...Hội thánh đầu tiên nếu có ai biết được tầm quan-trọng của việc thức canh, không ai khác hơn là sứ-đồ Phi-e-rơ. Trong những năm đầu theo Chúa ông có khuynh hướng cảm thấy rất tự tin khi hiểm nguy đến gần và bỏ qua những lời khuyến cáo của Thầy mình. Ông vội vàng tiến lên phía trước trong khi đúng ra nên chờ đợi ông ngủ khi đáng phải thức canh cầu-nguyện ông nói khi đáng phải lắng nghe. Ông là một Cơ-đốc nhân can-đảm nhưng thiếu thận trọng.
Nhưng ông đã từng trải bài học của mình và ông muốn giúp chúng ta cũng học biết điều đó. Trong bức thư thứ nhất, Phi-e-rơ nhấn mạnh ân-điển của Đức Chúa Trời (IPhi 5:12), nhưng trong thư này, ông nhấn mạnh đến sự nhận biết Đức Chúa Trời. Chữ biết hoặc nhận biết được dùng ít nhất 13 lần trong lá thư ngắn ngủi này.
Từ ngữ này không nói đến sự hiểu biết khôn-ngoan về một số chân-lý, mặc dù điều đó có nhắc tới. Nhưng có nghĩa là thật sự sống động trong sự nhận biết mà Chúa nói đến trong Gi 17:3 “Vả sự sống đời-đời là sự nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Chúa Giê-xu Christ là Đấng Cha đã sai đến.”
Phi-e-rơ mở đầu bức thư với lời mô-tả nếp sống Cơ-đốc. Trước khi nói đến những tín-đồ giả, ông mô-tả các Cơ-đốc nhân thật. Cách tốt nhất để nhận ra sự dối trá là phải hiểu được các đặc-điểm của chân-lý. Phi-e-rơ đưa ra 3 lời xác nhận quan-trọng về nếp sống Cơ-đốc thật.
1. Nếp sống Cơ-đốc nhân bắt đầu bằng đức-tin (IPhi 1:1-4)
Phi-e-rơ gọi điều đó là “đức-tin đồng quý báu”. Điều đó có nghĩa địa-vị chúng ta với Chúa ngày nay giống như các sứ-đồ cách đây nhiều thế kỷ. Không phải họ có thuận lợi đặc biệt nào hơn chúng ta vì được đặc ân đi với Đấng Christ, tận mắt nhìn xem Ngài, và dự phần trong các phép-lạ Ngài làm. Không nhất thiết phải nhìn thấy Chúa bằng mắt loài người để yêu mến Ngài, tin-cậy Ngài, và dự phần vinh-hiển với Ngài (IPhi 1:8).
• Đức-tin này ở trong Con Người (IIPhi 1:1-2).
Con Người đó là Chúa Giê-xu Christ Con Đức Chúa Trời, Đấng Cứu-Rỗi. Từ ngay đầu bức thư, Phi-e-rơ đã khẳng định thần tính của Chúa Giê-xu Christ. “Đức Chúa Trời” và “Cứu Chúa chúng ta” không phải là 2 thân-vị khác nhau hai thân-vị mô tả một Con Người, là Chúa Cứu Thế Giê- xu. Phao-lô cũng diễn đạt tương tự trong Tit 2:10; Tit 3:4.
Phi-e-rơ nhắc nhở các độc-giả nhớ rằng Chúa Giê-xu Christ là Cứu Chúa bằng cách lặp lại danh xưng cao trọng này trong IIPhi 1:11; IIPhi 2:20; IIPhi 3:2,18. Cứu Chúa là “người đem đến sự giải cứu”, và chữ giải cứu (cứu-rỗi) rất quen thuộc đối với người thời ấy.
Trong từ vựng của họ nó có nghĩa là “sự giải thoát ra khỏi rắc rối khó khăn”, đặc biệt là “giải thoát khỏi kẻ thù”. Giải cứu (cứu-rỗi) cũng mang ý nghĩa “sự khỏe mạnh và bình-an”. Thầy thuốc được coi như là vị cứu-tinh vì người ấy giúp cho cơ thể bệnh nhân thoát khỏi đau đớn và những hạn chế của họ.
Viên đại tướng chiến thắng là vị cứu-tinh vì ông ta đưa người ta thoát khỏi thất bại. Ngay cả một vị lãnh-đạo đất nước khôn-ngoan cũng là người cứu tinh vì ông ta giữ được quốc gia ổn định và dẫn dắt đất nước thoát khỏi những lộn xộn và băng hoại.
Không cần phải hiểu biết nhiều mới hiểu thế nào Chúa Giê-xu Christ được xưng là “Vị Cứu-Tinh”. Quả thật, Ngài là Vị Danh Y đại tài chữa lành mọi tật bệnh của tội lỗi khỏi lòng con người. Ngài là Đấng đắc thắng đã đánh bại các kẻ thù của chúng ta - tội-lỗi, sự chết, Sa-tan, và địa-ngục - và đang dẫn dắt chúng ta trong chiến thắng (IICôr 2:14).
Ngài là “Đức Chúa Trời và Cứu Chúa chúng ta” (IIPhi 1:1), “Chúa và Cứu Chúa chúng ta” (IIPhi 2:20). Để làm Cứu Chúa chúng ta, Ngài phải hy sinh chịu chết trên thập-tự giá thay cho tội-lỗi của thế-gian.
Chúa Giê-xu Christ có 3 “sản phẩm thiêng-liêng” không thể có được từ bất cứ người nào khác: đó là sự công-bình, ân-điển và bình-an. Khi tin nhận Ngài làm Cứu Chúa đời bạn, sự công-bình của Ngài trở nên sự công-bình của bạn và Ngài ban cho bạn địa-vị công-nghĩa trước mặt Đức Chúa Trời (IICôr 5:21).
Bạn không thể nào kiếm được sự công-nghĩa này đó là món quà Đức Chúa Trời dành cho người tin Ngài.
“Không phải cứu vì việc công-bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương-xót Ngài, bởi sự rửa về sự lai sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh” (Tit 3:5).
Ân-điển là đặc ân Đức Chúa Trời dành cho người không xứng đáng. Theo sự thương-xót Ngài Đức Chúa Trời không cho chúng ta những gì chúng ta đáng được hưởng nhưng Ngài ban-cho chúng ta những gì chúng ta không đáng nhận lấy trong ân-điển Ngài.
Đức Chúa Trời chúng ta là “Đấng ban mọi ơn” (IPhi 5:10), và Ngài tuôn đổ ơn ấy cho chúng ta qua Chúa Giê-xu Christ (Gi 1:16).
Kết quả của từng-trải này là sự hòa thuận, hòa thuận với Đức Chúa Trời (Rô 5:1) và sự bình-an của Đức Chúa Trời (Phi 4:6-7). Thực ra, ân-điển và sự bình-an của Đức Chúa Trời “cứ nẩy nở” trong chúng ta khi chúng ta bước đi với Ngài và tin-cậy lời-hứa của Ngài.
• Đức-tin này có quyền-năng của Đức Chúa Trời (IIPhi 1:3).
Cuộc sống Cơ-đốc bắt đầu bằng đức-tin cứu-chuộc, tin vào Con Người Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nhưng khi bạn gặp gỡ Chúa Giê-xu Christ cách riêng tư, bạn cũng kinh-nghiệm quyền-năng của Đức Chúa Trời, và quyền-năng này sinh ra “sự sống và lòng kính-sợ Chúa”.
Tội-nhân chưa được cứu bị chết mất (Êph 2:1-3) và chỉ có Đấng Cứu Thế mới có thể cứu tội-nhân thoát khỏi sự chết (Gi 5:24). Khi Chúa Giê-xu kêu La-xa-rơ từ kẻ chết sống lại, Ngài phán: “Hãy mở cho người và để người đi” (Gi 11:44). Hãy lột bỏ vải liệm xác chết!
Khi sinh ra trong gia đình Đức Chúa Trời bởi tin nơi Chúa Giê-xu Christ, bạn được hoàn toàn sinh lại. Đức Chúa Trời ban cho mọi điều bạn cần “cho sự sống và kính sợ Đức Chúa Trời”.
Không cần phải thêm vào điều gì khác!
“Anh em lại nhờ Ngài mà có được đầy-dẫy mọi sự” (Côl 2:10).
Các giáo-sư giả tuyên bố rằng họ có “giáo-lý đặc biệt” thêm vào trong cuộc sống các độc-giả của Phi-e-rơ, nhưng Phi-e-rơ biết rằng không thể thêm điều gì khác vào nữa cả.
Giống như một em bé bình thường sinh ra với đầy đủ “các bộ phận” em bé cần để sống và chỉ cần phải lớn lên, vì vậy Cơ-đốc nhân cũng có đủ những điều cần thiết và chỉ cần lớn lên trong nếp sống thuộc-linh.
Đức Chúa Trời không bao giờ phải gọi trở lại bất kỳ “kiểu mẫu” nào của Ngài vì có điều gì đó thiếu sót hoặc sai trật.
Như em bé có thân thể theo di truyền quyết định em sẽ trưởng-thành như thế nào, do đó người tin Chúa cũng được “hình thành theo bản-tánh Đức Chúa Trời” để kinh nghiệm “vinh-hiển và nhân-đức”. Ngày kia chúng ta sẽ giống như Chúa Giê-xu Christ (Rô 8:29; IGi 3:2). Chúng ta đã được “gọi đến... sự vinh-hiển đời-đời của Ngài” (IPhi 5:10), và chúng ta sẽ dự phần vinh-hiển ấy khi Chúa Giê-xu Christ trở lại tiếp rước con cái Ngài về thiên-đàng.
Nhưng chúng ta cũng được “gọi ...đến sự nhân-đức”. Chúng ta được cứu để có thể “rao-giảng nhân-đức của Đấng đã gọi chúng ta ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài” (IPhi 2:9). Chúng ta không phải chờ đợi cho đến khi vào Nước Trời mới trở nên giống như Chúa Giê-xu Christ! Trong cá tánh và hành vi, chúng ta sẽ bày tỏ vẻ đẹp và ân-điển của Ngài ngay trong hôm nay.
• Đức-tin này chứa đựng lời-hứa của Đức Chúa Trời (IIPhi 1:4).
Đức Chúa Trời không chỉ ban cho tất cả những điều chúng ta cần cho sự sống và sự kính-sợ Chúa, nhưng Ngài còn ban cho Lời Ngài để khiến chúng ta có thể phát triển nếp sống tin-kính. Những lời-hứa của Ngài là lớn vì chúng phát xuất từ Đức Chúa Trời Chí Đại và dẫn dắt chúng ta đến cuộc sống vĩ đại. Lời-hứa của Đức Chúa Trời thật quý báu vì chúng ta không thể tính được giá-trị trong những lời ấy.
Nếu mất Lời Đức Chúa Trời, sẽ không có cách nào khác thay thế vào. Chắc chắn Phi-e-rơ thích chữ quý báu, vì ông viết về “đức-tin quý báu” (IIPhi 1:1; IPhi 1:7), “những lời-hứa quý báu” (IIPhi 1:4), “dòng huyết báu” (IPhi 1:19), “hòn đá quý” (IPhi 2:4,6), và “Đấng Cứu-rỗi quý báu” (IPhi 2:7).
Khi tội nhân tin vào Chúa Giê-xu Christ, Thánh Linh Đức Chúa Trời dùng Lời Ngài truyền sự sống và bản tánh của Đức Chúa Trời vào bên trong. Một em bé có bản chất của bố mẹ, và người sinh bởi Đức Chúa Trời dự phần bản-tánh thiêng-thượng của Đức Chúa Trời. Tội-nhân hư-mất bị chết mất, nhưng Cơ-đốc nhân được sống vì có mang bản-chất thiên-thượng.
Tội-nhân hư-mất bị băng hoại vì bản chất sa ngã của mình, nhưng con cái Chúa có thể kinh-nghiệm nếp sống kính mến Chúa năng động vì có bản-tánh thiêng-liêng bên trong. Loài người làm tôi sự hư-nát (Rô 8:21), nhưng người tin Chúa sở hữu tự-do và sự lớn lên trong ân-điển Ngài.
• Bản-chất quyết định sự thèm khát.
Con heo muốn lăn lóc trong vũng sình và con chó ăn lại đồ nó đã mửa (IIPhi 2:22), nhưng con chiên ước ao đồng cỏ xanh. Bản-chất cũng quyết định hành vi. Con ó bay vì nó có bản-tánh của con ó và con cá heo bơi lội vì nó mang bản-chất cá.
Bản-chất quyết định môi trường: con sóc trèo cây, chuột chũi đào hang dưới đất, và cá hồi bơi lượn dưới nước. Bản-chất cũng quyết định tập đoàn: sư tử đi theo nhóm, chiên thành bầy, cá theo đàn.
