“Cần những người ưa thích mạo hiểm, lương ít, giá rét, nhiều tháng trường trong cảnh tối tăm, nguy hiểm thường xuyên, không chắc được trở về an toàn. Được vinh dự và nổi tiếng nếu thành công.”
Mẩu...
...quảng cáo đó xuất hiện trên tờ nhật báo tại Luân-đôn và hàng ngàn người đã hưởng ứng! Mẩu quảng cáo này được Ngài Ernest Shackleton, nhà thám hiểm Bắc cực nổi tiếng, ký tên, và đó là điều quan-trọng.
Nếu Chúa Giê-xu Christ đã quảng cáo tìm người hầu-việc Ngài, thì lời quảng cáo đó có thể đại khái như sau:
“Cần những người nam và nữ cho công-tác khó khăn giúp đỡ xây-dựng Hội thánh của Ta.
Các con sẽ thường xuyên bị hiểu lầm, ngay cả bởi những người làm việc chung với mình. Các con sẽ thường xuyên bị kẻ thù vô hình tấn công. Các con có thể không thấy kết quả của sự lao nhọc mình, và các con sẽ chỉ được nhận được sự ban thưởng trọn vẹn sau khi đã hoàn tất mọi công-tác được giao. Các con có thể sẽ mất mát gia đình, những hoài bão ước mơ, ngay cả sự sống mình nữa.”
Bất chấp những yêu-cầu Ngài đề ra, Chúa Giê-xu Christ nhận được “đơn xin việc” của nhiều người vui lòng dâng hiến mọi sự cho Ngài. Ngài chắc chắn là Người Chủ vĩ đại nhất mà bất cứ ai cũng có thể hầu-việc, và công tác xây-dựng Hội thánh Ngài chắc chắn là thách thức lớn lao nhất mà một tín-đồ có thể dâng hiến đời mình để thực hiện.
Ti-mô-thê là một thanh niên đáp ứng lại sự kêu-gọi của Đấng Christ để giúp xây-dựng Hội thánh Ngài. Ông là một trong những phụ-tá đặc biệt của sứ-đồ Phao-lô. Cùng với Tít, Ti-mô-thê giải quyết một số việc khó khăn trong các Hội thánh mà Phao-lô đã thiết lập.
Ti-mô-thê được dưỡng dục trong một gia đình tin-kính (IITim 1:5) và đã được chính mình Phao-lô dẫn dắt đến đức-tin nơi Đấng Christ. Điều này giải thích vì sao Phao-lô gọi Ti-mô-thê là “con thật của ta trong đức tin” (ITim 1:2).
Ti-mô-thê sinh ra mang 2 dòng máu: Mẹ ông là người Do-thái, cha ông là người Hy-lạp.
Ông thật sốt sắng với Đấng Christ đến nỗi những người lãnh đạo Hội thánh địa phương của ông tiến cử ông cho Phao-lô, và Phao-lô đem Ti-mô-thê cùng đi truyền-giáo với ông (Cong 16:1-5).
Phao-lô thường nhắc nhở Ti-mô-thê rằng ông đã được chọn lựa cho chức-vụ này (ITim 1:18; ITim 4:14). Ti-mô-thê trung-tín với Chúa (ICôr 4:17) và có mối quan tâm sâu xa đối với dân-sự của Đức Chúa Trời (Phi 2:20-22).
Nhưng bất chấp sự kêu-gọi của Chúa dành cho ông, sự liên kết khắng khít giữa ông với Phao-lô, và các ân-tứ thuộc-linh ban cho ông, Ti-mô-thê dễ bị ngã lòng. Lần cuối cùng Phao-lô ở với Ti-mô-thê, ông đã khích-lệ người ở lại tại Ê-phê-sô và hoàn thành công-tác của mình (ITim 1:3).
Rõ ràng là Ti-mô-thê có những đau yếu về thể chất (ITim 5:23) cũng như những giai đoạn ngã lòng, và bạn có ấn tượng là một số thành-viên trong Hội thánh không đang tôn-kính vị mục-sư của mình cách đúng mực như là một tôi-tớ của Đức Chúa Trời (ITim 4:12; IITim 2:6-8).
Ê-phê-sô không phải là nơi dễ dàng nhất để chăn dắt một Hội thánh. (Liệu có “nơi nào dễ dàng” không? Tôi e là không có đâu). Thành Ê-phê-sô dành cho việc thờ lạy Đi-anh, nữ thần của bản năng tính dục. Những hình ảnh khiêu-dâm của bà ta khích động đủ mọi thứ vô luân về tình-dục (Công 19:1-41).
Phao-lô đã thực hiện một công tác lớn lao tại Ê-phê-sô trong suốt 3 năm chức-vụ của ông, vì thế “mọi người trong cõi A-si đều nghe đạo Chúa” (Công 19:10). Không dễ để Ti-mô-thê đi theo một người như Phao-lô!
Dĩ nhiên, Sa-tan có những kẻ giúp việc cho nó tại thành này vì bất cứ nơi nào có những cơ-hội thuộc-linh thì cũng có những trở lực từ phía ma quỷ (ICôr 16:8-9).
Phao-lô đã viết thư tín chúng ta gọi là ITi-mô-thê để khích-lệ Ti-mô-thê, để giải thích cách thức điều hành một Hội thánh địa phương, và để củng cố thẩm quyền riêng của mình với tư cách một tôi-tớ của Đức Chúa Trời.
Trong chương 1 Phao-lô giải thích 3 trách-nhiệm của một mục-sư và các tín-hữu trong một Hội thánh địa phương.
1. Dạy giáo-lý lành mạnh (ITim 1:1-11)
Ngay trong lời chào thăm của bức thư, Phao-lô đã khẳng định thẩm quyền của ông như là một tôi-tớ của Chúa Giê-xu Christ. Những kẻ đang gây rối cho Ti-mô-thê đều cần phải nhớ rằng mục-sư của họ có mặt tại đó vì Đức Chúa Trời đã đặt ông tại đó, vì thẩm-quyền của Phao-lô là do nơi Đức Chúa Trời ban cho.
Phao-lô là một “sứ-đồ, ” một người Đức Chúa Trời sai đi với một sự ủy thác đặc biệt.
Chức sứ-đồ của ông đến bởi “điều răn” từ Chúa Giê-xu Christ. Từ này có nghĩa là “một sự ủy thác của vua”. Cả Phao-lô và Ti-mô-thê đều được sai đi bởi Vua của các vua!
Chúa Giê-xu Christ không chỉ là Chúa, mà Ngài còn là “Cứu Chúa” của chúng ta, một danh xưng được dùng 10 lần trong các Thư tín Giám-mục (ITim 1:1; ITim 2:3; ITim 4:10; IITim 1:10; Tit 1:3-4; Tit 2:10,13; Tit 3:4,6). Với Ti-mô-thê đang ngã lòng, đề-tài “sự hy-vọng của chúng ta” (ITim 1:1) quả là một sự nâng đỡ thật. Phao-lô đã viết lời khích-lệ tương tự cho Tít (Tit 1:2; Tit 2:13; Tit 3:7). Việc nhận biết rằng Chúa Giê-xu Christ sẽ trở lại vì cớ chúng ta khích-lệ chúng ta trung-tín hầu-việc Ngài.
Một nguyên do những người hầu-việc Đấng Christ phải cứ ở trong chức-vụ là vì các giáo-sư giả đang ráo riết cố gắng giành lấy các Cơ-đốc nhân. Có những giáo-sư dạy các đạo-lý giả dối vào thời của Phao-lô y như trong thời đại ngày nay, và chúng ta không được xem thường họ. Những giáo-sư giả này không có tin-mừng cho những tội-nhân hư-mất. Thay vào đó, họ tìm cách dẫn Cơ-đốc nhân đi lạc đường và giành lấy những người này cho mục đích của họ.
Phao-lô dùng ngôn ngữ quân sự để giúp Ti-mô-thê và các tín hữu của ông nhìn thấy sự nghiêm trọng của vấn-đề (ITim 1:3). “Truyền mệnh-lệnh” có nghĩa là “ra những chỉ thị nghiêm khắc từ một cấp chỉ huy cao hơn.”
Phao-lô đã dùng từ này (đôi khi được dịch là “Điều răn” và “Mạng-lệnh”) 8 lần trong 2 thư tín của ông gửi cho Ti-mô-thê (ITim 1:3,5,18; ITim 4:11; ITim 5:7; ITim 6:13,17; IITim 4:1).
Ông đang diễn đạt ý này: “Hỡi Ti-mô-thê, con không chỉ là một mục sư của Hội thánh tại một thành phố đầy khó nguy. Con cũng là một chiến-sĩ Cơ-đốc phục dưới mệnh-lệnh của Vua. Giờ đây con hãy truyền các mệnh-lệnh này lại cho các chiến-sĩ trong Hội thánh của con! ”
Đó là mệnh-lệnh gì? “Đừng truyền dạy các đạo-lý nào khác với những điều Phao-lô đã dạy dỗ!” Trong nguyên bản có 32 lần nhắc đến “đạo-lý,” “dạy dỗ,” “giáo-sư,”“dạy,” và “giảng dạy” trong 3 Thư tín Giám-mục. Trong Hội thánh đầu tiên, các tín-đồ được dạy dỗ Lời của Đức Chúa Trời và ý nghĩa của những đạo-lý Cơ-đốc căn-bản.
Trong nhiều Hội thánh ngày nay, tòa giảng và chỗ dành cho ban hát lễ là những nơi để tiêu khiển, chớ không phải để được sự soi sáng và nuôi-dưỡng tâm-linh.
Đức Chúa Trời đã giao thác chân-lý của Lời Ngài cho Phao-lô (ITim 1:11) và Phao-lô đã ủy thác lại cho Ti-mô-thê (ITim 6:20). Trách-nhiệm của Ti-mô-thê là gìn giữ đức-tin (IITim 1:14) và truyền dạy lại cho những người trung-tín (IITim 2:2).
Phao-lô đồng nhất hóa việc dạy dỗ giả dối như là “phù ngôn và gia phổ vô cùng” (ITim 1:4). Tít đương đầu với sự dạy dỗ giả dối tương tự tại Cơ-rết (Tit 1:14; Tit 3:9). Các giáo-sư giả đang sử dụng Luật-pháp trong Cựu-ước, và đặc biệt các gia phổ, để tạo nên đủ loại thuyết mới mẻ và những giáo-lý mới này đang dẫn người ta đi lạc đường.
