top of page

PHI-LÍP (1)

KINH THÁNH

TÂN-ƯỚC

THỂ LOẠI

Các Sách Thư Phao-lô (13)



NHỮNG ĐIỀU CƯỚP MẤT NIỀM VUI (Phi 1:1-2)


Mark...

...Twain là một nhà-văn trào lộng chuyên nghiệp, có những bài diễn-thuyết và bài văn khiến cho cả thế giới đều cười phá lên và quên đi những phiền muộn của họ một thời gian ngắn. Thế nhưng bản thân Mark Twain lại là một con người có một đời tư bị đau buồn dày vò.

Lúc người con gái yêu quý của ông là Jean đột ngột qua đời vì bệnh bại liệt, Twain quá đau khổ để có thể đến dự đám tang, đã thố lộ với một bạn thân: “Tôi chưa hề ghen tị với ai dữ dội hơn là với cái chết. Tôi luôn luôn ghen tị với cái chết.”

Chúa Giê-xu Christ vốn là “một người từng-trải sự buồn bực, biết sự đau-khổ.” Thế nhưng Ngài vốn có một niềm vui sâu xa vượt hẳn tất cả những gì mà đời này có thể ban cho người ta. Lúc phải trực-diện với cái chết tại Gô-gô-tha, Chúa Giê-xu đã bảo với những người theo Ngài: “Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta ở trong các ngươi, và sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn” (Gi 15:11).

Nhưng ai từng tin-cậy Đấng Christ đều được đặc ân trải-nghiệm “niềm vui trọn vẹn” (Thi 16:11). Thế nhưng, đã có ít những Cơ-đốc nhân biết lợi dụng cái đặc quyền này. Họ sống dưới một đám mây chán-nản thất vọng trong khi đáng lẽ họ đã có thể bước đi dưới niềm vui của ánh nắng mặt trời. Điều gì đã cướp đi niềm vui của họ?

Lời đáp cho câu hỏi quan-trọng này được tìm thấy trong một bức thư đã được viết ra từ nhiều thế kỷ trước đây. Sứ-đồ Phao-lô đã viết thư này lúc ông bị giam trong một nhà tù tại Rô-ma vào khoảng năm 62 SC, để gửi cho các bạn ông là các Cơ-đốc nhân trong Hội thánh tại Phi-líp, một Hội thánh mà sứ-đồ Phao-lô đã thiết lập trong vòng lưu hành truyền-giáo thứ hai của ông (Công 16:1-40).

Một trong các thành-viên của Hội thánh ấy là Ép-ba-phô-dích đã được phái đi Rô-ma để đem đến cho vị sứ-đồ một quà tặng đặc biệt và giúp đỡ ông trong lúc khó khăn (Phi 2:25-30; Phi 4:10-20).

Bức thư Phao-lô gửi cho Hội thánh tại Phi-líp là một bức thư cám ơn của một nhà truyền-giáo, nhưng lại vượt xa hơn thế. Nó là một công cụ để Phao-lô san-sẻ bí quyết để có được niềm vui của một Cơ-đốc nhân! Trong 4 chương sách này, đã có ít nhất 19 lần Phao-lô đề cập niềm vui, sự vui-mừng hoặc vui vẻ!


Điều bất thường của bức thư này là như vầy: Tình cảnh của Phao-lô có vẻ như chẳng có lý-do gì khiến ông có thể vui-mừng được. Ông là một tù-nhân của người La-mã, và vụ-án của ông sắp bị đưa ra xét-xử. Ông có thể được trắng án hoặc cũng có thể bị chặt đầu! Công 28:30-31 cho thấy ông đang làm một tù-nhân ở trọ tại một căn nhà do chính ông thuê, nhưng lại bị xiềng cùng với một binh sĩ La-mã, và không được công-khai truyền-giảng.

Phao-lô từng trông mong được đi Rô-ma với tư cách một nhà truyền-đạo (Rô 1:13-16), nhưng trái lại, ông đã đến đó như một tên tù. Và tai hại hơn nữa là các tín-hữu tại Rô-ma lại đang chia-rẽ nhau: một số người ủng hộ Phao-lô, trong khi một số khác chống lại ông (Phi 1:15-17). Thật vậy, thậm chí một số Cơ-đốc nhân còn muốn gây thêm khó khăn cho vị sứ-đồ nữa!


Thế nhưng, bất chấp mọi nguy hiểm và bất tiện đó, lòng Phao-lô đang tràn đầy niềm vui! Đâu là bí quyết của niềm vui ấy? Nó được tìm thấy trong một từ ngữ khác thường được nhắc đi nhắc lại trong thư Phi-líp, đó là từ ngữ tâm-trí (mind).

Phao-lô đã dùng từ ngữ tâm-trí 10 lần, cũng dùng từ ngữ suy nghĩ thêm 5 lần nữa. Hãy thêm vào đó số lần ông dùng từ ngữ nhớ lại, thế là tổng cộng bạn có được 16 lần đề cập tâm-trí. Nói khác đi, bí quyết của niềm vui Cơ-đốc nhân được tìm thấy trong cách thức mà người tín-hữu suy nghĩ - tức là các thái-độ của người ấy.

Dù sao thì điều mà người ta trông-mong sẽ quyết định cho phần kết quả sẽ đến. Hễ ta suy nghĩ thế nào, ta sẽ trở thành người thể ấy (Ch 23:7). Vậy, thư Phi-líp là quyển sách về Tâm Lý học của Cơ-đốc giáo, đặt cơ-sở vững-vàng trên giáo-lý của Thánh Kinh.

Nó không phải là quyển sách tự học nông cạn chỉ cho độc-giả phương pháp cách thức để tự thuyết phục mình rằng “mọi sự đều sẽ biến chuyển tốt đẹp thôi.” Nó là một quyển sách giải thích tâm-trí mà người tín-hữu cần phải có nếu muốn trải-nghiệm niềm vui của Đấng Christ trong một thế giới đầy hoạn-nạn khó khăn.


Cách tốt nhất để nắm được bức tranh toàn cảnh của quyển sách này là trước hết, phải tìm xem đâu là những kẻ trộm cướp niềm vui của chúng ta, sau đó, sẽ xác nhận các loại thái-độ chúng ta cần phải có để bắt lấy và chinh-phục “những tên trộm cướp” ấy.

Những kẻ cướp mất niềm vui của bạn:


1. Hoàn-cảnh: Phần đông chúng ta phải thú nhận rằng khi mọi việc đều chuyển biến đúng theo ý chúng ta, thì chính ta cảm thấy vui vẻ hạnh phúc và dễ sống hơn.

Bé Bích bảo với cô bạn gái đến thăm mình: “Hôm nay, chắc ba tôi gặp chuyện dễ chịu trong sở làm. Ông đã không thắng lết bánh xe trên đường vào nhà cũng không dập mạnh cánh cửa. Lại còn hôn má tôi nữa!”

Nhưng có bao giờ bạn chịu dừng lại để nghĩ rằng những hoàn-cảnh xảy ra trong đời sống bạn có thể thực sự kiểm soát được thật hiếm hoi lắm không? Chúng ta không thể kiểm soát được thời tiết hay số lượng xe cộ chạy trên đường, hoặc trên những điều thiên-hạ nói và những việc thiên-hạ làm.

Người nào để niềm vui và hạnh phúc lệ thuộc vào các hoàn-cảnh lý tưởng người ấy sẽ thường xuyên lâm vào đau-khổ.

Thi sĩ Byron tùng viết: “Con người là trò chơi của hoàn-cảnh”. Thế nhưng ở đây, Phao-lô đang lâm vào một hoàn-cảnh hết sức tồi tệ, lại viết được một bức thư tràn ngập niềm vui!


2. Người khác: Con gái tôi chạy vụt ra khỏi trường học, nhưng khi về đến trước cửa nhà, thì nó đạp mạnh vào cánh cửa ra vào. Nó vùng vằng đi lên cầu thang vào phòng và đóng đánh sầm cánh cửa.

Nó luôn miệng lằm bằm: “Thiên-hạ, thiên-hạ, thiên-hạ, thiên-hạ!”

Tôi đến trước cửa phòng nó, gõ cửa nhè nhẹ và hỏi: “Ba vào có được không?”

Nó đáp: “Không!”

Tôi cố gắng thêm một lần nữa, nhưng nó lại càng gắt gỏng hơn: “KHÔNG!”

Tôi hỏi: “Tại sao ba lại không vào được?”

Nó đáp: “Tại vì ba cũng là thiên-hạ!”


Tất cả chúng ta đều bị mất vui vì cớ người khác! Vì họ là họ, vì những gì họ nói, những việc họ làm (và chắc chính chúng ta cũng từng góp phần khiến cho một người nào đó bực bội. Sự việc đã xảy ra theo hai chiều). Nhưng chúng ta phải sống và làm việc với người khác!

Chúng ta không thể tự cô lập mà vẫn có thể sống để làm vinh-hiển cho Đấng Christ. Chúng ta là ánh sáng cho thế-gian và là muối của đất. Nhưng lắm lúc ánh sáng bị mờ đi, và chất muối trở thành đắng vì cớ người khác. Có cách nào để chúng ta vui mừng bất chấp mọi người, hay không?


3. Của cải vật chất. Một người giàu có mới dọn về ngôi biệt thự của mình và một người láng giềng thuộc giáo-phái Quaker vốn tin vào một nếp sống giản dị, theo dõi thật kỹ các hoạt động của ông ta. Người láng giềng đếm số bàn ghế và số các đồ vật lỉnh kỉnh được chở vào nhà.

Cuối cùng, anh ta nói với ông chủ nhà: “Ông bạn láng giềng ơi, nếu ông có cần gì, xin hãy đến gặp tôi để tôi bảo cho ông biết cách phải sống mà chẳng cần chi đến mọi vật kia!”


Có lần Abraham Lincoln đi ngoài phố với hai con trai mình, và chúng đang vừa khóc vừa đánh nhau. Một người bạn hỏi ông: “Hai cậu bé có chuyện gì với nhau thế?” Lincoln đáp: “Ồ, chỉ là chuyện rắc rối với cả thế giới đó thôi. Tôi có ba trái bồ đào. Thế mà cậu nào cũng muốn mình có được hai trái.”

Của cải vật chất! Thật là những tên trộm cướp ghê gớm! Thế nhưng, Chúa Giê-xu từng dạy: “Hãy giữ cẩn thận chớ hà tiện gì hết vì sự sống của người ta không phải cốt tại của cải mình dư dật đâu.” (Lu 12:15).

Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giê-xu đã cảnh cáo đối với việc thâu chứa của cải dưới đất này chúng chẳng an toàn, chẳng tồn tại lâu dài, chẳng bao giờ thỏa mãn được ai!

Thế nhưng phần lớn thiên-hạ hiện nay lại nghĩ rằng niềm vui là do các tài vật mà họ sở hữu đem đến. Thật ra, của cải có thể cướp mất của chúng ta loại niềm vui duy nhất điều thật sự có thể tồn tại.


