top of page
1. QUYỂN SÁCH RẤT ĐẶC BIỆT (Kh 1:1-20)
Nhà...
...văn trào phúng Mỹ Josh Billings nói, “Đừng bao giờ nói tiên-tri, vì nếu bạn nói sai, mọi người sẽ không quên được còn nếu bạn nói đúng, chẳng ai nhớ đều bạn nói cả”.
Trải qua các thế kỷ, nhiều lời tiên-tri được nói ra rồi qua đi tuy nhiên sách tiên-tri do sứ-đồ Giăng viết vào thời gian gần cuối thế kỷ thứ nhất vẫn còn tồn tại với chúng ta. Lúc còn bé, tôi đã đọc và kinh ngạc về tất cả những gì ghi trong sách. Ngay cả đến hôm nay, sau nhiều năm tìm tòi nghiên cứu, sứ-điệp và những điều mầu-nhiệm lạ lùng vẫn còn thu hút tôi.
Trong Khải-huyền chương 1, sứ-đồ Giăng giới thiệu sách và cho chúng ta những dữ-kiện quan-trọng để đánh giá và hiểu lời tiên-tri này.
1. Tiêu-đề (Kh 1:1a).
Chữ đã dịch là khải-thị có nghĩa là “vén bức màn”. Chúng ta có từ tiếng Anh là apocalyspe, chẳng may ngày nay từ này đồng nghĩa với sự hỗn độn và thảm họa. Động từ của chữ này có nghĩa “mở-ra, tiết-lộ, bày-tỏ”.
Trong sách này, Đức Thánh Linh vén bức màn để chúng ta có thể chiêm-ngưỡng Đấng Christ vinh-hiển trên trời và nhìn thấy chương trình đời-đời của Ngài được ứng-nghiệm trên thế-gian.
Nói cách khác, Khải-huyền là sách mở trong đó Đức Chúa Trời tiết-lộ kế hoạch và chương trình của Ngài đối với hội thánh. Khi Đa-ni-ên viết xong lời tiên-tri, ông được lệnh “niêm phong các lời đã viết và đóng ấn quyển sách” (Đa 12:4) nhưng sứ-đồ Giăng được lệnh ngược lại: “Chớ niêm phong những lời tiên-tri trong sách này” (Kh 22:10).
Tại sao như vậy? Từ đồi Gô-gô-tha, Sự sống lại, và Sự giáng lâm của Đức Thánh Linh, Đức Chúa Trời đã dẫn vào “những ngày cuối cùng” (Hêb 1:1-2) và Ngài sắp làm ứng-nghiệm các mục đích Ngài đã giấu kín trong thế-gian này. “Thời giờ đã gần rồi” (Kh 1:3; Kh 22:10).
Lời tiên-tri của Giăng chủ yếu nói về Chúa Giê-xu Christ, chớ không cho biết những sự-kiện trong tương lai. Bạn không được phân ly Con người (Chúa Giê-xu Christ) ra khỏi lời tiên-tri, vì không có Con người, chẳng có lời tiên-tri nào được ứng-nghiệm.
Tiến-sĩ Merrill Tenney viết, “Đối với lời tiên-tri Ngài không phải là ngẫu nhiên nhưng Ngài là chủ đề chính của lời tiên-tri”.
Trong Kh 1:1-3:22, chúng ta nhìn thấy Chúa Giê-xu Christ là Thầy Tế Lễ - Nhà Vua thật cao trọng đang chăm sóc các hội thánh.
Trong Kh 4:1-5:14, Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời được vinh hiển trên trời, đang ngự trên ngôi. Trong Kh 6:1-18:24, Đấng Christ là Quan Án của cả thế gian và trong Kh 19:1-21 Ngài là Vua trên muôn vua trở lại trần gian trong chiến thắng.
Sách kết thúc bằng việc Tân Lang tiếp rước Tân Nương của Ngài, là Hội Thánh, vào trong nước trời vinh hiển.
Bạn làm bất cứ điều gì khi nghiên-cứu sách này, hãy cố gắng biết rõ hơn về Cứu Chúa của bạn.
2. Trước giả (Kh 1:1-2,4,9; Kh 22:8)
Đức Thánh Linh dùng sứ-đồ Giăng cống hiến cho chúng ta biết 3 án văn khải-thị: Sách Phúc-âm Giăng, Ba thư tín và Sách Khải-huyền. Chương trình của Ngài có thể được sắp xếp như sau:
- Phúc-âm Giăng: | - Các thư tín: | - Khải-huyền: |
Tin, Kh 20:31 | Bảo đảm IGi 5:13 | Sẵn sàng, Kh 22:20 |
Nhận được sự sống | Bày tỏ sự sống | Ban thưởng sự sống |
Sự cứu rỗi | Sự nên thánh | Sự tể trị |
Đấng tiên-tri | Thầy Tế lễ | Nhà Vua |
Sứ-đồ Giăng viết Khải-huyền khoảng năm 95 sau Chúa, trong thời trị-vì của hoàng đế La-mã Titus Flavius Domitian. Hoàng Đế đã ra lệnh mọi người dân phải thờ lạy ông ta như là “Chúa và Đức Chúa Trời”, các Cơ-đốc nhân và người Giu-đa không chịu vâng theo chiếu chỉ của vua đã dẫn đến cơn bắt bớ dữ dội.
Truyền-thuyết kể lại rằng chính Domitian đã đày sứ-đồ Giăng đến đảo Bát-mô, một thuộc địa hình phạt của đế quốc Rô-ma nằm ngoài khơi vùng Tiểu Á. Do địa điểm nơi Giăng bị lưu đày, có lẽ chúng ta không ngạc nhiên khi thấy chữ biển xuất hiện 26 lần trong sách này.
Trong thời gian Đấng Christ thi hành chức-vụ trên đất, Giăng và anh mình là Gia-cơ xin Chúa Giê-xu ban-cho chỗ đặc biệt cao-trọng bên ngôi của Ngài. Chúa phán với họ rằng họ sẽ hưởng các ngôi cao ấy sau khi dự phần trong sự thương-khó của Ngài. Gia-cơ là vị sứ-đồ đầu tiên tử-đạo (Công 12:1-2) Giăng là sứ-đồ qua đời cuối cùng, nhưng người đã chịu đau khổ trên đảo Bát-mô trước khi chết (Mat 20:20-23).