Các giáo-sư giả đang nêu lên những câu hỏi, chớ không đang giải đáp chúng. Họ không đang đẩy mạnh “kế hoạch cứu-rỗi của Đức Chúa Trời” (“sự mở mang công việc của Đức Chúa Trời, ” ITim 1:4), nhưng đang dẫn người ta đi sai lạc khỏi chân-lý.
Thay vì đem đến sự yêu-thương, lòng tinh sạch, lương-tâm tốt, và đức-tin thật, những giáo-lý mới lạ này đang gây ra sự chia-rẽ, giả hình, và đủ mọi vấn-đề khác.
Phao-lô đã dùng từ “lương-tâm” 21 lần trong các bức thư của ông, và trong đó 6 lần từ này được nói đến trong các Thư tín Giám-mục (ITim 1:5,19; ITim 3:9; ITim 4:2; IITim 1:3; Tit 1:15). Từ “lương-tâm” có nghĩa là “nhận thức.”
Lương-tâm là quan tòa bên trong lòng lên án chúng ta khi chúng ta làm điều sai và tán đồng khi chúng ta làm điều đúng (Rô 2:14-15).
Dễ lắm chúng ta phạm-tội trái với lương-tâm làm cho nó trở nên “dơ dáy” (Tit 1:15). Việc phạm-tội tái đi tái lại khiến cho lương-tâm cứng cỏi để rồi trở nên “chai lì” như vết sẹo (ITim 4:2).
Thật đáng buồn khi những người tự xưng là Cơ-đốc Nhân tẻ tách khỏi đường lối Chúa vì họ chối bỏ “giáo-lý lành mạnh” (“đạo lành,” ITi 1:10). Phao-lô cũng gọi đó là “đạo-lý theo sự tin-kính” (ITim 6:3), “sự dạy dỗ có ích” (IITim 1:13), “đạo lành (IITim 4:3; Tit 1:9; Tit 2:1), “đức tin” (Tit 1:13; Tit 2:2), và “lời nói lành” (Tit 2:8).
Nhưng nhiều kẻ lại ưa thích “những lời vô ích” (ITim 1:6) của những người dạy dỗ các giáo-lý mới lạ hơn là Lời thanh-sạch của Đức Chúa Trời đem lại sự thánh-khiết trong đời sống.
Ngày nay thật không may là chúng ta không chỉ có “những lời vô ích” (“lời nói vô nghĩa”) trong việc dạy dỗ và rao-giảng, nhưng cả trong âm nhạc nữa. Vô số bài hát không những chẳng dạy dỗ giáo-lý tốt lành nào, mà nhiều bài thậm chí còn dạy dỗ những giáo-lý giả dối nữa. Một ca sĩ không có quyền hát một lời ca giả dối, cũng giống như một giáo-sư không có quyền dạy dỗ một điều dối trá vậy.
Lý-do của đạo giả này là việc sử dụng sai Luật-pháp của Cựu-ước. Các giáo sư giả này không hiểu nội dung hay mục đích của Luật-pháp Đức Chúa Trời. Họ đang dẫn dắt tín-đồ ra khỏi sự tự do của ân-điển (Ga 5:1) để bước vào ách nô-lệ của việc tuân-giữ luật-pháp, một thảm kịch vẫn còn xảy ra ngày nay.
Xác thịt (bản tánh cũ của chúng ta) ưa thích việc tuân-giữ luật-pháp theo tôn-giáo, vì các phép-tắc và luật-lệ giúp một người có thể tỏ ra thánh-khiết mà không cần phải thực sự thay đổi tấm-lòng mình.
Phao-lô liệt kê 14 loại người bị Luật-pháp định tội (ITim 1:9-10). Đây là một trong số những bảng liệt kê như thế trong Tân-ước (Mac 7:20-23; Rô 1:18-32; Ga 5:19-21). Việc sử dụng hợp pháp Luật-pháp cũ là để phơi bày, ngăn giữ, và cáo trách những kẻ vô luật-pháp.
Luật-pháp không thể nào cứu được những tội-nhân hư-mất (Ga 2:21; Ga 3:21-29) nó chỉ có thể cho thấy nhu cầu cần phải có một Đấng Cứu-chuộc.
Khi một tội-nhân tin nơi Chúa Giê-xu Christ, người ấy được thoát khỏi sự rủa sả của Luật-pháp (Ga 3:10-14), và những đòi hỏi công bình của Luật-pháp được thỏa mãn bởi sự ngự-trị của Đức Thánh-Linh khi người tín-đồ đầu-phục Đức Chúa Trời (Rô 8:1-4).
Phao-lô (ITim 1:9-10) đặc biệt tập trung vào 5 trong số Mười Điều Răn trong Xu 20:1-17
-Điều răn thứ 5 – “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi” – “những kẻ giết cha mẹ.”
-Điều răn thứ 7 – “Ngươi chớ phạm tội tà-dâm” – “những kẻ tà-dâm, kẻ đắm nam sắc.”
-Điều răn thứ 8 – “Ngươi chớ trộm cướp” – “những kẻ ăn cướp người (những kẻ bắt cóc). ”
-Điều răn thứ 9 – “Ngươi chớ nói chứng-dối” – “những kẻ nói dối, những kẻ thề dối.”
Chính “đạo Tin Lành vinh-hiển” cứu-chuộc những tội-nhân hư-mất. Phao-lô đã từng-trải quyền-năng của Phúc-Âm ấy (Rô 1:16), và ông đã được giao cho chức-vụ giảng Phúc-Âm (ITês 2:4).
Luật-pháp và Phúc-Âm đi đôi nhau, vì Luật-pháp mà không có Phúc-Âm là chẩn đoán mà không có phương cách chữa trị nhưng Phúc-Âm mà không có Luật-pháp thì chỉ là Tin-Mừng cứu-rỗi dành cho những người không tin là mình cần đến nó vì họ chưa hề được nghe tin tức đau buồn về sự phán-xét.
Luật-pháp không phải là Phúc-Âm, nhưng Phúc-Âm không phải là sự vô luật-pháp (Rô 3:20-31).
2. Công-bố Phúc-Âm (ITim 1:12-17)
Việc đề cập đến “Phúc-Âm vinh-hiển của Đức Chúa Trời hạnh phước” (ITi 1:11) cảm động Phao-lô chia-sẻ lời chứng cá nhân của riêng ông. Ông là một “Vật chứng A” để chứng-tỏ rằng Phúc-Âm ân-điển của Đức Chúa Trời thật sự hành động.
Khi bạn đọc lời-chứng của Phao-lô (Công 9:1-22; Công 22:1-21; Công 26:9-18), bạn bắt đầu hiểu thấu được sự lạ lùng của ân-điển Đức Chúa Trời và quyền-phép cứu-rỗi của Ngài.
A. Quá-khứ của Phao-lô (ITim 1:13a).
Ông đã từng là một kẻ phạm-thượng vì đã chối bỏ thần-tính của Chúa Giê-xu Christ và ép buộc người khác cũng chối bỏ điều đó.
Ông là một kẻ bắt bớ đã dùng quyền hành thuộc thể cố tìm cách phá tán Hội thánh. “Những lời ngăm đe giết người” chính là hơi thở của sự sống ông (Công 9:1).
Ông bắt bớ Hội thánh của Đấng Christ (ICôr 15:9) và rồi khám phá rằng ông thật sự đang tra tay trên Chúa Giê-xu Christ, Đấng Mê-si-a (Công 9:4).
Trong giai đoạn này của cuộc đời ông, ông ưng thuận việc ném đá Ê-tiên và tàn hại Hội thánh (Công 8:1-4).
Phao-lô đã từng là kẻ tàn hại, một từ có nghĩa là “kiêu-ngạo và xấc xược”. Từ tương đương hiện đại có thể là “kẻ hay bắt nạt”. Nó ám chỉ một kẻ kiêu-căng ngạo-mạn “luôn cư xử cách kiêu-căng hùng hổ” bằng bạo lực.
Nhưng những nguyên-nhân cơ-bản của việc làm độc ác của ông là “sự không hiểu biết” và “lòng vô-tín”. Ngay cho dù Sau-lơ thành Tạt-sơ đã từng là một người tài giỏi và học-thức cao (Công 22:3; Ga 1:13-14), nhưng tâm-trí ông bị che khuất khỏi chân-lý (IICôr 4:3-4; ICôr 2:14).
Ông đã từng là một người sùng đạo, thế nhưng ông không hướng đến thiên-đàng! Cho đến khi đặt đức-tin nơi Chúa Giê-xu Christ thì ông mới được cứu (Phi 3:1-11).
B. Phao-lô được cứu như thế nào (ITim 1:13b-15).
Làm thế nào một Đức Chúa Trời thánh-khiết lại có thể từng cứu vớt và tha-thứ một tội-nhân đầy sự công-bình riêng như vậy? Những từ trọng tâm là “sự thương-xót” và “ân-điển.”
Đức Chúa Trời bởi sự thương-xót Ngài đã không giáng cho Phao-lô điều mà ông đáng phải nhận lãnh thay vào đó, Đức Chúa Trời bởi ân-điển Ngài đã ban cho Phao-lô điều ông không xứng đáng được hưởng.
Ân-điển và sự thương-xót là tình yêu-thương của Đức Chúa Trời bày tỏ qua hành động, tình yêu-thương của Đức Chúa Trời phải trả một giá để cứu-chuộc tội-nhân hư-mất. Không phải chỉ có tình yêu của Đức Chúa Trời đã cứu-chuộc chúng ta, vì Đức Chúa Trời yêu thương toàn thế-gian này (Gi 3:16).
Chính là nhờ ân-điển mà chúng ta được cứu (Êph 2:8-9) vì Đức Chúa Trời giàu lòng thương-xót (Êph 2:4) và đầy ân-điển (Êph 2:7).
“Sự không hiểu biết” của Phao-lô có liên-hệ gì với sự cứu-rỗi của ông? Liệu sự không hiểu biết có là một lời bào chữa trước mặt Đức Chúa Trời chăng? Dĩ nhiên là không! Thực tế về sự không hiểu biết của ông có liên quan đến một luật đặc biệt của người Do-thái (Lê 5:15-19; Dan 15:22-31).
Nếu một người cố ý phạm-tội “cách kiêu-căng ngạo-mạn” trong Y-sơ-ra-ên, người ấy bị loại trừ khỏi dân-sự. Nhưng nếu phạm-tội do lầm lỡ, người ấy được phép mang đến của lễ xứng hiệp để chuộc tội-lỗi mình. Chúa Giê-xu hiểu rõ nguyên-tắc này khi Ngài cầu-nguyện trên thập-tự giá, “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Lu 23:34).