4. Lo-âu: Đây là tên trộm cướp tệ hại nhất! Biết bao người đã bị mất đi sự bình-an và thành tựu chỉ vì lo-âu! Thật vậy, âu-lo có cả các hậu quả thuộc thể của nó, và nếu thuốc men có thể cất đi các triệu chứng, nó chẳng bao giờ cất đi được nguyên nhân.

Lo-âu là một “vấn đề của nội tâm.” Bạn có thể mua “giấc ngủ” ở cửa hiệu thuốc, nhưng không thể mua dược sự “thảnh thơi an nghỉ.”

Nếu Phao-lô muốn lo-âu, chắc ông có vô khối cơ hội. Ông vốn là một tù-nhân chính trị đang trực diện với bản án tử-hình. Các bạn thân của ông tại Rô-ma lại đang có thái-độ chia-rẽ nhau đối với vụ án của ông. Cũng chẳng có ban trị sự hội truyền-giáo nào trợ cấp, cũng chẳng có Hiệp hội Luật gia Hổ trợ nào bào chữa giúp cho.

Nhưng bất chấp mọi khó khăn đó, Phao-lô chẳng lo lắng chi cả! Trái lại, ông còn viết một bức thư tràn đầy niềm vui và dạy chúng ta cách thôi lo-âu.


Có 4 tên cướp đã lấy mất đi niềm vui của chúng ta: hoàn-cảnh, thiên-hạ, của cải vật chất và sự lo-âu.

Làm thế nào chúng ta có thể loại bỏ những tên cướp này và giữ được niềm vui thật trong Chúa?

Câu trả lời là: Hãy nuôi-dưỡng tâm-trí cách đúng đắn. Nếu quan-điểm quyết định kết quả thì thái-độ mà chúng ta nuôi dưỡng trong tâm-trí sẽ đem đến cho chúng ta niềm vui hay lấy mất nó đi.

Trong thư Phi-líp, Phao-lô đã đưa ra 4 thái-độ để duy trì niềm vui bất chấp hoàn-cảnh, thiên-hạ, của cải vật chất hay những điều lo lắng.


* Bốn thái-độ duy trì niềm vui của bạn:

(1). Tâm-trí chân-chất – (Phi 1:1-30) “Một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định” (Gia 1:8).

Hoặc nếu dùng một câu tục ngữ La-văn cổ xưa: “Với người hoa tiêu không biết mình đang đi về bến cảng nào, thì chẳng có ngọn gió nào là gió thuận chiều cả.” 

Lý-do khiến nhiều Cơ-đốc nhân hoang mang trước hoàn-cảnh, là vì họ không nuôi-dưỡng một “tâm-trí chân-chất”. Phao-lô diễn tả tấm-lòng chân-chất tận tâm với Đấng Christ đó như thế này: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy” (Phi 1:21).

Trong chương 1, Phao-lô thảo-luận về các hoàn-cảnh khó khăn của ông và trực diện với nó bằng thái-độ chân-thành. Nhưng các hoàn-cảnh của ông đã không cướp đi được niềm vui của ông bởi vì ông không sống để hưởng thụ các hoàn-cảnh, ông sống là để phục-vụ Chúa Giê-xu Christ.

Ông là một con người sống vì một chủ đích: “Tôi cứ làm một điều” (Phi 3:13). Ông không nhìn vào hoàn-cảnh mà chú trọng vào mối liên-hệ giữa ông với Chúa Giê-xu Christ. Ông không phải là tù-nhân của người ta nữa ông là “kẻ tù của Đức Chúa Giê-xu Christ” (Êph 3:1).

Xiềng-xích ông đang mang là “tôi vì Đấng Christ mà chịu xiềng-xích” (Phi 1:13). Không phải ông đang đối đầu với một vụ xét-xử dân-sự ông đang “được lập lên để bênh vực Phúc-Âm” (Phi 1:16).

Ông đã không nhìn Đấng Christ qua các hoàn-cảnh, nhưng trái lại là nhìn các hoàn-cảnh qua Đấng Christ - mà điều này làm thay đổi tất cả.


Khi một Cơ-đốc nhân có tâm-trí chân-chất, người ấy quan-tâm đến mối thông-công của Phúc-Âm (Phi 1:1-11), sự tiến triển của Phúc-Âm (Phi 1:12-26), và đức-tin của Phúc-Âm (Phi 1:27-30).

Sở dĩ Phao-lô vui-mừng trong các hoàn-cảnh khó khăn, vì chúng giúp ông tăng cường mối giao hảo (thông-công) của ông với các Cơ-đốc nhân khác, chúng tạo cơ hội để ông đưa nhiều người khác đến với Đấng Christ, và giúp ông bảo vệ cho Phúc-Âm trước các tòa án La-mã.

Khi bạn đã có được một tâm-trí chân-chất, các hoàn-cảnh sẽ làm lợi ích cho bạn, chớ không phải là chống lại bạn.

(2). Tâm-trí thuận-phục – (Phi 2:1-30). Chương này chú trọng vào người khác và câu gốc là: “Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư-vinh, nhưng hãy khiêm-nhường, coi người khác như tôn-trọng hơn mình.” (Phi 2:3).

Trong chương 1, Phao-lô đặt Đấng Christ lên hàng đầu. Trong chương này, ông đặt tha-nhân lên hàng thứ hai. Điều đó có nghĩa là ông tự đặt mình ra sau cùng! Lý-do khiến thiên-hạ gây nhiều rắc rối cho chúng ta như thế, thường là vì chúng ta chưa có cách ăn ở ứng xử đúng.

Nếu chúng ta cứ sống cả đời bằng cách tự đặt mình lên hàng đầu và những người khác cũng sống cả đời bằng cách tự đặt họ lên hàng đầu, thì sẽ xảy ra nhiều cuộc tranh giành khủng khiếp tại nhiều điểm.


Một bà mẹ cùng con trai vào thang máy để đến phòng mạch của một bác-sĩ. Đến tầng hai, có một số người vào trong thang máy, trong đó có một bà khá to béo. Khi thang máy tiếp tục đi lên thì bầu không khí im lặng bị phá vỡ bằng một tiếng thét to của nhân vật đồ sộ nọ.

Bà ta quay sang người mẹ và nói: “Con trai bà cắn tôi.” Bà mẹ kia đâm hoảng, nhưng cậu bé giải thích: “Bà ta ngồi lên mặt con, nên con mới cắn bà ta.”

Việc xảy ra trong chiếc thang máy kia cũng đang xảy ra trên khắp thế giới: mọi người và mọi quốc gia dân-tộc sở dĩ cắn xé nhau, là vì họ đang chà đạp lên nhau, đang chen lấn xô đẩy nhau.


Nhưng Cơ-đốc nhân có tâm-trí thuận-phục không trông-mong người khác phải phục-vụ mình chính người ấy lo phục-vụ tha-nhân. Người ấy coi điều lợi ích tốt đẹp của người khác quan-trọng hơn các kế hoạch và ước muốn của riêng mình.

Trong chương 2, chúng ta thấy có 4 tấm gương kỳ diệu về một tâm-trí thuận-phục: Chúa Giê-xu Christ (Phi 2:1-11), Phao-lô (Phi 2:12-18), Ti-mô-thê (Phi 2:19-24) và Ép-ba-phô-đích (Phi 2:25-30).

Mỗi một tấm gương đó đều chứng-minh cho nguyên-tắc: “Bởi vì ai tự nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên.” (Lu 14:11).

(3). Tâm-trí thuộc-linh – (Phi 3:1-21). Chắc bạn thấy trong chương này, Phao-lô đã dùng từ ngữ “sự, việc” (things) đến 11 lần. Ông vạch rõ rằng phần đông thiên-hạ đều chỉ tư tưởng đến việc thế-gian mà thôi (Phi 3:19), nhưng Cơ-đốc nhân có tâm-trí thuộc-linh thì quan tâm đến những việc thuộc về trời “Nhưng chúng ta là công-dân trên trời ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Giê-xu Christ” (Phi 3:20). Người có tâm-trí thuộc-linh nhìn mọi sự việc trên đời này theo quan-điểm của thiên-đàng - nên tất cả đã trở thành rất khác nhau.


Lúc 5 nhà truyền-giáo bị tử đạo dưới tay người Aucas tại Ecuador, một số tạp chí và nhật báo xem tấn thảm kịch ấy như một sự phung phí sinh mạng con người hết sức lớn lao.

Trong khi việc ấy đem phiền muộn đau buồn cho các bạn bè và thân-nhân của họ, thì các biến cố xảy ra tiếp theo đó đã chứng-minh rằng cái chết của họ không hề là một phung phí, cả cho họ lẫn cho thế giới.

Câu nói của Jim Eliot đã được nghiệm đúng “Người biết vứt bỏ điều mình không thể giữ để được điều mình không thể mất, thì không phải là kẻ dại dột.”

Việc đi tìm “các việc thế-gian” đang cướp mất niềm vui của thiên-hạ, kể cả các Cơ-đốc nhân nữa. Chúng ta muốn sở hữu nhiều điều thuộc về thế-gian để rồi khám phá ra rằng chính các điều ấy đang làm chủ, đang sở hữu chúng ta.

Con đường duy nhất dẫn đến chiến thắng và niềm vui là có được tâm-trí thuộc-linh để nhìn sự việc từ quan-điểm của Đức Chúa Trời. Cũng như Phao-lô, chúng ta phải là những kế toán viên với những giá-trị chính xác (Phi 3:1-11), phải là các lực-sĩ với các nỗ lực đúng (Phi 3:12-16), và là những khách lạ với khải-tượng đúng (Phi 3:17-21). “Tôi kể…tôi bươn theo…tôi trông đợi…” là các động từ mô tả con người có tâm-trí thuộc-linh.


(4). Tâm-trí an-toàn – (Phi 4:1-23).

Lo-âu quả thật là tư tưởng (tâm-trí) sai lầm và là cảm thức (tấm-lòng) sai lầm đối với hoàn-cảnh, thiên-hạ và sự việc. Cho nên, nếu chúng ta có được tâm-trí chân-chất, thuận-phục và thuộc-linh chúng ta không nên quá bối rối, lo-âu.

Tất cả những gì có cần cho chúng ta, là điều giữ được tấm-lòng và tâm-trí chúng ta không cho lo-âu xâm nhập. Phao-lô mô tả tâm-trí an-toàn như sau: “Sự bình-an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (Phi 4:7). Từ ngữ giữ gìn là một thuật ngữ quân sự nó có nghĩa là “đứng đó để canh chừng, đứng gác.” (Chắc bạn còn nhớ là Phao-lô vốn bị xích chung với một binh sĩ).


Chương 4 mô tả các tiềm-lực thuộc-linh mà người tín-hữu có được trong Đấng Christ: sự bình-an của Đức Chúa Trời (Phi 4:1-9), quyền-năng của Đức Chúa Trời (Phi 4:10-13) và sự cung-cấp của Đức Chúa Trời (Phi 4:14-23).

