1. HỠI TÍN-HỮU CƠ-ĐỐC, DŨNG CẢM LÊN (IITim 1:1-18)
Khi...
...Phao-lô viết bức thư chúng ta gọi là “Thư thứ hai” gửi cho Ti-mô-thê, tình cảnh của ông đã hoàn toàn thay đổi. Giờ đây ông là một người tù tại La-mã và đang đối diện sự chết chắc chắn (IITim 4:6).
Vì lý-do này hoặc lý-do khác, hầu như tất cả các bạn đồng lao của Phao-lô đều đã ra đi và chỉ còn Lu-ca ở bên vị sứ-đồ này để phụ giúp ông (IITim 4:11). Đây thật là một giờ phút tăm tối.
Nhưng mối quan tâm lớn lao của Phao-lô không phải là bản thân ông mối quan tâm đó chính là Ti-mô-thê và sự thành công của chức-vụ Phúc-Âm.
Như trong bức thư đầu tiên của ông gửi cho Ti-mô-thê, Phao-lô khích-lệ người cộng sự yêu dấu của ông hãy trung-tín. Như chúng ta đã biết, Ti-mô-thê vốn nhút nhát, phải chịu những đau yếu trong thân thể, và dễ bị dỗ dành để cho những người khác lợi dụng chớ không xác định thẩm quyền của ông là một mục-sư.
Phao-lô sai Ty-chi-cơ đến thay Ti-mô-thê tại Ê-phê-sô hầu cho Ti-mô-thê có thể đến cùng Phao-lô tại La-mã (IITim 4:9-12). Chẳng bao lâu nữa Đức Chúa Trời sẽ cất Phao-lô về với Ngài, và Ti-mô-thê sẽ phải thế chỗ Phao-lô và tiếp tục chức-vụ lãnh đạo thuộc-linh các Hội thánh.
Đó sẽ không phải là một công-tác dễ dàng, nhưng Ti-mô-thê có thể thành công với sự vùa giúp của Chúa. Trong chương đầu này, Phao-lô nhắn gửi Ti-mô-thê 3 điều cần yếu mà ông phải có để thành công trong chức-vụ mình.
1. Sự nhiệt thành dũng cảm (IITim 1:1-7)
Chức-vụ của Phúc-Âm không phải là chỗ cho một “tâm hồn nhút nhát” thiếu nhiệt thành. Thật vậy, sự nhiệt thành dũng cảm cần yếu cho sự thành công trong bất cứ loại công việc nào.
Phao-lô so sánh thái-độ này với việc nhen lại một ngọn lửa để nó cháy bùng lên (IITim 1:6). Chúng ta không được vội vàng kết luận rằng Ti-mô-thê đã thối lui, hay ngọn lửa tâm-linh đã tắt lịm trong đời sống ông. Đúng hơn, Phao-lô đang khích-lệ người cộng sự mình giữ ngọn lửa cháy rực luôn để nó có thể phát tỏa năng-quyền thuộc-linh trong đời sống ông.
Phao-lô gửi đến Ti-mô-thê 4 điều khích-lệ:
(1). Lòng yêu thương của Phao-lô (IITim 1:1-2).
“Ti-mô-thê, con rất yêu dấu của ta” nghe mạnh mẽ hơn nhiều so với câu “Ti-mô-thê, con thật của ta trong đức-tin” (ITim 1:2). Không phải là Phao-lô yêu Ti-mô-thê ít hơn khi ông viết bức thư đầu tiên đó, nhưng là Phao-lô bây giờ đang biểu lộ tình yêu ấy sâu đậm hơn.
Vì cuộc sống Phao-lô sắp chấm dứt, ông nhận thức một cách sâu xa hơn rằng Ti-mô-thê yêu dấu đối với ông đến ngần nào.
Những hoàn cảnh riêng của Phao-lô thật khó khăn, thế nhưng ông được khích-lệ vô cùng. Về một mặt, ông là đại-sứ (“sứ-đồ”) của Đấng Christ và ông biết rằng Chủ ông sẽ chăm-sóc cho ông.
Bất cứ điều gì xảy đến với ông đều ở trong tay của Đức Chúa Trời, vì vậy không cần phải sợ hãi. Hơn thế nữa, Phao-lô đã có “lời-hứa của sự sống” trong Chúa Giê-xu Christ, và Đấng Christ đã đánh bại sự chết (IITim 1:10).
Không ngạc nhiên gì Phao-lô đã có thể gửi tới Ti-mô-thê lời chúc “ân-điển, sự thương-xót, và sự bình-an.” (Điều đáng lưu ý là Phao-lô thêm vào “sự thương-xót” trong lời chào thăm của ông khi ông viết cho các vị mục-sư – ITim 1:2; IITim 1:2; Tit 1:4. Phao-lô biết rằng các vị mục-sư cần sự thương-xót!)
(2). Những lời cầu-nguyện của Phao-lô (IITim 1:3-4).
Thật khích-lệ biết bao khi biết rằng vị đại sứ-đồ đang cầu-nguyện cho ông! Phao-lô, người biết rõ những sự yếu đuối và các nan-đề của Ti-mô-thê, có thể cầu-nguyện rõ ràng và với một gánh nặng thật sự trong lòng mình.
Sự cầu-nguyện của ông không phải là một thông-lệ nó được thực hiện với lòng thương-xót và sự quan tâm. Biết rằng mình sắp qua đời, Phao-lô ao ước là Ti-mô-thê đến gặp ông tại La-mã để cùng thông-công với ông trong những ngày cuối cùng ấy của chức-vụ ông. Điều này sẽ mang lại sự vui-mừng cho lòng của Phao-lô.
Chúng ta không được giả định rằng Phao-lô cố gắng biện hộ cho những việc làm xấu xa của ông khi còn là một ra-bi luật Do-thái bằng cách cho là ông làm điều đó với “một lương-t âm thanh sạch.”
Xét cho cùng, ông đã có lỗi vì gây ra sự khiếp sợ giữa vòng các Cơ-đốc nhân, ép buộc người ta phạm thượng bằng cách chối bỏ Đấng Christ, và tán đồng việc giết hại Ê-tiên! Quả thật là Phao-lô nghĩ rằng mình đang hầu-việc Đức Chúa Trời (Gi 16:2), và lúc ấy ông đang còn ngu muội thuộc-linh (ITim 1:13), nhưng những sự kiện này không thể nào bảo đảm một lương-tâm thanh-sạch được.