Chúa truyền đạt nội dung trong sách này cho tôi-tớ Ngài bằng cách nào? Theo Kh 1:1-2, Đức Chúa Cha tỏ cho Đức Chúa Con, sau đó Đức Chúa Con chia-sẻ lại cho các sứ-đồ, qua trung gian “thiên-sứ của Ngài.” Đôi khi chính Đấng Christ chuyển đạt thông tin cho Giăng (Kh 1:10) đôi khi là một trưỡng-lão (Kh 7:13) và thường là do một thiên-sứ (Kh 17:1; Kh 19:9-10).
Đôi lúc “một tiếng phán từ trời” bảo Giăng phải nói và làm (Kh 10:4). Sách này từ Đức Chúa Trời gởi đến cho Giăng, cho dù phương-tiện truyền đạt có là gì đi nữa nhưng tất cả đều được hà hơi bởi Thánh Linh.
Chữ tỏ ra thật quan trọng nó có nghĩa “bày-tỏ qua dấu hiệu”. Trong Khải-huyền, danh từ của chữ này được dịch là điềm (Kh 15:1), dấu lớn (Kh 12:1,3), và phép lạ (Kh 19:20). Đây là chữ được dùng trong sách Phúc-âm Giăng nói về các phép-lạ của Chúa Giê-xu Christ, vì các phép lạ Ngài làm là những sự-kiện mang sứ-điệp thuộc-linh sâu sắc hơn là sự tỏ-bày về quyền-năng. Khi nghiên-cứu Khải-huyền, bạn sẽ thấy vô số biểu-tượng, trong số đó có liên quan đến Cựu-ước.
Tại sao Giăng dùng biểu-tượng? Trước tiên, đây là loại “mật mã thiêng-liêng” chỉ những người gặp Đấng Christ cách riêng tư mới có thể hiểu được. Nếu giới chính quyền Rô-ma nào tìm cách dùng Khải-huyền làm bằng-chứng chống lại Cơ-đốc nhân, sách sẽ gây rối trí và làm họ càng khó hiểu hơn.
Nhưng lý-do mạnh mẽ hơn đó là biểu-tượng không suy yếu theo thời gian. Sứ-đồ Giăng có khả năng vẽ nên “những hình ảnh” trong khải-tượng của Đức Chúa Trời và tập hợp tất cả lại thành một loạt những sự kiện kỳ thú để an-ủi khích-lệ các thánh-đồ đang chịu bắt bớ đau khổ trải qua các thế kỷ.
Tuy nhiên, bạn không nên kết luận rằng việc Giăng dùng biểu-tượng chứng-tỏ các biến-cố đã mô-tả là không có thật. Chúng có thật!
Lý-do thứ ba cho biết tại sao Giăng dùng biểu-tượng: Biểu-tượng không chỉ chuyển tải thông tin, nhưng còn truyền đạt những giá-trị và làm nẩy sinh những cảm xúc. Có thể sứ-đồ Giăng đã viết, “Một nhà độc tài sẽ cai-trị thế giới”, nhưng thay vào đó ông lại mô-tả con thú.
Biểu-tượng nói nhiều hơn danh xưng “nhà độc tài”. Thay vì giải thích hệ thống của thế giới, Giăng chỉ giới thiệu “Thành phố Ba-by-lôn” lớn và tương phản với “ky nữ” là “cô dâu”. Chính danh xưng “Ba-by-lôn” truyền đạt chân-lý thuộc-linh sâu sắc cho người đọc có kiến-thức về Cựu-ước.
Tuy nhiên, để hiểu các biểu-tượng do Giăng viết, chúng ta phải cẩn thận không được cho phép trí tưởng tượng của chúng ta đi lang thang. Các biểu-tượng của Kinh Thánh phù hợp với toàn bộ mạc-khải trong Kinh Thánh.
Một số biểu-tượng được giải thích (Kh 1:20; Kh 4:5; Kh 5:8) số khác được hiểu theo biểu-tượng trong Cựu-ước (Kh 2:7,17; Kh 4:7) và một số biểu-tượng không có lời giải thích nào cả (“hòn đá trắng” trong Kh 2:17).
Có gần 300 ý liên quan đến Cựu-ước tìm thấy trong sách Khải-huyền! Điều này cho thấy chúng ta phải bám sát những gì Đức Chúa Trời đã bày tỏ khi giải thích, nếu không chúng ta sẽ hiều sai lệch sách tiên-tri quan-trọng này.
3. Người đọc (Kh 1:3-4)
Trong khi nguyên bản sách này được gởi cho 7 hội thánh địa phương trong Tiểu Á, Giăng cho biết rõ rằng bất kỳ tín-hữu nào cũng có thể đọc và được phước (Kh 1:3). Thực ra, Đức Chúa Trời đã hứa-ban phước đặc biệt cho người đọc và làm theo sứ-điệp chép trong sách. (Động từ đọc có nghĩa “đọc lớn tiếng”.
Sách Khải-huyền đầu tiên được đọc lớn tiếng trong các giờ thờ-phượng của hội thánh địa phương.)
Sứ đồ Phao-lô đã gởi các thư tín cho bảy Hội thánh: Rô-ma, Cô-rinh-tô, Ga-la-ti, Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se, và Tê-sa-lô-ni-ca - và bây giờ sứ-đồ gởi một sách cho bảy Hội thánh khác nhau. Ngay phần đầu sách, vị sứ-đồ đã có một sứ-điệp của Đấng Christ cho mỗi hội thánh.
Sứ-đồ Giăng không gởi sách tiên-tri này cho các Hội thánh để thỏa mãn trí tò mò của họ về tương lai. Con cái Đức Chúa Trời đang trải qua cơn bắt bớ khốc liệt và họ cần lời an-ủi. Khi nghe đọc sách này, sứ-điệp trong sách sẽ cho họ sự mạnh mẽ và trông-cậy.
Nhưng hơn nữa, sứ-điệp sẽ giúp họ tra xét lại đời sống mình (và của mỗi hội thánh địa phương) để quyết định phải sửa chữa ở lãnh vực nào. Họ không chỉ nghe đọc lời Chúa, nhưng cũng gìn giữ lời ấy - tức là, gìn giữ như kho tàng và thực hành điều đã nghe. Phước hạnh sẽ đến không chỉ bởi việc nghe nhưng còn bởi việc làm theo nữa. (Gia 1:22-25).