Nếu bản-chất quyết định sự thèm khát, và chúng ta có bản-tánh Đức Chúa Trời bên trong, chúng ta phải có khao khát trong sạch và thánh-khiết. Hành vi của chúng ta phải giống như Đức Chúa Cha, và chúng ta phải sống trong “môi trường thiêng-liêng” phù hợp với bản-chất của chúng ta.
Chúng ta phải kết hiệp với điều đúng với bản-chất chúng ta (IICôr 6:14). Nếp sống bình thường và sinh bông trái dành cho con cái Đức Chúa Trời là nếp sống tin kính Chúa.
Vì có được bản-tánh thiêng-liêng, chúng ta “hoàn toàn lánh khỏi” sự ô uế và hư-nát trong thế-gian tội ác. Nếu chúng ta nuôi bản-chất mới bằng chất bổ dưỡng của Lời Kinh Thánh, chúng ta sẽ ít quan tâm đến cặn bã của thế-gian.
Nhưng nếu chúng ta “chăm-nom về xác thịt” (Rô 13:14), bản-chất tội-lỗi của chúng ta sẽ thèm khát “tội-lỗi cũ” (IIPhi 1:9) và chúng ta sẽ bất-tuân lời Đức Chúa Trời.
Nếp sống yêu mến Chúa là kết quả của việc vun xới bản-tánh mới bên trong.
2. Đức-tin dẫn đến sự trưởng-thành thuộc-linh (IIPhi 1:5-7)
Nơi nào có sự sống, nơi ấy phải có sự lớn lên. Mới sinh ra không phải là kết thúc đó là khởi đầu. Đức Chúa Trời ban cho con cái Ngài mọi điều cần thiết để sống nếp sống tin-kính, nhưng con cái Ngài phải tự áp-dụng và khôn khéo sử dụng “ân-điển” mà Ngài đã ban cho. Sự lớn lên thuộc-linh không tự nhiên mà có được nhưng đòi hỏi phải cùng cộng tác với Đức Chúa Trời và cẩn thận làm theo lời Chúa.
“Hãy làm nên sự cứu-chuộc mình. Vì chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em” (Phi 2:12-13).
Phi-e-rơ nêu lên 7 đặc tính của nếp sống tin-kính, nhưng chúng ta không nên nghĩ chúng như một xâu chuỗi có bảy hạt hoặc 7 giai đoạn phát triển. Chữ thêm cho có nghĩa thật sự là “cung cấp cách rộng rãi”. Nói cách khác, chúng ta phát triển một phẩm chất khi thực hành một phẩm chất khác.
Những ơn này có liên quan lẫn nhau như cành liên quan với thân cây và nhánh non liên quan với cành cây. Như “trái Thánh Linh” (Ga 5:22-23), những phẩm tính này nẩy sinh sự sống và phát triển mối tương-giao mật thiết với Chúa Giê-xu Christ.
Đối với Cơ-đốc nhân tăng-trưởng thuộc-linh không chỉ là công việc một mình Đức Chúa Trời làm. Theo nghĩa đen, Phi-e-rơ viết, “Hãy hết sức cố gắng cùng bước đi”. Đức Chúa Trời và con cái Ngài phải cùng làm việc với nhau.
Đức tính đầu tiên Phi-e-rơ nêu lên đó là nhân-đức. Chúng ta gặp chữ này trong IIPhi 1:3, và về cơ-bản có nghĩa là “sự hoàn hảo”. Đối với các triết-gia Hy-lạp, nhân-đức có nghĩa là “sự hoàn thành của một vật”. Khi bất kỳ sự vật gì làm trọn mục đích của nó, tức là nhân-đức – đạo đức hoàn hảo. Chữ này cũng được dùng để miêu-tả quyền của các vị thần có những hành động anh dũng.
Đất sinh sản lương thực được xem là “hoàn hảo” vì làm xong được vai trò của nó. Dụng cụ thực thi chức-năng cách thích hiệp là “hoàn hảo” vì nó đang làm nhiệm-vụ mà một dụng cụ cần phải thực hiện.
Cơ-đốc nhân có trách-nhiệm làm sáng danh Đức Chúa Trời vì người có bản-chất của Đức Chúa Trời bên trong vì vậy, khi con cái Chúa sống nhân-đức, người bày-tỏ “sự hoàn hảo” vì đang làm trọn mục đích sống của mình.
Sự nhân-đức thật trong nếp sống Cơ-đốc không phải là “sự đánh bóng” các phẩm chất con người, cho dù các phẩm chất ấy có tốt đẹp như thế nào chăng nữa, nhưng là sản sinh ra những phẩm chất thiêng-liêng khiến cho người ấy càng giống Chúa Giê-xu Christ hơn.
Đức-tin giúp chúng ta phát triển nhân-đức, và nhân-đức giúp chúng ta phát triển tri-thức (IIPhi 1:5). Chữ tri thức trong IIPhi 1:2-3 có nghĩa “sự hiểu biết đầy đủ” hoặc “sự hiểu biết đang phát triển”.
Từ ngữ được dùng ở đây cho thấy sự hiểu biết trong cuộc sống thực tế. Nó liên quan đến khả năng quản-lý cuộc sống cách thành công. Loại hiểu biết này không tự nhiên có được. Nó xuất phát từ sự nghe theo ý muốn Đức Chúa Trời (Gi 7:17).
Trong nếp sống theo Chúa, bạn không nên phân-rẽ tấm-lòng và lý-trí, tính cách và sự nhận biết.
Sự tiết-độ là phẩm chất kế tiếp trong danh sách các đức tính thiêng-liêng mà Phi-e-rơ nêu lên, có nghĩa là tính tự chủ.
“Người chậm nóng giận thắng hơn người dõng sĩ và ai cai-trị lòng mình thắng hơn kẻ chiếm lấy thành” (Ch 16:32).
“Người nào chẳng chế trị lòng mình, khác nào một cái thành hư-nát, không có vách ngăn.” (Ch 25:28).
Phao-lô thường so sánh Cơ-đốc nhân với vận-động viên phải luyện tập và tự giữ lấy mình nếu muốn thắng giải (ICôr 9:24-27; Phi 3:12-16; ITim 4:7-8).
Nhẫn-nhục là khả năng chịu đựng khi hoàn cảnh khó khăn. Tiết-độ có liên quan đến việc xử lý mọi thú vui trong cuộc sống, trong khi nhẫn-nhục có liên quan chủ yếu đến những áp lực và các vấn-đề trong cuộc sống. (Khả năng chịu đựng những người có vấn-đề là “sự nhẫn-nhục”). Thường, người nào “chiều theo” những thú vui thì cũng không đủ sức chịu nổi mọi áp lực, vì vậy, anh ta “sẽ bỏ cuộc”.
Nhẫn-nhục không phát triển cách tự nhiên chúng ta phải hành động. Gia 1:2-8 cho chúng ta phương cách đúng đắn. Chúng ta phải sẵn sàng đón chờ thử thách xảy đến, bởi vì không có thử thách chúng ta không thể nào học biết nhẫn-nhục.
Bằng đức-tin, hãy để cho thử thách giúp ích chúng ta chớ không nghịch lại chúng ta, vì biết rằng Đức Chúa Trời hành động trong cơn hoạn-nạn của chúng ta.
Nếu chúng ta cần có khôn-ngoan trong những quyết định, Đức Chúa Trời sẽ ban cho chúng ta sự khôn-ngoan ấy nếu chúng ta cầu xin Ngài.
Chẳng có ai thích sự thử-thách, nhưng chúng ta vui hưởng sự tin tưởng có được trong cơn thử-thách mà Đức Chúa Trời đang hành động, khiến mọi việc kết hiệp với nhau vì cớ ích lợi cho chúng ta và vì vinh-hiển của Ngài.
Sự tin-kính có nghĩa là “giống như Đức Chúa Trời”. Trong Hy-văn, chữ này có nghĩa “thờ-phượng tốt”. Nó mô-tả con người có mối tương giao đúng đắn với Đức Chúa Trời và đồng loại. Có lẽ chữ tôn-kính và sùng đạo gần sát nghĩa với chữ này.
Chính phẩm chất của tính cách ấy làm cho con người khác biệt. Người ấy sống vượt trên những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống, vượt trên những giận dữ và áp lực đè nén cuộc sống người khác. Người ấy tìm cách làm theo ý muốn Đức Chúa Trời và làm lợi cho người khác.
Chúng ta đừng bao giờ có ý nghĩ cho rằng sự tin-kính là một việc không thực tế, ngược lại rất thực tế. Người tin kính Chúa có những quyết định đúng và cao thượng. Người ấy không theo những lối đi dễ dàng để tránh hoạn-nạn hoặc thử thách. Người làm theo lẽ công-bình và vì đó là ý muốn của Đức Chúa Trời.
Tình yêu-thương anh em (chữ philadelphia trong Hy-văn) là đức tính Phi-e-rơ đã khó khăn nhiều mới học biết được, vì các môn-đệ của Chúa thường tranh luận và bất đồng với nhau.
Nếu chúng ta yêu mến Cứu Chúa Giê-xu, chúng ta cũng phải yêu mến anh em. Chúng ta phải thực hành “lòng yêu-thương nhau cách thật thà” (IPhi 1:22) và không yêu-thương giả vờ.
“Hãy hằng có tình yêu-thương anh em” (Hêb 13:1).
“Hãy lấy lòng yêu-thương mềm-mại mà yêu-thương nhau như anh em” (Rô 12:10).
Việc chúng ta yêu anh em chị em trong Đấng Cứu Thế là bằng-chứng cho biết chúng ta sinh bởi Đức Chúa Trời (IGi 5:1-2).
Nhưng có điều ảnh hưởng đến sự tăng-trưởng trong Đấng Cứu Thế nhiều hơn là tình yêu-thương anh em, đó là chúng ta cũng phải có tình yêu hy sinh mà Chúa đã bày tỏ trên thập-tự giá.
Loại tình yêu (“lòng nhân-ái”) nói đến trong IIPhi 1:7 là tình yêu agape, đó là tình yêu Đức Chúa Trời dành cho tội-nhân hư-mất.
Tình yêu được mô-tả trong ICôr 13:1-13, tình yêu Đức Thánh Linh k ết trái trong lòng khi chúng ta bước đi theo Thánh Linh (Rô 5:5; Ga 5:22). Khi có tình yêu thương anh em, chúng ta yêu-thương họ vì chúng ta giống với họ nhưng với tình yêu agape, chúng ta yêu cho dù có khác biệt như thế nào mặc dầu.
Bản-chất sa ngã của con người không thể tạo ra 7 phẩm tính này trong bản-tánh Cơ-đốc. Chúng ta chỉ được sinh bởi Thánh Linh Đức Chúa Trời. Chắc chắn có nhiều người chưa được cứu vẫn có được sự tiết-độ và nhẫn-nhục đáng kinh ngạc nhưng các đức tính này bày-tỏ chính họ chớ không bày-tỏ Đức Chúa Trời.
Họ hưởng vinh-hiển cho mình chớ không phải Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời tạo nên bản-tánh tốt đẹp của Con Ngài trong đời sống Cơ-đốc nhân, chính Đức Chúa Trời được khen ngợi và vinh-hiển.
Vì mang lấy bản-tánh thiên-thượng, chúng ta có thể lớn lên cách thuộc-linh và phát triển bản-tính Cơ-đốc này. Chính quyền-năng và lời-hứa quý báu của Đức Chúa Trời khiến bản-tánh thiên-thượng tăng-trưởng cấu trúc con người thiên-thượng đã có ở đó.
Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải “nên giống như hình-ảnh của Con Ngài” (Rô 8:29). Cuộc sống bên trong sẽ sản sinh ra lại hình-ảnh ấy nếu chúng ta chịu khó cộng tác với Đức Chúa Trời và dùng những phương tiện Ngài đã ban-cho chúng ta cách rời rộng.
Và điều ngạc nhiên đó là: khi hình-ảnh Đấng Cứu Thế được tái tạo trong chúng ta, quá trình ấy không phá hủy cá tính chúng ta. Chúng ta vẫn giữ lại tính độc đáo của chúng ta!
Một trong những hiểm nguy Hội thánh ngày nay gặp phải là sự bắt chước. Người ta có khuynh hướng trở thành giống như mục-sư của mình, hoặc giống người lãnh-đạo Hội thánh, hoặc có thể giống một “Cơ-đốc nhân nổi tiếng” nào đó.
Khi làm điều này, họ phá hủy tính độc đáo của mình trong khi đó cũng không trở thành giống như Chúa Giê-xu Christ.
Họ đánh mất cả hai! Giống như một em bé giống bố mẹ chúng nhưng lại khác nhau như vậy mỗi con cái Chúa càng ngày càng giống Chúa Giê-xu Christ nhưng lại khác nhau. Cha mẹ không tự sao chép, họ tự sinh sản và những cha mẹ khôn-ngoan cho phép con cái họ trở nên như chính chúng.