Phao-lô đã biết Đức Chúa Trời từ những năm tháng đầu đời của mình vì ông là“một người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ” (Phi 3:5). Tổ-phụ ông đã truyền dạy ông đức-tin Do-thái giáo chính-thống.
Nhưng khi gặp Chúa Giê-xu Christ, Phao-lô nhận ra rằng đức-tin Do-thái giáo của mình chỉ là sự chuẩn bị cho sự làm tròn chức-vụ mà Đấng Christ giao-thác cho ông trong Cơ-đốc giáo.
Ông không hầu-việc Đức Chúa Trời với một lương-tâm thanh sạch “từ tổ-tiên mình,” như bản văn King James nói. Đúng hơn, ông đã nghe về Đức Chúa Trời chân thật từ tổ-tiên ông và giờ đây ông đang hầu-việc Đức Chúa Trời ấy với một lương tâm thanh-sạch. Sự kiện ông đã có một lương-tâm thanh sạch giúp đem lại năng-quyền cho những lời cầu-xin của ông.
(3). Lòng tin cậy của Phao-lô đối với Ti-mô-thê (IITi m1:5).
Phao-lô không cho rằng nước mắt của Ti-mô-thê là chứng-cớ của sự thất bại hoặc không thành thật. Phao-lô chắc chắn rằng đức-tin của Ti-mô-thê là chân-thật, và đức-tin này sẽ giúp ông vượt qua những khó khăn mà ông đang đối diện.
Rõ ràng là Lô-ít, bà nội của Ti-mô-thê, là người đầu tiên trong gia đình trở lại cùng Đấng Christ kế đó là mẹ ông, Ơ-nít, trở lại đạo. Cha của Ti-mô-thê là một người Hy-lạp (Công 16:1), vì vậy Ơ-nít đã không theo đức-tin Do-thái giáo chính-thống. Tuy nhiên, mẹ và bà nội của Ti-mô-thê đã lo liệu để cho ông được dạy dỗ Lời Thánh Kinh (IITim 3:15) và đây là sự chuẩn bị lớn lao cho việc nghe đến Phúc-Âm.
Khi Phao-lô đến thành Lít-trơ vào cuộc hành trình truyền-giáo đầu tiên của ông, đó có lẽ là cơ-hội để Ti-mô-thê trở lại đạo. Khi Phao-lô trở lại trong cuộc hành trình thứ hai, ông tiếp nhận Ti-mô-thê vào sự phục-vụ Cơ-đốc.
Phao-lô đã quan sát đời sống và sự hầu-việc của Ti-mô-thê trong suốt những năm tháng họ ở bên nhau. Ông chắc chắn rằng đức-tin của Ti-mô-thê là chân-thật. Thật ra, di sản của Ti-mô-thê thật lớn lao vì ông được nuôi dạy trong một gia đình tin kính, được huấn luyện bởi một vị sứ-đồ tuyệt diệu, và được ban cho những cơ-hội để hầu-việc Chúa thật lạ lùng.
(4). Ơn của Đức Chúa Trời dành cho Ti-mô-thê (IITim 1:6-7).
Phao-lô nhắc nhở Ti-mô-thê về thời điểm Đức Chúa Trời kêu-gọi ông vào chức-vụ và Hội thánh địa phương phong-chức cho ông. Phao-lô đã đặt tay trên Ti-mô-thê (ITim 4:14).
Qua Phao-lô, Đức Chúa Trời đã ban cho Ti-mô-thê ân-tứ thuộc-linh cần thiết cho chức-vụ ông. Việc đặt tay là một việc làm phổ biến trong thời các sứ-đồ (Công 6:6; Công 13:3), nhưng không tín-đồ nào ngày nay có cùng thẩm quyền và đặc ân mà các sứ-đồ đã có.
Ngày nay, khi chúng ta đặt tay trên người nào để bước vào chức-vụ, đó là một việc làm có tính cách tượng trưng chớ không nhất thiết tuôn đổ bất cứ ân-tứ thuộc-linh đặc biệt nào cho họ.
Chính Đức Thánh Linh là Đấng giúp chúng ta có thể hầu-việc Đức Chúa Trời, và qua Ngài chúng ta có thể thắng hơn sự sợ hãi và yếu đuối.
Từ “sợ hãi” trong IITim 1:7 có nghĩa là “sự nhút nhát, hèn nhát”. Đức Thánh Linh ban cho chúng ta quyền-năng để làm-chứng và hầu-việc Đức Chúa Trời (Công 1:8). Thật vô ích nếu chúng ta cố gắng hầu-việc Đức Chúa Trời mà không có quyền-năng của Đức Thánh Linh.
Tài năng, sự huấn luyện, và kinh-nghiệm không thể nào thế chỗ của quyền-năng Thánh Linh được.
Đức Thánh Linh cũng ban cho chúng ta tình yêu-thương. Nếu chúng ta có tình yêu-thương đối với những linh-hồn hư-mất và đối với dân-sự của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ có thể chịu được sự đau đớn và hoàn tất công tác của Đức Chúa Trời.
Sự ích-kỷ đưa đến sợ hãi vì nếu chúng ta ích-kỷ, chúng ta chỉ quan tâm đến những gì mình sẽ có được do sự hầu-việc Đức Chúa Trời, và chúng ta sẽ sợ mất uy tín, quyền hành, hoặc tiền bạc. Tình yêu-thương Cơ-đốc chân-thật, được thêm sức bởi Thánh Linh (Rô 5:5), giúp chúng ta có thể hy sinh cho những người khác chớ không sợ hãi. Thánh Linh ban tình yêu-thương (Ga 5:22).
Ngài cũng là Đấng ban cho sự tự chủ (“một tâm-trí lành mạnh”). Từ này có liên-hệ với những từ không say rượu và sự điều độ mà chúng ta thường gặp trong các thư tín giám-mục (Tit 1:8; Tit 2:2,4,6,12; ITim 2:9,15).