Thật xứng đáng khi biết có đến 7 “phước hạnh” ghi trong Kh 1:3; Kh 14:13; Kh 16:15; Kh 19:9; Kh 20:6; Kh 22:7,14. Số 7 là con số quan-trọng trong sách này vì là dấu hiệu của sự trọn-vẹn. Trong Khải-huyền, Đức Chúa Trời phán dạy với chúng ta cách Ngài sắp hoàn tất công tác trọng đại của Ngài và mở ra vương quốc đời-đời của Ngài. Trong Khải-huyền, bạn sẽ thấy 7 ấn (Kh 5:1), 7 kèn (Kh 8:6), bảy bát (Kh 16:1), 7 ngôi sao (Kh 1:16), và 7 chân đèn (Kh 1:12,20). Những “số 7” khác trong sách này sẽ được bàn luận khi nghiên-cứu.
Các sứ-điệp đặc biệt gởi cho từng Hội thánh được chép trong Kh 2:1-3:22. Một số nhà nghiên cứu nh ìn thấy trong bảy Hội thánh này “bức tranh toàn cảnh của lịch sử Hội thánh”, từ thời sứ-đồ (Hội thánh Ê-phê-sô) đến thời tiên-tri giả của thế kỷ hai mươi (Lao-đi-xê). Trong khi các hội thánh này có thể minh họa các giai đoạn khác nhau trong lịch-sử hội thánh, có lẽ đó không phải là lý-do chính tại sao các hội thánh đặc biệt này.
Thay vào đó, các hội thánh này nhắc chúng ta nhớ rằng Đầu tối cao của hội thánh được tôn cao biết những diễn tiến đang xảy ra trong mỗi hội thánh, và Ngài biết mối tương giao của chúng ta với Ngài và Lời của Ngài sẽ quyết định cuộc sống và chức-vụ của hội thánh địa phương.
Hãy nhớ rằng các hội thánh trong Tiểu Á đang đối diện với cơn bắt bớ và điều quan-trọng là họ cần phải liên-hệ thích hợp với Chúa và với nhau. Họ được hình dung bằng 7 chân đèn riêng lẽ, mỗi hội thánh soi ra ánh sáng cho thế-gian tăm tối (Phi 2:15; Mat 5:14-16). Ngày càng tối, ánh sáng phải soi mạnh hơn tiếc thay tình trạng của năm trong số các hội thánh này cần phải sửa chữa nếu họ muốn đèn của họ tỏa sáng. Khi đọc Kh 2:1-3:22, bạn thấy Chúa luôn nhắc các hội thánh nhớ lại Ngài là ai, và khích-lệ họ trở nên “người đắc thắng”.
Hơn nữa, lời-hứa về sự tái-lâm của Chúa Giê-xu Christ sẽ thúc giục các con cái Chúa luôn luôn vâng-lời và giữ mình thánh-sạch (Kh 1:3,7; Kh 2:5,25; Kh 3:3,11; Kh 22:7,12,20; IGi 1:1-3).
Không có tín-hữu nào nghiên-cứu lời tiên-tri chỉ để thỏa mãn trí tò mò của mình. Khi Đa-ni-ên và Giăng nhận khải-tượng của Đức Chúa Trời về tương lai, cả hai đều ngã xuống đất như người chết (Kh 1:17; Da 10:7-10). Họ hết sức bàng hoàng kinh hãi! Chúng ta cần phải có thái-độ như những người chiêm-ngưỡng và tôn-thờ khi đến với sách này, chớ đừng như người nghiên-cứu văn chương.
4. Lời đề tặng (Kh 1:4-6)
Một người bạn nói với tôi, “Nếu anh không dừng viết sách, anh sẽ không còn người để đề tặng”. Tôi cảm kích lời khen tặng, nhưng tôi không đồng ý với cảm nghĩ đó. Sứ-đồ Giăng không gặp khó khăn để biết nên tặng quyển sách cho ai! Nhưng trước khi viết lời tặng, Giăng nhắc nhở các độc giả nhớ rằng Ba Ngôi Đức Chúa Trời đã cứu họ và sẽ gìn giữ khi họ đối diện với khó khăn hoạn nạn.
• Đức Chúa Cha được mô-tả là Đấng Đời Đời (Kh 1:8 Kh 4:8).
Tất cả lịch-sử đều là một phần trong chương trình đời-đời của Ngài, kể cả sự bắt bớ của thế-gian trên Hội thánh. Tiếp theo Đức Thánh Linh là Đấng Trọn vẹn, vì không có 7 Thánh Linh, nhưng chỉ có một. Điều chép ở đây có liên-hệ đến Ês 11:2.
Cuối cùng, chúng ta nhìn thấy Chúa Giê-xu Christ trong chức-vụ 3 vai trò: Đấng Tiên-Tri (Đấng làm chứng thành-tín), Thầy Tế-Lễ (Đấng sanh đầu nhứt từ trong kẻ chết), và Nhà Vua (Vua trên muôn vua của thế gian). Sanh đầu nhứt không có nghĩa “người đầu tiên từ kẻ chết sống lại”, nhưng “là người cao trọng nhất trong những kẻ chết sống lại”. Sanh đầu nhứt là tước hiệu tôn-trọng (Rô 8:29; Côl 1:15,18).
Nhưng trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, sách này chỉ đề tặng một mình Chúa Giê-xu Christ.
Lý-do vì sao? Vì những gì Ngài đã làm cho con-dân Ngài. Trước tiên, Ngài yêu thương chúng ta (trong hầu hết các bản gốc đều dùng ở thì hiện tại). Điều này tương ứng với điều nhấn mạnh trong Phúc-âm Giăng. Ngài cũng rửa sạch tội-lỗi chúng ta, hoặc giải thoát chúng ta khỏi tội-lỗi như trong một số bản khác.
Điều này tương-ứng với sứ-điệp trong các thơ tín của Giăng (IGi 1:5).
Và cuối cùng, Đấng Christ đã làm chúng ta nên nước thầy tế-lễ, và đây là điểm quan-trọng trong Khải-huyền. Ngày nay, Chúa Giê-xu Christ là Thầy Tế Lễ - Nhà Vua giống như Mên-chi-xê-đéc (Hêb 7:1-28), chúng ta được đồng ngồi với Ngài trên ngôi Ngài (Êph 2:1-10).