3. Sự tăng-trưởng thuộc-linh mang lại những kết quả thực tế (IIPhi 1:8-11)
Làm thế nào người tin Chúa biết chắc chắn mình đang có đời sống thuộc-linh tăng-trưởng? Phi-e-rơ nêu ra 3 bằng-chứng về sự tăng-trưởng thuộc-linh thật.
(1) Kết Quả (IIPhi 1:8).
Đặc tính Cơ-đốc là được coi là một cứu cánh trong chính nó, nhưng cũng là phương tiện để đạt cứu cánh. Chúng ta càng trở nên giống Chúa Giê-xu Christ, Đức Thánh Linh càng có thể sử dụng chúng ta trong việc làm-chứng và hầu-việc Ngài.
Con cái Chúa không lớn lên là ở dưng (“son sẻ”) và không kết quả. Sự nhận biết về Chúa Giê-xu Christ không đem lại kết quả thực tế nào trong đời sống người ấy. Chữ “ở dưng” cũng có nghĩa “không có ảnh hưởng”. Người không lớn lên thường thường thất bại trong mọi việc khác!
Một số con cái Chúa sống hiệu quả nhất mà tôi biết là những người không có tài năng xuất chúng hoặc những khả năng đặc biệt, hoặc có những tính cách hấp dẫn tuy nhiên Đức Chúa Trời đã dùng họ cách đầy ơn. Tại sao vậy?
Vì họ ngày càng giống Chúa Giê-xu Christ. Họ có cá tính và hành vi mà Đức Chúa Trời có thể tin-cậy ban ơn. Họ sinh bông trái vì trung-tín với Chúa họ sống có hiệu quả vì lớn lên trong kinh-nghiệm bước đi với Chúa.
Những đức tính đẹp đẽ ấy tồn tại “trong chúng ta” vì chúng ta có bản tánh thiên thượng. Chúng ta phải vun xới những mỹ đức ấy để chúng lớn lên và kết trái trong và qua cuộc đời chúng ta.
(2) Khải-Tượng (IIPhi 1:9).
Các nhà dinh dưỡng học cho chúng ta biết việc ăn kiêng có ảnh hưởng nhất định đến thị giác và điều này đặc biệt đúng trong lãnh vực thuộc-linh. Người chưa tin sống trong bóng tối vì Sa-tan làm mù mắt người (IICôr 4:3-4).
Một người phải sinh lại trước khi mắt được mở ra để có thể nhìn thấy Nước Đức Chúa Trời (Gi 3:3). Nhưng sau khi mắt mở ra, chúng ta phải gia tăng sức nhìn và nhìn xem tất cả những điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhìn thấy. Nhóm từ “không thể nhìn thấy xa” là cách dịch của chữ mang nghĩa “cận thị”. Đó là bức tranh của người khép chặt đôi mắt của mình lại, không thể nhìn thấy gì ở đằng xa.
Có vài Cơ-đốc nhân chỉ thấy nhà thờ hoặc giáo-phái của mình, nhưng họ không nhìn thấy được gia đình rộng lớn của Đức Chúa Trời ở khắp thế giới. Một số con cái Chúa nhìn thấy nhu-cầu trong gia đình nhưng không thấy thế-gian hư-mất. Vài người hỏi Philip Brooks sẽ làm gì để phục hưng Hội thánh chết, ông trả lời, “Tôi sẽ rao-giảng sứ-điệp truyền-giáo và tiếp tục quyên góp!”
Chúa Giê-xu khuyên dạy các môn-đệ Ngài, “Hãy nhướng mắt lên và xem đồng ruộng đã vàng sẵn cho mùa gặt” (Gi 4:35).
Một số Hội thánh ngày nay giống như Hội thánh Lao-đi-xê: Họ hãnh diện mình “giàu có và không cần chi nữa”, họ không nhận thấy mình “khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ” (Kh 3:17). Đó là bi kịch bị “cận thị thuộc-linh”, nhưng còn hơn là bị mù!
Nếu quên những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta, chúng ta sẽ không thích thú chia-sẻ Đấng Cứu Thế cho kẻ khác. Bởi huyết báu của Chúa Giê-xu Christ chúng ta đã được tẩy sạch và tha-thứ mọi tội!
Đức Chúa Trời đã mở mắt thuộc-linh chúng ta! Chúng ta đừng quên những gì Ngài đã làm cho chúng ta!
Đúng hơn, chúng ta hãy vun xới tấm-lòng biết ơn và tôi luyện nhãn quan thuộc-linh của chúng ta. Cuộc đời quá ngắn ngủi và nhu-cầu của thế giới quá lớn đối với con cái Đức Chúa Trời đến nỗi chúng ta không thể nhắm mắt bước đi được!
(3) An-Toàn (IIPhi 1:10-11).
Nếu bạn nhắm mắt bước tới, bạn sẽ té ngã! Nhưng Cơ-đốc nhân trưởng-thành bước đi vững vàng vì biết mình được bảo đảm trong Đấng Cứu Thế. Không phải việc tuyên-xưng đức-tin bảo-đảm chúng ta được cứu chính quá trình lớn lên trong đức-tin cho chúng ta sự đảm-bảo ấy.
Người nào tuyên-bố rằng mình là con cái Đức Chúa Trời nhưng có cá tính và hành vi không lớn lên thuộc-linh là người tự dối mình và sẽ lãnh án phạt.
Phi-e-rơ lưu ý rằng “sự kêu-gọi” và “chọn lựa” đi đôi với nhau. Cùng một Đức Chúa Trời chọn lựa chúng ta cũng có khả năng để gọi chúng ta. Hai điều này phải đi đôi với nhau, như Phao-lô viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca: ”Từ lúc ban đầu Đức Chúa Trời đã chọn đặng ban sự cứu-rỗi cho anh em... Ấy cũng là vì đó Ngài dùng Phúc-Âm chúng tôi gọi anh em” (IITês 2:13-14).
Chúng ta không giảng sự lựa-chọn cho người chưa được cứu chúng ta giảng Phúc-Âm cho họ. Nhưng Đức Chúa Trời dùng Phúc-Âm ấy để gọi tội-nhân đến sự ăn-năn, và sau đó những tội-nhân ấy khám phá ra rằng họ đã được Đức Chúa Trời chọn lựa!
Phi-e-rơ cũng lưu ý rằng sự lựa chọn ấy không biện hộ cho sự ấu trĩ thuộc-linh hoặc thiếu đi sự nỗ lực trong nếp sống Cơ-đốc. Một số con cái Chúa nói rằng, “Cái gì có tất nó sẽ đến. Không có gì chúng ta không thể làm được.” Nhưng Phi-e-rơ khuyên chúng ta phải “nỗ lực”. Điều này có nghĩa “gắng hết sức” (Ông dùng động từ này trong c.5).
Trong khi thật sự Đức Chúa Trời phải hành động trong chúng ta trước khi chúng ta có thể làm theo ý muốn Ngài (Phi 2:12-13), chúng ta cũng phải sẵn lòng để cho Đức Chúa Trời làm việc, và phải cộng tác với Ngài. Sự chọn lựa của Đức Chúa Trời không bao giờ biện hộ cho tính biếng nhác của con người.
Người tin Chúa biết chắc mình được kêu-gọi lựa chọn sẽ không hề “vấp ngã” nhưng bằng tấm-lòng tin quyết người ấy chứng-tỏ mình là con cái Đức Chúa Trời. Người ấy không ở luôn trên đỉnh núi nhưng luôn trèo lên cao hơn. Nếu chúng ta làm “những điều này” (được liệt kê trong c.5-7 đối chiếu với c.8), nếu bày-tỏ sự trưởng-thành thuộc-linh và cá tính đẹp đẽ trong nếp sống hằng ngày, lúc ấy chúng ta có thể chắc chắn mình được cứu và ngày kia sẽ được ở trong Nước thiên-đàng.
Thật ra, Cơ-đốc nhân tăng-trưởng có thể mong mỏi “sự cho vào cách rộng rãi” trong Nước đời-đời trên trời! Người Hy-lạp dùng nhóm từ này để mô-tả sự tiếp đón các vận-động viên thắng giải Olympic khi họ trở về tổ quốc.
Mọi con cái Chúa sẽ có mặt trong Nước thiên-đàng, nhưng có người sẽ được vinh-hiển hơn người khác. Than ôi, một số con cái Chúa “sẽ được cứu dường như qua lửa vậy” (ICôr 3:15)
Chữ “cho vào cách rộng rãi” trong c.11 giống như chữ “thêm lên” trong c.5, và là bản dịch trong Hy-văn có nghĩa “gánh chịu phí tổn của một ban hát”. Khi các đoàn kịch Hy-lạp giới thiệu các vở kịch, một người nào đó phải ký đảm-bảo các khoản chi phí rất lớn. Chữ này có nghĩa “tạo một cung ứng hào phóng”. Nếu chúng ta dành nhiều cho sự lớn lên thuộc-linh (c.5), Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng dư dật khi chúng ta vào Nước Trời.
Hãy nghĩ đến các phước hạnh Cơ-đốc nhân tăng trưởng vui hưởng: kết quả, nhìn thấy, bảo-đảm và điều sắm sẵn tốt nhất trên trời!
Nếp sống Cơ-đốc bắt đầu bằng đức-tin, nhưng đức-tin phải dẫn đến sự tăng-trưởng thuộc-linh - nếu không đó là đức-tin chết. Nhưng đức-tin chết không phải là đức-tin cứu-rỗi (Gia 2:14-26). Đức-tin dẫn đến sự lớn lên và sự lớn lên dẫn đến những kết quả thực tế trong cuộc sống và sự hầu-việc. Người có từng-trải Cơ-đốc này không thể sa vào bẫy các giáo-sư giả.
2. HÃY THỨC DẬY VÀ NHỚ LẤY (IIPhi 1:12-21)
Sự sống thật là sức mạnh bảo vệ chống lại lời dạy sai lệch. Hội thánh có nhiều con cái Chúa lớn lên có đức-tin mạnh mẽ, Hội thánh ấy không thể làm mồi cho những kẻ bội đạo có niềm tin giả tạo.
Nhưng sự sống Cơ-đốc phải dựa trên quyền-năng của Lời Đức Chúa Trời. Các giáo-sư giả thấy dễ dàng quyến rũ những người không biết Kinh Thánh nhưng mong muốn “từng-trải” với Chúa. Thật nguy hiểm khi xây dựng đức-tin trên kinh-nghiệm chủ quan và bỏ qua mạc khải khách quan.
Phi-e-rơ bàn về kinh-nghiệm theo Chúa trong phần đầu của thư Phi-e-rơ thứ nhì, và trong phần sau ông bàn đến sự mạc khải chúng ta có được trong Lời Đức Chúa Trời. Mục đích ông bày-tỏ cho chúng ta biết tầm quan-trọng trong sự hiểu biết Lời Đức Chúa Trời và hoàn toàn nhờ cậy nơi lời ấy.
Cơ-đốc nhân biết điều mình tin và lý-do tại sao tin sẽ khó bị các giáo-sư giả và các giáo-lý quanh co của họ dẫn dụ.
Phi-e-rơ nhấn mạnh sự đáng tin và tính bền vững của Lời Đức Chúa Trời bằng cách đối chiếu Thánh Kinh với con người, sự từng-trải và thế-gian.
1. Con người chết, Nhưng Lời Đức Chúa Trời còn lại (IIPhi 1:12-15)
Bởi lời rao giảng và dạy dỗ, các sứ-đồ và các đấng tiên-tri trong Tân-ước lập nền Hội thánh (Êph 2:20), chúng ta thuộc các thế-hệ về sau xây dựng trên nền móng ấy. Tuy nhiên, con người không phải là nền móng nhưng Chúa Giê-xu là nền móng (ICôr 3:11).
Ngài cũng là hòn đá góc nhà nối kết cả ngôi nhà lại với nhau (Êph 2:20). Nếu Hội thánh tồn tại, Hội thánh không thể xây dựng chỉ trên con người. Hội thánh phải được xây dựng trên nền Con Đức Chúa Trời.
Chúa đã phán với Phi-e-rơ về việc người sẽ chết và chết cách nào. “Khi ngươi già sẽ giơ bàn tay ra, người khác thắt lưng cho và dẫn ngươi đi đến nơi mình không muốn” (Gi 21:18).
Điều này giải thích tại sao sau lễ Ngũ Tuần ít lâu Phi-e-rơ có thể ngủ trong tù ngục đêm trước khi ông sẽ bị giết ông biết vua Hê-rốt không thể cất mạng sống ông (Công 12:1). Lời truyền khẩu nói rằng Phi-e-rơ bị đóng đinh tại Rô-ma. Giống như mọi tôi-tớ trung-tín của Đức Chúa Trời, Phi-e-rơ không chết cho đến khi công việc ông làm xong.
