ ột trong Hội thánh (c.3-5).
Hoạn-nạn và thử-thách đến với đời sống Cơ-đốc của chúng ta không phải là những tai nạn – chúng là những sự định trước. Chúng ta phải sẵn sàng để “chịu khổ vì Ngài” (Phi 1:29). Sự bắt-bớ không phải là điều khác thường đối với một người theo Chúa (IPhi 4:12), nhưng là một phần trong cuộc đời của một Cơ-đốc nhân.
Chúng ta phải khuyến cáo các tân tín-hữu rằng lối đi không dễ dàng khi ta tìm cách sống cho Đấng Christ, nếu không, khi thử thách đến, những con đỏ này trong Đấng Christ sẽ nản-lòng và thất bại.
Dĩ nhiên, đằng sau những cơn bắt-bớ này là Sa-tan, kẻ thù của Cơ-đốc nhân (ITês 3:5). Nó là kẻ cám-dỗ, và nó tìm cách hủy hoại đức-tin chúng ta. Hãy chú ý sự nhấn mạnh về đức-tin trong chương này (ITês 3:5-7,10). Như sư tử rống, Sa-tan rình mò các Cơ-đốc nhân còn chúng ta phải chống lại nó “cách vững-vàng trong đức-tin” (IPhi 5:8-9).
Khi Sa-tan cám dỗ Ê-va nó bắt đầu bằng cách làm yếu đức-tin của bà nơi Đức Chúa Trời: “Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn...?” (Sa 3:1). Như con rắn, Sa-tan lừa dối (IICôr 11:3) như sư tử, Sa-tan cắn xé (IPhi 5:8). Nó sẽ sử dụng mọi phương tiện để tấn công Cơ-đốc nhân và làm suy yếu đức-tin người ấy nơi Đức Chúa Trời.
Từ “rúng động” trong câu 3 thật thú vị. Nó có nghĩa đen là “vẫy đuôi, xum xoe”. Ý niệm này là Sa-tan thường tâng bốc Cơ-đốc nhân để dẫn người ấy đi lạc đường. Sa-tan cho Ê-va biết bà sẽ giống như Đức Chúa Trời nếu bà ăn trái cây này, và bà đã sa ngã vì sự tâng bốc của nó. Sa-tan nguy hiểm khi nó tâng bốc hơn là khi nó cau có.
Nhiệm-vụ của Ti-mô-thê là gây-dựng những tín-hữu này và khích-lệ (yên-ủi) họ trong đức-tin. Chính đức-tin nơi Đức Chúa Trời giữ được đôi chân họ trên đất khi kẻ thù tấn công. Không có đức-tin nơi Đức Chúa Trời, chúng ta bị thất bại. “Sự thắng hơn thế gian, ấy là đức-tin của chúng ta” (IGi 5:4).
2. Ông viết một bức thư (ITês 3:6-8)
Ti-mô-thê đã gặp Phao-lô tại Cô-rinh-tô (Công 18:5) và trình ông những tin vui-mừng về mọi sự tiến triển tốt tại Tê-sa-lô-ni-ca. Nhóm từ “đem đến cho chúng tôi tin tốt” tương đương chính xác với “rao tin tốt về Phúc-Âm” Đối với Phao-lô, sự tường thuật của Ti-mô-thê giống như sự nghe Phúc-Âm.
Ti-mô-thê thuật lại rằng các tân tín-hữu đã đứng vững dù có sự bắt-bớ. Họ không tin những lời giả dối kẻ thù đã nói về Phao-lô, nhưng họ vẫn vô cùng kính-trọng ông trong tình yêu thương.
Phao-lô đáp ứng bằng cách là viết thư này cho họ. Phao-lô đã viết một số thư không nằm trong Kinh Thánh Tân-ước (ICôr 5:9), nhưng 2 bức thư gởi cho Hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca là một phần trong Lời được hà hơi của Đức Chúa Trời.
Điều này cho biết Lời Đức Chúa Trời là một trong những công-cụ để gây-dựng Cơ-đốc nhân mới trong đức-tin. “Hỡi anh em, vậy thì hãy đứng vững và vâng-giữ những điều dạy dỗ mà chúng tôi đã truyền cho anh em, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng thư từ” (IITês 2:15).
Khi Chúa Giê-xu bị Sa-tan cám-dỗ, Ngài đã sử dụng lời Đức Chúa Trời để đánh bại nó (Mat 4:1-11). Phao-lô khuyên các tín-hữu Ê-phê-sô cầm “gươm của Đức Thánh Linh, là Lời Đức Chúa Trời” (Êph 6:17) trong trận chiến của họ chống lại Sa-tan cùng các kẻ giúp việc cho nó.