“Kỷ luật tự giác” hay “khả năng kiềm chế những ham muốn của mình” là một từ dịch hay hơn của từ “một tâm trí lành mạnh” hay “giè giữ” (IITim 1:7). Nó mô tả một người có tâm-trí và sự quân-bình hợp lý, người có đời sống kiềm chế được. Bản Văn Amplified ghi là, “trầm tĩnh và có đầu óc và kỷ luật và sự tự chủ đúng mực”.
Ti-mô-thê không cần bất cứ yếu-tố thuộc-linh mới mẻ nào trong đời sống ông tất cả những điều ông phải làm là “nhen lại” những gì ông đã có sẵn, Phao-lô đã viết trong bức thư đầu tiên của ông, “Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con” (ITim 4:14).
Giờ đây ông viết thêm, “Hãy nhen lại – khơi cho cháy bùng lên – ơn của Đức Chúa Trời.” Đức Thánh Linh không lìa bỏ chúng ta, dù chúng ta thất bại đến đâu chăng nữa (Gi 14:16) nhưng Ngài không thể đổ-đầy chúng ta, ban năng-quyền cho chúng ta, và sử dụng chúng ta nếu chúng ta xao lãng đời sống tâm-linh của mình. Có thể chúng ta làm buồn cho Đức Thánh Linh (Êph 4:30) và dập tắt Thánh Linh (ITês 5:19).
Ti-mô-thê có mọi lý-do để được khích-lệ và để có sự hăng hái thuộc-linh trong chức-vụ của mình. Phao-lô yêu-thương ông và cầu-nguyện cho ông. Những kinh-nghiệm trong đời sống của ông đã là sự chuẩn bị cho chức-vụ ông, và Phao-lô tin nơi sự chân-thật của đức-tin Ti-mô-thê. Thánh Linh trong lòng ông sẽ ban cho mọi quyền-năng cần thiết cho chức-vụ.
Ông còn có thể mong muốn điều gì hơn thế nữa?
2. Chịu khổ mà không hổ thẹn (IITim 1:8-12)
“Không xấu hổ” là một ý trọng tâm trong chương này: Phao-lô không hề xấu hổ (c.12) ông khuyên Ti-mô-thê chớ xấu hổ (c.8) và ông thuật lại rằng Ô-nê-si-phô-rơ không hề xấu hổ về việc Phao-lô bị xiềng-xích (c.16).
Phao-lô gửi đến Ti-mô-thê một lời khuyên gồm 2 phần:
(1). Đừng xấu hổ về lời-chứng của Chúa (IITim 1:8-10).
Bản tánh nhút nhát tự nhiên của Ti-mô-thê có thể khiến ông dễ dàng tránh né những hoàn cảnh đòi hỏi phải làm-chứng và chịu-khổ. Một lần nữa, Phao-lô gửi đến bạn đồng lao của mình sự khích-lệ cần thiết.
• Đức Chúa Trời ban cho chúng ta quyền-năng (IITim 1:8).
Theo bản tánh, không ai trong chúng ta lại thích chịu khổ. Ngay cả Chúa chúng ta cũng đã cầu-xin, “Cha ơi, nếu có thể được, xin cất chén này khỏi Con” (Lu 22:42), và Phao-lô đã cầu-nguyện 3 lần để Đức Chúa Trời cất đi cái giằm đau đớn trong xác thịt ông (IICôr 12:7-8).
Nhưng việc chịu-khổ là một phần của một đời sống Cơ-đốc trung-tín. Cơ-đốc nhân không được chịu-khổ vì đã làm điều sai trái (IPhi 2:20; IPhi 3:17) đúng hơn, đôi lúc họ chịu-khổ vì họ đã làm điều phải lẽ và hầu-việc Đức Chúa Trời. Khi chúng ta chịu-khổ vì làm điều tốt, thì chúng ta đang cùng san-sẻ những sự đau đớn của Đấng Christ (Phi 3:10) và chịu khổ vì cớ toàn thể Hội thánh (Côl 1:24).
Cách đây nhiều năm, tôi được đọc về một Cơ-đốc nhân bị nhốt trong tù vì cớ đức-tin mình. Ông ta sẽ bị thiêu tại giàn hoả, và ông tin chắc rằng ông sẽ không bao giờ có thể chịu đựng nỗi sự đau đớn. Một đêm nọ, ông thử-nghiệm sự đau đớn bằng cách để ngón tay út của mình vào ngọn nến đang cháy.
Ngón tay ông bị đau, và ông liền rụt tay lại. “Tôi sẽ ghét bỏ Chúa của mình,” ông ta tự nhủ. “Tôi không thể nào chịu nỗi sự đau đớn.” Nhưng khi giờ ông sắp từ trần đến, ông ta ngợi-khen Đức Chúa Trời và dâng lên một lời chứng cao quý cho Chúa Giê-xu Christ.
Đức Chúa Trời ban cho ông năng-quyền khi ông cần đến, chớ không phải trước đó.
• Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng ta bởi ân-điển Ngài (IITim 1:9).
Chúng ta là một phần của chương trình đời-đời vĩ đại mà Đức Chúa Trời đã định “trước khi thế gian bắt đầu.” Đức Chúa Trời biết sự cuối cùng ngay từ lúc ban đầu. Ngài có những mục đích để dân-sự Ngài hoàn thành vì cớ sự vinh-hiển của Ngài.
Việc chịu-khổ là một phần của chương trình Ngài. Chúa Giê-xu Christ đã chịu-khổ trong ý chỉ của Đức Chúa Trời khi Ngài còn trên thế-gian này, và tất cả những ai tin nhận Ngài cũng sẽ ch ịu-khổ nữa.
-Điểm nhấn mạnh trong câu này là ân-điển.
Đức Chúa Trời cứu-rỗi chúng ta chúng ta không tự cứu mình được (Êph 2:8-9; Tit 3:5). Ngài đã kêu-gọi chúng ta, không trên nền tảng các việc lành của chúng ta, mà hoàn toàn dựa trên ân-điển của Ngài.
Chính các mục đích của Ngài mà chúng ta phải làm trọn và nếu những mục đích này bao gồm sự chịu-khổ, thì chúng ta có thể chấp nhận điều đó bởi đức-tin và biết rằng ý muốn Đức Chúa Trời là tốt lành nhất. Đây không phải là thuyết định mệnh. Đó là sự tin-cậy nơi kế hoạch khôn-ngoan và đầy yêu-thương của Cha thiên-thượng đầy ân-điển của chúng ta.