Trong lòng yêu thương khoan dung của Đức Chúa Trời, Ngài gọi dân Y-sơ-ra-ên trở nên nước thầy tế-lễ (Xu 19:1-6), nhưng dân Do-thái không trung-thành với Đức Chúa Trời và Ngài đã cất ngôi nước khỏi họ (Mat 21:43). Ngày nay, con-dân Đức Chúa Trời (Hội thánh) là vua và thầy tế-lễ của Ngài (IPhi 2:1-10), đang thực hành quyền hạn thiêng-liêng và hầu-việc Đức Chúa Trời trong thế-gian này.
5. Chủ đề (Kh 1:7-8)
Chủ-đề bao trùm của sách Khải-huyền là sự tái-lâm của Chúa Giê-xu Christ để chiến thắng mọi kẻ thù và thiết lập ngôi nước của Ngài. Đó thật là quyển sách nói về chiến thắng và con-dân của Ngài, “những người chiến thắng” (Kh 2:7,11,17,26; Kh 3:5,12,21; Kh 11:17; Kh 12:11; Kh 15:2; Kh 21:7). Trong thơ tín thứ nhất, sứ-đồ Giăng cũng gọi con-dân của Đức Chúa Trời là “những người đắc thắng” (Kh 2:13-14; Kh 4:4; Kh 5:4-5).
Dưới cái nhìn của người không tin, Chúa Giê-xu Christ và Hội thánh Ngài bị thất bại trong thế-gian này nhưng theo con mắt đức-tin, Chúa Giê-xu và con cái Ngài là những người thật sự đắc thắng.
Như Peter Marshall đã từng nói, “Thua trong một vụ-kiện để cuối cùng thành công tốt hơn là thành công trong một vụ-kiện để rồi đến kết cuộc lại thất bại”.
Lời phán trong câu 7, “Này, Ngài đến giữa đám mây” mô-tả quang cảnh Chúa trở lại trần-gian, và được mô-tả rõ hơn trong Kh 19:11. Đây không giống với quang cảnh Chúa tái-lâm nơi không trung tiếp rước con-dân Ngài (ITês 4:13-18; ICôr 15:51).
Khi Ngài đến tiếp rước Hội thánh, Ngài sẽ đến “như kẻ trộm” (Kh 3:3; Kh 16:15) và chỉ những người được sanh lại mới thấy Ngài (IGi 3:1-3). Biến-cố mô-tả trong Kh 1:7 sẽ được toàn thế giới chứng-kiến, đặc biệt bởi dân Y-sơ-ra-ên đã ăn-năn (Đa 7:13; Xa 12:10-12). Biến-cố ấy sẽ xảy ra công khai không che giấu (Mat 24:30-31), và sẽ đưa thời kỳ đại nạn đạt đến điểm đỉnh Kh 6:1-19:21
Các nhà nghiên-cứu yêu mến Chúa thường không nhất trí với trình tự các biến-cố dẫn đến việc thiết lập nước đời-đời của Đức Chúa Trời (Kh 21:1-22:21).
Cá nhân tôi tin rằng biến-cố sắp đến trong lịch trình của Đức Chúa Trời là Sự Hoan Hỉ, lúc ấy Đấng Christ trở lại nơi không trung tiếp rước hội thánh Ngài vào sự vinh-hiển.
Lời-hứa của Đấng Christ dành cho Hội thánh chép trong Kh 3:10-11 cho thấy hội thánh sẽ không trải qua Cơn Đại Nạn, điều này được sứ-đồ Phao-lô ủng hộ trong ITês 1:10; ITês 5:9-10 Đối với tôi thật ý nghĩa khi tôi không tìm thấy có chữ Hội thánh trong khoảng giữa từ Kh 3:22 và Kh 22:16
Sau khi Hội thánh được cất lên, các biến-cố ghi trong Kh 6:1-19:21 sẽ xảy ra: Cơn Đại Nạn, “con người tội ác” xuất hiện, Cơn Thạnh Nộ lớn (cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời) và nền cai-trị thế giới do con người lập lên bị sụp đổ, sau đó Đấng Christ trở lại lập nước Ngài. Đa-ni-ên cho thấy giai đoạn rối reng toàn cầu này kéo dài trong 7 năm (Đa 9:25-27).
Suốt sách Khải-huyền, bạn sẽ tìm thấy những số đo về thời gian phù hợp với khoảng thời gian 7 năm này (Kh 11:2-3; Kh 12:6,14; Kh 13:5).
Các danh xưng dành cho Đức Chúa Trời trong câu 8 cho thấy rõ chắc chắn Ngài có khả năng thi hành các chương trình đời-đời của Ngài trong lịch-sử con người. Alpha và Omega là mẫu tự đầu tiên và cuối cùng trong bản chữ cái Hy-lạp vì vậy, Đức Chúa Trời là Đấng khởi nguồn của mọi vật và cũng là kết thúc của muôn vật.
Ngài là Đức Chúa Trời đời-đời (xem c.4), không bị giới hạn bởi thời gian. Ngài cũng là Đấng Toàn Năng, Ngài làm được mọi sự. Toàn Năng là danh xưng quan-trọng của Đức Chúa Trời trong sách Khải-huyền (Kh 1:8; Kh 4:8; Kh 11:17; Kh 15:3; Kh 16:7,14; Kh 19:6,15; Kh 21:22).
Đức Chúa Cha được gọi là “Alpha và Omega” trong Kh 1:8 và Kh 21:6 nhưng danh xưng này cũng áp-dụng cho Con Ngài (Kh 1:1;1 Kh 22:13). Đây là lý-lẽ mạnh mẽ xác-nhận thần-tính của Đấng Christ. Tương tự, danh xưng “Đấng đầu tiên và cuối cùng” có chép trong Ê-sai (Ês 41:4; Ês 44:6; Ês 48:12-13) và đây là bằng-chứng khác chứng-tỏ Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời.
6. Cơ-hội viết sách (Kh 1:9-18)
Sách này được viết ra bởi kinh-nghiệm thuộc-linh sâu sắc trong những năm tháng sứ-đồ Giăng bị đày trên đảo Bát-mô.
Những điều Giăng nghe (Kh 1:9-11) vào ngày của Chúa là tiếng như tiếng kèn vang vọng đằng sau ông. Đó là tiếng phán của Chúa Giê-xu Christ! Như chúng ta biết, vị sứ-đồ đã không nghe thấy giọng nói của Chúa mình đã hơn 60 năm, từ lúc Ngài về trời. Chúa uỷ thác cho Giăng viết sách này và gởi cho 7 Hội thánh Ngài đã chọn.