Với những tiềm-lực như thế, tại sao chúng ta lại còn lo-âu? Chúng ta có sự bình-an của Đức Chúa Trời để bảo vệ chúng ta (Phi 4:7), có Đức Chúa Trời của sự bình-an hướng dẫn chúng ta (Phi 4:9). Sự bình-an của Đức Chúa Trời đến với chúng ta khi chúng ta thực hành việc cầu-nguyện phải lẽ (Phi 4:6-7), có tư tưởng đúng đắn (Phi 4:8) và sống ngay lành (Phi 4:9).

Đây là bí quyết của Đức Chúa Trời để chiến thắng mọi lo-âu.

Chúng ta phải làm gì?

Phần lướt nhanh qua sách Phi-líp này phải thuyết phục được chúng ta rằng người ta có thể sống một cuộc đời làm Cơ-đốc nhân đầy vui-mừng bất chấp hoàn-cảnh, thiên-hạ, các việc thế-gian, và chúng ta chẳng cần chi phải âu-lo khi gặp khó-khăn. Nhưng làm thế nào để đem tất cả mọi việc đó ra thực hành trong đời sống chúng ta?


Phải chắc chắn rằng bạn là một Cơ-đốc nhân. Phao-lô đã viết bức thư này cho “hết thảy các thánh-đồ trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (Phi 1:1). Từ ngữ “thánh-đồ” chỉ có nghĩa đơn giản là “những người được biệt riêng ra.”

Khi bạn đã tự hiến thân cho Đấng Christ, thì bạn không còn thuộc về thế-gian này nữa, bạn đã thuộc về Ngài và đã được biệt riêng ra để làm vinh-danh Ngài. Mỗi chương trong sách Phi-líp đều bắt đầu hoặc là bằng “Trong Đấng Christ” hoặc là “trong Chúa” (Phi 1:1; Phi 2:1; Phi 3:1; Phi 4:1).

Bạn không thể có được tâm-trí chân-chất (“vì Đấng Christ là sự sống của tôi” – Phi 1:21) hay tâm-trí thuận-phục (“coi người khác như tôn-trọng hơn mình” – Phi 2:3) hay tâm-trí thuộc-linh (“chúng ta là công-dân trên trời” – Phi 3:20), hoặc tâm-trí an-toàn (“sự bình-an của Đức Chúa Trời…sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em..” – Phi 4:7) trừ phi khi bạn đã thuộc về Chúa Giê-xu Christ rồi.

Làm thế nào để một người trở thành con cái Đức Chúa Trời? Phao-lô trả lời câu hỏi này lúc ông bị giam trong nhà ngục tại Phi-líp: “Hãy tin Đức Chúa Giê-xu Christ thì ngươi…sẽ được cứu” (đọc lại Công 16:6-40 để biết rõ cả câu chuyện).


Nhìn nhận các thất bại của bạn. Nếu chúng ta phân-tâm, kiêu-ngạo, hướng vào thế-gian và đầy lo-âu - là chúng ta đang phạm-tội đấy! Và càng thú nhận điều đó với Đức Chúa Trời sớm bao nhiêu, thì niềm vui của Ngài sẽ tràn ngập cuộc đời chúng ta càng sớm bấy nhiêu. (Một số người vốn thật sự hãnh diện về sự kiện họ luôn luôn âu-lo, bất chấp những gì Chúa Giê-xu đã phán dạy trong Mat 6:24-34).


Đặt tâm trí bạn đầu phục Đấng Christ hằng ngày. Hãy cầu xin Ngài ban cho bạn một tâm-trí chân-chất, một tâm-trí sẵn sàng đầu-phục, một tâm-trí thuộc-linh, và một tâm-trí an-toàn.

(Trong mấy chương tiếp theo đây, chúng tôi sẽ giải thích cách thức mà mỗi tâm-trí trên đây hoạt động trong đời sống một Cơ-đốc nhân).

Khi nào bạn cảm thấy mình bị mất niềm vui trong ngày, hãy thực hiện một cuộc kiểm điểm: “Tôi có phân-tâm không? Tôi có kiêu-ngạo không? Tôi có đang quá gắn bó với các sự việc đời này? Tôi có đang lo-âu không?” Nếu nhận thấy mình có lỗi, hãy xưng ngay tội của bạn và cầu xin Đức Chúa Trời phục hồi tâm-trí cho bạn như đáng phải có.


Tìm cơ hội để đưa tâm-trí bạn vào tình trạng hoạt động. Nếu bạn, thật sự muốn có một tâm-trí chân-chất, bạn có thể tin chắc là Đức Chúa Trời sẽ sắp xếp các hoàn-cảnh để bạn có thể bắt đầu đem nó ra thực hành.

Một bà mới tin Chúa nói với ông mục-sư của mình: “Tôi thưa với Chúa là tôi muốn đem Phi 1:21 ra thực hành trong đời sống tôi và ông thử đoán xem đã có gì xảy ra? Tôi kết thúc mọi việc trong bệnh viện!”

Vị mực-sư hỏi: “Thế bà có tìm cơ hội để Phúc-Âm tiến triển nhanh như cách Phao-lô đã làm tại Rô-ma không?”

Gương mặt của bà ta tối sầm lại: “Không, tôi nghĩ là tôi đã không có làm như thế. Tôi chỉ dành phần lớn thì giờ của mình để phàn-nàn mà thôi.”


Khi theo dõi phần nghiên-cứu này, bạn sẽ phát giác được rằng Đức Chúa Trời sẽ đều đặn ban-cho bạn những “bài thi” trong sinh hoạt hằng ngày, để giúp bạn phát triển các thái-độ thuộc-linh của mình. Học hỏi và sống vẫn đi đôi với nhau, và Ngài sẽ ban ân-điển bạn có cần đối với mọi yêu cầu.

Trong khi bạn thực tập để có được loại thái-độ đúng, bạn sẽ nhận thấy một niềm vui trào dâng trong lòng -niềm vui bất chấp hoàn-cảnh, thiên-hạ và mọi việc thuộc về thế gian - và niềm vui ấy sẽ đánh bại nỗi lo-âu để đổ đầy sự bình-an của Đức Chúa Trời vào lòng bạn.

“Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui-mừng, bình-an…” (Ga 5:22).

Hãy bắt đầu để cho trái ấy tăng-trưởng trong đời sống của bạn.





2. PHƯƠNG PHÁP ĐỂ TĂNG NIỀM VUI CỦA BẠN (Phi 1:1-11)


“Xin mời qua nhà để có giây phút thông-công được không?”

“Thật là một trận golf tuyệt vời! Chúng ta đã có được một sự thông-công với nhau, phải không?”

“Sự thông-công trong buổi họp mặt thật tuyệt diệu!”

Từ ngữ thông-công này dường như có nhiều nghĩa đối với nhiều người khác nhau. Có lẽ cũng giống như một đồng tiền đã cũ mòn, nó đã bị mất đi phần ấn-tượng đích thực mà người ta có thể có đối với nó.

Nếu quả đúng như thế, thì tốt nhất là chúng ta nên tìm một số biện pháp để vãn hồi giá-trị cho nó. Nói cho cùng, một từ Thánh Kinh hay như từ thông-công cần được phổ biến càng lâu càng tốt.


Bất chấp hoàn-cảnh là một tù-nhân tại Rô-ma, Phao-lô đang vui mừng. Bí quyết niềm vui của ông là một tâm-trí chân-chất, ông đang sống vì Đấng Christ và vì Phúc-Âm (Đấng Christ được đề cập 18 lần trong chương 1, còn Phúc-Âm thì 6 lần).

“Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi” (Phi 1:21).

Nhưng “tâm-trí chân-chất” thực sự là gì?.

Nó là thái-độ nói rằng: “Bất chấp có việc gì xảy ra cho tôi cũng chẳng có gì khác nhau, bao lâu Đấng Christ còn được tôn-vinh, và Phúc-Âm còn được truyền-giảng cho người khác.” 

Phao-lô vẫn vui mừng bất chấp hoàn-cảnh ông đang lâm vào, vì các hoàn-cảnh ấy đang tăng cường mối giao-hảo của Phúc-Âm (Phi 1:1-11), đẩy mạnh sự tiến triển của Phúc-Âm (Phi 1:12-26), và giữ gìn, bảo vệ đức-tin của Phúc-Âm (Phi 1:27-30).


Từ ngữ thông-công chỉ có nghĩa đơn giản là “có chung với nhau.” Nhưng sự thông-công đích thực trong Cơ-đốc giáo thật ra vốn sâu-nhiệm hơn việc cùng uống chung với nhau tách cà phê, ăn chung với nhau một chiếc bánh ngọt, hoặc thậm chí là cùng vui trong một trận golf với nhau.

Điều quá thường xảy ra là chúng ta vẫn tưởng sự thông-công, thật ra chỉ là việc quen biết hay kết bạn với nhau mà thôi. Bạn không thể thông-công với một ai đó, trừ phi khi bạn và người ấy có một điều gì đó chung với nhau và về mối thông-công Cơ-đốc, thì điều đó có nghĩa là việc cùng có được sự sống đời-đời trong lòng.

Trừ phi khi một người tin-cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa mình, người ấy sẽ chẳng biết gì về “sự thông-công của Phúc-Âm”. 

Trong Phi 2:1, Phao-lô viết về “sự thông-công nơi Đức Thánh Linh”, vì khi một người được tái-sinh, thì người ấy nhận được một quà tặng (ân-tứ) của Thánh Linh (Ro 8:9). Rồi cũng có “sự thông-công thương-khó của Ngài” (Phi 3:10) nữa. Khi nào chúng ta cùng chia-sẻ điều mình có với người khác, thì đó cũng là sự thông-công (Phi 4:15 dịch là “sự trao đổi”).


Thế thì, sự thông-công thật giữa Cơ-đốc nhân có ý nghĩa nhiều hơn là việc có tên được ghi vào danh sách tín-đồ của một Hội thánh, hay việc có mặt trong một buổi nhóm. Ta có thể thật gần gũi về thể xác với một người, nhưng lại cách xa với người ấy hằng dặm về phương diện thuộc-linh. Một trong những nguồn vui của Cơ-đốc nhân là sự thông-công mà các tín-hữu có với nhau trong Đấng Christ này.

Phao-lô bấy giờ đang ở tại Rô-ma, các bạn ông thì ở cách đó nhiều dặm tại Phi-líp, nhưng mối thông-công thuộc-linh giữa họ thì có thật và khiến ai nấy đều hài lòng. Khi bạn có được tâm-trí chân-chất, bạn sẽ không phàn-nàn về hoàn-cảnh vì biết rằng hoàn-cảnh khó khăn đó sẽ đưa đến kết quả là tăng cường mối thông-công của Phúc-Âm.

Trong Phi 1:1-11, Phao-lô dùng 3 tư tưởng mô tả mối thông-công Cơ-đốc đích thực “Tôi nhớ đến anh em” (Phi 1:3-6), “anh em ở trong lòng tôi” (Phi 1:7-8), “điều tôi xin trong khi cầu-nguyện, ấy là…anh em…” (Phi 1:9-11).


1. Tôi nhớ đến anh em (Phi 1:3-6).

Phao-lô nghĩ đến người khác chớ không nghĩ về bản thân ông, phải chăng là điều đáng chú ý? Trong khi chờ đợi để bị xét-xử tại Rô-ma, tâm-trí Phao-lô quay lui trở về với các tín-hữu tại Phi-líp, và mỗi việc ông nhớ lại, đều đem niềm vui đến cho ông.