Sự không biết của họ đã không cứu họ, và lời cầu-xin của Đấng Christ cũng không cứu họ, nhưng sự kết hợp của cả 2 điều này đã trì hoãn sự đoán-phạt của Đức Chúa Trời, ban cho họ một cơ-hội để được cứu.
Phao-lô nêu lên rằng ông được cứu nhờ ân-điển “vô cùng dư dật”! Phao-lô thích dùng tiền tố Hy-lạp huper (có nghĩa là “một số lượng vô cùng dư dật”), và ông thường gắn tiền tố đó vào các từ ngữ trong thư tín của mình.
Bạn có thể dịch một số từ đó là “đức-tin rất tấn tới” (super-increase faith) (IITês 1:3) “quyền vô hạn” (super-abounding power) (Êph 1:19) “thắng hơn bội phần” (super-conqueror) (Rô 8:37). Cùng tiền tố này đã du nhập vào ngôn ngữ tiếng Anh là hyper (quá).
Chúng ta nói đến những trẻ em “quá hiếu động” và những người “quá nhạy cảm.”
Phao-lô vạch rõ rằng sự cứu rỗi này không dành cho riêng ông, nhưng cũng dành cho tất cả những ai tin nhận Chúa Giê-xu Christ (ITim 1:15). Nếu Chúa Giê-xu đã có thể cứu Sau-lơ thành Tạt-sơ, kẻ đứng đầu tội-nhân, thì Ngài cũng có thể cứu bất cứ người nào khác! Chúng ta ngưỡng mộ sự khiêm-nhường của Phao-lô, và chúng ta nhận thấy rằng ông tự cho mình là kẻ “hèn mọn nhất trong các sứ-đồ” (ICôr 15:9) và là kẻ “hèn hơn hết mọi thánh-đồ” (Êph 3:8).
Xin lưu ý là Phao-lô không viết “trong những kẻ có tội đó tôi đã là (thời quá-khứ) đầu, mà “trong những kẻ ấy tôi là (thời hiện tại) đầu.”
C. Phao-lô đã trở nên thế nào (ITim 1:12,16).
Ân điển của Đức Chúa Trời biến cải kẻ bắt bớ thành một người giảng Phúc-Âm, và kẻ giết người thành một người hầu-việc Chúa và một nhà truyền-giáo! Sự biến đổi trong đời sống Phao-lô quá đột ngột đến nỗi Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem ngờ rằng đó là một thủ đoạn lừa dối, và họ phải khó khăn lắm mới tiếp nhận ông (Công 9:26-31).
Đức Chúa Trời đã ban cho Phao-lô chức-vụ của ông ông không nhận lãnh chức-vụ đó từ nơi Phi-e-rơ hay từ các sứ-đồ khác (Ga 1:11-24). Ông được kêu gọi và ủy thác bởi Đấng Christ phục sinh trên thiên-đàng.
Đức Chúa Trời thấy Phao-lô là trung-tín, và vì vậy Ngài giao phó cho ông sứ-mệnh rao-giảng Phúc-Âm. Thậm chí khi còn là một nhà lãnh đạo Do-thái vô-tín và không hiểu biết gì về Phúc-Âm, Phao-lô đã giữ được một lương-tâm tốt khi sống theo ánh sáng mà ông đã có.
Thông thường những người vốn là những tội-nhân hư-mất vô cùng bại hoại lại trở nên những Cơ-đốc nhân rất tốt lành và được Đức Chúa Trời dùng cách lớn lao để chinh-phục linh-hồn người khác.
Đức Chúa Trời không chỉ phó thác việc rao-giảng Phúc-Âm cho Phao-lô, nhưng Ngài cũng ban năng-quyền để Phao-lô có thể hầu-việc Phúc-Âm ấy (Phi 4:13; ICôr 15:10). Khi một người vâng-theo tiếng gọi của Đức Chúa Trời để hầu-việc Ngài, Đức Chúa Trời luôn trang bị và ban năng-quyền cho người ấy.
Nhưng Phao-lô không chỉ trở nên một người hầu-việc, nhưng ông cũng trở nên một gương-mẫu nữa (ITim 1:16). Phao-lô là một gương-mẫu cho các tội-nhân hư-mất tin nhận Đấng Christ theo ý nghĩa nào? Không ai trong chúng ta đã từng có kinh-nghiệm như Phao-lô đã có trên đường Đa-mách (Công 9:1-43).
Chúng ta không nhìn thấy một ánh sáng, ngã té xuống đất, và nghe Chúa Giê-xu phán từ trời xuống. Nhưng Phao-lô là một khuôn-mẫu (“điển hình”) đối với tất cả mọi tội-nhân hư-mất, vì ông là kẻ đầu tội-nhân! Ông là bằng-chứng cho thấy ân-điển của Đức Chúa Trời có thể biến đổi bất cứ tội-nhân nào!
Nhưng có một sự ứng dụng đặc biệt của điều này dành cho dân Y-sơ-ra-ên ngày nay, những người đồng quốc với Phao-lô, những người mà Phao-lô đặc biệt nặng lòng (Rô 9:1-5; Rô 10:1-3). Những người Y-sơ-ra-ên, giống như Sau-lơ thành Tạt-sơ khi chưa trở lại đạo, rất sùng-kính, công-bình riêng, mù lòa trước Luật-pháp của chính họ và sứ-điệp về Đấng Mê-si-a, và không sẵn lòng tin.
Một ngày kia, Y-sơ-ra-ên sẽ nhìn thấy Chúa Giê-xu Christ y như Phao-lô đã thấy Ngài và cả dân-tộc này sẽ được cứu.
“Chúng nó sẽ nhìn xem Ta là Đấng chúng nó đã đâm” (Xa 12:10).
Đây có thể là một lý-do vì sao Phao-lô nói ông “được sinh ra đúng thời điểm” (ICôr 15:8), vì kinh-nghiệm gặp gỡ Đấng Christ phục sinh của ông diễn ra vào lúc khởi đầu của thời kỳ Hội thánh này chớ không phải vào lúc kết thúc (Mat 24:29).
3. Bảo vệ đức-tin (ITim 1:18-20)
Phao-lô giao cho Hội thánh địa phương một trách-nhiệm thứ ba phải hoàn thành, ngoài vi ệc dạy giáo-lý lành mạnh và công bố Phúc-Âm.
Một lần nữa, Phao-lô dùng ngôn ngữ quân đội để câu nói của ông thêm mạnh mẽ, vì từ “mệnh-lệnh” (sự răn bảo) (ITim 1:18) có nghĩa là “một mệnh-lệnh khẩn từ một cấp chỉ huy cao hơn truyền xuống” (ITim 1:3).
Phao-lô cũng nhắc nhở Ti-mô-thê rằng Đức Chúa Trời đã chọn ông cho chức-vụ ông đang đảm nhận.
Rõ ràng là một số tiên-tri trong các hội-chúng địa phương đã được Thánh-Linh dẫn dắt để chọn Ti-mô-thê cho sự hầu-việc Ngài (xin xem Công 13:1-3 để có gương mẫu của tiến trình này).
Phục sự Đức Chúa Trời tại thành phố Ê-phê-sô ngoại giáo thật không dễ, nhưng Ti-mô-thê là một người chịu phục dưới mệnh-lệnh, và ông phải vâng-theo. Trọng-trách của người lính chiến là “làm đẹp lòng kẻ chiêu mộ mình” (IITim 2:4), chớ không làm đẹp lòng chính mình. Hơn nữa, Ti-mô-thê có mặt ở tại đó bởi sự bổ-nhiệm thiên-thượng: Đức Chúa Trời đã chọn ông và sai phái ông.
Chính sự-kiện này có thể đem đến cho ông sự bảo-đảm trong những lúc khó nguy. Nếu bạn là tôi-tớ của Đức Chúa Trời, được kêu gọi bởi Thánh Linh, vâng-theo ý muốn của Ngài, thì bạn có thể “cứ ở trong chức-vụ” và làm trọn công việc mình. Những sự bảo-đảm này giúp Ti-mô-thê có thể đánh trận tốt lành.
Phao-lô thay đổi hình ảnh minh họa từ bộ binh sang hải quân (ITim 1:19). Ông cảnh tỉnh Ti-mô-thê rằng cách duy nhất để thành công là cầm giữ “đức-tin và lương-tâm tốt.” Nếu chỉ tuyên xưng đức-tin trên môi miệng mình thôi thì không đủ chúng ta phải thực hành đức-tin trong đời sống hàng ngày của mình nữa.
Một người nói về vị mục-sư giả hình của ông ta như sau, “Ông ta thật là một nhà truyền-đạo tài ba, ông không bao giờ nên rời khỏi tòa giảng nhưng ông thật là một Cơ-đốc nhân nghèo nàn về tâm-linh, ông không bao giờ nên bước lên tòa giảng cả!”
Một lương-tâm tốt thật quan-trọng đối với một trận chiến tốt lành và một chức-vụ thành công. H. L. Mencken định nghĩa lương-tâm là “tiếng nói bên trong báo trước cho chúng ta rằng có thể có người đang nhìn chúng ta”.
Nhưng một người có lương-tâm tốt sẽ làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời bất chấp ai đang theo dõi hoặc người ta có thể nói gì.
Giống như Martin Luther, ông sẽ nói, “Chúa ôi, con đang đứng nơi đây, con không thể làm gì khác được, vì vậy xin Chúa hãy giúp con!”
Những người tự xưng là Cơ-đốc nhân khiến cho đức-tin mình “chìm đắm” bằng cách phạm-tội nghịch lại lương-tâm mình. Đạo-lý xấu thường bắt đầu bằng hành vi xấu, và thường bởi tội-lỗi kín giấu.
Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ đã cố tình chối bỏ lương-tâm tốt của mình để bảo vệ đời sống không tin-kính của họ. Phao-lô không cho chúng ta biết chính xác họ làm gì, trừ ra việc tội-lỗi họ liên quan tới “sự phạm-thượng” theo một cách thức nào đó.
Hy-mê-nê nói rằng sự sống lại đã thuộc về quá-khứ rồi (IITim 2:16-18). A-léc-xan-đơ là một tên gọi phổ biến vào thời đó, vì vậy chúng ta không thể biết chắc liệu người được Phao-lô nhắc tên trong bức thư kế của ông gửi cho Ti-mô-thê (IITim 4:14) có phải là cùng người ấy không nhưng nếu đúng vậy, thì chắc chắn người này đã chống lại Phao-lô bằng việc dạy dỗ giáo-lý giả dối.