Có ít nhất ba động cơ đằng sau chức vụ của Phi-e-rơ khi ông viết thư này. Thứ nhất ông vâng mệnh lệnh của Đấng Cứu Thế. “Tôi không lơ đễnh” (IIPhi 1:12). Chúa Giê-xu phán với Phi-e-rơ, “Khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình” (Lu 22:32). Phi-e-rơ biết rằng ông có chức vụ đặc biệt phải làm cho trọn.
Động cơ thứ hai, lời nhắc nhở này là điều đáng phải làm. Ông viết, “tôi nghĩ là thỏa đáng”, có nghĩa là “Tôi nghĩ đều đó đúng và phù hợp”. Khích-lệ các thánh-đồ và nhắc họ nhớ Lời Đức Chúa Trời là đều luôn luôn đúng đắn!
Động cơ thứ ba chứa đựng trong chữ ân cần chép trong IIPhi 1:15. Cùng chữ đó được dịch là cần mẫn trong IIPhi 1:5,10. Nó có nghĩa “làm ngay một việc nào đó, sốt sắng làm việc ấy.” Phi-e-rơ biết ông sẽ qua đời nay mai, vì vậy ông muốn chăm-lo các trách-nhiệm thiêng-liêng của mình trước khi quá trễ.
Bạn và tôi không biết khi nào chúng ta qua đời, do đó tốt hơn hết chúng ta nên bắt đầu nỗ lực ngay hôm nay!
Phi-e-rơ muốn hoàn tất điều gì? Chúng ta tìm thấy câu trả lời nằm trong chữ “nhớ” được lặp lại trong IIPhi 1:12,13,15. Phi-e-rơ muốn gây ấn-tượng lên tâm-trí của độc-giả của ông bằng lời Đức Chúa Trời để chẳng bao giờ quên!
“Tôi coi sự lấy lời răn bảo mà tỉnh thức anh em là bổn-phận của tôi vậy” (IIPhi 1:13).
Động từ tỉnh thức anh em có nghĩa “đánh thức, khuấy động”. Chữ này được dùng để mô-tả cơn bão trên biển Ga-li-l ê! (Gi 6:18). Phi-e-rơ biết rằng tâm-trí chúng ta có xu hướng dễ quen thuộc với chân-lý và rồi cho rằng lời ấy là đúng. Chúng ta quên điều phải nhớ, nhưng lại nhớ những điều nên quên!
Người đọc thư này biết chân-lý và thậm chí còn được “xây dựng trong chân-lý” (IIPhi 1:12), nhưng điều đó không bảo-đảm họ sẽ luôn nhớ và áp-dụng chân-lý.
Lý-do Đức Chúa Trời ban Thánh Linh cho Hội thánh là để nhắc nhở con cái Chúa nhớ lại những điều đã được dạy dỗ (Gi 14:26).
Trong chức-vụ giảng Phúc-Âm trên sóng phát thanh, tôi đã nhận được nhiều thư của thính-giả cảm thấy khó chịu khi tôi nhắc lại một điều gì. Trong các thư trả lời, tôi thường liên-hệ đến điều Phao-lô viết trong Phi 3:1: “Tôi chẳng hề sợ phiền mà lại viết những điều này cho anh em nữa, vì ấy là có ích cho anh em.” Chúa thường nhắc lại chính mình Ngài khi dạy dỗ dân chúng, và Ngài là Giáo-Sư Lớn.
Phi-e-rơ biết rằng ông sắp sửa qua đời, vì vậy ông muốn để lại những gì không hề chết -đó là lời Đức Chúa Trời được viết ra. Hai thư tín của ông trở thành một phần của bộ Thánh Kinh được Thánh Linh hà hơi dẫn dắt, và những bức thư ấy đã nâng đỡ các thánh-đồ trong nhiều thế kỷ. Con người qua đi, nhưng Lời Đức Chúa Trời hằng còn!
Có thể Phi-e-rơ cũng ám chỉ đến sách Phúc-âm Mác. Hầu hết các học-giả Kinh Thánh tin rằng Thánh Linh đã dùng Phi-e-rơ gợi ý cho Giăng Mác một số tư liệu cho sách của ông (IPhi 5:13). Môt trong những giáo-phụ, Papias, nói rằng Mác là “môn-đệ và người thông dịch của Phi-e-rơ”.
Hội thánh của Chúa Giê-xu Christ là một thế-hệ không tàn tắt. Nếu không có lời mạc khải đáng tin được viết ra, chắc chắn chúng ta phải nhờ cậy nơi lời truyền khẩu của con người. Nếu bạn đã từng chơi trò “truyền tín hiệu”, bạn biết một câu giản đơn có thể bị thay đổi hoàn toàn nghĩa của nó như thế nào khi được chuyền từ người này đến người khác! Chúng ta không phụ thuộc vào những tập tục của người xưa nhưng chúng ta nương cậy nơi chân-lý của Lời Hằng sống. Con người chết đi, nhưng lời Kinh Thánh còn đời đời.
Nếu chúng ta không có lời Đức Chúa Trời bày-tỏ đáng tin-cậy được viết ra, Hội thánh sẽ phó mặc cho trí nhớ của con người. Con người tự hãnh diện về trí nhớ tốt của mình, họ sẽ ngồi ở ghế nhân-chứng tại phòng xử án! Thật ngạc nhiên 3 nhân-chứng có đạo đức tốt và hoàn toàn thành thật có thể cho 3 lời-chứng khác nhau về một tai nạn xe hơi! Trí nhớ chúng ta có nhược điểm và chọn lọc. Chúng ta thường nhớ những gì chúng ta muốn nhớ, và chúng ta thường thêm bớt vào khi thuật lại điều gì.
May thay, chúng ta có thể nương cậy nơi lời Đức Chúa Trời được viết ra. “Lời Đức Chúa Trời được viết ra và còn lại đời-đời.” Chúng ta có thể được cứu bởi lời hằng sống này (IPhi 1:23-25), được nuôi dưỡng (IPhi 2:2), và được hướng dẫn bảo vệ khi chúng ta tin-cậy và vâng-lời Ngài.
2. Kinh-nghiệm phai tàn nhưng Lời Hằng Sống còn lại (IIPhi 1:16-18)
Điểm tập trung trong phân đoạn này nhắm vào sự hóa hình của Chúa Giê-xu Christ. Kinh-nghiệm ấy được Ma-thi-ơ (Mat 17:1-8), Mác (Mac 9:2-8) và Lu-ca (Lu 9:28-36) tường thuật lại tuy nhiên không một tác giả nào thật sự tham dự vào sự hóa hình của Chúa Giê-xu! Phi-e-rơ có mặt tại đó khi sự việc xảy ra! Thật ra, chính những lời ông dùng trong phần này (IIPhi 1:12-18) nhắc nhở chúng ta về kinh-nghiệm của ông trên Núi Hóa Hình.
Ông dùng chữ nhà tạm 2 lần (IIPhi 1:13-14), và điều này cho thấy lời nói của Phi-e-rơ, “Chúng ta hãy dựng ba trại tại đây” (Mat 17:4). Trong IIPhi 1:15, ông dùng chữ qua đời, đó là chữ “ra đi” trong Hy-văn dùng trong Lu 9:31. Chúa Giê-xu không coi sự chết của Ngài trên thập-tự giá là một thất bại đúng hơn, đó là một cuộc “ra đi” - Ngài sẽ giải cứu dân Ngài khỏi xiềng xích như cách Môi-se giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập! Phi-e-rơ viết về cái chết của ông như một “sự ra đi”, sự giải thoát ra khỏi xiềng-xích.
Hãy chú ý sự nhắc lại đại từ chúng ta trong IIPhi 1:16-19. Nó ám chỉ đến Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng - những sứ-đồ duy nhất có mặt với Chúa trên Núi Hóa Hình. (Giăng nói đến kinh-nghiệm này trong Gi 1:14: “Chúng ta đã ngắm xem vinh-hiển Ngài”).
Ba vị sứ-đồ phải giữ kín kinh-nghiệm của họ cho đến sau khi Chúa từ kẻ chết sống lại (Mat 17:9) sau đó họ thuật lại cho các tín-hữu khác về những gì đã diễn ra tại trên núi.
• Ý nghĩa của Sự Hóa Hình là gì?
Trước hết, sự hóa hình xác nhận lời Phi-e-rơ xưng nhận Đức Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế (Mat 16:13-16). Phi-e-rơ nhìn thấy vinh-hiển của Đức Chúa Con và nghe lời phán của Đức Chúa Cha từ trời,
“Này là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đường” (IIPhi 1:17).
Chúng ta đặt đức-tin vào Đấng Cứu Thế trước tiên, sau đó Ngài ban cho chúng ta lời xác nhận kỳ diệu.
Sự Hóa Hình cũng có ý nghĩa đặc biệt đối với Chúa Giê-xu Christ khi Ngài sắp lên đồi Gô-gô-tha. Đó là cách Đức Chúa Cha thêm sức cho Con Ngài để chịu cơn đau đớn khốc liệt làm con sinh tế chết thay tội của nhân loại.
Luật-pháp và Lời Tiên-tri (Môi-se và Ê-li) chỉ rõ chức-vụ của Ngài, và bây giờ Ngài sẽ làm ứng-nghiệm những lời Kinh Thánh ấy. Đức Chúa Cha phán từ trời và bảo đảm với Con Ngài về tình yêu và sự thuận ý của Ngài. Sự Hóa Hình là một bằng-chứng cho thấy sự đau đớn sẽ dẫn đến vinh-hiển khi chúng ta ở trong ý muốn Đức Chúa Trời.
Ý nghĩa thứ ba của Sự Hóa Hình có liên quan đến vương quốc lời hứa. Trong 3 sách Phúc-Âm ghi lại câu chuyện Hóa Hình, có đề-cập đến Nước Đức Chúa Trời (Mat 16:28; Mac 9:1; Lu 9:27).
Chúa Giê-xu hứa trước khi họ qua đời, một số môn-đệ sẽ thấy Nước Đức Chúa Trời trong quyền-năng! Điều này xảy ra tại trên Núi Hóa Hình khi Chúa tỏ-bày vinh-hiển Ngài.
Đó là lời bảo-đảm cho các môn-đệ, những người không thể hiểu lời dạy của Chúa về thập-tự giá. Nếu Ngài phải chết, điều gì sẽ xảy ra cho vương quốc đã hứa mà Ngài rao giảng cho họ trong những tháng năm ấy?
Bây giờ chúng ta có thể hiểu tại sao Phi-e-rơ dùng sự-kiện này trong thư của ông: ông bác bỏ lời dạy sai lạc của kẻ bội đạo, họ cho rằng Nước Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ đến (IIPhi 3:3). Những người này phủ nhận lời-hứa về sự trở lại của Đấng Christ! Thay thế vào các lời-hứa của Đức Chúa Trời, những kẻ giả mạo đặt để “những chuyện ngụy tạo tinh vi” (IIPhi 1:16) để lấy đi sự hy-vọng phước hạnh của con cái Chúa.
Từ ngữ những “chuyện ngụy tạo” có nghĩa “chuyện hoang đường”, những câu chuyện được chế tác không có cơ sở trên thực tế. Thế giới người Hy-lạp và người La-mã đầy dẫy những mẫu chuyện về thần thánh, chỉ là những điều suy đoán của con người cố tìm cách giải thích thế-gian và nguồn gốc của nó. Cho dù những chuyện hoang đường này có hấp dẫn đến đâu, người tin Chúa cũng không lưu tâm đến (ITim 1:4), nhưng phải gạt bỏ ra ngoài tai (ITim 4:7).
Phao-lô nhắc nhở Ti-mô-thê biết rằng sẽ có lúc người tự nhận mình là Cơ-đốc nhân không muốn nghe chân-lý, nhưng họ “sẽ bịt tai không nghe chân-lý, mà xây hướng về chuyện huyễn” (IITim 4:4).
Phao-l ô cũng nhắc nhở Tít về “chuyện huyễn của người Giu-đa” (Tit 1:14), vì vậy một số người Giu-đa đã bỏ Kinh Thánh của họ và công nhận những lời hoang đường do con người thêu dệt nên.
Phi-e-rơ viết một bản tóm tắt về những gì ông đã thấy và nghe trên Núi Hóa Hình. Ông thấy Chúa Giê-xu Christ mặc lấy vinh-quang rực rỡ, và vì vậy ông làm-chứng về “quyền-năng và sự đến” của Chúa Giê-xu Christ.
Khi Chúa Giê-xu Christ đến thế-gian tại Bết-lê-hem, Ngài không bày-tỏ vinh-quang của Ngài.