Hãy đọc Công 16:1-40, bạn có thể phát giác một số việc đã xảy ra cho Phao-lô tại Phi-líp, mà khi nhớ lại, có lẽ phải khiến cho ông buồn rầu. Ông đã bị bắt giam và đánh đập bất hợp pháp, bị gông cùm và bị làm nhục trước dân chúng.

Nhưng thậm chí các ký ức ấy vẫn đem niềm vui đến cho Phao-lô, vì chính là nhờ ông chịu-khổ mà người giám ngục đã gặp Đấng Christ! Phao-lô nhớ lại Ly-đi và cả nhà bà, cô gái nô-lệ nghèo khó bị quỷ ám, và nhiều Cơ-đốc nhân thân yêu khác nữa tại Phi-líp và mỗi lần nhớ lại là một nguồn vui. (Thiết tưởng bạn nên tự vấn: “Tôi có phải là loại Cơ-đốc nhân đem niềm vui đến cho ông mục-sư của tôi, khi ông ta nghĩ đến tôi không?”).


Rất có thể câu 5 đề cập mối thông-công về tài chính giữa họ với Phao-lô, một chủ-đề mà ông lại nêu ra trong Phi 4:14-19. Hội thánh tại Phi-líp là Hội thánh duy nhất đã thông-công với Phao-lô để trợ cấp cho chức-vụ của ông.

“Việc lành” trong câu 6 có thể ám chỉ việc dự phần chia-sẻ các phương tiện ấy của họ nó đã được bắt đầu bởi Chúa nên Phao-lô tin chắc rằng Ngài sẽ tiếp tục và làm cho hoàn tất.


Nhưng chúng ta sẽ không lạc đề nếu ứng-dụng mấy câu này cho công-tác cứu-rỗi và nếp sống Cơ-đốc nhân. Chúng ta không được cứu nhờ các việc lành của mình (Êph 2:8-9).

Cứu-rỗi là việc lành Đức Chúa Trời làm trong chúng ta khi chúng ta tin-cậy Con Ngài. Trong Phi 2:12-13, chúng ta được bảo cho biết là Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục làm việc trong chúng ta qua Thánh Linh Ngài.

Nói khác đi, sự cứu-rỗi là một công-tác gồm 3 phương diện:

(1). Công việc mà Đức Chúa Trời làm cho chúng ta - cứu-chuộc.

(2). Công việc mà Đức Chúa Trời làm trong chúng ta - thánh-hóa.

(3). Công việc mà Đức Chúa Trời làm qua chúng ta - phục-vụ.

Công-tác này cứ tiếp tục cho đến khi chúng ta được nhìn thấy Đấng Christ, khi ấy nó mới hoàn tất , “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy.” (IGi 3:2).

Thật là một nguồn vui cho Phao-lô khi biết rằng Đức Chúa Trời vẫn vận hành trong đời sống các tín-hữu bạn của ông tại Phi-líp. Nói cho cùng thì cơ sở đích thực của mối thông-công đầy vui mừng giữa các Cơ-đốc nhân, là có Đức Chúa Trời đang vận hành trong đời sống chúng ta hằng ngày.


Một bà vợ lo lắng thổ lộ với một nhà tư-vấn về hôn nhân: “Trong gia đình chúng tôi có bất hòa, tôi quả tình không biết tại sao lại như thế.”

Vị cố vấn nói: “Nguyên nhân của bất hòa là một trong hai việc sau đây” và để minh họa ông ta cầm hai miếng gỗ để trên bàn viết của mình và đưa lên: “Nếu một miếng gỗ chuyển động mà miếng kia cứ đứng yên thì có đụng chạm, bất hòa. Hoặc nếu cả hai miếng đều chuyển động nhưng lại theo hai chiều hướng trái ngược nhau, thì cũng có va chạm, bất hòa. Vậy thì đó là gì?”

Bà vợ nọ thú nhận: “Phải nhận là tôi đã thối lui trong sinh hoạt Cơ-đốc nhân, còn chồng tôi thì thật sự đang tăng-trưởng. Điều tôi cần là trở lại sự thông-công với Chúa.”


2. Anh em ở trong lòng tôi (Phi 1:7-8).

Bây giờ chúng ta đi sâu thêm một chút nữa, vì rất có thể ta nhớ đến người khác mà không thật sự đặt họ ở trong lòng (có ai đó đã nhận định rằng ngày nay có nhiều người chắc phải thú nhận rằng: “Có, tôi có mang máng nhớ đến bạn!”).

Tình yêu thành thật của Phao-lô đối với các bạn thân của ông là một điều không thể ngụy trang hoặc giấu diếm.

Tình yêu giữa các Cơ-đốc nhân là “sợi dây ràng buộc”. Tình yêu là bằng chứng cho sự cứu-rỗi. IGi 3:14 chép “Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết.” Nó là “chất dầu nhờn thuộc-linh” giữ cho cỗ máy sự sống chạy thật êm.

Bạn có chú ý xem Phao-lô dùng câu “hết thảy anh em” thường đến mức-độ nào khi ông viết thư hay không? Trong bức thư này, có ít nhất là 9 lần như thế. Ông không hề muốn loại một ai ra ngoài cả! (Có một số bản dịch viết là “các bạn có tôi trong lòng mình” trong câu 7, nhưng căn bản chân-lý vẫn như nhau).


Phao-lô đã chứng-minh tình yêu của ông đối với họ như thế nào? Có một điều chắc chắn là ông đang vì họ mà chịu-khổ. Các xiềng-xích trói buộc ông là chứng-cứ của tình yêu của ông.

Ông là người “vì anh em là người ngoại mà làm kẻ tù của Đức Chúa Giê-xu Christ” (Êph 3:1). Do Phao-lô bị đem ra xét-xử mà các quan chức tại Rô-ma sẽ được nghe những điều tốt đẹp về Cơ-đốc giáo.

Vì Phi-líp là một thuộc-địa của La-mã, quyết định của tòa án sẽ ảnh hưởng đến các tín-hữu tại đó. Tình yêu của Phao-lô không phải chỉ là những lời nói suông trên cửa miệng, nó là một điều hết sức thực tế. Ông xem các hoàn-cảnh khó khăn của mình là một cơ hội để bệnh vực và xác nhận Phúc-Âm và việc làm ấy sẽ giúp ích cho anh em mình ở khắp nơi.


Nhưng làm thế nào để các Cơ-đốc nhân học tập hầu thực hành loại tình yêu này? Có người đã tâm sự với vị mục-sư của mình: “Tôi dễ gần gũi với các láng giềng chưa được cứu của mình hơn cả các bà con thân thuộc đã được cứu của tôi. Người ta phải lấy kim cương để cắt kim cương, và tôi là người đang làm như thế đấy!” 

Tình yêu Cơ-đốc giáo không phải là điều ta phải cố công gắng sức để tạo ra, nó là điều mà Đức Chúa Trời đang làm trong chúng ta và qua chúng ta.

Phao-lô mong nhớ các bạn của ông, ông “lấy lòng yêu dấu của Đức Chúa Giê-xu Christ mà tríu mến” họ (c.8b). Đây không phải tình yêu của Phao-lô được vận chuyển thông-qua Đấng Christ, mà là tình yêu của Đấng Christ được chuyển tải thông-qua Phao-lô.

“Vả, sự trông-cậy không làm cho hổ thẹn, vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban-cho chúng ta.” (Rô 5:5).

Khi nào chúng ta để cho Đức Chúa Trời thực hiện “việc lành” của Ngài trong chúng ta, thì chúng ta sẽ tăng-trưởng trong tình yêu đối với nhau.


Làm thế nào để chúng ta nói được rằng mình đã thật sự bị ràng buộc với các Cơ-đốc nhân khác trong tình yêu? Có một điều chắc chắn là chúng ta quan tâm đến họ.

Các tín-hữu tại Phi-líp rất quan tâm đến Phao-lô, đã phái Ép-ba-phô-đích đến phục dịch ông. Phao-lô cũng rất quan tâm đến các bạn mình tại Phi-líp, nhất là khi Ép-ba-phô-đích lâm bệnh và không thể trở về ngay (Phi 2:25-28) “Hỡi các con cái bé mọn, chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật” (IGi 3:18).


Một chứng cứ hiển nhiên khác nữa của tình yêu Cơ-đốc giáo là sẵn sàng tha-thứ cho nhau.

“Nhất là trong vòng anh em phải có lòng yêu thương sốt sắng vì sự yêu thương che đậy vô số tội-lỗi.” (IPhi 4:8).


Một giám khảo trong một cuộc thi trên đài phát thanh bảo với một thí sinh: “Hãy kể lại cho chúng tôi về các lỗi lầm mà vợ bạn từng phạm phải”.

Người dự thi đáp: “Tôi không nhớ một lầm lỗi nào cả.”

Vị giám khảo nói: “Ồ, chắc chắn là bạn phải nhớ một điều gì đó chớ!”

Thí sinh đáp: “Không, tôi thật sự không nhớ. Tôi rất yêu nhà tôi, nên chẳng bao giờ nhớ điều gì thuộc loại như thế.” ICôr 13:5 chép “chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ.”


Các Cơ-đốc nhân thực hành tình yêu luôn luôn kinh-nghiệm niềm vui cả hai đều là kết quả của sự hiện diện của cùng một Đức Thánh Linh.

“Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui-mừng, bình-an, nhịn-nhục, nhân-từ, hiền lành, trung-tín, mềm-mại, tiết-độ.” (Ga 5:22).


3. Anh em ở trong sự cầu-nguyện của tôi (Phi 1:9-11).

Phao-lô vui mừng khi nhớ đến các bạn thân tại Phi-líp, và ngày càng yêu họ thêm. Ông cũng vui khi nhớ đến họ trước Ngôi Ơn Phước mỗi khi cầu-nguyện.

Trong Cựu-ước, thầy tế-lễ mặc một bộ trang phục đặc biệt có đeo một ê-phót trước ngực, ngay chỗ trái tim. Trên ê-phót, có 12 viên đá khắc tên 12 chi phái Y-sơ-ra-ên, một viên ngọc cho mỗi chi phái (Xu 28:15-29).

Thầy tế-lễ thượng phẩm mang dân sự trong lòng mình vì tình yêu, và Phao-lô cũng thế. Có lẽ sự thông-công và niềm Cơ-đốc sâu sắc nhất chúng ta có thể kinh-nghiệm ngay trong đời này, là tại trước Ngôi Ơn Phước, khi chúng ta cùng cầu-nguyện với nhau và cho nhau.

Đây là lời cầu xin để mọi người đều trưởng-thành, Phao-lô bắt đầu bằng tình yêu. Tóm lại, nếu tình yêu Cơ-đốc của chúng ta là điều cần phải có thì mọi điều khác sẽ cuốn theo. Ông cầu xin cho họ kinh-nghiệm được tình yêu phong phú và tình yêu có nhận thức sâu sắc.