“Đã bị phó cho quỷ Sa-tan” (ITim 1:20) ám chỉ sự sửa phạt của các sứ-đồ (ICôr 5:5) và sự trừ bỏ khỏi Hội thánh địa phương. Động từ “học biết” (ITim 1:20) có nghĩa là “học biết bằng kỷ luật.” Khi một Cơ-đốc nhân không chịu ăn năn, Hội thánh địa phương sẽ thi hành kỷ luật, loại trừ người ấy ra khỏi mối thông-công của các thánh-đồ nhằm bảo vệ người ấy, khiến cho người ấy dễ bị nguy hiểm trước những sự tấn công của Sa-tan.
Mối thông-công của Hội thánh địa phương, vâng-theo ý muốn của Đức Chúa Trời, đem đến cho người tín-đồ sự bảo vệ thuộc-linh. Sa-tan phải xin Đức Chúa Trời cho phép khi muốn tấn công một tín-đồ (Giop 1:1-2:13; Lu 22:31-34).
Mỗi Hội thánh địa phương thường xuyên chiến trận nghịch lại các thế lực gian ác. Có những tiên-tri giả và giáo-sư giả, cũng như những christ giả. Sa-tan là kẻ khởi xướng những giáo-lý giả dối, vì nó là kẻ nói dối ngay từ ban đầu (Gi 8:44).
Đối với một Hội thánh địa phương việc dạy giáo-lý lành mạnh và công-bố Phúc-Âm không, chưa đủ. Hội thánh cũng phải bảo vệ đức-tin bằng cách vạch trần những sự giả dối cũng như chống trả lại những giáo-lý của ma quỷ (ITim 4:1).
Quan-trọng là chức-vụ của chúng ta phải được quân-bình. Một số Hội thánh chỉ rao-giảng Phúc-Âm và ít khi dạy dỗ người mới trở lại đạo những chân-lý của đời sống Cơ-đốc. Một số Hội thánh khác lại chỉ đang chống trả giáo-lý giả dối họ không có sự hầu-việc Chúa tích cực.
Chúng ta phải là những giáo-sư của giáo-lý lành mạnh (“đạo lành,” ITim 1:10) nếu không tín-đồ sẽ không tăng-trưởng.
Chúng ta phải rao-giảng Phúc-Âm và tiếp tục chinh-phục những kẻ hư-mất về cho Đấng Christ. Và chúng ta phải bảo vệ đức-tin chống lại những kẻ sẽ làm bại hoại Hội thánh bởi giáo-lý giả dối và đời sống không tin-kính. Đây là một trận chiến lâu dài, nhưng nó phải được tiến hành.
Ti-mô-thê chắc hẳn đã được giúp đỡ và khích-lệ rất nhiều khi ông đọc phân đoạn đầu này của bức thư Phao-lô gửi. Đức Chúa Trời đã kêu gọi Ti-mô-thê, trang bị cho ông, và đặt ông vào vị-trí của chức-vụ mình.
Việc làm của Ti-mô-thê không phải là chạy khắp thành Ê-phê-sô, dính dấp vào vô số trách-nhiệm.
Việc của ông là chăm-lo cho Hội thánh bằng cách giành lấy những linh-hồn hư-mất, dạy dỗ những kẻ đã được cứu, và bảo vệ đức-tin. Bất cứ công-tác nào không liên-hệ đến những chức-vụ này sẽ phải bị loại bỏ.
Một lý-do một số Hội thánh địa phương đang gặp nan-đề là các mục-sư và những nhà lãnh đạo thuộc-linh đang bận rộn với quá nhiều hoạt động không chính thức và không đang thực hiện những công-tác Đức Chúa Trời đã kêu-gọi họ làm.
Có lẽ là một ý hay nếu các Hội thánh của chúng ta có được một sự kiểm kê công-tác thuộc-linh mình đang thực hiện!
2. SỰ HẦU-VIỆC HAY GÁNH XIẾC? (ITim 2:1-15)
“Mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (ICôr 14:40) là một nguyên-tắc cơ-bản để điều hành công-tác của Hội thánh. Rõ ràng là chàng trai trẻ Ti-mô-thê đang gặp một số vấn-đề trong việc áp-dụng nguyên-tắc này vào các hội chúng tại Ê-phê-sô.
Những buổi nhóm thờ-phượng chung đang mất trật tự và không còn hiệu quả vì các tín-hữu cả nam lẫn nữ trong Hội thánh đều không vâng-theo Lời Đức Chúa Trời.
Một vị mục-sư nói với tôi, “Hội thánh là một cơ thể, vì thế chúng ta không nên quá chú trọng vào tổ chức. Chúng ta cần phải để Đức Thánh-Linh tự-do hành động.”
Tôi đáp, “Nhưng nếu một cơ thể bị rối loạn mất tổ chức, nó sẽ chết. Vâng, chúng ta phải để Thánh Linh tự-do hành động, nhưng ngay cả Thánh-Linh cũng không được tự-do không vâng-theo Lời của Đức Chúa Trời được.”
Thông thường, điều chúng ta cho là “sự tự-do của Thánh Linh” là những ý-tưởng xác thịt của một Cơ-đốc nhân nào đó không đang bước đi trong Thánh Linh. Cuối cùng thì “sự tự-do” này trở thành tình trạng hỗn loạn, và Đức Thánh Linh đau buồn khi một Hội thánh dần dần đi xa ra khỏi những tiêu-chuẩn của Lời Đức Chúa Trời.
Để chống lại khuynh hướng này, Phao-lô cổ vũ những người nam lẫn nữ trong Hội thánh và nhắc nhở họ về những trách-nhiệm thuộc-linh của mình.
1. Những người nam - Cầu-nguyện (ITim 2:1-8)
A. Sự cầu-nguyện phải là ưu tiên một (ITim 2:1a).
“Trước hết mọi sự” ám chỉ rằng việc cầu-nguyện là quan-trọng nhất trong sự thờ-phượng chung của Hội thánh. Thật đáng buồn khi nhìn thấy sự cầu-nguyện đã mất đi tầm quan-trọng như thế nào trong nhiều Hội thánh.
Một vị mục-sư đã nói, “Nếu tôi thông báo có một bữa tiệc lớn, người ta sẽ bỏ mọi việc bận rộn để đến dự. Nhưng nếu tôi thông báo có buổi nhóm cầu-nguyện, thì nếu những người trợ giúp (usher) xuất hiện là đã may mắn rồi!” Không chỉ những buổi nhóm cầu-nguyện đặc biệt không còn tiến triển tại hầu hết các Hội thánh địa phương nữa, mà cả sự cầu-nguyện trong những buổi nhóm chung cũng bị giảm sút rất nhiều. Nhiều vị mục-sư dành nhiều thời gian cho các thông báo hơn là cho việc cầu-nguyện!
Người bạn tốt của tôi Peter Deyneka, Sr., người sáng lập Hiệp Hội Tin-Lành tiếng Slav, thường xuyên nhắc nhở tôi: “Cầu-nguyện nhiều, năng-quyền nhiều! Không cầu-nguyện, không có năng-quyền!”
Sự cầu-nguyện là một phần của chức-vụ sứ-đồ quan-trọng như việc rao-giảng Lời Đức Chúa Trời vậy (Công 6:4).
Thế nhưng một số mục-sư dành nhiều giờ soạn bài giảng của mình, nhưng không hề chuẩn bị cho sự cầu-nguyện trước hội chúng. Kết quả là những lời cầu-nguyện của họ có tính thông-lệ, nhàm chán, và lặp đi lặp lại.
Tôi không đang gợi ý là một mục-sư phải viết mọi lời cầu-nguyện ra và đọc lên, nhưng ông ta cần suy nghĩ kỹ những gì mình sẽ cầu-nguyện. Điều này sẽ giữ cho “lời cầu-nguyện trong chức-vụ mục-sư” không bị nhàm chán và không chỉ là một sự lặp đi lặp lại của những gì “đã được cầu-nguyện” tuần lễ trước đó.
Nhưng các tín-hữu trong Hội thánh cũng cần được chuẩn bị để cầu-nguyện. Tấm-lòng của chúng ta phải ngay thẳng với Đức Chúa Trời và với nhau. Chúng ta phải thật sự muốn cầu-nguyện, và không cầu-nguyện chỉ để làm đẹp lòng người ta (như những người Pha-ri-si đã làm trong Mat 6:5), hay để làm trọn một bổn phận tôn-giáo.
Khi một Hội thánh địa phương ngưng nương nhờ vào sự cầu-nguyện, Đức Chúa Trời cũng ngưng chúc phước cho chức-vụ của Hội thánh đó.
B. Tính đa dạng của sự cầu-nguyện (ITim 2:1b).
Có ít nhất 7 danh từ Hy-lạp khác nhau nói về “sự cầu-nguyện,” và 4 trong các danh từ đó được dùng ở đây. Sự khẩn-nguyện mang ý tưởng của “việc nêu một lời thỉnh nguyện cho một nhu-cầu cảm biết là cần thiết.”
Sự cầu-xin là một từ thông dụng nhất cho hoạt động này, và nó nhấn mạnh tính cách thiêng-liêng của sự cầu-nguyện. Chúng ta đang cầu-nguyện với Đức Chúa Trời cầu-nguyện là một hành vi thờ-phượng, chớ không chỉ là một sự biểu lộ những nhu-cầu của mình. Cần phải có sự tôn-kính trong tấm-lòng khi chúng ta cầu-xin với Đức Chúa Trời.
Sự cầu-thay được dịch đúng nhất là sự thỉnh-cầu. Cùng từ này được dịch là “cầu-nguyện” trong ITim 4:5, và nó ám chỉ việc cảm-tạ về thức ăn chúng ta dùng. (Khá rõ rệt là chúng ta không cầu thay cho thức ăn của mình theo nghĩa thông thường của từ đó.)
Ý nghĩa căn-bản của từ này là “đến gần một người và trò chuyện cách tự tin với người ấy.”
Nó gợi ý là chúng ta tận hưởng mối thông-công với Đức Chúa Trời để rồi chúng ta có sự tin-quyết nơi Ngài khi chúng ta cầu-nguyện.
Sự cảm-tạ dứt khoát là một phần của sự thờ-phượng và cầu-nguyện. Chúng ta không chỉ cảm-tạ vì những lời cầu-nguyện mình được nhậm, mà còn vì Đức Chúa Trời là Đấng nào và những điều Ngài đã làm cho chúng ta bởi ân-điển Ngài.