Tất cả ân-điển này được ban cho chúng ta trong Chúa Giê-xu Christ. Chúng ta không thể kiếm được bằng nỗ lực riêng của mình chúng ta không xứng đáng hưởng nó. Đây là ân-điển của Đức Chúa Trời!
• Đấng Christ đã hủy phá sự chết (IITim 1:10).
Khi chúng ta nhút nhát đó là vì chúng ta sợ hãi. Chúng ta sợ điều gì? Việc chịu khổ hay sự chết có thể xảy ra? Chính mình Phao-lô đang đối diện với cái chết khi ông đọc thư này cho người viết ra.
Nhưng Chúa Giê-xu Christ đã đánh bại kẻ thù cuối cùng của chúng ta là sự chết! Bởi sự chết và sự sống lại của chính Ngài, Đấng Christ đã “hủy phá sự chết” (làm nó vô hiệu hóa, cất lấy cái nọc của nó đi).
“Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu?” (ICôr 15:55)
Đấng Christ không chỉ là Đấng hủy phá sự chết (Hêb 2:14-15), mà Ngài cũng là Đấng phô bày sự sống và sự không hề chết. Trong Cựu-ước, các giáo-lý về sự sống đời-đời, sự chết, sự Phục sinh, và trạng thái đời-đời còn ở trong bóng mờ. Đây đó bạn tìm thấy những sự thoáng hiện của ánh sáng nhưng phần lớn, bức tranh tối đen.
Nhưng rồi Chúa Giê-xu Christ chiếu rọi sự sáng của Ngài trên sự chết và phần mộ. Qua Phúc-Âm, Ngài đã ban cho chúng ta sự xác-quyết về sự sống đời-đời, sự Phục sinh, và hy-vọng về thiên-đàng.
Các nhóm tôn-giáo dạy dỗ “giấc ngủ của linh-hồn” và các đạo-lý lạ khác thường lấy ý-tưởng từ các Thi-thiên và sách Truyền-đạo. Thay vì để cho sự sáng tỏ tường của Tân-ước soi sáng trên Cựu-ước, họ lại nhìn vào Tân-ước qua những bóng tối của Cựu-ước!
Nếu bạn xoay lưng lại với ánh sáng của Phúc-Âm, bạn sẽ chỉ giăng ra một bóng tối tăm khác và khiến cho mọi việc càng tăm tối hơn.
“Sự không hề chết” (IITim 1:10) có nghĩa là “tính không hay hư nát”, và ám chỉ thân thể ph ục sinh. Thân thể hiện nay là hay hư nát nó mục rữa và chết. Nhưng thân thể vinh-hiển chúng ta sẽ có khi chúng ta gặp Đấng Christ sẽ không hề hư-nát cũng không hề chết (ICôr 15:49-58; Phi 3:21). Thật vậy, cơ-nghiệp trên trời mà chúng ta dự phần sẽ “không hư đi, không ô uế, không suy tàn” (IPhi 1:4).
(2). Không hổ thẹn vì làm kẻ tù của Chúa (IITim 1:11-12).
Dầu là một kẻ tù, Phao-lô vẫn đang làm-chứng cho Phúc-Âm của Chúa Giê-xu Christ. Thật đáng buồn, mọi người tại Ê-phê-sô đã lìa bỏ Phao-lô trong lúc ông cần họ (c.15).
Nhiều người trong số họ đã có thể đến La-mã để làm chứng-nhân cho Phao-lô, nhưng họ lại không đến. Họ thậm chí còn hổ thẹn sẽ bị đồng-nhất với vị sứ-đồ này! Chức-vụ của Ti-mô-thê tại Ê-phê-sô (và trong các thành phụ cận IITim 4:13) rất có thể đã dễ dàng hơn nhiều nếu ông đã hòa nhập với đám đông nhưng Phao-lô khuyên ông hãy cứ chân-thật. Ông nêu lên 2 lý-do vì sao Ti-mô-thê không nên hổ thẹn về việc kết giao với Phao-lô là kẻ tù:
• Phao-lô đã được kêu gọi bởi Đức Chúa Trời (IITim 1:11).
Chúa Giê-xu Christ đã gặp Phao-lô trên đường Đa-mách (Công 9:1-43) và đã đích thân kêu gọi ông vào chức-vụ. Phao-lô là một sứ-giả (“người rao-giảng” Phúc-Âm).
Vào thời xưa, một “sứ-giả” là người đưa tin chính thức của vị vua hay hoàng đế, và sứ-điệp của người này được xem xét cách cung kính. Sự kiện những kẻ tự xưng là tín-đồ tại cõi A-si đang khước từ Phao-lô không làm thay đổi sự kêu-gọi của ông cũng như sứ-điệp của ông.
• Phao-lô không chỉ là một sứ-giả ông cũng là một sứ-đồ,“một người được sai đi với một sứ-mệnh.”
Không phải mọi Cơ-đốc nhân đều là sứ-đồ của Chúa Giê-xu Christ, vì một người phải thỏa đáp những điều kiện nào đó và phải được Chúa chọn lựa cách cá nhân, hoặc qua Thánh Linh Ngài (Công 1:15-26; ICôr 9:1; IICôr 12:12).
Một sứ-đồ đại diện cho Chúa Giê-xu Christ. Khước từ một sứ-đồ là khước từ Chúa.
3. Phao-lô là một giáo-sư của Dân Ngoại.
Điều này có nghĩa là ông chăn dắt các Hội thánh địa phương. Chính từ “Dân Ngoại” này đã đưa ông vào tù tại La-mã lần đầu tiên (Công 22:21). Các tín-đồ thuộc gốc Dân Ngoại tại A-si lẽ ra phải tỏ lòng cảm kích đối với Phao-lô và phải mạnh mẽ hỗ trợ ông vì, xét cho cùng, chính ông là người đã đem đến cho họ Tin-Mừng cứu-rỗi. Nhưng thay vào đó họ lại xấu hổ vì cớ ông và tìm cách không liên lụy đến.