Tình yêu của Cơ-đốc nhân không phải là yêu mù quáng! Tấm-lòng và trí hiểu phải cùng “làm việc” với nhau để chúng ta có được loại tình yêu biết nhận thức và khả năng nhận thức đầy tình yêu. Phao-lô muốn các bạn ông tăng-trưởng trong khả năng nhận thức, để có thể “phân biệt được những điểm khác nhau.”


Khả năng biết phân biệt là dấu hiệu của sự trưởng-thành. Khi một em bé học nói, nó có thể gọi tất cả những con thú có bốn chân là con “gâu gâu”. Nhưng rồi sau đó, đứa trẻ sẽ khám phá ra là có những con mèo, con chó, con chuột bạch, con bò và nhiều sinh vật có bốn chân khác nữa.

Với một đứa trẻ, chiếc ô-tô nào cũng giống như chiếc ô-tô nào, nhưng với một thiếu niên mê ô-tô thì khác! Nó có thể nhận ngay ra những điểm khác nhau của các kiểu ô-tô khác nhau nhanh hơn cả cha mẹ và gọi đúng tên của những chiếc ô-tô! Một trong những dấu hiệu chắc chắn của một Cơ-đốc nhân trưởng-thành là tình yêu biết nhận thức rõ.

Phao-lô cũng cầu xin để họ có được đặc tính Cơ-đốc trưởng-thành, là “ngay thật không chỗ trách được”. Từ ngữ Hi-văn được dịch là ngay thật ở đây có thể có nhiều nghĩa. Có người dịch nó là “được thử-nghiệm bởi ánh sáng mặt trời”.

Một Cơ-đốc nhân ngay thật không sợ phải đứng dưới ánh sáng! Có người nói với Charles Spurgeon, một nhà truyền-đạo trứ danh người Anh, rằng anh ta muốn viết tiểu-sử của ông. Spurgeon đáp: “Bạn có thể viết cuộc đời tôi lên trên những đám mây! Tôi chẳng có gỉ phải giấu diếm hết.”

Ngay cũng có nghĩa là “xoay trong một cái sàng” gợi ý một tiến trình giê lúa để loại bỏ rơm rác và những hạt lúa lép. Trong cả 2 trường hợp thì sự thật vẫn như nhau Phao-lô cầu-nguyện xin cho các bạn ông có được loại đặc-tính có thể vượt được cuộc thử-nghiệm.


Phao-lô cầu xin cho họ có được tình yêu và đặc-tính Cơ-đốc trưởng-thành, “không chỗ trách được, cho đến ngày Đấng Christ” (c.10). Câu này có nghĩa là đời sống chúng ta không khiến cho người khác vấp phạm, để họ sẵn sàng ứng-hầu trước Tòa phán-xét của Đấng Christ khi Ngài tái-lâm (IICôr 5:10; IGi 2:28).


Sau đây là 2 cách thử-nghiệm tốt để chúng ta noi theo khi muốn rèn luyện khả năng nhận thức thuộc-linh:

(a) Điều này có khiến cho tha-nhân vấp phạm không?

(b) Tôi có xấu hổ nếu Chúa Giê-xu sẽ tái-lâm không?

Ông cũng cầu-nguyện xin cho họ có phục-vụ Cơ-đốc trưởng-thành. Ông muốn họ được đầy-dẫy trái công-bình (c.11). Ông không chỉ quan tâm đến các “hoạt động bình thường trong Hội thánh” mà thôi, nhưng là loại bông trái thuộc-linh phải có khi chúng ta thông-công với Đấng Christ.

“Hãy cứ ở trong ta, thì ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho, nếu không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được, cũng một lẽ ấy, nếu các ngươi chẳng cứ ở trong ta, thì cũng không kết quả được.” (Gi 15:4).

Có quá nhiều Cơ-đốc nhân chỉ có “kết quả” bằng cách cố công ra sức riêng, chớ không phải là nhờ ở trong Chúa Giê-xu Christ và để cho sự sống của Ngài kết quả.


Đức Chúa Trời muốn thấy “trái” gì từ đời sống chúng ta? Chắc chắn là Ngài muốn “trái của Thánh Linh” (Ga 5:22-23), đặc tính Cơ-đốc làm vinh-danh Đức Chúa Trời. Phao-lô so sánh việc đưa nhiều linh-hồn, những người bị hư-vong đến cùng Chúa Giê-xu Christ với việc kết quả (Rô 1:13), rồi ông cũng nêu tên “sự nên-thánh” là một trái thuộc-linh nữa (Rô 6:22).

Ông khuyên giục chúng ta phải “có kết quả trong mọi các việc lành” (Côl 1:10), còn trước-giả thư Hê-bơ-rơ nhắc nhở chúng ta rằng lời ca-tụng Đức Chúa Trời của chúng ta là “bông trái của môi miếng” (Hêb 13:15).

Một cây cho quả không làm ồn ào khi sinh trái nó chỉ để cho sự sống trong nó làm việc thật tự nhiên, và kết quả là trái của nó, “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái vì ngoài ta các ngươi chẳng làm chi được.” (Gi 15:5).


Chỗ khác nhau giữa trái thuộc-linh với “công-đức” của loài người, là trái thuộc-linh quy vinh cho Chúa Giê-xu Christ. Hễ khi nào chúng ta tự cố công ra sức, thì chúng ta có khuynh hướng khoe khoang về việc đó. Trái thuộc-linh đẹp đẽ và kỳ diệu đến nỗi chẳng hề có ai có thể đòi hỏi phải ghi công cho mình về nó vinh-quang chỉ phải dành cho một mình Đức Chúa Trời mà thôi.

Vậy, đây là sự thông-công Cơ-đốc đích thực: cùng có chung với nhau điều còn sâu-nhiệm hơn cả tình bạn nữa. “Tôi nhớ đến anh em… (tôi đặt) anh em trong lòng tôi…, điều tôi xin trong khi cầu-nguyện, ấy là …anh em…” Đây là loại thông-công sản sinh ra sự vui-mừng, mà chính tâm-trí chân-chất sản sinh ra loại thông-công này!

Ông Jerry phải đến một thành phố lớn để chịu giải phẫu đặc biệt, và ông không muốn đi. Ông hỏi vị bác-sĩ: “Tại sao tôi lại không thể làm việc ấy ở nhà? Tôi chẳng có quen ai tại thành phố đó cả” Nhưng khi vợ chồng ông đến bịnh viện, đã có một vị mục-sư đến gặp và mời họ đến ở nhà mình cho đến khi họ sắp xếp được mọi việc ổn thỏa.

Cuộc giải phẫu rất nghiêm trọng, họ phải chờ đợi khá lâu trong bệnh viên và gặp nhiều khó-khăn, nhưng sự thông-công của vị mục-sư và vợ ông đã đem đến cho vợ chồng ông Jerry một niềm vui mới. Họ học biết được rằng hoàn-cảnh không nhất thiết cướp đi niềm vui của chúng ta, nếu chúng ta để cho các hoàn-cảnh ấy tăng cường sự thông-công của Phúc-Âm.


Hãy thực-hành: Trong tuần này, hãy để cho các hoàn-cảnh của bạn đưa bạn đến gần hơn với các bạn bè Cơ-đốc của bạn. Nếu bạn có một tâm-trí chân-chất - nghĩa là sống vì Chúa Giê-xu Christ và Phúc-Âm - bạn sẽ khám phá ra rằng các khó-khăn và vấn-đề sẽ tăng cường mối thông-công của Phúc-Âm, và mối thông-công ấy sẽ làm tăng thêm niềm vui của bạn rất nhiều.

Năm 1966, tôi bị một tai nạn ô-tô nghiêm trọng. Một người lái xe chạy đến 150km/giờ đã đâm vào tôi. Thế nhưng mối thông-công sâu-nhiệm mà việc ấy tạo ra thật xứng đáng với nỗi đau đớn và sự khó-khăn đó. Hoàn-cảnh của tôi chỉ đưa tôi đến gần hơn với những người thuộc về Chúa mà thôi!

“Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy.” (Phi 1:21).





3. CẦN NHỮNG NGƯỜI ĐI TIÊN-PHONG (Phi 1:12-26)


Là một giáo-sĩ Phao-lô ao ước được truyền-giảng Phúc-Âm tại Rô-ma hơn bất cứ điều gì khác. Là trung tâm của đại đế quốc, Rô-ma là thành phố chủ chốt của thời đại ấy.

Nếu Phao-lô chinh-phục được nó cho Đấng Christ, điều đó sẽ có nghĩa là nhiều triệu người sẽ được nghe thông-điệp về sự cứu-rỗi. Đây là điều tối quan-trọng cho chương trình hoạt động của Phao-lô, vì ông nói: “Các việc đó rồi, Phao-lô toan đi ngang qua xứ Ma-xê-đoan và xứ A-chai đặng đến thành Giê-ru-sa-lem. Người nói rằng: Khi ta đã thăm thành đó rồi, cũng phải thăm thành Rô-ma nữa.” (Công 19:21).

Từ Cô-rinh-tô, ông đã viết: “Ấy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Phúc-Âm cho anh em, là người ở thành Rô-ma” (Rô 1:15).


Phao-lô muốn đến Rô-ma với cương vị của một nhà truyền-đạo, nhưng thay vào đó, ông lại đến đấy với thân phận một tù-nhân! Chỉ với từng-trải ấy mà thôi, ông đã có thể viết cả một bức thư dài. Nhưng thay vào đó, ông chỉ tóm tắt tất cả như là “điều xảy đến cho tôi” (Phi 1:12).

Phần ký thuật mọi việc này đã được ghi lại trong Công 21:17-28:31, và nó bắt đầu với việc Phao-lô đã bị bắt giữ bất hợp pháp tại đền thờ Giê-ru-sa-lem. Người Do-thái tưởng ông đã làm ô uế đền thờ của họ bằng việc đưa người ngoại quốc vào đó, còn người La-mã lại tưởng rằng ông là một người Ai-cập phiến loạn, có tên trong danh sách các tội-phạm “bị truy nã gắt gao” nhất của họ, Phao-lô trở thành tiêu điểm của cả những âm mưu nổi loạn về chính trị lẫn tôn-giáo, và đã bị giam giữ luôn 2 năm tại Sê-sa-rê.

Cuối cùng khi ông khiếu nại lên Sê-sa (vốn là đặc quyền của một công dân La-mã), ông bị giải đến Rô-ma. Trên đường đi, chiếc tàu bị đắm! Phần ký thuật về trận bão và lòng can-đảm với đức-tin của Phao-lô, là một trong những phần ký thuật nhiều kịch tính nhất trong Thánh Kinh (Công 27:1-44). Sau 3 tháng chờ đợi trên đảo Man-tơ, cuối cùng Phao-lô đã đáp tàu đi Rô-ma để chịu xét-xử trước Sê-sa như ông đã yêu cầu.


Với nhiều người, mọi việc vừa kể trên có thể xem như thất bại, nhưng với con người có tâm-trí chân-chất chỉ quan tâm đến việc chia-xẻ Chúa Giê-xu Christ và Phúc-Âm cho mọi người này, thì không! Phao-lô không đi tìm niềm vui trong những hoàn-cảnh lý tưởng, mà tìm niềm vui cho mình trong việc đưa người khác đến với Đấng Christ.