Chúng ta không nên chỉ thêm sự cảm-tạ vào cuối một lời cầu-nguyện vị-kỷ! Sự cảm-tạ cần phải là một yếu-tố quan-trọng trong mọi lời cầu-nguyện của chúng ta. Thật ra, đôi khi chúng ta cần bắt chước Đa-vít và trình dâng lên Đức Chúa Trời chỉ sự cảm-tạ mà thôi chớ không có lời thỉnh cầu nào cả! (Thi 103:1-22).
“Sự cầu-nguyện và nài xin (thỉnh cầu) với sự tạ-ơn” là một phần trong công-thức của Phao-lô để có sự bình-an của Đức Chúa Trời trong lòng chúng ta (Phi 4:6). Thật đáng lưu ý là Đa-ni-ên, chiến sĩ cầu-nguyện vĩ đại, đã thực hành kiểu cầu-nguyện này (Đa 6:10-11).
C. Đối tượng của sự cầu-nguyện (ITim 2:1-2).
“Mọi người” vạch rõ rằng không người nào trên đất này ở ngoài ảnh hưởng của sự cầu-nguyện đầy lòng tin. (Chúng ta không có thí-dụ nào cổ vũ cho việc chúng ta cần phải cầu-nguyện cho những người đã quá cố. Nếu chúng ta phải làm điều đó, thì Phao-lô chắc hẳn đã có một cơ-hội tốt để cho chúng ta biết trong phân đoạn này của bức thư ông gửi.)
Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải cầu-nguyện cho những người đã được cứu và những kẻ hư-mất, cho những người ở gần chúng ta và những kẻ ở xa, cho kẻ thù nghịch cũng như bạn hữu.
Thật không may, những người Pha-ri-si không có cái nhìn bao quát này trong lời cầu-nguyện của họ, vì họ chỉ tập trung sự quan tâm của mình chủ yếu vào dân Y-sơ-ra-ên thôi.
Phao-lô khuyên giục Hội thánh đặc biệt cầu-nguyện cho những người cầm quyền. Hoàng đế Nê-rông gian ác đang ngồi trên ngôi vào lúc đó, thế nhưng các tín-đồ có bổn-phận phải cầu-nguyện cho ông ta! Thậm chí khi chúng ta không thể nào kính nể những người nam cũng như nữ đang cầm quyền, chúng ta phải tôn-trọng chức-vụ của họ và cầu-nguyện cho họ.
Thật ra, chính là vì lợi ích riêng của mình mà chúng ta làm điều đó: “hầu cho chúng ta có thể sống cách bình tịnh và yên ổn trong mọi sự tin-kính và thánh-khiết” (ITim 2:2b). Hội thánh đầu tiên luôn đối diện với sự chống đối và bắt bớ, vì thế thật khôn-ngoan khi cầu-nguyện cho những người cầm quyền. “Bình tịnh” liên quan đến những hoàn cảnh chung quanh chúng ta, trong khi “yên ổn” ám chỉ một thái-độ trầm tĩnh bên trong chúng ta. Kết quả cần phải là đời sống tin-kính và đáng tôn.
Đúng là như thế, Phao-lô đã không kể tên tất cả những người chúng ta có thể và cần phải cầu thay, vì “mọi người” bao hàm vấn-đề cách đầy đủ. Chúng ta không thể cầu-thay cho mọi người trên thế-giới theo từng tên một, nhưng chắc chắn chúng ta nên cầu-thay cho những người mình biết và biết đến.
Tại sao vậy? Vì đó là một điều tốt đẹp nên làm, và vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời.
D. Lý do phải cầu-nguyện (ITim 2:3-4).
Từ “tốt lành” là một từ trọng tâm trong các thư tín giám-mục của Phao-lô (ITim 1:8,18; ITim 2:3; ITim 3:1,7,13; ITim 4:4,6; ITim 5:4,10,25; ITim 6:12-13,18-19; IITim 1:14; IITim 2:3; IITim 4:7; Tit 2:7,14; Tit 3:8,14). Từ Hy-lạp chú trọng đến ý-tưởng về một điều gì đó bản chất là tốt lành, chớ không chỉ tốt trong những hiệu quả của nó. “Phải, đúng, ngay thẳng, đẹp” (fair) và “tốt đẹp, hay,” (beautiful) là những từ đồng nghĩa. Chắc chắn sự cầu-nguyện tự nó là một việc làm tốt đẹp, và mang theo với nó nhiều lợi ích tốt đẹp.
• Nhưng sự cầu-nguyện cũng làm Chúa vui thích.
Sự cầu-nguyện làm đẹp lòng Đức Chúa Cha khi con cái Ngài cầu xin như Ngài đã truyền bảo. Những người Pha-ri-si cầu-nguyện để được người ta khen ngợi (Mat 6:5) hoặc để tạo ấn tượng nơi những người thờ-phượng khác (Lu 18:9-14).
Cơ-đốc nhân thật cầu-nguyện để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Điều này ám chỉ là chúng ta phải cầu-nguyện theo ý muốn Đức Chúa Trời, vì chắc hẳn Đức Chúa Cha chẳng đẹp lòng khi chúng ta cầu-xin cách vị-kỷ (Gia 4:1-10; IGi 5:14-15).
Người ta thường nói rằng mục đích của sự cầu-nguyện không phải là để ý muốn con người được thực hiện trên thiên-đàng, mà là để ý muốn Đức Chúa Trời được thực hiện trên đất này.
Ý muốn của Đức Chúa Trời là gì? Về một mặt, đó là sự cứu-rỗi những linh-hồn hư-mất. Chúng ta có thể cầu-thay cho “mọi người” vì ý muốn Đức Chúa Trời là “mọi người” nhận biết được sự cứu-rỗi bởi đức-tin nơi Chúa Giê-xu Christ. Đức Chúa Trời yêu-thương thế-gian (Gi 3:16) và Đấng Christ đã chết thay cho toàn thể nhân-loại (IGi 2:2; IGi 4:14).
Chúa Giê-xu đã chết trên thập-tự giá để Ngài có thể kéo “mọi người” đến với sự cứu-rỗi (Gi 12:32). Điều này không có nghĩa là tất cả mọi người không ngoại trừ ai, vì chắc chắn không phải toàn thể nhân-loại đều sẽ được cứu.
Nó có nghĩa là tất cả mọi người không phân biệt – người Do-thái và các Dân ngoại, giàu và nghèo, sùng đạo và ngoại giáo.
Nếu Đức Chúa Trời không muốn người nào chết mất, thì tại sao quá nhiều người lại bị hư-mất? Đức Chúa Trời thật nhịn-nhục với các tội-nhân hư-mất, thậm chí trì hoãn sự đoán-phạt của Ngài để họ có thể đến với Đấng Christ (IIPhi 3:9).
Nhưng sự cứu-rỗi tùy thuộc vào “sự hiểu biết chân-lý” (ITim 2:4). Không phải tất cả mọi người đều được nghe chân-lý của Phúc-Âm, và nhiều người đã được nghe lại khước từ chân-lý ấy. Chúng ta không thể giải thích sự mầu-nhiệm của quyền tể-trị tối cao của Đức Chúa Trời và trách-nhiệm của con người (Gi 6:37).
Nhưng hãy hiểu rõ rằng cả 2 điều này đều được dạy dỗ trong Kinh-Thánh và đều được làm cho hòa hợp trong kế hoạch cứu-rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời. Chúng ta đã biết rằng sự cầu-nguyện là một phần quan-trọng trong chương trình của Đức Chúa Trời để có thể ảnh hưởng tới một thế giới đang hư-mất. Chúng ta có trách-nhiệm cầu-nguyện cho những linh-hồn hư-mất (Rô 10:1) và chuẩn bị chính mình sẵn sàng chia-sẻ Phúc-Âm với những người khác.
E. Nền tảng của sự cầu nguyện (ITim 2:5-7).
Nhiều tín-đồ không nhận biết rằng sự cầu-nguyện dựa trên việc làm của Chúa Giê-xu Christ với tư cách Cứu Chúa và Đấng Trung bảo. Là Người-Trời, Chúa Giê-xu Christ là Đấng Trung bảo toàn hảo giữa một Đức Chúa Trời thánh-khiết và con cái yếu đuối của Ngài.
Một trong những lời than phiền của Gióp liên quan tới sự vắng mặt của một người trung gian có thể đem lời than vãn của ông đến trước ngai Đức Chúa Trời. “Chẳng có người nào phân xử giữa hai chúng ta, có thể đặt tay mình trên hai chúng ta” (Gióp 9:33).
Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, nên chỉ cần một Đấng Trung bảo, và Đấng Trung bảo đó là Chúa Giê-xu Christ. Không người nào khác có thể đủ tư cách. Chúa Giê-xu Christ vừa là Đức Chúa Trời vừa là con người, và do đó có thể là “người phân xử” giữa Đức Chúa Trời và con người. Trong đời sống trọn-vẹn và sự chết thế của Ngài, Ngài đã thỏa mãn những đòi hỏi công-bình của luật-pháp thánh-khiết của Đức Chúa Trời. Ngài là “giá chuộc cho mọi người”.
Từ “giá chuộc” có nghĩa là “một cái giá được trả để giải phóng một nô-lệ”. Sự chết của Ngài “thay thế cho tất cả mọi người”. Dầu sự chết của Đấng Christ chỉ hữu hiệu đối với những người tin Ngài, nhưng nó đủ để cứu chuộc tội-lỗi của toàn thể nhân loại. Chúa Giê-xu đã phán rằng Ngài đến “để phó sự sống Ngài làm giá chuộc nhiều người” (Mat 20:28).
Đấng Christ đã chết thay cho “tất cả mọi người”, và Đức Chúa Trời mong muốn “tất cả mọi người đều được cứu”. Làm thế nào Tin Mừng này đến được với một thế giới đầy tội-lỗi? Đức Chúa Trời kêu-gọi và phong chức cho các sứ-giả mang Phúc-Âm đến với những tội-nhân hư-mất.
Phao-lô là một sứ-giả như vậy: ông là một người giảng Phúc-Âm (sứ-giả của nhà vua), một sứ-đồ (một người được sai đi với một sự ủy thác đặc biệt), và một giáo-sư. Cùng Đức Chúa Trời đấng đã ban bố cứu cánh (sự cứu rỗi những kẻ hư-mất) cũng ban phát phương tiện để đạt đến cứu cánh: sự cầu-nguyện và rao-giảng Lời Đức Chúa Trời. Tin Mừng này không chỉ dành cho người Do-thái, mà cũng dành cho các dân ngoại nữa.