4. Phao-lô có lòng tin trong Chúa Giê-xu Christ (IITim 1:12).
Phao-lô không hổ thẹn! Vì sao? Vì ông biết rằng Đấng Christ là thành-tín và sẽ giữ gìn ông. Xin lưu ý việc ông nhấn mạnh đến con người của Đấng Christ: “Vì biết ta đã tin đấng nào.” Sự cứu-rỗi không chỉ là kết quả của việc tin nhận những đạo-lý nào đó, mặc dầu các đạo-lý rất quan-trọng.
Một tội-nhân được cứu vì người ấy tin vào một con người – Chúa Giê-xu Christ. Phao-lô đã phó thác linh-hồn mình trong sự chăm-sóc và giữ gìn của Cứu Chúa này, và Phao-lô chắc chắn rằng Chúa Giê-xu Christ sẽ giữ sự ông đã phó thác đó cách thành-tín.
Những điều xảy ra vào bất cứ ngày nào đó thì có quan-trọng gì đối với Phao-lô? Điều thật sự quan-trọng là những gì sẽ xảy ra vào “ngày đó” khi Chúa Giê-xu Christ ban thưởng cho các tôi-tớ của Ngài (IITim 1:18; IITim 4:8).
Vào thời kỳ khó khăn này, điều quan-trọng là chúng ta giữ lòng chân-thật với Đấng Christ và sẵn sàng chịu-khổ vì cớ Ngài chớ không hổ thẹn. Chúng ta có thể không bị cầm tù, như Phao-lô đã bị, nhưng chúng ta có thể chịu-khổ theo những cách khác: bị mất mát bạn bè, bị phớt lờ không thăng chức, bị mất khách hàng, bị mọi người lạnh nhạt, khinh rẻ, v.v...
Cũng quan-trọng là chúng ta cần đứng bên cạnh tôi-tớ của Đức Chúa Trời là những người đang chịu-khổ vì cớ sự công-bình.
• Sự trung-thành thuộc-linh (IITim 1:13-18)
Trong suốt nhiều thế kỷ công việc của Đức Chúa Trời đã được thực hiện bởi những người nam và nữ đứng vững vàng trong giờ thử-thách. Nếu họ đã thỏa hiệp thì rất có thể họ đã được thuận lợi, nhưng họ cứ đứng vững. Phao-lô là người như thế, và ông khích-lệ Ti-mô-thê noi gương mình.
(1). Trung-thành với Lời Đức Chúa Trời (IITim 1:13-14).
Đức Chúa Trời đã giao phó chân-lý thuộc-linh cho Phao-lô (ITim 1:11), và ông đã giao phó lại cho Ti-mô-thê (ITim 6:20). Giờ đây trách-nhiệm chính thức của Ti-mô-thê là “nắm chắc” (IITim 1:13) và “giữ lấy” (IITim 1:14) điều phó thác quý báu về chân-lý Cơ-đốc, và truyền dạy lại cho những kẻ khác (IITim 2:2).
Từ “mẫu-mực” (c.13) có nghĩa là “một khuôn-mẫu, một bản phác họa của kiến-trúc sư”. Có một nét rõ rệt của đạo-lý trong Hội thánh đầu tiên, một tiêu-chuẩn theo đó việc dạy dỗ được thử-nghiệm.
Nếu Ti-mô-thê thay đổi tiêu-chuẩn này, hoặc loại bỏ nó, thì ông sẽ không có gì để có thể dựa vào mà thử-nghiệm các giáo-sư hay các nhà truyền-đạo khác. Chúng ta ngày nay cần nắm chắc lấy những điều Phao-lô đã dạy dỗ với cùng lý-do trên.
Tuy nhiên, hãy lưu ý là tính chất chính-thống của Ti-mô-thê sẽ phải được hài hòa với “đức-tin và lòng yêu-thương”. “Lấy lòng yêu-thương nói ra chân-lý” (Êph 4:15) là mẫu-mực thiên-thượng. Chúng ta dễ dàng tranh cãi biết bao khi mong ước bênh vực cho đức-tin, trở thành một kẻ săn tìm những người không theo chính-thống và tạo ra rắc rối mà thôi.
Chính Đức Thánh Linh là đấng giao phó chân-lý cho Ti-mô-thê, và Ngài sẽ giúp ông giữ lấy chân-lý ấy. Ngoài công tác của Đức Thánh Linh ra, chúng ta hoàn toàn tối tăm khi cần phải thông hiểu Lời Đức Chúa Trời. Chính Ngài phải dạy dỗ chúng ta (Gi 16:13) và giúp chúng ta có thể giữ lấy chân-lý và chia sẻ chân-lý ấy với người khác.
Từ buổi đầu của lịch-sử nhân loại, Sa-tan đã chống nghịch lại Lời của Đức Chúa Trời.
“Mà chi, Đức Chúa Trời há có ph án?” là câu đầu tiên Sa-tan nói với loài người (Sa 3:1), và nó tiếp tục nêu câu hỏi đó.
Trong suốt lịch-sử Hội thánh, Lời Đức Chúa Trời đã từng bị tấn công, thường là bởi những người bên trong Hội thánh thế nhưng Lời ấy vẫn có giá-trị ngày nay. Vì sao? Vì những người nam và những người nữ tận hiến (như Phao-lô và Ti-mô-thê) đã giữ sự phó thác và trung-tín truyền dạy lại cho thế hệ Cơ-đốc nhân nối tiếp.
Khi một Hội thánh hay bất cứ tổ chức Cơ-đốc nào khác bước đi cách tự-do phóng túng, thì điều đó thường khởi đầu khi lòng tin chắc nơi Lời Đức Chúa Trời đã giảm sút trong những người lãnh đạo của họ.
(2). Trung-thành với tôi-tớ Đức Chúa Trời (IITim 1:15-18).
Cõi A-si vào thời đó bao gồm xứ Ly-đi, My-si, Ca-ri, và Phi-ri-gi của La-mã. Phao-lô bị cấm rao-giảng trong vùng này vào cuộc hành trình truyền-giáo thứ hai của ông (Công 16:6) nhưng vào cuộc hành trình thứ ba, ông ở lại gần 3 năm tại Ê-phê-sô, thủ đô của cõi A-si, và rao-giảng Phúc-Âm trong khắp vùng này (Công 19:1-41; Công 20:31).
Bảy Hội thánh cõi A-si thảy đều nằm trong vùng này (Kh 1:4,11).