Và nếu các hoàn-cảnh của ông góp phần đẩy mạnh hơn sự tiến triển của Phúc-Âm, thì đó là tất cả những gì là quan-trọng đối với ông! Từ ngữ “tấn tới” có nghĩa là “tiến bộ trong công tác đi tiên-phong, thám-hiểm.”

Đó là một thuật ngữ quân sự trong Hy văn đề cập các kỹ sư trong quân đội đi trước các đạo quân để dọn đường vào một vùng đất mới. Thay vì tự thấy mình bị giam giữ như một tù-nhân, Phao-lô khám phá ra rằng hoàn-cảnh của ông thật sự mở ra nhiều khu vực mới cho chức-vụ của ông.


Chắc ai ai cũng từng được nghe chuyện của Charles Haddon Spurgeon, nhà truyền-đạo trứ danh người Anh, nhưng ít người được biết câu chuyện về bà Susannah, vợ ông.

Ngay từ những ngày mới thành hôn, bà Susannah đã trở thành tàn phế. Sự việc dường như chức-vụ duy nhất bà có thể làm được chỉ là khích-lệ chồng và cầu-nguyện cho công-tác của ông mà thôi.

Nhưng Đức Chúa Trời đã trao cho bà gánh nặng là phân phát các sách của chồng bà viết cho những vị mục-sư không có tiền để mua. Gánh nặng chẳng bao lâu đã dẫn bà tới chỗ thành lập một “Quỹ sách.”

Là một công-tác thực hiện bởi đức-tin, “Quỹ sách” này đã cung cấp cho hằng ngàn quý vị mục-sư những công-cụ cho công-tác của họ. Tất cả công việc này đều do bà Spurgeon quản-lý từ nhà riêng. Đó là một chức-vụ của một nhà tiền-phong.


Đức Chúa Trời vẫn còn cần nhiều con cái Ngài đem Phúc-Âm vào những khu vực mới. Ngài muốn chúng ta làm những nhà tiền-phong và thỉnh thoảng, Ngài sắp xếp hoàn-cảnh để chúng ta chẳng còn có thể làm gì khác hơn là những nhà tiền-phong.

Thật vậy, đó là cách mà hồi nguyên thủy, Phúc-Âm đã đến thành phố Phi-líp. Phao-lô đã muốn đến với một vùng lãnh thổ khác nhưng Đức Chúa Trời đã đóng cửa lại (Công 16:6-10). Phao-lô muốn đưa thông-điệp sang hướng Đông đến Tiểu Á châu, nhưng Đức Chúa Trời chỉ cho ông phải sang hướng Tây để vào Âu châu. Sự việc đã khác nhau biết bao trong lịch-sử nhân loại, nếu Phao-lô được cho phép noi theo kế hoạch của ông!

Nhiều khi Đức Chúa Trời sử dụng nhiều công-cụ lạ lùng để giúp chúng ta trong việc đi tiên-phong cho Phúc-Âm. Trong trường hợp của Phao-lô, đã có 3 công-cụ giúp ông đem Phúc-Âm đến cả cho các vệ binh tinh nhuệ của Hoàng gia, là đạo quân đặc biệt của Sê-sa: đó là các xiềng-xích của ông (Phi 1:12-14), những người chỉ trích ông (Phi 1:15-19), và cơn khủng hoảng đã xảy đến cho ông (Phi 1:20-26).


1. Các xiềng-xích của Phao-lô (Phi 1:12-14).

Cùng một Đức Chúa Trời từng sử dụng cây gậy của Môi-se, những chiếc bình của Ghê-đê-ôn, cái trành ném đá của Đa-vít cũng đã sử dụng các xiềng-xích của Phao-lô.

Người La-mã chỉ biết quá ít rằng các xiềng-xích mà họ tra vào cổ tay Phao-lô sẽ giải thoát cho ông thay vì trói buộc ông! Thậm chí, nhân một lần bị cầm tù sau này, ông còn viết: “vì Phúc-Âm đó mà ta chịu khổ, rất đỗi bị trói như người phạm-tội nhưng đạo của Đức Chúa Trời không hề bị trói đâu” (IITim 2:9).

Ông đã không phàn-nàn về các xiềng-xích của mình, trái lại còn dâng chúng cho Đức Chúa Trời và xin Ngài dùng chúng để khiến ông trở thành nhà tiên-phong để khiến cho Phúc-Âm tiến triển. Và Đức Chúa Trời đã nhậm lời ông.


Để bắt đầu, các xiềng-xích ấy đã tạo cơ hội cho Phao-lô tiếp xúc với những người bị hư-vong. Ông bị xích chung với một binh sĩ La-mã 24 giờ một ngày! Phiên gác được thay đổi mỗi 6 giờ, nghĩa là Phao-lô có thể làm chứng đạo cho ít nhất là 4 người mỗi ngày!

Bạn hãy tưởng tượng mình là một trong số các binh sĩ đó - bị buộc chặt vào với một người cứ “cầu-nguyện không thôi,” cứ hỏi han thiên-hạ về tình trạng thuộc-linh của họ, và cứ luôn luôn viết thư cho các Cơ-đốc nhân và các Hội thánh trong cả đế quốc!

Chắc chẳng bao lâu, những người lính ấy đều đặt đức-tin vào Đấng Christ. Phao-lô đã có thể đưa Phúc-Âm đến cho đội vệ binh tinh nhuệ của Hoàng gia, điều mà ông không thể nào làm được nếu là một người tự-do.


Nhưng xiềng-xích còn cho Phao-lô tiếp xúc được với một nhóm người khác nữa: các quan chức trong triều đình của Sê-sa. Ông có mặt tại Rô-ma với tư cách một tù-nhân chính thức, và vụ án của ông là một vụ án quan-trọng.

Chính quyền La-mã đang chuẩn bị ban hành một quy chế chính thức liên-hệ đến giáo-phái “Cơ-đốc” mới mẻ này. Phải chăng đây chỉ là một giáo-phái khác nữa của Do-thái giáo? Hay đây là một điều gì mới và có thể là nguy hiểm? Hãy tưởng tượng xem Phao-lô đã hài lòng biết bao khi biết rằng các quan chức trong triều đình bị bắt buộc phải nghiên-cứu các giáo-lý của Cơ-đốc giáo!


Nhiều khi Đức Chúa Trời cho người thuộc về Ngài mang xiềng-xích để khiến họ thực hiện một cuộc thám hiểm, để họ đi tiên-phong, mở đường cho việc phát triển Phúc-Âm mà nếu không có như thế, thì sự việc sẽ chẳng bao giờ có thể xảy ra.

Các bà mẹ trẻ cảm thấy mình bị xiềng-xích ở nhà khi phải chăm-lo cho con cái, nhưng Đức Chúa Trời có thể lợi dụng các “xiềng-xích” ấy để đem thông-điệp Phúc-Âm đến cho người ta.

Sasannah Wesley là mẹ của 19 đứa con trước thời kỳ người ta nghĩ ra các phương tiện làm giảm bớt sức lao động thủ công và các tả lót dùng xong thì vứt đi! Từ cái gia đình đông đảo ấy đã ra đời 2 ông John và Charles Wesley với chức-vụ của hai người kết hợp lại đã làm rung chuyển đảo quốc Anh.

Lúc mới được 6 tuần tuổi, Fanny Crosby đã bị mù, và ngay lúc hãy còn trẻ, cô đã bị buộc phải mang lấy các xiềng-xích của sự tối tăm. Thế nhưng đồng thời, cô đã trở thành một năng lực mạnh mẽ cho Đức Chúa Trời qua các bài thánh ca và Phúc-Âm của bà.


Bí quyết là như thế này: hễ khi nào bạn có tâm-trí chân-chất, bạn sẽ nhìn thấy các hoàn-cảnh của mình là những cơ hội Đức Chúa Trời ban để khiến cho Phúc-Âm tiến triển, và bạn sẽ vui mừng về những gì Đức Chúa Trời sắp làm thay vì phàn-nàn về những gì Đức Chúa Trời đã không làm.


Các xiềng-xích của Phao-lô chẳng những giúp ông tiếp xúc với những người bị hư-vong, mà còn đem can-đảm đến cho những người đã được cứu nữa. Nhiều tín-hữu tại Rô-ma đã có được lòng can-đảm mới khi thấy đức-tin và lòng cương quyết của Phao-lô (c.14). Họ “dám nói Đức Chúa Trời chẳng sợ hãi gì”.

Động từ “nói” ở đây không có nghĩa là “giảng-đạo“ có nghĩa là “sự trò chuyện hàng ngày.”

Chắc chắn người Rô-ma đang bàn tán với nhau về vụ án của Phao-lô, vì những vấn đề về pháp-lý như thế là mối quan tâm hàng đầu đối với đất nước vốn nổi tiếng về lập-pháp này.

Và các Cơ-đốc nhân có thiện cảm với Phao-lô đã lợi dụng cuộc trò chuyện này để nói tốt cho Chúa Giê-xu Christ. Chán-nản, thất vọng thường tìm cách để lan tràn ra, nhưng lời khích-lệ cũng thế! Nhờ thái độ vui mừng của Phao-lô, các tín-hữu tại Rô-ma có được lòng can-đảm mới để mạnh dạn làm-chứng cho Chúa Giê-xu Christ.


Trong thời gian phục hồi sức khỏe tại bịnh viện sau tai nạn ô-tô, tôi nhận được một bức thư của một người hoàn toàn xa lạ, người ấy dường như biết rõ điều phải nói để làm cho tôi tươi vui hơn. Thật vậy, tôi đã nhận được nhiều thư của ông ta, mà bức nào cũng hay hơn bức thư trước.

Khi đã đi lại được, tôi đích thân tìm gặp ông ta. Tôi vô cùng kinh ngạc khi khám phá ra rằng ông ta bị mù, mắc bệnh tiểu đường, gặp khó khăn vì phải cưa mất một chân, và ông ta đang chung sống để chăm-sóc bà mẹ già của mình!

Nếu có người nào từng bị xiềng-xích, thì chính là người này! Nhưng nếu có ai vốn là một nhà tiền-phong cho Phúc-Âm, thì cũng chính là người này! Ông ta có thể chia-sẻ Phúc-Âm cho các hội đoàn của các trường trung học, trước các câu lạc bộ phục-vụ, các buổi họp của những người chuyên nghiệp, là những nơi bị đóng kín cửa đối với một vị mục-sư đã được tấn phong.

Người bạn này của tôi vốn có một tâm-trí chân-chất, anh đã sống vì Đấng Christ và vì Phúc-Âm. Kết quả là anh đã chia-sẻ niềm vui khiến cho Phúc-Âm tiến triển.

Các xiềng-xích của chúng ta có thể không thảm hại hoặc khó khăn đến thế, nhưng chẳng có lý-do gì để Đức Chúa Trời lại không thể lợi dụng chúng theo cùng một cách giống như thế.