Nếu nền tảng cho sự cầu-nguyện là công-tác hy sinh của Đấng Christ trên thập-tự giá, thì sự cầu-nguyện là một hoạt động quan-trọng nhất trong một Hội thánh. Không cầu-nguyện là coi thường Thập-tự giá! Cầu-nguyện cho chính mình mà thôi là chối bỏ tầm ảnh hưởng khắp thế giới của Thập-tự giá.
Phớt lờ những linh-hồn hư-mất là phớt lờ Thập-tự giá. “Tất cả mọi người” là từ trọng tâm của đoạn này: Chúng ta cầu-nguyện cho “tất cả” vì Đấng Christ đã chết cho “tất cả” và chính ý muốn của Đức Chúa Trời là “tất cả” đều được cứu. Chúng ta phải dâng hiến chính mình cho Đức Chúa Trời để trở thành một phần trong chương trình rộng khắp thế giới của Ngài đến với mọi người trước khi quá trễ.
F. Thái-độ trong sự cầu-nguyện (ITim 2:8).
Phao-lô nêu lên cách khẳng định rằng “những người nam” cần phải cầu-nguyện trong hội chúng địa phương. Cả những người nam lẫn những người nữ đều cầu-nguyện trong Hội thánh đầu tiên (ICôr 11:4-5), nhưng điểm nhấn mạnh ở đây là trên những người nam.
Chúng ta thường thấy những buổi nhóm cầu-nguyện của phụ nữ, nhưng không thường xuyên thấy những buổi nhóm cầu-nguyện của nam giới. Nếu những người nam không cầu-nguyện, thì Hội thánh địa phương sẽ không có những nhà lãnh đạo tận-hiến để trông coi chức-vụ của Hội thánh.
Những người đờn ông Do-thái có thông lệ cầu-nguyện với hai tay giơ cao lên trời. Tư thế “cúi đầu, khoanh tay, mắt nhắm lại” theo truyền-thống của chúng ta không được tìm thấy hoặc truyền dạy nơi nào trong Thánh Kinh cả.
Thật ra, có nhiều tư thế cầu-nguyện được tìm thấy trong Kinh-Thánh: đứng giơ tay thẳng lên (IVua 8:22) quỳ (Đa 6:10) đứng (Lu 18:11) ngồi (IISa 7:18) cúi đầu xuống (Sa 24:26) ngước mắt lên (Gi 17:1) sấp mình xuống đất (Sa 17:3).
Điều quan-trọng không phải là tư thế của thân thể mà là tư thế của tấm-lòng.
Phao-lô nêu lên 3 yếu-tố cần thiết để sự cầu-nguyện được hữu hiệu, và yếu-tố đầu tiên là “tay thánh-sạch.” Hiển nhiên điều này có nghĩa là một đời sống thánh-khiết, một tấm-lòng trong sạch.
• “Tay thánh-sạch” là biểu tượng của một đời sống không chỗ trách được (Thi 24:4; IISa 22:21). Nếu chúng ta chứa chấp tội-lỗi trong đời sống mình, chúng ta không thể nào cầu-nguyện và trông-mong Đức Chúa Trời đáp lời mình (Thi 66:18).
• Yếu-tố thứ nhì là “không phẫn nộ,” và nó đòi hỏi là chúng ta phải có quan hệ tốt với nhau. Có thể dịch rõ hơn là “không giận dữ.” Một người thường xuyên gặp rắc rối với các tín-đồ khác, vốn là một kẻ gây phiền phức hơn là một người giảng hòa, không thể nào cầu-nguyện và nhận được sự đáp lời từ Đức Chúa Trời.
• “Nghi ngờ” ám chỉ là chúng ta phải cầu-nguyện bởi đức-tin, nhưng từ này thật sự có nghĩa là “cãi cọ.” Khi chúng ta có sự giận dữ trong lòng, chúng ta thường có những mối bất hòa công khai với người khác. Cơ-đốc nhân cần phải học biết cách biểu lộ sự bất đồng mà không tỏ ra cau có bực dọc.
Chúng ta cần phải “làm tất cả mọi điều mà không lằm bằm và cãi cọ” (Phi 2:14).
Vậy nên, việc cầu-nguyện hữu hiệu đòi hỏi là tôi phải ở trong một mối tương-quan phải lẽ với Đức Chúa Trời (“tay thánh-sạch”) và với các anh em tín-hữu của mình (“không lằm bằm và cãi cọ”). Chúa Giê-xu đã dạy dỗ chân-lý tương tự (Mac 11:24-26).
Nếu chúng ta dành nhiều thời gian chuẩn bị hơn để cầu-nguyện và sửa soạn lòng mình phải lẽ trước mặt Đức Chúa Trời, thì những lời cầu-nguyện của chúng ta sẽ càng hữu hiệu hơn nữa.
2. Những người nữ - Vâng-phục (ITim 2:9-15)
Vào thời đại “Giải phóng Phụ nữ” này và trong các phong trào phụ nữ khác, từ “vâng-phục” khiến cho một số người thấy giận dữ. Một số tác-giả có thiện chí thậm chí đã lên án Phao-lô là một “lão già độc thân hay gắt gỏng” bài xích phụ nữ.
Những người nào trong chúng ta giữ vững sự linh cảm và thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời biết rằng những sự dạy dỗ của Phao-lô đến từ Đức Chúa Trời chớ không phải từ cá nhân ông. Nếu chúng ta gặp một nan-đề với những gì Kinh Thánh phán về những người nữ trong Hội thánh, vấn-đề không phải là với Phao-lô (hay Phi-e-rơ – IPhi 3:1-7), mà với Chúa là đấng đã ban Lời Ngài (IITim 3:16-17).
Từ ngữ được dịch là “sự khuất phục” trong ITim 2:11 được dịch là “vâng phục” trong Êph 5:21-22 và Côl 3:18. Theo nghĩa đen nó nghĩa là “chịu phục dưới”.
Bất cứ ai đã phục-vụ trong quân đội đều biết rằng “cấp bậc” liên-hệ tới thứ bậc và thẩm quyền, chớ không liên-hệ tới giá-trị hay khả năng.
Một đại tá thì cấp bậc cao hơn một anh binh nhì, nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là vị đại tá là một người tốt hơn anh binh nhì. Nó chỉ có nghĩa là vị đại tá có một cấp bậc cao hơn và do đó có nhiều thẩm quyền hơn.
“Mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (ICôr 14:40) là một nguyên-tắc Đức Chúa Trời tuân giữ trong sự sáng tạo của Ngài. Giống như một đạo quân sẽ bị hỗn loạn nếu không có những cấp bậc quyền hành, cũng vậy xã hội sẽ ở trong tình trạng nhiễu nhương nếu không có sự vâng-phục.
Con cái cần phải vâng-phục cha mẹ vì Đức Chúa Trời đã ban cho cha mẹ thẩm quyền dạy dỗ con cái và sửa phạt chúng trong sự yêu-thương. Những kẻ làm công cần phải thuận-phục chủ và vâng-lời họ (Êph 6:5-8 nhằm ám chỉ trực tiếp đến các nô-lệ trong nhà, nhưng có thể áp-dụng với các nhân-viên ngày nay).
Công-dân cần phải vâng-phục những bậc cầm quyền, ngay cho dù các bậc cầm quyền không phải là Cơ-đốc nhân (Rô 13:1-14; IPhi 2:13-20).
• Sự vâng-phục không phải là sự nô dịch hóa.
Sự vâng phục là việc nhận biết trật tự của Đức Chúa Trời trong gia đình và Hội thánh, và vui vẻ vâng-theo trật tự đó. Khi một người vợ Cơ-đốc vui vẻ vâng-phục Chúa và vâng-phục chồng mình, điều đó sẽ làm lộ rõ ra cái đẹp nhất trong nàng. (Để việc này có thể xảy ra, người chồng phải yêu vợ mình và sử dụng trật tự của Đức Chúa Trời như một công cụ để xây dựng, chớ không phải một vũ khí để chống lại nhau – Êph 5:18-33).
Sự vâng-phục là chìa khóa đưa đến sự tăng-trưởng thuộc-linh và sự hầu-việc Chúa: Người chồng cần phải vâng-phục Chúa, Cơ-đốc Nhân cần phải vâng-phục nhau (Êph 5:21), và vợ cần phải vâng-phục Chúa và vâng-phục chồng mình.
Điểm nhấn mạnh trong phân đoạn này (ITim 2:9-15) là vị trí của những người nữ trong Hội thánh địa phương. Phao-lô khuyên những người đàn bà tin kính này bày tỏ sự vâng-phục của mình bằng nhiều cách.
A. Phục sức gọn ghẽ (ITim 2:9).
Sự tương phản ở đây là giữa sự hào nhoáng giả tạo của thế gian và vẻ đẹp chân thật của một đời sống tin-kính. Phao-lô không ngăn cấm việc dùng đồ trang sức hay áo quần đẹp đẽ, nhưng đúng hơn ông ngăn cấm việc sử dụng thái quá những phương tiện này để thay thế cho vẻ đẹp thật của “một tâm thần dịu-dàng và yên lặng” (IPhi 3:1-6).
Một người nữ chỉ nhờ vào những vẻ đẹp bên ngoài chẳng bao lâu sẽ hết “đạn dược”! Người ấy có thể thu hút sự chú ý, nhưng sẽ không chiếm được tình cảm lâu dài. Có lẽ những mốt nhất thời mới lạ nhất đang cám dỗ những người nữ trong Hội thánh tại Ê-phê-sô, và Phao-lô đã phải nhắc nhở Ti-mô-thê cảnh cáo những người nữ không được đ ể rơi vào bẫy rập của chúng.
Từ ngữ dịch là “gọn ghẽ” (vừa phải, giản dị) (ITim 2:9) đơn giản có nghĩa là “lịch sự và gọn gàng.” Nó liên-hệ với từ ngữ Hy-lạp từ đó chúng ta có được từ tiếng Anh là “mỹ phẩm trang điểm.” Trang phục của một người nữ cần phải lịch sự, gọn gàng, và có thẩm mỹ. “Tính kín đáo” nghĩa đen có nghĩa là “sự vừa phải, tránh những sự thái quá”.