Chúng ta không biết Phy-ghen và Hẹt-mô-ghen là ai (IITim 1:15). Có thể họ là những người lãnh đạo trong Hội thánh chống nghịch với Phao-lô và sẽ không đến để bênh vực cho ông tại La-mã. Bạn sẽ cho rằng các tín-đồ tại cõi A-si rất có thể sẽ đứng với Phao-lô nhưng, thay vào đó, họ lại hổ thẹn vì cớ ông và, đồng thời (dù họ có biết điều đó hay không) cũng hổ thẹn vì cớ Đấng Christ nữa. (IITim 4:16).
Đây chắc hẳn là một giờ phút đen tối đối với Phao-lô. Đê-ma đã lìa bỏ ông (IITim 4:10). Những bạn đồng lao khác của ông đã được sai phái đến những nơi xa xôi để hầu việc Chúa. Đạo-lý giả dối đang lan tràn trong Hội thánh (IITim 2:17-18).
Phao-lô rất có thể đã tha thiết được tự-do để rao-giảng Lời Đức Chúa Trời và bênh vực cho đức tin biết dường nào – nhưng ông lại đang ngồi tù tại La-mã. Việc thực hiện công tác này tùy vào Ti-mô-thê.
Nhưng có một người dám rời Ê-phê-sô để đến La-mã phụ giúp cho Phao-lô, đó là Ô-nê-si-phô-rơ. Tên ông có nghĩa là “sinh lợi,” và chắc chắn ông là một người bạn mang lại lợi ích cho Phao-lô. Có thể ông là một chấp-sự trong Hội thánh tại Ê-phê-sô (“hầu-việc” trong IITim 1:18 ra từ một chữ cho chúng ta từ “chấp sự”).
Trong suốt chức-vụ của Phao-lô tại Ê-phê-sô, Ô-nê-si-phô-rơ là một người hầu-việc trung-tín, cùng với người nhà mình. Vì Ti-mô-thê đã chăn dắt Hội thánh Ê-phê-sô, nên ông biết người thánh-đồ được chọn này.
Tôi xin được phép nói thêm ở đây là mọi mục-sư đều biết ơn vì cớ những thành-viên trung-tín này là những người trợ giúp ông trong công việc Chúa. Tôi và nhà tôi đã tìm thấy những thánh-đồ được chọn lựa trong mỗi một nơi trong ba Hội thánh chúng tôi đã hầu-việc Chúa – những người sẵn lòng mở cửa tiếp đón chúng tôi (và họ không nói cho cả Hội thánh biết rằng chúng tôi ở đó!), lòng họ cảm nhận những gánh nặng và nhu-cầu của chúng tôi, và lời cầu-nguyện của họ nâng đỡ chúng tôi trong những lúc khó khăn.
Những tín-đồ này hầu việc Chúa cách kín nhiệm, nhưng Chúa sẽ ban thưởng cho họ cách công khai “trong ngày ấy” (IITim 1:18).
Ô-nê-si-phô-rơ đi từ Ê-phê-sô đến La-mã và sốt sắng tìm kiếm Phao-lô để có thể giúp đỡ cho những nhu-cần của người tù này. Dường như ông phải khó khăn lắm mới tìm được vị mục-sư trước đây của mình (IITim 1:17).
Có lẽ một số Cơ-đốc nhân tại La-mã vẫn còn chống nghịch với Phao-lô như đã từng làm trong suốt thời gian ông bị cầm tù lần đầu tiên (Phi 1:12-17).
Có lẽ các viên-chức La-mã không sẵn sàng cộng tác, và không muốn người tù đặc biệt của họ nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào. Trong thời gian bị cầm tù đầu tiên, Phao-lô ở tại nhà riêng mình (Công 28:30) nhưng giờ đây ông đang ở trong một nhà tù tại La-mã dưới sự canh phòng cẩn thận.
Nhưng Ô-nê-si-phô-rơ cứ bền lòng! Ông xác định vị-trí của Phao-lô và liều chính sự sống mình để đứng với ông và trợ giúp ông. Một số người nghiên-cứu Kinh Thánh tin rằng Ô-nê-si-phô-rơ cũng bị bắt và có thể lắm bị xử tử.
Họ căn cứ điều này trên sự kiện Phao-lô chào thăm “người nhà Ô-nê-si-phô-rơ” trong IITim 4:19, nhưng không chào thăm cá nhân ông. Cũng vậy, Phao-lô cầu xin sự thương-xót hiện tại cho người nhà ông, nhưng sự thương-xót tương lai cho Ô-nê-si-phô-rơ (IITim1:16,18).
Nhưng vấn-đề là: Nếu Ô-nê-si-phô-rơ đã lìa đời, thì Phao-lô cầu-nguyện cho người đã chết (IITim 1:18) và trong Kinh Thánh chúng ta không được phép cầu-nguyện cho người đã quá cố.
Chúng ta không có chứng-cớ gì cho thấy Ô-nê-si-phô-rơ đã chết khi Phao-lô viết bức thư này. Sự-kiện Phao-lô cầu xin Đức Chúa Trời chúc phước cho cả nhà người này, nhưng ông không đề cập gì đến người này, chỉ muốn nói lên ý là vào lúc đó Ô-nê-si-phô-rơ không có mặt chung với người nhà mình.
“Khi người ở (thời quá khứ) tại La-mã” (c. 17) hàm ý là, vào lúc viết thư đó, Ô-nê-si-phô-rơ không có mặt tại La-mã. Vì thế, ông đang ở một nơi nào đó khoảng giữa La-mã và Ê-phê-sô vì vậy Phao-lô đã cầu-nguyện cho ông và cả nhà ông.
Không cần thiết phải chào thăm Ô-nê-si-phô-rơ, vì Phao-lô vừa trải qua lâu ngày với ông do đó Phao-lô chỉ chào thăm người nhà ông mà thôi.
Ô-nê-si-phô-rơ không xấu hổ vì cớ xiềng-xích của Phao-lô. Vị sứ-đồ bị xiềng chung với một tên lính La-mã 24 giờ một ngày. Ô-nê-si-phô-rơ đã có thể viện ra nhiều lời bào chữa để ở lại Ê-phê-sô.