Về sau, Giăng nghe một tiếng khác như tiếng kèn gọi ông lên trời (Kh 4:1). (Một số nhà nghiên-cứu liên-hệ điều này với ITês 4:13-18 và thấy rằng “việc lên trời” của Giăng là hình ảnh hội thánh được cất lên).
Những điều Giăng thấy (Kh 1:12-16) là khải-tượng về Đấng Christ được vinh-hiển. Kh 1:20 cho biết-rõ chúng ta không được phép hiểu khải-tượng này theo nghĩa đen, vì đó chỉ là biểu-tượng. Bảy chân đèn tượng-trưng cho 7 hội thánh nhận lấy sách. Mỗi hội thánh địa phương là ngọn đèn soi ra ánh sáng của Đức Chúa Trời cho thế-gian tăm tối này. Hãy đối chiếu khải-tượng này với sự hiện thấy của Đa-ni-ên (Đa 7:9-14).
Áo của Đấng Christ là áo của Quan Án và Nhà Vua, Đấng đáng tôn quý và oai quyền. Tóc trắng tiêu biểu cho sự bất biến của Ngài, “Đấng Thượng Cổ” (Đa 7:9,13,22). Mắt của Ngài nhìn thấy tất cả (Kh 19:12; Hêb 4:12) giúp Ngài có thể đoán-xét cách công-bình. Chơn Ngài như đồng sáng cũng nói đến sự phán-xét, vì bàn thờ bằng đồng là nơi lửa thiêu hóa của lễ. Chúa đã đến để đoán-xét Hội thánh, và Ngài cũng sẽ đoán-xét thế giới tội ác này.
“Tiếng như tiếng nước lớn” (c.15) khiến tôi nghĩ đến thác Niagara! Có thể đưa ra 2 ý ở đây: (1) Đấng Christ tập trung tất cả “các nguồn của sự mạc-khải” và là “Lời phán sau cùng” của Đức Chúa Cha cho con loài người (Hêb 1:1-3) (2) Ngài phán bằng sức mạnh và oai quyền để mọi người đều phải nghe. Thanh gươm trong miệng Ngài chắc chắn tượng-trưng cho Lời hằng sống của Đức Chúa Trời (Hêb 4:12; Êph 6:17). Ngài dùng lời Ngài để chiến đấu với kẻ thù (Kh 2:16; Kh 19:19-21).
Câu 20 cho chúng ta biết 7 ngôi sao trong tay Ngài tiêu-biểu cho các thiên-sứ (sứ giả, Lu 7:24 dịch theo tiếng Hy-lạp), hoặc có thể tiêu-biểu cho mục sư, của bảy Hội thánh. Đức Chúa Trời nắm giữ các tôi-tớ Ngài và đặt để họ nơi Ngài muốn để “soi rọi” cho danh Ngài. Trong Đa 12:3 những người chinh-phục linh-hồn tội-nhân được ví như các ngôi sao sáng chói.
Gương mặt sáng ngời của Chúa nhắc chúng ta nhớ lại sự Hóa Hình của Ngài (Mat 17:2) và cũng cho chúng ta nhớ lại lời tiên-tri trong Ma 4:2 (“Mặt trời công-bình sẽ mọc lên”). Mặt trời là hình ảnh quen thuộc nói về Đức Chúa Trời trong Cựu-ước (Thi 84:11), nhắc nhở chúng ta không chỉ nhớ đến ơn phước Ngài ban cho, nhưng Ngài còn đoán-xét nữa. Mặt trời vừa có thể làm cho cây khô héo vừa làm cho cây lớn lên xanh tốt!
Sự hiện thấy về Đấng Christ ở đây hoàn toàn khác với diện mạo của Đấng Cứu Rỗi, Giăng đã biết “bằng xương bằng thịt” khi Ngài thi hành chức-vụ trên thế gian.Ngài không phải là “người thợ mộc Do-thái hiền hoà” mà nhiều người đa cảm thích ca ngợi.
Ngài là Con Đức Chúa Trời đã sống lại, được vinh-hiển và tôn-cao, là Thầy Tế Lễ - Nhà Vua có quyền phán-xét hết thảy mọi người, khởi đầu là con-dân của Ngài (IPhi 4:17)
Điều Giăng làm (Kh 1:17-18) có thể dự đoán trước: người ngã xuống dưới chân Chúa như người chết! Giăng là vị sứ-đồ đã nghiêng trên ngực Chúa! (Gi 13:23). Sự hiện thấy về Đấng Christ được tôn-cao chỉ có thể làm chúng ta kinh sợ (Đa 10:7-9). Ngày nay chúng ta cần có thái-độ kính-sợ này trong khi quá nhiều tín-hữu có cách ăn nói và hành động không kỉnh kiền với Đức Chúa Trời.
Phản-ứng của Giăng minh họa những gì Phao-lô viết trong IICôr 5:16: “Dầu chúng tôi từng theo xác thịt mà nhận biết Đấng Christ, nhưng cũng chẳng còn nhận biết Ngài cách ấy đâu”. Sứ-đồ Giăng không còn “nép mình” bên cạnh Chúa, như ông đã làm trước đó.
Chúa bảo-đảm cho ông bằng cách chạm vào người ông và phán cùng ông. (Đa 8:18; Đa 9:21; Đa 10:10,16,18). “Đừng sợ!” là lời khích lệ an-ủi cho mọi con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta không cần phải sợ sự sống, vì Ngài là “Đấng Sống”. Chúng ta không cần sợ sự chết, vì Ngài đã chết và hiện đang sống, Ngài đã chiến thắng tử thần. Và chúng ta không cần sợ cõi đời-đời vì Ngài cầm chìa khóa các cửa âm-phủ (thế giới người chết) và sự chết. Đấng có chìa khóa trong tay là Đấng có quyền.
Bắt đầu sách này, Chúa Giê-xu tự giới thiệu Ngài cho con-dân Ngài trong sự vinh-hiển oai nghiêm. Hội Thánh ngày hôm nay cần có sự nhận biết mới mẻ về Đấng Christ và vinh-quang của Ngài. Chúng ta cần phải nhìn thấy Ngài “cao-trọng và được tôn-cao” (Ês 6:1). Ngày nay trong các Hội thánh thiếu mất đi lòng kính-sợ và thờ-phượng Chúa đúng nghĩa. Chúng ta cứ tự hào về địa-vị của chúng ta, thay vì phủ-phục nơi chân Ngài.
