top of page
1. KHÔNG CÓ SỰ YÊN NGHĨ CHO KẺ ÁC (IITês 1:1-12)
Các...
...Cơ-đốc nhân ở Tê-sa-lô-ni-ca biết ơn Đức Chúa Trời về bức thư của Phao-lô nhưng thư ấy không giải quyết ngay mọi vấn-đề của họ. Thật ra, cơn bắt bớ đã trở nên tệ hại hơn và một số tín-đồ nghĩ mình đang sống trong thời kỳ Đại nạn.
Thế rồi một bức thư cho là từ Phao-lô đã đến, tuyên-bố rằng Ngày của Chúa thật sự đến gần. Không cần phải nói, hội chúng đã bối rối và sợ hãi bởi viễn cảnh này.
Một số tín-hữu kết luận rằng ngày Chúa đến rất gần, họ phải từ bỏ những công việc mình và dành thời gian chờ đợi Ngài. Điều này có nghĩa là các thuộc-viên khác lại phải mang thêm gánh nặng chu-cấp cho họ. Sa-tan gia tăng giờ hoạt động, như sư tử, nó tìm cách cắn xé (IPhi 5:7-8) và như rắn, nó tìm cách lừa dối.
Chính vì để đáp-ứng những nhu-cầu này mà Phao-lô đã viết bức thư thứ hai. Ông bắt đầu bằng nhu-cầu cấp bách nhất của họ, sự bắt bớ họ đang trải qua vì cớ đức-tin mình. Trong chương 1, Phao-lô chia sẻ 3 điều khích-lệ với những người bạn chịu khổ của ông.
1. Điều khích lệ về sự ngợi-khen (IITês 1:1-4)
Sau khi chào hỏi các bạn mình, Phao-lô đi ngay vào một lời ngợi-khen Đức Chúa Trời về điều Ngài đã thực hiện trong đời sống họ. Phao-lô thực hiện lời khuyên của riêng ông: “Phàm việc gì cũng phải tạ-ơn Chúa” (ITês 5:8).
Bạn không thể không để ý những lời tạ-ơn được lặp lại của Phao-lô trong hai bức thư này (ITês 1:2; ITês 2:13; ITês 3:9; IITês 1:3; IITês 2:13). Không chỉ có sự cầu-nguyện làm thay đổi con người và hoàn-cảnh, mà sự ngợi-khen cũng vậy.
Có lần tôi đã giảng dạy một loạt bài học trong một Hội thánh về những công-cụ của Sa-tan để đánh bại Cơ-đốc nhân. Một trong những công-cụ này là hoạn-nạn, như trong trường hợp của Gióp. Nếu Sa-tan có thể đặt chúng ta trong những hoàn-cảnh khó-khăn, nó có thể làm suy yếu đức-tin chúng ta.
Tôi đã nói với lớp học buổi sáng của tôi “Một trong những vũ khí tốt nhất để chiến đấu với Sa-tan là sự ngợi-khen. Mặc cho sự đau đớn, Gióp đã có thể nói: ‘Đáng chúc phước thay danh của Chúa!’ vậy sau này mọi sự trở nên bất ổn và bạn bị cám-dỗ mất kiên-nhẫn, hãy đến với Đức Chúa Trời và dâng lời tạ-ơn.”
Tối hôm ấy, ngay trước khi lớp học bắt đầu, một phụ nữ chạy ào đến tôi và nói “Có kết quả rồi! Có kết quả rồi!” Và rồi bà kể cho tôi về buổi chiều của bà và mọi việc đã xảy ra. Câu chuyện của bà khó tin đến nỗi tôi có thể nghi ngờ nếu tôi đã không biết tính cách của bà. Bà nói với tôi: “Nhưng trong mọi điều đó tôi đã dâng lời cảm-tạ, và Đức Chúa Trời đã ban cho tôi ơn và sức mạnh tôi cần. Điều đó đã có kết quả. Sự ngợi-khen có kết quả!”
Rõ ràng các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã không xem mình quá thuộc-linh khi họ chịu-khổ, nhưng Phao-lô phát hiện ra điều Đức Chúa Trời làm giữa họ. Bạn và tôi là những người tệ nhất khi đánh giá đời sống của riêng mình.
Nhiều lần người khác có thể nhìn thấy sự tiến bộ về thuộc-linh trong khi bạn và tôi thiếu nó hoàn toàn. Vì những phước hạnh nào Phao-lô đã dâng lời tạ-ơn và do đó khích-lệ được các bạn ông?
a. Đức-tin họ đang tăng-trưởng (IITês 1:3a).