Chắc chắn, Ngài đã tỏ-bày vinh-quang qua phép-lạ Ngài làm (Gi 2:11), nhưng Ngài đây là lần đầu tiên Ngài bày tỏ vinh-quang Ngài cách rõ ràng vì lợi ích của các môn-đệ Ngài. Khuôn mặt Ngài không chiếu sáng, cũng không có vầng hào quang trên đầu Ngài. “Ngài chẳng có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ khi chúng ta thấy người, không có sự tốt đẹp cho chúng ta ưa thích được” (Ês 53:2).
Phi-e-rơ không chỉ nhìn thấy sự vinh-quang của Đấng Cứu Th ế, nhưng ông còn nghe tiếng phán của Đức Chúa Cha “từ ngôi cao vinh-hiển”. Chứng-nhân là người thuật lại chính xác những gì họ đã thấy và nghe (Công 4:20), và Phi-e-rơ là người làm-chứng trung thực. Có phải Chúa Giê-xu Christ ở Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời không? Vâng, đúng vậy! Làm sao chúng ta biết? Chính Đức Chúa Cha đã phán điều đó!
Bạn và tôi không phải là những người chứng-kiến cảnh Chúa Hóa Hình. Nhưng Phi-e-rơ có ở đó và người trung-tín thuật lại kinh-nghiệm của ông cho chúng ta trong thư ông viết, đã được Thánh Linh Đức Chúa Trời soi dẫn.
Kinh-nghiệm rồi sẽ qua đi, nhưng lời Đức Chúa Trời còn lại! Kinh-nghiệm thuộc về chủ quan, nhưng lời Đức Chúa Trời khách quan.
Kinh nghiệm có thể được những người chứng-kiến diễn dịch theo nhiều cách khác nhau, nhưng lời Đức Chúa Trời cho chúng ta một sứ-điệp rõ ràng. Những gì chúng ta nhớ theo kinh-nghiệm có thể bị thêm bớt, nhưng lời Đức Chúa Trời cứ y nguyên và tồn tại đời-đời.
Khi nghiên-cứu IIPhi 2:1-22, chúng ta sẽ khám phá ra rằng các giáo-sư giả cố tìm cách kéo người khác xa rời lời Đức Chúa Trời và đưa họ đến “những kinh-nghiệm sâu sắc” trái với lời dạy của Đức Chúa Trời.
Các giáo-sư giả dùng “những lời dối trá” thay cho lời được Đức Chúa Trời hà hơi (IIPhi 2:3), họ dạy “những đạo dối làm hại” (IIPhi 2:1). Nói cách khác, đây thật sự là vấn-đề sống chết! Nếu người ta tin vào chân-lý, họ sẽ sống nếu tin vào lời dối trá, họ sẽ chết.
Đó là khác biệt giữa sự cứu-rỗi và đoán-phạt.
Qua việc nhắc các độc-giả nhớ lại câu chuyện Hóa Hình, Phi-e-rơ khẳng định một số giáo-lý quan-trọng về đức-tin Cơ-đốc. Ông khẳng định Chúa Giê-xu Christ quả thật là Con Đức Chúa Trời. Sự kiểm-chứng của bất cứ một tôn-giáo nào ấy là, “Bạn nói gì về Chúa Giê-xu Christ?” Nếu thầy dạy đạo phủ nhận thần-tính của Chúa Giê-xu Christ, người ấy là giáo-sư giả (IGi 2:18-29; IGi 4:1-6).
Nhưng nhân-tính của Ch úa Giê-xu Christ là sự kiểm-chứng duy nhất chúng ta cũng nên hỏi, “Công việc của Chúa Giê-xu Christ là gì? Tại sao Ngài đến và Ngài đã làm gì?” Một lần nữa, Sự Hóa Hình cho chúng ta câu trả lời vì Môi-se và Ê-li “hiện ra trong vinh-hiển, và nói về sự Ngài qua đời sẽ ứng-nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem” (Lu 9:31).
Sự chết của Ngài không chỉ là một gương, như một số nhà thần-học tự do muốn chúng ta tin nhưng đó là sự qua đời, sự hoàn tất. Ngài hoàn tất một công việc trên thập tự giá - làm xong công tác cứu-chuộc tội-nhân hư-mất!
Sự Hóa Hình cũng là lời khẳng định cho chân-lý của Kinh Thánh. Môi-se đại diện cho Luật-pháp; Ê-li đại diện cho Lời Tiên-tri cả hai đều nói về Chúa Giê-xu Christ (Hêb 1:1-3).
Ngài làm trọn Luật-Pháp và Lời Tiên-tri (Lu 24:27). Chúng ta tin Kinh Thánh vì Chúa Giê-xu tin Kinh Thánh và phán rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời. Những ai nghi ngờ sự thật và quyền-năng của Kinh Thánh, người ấy không cãi lẽ với Môi-se, Ê-li hay Phi-e-rơ nhưng với Chúa Giê-xu Christ.
Điều này cũng khẳng định sự thực hữu của Nước Đức Chúa Trời. Chúng ta có trọn bộ Thánh Kinh nên có thể đi ngược trở lại và hiểu được diễn tiến bài học Chúa Giê-xu đã dạy môn đệ của Ngài về Thập-tự giá và Nước Đức Chúa Trời, nhưng vào lúc ấy, 12 môn-đệ đều rất bối rối.
Họ không hiểu mối liên quan giữa sự chịu khổ và vinh-quang của Ngài (thư Phi-e-rơ thứ nhất đã bàn về chủ-đề này), giữa Hội thánh và Nước thiên-đàng. Lúc hóa hình Chúa Giê-xu phán rõ với những người theo Ngài rằng sự chịu khổ của Ngài sẽ dẫn đến vinh-hiển và thập-tự giá cuối cùng sẽ thành ra mão triều-thiên.
Cũng có một bài học rất thực tế mà Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng cần phải học, vì mỗi người trong họ phải chịu khổ.
-Gia-cơ là vị sứ-đồ đầu tiên bị giết (Công 12:1-2).
-Giăng sống lâu hơn nhưng cũng sống trong cảnh lưu đày và khổ sở (Kh 1:9).
-Phi-e-rơ chịu khổ vì Chúa trong suốt chức-vụ của ông, và hy sinh mạng sống mình như Chúa đã phán bảo trước.
Trên Núi Hóa Hình, Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ biết rằng chịu khổ đi đôi với vinh-hiển, và họ biết Đức Chúa Cha dành tình yêu đặc biệt và sự thừa nhận cho những ai sẵn lòng chịu khổ vì danh vinh-hiển của Ngài. Chúng ta cần học bài học này ngay hôm nay.
Phi-e-rơ không thể chia-sẻ kinh-nghiệm của ông cho chúng ta, nhưng ông có thể thuật lại kinh-nghiệm ấy để chúng ta luôn có kinh-nghiệm ấy trong lời của Đức Chúa Trời.
Chúng ta không cần phải cố tìm cách rập khuôn những kinh-nghiệm thật ra, những cố gắng như vậy sẽ nguy hiểm, vì ma quỷ có thể đem đến cho chúng ta kinh-nghiệm giả có thể dẫn chúng ta đi sai lạc.
Hãy nhớ thông tin hấp dẫn Phi-e-rơ cho chúng ta khi mở đầu thư: “đức-tin đồng quý báu”.
Điều này có nghĩa đức-tin cho chúng ta “vị trí ngang bằng” với các sứ-đồ! Họ không đi vé hạng nhất và để chúng ta ngồi vé hạng hai! “Đức-tin đồng quý báu như của chúng tôi” là điều ông viết.
Chúng ta không có mặt tại Núi Hóa Hình, nhưng chúng ta vẫn có thể hưởng được lợi từ kinh-nghiệm ấy khi suy ngẫm về nó và để cho Thánh Linh của Đức Chúa Trời tỏ-bày những sự vinh-hiển của Chúa Giê-xu Christ.
Chúng ta đã học biết 2 chân-lý quan-trọng khi thấy những điểm khác biệt này: con người chết, nhưng Lời Đức Chúa Trời làm cho sống, kinh nghiệm sẽ qua đi, nhưng Lời Đức Chúa Trời còn nguyên. Phi-e-rơ thêm vào điểm tương phản thứ ba.
3. Thế giới ngày càng tối tăm nhưng Lời Đức Chúa Trời soi sáng (IIPhi 1:19-21)
Ở góc độ nào đó, thế giới ngày càng trở nên tối tăm. Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự tiến bộ về y học, lưu thông, và thông tin liên lạc. Tôi có thể giảng cho nhiều người nghe trong một chương trình phát thanh hơn là các sứ-đồ dành trọn đời mình để rao-giảng. Tôi có thể viết nhiều sách và truyền bá khắp nơi thậm chí còn có thể dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau nữa.
Về những lĩnh-vực của thành tựu khoa học, thế giới tiến bộ vượt bậc. Nhưng lòng người vẫn độc ác, tất cả những tiến bộ không cải thiện đời sống chúng ta chút nào cả.
-Y học có thể giúp con người có thể sống lâu hơn, nhưng y học không bảo-đảm con người sống tốt hơn.
-Phương tiện truyền thông hiện đại chỉ giúp cho lời dối trá truyền đi nhanh hơn!
-Và máy bay phản lực có thể giúp chúng ta đến các nơi nhanh chóng hơn, nhưng chúng ta không có những nơi tốt hơn để đi đến!
Chúng ta không cần phải ngạc nhiên khi thế giới bị nhận chìm trong sự tối tăm thuộc-linh. Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa chúng ta cảnh cáo rằng sẽ có kẻ giả mạo tràn vào Hội thánh mang theo những giáo-lý sai lạc (Mat 7:13-29).
Phao-lô gởi đến các trưởng-lão thành Ê-phê-sô lời cảnh báo tương tự (Công 20:28-35), và khi viết các thư tín ông đưa ra thêm nhiều lời nhắc nhở (Rô 16:17-20; IICôr 11:1-15; Ga 1:1-9; Phi 3:17-21; Côl 2:1-23; ITim 4:1-16; IITim 3:1-4:22).
Ngay cả Giăng, “sứ-đồ của tình yêu”, cũng báo động về những kẻ địch lại Đấng Cứu Thế sẽ tìm cách làm tàn hại Hội thánh (IGi 2:18-29; IGi 4:1-6).
Nói cách khác, sứ-đồ không trông chờ thế giới ngày càng tốt hơn về mặt đạo đức hay thuộc-linh. Tất cả đều cảnh báo với Hội thánh biết rằng giáo-sư giả sẽ tràn vào các Hội thánh địa phương, giới thiệu giáo-lý giả và dẫn nhiều người đi sai lạc.
Thế giới sẽ ngày càng trở nên tối tăm nhưng lời Đức Chúa Trời sẽ càng tươi sáng.
Phi-e-rơ đưa ra 3 lời khẳng định về lời Đức Chúa Trời.
(1) Lời chắc chắn (IIPhi 1:19a).
Phi-e-rơ không có ý cho rằng Kinh Thánh chắc chắn hơn kinh nghiệm ông có được trên Núi Hóa Hình. Kinh-nghiệm của ông thật và đúng, lời ký thuật trong Kinh Thánh đáng tin-cậy.
Như chúng ta đã thấy, Hóa Hình là sự biểu-lộ của lời-hứa đã ban ra trong lời tiên-tri và bây giờ, lời-hứa này lại càng thêm chắc chắn vì những gì Phi-e-rơ đã kinh-nghiệm.
Sự Hóa Hình đã chứng-thực cho lời-hứa trong tiên-tri. Kẻ bội đạo ra sức làm giảm uy tín lời-hứa về ngày Chúa trở lại (IIPhi 3:3), nhưng Thánh Kinh vẫn vững chắc.
Vì trên hết lời-hứa về Nước thiên-đàng được tái xác nhận bởi Môi-se;Ê-li; Con Đức Chúa Trời và Đức Chúa Cha! Và Đức Thánh Linh đã chép những tường thuật này cho Hội thánh đọc!
“Sự chứng-cớ của Đức Giê-hô-va là chắc chắn” (Thi 19:7).
“Hỡi Đức Giê-hô-va, các chứng-cớ Ngài rất là chắc chắn” (Thi 93:5).
“Các giềng mối Ngài đều là chắc chắn” (Thi 111:7).
”Vì vậy, tôi xem các giềng mối Chúa về muôn vật là phải tôi ghét mọi đường giả dối” (Thi 119:128).
Thật thú vị khi đặt IIPhi 1:16 và IIPhi 1:19 lại với nhau: “Vì chúng ta không theo những chuyện hoang đường... Chúng ta càng tin lời các đấng tiên-tri là chắc chắn”.
Khi đi lại, tôi thường gặp những người sốt sắng cúng bái tại phi trường, họ mời tôi mua sách của họ. Tôi luôn từ chối vì tôi có lời vững chắc của Đức Chúa Trời và không cần những chuyện huyễn của con người. “Rơm rạ há xen vào với lúa mì sao” (Giê 23:28).