Trải qua nhiều năm, Evans Roberts đã cầu-nguyện, “xin uốn nắn con, uốn nắn con!” và khi Đức Chúa Trời đáp lời, cơn phấn-hưng xảy ra tại xứ Wales đem lại nhiều kết quả.
7. Bố cục (Kh 1:19)
Theo như tôi được biết, Sách Khải-huyền là sách duy nhất trong Kinh Thánh có bố cục được Thánh Linh hà hơi. “Những sự ngươi đã thấy” nói đến khải-tượng trong chương 1. “Những việc nay hiện có” liên quan đến chương 2 - 3, các sứ-điệp đặc biệt gởi cho bảy Hội thánh. “Những việc sau sẽ đến” bao gồm các biến-cố mô tả trong các chương 4-22. Những điều Giăng nghe trong Kh 4:1 minh-chứng cho lời giải thích này.
Đây là bố-cục gợi ý của sách dựa trên lời giải thích của c.Kh 19:
I. NHỮNG SỰ NGƯƠI ĐÃ THẤY – chương 1
Giăng nhìn thấy Đấng Christ được tôn-cao.
II . NHỮNG VIỆC NAY HIỆN CÓ – chương 2-3
Các sứ điệp gởi cho bảy Hội Thánh.
III . NHỮNG VIỆC SAU SẼ ĐẾN – chương 4-22
A. Ngai trên trời, chương 4-5
B. Cơn Đại Nạn trên đất, chương 6-19
1. Đầu cơn Đại Nạn, chương 6-9
2. Giữa Cơn Đại Nạn, chương 10-14
3. Cuối Cơn Đại Nạn, chương 15-19
C.Vương quốc của Đấng Christ, chương 20
D.Trời mới đất mới, chương 21-22
Để ôn lại, chúng ta có thể tóm tắt những đặc điểm cơ-bản của sách lạ lùng này như sau:
1. Đó là sách tập trung vào Đấng Christ.
Chắc chắn, tất cả Kinh Thánh đều dạy về Đấng Cứu Rỗi nhưng Sách Khải-huyền đặc biệt tán dương sự cao-trọng và vinh-hiển của Chúa Giê-xu Christ. Suy cho cùng, sách Khải-huyền là sự mạc-khải về Chúa Giê-xu Christ, chớ không đơn thuần nói đến các biến-cố trong tương lai.
2. Đó là sách “mở”.
Chúa truuyền cho Giăng không được niêm phong sách (Kh 22:10) vì con-dân Đức Chúa Trời cần đến sứ-điệp trong sách. Chúng ta có thể hiểu được sách Khải-huyền, cho dù sách chứa đựng nhiều lẽ mầu-nhiệm chúng ta chẳng thể nào hiểu được cho đến khi gặp mặt Đức Chúa Trời. Giăng đã gởi sách đến cho 7 Hội thánh trong Tiểu Á với mong ước khi các sứ-giả đọc sách ấy, các thánh-đồ sẽ hiểu đầy đủ chân-lý ghi trong sách để được an-ủi khích-lệ trong lúc khó khăn hoạn-nạn.
3. Đó là sách chứa đầy biểu-tượng.
Về sứ-điệp của các biểu-tượng trong Kinh Thánh không bị giới hạn về thời gian và không có hạn định về nội dung. Ví-dụ, biểu-tượng “Ba-by-lôn” có nguồn gốc trong Sa 10:1-11:32, và ý nghĩa càng rõ hơn khi bạn lần theo suốt trong Kinh Thánh đến cao điểm trong Kh 17:1-18:24. Lẽ-thật về biểu-tượng “Chiên Con” và “Cô dâu” cũng như vậy. Thật thích thú khi đào sâu nghiên-cứu nhiều ý nghĩa phong phú do những biểu-tượng này truyền đạt.
4. Đó là sách tiên-tri.
Điều này nói rõ trong Kh 1:3 Kh 22:7,10,18-19 cũng lưu ý Kh 10:11. Các thư gởi cho 7 Hội thánh vùng Tiểu Á giải đáp những nhu-cầu cấp bách trong những Hội thánh ấy, đó là những nhu-cầu vẫn còn thiết thực trong các Hội thánh chúng ta ngày nay nhưng phần còn lại của sách hầu như dành toàn bộ cho các mạc-khải tiên-tri.
Chính qua việc nhìn thấy Đấng Christ đắc thắng giúp cho các con cái Chúa bị bắt bớ tìm thấy niềm an-ủi cho nhiệm-vụ làm-chứng đầy khó khăn của họ. Khi bạn có sự bảo-đảm cho tương lai, bạn sẽ thấy vững lòng trong hiện tại. Chính Giăng chịu đau khổ dưới tay chính quyền La-mã (Kh 1:9), vì vậy sách được thai nghén trong khổ đau.
5. Đó là sách chứa đựng một ơn phước.
Chúng ta đã biết lời-hứa trong Kh 1:3, cũng như sáu phước lành khác rải rác trong sách. Chỉ nghe (hoặc đọc) sách thì không đủ tấm-lòng chúng ta phải đáp-ứng lời kêu-gọi trong sứ-điệp. Chúng ta phải nhận lãnh sứ-điệp cách riêng tư và nói “A-men” với lòng tin-cậy những gì ghi trong sách. (Lưu ý có nhiều chữ “A-men” trong sách: Kh 1:6,7,18; Kh 3:14; Kh 5:14; Kh 7:12; Kh 19:4; Kh 22:20-21).
6. Đó là sách xác đáng.
Những gì Giăng viết sẽ “kíp xảy đến” (Kh 1:1) vì “thì giờ đã gần” (Kh 1:3). (Cũng lưu ý Kh 22:7,10,12,20). Chữ kíp không mang nghĩa “chẳng bao lâu” hoặc “ngay tức khắc”, nhưng “nhanh chóng, gấp rút”. Đức Chúa Trời không đo đạt thời gian như chúng ta (IIPhi 3:1-10). Không ai biết lúc nào Chúa trở lại nhưng khi Ngài bắt đầu mở các ấn của sách (Kh 6:1), các biến có sẽ xảy ra với tốc độ nhanh chóng liên tục không ngắt quãng.