2. Những người chỉ trích Phao-lô (Phi 1:15-19).

Thật khó tin được là có người lại chống đối Phao-lô, nhưng tại Rô-ma, đã có nhiều tín-hữu làm đúng cái công việc ấy. Các Hội thánh tại đó đang chia-rẽ nhau. Một số người thật lòng truyền-giảng Phúc-Âm mong cho nhiều người được cứu-rỗi.

Nhưng có một số lại truyền-giảng Chúa Giê-xu Christ mà không thành thật, chỉ muốn cho tình hình gây thêm nhiều khó khăn cho Phao-lô mà thôi. Nhóm người sau này đang lợi dụng Phúc-Âm để đẩy mạnh các chủ đích vị-kỷ của riêng họ.

Có lẽ họ thuộc cánh theo “luật-pháp chủ nghĩa” của Hội thánh, đã chống lại chức-vụ của Phao-lô cho người ngoại quốc và việc ông nhấn mạnh trên ân-điển của Đức Chúa Trời, trái với việc người Do-thái chủ trương phải vâng giữ luật-pháp. Ghen-tị và gây-gỗ thường đi đôi với nhau cũng như tình yêu và đoàn kết hợp nhất đi đôi với nhau vậy.

Trong câu 15, Phao-lô dùng một từ ngữ đáng chú ý: ganh-tị. Nó có nghĩa là “vận động để tranh giành một chức-vụ, vận động để thiên-hạ ủng hộ mình.”

Mục tiêu của Phao-lô là nhằm tôn-vinh Đấng Christ và vận động để thiên-hạ theo Ngài những người chỉ trích ông thì nhằm mục tiêu tự đề cao để được người ta theo chính họ.

Thay vì hỏi: “Bạn có tin cậy Đấng Christ không?” họ lại hỏi: “Bạn đứng về phe nào, phe của tôi hay của Phao-lô?” Tai hại thay loại “chính trị trong tôn-giáo” ấy vẫn còn thấy có hiện nay. Và những ai thực hành điều đó cần biết rằng làm như thế là họ chỉ tự “hại mình mà thôi.”


Khi nào bạn có tâm-trí chân-chất, bạn sẽ nhìn vào những kẻ chỉ trích mình như một cơ hội khác nữa để Phúc-Âm tiến triển. Như một chiến-sĩ tận-trung, Phao-lô đã “được lập lên để binh vực đạo Phúc-Âm” (c.16).

Ông có thể vui-mừng, không phải vì những lời chê bai chỉ trích ông của những kẻ vị-kỷ, mà vì sự kiện Đấng Christ đã được truyền-giảng! Trong lòng Phao-lô chẳng có chút ghen-tị nào.

Vấn-đề quan-trọng không phải là có một số người theo ông và một số thì chống lại ông. Tất cả những gì quan-trọng, là việc truyền-giảng Phúc-Âm của Đấng Christ.


Có một vấn đề được lịch-sử ghi lại, là 2 nhà truyền-đạo trứ danh người Anh là John Wesley và George Whitefield vốn bất đồng ý kiến với nhau về vấn-đề giáo-lý. Cả hai ông đều rất thành công, đều truyền-giảng cho hàng ngàn người nghe và đưa được vô số người đến với Đấng Christ.

Người ta kể lại rằng đã có người hỏi Wesley rằng ông có trông-mong nhìn thấy Whitefield trên thiên-đàng không, thì nhà truyền-đạo đã trả lời: “Không, tôi không trông-mong điều đó.”

“Thế ông không nghĩ rằng Whitefield cũng là một người đã ăn-năn quy đạo rồi sao?”

Wesley đáp: “Dĩ nhiên ông ấy là người đã ăn-năn quy đạo. Nhưng tôi không mong sẽ nhìn thấy ông ấy trên thiên-đàng, vì ông ấy sẽ đứng rất gần với ngôi Đức Chúa Trời, còn tôi thì lại ở rất xa nên sẽ không thể nào nhìn thấy ông ta!” 

Tuy ông có ý kiến khác với người anh em mình trong một số các vấn-đề, Wesley đã không có chút ghen-tị nào trong lòng, cũng không hề tìm cách chống lại chức-vụ của Whitefield.


Chê bai chỉ trích thường rất khó tiếp thu, nhất là khi chúng ta gặp hoàn cảnh khó khăn, như trường hợp của Phao-lô. Làm thế nào để vị sứ-đồ vẫn có thể vui-mừng cả khi gặp nhiều lời chỉ trích khác nhau như thế? Nhờ ông có tâm-trí chân-chất! Câu 19 cho thấy Phao-lô trông-mong vụ án của ông sẽ chuyển thành thắng lợi (“điều này sẽ làm ích cho sự cứu-rỗi tôi”) nhờ lời cầu-nguyện của bạn bè và sự tiếp trợ của Thánh Linh Đức Chúa Trời.

Từ ngữ chorus trong Anh văn vốn do tự căn supply (giúp đỡ, tiếp trợ, cung-cấp) mà ra. Hễ khi nào một thành phố Hy-lạp sắp có một kỳ lễ đặc biệt, một ai đó chịu chi tiền cho các ca sĩ và vũ công. Món quà tặng cần thiết đó khá rời rộng, cho nên từ ngữ ấy dần dần có nghĩa là “cung-cấp hào hiệp và rời rộng.”

Phao-lô không trông-mong vào các nguồn tài nguyện nhỏ nhoi của riêng ông, mà trông-cậy vào các nguồn tài nguyên phong phú của Đức Chúa Trời, do Đức Thánh Linh cung-ứng.

Phao-lô tham gia cuộc thám hiểm như một nhà tiền-phong để Phúc-Âm được tiến triển tại Rô-ma bằng xiềng-xích và những chỉ trích ông, nhưng ông hãy còn một công-cụ thứ ba nữa để sử dụng.


3. Cơn khủng hoảng của Phao-lô (Phi 1:20-26).

Nhờ Phao-lô mang xiềng-xích mà Đấng Christ được người ta “biết” (c.13) và nhờ những người chỉ trích ông mà Đấng Christ “được truyền-giảng” (c.18). Nhưng nhờ cơn khủng hoảng của ông mà danh Chúa Giê-xu Christ được “cả sáng” (c.20).

Rất có thể Phao-lô sẽ bị cho là phản quốc, chống lại La-mã và bị hành hình. Cuộc xét-xử sơ bộ của ông rõ ràng là đã có lợi cho ông. Nhưng án lệnh cuối cùng vẫn chưa có.

Tuy nhiên, thân xác Phao-lô không phải là của riêng ông, và mong muốn duy nhất của ông (vì ông vốn có tâm-trí chân-chất) là lấy thân thể mình để làm vinh-danh Chúa Giê-xu Christ.


Đấng Christ có cần được tôn-vinh không? Nói cho cùng, thì làm thế nào một con người phàm tục lại có thể làm vinh-danh Con Đức Chúa Trời? Này nhé, các ngôi sao vốn vô cùng to lớn hơn chiếc viễn vọng kính, thế nhưng chiếc viễn vọng kính tôn-vinh chúng và đưa chúng đến gần hơn với loài người.

Thân thể người tín-hữu phải là một chiếc viễn vọng kính, đưa Chúa Giê-xu Christ đến gần với mọi người. Với một người trung bình thì Đấng Christ là một nhân vật lờ mờ trong sử-ký, đã sống từ nhiều thế kỷ về trước. Nhưng trong lúc những người chưa được cứu theo dõi người tín-hữu vượt qua một cơn khủng hoảng, họ có thể thấy danh Chúa Giê-xu được tôn-vinh, và đưa đến gần với họ hơn nhiều. Với một Cơ-đốc nhân có tâm-trí chân-chất thì Đấng Christ ở với chúng ta ngay bây giờ.

Chiếc viễn vọng kính đưa các vật ở xa đến gần hơn, còn chiếc kính hiển vi thì khiến cho các vật nhỏ li-ti trông có vẻ to lớn. Với người không tin Đấng Christ, Ngài chẳng to lớn là bao! Nhiều người khác, vật khác được cho là quan-trọng hơn đối với họ.

Nhưng khi một người chưa tin Chúa theo dõi một Cơ-đốc nhân vượt qua một kinh-nghiệm khủng hoảng, người ấy phải thấy sự thật là Chúa Giê-xu Christ vĩ đại như thế nào. Thân thể người tín-hữu là một “ống kính”, khiến cho “Đấng Christ bé nhỏ” được nhìn thấy là rất vĩ đại, và một Đấng Christ xa xôi” đến gần với mọi người.


Phao-lô không sợ sống cũng không sợ chết! Dù thế nào thì ông cũng tôn-vinh Đấng Christ trong thân thể mình. Cho nên chẳng có gì để lấy làm lạ khi ông luôn luôn vui-mừng!

Phao-lô thú nhận rằng ông sắp phải đưa ra một quyết đính khó khăn. Ông cứ sống là cần thiết để các tín-hữu tại Phi-líp được lợi ích, nhưng ra đi để được ở với Đấng Christ thì tốt hơn nhiều. Phao-lô quyết định rằng chắc Đấng Christ còn để cho ông sống, chẳng những vì sự tiến triển của Phúc-Âm (c.12) mà còn vì “để giúp đức-tin anh em được tấn tới và vui vẻ” (c.25) nữa.

Ông muốn họ thực hiện “bước tiến của những nhà tiền-phong” vào nhiều lãnh vực mới của sự tăng-trưởng thuộc-linh (cũng theo cách này, Phao-lô đã khuyến giục Ti-mô-thê, một mục-sư trẻ, phải chắc chắn là mình đang đi tiền-phong nhằm thám hiểm một vùng lãnh thổ thuộc-linh mới trong chính đời sống và chức-vụ của ông. Xem ITim 4:15, chỗ chữ “tấn tới” chính là từ ngữ chỉ “bước tiến của những nhà tiền-phong” của chúng tôi).

Phao-lô thật là một con người phi thường. Ông sẵn sàng đình hoãn việc được vào thiên-đàng để giúp các Cơ-đốc nhân tăng-trưởng, và ông sẵn sàng xuống hỏa-ngục để đưa được người hư-vong đến với Chúa Giê-xu Christ (Rô 9:1-3).


Lẽ dĩ nhiên là Phao-lô đã không sợ chết.

Nó chỉ có nghĩa là “ra đi” mà thôi. Từ ngữ này vốn được các binh sĩ dùng nó có nghĩa là “nhổ trại và dời đi.” Thật là một bức tranh lạ lùng về cái chết của Cơ-đốc nhân! Cái “nhà trại” mà chúng ta đang sống trong đó bị dời đi khi chúng ta qua đời, và tâm-linh chúng ta trở về nhà để được ở với Đấng Christ trên thiên-đàng (IICôr 5:1-8).

Các thủy thủ cũng dùng từ ngữ này nó có nghĩa là “nhổ neo của một chiếc tàu và giương buồm lên.” Lord Tennyson đã dùng hình-ảnh này của cái chết trong bài thơ nổi tiếng “Vượt chướng ngại” (Crossing the Bar) của ông.