Kinh Thánh có thể gây-dựng chúng ta vì Kinh Thánh được Đức Chúa Trời hà hơi (IITim 3:16). Kinh Thánh không đơn giản là một cuốn sách về những ý niệm tôn-giáo hay lời khuyên có tính cách luân-lý.
Kinh Thánh chính là Lời của Đức Chúa Trời.
Nó “có ích cho giáo-lý, sự bẻ trách, sửa trị, hướng dẫn trong sự công-bình”. Có thể nói rằng giáo-lý cho chúng ta biết điều gì là đúng, sự bẻ trách cho chúng ta biết điều gì không đúng, sự sửa trị cho chúng ta biết cách làm đúng, và sự hướng dẫn cho chúng ta biết cách ăn ở đúng.
Thư ITê-sa-lô-ni-ca dầm thấm với giáo-lý Kinh Thánh. Mọi giáo-lý trọng đại của đức-tin đều được nói đến trong những chương ngắn gọn này. Có nhiều chỗ liên quan đến Đức Chúa Cha, Chúa Giê-xu Christ và có ít nhất 4 chỗ liên-hệ đến Đức Thánh Linh (IITim 1:5-6; IITim 4:8; IITim 5:19)
Trong thư tín này, Phao-lô đề cập đến tội-lỗi và sự cứu-rỗi, giáo-lý về Hội thánh, công việc của chức-vụ, và đặc biệt là giáo-lý về những sự việc sau rốt. Vì Phao-lô không ở lại lâu tại Tê-sa-lô-ni-ca, điều đáng chú ý là ông đã dạy dỗ thật nhiều cho những người qui đạo.
Tiến-sĩ R. W. Dale là mục-sư của Hội thánh Carr’s Lane Congregational Church tại Anh quốc gần 50 năm. Ông đã bắt đầu một loạt bài giảng về giáo-lý Kinh Thánh, biết rằng các thuộc-viên của ông không thể đứng vững trong đức-tin nếu họ không biết những điều họ tin hoặc lý-do họ tin.
Một mục-sư đồng nghiệp nói với tấn-sĩ Dale: “Họ sẽ chẳng bao giờ hiểu được”. Nhưng Dale đáp: “Họ sẽ phải hiểu!” và họ đã hiểu, đối với việc củng cố Hội thánh.
Khi tôi trở nên một Cơ-đốc nhân, các Hội thánh đã không có những khóa nghiên-cứu thường xuyên dành cho những tân tín-hữu như chúng ta có ngày nay. “Khóa nghiên-cứu” của tôi là một loạt bài học Kinh Thánh từ sách Hê-bơ-rơ do một thuộc-viên đầy ơn hướng dẫn và gi ảng dạy trong phòng khách của ông.
Nhiều điều được dạy dỗ vượt quá đầu óc tôi vì là một tân tín-hữu. Nhưng những điều tôi học qua đã đào tạo cơ bản cho tôi trong Lời Chúa và gây-dựng tôi trong đức-tin.
Một hiểu biết về Kinh Thánh đủ để hành động thật cần thiết cho sự tăng-trưởng và sự vững-vàng thuộc-linh. Lời của Đức Chúa Trời là lương thực nuôi-dưỡng chúng ta (Mat 4:4), là ánh sáng dẫn đường chúng ta (Thi 119:105) và vũ khí để bảo vệ chúng ta (Êph 6:17). “Chúa đã phán vậy!” là nền tảng chắc chắn của chúng ta.
Một lý do Đức Chúa trời gây-dựng các Hội thánh địa phương là để các tín-hữu có thể tăng-trưởng trong Lời Chúa và giúp lại những người khác tăng-trưởng (IITim 2:2; Êph 4:11-16).
Phao-lô gởi đến họ một người và người đó đã gây-dựng họ trong Lời Chúa. Phao-lô đã chăm-sóc họ trong phương diện thứ ba:
3. Ông cầu nguyện cho họ (ITês 3:9-13)
Lời Đức Chua Trời và sự cầu-nguyện phải đi đôi với nhau. Tiên-tri Sa-mu-ên nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Đức Chúa Trời cấm ta phạm-tội nghịch Ngài trong việc thôi cầu-nguyện cho các ngươi: nhưng ta sẽ dạy các ngươi biết con đường lành và ngay”