Nhưng thay vào đó ông đã thực hiện chuyến đi đầy nguy hiểm đến La-mã và giúp đỡ cho Phao-lô. “Người thường làm cho ta tươi tỉnh lại” là lời Phao-lô mô tả sự hầu-việc của người này.
Từ Hy-lạp có nghĩa là “làm tươi mát lại”. “Giống như luồng gió tươi mát làm tôi mạnh mẽ thêm” là cách thức bản văn Amplified Bible đã dịch. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời biết bao vì cớ những Cơ-đốc nhân vốn là “một làn gió tươi mát” trong những giờ phút thử thách của chúng ta!
Nếu không nhờ bức thư của Phao-lô, chúng ta sẽ không bao giờ biết rằng Ô-nê-si-phô-rơ đã phục-vụ Phao-lô và Hội thánh. Nhưng Chúa biết, và Chúa sẽ ban thưởng cho người “vào ngày ấy.”
Những yếu-tố cần thiết cho một chức-vụ thành công không hề thay đổi: sự sốt sắng dũng cảm, sự chịu khổ không hổ thẹn, và sự trung-thành thuộc-linh.
2. PHÁC HỌA HÌNH-ẢNH NGƯỜI HẦU-VIỆC CHÚA (IITim 2:1-26)
Trong khi tham dự một hội nghị, tôi để ý một người đang mang hai phù hiệu tên. Khi tôi hỏi vì sao, anh ta đáp, “Ồ, tôi đang bị khủng hoảng về sự nhận diện!”
Phao-lô không muốn Ti-mô-thê có một sự khủng hoảng về sự nhận diện, vì vậy ông cẩn thận giải thích một vị mục-sư phải như thế nào và phải làm gì. (Dĩ nhiên, cùng những nguyên-tắc này áp-dụng cho mọi Cơ-đốc nhân.) Phao-lô trình bày 7 bức tranh của người hầu-việc Chúa.
1. Người quản-lý (IITim 2:1-2)
Chức-vụ không phải là một điều gì đó chúng ta nhận lãnh cho bản thân mình và giữ cho cá nhân mình. Chúng ta là những người quản-lý kho tàng thuộc-linh Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta.
Trách-nhiệm chúng ta là giữ gìn sự phó thác và rồi đầu tư nó vào đời sống những người khác. Đến lượt họ, họ sẽ phải chia-sẻ Lời Đức Chúa Trời với thế-hệ tín-đồ kế tiếp.
Điều quan-trọng là chúng ta nhận lãnh kho tàng độc đáo của mình từ Lời của Đức Chúa Trời, chớ không phải từ những ý niệm và triết-lý của con người. Chúng ta không thử-nghiệm các giáo-sư hiện đại bằng sự nổi tiếng, học vấn, hay khả năng của họ.
Chúng ta thử-nghiệm họ bằng Lời Đức Chúa Trời, và đặc biệt các đạo-lý của ân-điển như Phao-lô đã truyền dạy. Không phải chúng ta là người xem xét Phao-lô để xem ông có đúng không nhưng chính Phao-lô là người sẽ xem xét chúng ta!
Cần phải có sự mạnh mẽ để dạy dỗ Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải đào bới từ những nguồn mạch phong phú của Thánh Kinh những “vàng, bạc, đá quý” được giấu kín trong đó (ICôr 3:10-23; Ch 2:1-10; Ch 3:13-15; Ch 8:10-21).
Sự mạnh mẽ này chỉ có thể đến từ ân-điển của Đức Chúa Trời. Bí quyết chức-vụ vĩ đại của Phao-lô là ân-điển của Đức Chúa Trời (ICôr 15:10).
Khả năng để nghiên-cứu, am hiểu, và dạy dỗ Lời Đức Chúa Trời là một sự ban-cho của ân-điển Đức Chúa Trời. “Khéo (có tài) dạy dỗ” là một trong những điều kiện đối với vị mục-sư (ITim 3:2; IITim 2:24). Có khả năng dạy dỗ hàm ý có khả năng học hỏi vì thế một người quản-lý cũng phải là một người sốt sắng tra cứu Lời Đức Chúa Trời.
2. Người lính chiến (IITim 2:3-4,8-13)
Phao-lô thường dùng những hình-ảnh minh họa có liên quan đến quân sự trong các bức thư của mình. Điều này không gây ngạc nhiên vì ông sống trong một chính quyền quân đội và bản thân ông lại thường bị cầm tù. Ông mô tả trong những câu này các đặc tính của một “người lính giỏi của Chúa Giê-xu Christ”.
A. Ông chịu đựng gian khổ (IITim 2:3).
Nhiều người cho rằng sự hầu-việc Chúa là một công việc nhẹ nhàng. Những nhà truyền-đạo thường là các đích của những câu chuyện đùa hàm ý rằng các nhà truyền-đạo biếng nhác và cần phải hổ thẹn vì nhận tiền lương mình. Nhưng một người hầu việc Chúa tận hiến đang ở trong một trận chiến đòi hỏi sự nhịn-nhục thuộc-linh (Êph 6:10).
B. Ông tránh xa những sự vương vấn đời này (IITim 2:4). Ông hoàn toàn phục tùng vị chỉ huy mình, là người đã chiêu mộ ông.Trong trường hợp của chúng ta, đó là Chúa Giê-xu Christ.
Tôi nhớ đã đọc một câu chuyện về một binh sĩ trong Cuộc Nội Chiến tình cờ trở thành một thợ đồng hồ. Một ngày nọ tiếng kèn vang dội và binh lính được ra lệnh nhổ trại. “Nhưng tôi không thể đi ngay bây giờ!” binh sĩ này than vãn. “Tôi còn cả chục cái đồng hồ cần phải sửa!”
Đôi lúc một mục-sư, hoặc vợ một mục-sư, cần thiết phải làm lụng thêm vì Hội thánh họ chưa đủ khả năng tài trợ cho họ. Đây là một sự hy sinh về phần họ và một sự đầu tư trong công việc. Nhưng một mục-sư được chu-cấp đầy đủ không nên vướng bận vào những nghề phụ khiến phân tán mối quan tâm của ông và làm suy yếu chức-vụ ông.
Tôi đã gặp những mục-sư dành nhiều thời gian cho những việc kinh doanh bất động sản hơn là cho Hội thánh của mình. Mục đích của chúng ta là làm đẹp lòng Chúa, chớ không phải đẹp lòng bản thân mình.