M ột đức-tin không chịu thử-nghiệm thì không thể được tin-cậy. Những tân tín-hữu phải trông-mong đức-tin mình được thử-thách, vì đây là cách Đức Chúa Trời xem xét quyết định của họ có thành thật hay không. Đức tin, giống như một cơ bắp, phải được vận động để trở nên mạnh mẽ hơn. Hoạn-nạn và sự bắt-bớ là những cách của Đức Chúa Trời để củng cố đức-tin chúng ta.
Một trong những cuốn sách tôi ưa thích là cuốn “Bí quyết thuộc-linh của Hudson Taylor” của tiến-sĩ và bà Howard Taylor. Trong cuốn sách đó bạn đọc được cách đức-tin của Hudson Taylor nơi Đức Chúa Trời tăng trưởng từ ngày đầu tiên đó mà ông quyết định sống chỉ bởi đức-tin nơi Đức Chúa Trời.
Ông học cách tin-cậy Đức Chúa Trời về những nhu-cầu hằng ngày và vì đức-tin của ông đã được thử-nghiệm, ông đã tăng-trưởng trong đức-tin và có thể tin-cậy Đức Chúa Trời về sự chu-cấp của Ngài đối với cả một tổ chức truyền-giáo. Đôi khi dường như Đức Chúa Trời đã lãng quên, nhưng Taylor tiếp tục cầu-nguyện và tin-cậy, và Đức Chúa Trời đã đáp lời.
Một đời sống dễ chịu có thể dẫn đến một đức-tin nông cạn. Những người đàn ông và phụ nữ cao trọng của đức-tin trong Hêb 11:1-40 đều chịu-khổ cách này hay cách khác, hoặc đã đối diện với những trở lực lớn, vì vậy đức tin của họ có thể tăng-trưởng, Phao-lô đã cầu-nguyện cho các tín-hữu ở Tê-sa-lô-ni-ca, để đức tin họ có thể được trọn vẹn (ITês 3:10), và giờ đây ông cảm-tạ Đức Chúa Trời về lời cầu-nguyện đã được nhậm.
b. Tình yêu của họ càng thêm lên (IITês 1:3b).
Một lần nữa đây là một sự đáp lời cầu xin trước đây của Phao-lô (ITês 3:12). Sự chịu-khổ có thể làm cho chúng ta trở nên vị-kỷ, nhưng khi sự chịu-khổ được hòa lẫn với ân-điển và đức-tin, nó sản sinh ra tình-yêu.
Đó là “đức-tin hành động bởi tình-yêu” (Ga 5:6). Khi Cơ-đốc nhân chịu-khổ, đức-tin họ thấu đến Đức Chúa Trời và tình-yêu của họ lan ra đến các tín-hữu của họ.
Thoreau có lần đã mô tả một thành phố như một nơi mà nhiều người “cùng cô đơn”. Những cư-dân của một khu nhà cao tầng có thể đang chịu-khổ nhiều và những người ở căn hộ kế cận không biết gì cả. Thế giới hiện đại của chúng ta có thể đề cao sự biệt riêng và cách ly về mặt thuộc-linh và cảm xúc thậm chí đến độ chúng ta nhìn xem những người khác chịu-khổ mà không thật sự quan tâm.
Nhưng đối với Cơ-đốc nhân, hoạn-nạn có thể giúp sản sinh tình-yêu dư dật. “Hãy xem cách họ yêu-thương nhau!” là lời thú nhận của thế-gian vô thần khi họ nhìn xem sự mầu-nhiệm của mối thông-công Cơ-đốc.
Các tín-hữu đầu tiên chỉ vâng-theo điều răn của Chúa “Hãy yêu-thương nhau”. Hoạn-nạn của riêng họ đã không cản trở được họ chia-sẻ tình yêu với người khác là những người đang chịu-khổ.
c. Sự nhịn-nhục của họ đang gia tăng (IITês 1:4).
Có lẽ “sự kiên-trì” sẽ là cách dịch tốt nhất của từ Hy-lạp này. “Hoạn-nạn sinh sự ch ịu đựng” (Rô 5:3 bản dịch nguyên văn). Bạn không trở nên nhịn-nhục và kiên-trì bằng cách đọc một cuốn sách (thậm chí sách này) hay lắng nghe một bài thuyết giảng. Bạn phải chịu-khổ.