Nhưng ngày kia tôi bắt gặp một trong những quyển sách ấy, quyển sách của ai bỏ quên trong phòng dành cho nam giới, tôi quyết định cầm theo và đọc. Có ai tin được những câu chuyện hoang đường như vậy.
Quyển sách nói rằng nó dựa trên nền tảng Kinh Thánh, nhưng tác-giả đã bóp méo Kinh Thánh đ ến nỗi những câu được trích cuối cùng chỉ mang nghĩa theo như điều người viết muốn. Quả thật là những chuyện khéo đặt để! Tuy nhiên bất kỳ ai tin những lời dối trá ấy đều bị những lớp vỏ bọc ấy làm cho chết đời sống thuộc-linh.
(2) Lời soi sáng (IIPhi 1:19b).
Phi-e-rơ gọi thế-gian là “nơi tối tăm”, nhưng từ ngữ ông dùng mang nghĩa “nơi âm u”. Đó là bức tranh nói đến cái hầm nhớp nhúa hay đầm lầy tối tăm.
Lịch-sử loài người bắt đầu trong ngôi vườn phước hạnh, nhưng ngày nay ngôi vườn ấy là một vũng lầy u tối. Điều bạn thấy khi nhìn hệ-thống thế giới là tín hiệu cho thấy tình-trạng thuộc-linh trong lòng bạn.
Chúng ta vẫn nhìn thấy sự đẹp đẽ trong sự tạo dựng của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta không thấy sự đẹp đẽ nào trong con người có liên quan đến sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Phi-e-rơ không thấy thế gian này là khu vườn Ê-đen, chúng ta cũng không.
• Đức Chúa Trời là sự sáng và lời Ngài là sự sáng. “
“Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, ánh sáng cho đường lối tôi” (Thi 119:105).
Khi Chúa Giê-xu Christ bắt đầu thi hành chức-vụ, “Dân ấy ngồi trong chỗ tối tăm, đã thấy ánh sáng lớn” (Mat 4:16).
Ngài đến trong thế-gian này là rạng đông của ngày mới (Lu 1:78).
Cơ-đốc nhân chúng ta là ánh sáng của thế giới (Mat 5:14-16), quyền lợi và bổn-phận chúng ta phải nắm vững lời sự sống - ánh sáng của Đức Chúa Trời - để người ta có thể nhìn thấy con đường sự sống và được cứu (Phi 2:14-16).
Là người tin Chúa, chúng ta phải lưu ý lời Đức Chúa Trời và để cho lời ấy điều hướng cuộc sống chúng ta. Đối với kẻ vô-tín, mọi vật ngày càng trở nên tối tăm, cho đến khi kết thúc trong sự tối tăm đời-đời. Nhưng con-dân Đức Chúa Trời đang trông-đợi sự tái-lâm của Chúa Giê-xu Christ và bình minh của ngày mới sáng láng.
Các giáo-sư giả mỉa mai sự trở lại của Đấng Cứu Thế và bình minh của ngày mới, nhưng Phi-e-rơ khẳng định chân-lý của lời Đức Chúa Trời.
“Nhưng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm” (IIPhi 3:10).
Trước khi trời hửng sáng, “ngôi sao mai” (sao ngày) chiếu sáng rực rỡ báo hiệu buổi bình minh ló dạng. Đối với Hội thánh, Chúa Giê-xu là “sao mai sáng chói” (Kh 22:16). Lời-hứa về sự trở lại của Ngài chiếu soi rực rỡ, cho dù ngày có tối tăm như thế nào đi nữa (Dân 24:17).
Ngài cũng là “mặt trời công-nghĩa” chữa lành cho kẻ tin Ngài nhưng đoán phạt kẻ vô-tín (Ma 4:1-2).
Chúng ta có bổn-phận phải biết ơn vì lời vững chắc và sáng láng của Đức Chúa Trời và chúng ta phải có bổn-phận phải luu tâm đến lời Kinh Thánh trong những ngày tối tăm là dường nào!
(3) Lời được Thánh Linh cảm động (IIPhi 1:20-21).
Đây là một trong 2 câu Kinh Thánh quan-trọng khẳng định sự hà hơi của Thiên Chúa trên lời Đức Chúa Trời. Câu Kinh Thánh khác ở trong IITim 3:14-17. Phi-e-rơ khẳng định rằng Kinh Thánh không do con người viết ra theo ý tưởng và văn tự của họ, nhưng được viết bởi người của Đức Chúa Trời được “cảm động bởi Đức Thánh Linh”.
Chữ cảm động có nghĩa “được mang đi theo, như chiếc thuyền được gió mang đi” Thánh Kinh được “Đức Chúa Trời hà hơi” Lời Kinh Thánh không phải do con người phát minh ra.
Lại nữa, Phi-e-rơ bác bỏ các giáo-lý của kẻ bội đạo. Họ dạy “lời hư không” (IIPhi 2:3) và bóp méo Kinh Thánh để làm cho Kinh Thánh thành ra ý nghĩa khác. (IIPhi 3:16). Họ phủ nhận lời-hứa về sự Đấng Cứu Thế trở lại (IIPhi 3:3-4), và do vậy họ phủ nhận chính lời tiên-tri trong Kinh Thánh.
Vì Thánh Linh ban cho chân-lý, chỉ có Thánh Linh mới có thể dạy lời chân-lý và giải nghĩa cách chính xác (ICôr 2:14-15). Dĩ nhiên, mọi giáo-sư giả đều tuyên-bố rằng họ được “Thánh Linh dẫn dắt”, nhưng lời Đức Chúa Trời họ nắm giữ chẳng bao lâu sẽ vạch trần họ ra.
Vì Kinh Thánh không được ban cho theo ý muốn con người nên không thể hiểu theo ý muốn con người. Ngay cả Ni-cô-đem sùng đạo, một thầy dạy đạo hàng đầu giữa vòng người Do-thái, cũng không biết những giáo-lý căn-bản nhất trong lời Đức Chúa Trời (Gi 3:10-12).
Trong IIPhi 1:20, Phi-e-rơ không có ý ngăn cấm việc nghiên-cứu Kinh Thánh riêng tư.
Môt số nhóm tôn-giáo đã dạy rằng chỉ có “những nhà lãnh-đạo tinh thần” mới có thể giải thích Kinh Thánh, và họ đã dùng câu này làm lý-lẽ binh vực cho mình.
Phi-e-rơ không viết lời giải kinh, nhưng ông viết Kinh Thánh nguyên gốc: lời ấy do Đức Thánh Linh qua những người thánh của Đức Chúa Trời. Và vì lời Kinh Thánh ra từ Đức Thánh Linh nên phải được Thánh Linh dạy dỗ.
Chữ ý riêng có nghĩa “tự mình” hay “của riêng bản thân”. Vì cả Kinh Thánh đều được Đức Thánh Linh hà hơi nên mọi phần Kinh Thánh phải “nối kết với nhau” và không ai được chia cắt một lời Kinh Thánh nào ra khỏi những phần khác.
Bạn có thể dùng Kinh Thánh để chứng-minh hầu như bất cứ điều gì nếu bạn tách những câu này ra khỏi nội dung phù hợp, đó chính xác là giải pháp các giáo-sư giả dùng.
Phi-e-rơ nói rằng lời-chứng của các sứ-đồ xác nhận lời tiên tri trong Kinh Thánh chẳng có sứ-điệp nào mâu thuẫn cả. Do đó, cách duy nhất các giáo-sư giả có thể “chứng-tỏ” giáo-lý sai lầm của họ đó là họ đã dùng sai Lời Đức Chúa Trời.
Những bản văn được tách rời ra khỏi nội dung văn mạch trở thành những lý-do bào chữa.
Lời Đức Chúa Trời được viết cho người dân bình thường, chớ không dành cho các giáo-sư thần-học.
Tác-giả nghĩ rằng người dân thường có thể đọc, hiểu, và ứng dụng Kinh Thánh theo sự hướng dẫn của cùng một Đức Thánh Linh đã hà hơi trên Kinh Thánh.
Con cái Chúa khiêm-nhường có thể học biết về Đức Chúa Trời khi đọc và suy ngẫm lời Ngài người ấy không cần “các chuyên gia” chỉ cho họ thấy chân-lý. Tuy nhiên, điều này không phủ nhận chức-vụ của các thầy dạy đạo trong Hội thánh (Êph 4:11), những người đặc biệt có ơn giải thích và ứng-dụng lời Kinh Thánh.
Cũng không phủ nhận “sự khôn-ngoan tập thể” của Hội thánh trải qua các thời đại, các giáo-lý này đã được xác định và trau chuốt. Các thầy dạy đạo và các bài tín-điều có chỗ đứng riêng, nhưng chúng không được choán mất quyền hạn của lời Đức Chúa Trời trên lương-tâm của cá nhân người tin Chúa.
Cho đến hừng đông ló dạng, chúng ta phải chắc rằng tình yêu dành cho sự hiện đến của Ngài giống như sao mai chiếu sáng trong lòng chúng ta (IIPhi 1:19). Nếu không yêu mến sự hiện đến của Ngài, chúng ta sẽ không tìm kiếm trông-đợi Ngài và chính lời Chúa gìn giữ cho sự trông-đợi ấy luôn tươi sáng.
Con người chết đi, nhưng lời Chúa luôn sống. Kinh nghiệm qua đi, nhưng lời Chúa còn lại. Thế-gian càng tăm tối, nhưng ánh sáng của Kinh Thánh cứ sáng-tỏ hơn. Người tin Chúa xây dựng cuộc đời mình trên Lời Đức Chúa Trời và tìm kiếm sự trở lại của Đấng Cứu-Rỗi chắc chắn không bị các giáo-sư giả dẫn đi lầm lạc. Người ấy được Thánh Linh dạy dỗ và đặt nền-tảng trên Lời Đức Chúa Trời.
Sứ-điệp của Phi-e-rơ ấy là, “Hãy tỉnh thức - và nhớ lấy! Hội thánh ngủ là sân chơi của ma quỷ. Chính lúc con người ngủ mê, kẻ thù đến gieo cỏ lùng vào” (Mat 13:24).
Phi-e-rơ đã ngủ trên Núi Hóa Hình và gần như mất tất cả! Sứ-điệp của vị sứ-đồ đó là “Hãy thức canh!”“Hãy thức giấc và nhớ lấy!”
3. HÃY COI CHỪNG KẺ GIẢ MẠO (IIPhi 2:1-9)
Một trong những thủ đoạn làm tiền thành công nhất trong thế giới ngày nay là bán “tranh giả”. Ngay cả những phòng tranh tốt nhất và những bộ sưu tập tranh cá nhân cũng có mặt các bức tranh giả của những bậc thầy. Các nhà xuất bản cũng dự phần trong những trò đánh lừa, mua bán những bản thảo “thật” mà kỳ thực không thật chút nào.
Nhưng đồ giả mạo chẳng phải là mới. Sa-tan là “kẻ giả mạo vĩ đại” (IICôr 11:13-15), đã ráo riết hoạt động kể từ khi phỉnh dỗ được Ê-va trong vườn Ê-đen (Sa 3:1-7 IICôr 11:1-4). Nó có nhiều Cơ-đốc nhân giả (Mat 13:38; Gi 8:44), phúc-âm giả (Ga 1:6-9), và sự công-bình giả (Rô 9:30-10:4). Ngày kia, nó sẽ giới thiệu cho thế giới một đấng cứu-thế giả (IITês 2:1-17).
Dân tộc Y-sơ-ra-ên thường xuyên bị tiên-tri giả dẫn đi lạc đường. Ê-li phải đấu tranh chống lại các tiên-tri Ba-anh, nhưng các tiên-tri Ba-anh thúc đẩy sự thờ-lạy thần tượng. Chính những tiên-tri giả Do-thái gây ra nguy hại nhiều nhất vì họ tuyên bố thay cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Cả tiên-tri Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên đều vạch trần công việc giả trá này, nhưng dân-sự làm theo y như các tiên-tri giả. Tại sao như vậy? Vì tôn-giáo của tiên-tri giả dễ theo, thoải mái và được nhiều người yêu chuộng. Việc các tiên-tri giả rao-truyền sự bình-an giả tạo không làm cho dân chúng lo-lắng (Giê 6:14).
Đó là sứ-điệp dân sự muốn nghe!
Các sứ-đồ và tiên-tri lập nền móng Hội thánh và rồi qua đi (Êph 2:20). Đây là lý-do tại sao Phi-e-rơ viết về các giáo-sư giả, hơn là viết về tiên-tri giả, vì vẫn còn có thầy dạy đạo trong Hội thánh. Không chắc gì các con cái Chúa trong Hội thánh chịu lắng nghe “một tiên-tri”, nhưng họ sẽ nghe một thầy dạy lời Đức Chúa Trời. Sa-tan luôn dùng phương cách ấy để thành công.