7. Đó là sách oai quyền.
Khải-huyền là sách nói về “ngai”, vì chữ ngai xuất hiện 46 lần trong cả sách. Nội dung sách tán dương quyền cai-trị cao cả của Đức Chúa Trời. Đấng Christ được giới thiệu trong vinh-hiển và quyền tối thượng của Ngài!
8. Đó là sách toàn cầu.
Giăng thấy các nước và các dân (Kh 10:11; Kh 11:19; Kh 17:15) nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời. Ông cũng thấy ngai trên trời và nghe nhiều tiếng nói từ các đầu cùng đất!
9. Đó là sách cao điểm.
Khải-huyền là đỉnh cao của Kinh Thánh. Tất cả bắt đầu trong Sáng-thế ký sẽ được hoàn tất và ứng nghiệm hợp với ý chỉ tối thượng của Đức Chúa Trời Ngài là “Alpha và Omega”, là đầu tiên và cuối cùng” (Kh 1:8). Điều gì Đức Chúa Trời khởi đầu, Ngài sẽ làm trọn!
Nhưng trước khi viếng thăm ngai trên trời, chúng ta nên dừng lại lắng nghe “Con người ở giữa các chân đèn” khi Ngài bày tỏ những nhu cầu cá nhân trong các Hội thánh và trong tấm lòng của chúng ta. “Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!”
2. ĐẤNG CHRIST VÀ HỘI THÁNH –PHẦN 1 (Kh 2:1-29)
Nếu bạn từng dọn nhà đến nơi ở mới và phải chọn một Hội thánh cho gia đình đến nhóm họp, bạn tất biết khó khăn thế nào khi thẩm định một hội thánh và thánh chức của hội thánh đó. Những toà nhà uy nghi có thể là ngôi nhà chết hoặc những Hội thánh không có sức sống, trong khi những cấu trúc đơn sơ có thể thuộc về những hội thánh mạnh mẽ trên bước đường theo Chúa. Hội thánh chúng ta nghĩ là “giàu có” có thể lại nghèo trong quan điểm của Đức Chúa Trời (Kh 3:17), ngược lại hội thánh “nghèo” nhưng giàu thật sự! (Kh 2:9)
Chỉ có Đấng Làm Đầu hội thánh, là Chúa Giê-xu Christ, mới có thể xem xét chính xác từng hội thánh và biết hoàn-cảnh thật của hội thánh ấy, vì Ngài nhìn thấy trong lòng chớ không xem bề ngoài (Kh 2:23b). Trong những sứ-điệp đặc biệt gởi đến 7 hội thánh trong xứ Tiểu Á, Chúa đã chiếu tia “X- quang” soi rọi tình trạng của từng Hội thánh. Nhưng Ngài có ý định dành cho tất cả Hội thánh đọc các sứ-điệp này và nhận lãnh phước hạnh từ đó. (Lưu ý “các Hội thánh” ở số nhiều trong Kh 2:7,11,17,29; Kh 3:6,13,22).
Nhưng Chúa cũng muốn phán dạy cho các cá nhân, và đây là điểm bạn và tôi bước vào. “Ai có tai mà nghe hãy nghe”. Hội thánh được hình thành bởi các cá nhân, các cá nhân quyết định trình độ thuộc-linh của hội thánh. Vì vậy, trong khi đọc những sứ-điệp này, chúng ta nên áp-dụng cho cá nhân chúng ta khi tra xét lòng mình.
Cuối cùng, chúng ta nên nhớ rằng Giăng là mục-sư hết lòng tìm cách an-ủi các Hội thánh này trong thời gian họ gặp bắt bớ khó khăn. Trước khi phán-xét thế-gian, Ngài phải phán-xét con cái Ngài (IPhi 4:17; Êxe 9:6).
Hội thánh tinh-sạch không hề sợ hãi những đợt tấn công của quỷ Sa-tan hoặc từ loài người. G. Cambell Morgan viết, “Thật vô cùng lạ lùng, Hội thánh của Đấng Christ bị bắt bớ là Hội thánh tinh-sạch. Hội thánh của Đấng Christ được chiếu cố nâng đỡ lại luôn là Hội thánh không tinh-sạch.”
1. Ê-phê-sô, Hội thánh bất cẩn (Kh 2:1-7)
Mỗi sứ-điệp bắt đầu bằng lời mô-tả hoặc xưng danh Chúa Giê-xu Christ lấy từ trong sự hiện thấy về Đấng Christ chép trong Kh 1:1-20. (Trong trường hợp Hội thánh Ê-phê-sô, hãy xem Kh 1:12,16,20).
Hội thánh Ê-phê-sô đã có thời vui hưởng sự lãnh đạo của những nhà lãnh đạo “trụ cột” - Phao-lô, Ti-mô-thê, và chính sứ-đồ Giăng - nhưng Chúa nhắc họ nhớ rằng Ngài đang thi hành chức-vụ, đặt để “các ngôi sao” nơi Ngài đẹp lòng.
Hội thánh có thể dễ dàng trở nên kiêu-căng và quên rằng mục-sư và giáo-sư chỉ là ân-tứ của Đức Chúa Trời (Êph 4:11), Ngài có thể cất họ bất cứ lúc nào. Một số hội thánh cần phải chú ý thờ-phượng Chúa chớ không phải tôn-thờ mục-sư của họ.
• Lời chứng-nhận (Kh 1:2-3,6).
Chúa thật khoan dung biết bao khi Ngài bắt đầu bằng lời khen ngợi! Trước hết, đây là Hội thánh hầu-việc, bận rộn lo công việc của Chúa. Rất có thể lịch làm việc hằng tuần của họ đầy ắp các hoạt động. Họ cũng là Hội thánh hy sinh, vì chữ khó nhọc có nghĩa “tận tụy cho đến kiệt sức”.
Tín-hữu Hội thánh Ê-phê-sô đã trả giá để hầu-việc Chúa. Họ là Hội thánh vững vàng, vì chữ nhịn nhục mang nghĩa “chịu đựng cơn thử thách”. Họ cứ tiếp tục tiến tới khi đường đi trở nên cam go.