C. Ông tôn-cao Chúa Giê-xu Christ (IITim 2:8-9).
Lẽ ra phải dịch cụm từ này là “Hãy nhớ đến Chúa Giê-xu Christ!” Điều này nghe gần như một lời kêu-gọi trong chiến tranh, giống như “Hãy nhớ đến... (một anh hùng dân-tộc nào đó)!”
Chúa Giê-xu là Vị Tướng của sự cứu-rỗi chúng ta (Hêb 2:10) và mục đích của chúng ta là mang lại sự tôn-cao và vinh-hiển cho Ngài. Chúa Giê-xu Christ thật là niềm khích-lệ đối với một người lính của Ngài đang chịu khổ! Vì Ngài đã chết và đã sống lại, chứng-tỏ rằng sự chịu khổ đưa đến sự vinh-hiển, và sự thua bại bề ngoài đưa đến sự chiến thắng. Chúa Giê-xu bị đối xử như một kẻ làm ác, và các lính chiến của Ngài cũng sẽ bị đối xử y như vậy.
Cách tốt nhất để tôn-cao Đấng Christ là qua chức-vụ của Lời Đức Chúa Trời. Phao-lô bị trói buộc, nhưng Lời Đức Chúa Trời không thể nào bị trói buộc được. “Lời của Ngài chạy rất mau” (Thi 147:15). “Đạo (Lời) Đức Chúa Trời tấn tới rất nhiều, càng ngày càng tràn thêm ra” (Công 12:24).
D. Ông nghĩ đến cả đạo quân (IITim 2:10).
“Những người được chọn” là dân-sự của Đức Chúa Trời, được chọn lựa bởi ân-điển Ngài và được kêu gọi bởi Thánh Linh Ngài (IITês 2:13-14). Phao-lô không chỉ chịu khổ vì cớ Chúa, mà ông cũng chịu khổ vì cớ Hội thánh nữa.
Vẫn còn nhiều người để đem Phúc-Âm đến với họ, và Phao-lô mong muốn giúp rao giảng Phúc-Âm cho họ. Một người lính chiến chỉ nghĩ đến cá nhân mình thì không trung-thành và không thể tin-cậy được.
E. Ông tin-cậy vị chỉ huy mình (IITês 2:11-13).
“Lời chắc chắc” này có lẽ là một phần của một lời tuyên-bố ban đầu về đức-tin được các tín-đồ thuật lại. (Để biết “những lời chắc chắn” khác trong các giám-mục thư, ITim 1:15; ITim 4:9; Tit 3:8).
Chính đức-tin nơi Chúa Giê-xu Christ đã ban cho chúng ta sự đắc thắng (IGi 5:4). Chúng ta không sợ hãi kẻ thù, v ì Ngài đã đắc thắng chúng rồi. Bởi sự đồng nhất hóa của chúng ta với Đấng Christ trong sự chết, sự chôn, và sự sống lại, chúng ta đã giành được chiến thắng (Rô 6:1-23).
Thật là một cặp nghịch lý! Sự chết dẫn đến sự sống! Sự chịu-khổ dẫn đến sự cai-trị trong vinh-hiển! Chúng ta không có gì để sợ hãi! Điều quan-trọng là chúng ta không “chối” Chúa mình vì nếu chúng ta chối Ngài ở đây, thì Ngài sẽ chối chúng ta trước mặt Cha (Mat 10:33).
Vào ngày “điểm danh” trong vinh-hiển vĩ đại ấy, khi “các huy chương” được trao tặng, chúng ta sẽ mất phần thưởng mình nếu chúng ta chối danh Ngài.
Nhưng Phao-lô vạch rõ (IITim 2:13) rằng ngay cả sự nghi ngờ và vô-tín của chính chúng ta cũng không thể thay đổi được Ngài: “Ngài vẫn luôn thành-tín Ngài không thể tự chối mình được.”
Chúng ta không đặt đức-tin trên đức-tin của chúng ta, hay trên những cảm xúc của chúng ta, vì chúng sẽ thay đổi và thất bại. Chúng ta đặt đức-tin mình nơi Đấng Christ.
Nhà truyền-giáo vĩ đại J. Hudson Taylor thường nói, “Chúng ta giành được chiến thắng, không phải bằng cách cố gắng trung-tín, nhưng bởi trông-mong vào Đấng Thành-Tín mà thôi.”
3. Người lực-sĩ (IITim 2:5)
Phao-lô đôi lúc dùng những hình-ảnh minh họa liên quan đến thể thao trong các bức thư của mình – đấu vật, quyền anh, chạy bộ, và rèn luyện thân thể. Người Hy-lạp và người La-mã rất ham thích thể thao, và các cuộc thi đấu Thế Vận Hội là những sự kiện quan-trọng đối với họ. Phao-lô đã khuyên Ti-mô-thê tập luyện như một vận-động viên (ITm 4:7-8).
Giờ đây Phao-lô khuyên ông phải tuân giữ các luật-lệ.
Một người nỗ lực với tư cách một lực-sĩ để thắng một trận đấu và đoạt một vương miện phải cẩn thận tuân theo các luật lệ của trận đấu. Đặc biệt trong các cuộc thi đấu ở Hy-lạp, các trọng tài cẩn trọng nhất về việc bắt tuân-giữ các luật-lệ.
Mỗi người thi đấu phải là một công-dân của đất nước mình, có tiếng tốt. Trong những sự chuẩn bị cho cuộc thi, người ấy phải tuân theo các tiêu-chuẩn đặc biệt. Nếu một lực-sĩ bị phát hiện có khiếm khuyết trong bất cứ vấn-đề nào, người ấy bị loại khỏi cuộc thi.
Nếu sau khi đã thi đấu và thắng cuộc, và bị phát hiện đã vi phạm một luật-lệ nào đó, thì người ấy bị mất vương miện mình.
Jim Thorpe, một lực-sĩ vĩ đại người Mỹ, đã mất các huy chương Thế Vận Hội vì anh tham gia vào các môn thể thao theo một cách thức vi phạm luật-lệ Thế Vận Hội.
Theo cái nhìn của con người, Phao-lô là một kẻ bại trận. Không ai trong khán đài hoan hô ông, vì “mọi người ở xứ A-si”