Những tín-hữu này chịu đựng điều gì? Phao-lô đã sử dụng nhiều từ để mô tả hoàn-cảnh của họ: sự bắt bớ, có nghĩa là “những sự tấn công từ bên ngoài” hay “những thử thách”, những hoạn-nạn, theo nghĩa đen là “những áp lực” hay những nỗi ưu phiền là kết quả từ những thử thách, và sự khó-khăn (c.7) nghĩa là “bị ép vào một chỗ hẹp”. Cho dù chúng ta nhìn xem hoàn cảnh ấy cách ra sao, các Cơ-đốc nhân Tê-sa-lô-ni-ca đã không có một thời kỳ dễ chịu.
Nhưng Đức Chúa Trời không bao giờ để sự chịu-khổ bị vô-ích. Thử-thách có lợi cho chúng ta chớ không nghịch lại chúng ta (Gia 1:1-5; IICôr 4:15-18). Nếu chúng ta tin-cậy Đức Chúa Trời và đầu-phục Ngài, vậy thử thách sẽ sinh ra sự nhịn nhục và sự trưởng-thành trong đời sống chúng ta.
Nếu chúng ta phản đối và chống lại hoàn cảnh của mình, vậy chúng ta sẽ vẫn không trưởng-thành và thiếu nhịn-nhục. Đức Chúa Trời cho phép thử-thách để Ngài có thể gây-dựng tính cách trong đời sống chúng ta. Ngài có thể khiến một cái nấm mọc lên qua đêm, nhưng phải mất nhiều năm – và nhiều bão tố– để tạo nên một cây sồi to lớn.
d. Lời-chứng của họ giúp ích những người khác (IITês 1:4a).
“Vì vậy, giữa các Hội thánh của Đức Chúa Trời, chúng tôi khoe về lòng nhịn-nhục và đức-tin anh em” (IITês 1:4). Hoạn-nạn không chỉ có thể giúp chúng ta tăng-trưởng, nhưng sau đó chúng ta có thể giúp những người khác tăng-trưởng. Đức Chúa Trời khích-lệ chúng ta để chúng ta có thể khích-lệ người khác (IICôr 1:4-5). Chúng ta không phải là những bể chứa để nhận lấy và giữ lại, nhưng là những con kênh tiếp nhận và hương dẫn dòng chảy.
Từ được dịch là “đức-tin” trong câu 3,4 có thể được dịch là “sự trung-tín”. Thật ra, cả hai đi đôi nhau chúng ta bày tỏ đức-tin nơi Đức Chúa Trời bằng sự trung-tín của đời sống mình.
Các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã trung-tín với Chúa và với nhau, dù họ chịu đựng những khó-khăn, khi một người ở trong sự khó-khăn từ bỏ Chúa và Hội thánh, người đó chứng tỏ mình chưa bao giờ được tái-sinh hoặc đời sống thuộc-linh rất yếu đuối. Một Cơ-đốc nhân thật đang tăng-trưởng sẽ trung-tín, hành động những gì có thể.
Suốt Đệ nhị thế chiến, khi các địch quân xâm chiếm Bắc Phi, các giáo-sĩ đã phải chạy trốn và có một sự quan tâm lớn đối với các Hội thánh còn ở lại phía sau. Nhưng khi chiến tranh kết thúc và các giáo-sĩ trở về, họ khám phá những Hội thánh mạnh mẽ, phát triển. Những hoạn-nạn trong chiến tranh đã khiến Hội thánh tinh luyện, và giúp củng cố đức-tin của những tín-đồ thật. Đây thật là một sự khích-lệ đối với các Hội thánh thuộc thế giới tự-do.
Phao-lô có mọi lý-do để ngợi khen Đức Chúa Trời và dâng lời tạ-ơn về điều Đức Chúa Trời đang thực hiện trong đời sống của những Cơ-đốc nhân non trẻ này. Nhưng bạn có để ý rằng một yếu-tố đang thiếu – đó là hy-vọng?
“Đức-tin, hy-vọng và tình-yêu” đã tạo tính cách cho các tín-hữu này từ ban đầu (ITês 1:3), nhưng Phao-lô chỉ dâng lời tạ-ơn về đức-tin và tình yêu của họ. Điều này dẫn chúng ta đến sự khích-lệ thứ hai.
2. Điều khích-lệ về lời hứa (IITês 1:5-10)
Cho dù những hoàn-cảnh hiện tại của họ có thể khó-khăn ra sao đi nữa, các tín-hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã có một tương lai bảo-đảm và xán lạn. Thật ra, những hoạn-nạn của họ là bằng cớ, “một bằng-chứng rõ ràng”, rằng Đức Chúa Trời là công-bình, đang thực hiện kế hoạch vĩ đại của Ngài cho họ.
Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng hoạn-nạn chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời không quan tâm, khi mà điều ngược lại mới là đúng. Hơn nữa, cách chúng ta hành động trong kỳ thử thách chứng-tỏ với người khác rằng Đức Chúa Trời đang hành động (xem Phi 1:28-30 để có ví-dụ khác về nguyên-tắc này).