Để nhắc nhở chúng ta phải tỉnh thức, Phi-e-rơ đưa ra 3 khía-cạnh về chủ-đề các giáo-sư giả trong Hội thánh.
1. Chân tướng của giáo-sư giả (IIPhi 2:1-3)
Đây không phải là bức tranh đẹp đẽ gì! Khi đọc thư Giu-đe bạn sẽ thấy tác-giả dùng ngôn ngữ tương tự, ngôn từ sống động. Phi-e-rơ biết rằng chân-lý của Lời Đức Chúa Trời và giáo-lý sai lầm của những kẻ theo tà-giáo không thể cùng tồn tại được.
Không thể có thỏa hiệp về phía Phi-e-rơ được chẳng khác gì một nhà giải phẫu có thể thỏa hiệp với khối ung thư trong cơ thể người bệnh.
• Lừa Dối (IIPhi 2:1a).
Đây là chủ đề xuyên suốt chương này. Trước tiên, sứ-điệp của các giáo-sư giả là giả tạo Phi-e-rơ gọi những điều họ dạy là “đạo dối làm hại”. Chữ đạo dối nguyên nghĩa của nó là “chọn lựa”, nhưng rồi nó biến thành “một giáo phái, một bè đảng”. Cổ vũ cho một tinh thần bè đảng trong Hội thánh là công việc của xác thịt (Ga 5:20).
Bất cứ khi nào một con cái Chúa nói với anh em khác rằng, “Anh đứng về phe của tôi hay phe của mục-sư?” người ấy đang khuyến khích tinh thần phe đảng và gây ra chia-rẽ trong Hội thánh. Giáo-sư giả buộc bạn phải chọn lựa giữa giáo-lý của họ hoặc giáo-lý của đức-tin Cơ-đốc chân-chính.
Không chỉ họ có sứ-điệp sai nhưng phương cách trình bày sứ-điệp cũng sai. Thay vì công khai tuyên-bố điều mình tin, họ vào trong Hội thánh dưới những lớp sơn giả tạo và gây cho người khác có ấn-tượng rằng họ đi đúng theo đức-tin Cơ-đốc.
“Họ bí mật đưa vào giáo-lý của mình” dịch theo nghĩa đen. Họ không loại bỏ chân-lý ngay tức thì họ chỉ đặt lời dạy sai trật bên cạnh chân-lý và khiến người ta có ấn tượng rằng họ tin những điều căn-bản của đức-tin. Từ lâu, họ đã dời đổi giáo-lý thật và thế chỗ bằng giáo-lý giả của họ.
Trong IIPhi 2:3, Phi-e-rơ cho chúng ta thấy rằng giáo sư giả dùng “lời dối trá”. Trong Hy-văn có chữ plastos, từ đó có chữ tiếng Anh là plastic (chất dẻo). Những lời nói bằng chất dẻo! Lời nói bạn có thể uốn nắn thành ra nghĩa theo ý muốn của bạn! Giáo sư giả dùng cách nói của bạn, nhưng họ không dùng ý nghĩa của bạn.
Họ nói về “sự cứu rỗi”, “sự linh cảm”, và những lời lạ lùng của đức tin Cơ-đốc nhưng họ không nói như ý chúng ta muốn nói. Các tín-hữu non trẻ và không được dạy dỗ nghe lời giảng hay đọc sách của những giáo-sư giả này nghĩ rằng những người này sâu nhiệm trong đức-tin, nhưng kỳ thật họ không phải.
Sa-tan là kẻ nói dối và các sứ-giả của nó cũng là những kẻ nói dối. Họ dùng Kinh Thánh, không phải để soi sáng nhưng để đánh lừa. Họ làm theo kiểu mẫu Sa-tan đã lừa dối Ê-va trong vườn Ê-đen (Sa 3:1-6). Trước tiên, nó nêu thắc mắc lời Đức Chúa Trời - “Mà chi, Đức Chúa Trời có phán?” Sau đó nó chối bỏ lời Đức Chúa Trời - “Hai ngươi sẽ chẳng chết đâu”. Cuối cùng, nó thay thế bằng lời dối trá của nó - “Hai ngươi sẽ giống như Đức Chúa Trời”
Hãy nhớ rằng các giáo-sư giả không dốt nát lời Kinh Thánh đâu, như A-bô-lô chẳng hạn (Công 18:24-28). Họ biết chân-lý nhưng họ cố tình chối bỏ. Tôi đọc một bài viết về một mục-sư theo chủ nghĩa tự-do được yêu cầu đọc một bài báo về “Quan-điểm về sự xưng-nghĩa của Phao-lô” tại hội đồng bồi linh mục-sư. Ông ta đọc bài báo xuất sắc nói lên chân-lý của Phúc-Âm và sự xưng công-bình bởi đức-tin.
Một người bạn nói với ông ta sau giờ nhóm, “Tôi đã không biết ông tin điều đó.”
Ông ấy đáp, “Tôi không tin điều đó. Họ không yêu cầu tôi nói lên quan-điểm của của tôi về sự xưng công-bình. Họ yêu cầu tôi đọc quan-điểm của Phao-lô!”
• Chối Bỏ (IIPhi 2:1b).
Các giáo-sư giả được mọi người biết đến vì họ chối bỏ hơn là những gì họ khẳng định. Họ chối bỏ sự hà hơi của Kinh thánh, tội-lỗi của con người, sự chết đền tội của Chúa Giê-xu Christ trên thập-tự giá, sự cứu-rỗi chỉ bởi đức-tin, và sự thực hữu của hình phạt đời-đời.
Đặc biệt họ phủ nhận thần-tính của Chúa Giê-xu Christ, vì họ biết rằng nếu họ có thể gạt bỏ được thần-tính của Ngài họ có thể tiêu diệt toàn bộ chân-lý Cơ-đốc. Cơ-đốc giáo thuộc về Chúa Cứu Thế và nếu Ngài không phải theo như điều Ngài đã phán, không còn có đức-tin Cơ-đốc nữa.
Phải nói rõ rằng các giáo-sư giả là những kẻ không được cứu. Họ được sánh với loài chó, loài heo, chớ không phải là chiên (IIPhi 2:22). Giu-đe cũng miêu-tả họ như vậy, trong Giu 1:19 ông viết, “họ không có Đức Thánh Linh”.
Nếu người nào không có Thánh Linh ngự bên trong, người đó không phải là con Đức Chúa Trời (Rô 8:9). Người ấy có thể giả vờ được cứu và thậm chí còn trở nên thuộc-viên hay một chức-viên trong Hội thánh, nhưng cuối cùng Chúa sẽ chối bỏ người.
Chúa đã “mua” những người này với mục đích gì? Sự thật Chúa Giê-xu Christ đã chết vì Hội thánh (Êph 5:25), Ngài cũng chết vì tội-lỗi của cả thế-gian (IGi 2:2). Ngài là nhà buôn mua toàn cánh đồng (thế-gian) để có thể sở hữu kho tàng ẩn giấu trong đó (Mat 13:44).
Khi đến việc ứng dụng, sự cứu-chuộc của Chúa được hạn chế cho những người tin Ngài. Nhưng khi đến việc hiệu quả, sự chết của Ngài có hiệu quả cho toàn thế-gian. Ngài mua-chuộc cả những người chối bỏ và phủ nhận Ngài! Điều này làm cho sự đoán-phạt của họ càng nặng nề.
Ngay cả những Cơ-đốc nhân tốt và yêu mến Chúa có thể không đồng ý về những điểm tốt đẹp của giáo-lý, nhưng tất cả họ đều đồng ý về đời sống và chức-vụ của Chúa Giê-xu Christ. Ngài là Con Đức Chúa Trời và là Đức Chúa Con. Ngài là Đấng Cứu-Rỗi duy nhất. Phủ nhận điều này là tự kết tội linh-hồn bạn.
• Buông Tuồng (IIPhi 2:2).
Những cách độc hại có nghĩa “cách cư xử bừa bãi”. Giu-đe lên án các giáo-sư giả đã “đổi ơn Đức Chúa Trời ra việc tà ác” (Giu 1:4). Bây giờ chúng ta hiểu tại sao họ phủ nhận chân-lý của đức-tin Cơ-đốc: họ muốn thỏa mãn tham dục của mình và làm điều đó dưới lớp vỏ tôn-giáo. Tiên-tri giả trong thời Giê-rê-mi đã phạm cùng một tội như vậy (Giê 23:14,32).
Sự việc có nhiều người theo gương xấu là bằng-chứng cho thấy con người thích điều sai hơn là chân-lý, thích xác thịt hơn là thiêng-liêng. Các giáo-sư giả rất thành công trong công việc của họ! Họ có những con số thống kê hấp dẫn để báo cáo và có nhiều đám đông tụ tập nghe họ! Nhưng những con số thống kê không phải là bằng-chứng của tính chân-thật.
Con đường khoảng khoát dẫn đến sự hư-mất lại có nhiều người (Mat 7:13-14). Nhiều người tuyên bố rằng họ là tôi-tớ thật của Chúa Cứu Thế, nhưng họ sẽ bị bỏ ra trong ngày cuối cùng (Mat 7:21-23).
Điều gì sẽ xảy ra cho những người theo họ?
Trước tiên, họ làm ô danh Chúa Cứu Thế. Đức-tin Cơ-đốc phải bị gièm pha vì nếp sống ô uế của họ.
“Họ xưng mình biết Đức Chúa Trời, nhưng theo những việc làm thì đều từ chối Ngài, thật là đáng ghét trái nghịch và không thể làm một việc lành nào hết.” (Tit 1:16).
“Vì bởi cớ các ngươi nên danh Đức Chúa Trời bị nói phạm trong vòng người ngoại” (Rô 2:24).
Vài điều ngăn trở mục đích của Đấng Christ như những tiếng đồn xấu của những người tự xưng là Cơ-đốc nhân thuộc-viên của Hội thánh chính thống.
• Tham-Lam (IIPhi 2:3).
Giáo sư giả quan tâm đến một việc: kiếm tiền. Họ bóc lột (“trục lợi”) những người không hiểu biết và dùng tôn giáo của họ làm “chiếc áo choàng che sự tham lam” (ITês 2:5). Chúa chúng ta là Con Người nghèo thiếu, các sứ-đồ cũng vậy tuy nhiên họ hy sinh chính mình để hầu-việc người khác.
Tiên-tri giả là những người giàu có khéo léo dùng người khác để phục vụ cho mình! Tiên-tri Mi-chê mô tả các tiên-tri giả trong thời của ông: “Các quan trưởng xét đoán vì kẻ hối lộ, các thầy tế-lễ dạy dỗ vì tiền công, còn các kẻ tiên-tri nói tiên-tri vì bạc” (Mi 3:11). Chắc chắn người làm công đáng nhận được tiền công của mình (Lu 10:7), nhưng tốt hơn động cơ hầu việc của người nên vượt ra khỏi phạm vi tiền bạc.
Người ta thường nói rằng sự vô luân, tham tiền bạc, và kiêu ngạo đã làm tàn hại nhiều người. Các giáo-sư giả phạm cả ba tội trên!
Họ dùng “lời dễ bóp méo” cũng như “lời hư đản” (IIPhi 2:18) hấp dẫn và gây ảnh hưởng các nạn nhân của họ. Họ xu nịnh người có tội và nói cho họ những lời làm lợi cho bản ngã mà họ muốn nghe (xem sự tương phản trong ITês 2:5).
Họ sẽ dùng những lời êm tai dễ nghe để quyến dụ người khác lìa bỏ chân-lý của Kinh Thánh mà xây hướng về chuyện huyễn (IITim 4:1-4). Tôn-giáo có thể là một công-cụ mạnh mẽ để bóc lột người yếu đuối, và các giáo-sư giả dùng tôn-giáo để đạt được những đều họ mong muốn. Họ không phải là những người hầu-việc, nhưng là những nhà buôn.
Những sứ giả thật của Chúa Giê-xu Christ không che giấu điều gì: cuộc đời và chức-vụ của người là quyển sách mở ra. Người rao giảng chân-lý bằng tình yêu và không bóp méo Kinh Thánh để làm lợi cho ý tưởng vị kỷ của mình. Người không tâng bốc kẻ giàu hoặc đề cao chức-vụ chỉ vì lợi lộc.
Phao-lô mô-tả sứ-giả thật trong IICôr 4:2: “Nhưng chúng tôi từ bỏ mọi đều hổ thẹn giấu kín. Chúng tôi chẳng theo điều dối gạt và chẳng giả mạo lời Đức Chúa Trời, nhưng trước mặt Đức Chúa Trời chúng tôi tỏ bày chân-lý, khiến lương-tâm mọi người cho chúng tôi là đáng chuộng.”