Một người nữ có đức tính này lấy làm hổ thẹn khi vượt ra khỏi những giới hạn của những gì lịch sự và thích hợp. “Tính đúng mực” ra từ một từ Hy-lạp có nghĩa là “có một đầu óc và lương-tri lành mạnh”. Nó mô tả một sự tự chủ bên trong – một “máy ra-đa” thuộc-linh – báo cho một người biết điều gì là tốt đẹp và thích hợp.
Ê-phê-sô là một thành phố thương mại phồn vinh, và một số phụ nữ tại đó tranh cạnh nhau để được sự chú ý và tiếng tăm. Vào thời đó những kiểu tóc đắt tiền trang điểm với đồ trang sức quý giá là một cách để đạt đến đỉnh cao trong xã hội được mọi người chấp nhận.
Phao-lô khuyên những người nữ Cơ-đốc hãy chú ý đến “người bề trong,” vẻ đẹp đích thực mà chỉ Đấng Christ mới có thể ban cho. Ông không cấm đoán việc dùng áo quần hay đồ trang sức đẹp đẽ. Ông cảnh cáo họ phải cân nhắc kỹ lưỡng và chọn điều gì thích hợp, với sự chú trọng vào sự trang nhã và tính chất thánh khiết bên trong.
Một mùa hè nọ, một thành viên trong Hội thánh đã than phiền với tôi, “Càng lúc càng khó khăn hơn để một phụ nữ Cơ-đốc có thể tìm ra loại quần áo thích hợp! Tôi không chịu mặc loại đồ tắm họ đang bán! Điều gì đã xảy ra với sự trang nhã đã lỗi thời?”
B. Những việc làm tin kính (ITim 2:10).
Phao-lô không gợi ý là dùng những việc lành để thay chỗ cho quần áo! Đúng hơn, ông đang đối chiếu “sự rẻ tiền” của những áo quần và nữ trang đắt giá với những giá-trị đích thực của đặc tính tin-kính và sự hầu-việc Đấng Christ.
“Sự tin kính” là một từ trọng tâm khác trong các thư tín giám-mục của Phao-lô (ITim 2:2,10; ITim 3:16; ITim 4:7-8; ITim 6:3,5-6,1;1 IITim 3:5; Tit 1:1).
Vẻ quyến rũ có thể phần nào áp-dụng cho những cái bên ngoài, nhưng sự tin-kính phải xuất phát tự bên trong.
Chúng ta không bao giờ được xem nhẹ vị trí quan-trọng của những người nữ tin kính trong chức-vụ của Hội thánh. Sứ-điệp Phúc-Âm có ảnh hưởng vô cùng lớn lao trên họ, vì nó khẳng định giá-trị của họ trước mặt Đức Chúa Trời và sự bình đẳng của họ trong thân thể của Đấng Christ (Ga 3:28). Phụ nữ có một địa-vị thấp kém trong thế giới La-mã, nhưng Phúc-Âm đã thay đổi điều đó.
Có những người nữ tận-hiến đã hầu-việc Chúa Giê-xu trong những ngày Ngài thi hành chức-vụ trên đất này (Lu 8:1-3). Họ có mặt vào lúc đóng đinh và chôn Ngài, và người đầu tiên rao báo tin tức vinh-hiển về sự Chúa phục sinh lại chính là một người nữ.
Trong sách Công-vụ chúng ta gặp Đô-ca (Công 9:36), Ly-đi (Công 16:14), Bê-rít-sin (Công 18:1-3), và những người nữ tin-kính tại các Hội thánh ở Bê-rê và Tê-sa-lô-ni-ca (Công 17:4,12). Phao-lô đã chào thăm ít nhất 8 người đàn bà trong Rô 16:1-27 và Phê-bê, đã mang thư Rô-ma đến tận nơi, là một nữ chấp-sự tại một Hội thánh địa phương (Rô 16:1). Nhiều nữ tín-đồ đã đưa chồng mình đến với Chúa và rồi mở cửa nhà mình để hầu-việc Đấng Christ.
C. Học hỏi cách yên lặng (ITim 2:11).
“Sự yên lặng” là một từ dịch không thích hợp, vì nó đem lại ấn tượng là những người nữ tin Chúa không bao giờ được mở miệng trong buổi nhóm lại. Đây cũng là từ được dịch là “yên ổn” trong câu 2. Một số người đờn bà lạm dụng sự tự-do mới tìm thấy trong Đấng Christ, và tạo nên những sự náo động trong những buổi nhóm bằng cách ngắt lời.
Đây chính là vấn-đề mà Phao-lô đã viết trong lời khuyên răn này. Những người đờn bà có vẻ đang ở trong hiểm họa làm rối tung Hội thánh bằng cách cố gắng “tận hưởng” sự tự-do của mình. Phao-lô đã viết một lời khuyên tương tự cho Hội thánh tại Cô-rinh-tô (ICôr 14:34), mặc dầu lời khuyên này có thể áp-dụng chủ yếu cho việc nói ti ếng lạ.
D. Tôn trọng thẩm quyền (ITim 2:12-15).
Những người nữ được phép dạy dỗ. Những người đàn bà lớn tuổi hơn cần phải dạy dỗ những thiếu nữ trẻ tuổi (Tit 2:3-4). Ti-mô-thê được dạy dỗ tại gia đình bởi mẹ và bà nội ông (IITim 1:5; IITim 3:15). Nhưng trong chức-vụ dạy dỗ của họ, họ không được “làm ra vẻ kẻ cả” đối với những người nam.
Việc một người nữ tin kính dạy dỗ một người nam cách riêng tư chẳng có gì là sai trật cả (Công 18:24-28) nhưng người ấy không được nắm quyền trong Hội thánh và tìm cách thế chỗ của một người nam. Người ấy cần phải thực hành “sự yên lặng” và giúp duy trì trật tự trong Hội thánh.
Phao-lô nêu lên một số lý-lẽ để hỗ trợ lời khuyên này là những người đàn ông Cơ-đốc trong Hội thánh cần phải là những người lãnh đạo thuộc-linh.
-Lý lẽ đầu tiên là từ Sự sáng tạo: A-đam được dựng nên trước hết, rồi đến Ê-va (ITim 2:12-13). (Phao-lô cũng dùng lý-lẽ này trong ICôr 11:1-10). Chúng ta phải ghi nhớ rằng sư ưu tiên không có nghĩa là sự trội vượt hơn. Cả người nam và người nữ đều được tạo dựng bởi Đức Chúa Trời và theo ảnh-tượng của Đức Chúa Trời.
Vấn-đề chỉ là thẩm quyền: Người nam được tạo dựng trước tiên.
-Lý lẽ thứ nhì liên-hệ đến sự sa vào tội-lỗi của con người. Sa-tan dối gạt người nữ khiến bà phạm-tội (IICôr 11:3; Sa 3:1) người nam phạm-tội với đôi mắt mở to ngắm nhìn. Vì cớ A-đam chối bỏ mệnh-lệnh do Đức Chúa Trời ban bố, ông lắng nghe lời vợ mình, bất tuân Đức Chúa Trời, và đem tội-lỗi và sự chết vào trong thế-gian.
Sự vâng-phục của những người vợ đối với chồng mình là một phần của sự sáng tạo nguyên thủy. Sự mất trật tự chúng ta có trong xã hội ngày nay là kết quả của sự vi-phạm mệnh-lệnh Đức Chúa Trời đã ban bố.
Tôi không nghĩ Phao-lô ám chỉ rằng những người nữ dễ tin hơn những người nam và do đó dễ dàng bị lừa gạt hơn vì kinh-nghiệm cho thấy rằng cả những người nam và những người nữ đều bị Sa-tan dối gạt.
Vào một dịp nọ, Áp-ra-ham nghe lời vợ mình và gặp phiền phức (Sa 16:1-16). Sau đó, bà lại khuyên nhủ ông và Đức Chúa Trời bảo ông phải nghe theo (Sa 21:1-34). Trong chức-vụ mục-sư của riêng tôi, tôi đã nhận được lợi ích vô cùng từ sự khích-lệ và khuyên bảo của những người nữ tin-kính nhưng tôi đã cố gắng không để cho họ chiếm lấy quyền hành trong Hội thánh. Thật ra, những người nữ tôi từng quen biết không có tham vọng “điều hành” những việc trong Hội thánh.
Sự tạo dựng con người và sự sa ngã của họ cả hai đều dường như đặt người nữ vào một địa-vị thấp kém hơn, nhưng người nữ vẫn thật sự có chức-vụ từ nơi Đức Chúa Trời (ITim 2:15).
Có lẽ có một mối tương quan mật thiết trong tâm-trí của Phao-lô giữa những gì ông viết ra đây và những gì Môi-se đã ghi lại trong Sa 3:16 – lời-hứa về Đấng Christ sẽ được “thực hiện bởi một người nữ” (Ga 4:4). Chính là qua một người nữ mà Đấng Christ đã đến thế-gian, (Xin ghi nhớ rằng Chúa Giê-xu đã có một người mẹ trên đất nhưng không có một người cha trên đất –Lu 1:34-35; Mat 1:18)
Nhưng Phao-lô dạy một bài học thực tiễn (ITim 2:15). Ông hứa rằng người đàn bà sẽ “được giữ an-toàn qua việc sinh con” (bản NIV) nếu như “họ” (cả người chồng lẫn người vợ) tiếp tục trong sự tận-hiến cho Chúa cách chân-thành.
Phải chăng điều này có nghĩa là những bà mẹ Cơ-đốc sẽ không bao giờ chết trong việc sinh con? Cả lịch-sử và kinh-nghiệm đều cho chúng ta biết rằng họ vẫn chết. Đức Chúa Trời có những mục-đích của Ngài, và đường lối Ngài cao hơn ý-tưởng chúng ta (Ês 55:8-9). Phao-lô xác nhận một nguyên-tắc chung khích-lệ những người nữ tin Chúa vào thời đó.
Chức-vụ của họ không phải là “điều hành” Hội thánh, mà là chăm-sóc gia đình và nuôi dạy con cái vì cớ sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời (ITim 5:14). Sự nhóm họp trong gia đình của họ sẽ đem đến cho họ vô số cơ-hội để dạy dỗ Lời Đức Chúa Trời và hầu-việc các thánh-đồ (Rô 16:1-6)
Những người nữ tin kính thực sự có một chức-vụ quan-trọng trong hội chúng địa phương, ngay cho dù họ không được kêu gọi để trở thành những giáo-sư dạy dỗ Lời Đức Chúa Trời theo một ý nghĩa mục-vụ. Nếu tất cả đều được thực hiện “cách phải phép và theo thứ tự,” thì Đức Chúa Trời sẽ ban phước.