Ba kinh-nghiệm có liên quan đến những lời-hứa của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài.
(1). Phần thưởng (IITês 1:5)
“Anh em sẽ được kể là xứng đáng cho Nước Ngài, là vì Nước đó mà anh em chịu khổ” (IITês 1:5). Đây là một trong những mục đích của Đức Chúa Trời khi cho phép hoạn-nạn của họ xảy ra.
Điều đó không có ý cho rằng hoạn-nạn giành cho họ cái quyền đến thiên-đàng, vì chúng ta biết rằng họ được cứu nhờ đức-tin trong Đấng Christ (ITês 1:1-10. Từ ngắn “cũng” cho thấy sự xứng đáng này liên-hệ từng-trải hiện tại của họ với lối đi tương lai của họ vào trong Nước vinh-hiển của Đức Chúa Trời.
Bạn tìm thấy ý nghĩa tương tự trong IPhi 1:3-9.
Một ngày nào đó Chúa Giê-xu sẽ đảo ngược tình thế và những kẻ ác sẽ chịu-khổ trong khi các Cơ-đốc nhân được ban thưởng. Chúa chúng ta chưa bao giờ hứa với chúng ta rằng đời sống nơi đây sẽ dễ chịu thật ra, Ngài dạy rằng chúng ta sẽ phải đối diện những khó-khăn và chống chọi với những cuộc chiến. Nhưng Ngài cũng hứa một phần thưởng trong tương lai cho mọi kẻ trung-tín với Ngài (Mat 5:10-12).
(2). Sự báo trả (IITês 1:6-10)
Đức Chúa Trời sẽ báo trả tai họa cho kẻ hư-mất, nhưng sự yên nghỉ cho người được cứu.
“Báo trả” có nghĩa là “trả lại”. Chắc chắn, kẻ ác là những người bắt bớ những người tin kính luôn luôn không nhận sự báo trả của chính họ trong đời này. Thật ra sự thịnh vượng rõ ràng của kẻ ác và sự khó-khăn của người tin kính đã đặt ra một vấn-đề đối với nhiều người trong dân-sự Đức Chúa Trời. (Thi 73:1-28; Ha 1:1-17; Giê 12:1). Tại sao lại phải sống một đời sống tin kính nếu cuộc đời bạn chỉ kinh-nghiệm sự đau-khổ?
Là Cơ-đốc nhân chúng ta phải sống vì sự vĩnh cửu chớ không phải chỉ vì hiện tại. Thật ra, sống “bằng những giá-trị của sự vĩnh cửu trong tầm mắt” là điều khiến đời sống Cơ-đốc của chúng ta trở nên ý nghĩa hôm nay. Chúng ta bước đi bằng đức-tin, chớ không phải bởi mắt thấy.
Điều này nhắc nhở câu chuyện về 2 nông dân, một người là Cơ-đốc nhân và người kia là kẻ vô thần. Khi mùa gặt đến, kẻ vô thần chế nhạo người láng giềng tin kính vì rõ ràng Đức Chúa Trời đã không ban phước nhiều cho người ấy. Gia đình người vô thần không bị bệnh hoạn, các đồng ruộng của anh ta được một mùa gặt bội thu, và anh ta chắc chắn kiếm được nhiều tiền.
Kẻ vô thần nói: “Tôi nghĩ anh đã nói tin nơi Đức Chúa Trời và làm một Cơ-đốc nhân thì có lợi.”
Người tin Chúa đáp: “Thật sự có lợi. Nhưng Đức Chúa Trời không làm lợi cho dân Ngài vào tháng 9.”
Kẻ vô tín này đối diện với một tương lai nào?
Hãy xem những lời bi thảm Phao-lô sử dụng để mô tả nó: tai họa, sự báo thù, lửa hừng, hình phạt và sự hủy diệt đời-đời. Thế gian chối bỏ Đấng Christ sẽ nhận từ Đức Chúa Trời đúng những gì họ đã dành cho dân-sự Đức Chúa Trời! Khi Đức Chúa Trời báo trả, Ngài trả theo điều tương tự vì có một luật về sự báo trả hoạt động trong lịch-sử nhân loại.
-Pha-ra-ôn đã tìm cách dìm chết mọi bé trai Do-thái mới sinh ra, và chính đội quân của ông bị nhận chìm trong Hồng hải.
-Ha-man lập kế diệt chủng dân Do-thái, thì ông và những con trai của ông đã bị tuyệt diệt.