Hãy đối chiếu những gì Phi-e-rơ mô-tả trong chương này và những gì Giu-đe viết bạn sẽ thấy sự khác nhau. Chúng ta cần phải tỉnh thức và từ chối không ủng hộ những chức-vụ bóc lột người khác và phủ nhận Đấng Cứu-rỗi.
2. Các giáo-sư giả đã bị hủy diệt (IIPhi 2:4-6,9)
Phi-e-rơ không thấy có hy-vọng nào dành cho kẻ bội đạo: án phạt của họ đã được đóng ấn.
Thái-độ của họ khác với những người theo tôn-giáo ngày nay “chịu đựng” nói rằng, “Ồ, họ không thể đồng ý với chúng ta, nhưng có nhiều lối dẫn về thiên đàng”. Phi-e-rơ nói rõ rằng các giáo-sư giả “đã bỏ đường ngay” (IIPhi 2:15), có nghĩa họ đang đi đường sai lạc!
Sự đoán-phạt của họ là chắc chắn, cho dù điều đó chưa đến. Phiên xử án đã xong, nhưng bản án chưa được thực hiện. Phi-e-rơ khẳng định, sự hư-mất của họ chẳng ngủ nhưng nó sẽ đến đúng kỳ.
Trong phần này, Phi-e-rơ chứng-tỏ rằng cuối cùng sự đoán-phạt sẽ đến, cho dù tội-nhân có cảm thấy an-ninh như thế nào đi nữa. Ông dùng 3 thí-dụ để xác minh chân-lý này. (Giu 1:6-8).
(1) Các Thiên-sứ sa ngã (IIPhi 2:4).
Chúng ta ao ước rằng chúng ta biết nhiều hơn về sự tạo dựng các thiên-sứ và sự sa ngã của Lu-ci-phe cùng đồng bọn, nhưng hầu hết các chi tiết bị bao phủ trong bí ẩn. Nhiều học-giả Thánh Kinh tin rằng Ês 14:12-15 mô tả về sự sa ngã của Lu-ci-phe, đấng cao nhất trong các thiên-sứ.
Một số học giả cảm thấy rằng Êxe 28:11-19 cũng bàn đến cũng môt chủ đề. Rõ ràng Lu-ci-phe là đại diện của Đức Chúa Trời cai-quản các đoàn thiên-binh, nhưng chính sự kiêu-ngạo khiến người làm mình ra bằng Đức Chúa Trời. Kh 12:4 cho thấy có lẽ một phần ba thiên-sứ sa ngã theo Lu-ci-phe, trở thành Sa-tan kẻ thù của Đức Chúa Trời.
Các thiên-sứ sa ngã này bây giờ ở đâu?
Chúng ta biết rằng Sa-tan tự-do và đang hành động trong thế-gian (IPhi 5:8), và có một đội quân giúp việc hùng hậu (Êph 6:10-12), có lẽ là một số thiên-sứ sa ngã. Nhưng Phi-e-rơ nói rằng một số thiên-sứ bị nhốt tại Tartarus (“địa-ngục”), tiếng Hy-lạp có nghĩa là âm-phủ.
Tartarus có thể là một phần đặc biệt của địa-ngục nơi các thiên-sứ sa ngã bị xiềng trong những tầng tối tăm chờ đợi phán-xét cuối cùng.
Không cần thiết phải tranh luận những điều mầu-nhiệm ẩn giấu trong câu Kinh Thánh để có được sứ-điệp chính: Đức Chúa Trời phán-xét sự nổi loạn và sẽ không loại trừ những kẻ chối bỏ ý muốn của Ngài. Nếu Đức Chúa Trời phán xét các thiên-sứ cao-trọng hơn con người nhiều lần, chắc chắn Ngài cũng sẽ đoán-phạt những người chống nghịch lại Ngài.
• Thế Giới Cổ Xưa (IIPhi 2:5).
Sa 6:3 cho thấy Đức Chúa Trời chờ đợi 120 năm trước khi Ngài đổ cơn nước lụt trên con loài người. Suốt thời gian ấy, Nô-ê làm người “rao báo” sự công-bình của Đức Chúa Trời.
Nếu bạn muốn đọc sự mô-tả về thế gian trước cơn nước lụt, hãy đọc Rô 1:18 trở đi. Văn minh ngoại bang đã trở nên băng hoại đến nỗi Đức Chúa Trời cần phải tẩy sạch trái đất. Ngài chỉ cứu có 8 người, Nô-ê và gia đình của ông, vì họ đặt đức-tin nơi Đức Chúa Trời (Hêb 11:7).
Nhưng chẳng có ai tin sứ-điệp Nô-ê rao-giảng! Chúa Giê-xu nói rõ rằng con người đang sống thỏa thích cho đến ngày Nô-ê và gia đình của ông vào tàu! (Lu 17:26-27). Rất có thể có nhiều “người chuyên môn” nhạo cười Nô-ê và bảo-đảm với mọi người rằng một cơn bão kèm theo mưa to là không thể xảy ra được.
Có ai đã từng thấy cơn mưa ấy chưa? Kẻ vô đạo trong thời Phi-e-rơ dùng một cách lý-luận như vậy để “chứng-tỏ” rằng ngày của Chúa sẽ không xảy ra (IIPhi 3:3).
Khi bạn so sánh thế giới của chúng ta với thế giới của Nô-ê, bạn sẽ kinh ngạc thấy một số điểm tương đồng. Dân số đang gia tăng (Sa 6:1), thế giới đầy dẫy độc ác (Sa 6:5) và bạo lực (Sa 6:11,13). Tình-trạng vô luật-pháp lan tràn. Người tin Chúa thật thuộc thiểu số, chẳng ai quan tâm đến họ! Nhưng cơn nước lụt đến toàn bộ dân số của thế-gian bị tiêu diệt. Đức Chúa Trời quả thật đoán phạt những người từ khướt chân-lý của Ngài.
• Sô-đôm và Gô-mô-rơ (IIPhi 2:6).
Câu chuyện ghi lại trong Sa 18:1-19:38, ý kiến của Đức Chúa Trời về người dân trong các thành phố này chép trong Sa 13:13: “Vả dân Sô đôm là độc ác và kẻ phạm-tội trọng cùng Đức Giê-hô-va”. Phi-e-rơ nói rằng họ là “những người gian ác” và Giu-đe nói rằng họ “ăn ở luông tuồng” (Giu 1:7).
Dân thành Sô-đôm có hành vi ô uế và cư xử trái phép mỗi ngày (IIPhi 2:7-8). Vì luật-pháp Môi-se chưa được ban xuống, nên chữ trái luật-pháp có thể nói đến luật-lệ Do-thái. Việc làm ô uế “trái luật-pháp” của họ là gì? Chúng trái với tự nhiên (Rô 1:24-27).
Tội-lỗi công khai của thành Sô-đôm và các thành phố khác là tình dục trái với tự nhiên, đồng dục nam, tội-lỗi bị Kinh Thánh lên án (Rô 1:24-27; ICôr 6:9; Lê 18:22).
Mặc dù lời cầu-nguyện can thiệp của Ap-ra-ham (Sa 18:22) và lời cảnh báo của Lót vào phút cuối cùng, dân thành Sô-đôm vẫn bị tiêu diệt bằng lửa và diêm sinh. Lại nữa, cho đến chính giây phút Lót lìa khỏi thành Sô đôm, ân thành Sô-đôm vẫn tin tưởng mọi sự đều bình-an nhưng rồi lửa đã đổ xuống (Lu 17:28-29).
Đức Chúa Trời không bỏ qua cho họ, ngày nay Ngài cũng không tha thứ cho tội-nhân cố ý từ chối chân-lý của Ngài và chối bỏ Con Ngài. Đức Chúa Trời chôn vùi Sô-đôm và Gô-mô-rơ, có lẽ ở dưới Biển Chết. Hai thành phố này là tấm gương cho tội-nhân ngày nay phải nhận biết cơn thạnh nộ sắp đến.
Sau khi trích ba gương của cơn đoán phạt chắc chắn, Phi-e-rơ ứng dụng bài học cho chủ đề gần, giáo-sư giả (IIPhi 2:9b). Đức Chúa Trời đã để dành những kẻ không công-bình cho hình phạt đặc biệt trong ngày phán xét.
Giáo-sư giả dường như có vẻ thành công (vì có “nhiều người theo họ), nhưng đến cuối cùng. họ sẽ bị đoán-phạt. Sự đoán-phạt dành cho họ đã định sẵn bây giờ (“chẳng ngủ”, IIPhi 2:3), và những gì được sắm sẵn sẽ dành cho ngày cuối cùng.
Thật là một sự tương phản giữa giáo-sư giả và cái cái thật của Đức Chúa Trời! Chúng ta có cơ-nghiệp dành sẵn cho chúng ta (IPhi 1:4) vì Chúa Giê-xu Christ đang sửa soạn nơi ở cho chúng ta tại trên trời (Gi 14:1-6). Chúng ta không trông đợi cơn đoán-phạt nhưng tìm kiếm sự trở lại của Chúa để tiếp rước con-dân của Ngài về trong Nước vinh-hiển!
“Vì Đức Chúa Trời chẳng định sẵn cho chúng ta bị cơn thạnh nộ, nhưng cho được sự giải cứu bởi Chúa Giê-xu Christ chúng ta” (ITês 5:9).
Kế đến Phi-e-rơ lưu ý đến chính những người tin Chúa. Làm thế nào họ có thể trung-tín với Chúa khi sống trong một thế giới tội ác?
3. Con cái Chúa thật đã được buông tha (IPhi 2:5-9)
Mục đích của Phi-e-rơ không chỉ tố-cáo kẻ vô đạo nhưng ông cũng muốn khích-lệ các con cái Chúa thật. Một lần nữa ông đi ngược trở về với Kinh Thánh Cựu-ước và trích 2 ví-dụ của sự giải cứu.
• Nô-ê (IIPhi 2:5).
Con người đức-tin kinh-nghiệm sự giải c ứu gồm 2 khía-cạnh. Trước tiên, Đức Chúa Trời giải cứu ông thoát khỏi những sự băng hoại của thế giới chung quanh ông. Trải qua 120 năm, Nô-ê trung-tín công-bố Lời Đức Chúa Trời cho con người nhưng họ không tin. Ông và gia đình bị sự tối tăm về phương diện đạo đức và tâm-linh bao quanh, tuy nhiên họ luôn giữ niềm tin của mình luôn chiếu sáng.
Đức Chúa Trời không bảo vệ Nô-ê và gia đình của ông bằng cách tách rời họ ra khỏi thế-gian, nhưng Ngài giúp họ có thể giữ mình trong sạch giữa sự băng hoại. Bởi Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta cũng “lánh khỏi sự hư-nát của thế-gian bởi tư dục đến” (IIPhi 1:4).
Chúa chúng ta cầu-xin Cha trên trời, “Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế-gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác” (Gi 17:15). Hãy tưởng tượng Nô-ê và vợ nuôi nấng gia đình trong một thế giới gian ác đến nỗi họ không có lấy một người bạn cùng đức-tin nào cả! Tuy nhiên Đức Chúa Trời tìm 3 người vợ tin kính cho ba con trai của ông bà, và Đức Chúa Trời giữ gìn gia đình khỏi sự ô uế của thế-gian.
Nhưng Đức Chúa Trời cũng giải cứu Nô-ê và gia đình của ông ra khỏi cơn đoán phạt của thế-gian. Nước trong cơn nước lụt đem sự hủy diệt đến cho thế-gian chỉ nâng Nô ê và người nhà ông lên trên sự đoán-phạt. Trong chiếc tàu họ được bảo đảm an-toàn.
Trong thư tín đầu tiên, Phi-e-rơ đã thấy trong con tàu hình ảnh cứu-rỗi trong Chúa Giê-xu Christ (IPhi 3:20-22). Thế-gian đã bị “chôn” trong báp-têm của nước lụt, nhưng Nô-ê được nâng lên cao, bức tranh của sự sống lại và ơn cứu-rỗi.
Chắc chắn Phi-e-rơ bảo-đảm với độc-giả của ông rằng khi ngày đoán-phạt lớn xảy đến, họ sẽ được giữ bình-an. Chúa Giê-xu Christ là “chiếc tàu bình-an” của chúng ta. Ngài giải cứu chúng ta ra khỏi cơn thạnh nộ hầu đến (ITês 1:10)
Đức Chúa Trời phán hứa rằng thế-gian sẽ không bao giờ chịu đoán-phạt bằng nước lụt nữa, nhưng sẽ chờ đợi cơn đoán-phạt bằng lửa (IIPhi 3:10). Nhưng ai tin-cậy Đấng Christ sẽ không bao giờ gặp cơn đoán-phạt (Gi 5:24), vì Ngài đã gánh thay sự đoán-phạt của họ trên thập-tự giá.