3. ĐI THEO NHỮNG LÃNH ĐẠO (ITim 3:1-16)
Mọi việc thành hay bại đều do nơi bộ phận lãnh đạo, trong gia đình hay tại một Hội thánh địa phương cũng vậy. Đức Thánh-Linh ban ân-tứ cho các tín-đồ để làm chức-vụ mình tại Hội thánh địa phương, và trong vòng các ân-tứ đó là “các mục-sư và giáo-sư” (Êph 4:11) và “những kẻ cứu giúp” và “những người cai quản” (ICôr 12:28). Như chúng ta đã lưu ý trước đây, ngay cho dù Hội thánh là một cơ thể thì nó phải được tổ chức nếu không nó sẽ chết. Bộ phận lãnh đạo là một phần của tổ chức thuộc-linh.
Trong phân đoạn này, Phao-lô mô tả người giám-mục, người chấp-sự, và bản thân Hội thánh. Khi hiểu được ba sự mô tả này, chúng ta sẽ có thể cung cấp bộ phận lãnh đạo tốt hơn cho sự hầu-việc Chúa của Hội thánh.
1. Vị mục-sư (ITim 3:1-7)
Theo Tân-ước, các thuật ngữ “giám-mục”, “mục-sư”, và “trưởng-lão” đồng nghĩa nhau.
“Giám-mục” có nghĩa là “trông nom”, và các trưởng-lão có trách-nhiệm trông nom công việc của Hội thánh (IPhi 5:1-3; Công 20:17,28).
“Trưởng lão” dịch từ chữ Hy-lạp presbutes, có nghĩa là “một ông lão”. Phao-lô đã dùng từ “hội trưởng-lão” trong ITim 4:14, không nhằm ám chỉ một hệ-phái, mà là “những bậc trưởng thượng” của hội đồng phong chức cho Ti-mô-thê.
Các trưởng-lão và các giám-mục (hai tên gọi dành cho cùng một chức-vụ, Tit 1:5-7) là những người trưởng-thành có sự khôn-sáng và từng-trải thuộc linh. Cuối cùng, “mục-sư” có nghĩa là “người chăn bầy”, là người dẫn dắt và chăm-sóc bầy của Đức Chúa Trời.
Khi so sánh những phẩm chất nêu lên ở đây dành cho các giám-mục với những phẩm chất nêu lên cho các trưởng-lão trong Tit 1:5-9, bạn nhanh chóng nhìn thấy rằng chúng ta đang xem xét cùng một chức-vụ.
Tổ chức Hội thánh thật đơn giản vào thời các sứ-đồ: Có các mục-sư (các trưởng-lão, các giám-mục) và các chấp-sự (Phi 1:1). Dường như là có một số lớn các trưởng-lão trông nom công việc của mỗi Hội thánh, một số liên-quan đến việc “cai-trị” (tổ chức và cai-quản), một số khác lo việc dạy dỗ (ITim 5:17).
Nhưng những người này phải đủ tư cách. Thật tốt nếu một tín-đồ tăng-trưởng ao ước chức-vụ giám-mục, nhưng cách tốt nhất để đạt được chức-vụ này là phát triển tính cách Cơ-đốc và thỏa mãn các yêu cầu sau. Việc trở thành một trưởng-lão /giám-mục là một quyết định nghiêm chỉnh, một quyết định không được coi nhẹ trong Hội thánh ban đầu.
Phao-lô nêu lên 16 phẩm chất đòi hỏi nơi một người nếu người ấy trông mong được phục-vụ với tư cách một trưởng-lão / giám-mục / mục-sư.
A. Không chỗ trách được (ITim 3:2).
Từ này nghĩa đen là “không có gì để nắm lấy”, tức là, đời sống người ấy không được có điều gì mà Sa-tan hoặc những người chưa được cứu có thể nắm giữ lấy để phê phán hay tấn công Hội thánh. Không có đời sống con người nào là vô-tội, nhưng chúng ta phải phấn đấu để không chỗ trách được, hay “hoàn hảo”.
B. Chồng của một vợ (ITim 3:2).
Tất cả những tính từ bổ nghĩa trong đoạn này đều dành cho nam giới. Sự hầu việc Chúa của nữ giới trong một hội chúng địa phương có một phạm vi rộng lớn, nhưng chức-vụ trưởng-lão không dành cho phái nữ. Tuy nhiên, đời sống gia đình của một mục-sư vô cùng quan-trọng, và đặc biệt là tình trạng hôn nhân của người ấy. (Cùng điều kiện này cũng áp dụng cho các chấp-sự, qua câu 12.)
Điều này có nghĩa là một mục-sư không được ly-dị và tái-hôn. Phao-lô chắc hẳn không đang nói đến chế-độ đa-thê, vì không thành-viên nào trong Hội thánh, huống chi là một mục-sư, sẽ được chấp nhận nếu người ấy có nhiều vợ.
Ông cũng không đang ám chỉ sự tái hôn sau khi người vợ qua đời vì tại sao một mục-sư lại bị cấm kết hôn lần nữa, trong ánh sáng của Sa 2:18 và ITim 4:3? Hẳn là các thành-viên của Hội thánh đã mất đi người bạn đời có thể kết hôn lần nữa, vậy thì tại sao lại ngăn trở vị mục-sư?
Rõ ràng là khả năng quản-trị đời sống hôn nhân và gia đình riêng của một người biểu lộ khả năng quản-nhiệm một Hội thánh địa phương (ITim 3:4-5). Một vị mục-sư đã từng ly-dị khiến bản thân ông và Hội thánh dễ bị người ngoài phê phán, và những người gặp khó khăn trong đời sống hôn nhân khó có thể khuyên bảo một người khác bị đổ vỡ trong gia đình riêng của mình.
Tôi không thấy có lý-do gì khiến những Cơ-đốc nhân sốt sắng đã từng ly-dị và tái hôn không thể nào hầu-việc trong những chức-vụ khác trong Hội thánh, nhưng họ không đủ tư cách để làm tr ưởng-lão hoặc chấp-sự.
C. Tiết-độ (ITi 3:2).
Đây có nghĩa là “tỏ ra tự kiềm chế” hay “điềm tĩnh”. “Hãy tự kiềm chế trong mọi việc” (IITim 4:5, nghĩa đen). Hay “hãy điềm tĩnh trong mọi tình huống”. Một mục-sư cần có sự phán đoán điềm tĩnh, nhạy bén trong mọi việc.
D. Trang nghiêm (ITim 3:2).
Ông phải có một thái-độ nghiêm trang và đứng đắn trong công việc của mình. Điều này không có nghĩa là ông không có tính khôi hài, hay ông luôn tỏ ra nghiêm nghị và thiếu tươi vui. Đúng hơn điều này hàm ý là ông biết được giá-trị của mọi việc và không làm hạ thấp chức-vụ hoặc sứ-điệp của Phúc-Âm qua cách cư xử dại dột.
E. Xứng đáng (ITim 3:2).
Từ này dịch là “có thứ tự” thì hay hơn. Vị mục-sư cần phải có trật tự trong sự suy nghĩ và trong lối sống của mình, cũng như trong việc dạy dỗ và rao-giảng. Đây cũng là từ Hy-lạp được dịch là “gọn ghẽ, lịch sự” trong ITim 2:9, liên-hệ đến y phục của những người nữ.
F. Hay tiếp khách (ITim 3:2).
Theo nghĩa đen là “yêu mến khách lạ”. Đây là một chức-vụ quan-trọng trong Hội thánh ban đầu khi các tín-đồ di chuyển cần có chỗ để lưu lại (Rô 12:13; Hêb 13:2; IIIGi 1:5-8). Nhưng ngay cả ngày nay, một mục-sư cùng với vợ có lòng hiếu khách là một sự trợ giúp lớn lao đối với cộng đồng tín-hữu của một Hội thánh địa phương.
G. Khéo dạy dỗ (IIIGi 3:2).
Việc dạy dỗ Lời Đức Chúa Trời là một trong những chức vụ chính yếu của một trưởng-lão. Thật ra, nhiều học-giả tin rằng “các mục-sư và giáo-sư” trong Êph 4:11 nói đến một người nhưng kiêm 2 nhiệm-vụ. Một mục-sư tự động là một giáo-sư (IITim 2:2,24).
Phillips Brooks, nhà truyền-đạo người Mỹ nổi tiếng, đã nói, “ ‘Có tài dạy dỗ ’không phải là một điều gì đó một người tình cờ có được, hoặc bởi sự bộc phát bất ngờ nào đó của lòng nhiệt thành nóng cháy.”
Một mục-sư phải là một người cẩn thận nghiên-cứu Lời Đức Chúa Trời, và tất cả những gì hỗ trợ cho ông trong việc hiểu biết và dạy dỗ Lời ấy. Mục-sư nào biếng nhác trong việc nghiên-cứu của mình sẽ chuốc lấy sự hổ thẹn trên tòa giảng.
H. Không mê rượu (ITim 3:3).
Từ này mô tả một người ngồi dây dưa với chung rượu và do đó uống quá độ. Sự kiện Phao-lô khuyên Ti-mô-thê hãy uống một ít rượu vì mục đích chữa bệnh (ITim 5:23) cho thấy là tín-đồ không bị đòi hỏi kiêng cử rượu hoàn toàn. Thật buồn thay, một số trong các thành-viên của Hội thánh Cô-rinh-tô lại say sưa, thậm chí tại bữa tiệc yêu-thương đi kèm với lễ Tiệc Thánh! (ICôr 11:21).
Người Do-thái pha rượu chung với nước để rượu không quá mạnh. Một sự kiện phổ biến là nước không tinh khiết vào thời đó, nên rượu nhẹ uống cách điều độ rất có thể sẽ tốt cho sức khỏe hơn.
Tuy nhiên, có một sự khác biệt lớn lao giữa việc dùng rượu do ảnh hưởng văn hóa trong thời đại của Kinh-Thánh và việc ủng hộ kỹ nghệ sản xuất rượu ngày nay. Lời khuyên và gương-mẫu của Phao-lô trong Rô 14:1-23 (đặc biệt câu 21) sẽ áp-dụng ngày nay theo một cách thức đặc biệt.
Một vị mục-sư tin kính chắc hẳn sẽ muốn nêu gương-mẫu tốt nhất chớ không muốn làm lý-do để bào chữa cho tội-lỗi trong đời sống của một người anh em nào đó yếu đuối hơn.