Tín hữu Hội thánh Ê-phê-sô là những đời sống biệt mình riêng ra, vì họ cẩn thận tra xét những sứ-giả viếng thăm hội thánh (IIGi 1:7-11) để xem những vị khách ấy có chân-thật không. Sứ-đồ Phao-lô báo cho các trưỡng-lão Ê-phê-sô biết rằng các giáo-sư giả sẽ đến từ bên ngoài và ngay cả bên trong Hội thánh nữa (Công 20:28-31), và sứ-đồ Giăng đã dạy họ phải “thử các thần” (IGi 4:1-6). Thật vậy, quỷ Sa-tan có những kẻ giả mạo là sứ-giả và Hội thánh phải thường xuyên tỉnh thức để phát hiện ra và khước từ chúng (IICôr 11:1-4,12-15).
Con cái Chúa trong Hội thánh Ê-phê-sô không những tự mình phân-rẽ ra khỏi tà-thuyết nhưng còn tránh xa những việc làm xấu xa nữa (Kh 2:6). Chữ đảng Ni-cô-lai có nghĩa “chinh-phục con người”. Một số nhà giải kinh tin rằng đây là một giáo-phái “sách nhiễu” Hội thánh và cướp đi tự-do con cái Chúa có được trong Đấng Christ (IIIGi 1:9-11).
Họ khai sinh ra “giới tăng-lữ” và “tín-hữu bình thường” như chúng ta biết ngày nay, sự phân chia sai lạc không có dạy trong Kinh Thánh Tân-ước. Tất cả con cái Đức Chúa Trời đều là “vua và thầy tế-lễ” (Kh 1:6; IPhi 2:9) và đều có quyền bình-đẳng đến gần Đức Chúa Trời qua huyết báu Chúa Giê-xu Christ (Hêb 10:19) Chúng ta sẽ gặp lại giáo-phái nguy hiểm này khi nghiên-cứu sứ-điệp gởi cho Hội thánh Bẹt-găm.
Tín hữu Hội thánh Ê-phê-sô là những người chịu khó nhọc nhịn nhục mang lấy gánh nặng và làm việc không ngừng nghỉ. Họ làm tất cả vì danh vinh-hiển của Ngài! Cho dù bạn có tra-xét Hội thánh này như thế nào đi nữa, bạn cũng kết luận rằng đây là Hội thánh gần như toàn hảo. Tuy nhiên, Đấng ngự giữa các chân đèn nhìn thấy trong lòng họ, và Ngài chẩn đoán khác với chúng ta.
• Lời buộc tội (Kh 2:4).
Hội thánh bận rộn, biệt riêng ra, và hy sinh này thực sự có “vấn-đề trong tấm-lòng” - họ đã bỏ lòng kính mến ban đầu! Họ phô trương “công việc...khó nhọc...và nhịn nhục” (Kh 2:2), nhưng những phẩm chất này không được thúc đẩy bằng lòng kính yêu Chúa Giê-xu Christ. (Hãy đối chiếu ITês 1:3 - “công việc của đức-tin, công lao của lòng yêu-thương, sự bền đỗ về sự trông-cậy”). Những gì chúng ta làm cho Chúa thật là quan-trọng, nhưng tại sao chúng ta làm như vậy cũng quan-trọng không kém.
“Lòng kính mến ban đầu” là gì ? Đó là lòng tận hiến cho Đấng Christ mà người mới tin Chúa thường thể hiện: nóng cháy, riêng tư, tự do, phấn khởi, và thường muốn cho mọi người biết. Đó là “tình yêu trong tuần trăng mật” của vợ chồng mới cưới (Giê 2:1-2).
Trong khi tình yêu lứa đôi càng mặn nồng và đằm thắm, thì cũng chẳng bao giờ mất đi cái thi vị và kỳ diệu của “những ngày trăng mật” ấy. Khi người chồng người vợ bắt đầu xem thường nhau, và cuộc sống trở nên tẻ nhạt, lúc ấy hôn nhân có nguy cơ tan vỡ.
Hãy thử nghĩ về điều đó: có thể hầu việc, hy-sinh, và chịu khổ “vì danh Ta” tuy nhiên chúng ta không thật sự kính yêu Chúa Giê-xu Christ! Tín-hữu Ê-phê-sô quá lo lắng giữ mình biệt riêng đến nỗi họ bỏ qua lòng kính yêu Chúa. Khó nhọc không thay thế cho lòng yêu thương được sự tinh sạch cũng không thay cho sự quan tâm được. Hội thánh phải có cả hai nếu muốn làm đẹp lòng Chúa.
Qua việc đọc các thơ tín của Phao-lô gởi cho Hội thánh Ê-phê-sô, bạn sẽ phát hiện ra ít nhất có 20 lần nhắc đến tình yêu. Bạn cũng thấy Phao-lô nhấn mạnh đến địa-vị cao trọng của con cái Ngài “trong Đấng Christ...ở các nơi trên trời”. Nhưng Hội thánh Ê-phê-sô đã sa ngã và không sống đúng với địa-vị trong Đấng Christ tại trên trời (Kh 2:5). Chỉ khi yêu mến Chúa nồng nàn chúng ta mới hầu-việc Ngài cách trung-tín được. Tình yêu chúng ta dành cho Ngài phải tinh sạch (Êph 6:24).
• Lời khuyên bảo (Kh 2:5-7).
Chúng ta có thể tìm lại “lòng kính mến ban đầu” nếu làm theo 3 lời dạy của Đấng Christ.
-Trước hết, phải nhớ lại (nghĩa đen “tiếp tục nhớ”) chúng ta đã mất điều gì và ấp ủ lòng khát khao tìm lại mối tương-giao khắng khít với Chúa.
-Sau đó chúng ta phải ăn năn - thay đổi suy nghĩ của chúng ta - và xưng tội với Chúa (IGi 1:9).
-Thứ ba, chúng ta phải làm lại những công việc ban đầu, lập lại mối tương-giao ban đầu đã đổ vỡ vì tội-lỗi và sự hờ hững. Đối với người tin Chúa, điều này có nghĩa là lập lại sự cầu-nguyện, đọc và suy gẫm Kinh Thánh, vâng lời hầu-việc và thờ-phượng.
Mặc dù có nhiều đặc quyền, nhưng Hội thánh Ê-phê-sô đang có nguy cơ mất đi ánh sáng! Hội thánh mất đi tình yêu chẳng bao lâu sẽ mất đi ánh sáng cho dù có tiếng tăm như thế nào đi nữa.