-Các mưu-sĩ của vua Đa-ri-út buộc vua phải bắt giam Đa-ni-ên và ném ông vào hang sư tử, nhưng sau đó chính họ đã bị ném cho sư tử.
-Những lãnh đạo Do-thái vô tín là những người hy sinh Đấng Christ để cứu dân-tộc (Gi 11:49-53) trong một vài năm đã nhìn thấy thành phố mình bị tàn phá và dân-tộc mình bị tản lạc.
Thật là điều công-bình khi Đức Chúa Trời xét-đoán tội-lỗi và kết án tội-nhân. Một Đức Chúa Trời thánh-khiết không thể để tội-lỗi bất trị. Những người nói: “Tôi không thể tin rằng một Đức Chúa Trời yêu-thương lại xét-đoán tội-nhân và đưa con người vào địa-ngục” không hiểu sự thánh-khiết của Đức Chúa Trời cũng không hiểu sự gớm ghiếc của tội-lỗi.
Mặc dù đúng là “Đức Chúa Trời là sự yêu-thương” (IGi 4:8), nhưng cũng đúng là “Đức Chúa Trời là sự sáng” (IGi 1:5), và trong sự thánh-khiết Ngài phải đối phó với tội-lỗi.
Một bác-sĩ Cơ-đốc đã cố gắng làm-chứng cho một phụ nữ rất đạo đức là người thuộc một Hội thánh đã phủ nhận nhu-cầu về sự cứu-rỗi và sự thật về sự phán-xét trong tương lai.
Bệnh nhân này đã đáp: “Đức Chúa Trời yêu tôi rất nhiều nên không thể kết án tôi. Tôi không thể tin rằng Đức Chúa Trời sẽ tạo ra một nơi như một hồ lửa như vậy.”
Người phụ nữ này trở bệnh và sự chẩn đoán là bệnh ung thư. Một cuộc phẫu thuật rất cần thiết. Bác sĩ nói với bà trong phòng bệnh của bà: “Tôi không biết liệu tôi có thật sự phải phẫu thuật hay không. Tôi thật sự rất yêu bà nên không thể mổ xẻ bà và làm bà đau đớn.”
Bệnh nhân nói: “Bác sĩ ơi, nếu ông thật sự yêu mến tôi, ông sẽ làm mọi điều có thể để cứu tôi. Làm sao ông có thể để cho vật khủng khiếp này cứ ở trong thân thể tôi chớ?”
Lúc ấy thật dễ dàng để ông ấy giải thích rằng những gì bệnh ung thư hành động cho thân thể, thì tội-lỗi hành động đối với thế-gian và cả 2 phải được giải quyết từ gốc và triệt để. Giống như một thầy thuốc không thể yêu quý sức khỏe mà lại không ghét bệnh tật và đối phó với nó, thì Đức Chúa Trời cũng không thể yêu quý sự công-bình mà không ghét tội-lỗi và đoán phạt nó.
Từ “báo thù” không nên bị nhầm lẫn với “trả thù”. Mục đích của sự báo thù là để thỏa đáp thánh luật của Đức Chúa Trời. Mục đích của sự trả thù là để làm nguôi sự thù hằn cá nhân. Đức Chúa Trời không để cho một sự trả thù chống lại tội-nhân hư-mất.
Hoàn toàn ngược lại, Ngài sai Con Ngài chết thay họ, và Ngài kêu gọi họ trở lại với Ngài. Nhưng nếu tội nhân chọn lựa “không nhận biết Đức Chúa Trời, và không vâng phục Phúc-Âm” (c.8), không còn gì để Đức Chúa Trời làm ngoài việc đoán-phạt họ.
Sự đoán-phạt này sẽ xảy ra khi Chúa Giê-xu tái-lâm trên đất cùng với Hội thánh Ngài và các thiên-sứ Ngài (IITês 1:7). Đây không phải là sự kiện tương tự được Phao-lô mô tả trong ITês 4:13-18. Chúng ta có thể đối chiếu 2 sự-kiện này:
ITês 4:13-18. | IITe 1:1-12 |
-Đấng Christ tái lâm giữa không trung. | -Đấng Christ tái lâm trên đất. |
-Ngài đến cách ẩn nhiên để tiếp rước Hội thánh Ngài. | -Ngài đến hiển nhiên cùng với Hội thánh. |
-Cơ-đốc nhân thoát khỏi hoạn nạn. | -Kẻ vô tín trải qua hoạn nạn, Sự đoán phạt. |
-Xảy ra tại một thời điểm được giấu kín | -Xảy ra cuối thời kỳ Đại nạn, Ngày của Chúa. |