Nhưng “ra đi” còn là một thuật ngữ chính trị nó có nghĩa là trả tự-do cho một tù-nhân. Những người thuộc về Đức Chúa Trời đang bị trói buộc vì các hạn chế của thân thể và các cám-dỗ của xác thịt, nhưng sự chết sẽ giải-phóng họ. Hoặc họ sẽ được giải thoát khi Đấng Christ tái-lâm (Rô 8:18-23) nếu việc ấy xảy ra trước.

Cuối cùng, “ra đi” là một từ ngữ được nông dân dùng nó có nghĩa là “cởi ách cho con bò.”

Phao-lô đã nhận lấy chiếc ách của Đấng Christ, mà mang nó thì chẳng phải là dễ dàng gì (Mat 11:28-30), nhưng trong chức-vụ của mình, ông đã phải mang biết bao nhiêu là gánh-nặng! (Nếu bạn muốn gợi lại trí nhớ hãy đọc IICôr 11:22-12:10).

Ra đi để được ở với Đấng Christ sẽ có nghĩa là vứt bỏ mọi gánh-nặng qua một bên, vì công-tác của ông trên đất này đã hoàn tất rồi.

Cho dù bạn có nhìn vào nó như thế nào, chẳng có gì cướp đi được niềm vui của một người, nếu người ấy có tâm-trí chân-chất!

“Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy” (c.21).

Maltbie Babcock tác-giả quyển “Đây là thế giới của Cha tôi” (This is My Father's world) nói: “Sự sống là cái chúng ta sống cho.” 

Khi tôi và nhà tôi đi mua sắm tôi rất sợ đến gian hàng vải, nhưng tôi thường phải đến đó vì nhà tôi thích xem vải vóc. Nếu trên đường đi đến gian hàng vải, tôi may mắn gặp được một gian hàng sách, thì tôi thình lình như được sống lại vậy! Điều gây phấn khởi và kích thích chúng ta là điều thật sự là “sự sống” đối với chúng ta. Trong trường hợp của Phao-lô, Đấng Christ là sự sống của ông. Đấng Christ khiến cho ông phấn khởi và khiến cuộc đời ông trở nên đáng sống.


Câu 21 trở thành một trắc-nghiệm có giá-trị cho đời sống chúng ta: “Vì…………là sự sống của tôi, và sự chết là………………….” Bạn hãy tự mình điền vào những khoảng còn chừa trống.

“Vì tiền bạc là sự sống của tôi, và sự chết là bỏ tất cả lại phía sau.”

“Vì danh vọng là sự sống của tôi, và sự chết là bị quên đi.”

“Vì quyền thế là sự sống của tôi, và sự chết là mất tất cả.”


Không, chúng ta phải phản ảnh các niềm tin quyết của Phao-lô nếu muốn được sự vui-mừng bất chấp hoàn-cảnh, và nếu chúng ta tham gia làm cho Phúc-Âm tiến triển “vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi.”





4. CÁC VỊ TRÍ CHIẾN ĐẤU (Phi 1:27-30)


Đời sống Cơ-đốc nhân không phải là một sân chơi nó là một bãi chiến trường. Chúng ta là con cái trong nhà, được hưởng sự thông-công của Phúc-Âm (Phi 1:1-11) chúng ta là các tôi-tớ tham gia đẩy mạnh sự tiến triển của Phúc-Âm (Phi 1:12-26) nhưng chúng ta cũng là các binh sĩ bảo vệ đức-tin của Phúc-Âm và người tín-hữu có tâm-trí chân-chất có thể được niềm vui của Đức Thánh Linh ngay giữa bãi chiến trường.


“Đức-tin của Phúc-Âm là bộ phận chân-lý Đức Chúa Trời ban cho Hội thánh. Giu-đe gọi đó là đạo (đức-tin) đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi” (c.3). Trong ITim 4:1, Phao-lô cảnh cáo rằng: “Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỷ dữ.”

Đức Chúa Trời đã giao phó kho báu thuộc-linh này cho Phao-lô (ITim 1:11) rồi đến lượt mình, ông lại phó thác nó cho nhiều người khác nữa, như Ti-mô-thê (ITim 6:20), người có trách-nhiệm lại giao phó nó cho càng nhiều người khác nữa (IITim 2:2). Chính vì thế mà Hội thánh phải dấn thân vào một chức-vụ truyền dạy, để mỗi thế-hệ tín-hữu mới đều được biết, đánh giá cao, và sử dụng phần di sản quan-trọng của đạo (đức-tin) này.

Nhưng có một kẻ thù đang ra tay cướp lấy kho báu mà Đức Chúa Trời dành cho những người thuộc về Ngài này. Phao-lô đã chạm mặt với kẻ thù ấy tại Phi-líp, và giờ đây, ông lại chạm trán với nó tại Rô-ma. Nếu Sa-tan chỉ cần cướp lấy đức-tin của Cơ-đốc nhân. - tức là các giáo-lý rõ ràng của họ - thì nó có thể làm tê liệt và đánh bại chức-vụ của Phúc-Âm.

Thật đáng buồn khi nghe thiên-hạ nói rằng: “Theo đạo nào thì chẳng có gì quan-trọng, miễn mình biết ăn ở ngay lành thì thôi.” Đạo mà chúng ta theo, điều chúng ta tin, quyết định cách ăn nết ở của chúng ta, và tín-ngưỡng sai lệch cuối cùng sẽ đưa người ta đến chỗ sống sai trái. Mỗi một chi hội địa phương chỉ là một thế-hệ tín-hữu có tiềm năng bị dập tắt. Cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Sa-tan cố tìm cách tấn công các thanh niên nói riêng, để dứt họ ra khỏi đạo (đức-tin).


Một tập thể Cơ-đốc nhân có thể đánh bại kẻ thù ấy như thế nào? “Vả, những khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền-năng của Đức Chúa Trời, có sức mạnh để đạp đổ các đồn lũy” (IICôr 10:4).

Lúc vào vườn Ghết-sê-ma-nê, Phi-e-rơ có mang theo một thanh gươm, nhưng Chúa Giê-xu đã quở trách ông (Gi 18:10-11). Chúng ta sử dụng các vũ khí thuộc-linh - Lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện (Hêb 4:12; Êph 6:11-18) và phải trông-cậy Đức Thánh Linh để Ngài ban cho chúng ta phần quyền-năng cần thiết. Nhưng một đạo quân cùng chiến đấu với nhau, và chính vì lý-do ấy mà Phao-lô đã gởi những lời răn bảo này cho các bạn ông tại Phi-líp. Trong phân đoạn này ông giải thích là có 3 điểm thiết-yếu để chiến thắng khi ra trận hầu bảo vệ đức-tin (đạo).


1. Tính kiên-định (Phi 1:27). Từ ngữ conversation (đàm thoại) trong Anh văn xưa kia vốn có nghĩa là walk (bước đi) chớ không phải là trò chuyện. “Duy anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với đạo Phúc-Âm của Đấng Christ.” Vũ khí quan-trọng nhất để chống lại kẻ thù không phải là một bài giảng đầy giục giã hay một quyển sách đầy năng lực, nó là đời sống kiên-định của các tín-hữu.

Động từ Phao-lô dùng liên quan với từ ngữ “chính trị" của chúng ta. Ông ngụ ý: “Hãy cư-xử theo cách các công-dân được đòi hỏi phải cư-xử.” Tôi và nhà tôi có lần đến thăm Luân-đôn, và ngày nọ, nhất định đến vườn bách thú. Chúng tôi lên một xe buýt và ngồi xuống để hưởng thụ thú vui của chuyến đi nhưng chúng tôi chẳng hưởng thụ gì được vì tiếng trò chuyện ồn ào, huyên náo của những hành khách ở phía trước trên xe buýt.

Tai hại thay, họ lại là những người Mỹ và chúng tôi có thể nhìn thấy những người Anh chung quanh chúng tôi cau mày, lắc đầu, dường như ngụ ý nói rằng: “Ồ, phải rồi, họ từ Hoa Kỳ đến đấy mà!” Chúng tôi vô cùng bối rối vì biết rằng số người kia không thật sự đại diện cho các công-dân tốt nhất của nước Mỹ.

Phao-lô gợi ý rằng chúng ta, các Cơ-đốc nhân là công-dân Nước Trời, nên trong khi hãy còn sống trên đất này, chúng ta phải có cách cư-xử như các công-dân của thiên-đàng vậy. Ông lại nêu lên ý niệm này một lần nữa trong Phi 3:20. Đây phải là một câu nói hết sức có ý nghĩa cho những người sống tại thành phố Phi-líp, vì Phi-líp là một thuộc địa của La-mã, các công-dân của nó thật ra là công-dân La-mã, được luật La-mã bảo vệ. Hội thánh của Đấng Christ là một thuộc-địa của thiên-đàng trên thế gian! Cho nên chúng ta phải có cách cư-xử như các công-dân của Nước Trời.

“Tôi có cư-xử theo phương cách thích hiệp với Phúc-Âm không?” là một câu hỏi hay để chúng ta thường xuyên tự vấn. Chúng ta phải “ăn ở một cách xứng đáng với chức-phận…” mà chúng ta có trong Đấng Christ (Êph 4:1) nghĩa là “ăn ở cách xứng-đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường” (Côl 1:10).

Chúng ta không ăn ở cư-xử để được lên thiên-đàng, dường như có thể nhờ các công việc lành để được cứu nhưng chúng ta phải ăn ở, ứng xử tốt vì tên của chúng ta đã được ghi trên thiên-đàng rồi, và chúng ta đã là công-dân của thiên-đàng rồi.

Nên nhớ là người thế-gian chung quanh chúng ta chỉ biết Phúc-Âm nhờ những gì họ nhìn thấy trong đời sống chúng ta.

“Bạn đang viết một sách Phúc-Âm, một chương mỗi ngày. Bằng những việc bạn làm và những lời bạn nói.

Người ta đọc những gì bạn viết; xem có thật, có đúng hay không?

Phải chăng đây chính là sách Phúc-Âm theo bạn?”


Phúc-Âm là Tin Lành về Đấng Christ đã chịu chết thay cho tội-lỗi chúng ta, đã bị chôn, và đã sống lại (ICôr 15:1-8). Chỉ có một “Tin-Lành, tin-mừng” về sự cứu-rỗi mà thôi bất luận một bức thông-điệp nào khác đều là giả, là sai (Ga 1:6-10).

Thông-điệp của Phúc-Âm là Tin Lành cho biết rằng các tội-nhân có thể trở thành con cái Đức Chúa Trời nhờ đặt đức-tin vào Chúa Giê-xu Christ, con Đức Chúa Trời (Gi 3:16).

Thêm chút gì vào Phúc-Âm là tước mất quyền-năng của nó. Chúng ta không được cứu khỏi tội nhờ đức-tin đặt vào Đấng Christ cộng thêm một điều gì khác. Chúng ta được cứu bởi đặt đức-tin vào một mình Chúa Giê-xu mà thôi.


Một thành viên của Hội thánh bảo với ông mục-sư của mình: “Chúng tôi có những người láng giềng tin một Phúc-Âm giả. Ông có quyển sách nào để tôi tặng họ không?”

Vị mục-sư mở quyển Thánh Kinh của mình ra ở IICôr 3:2, là câu chép rằng “Chính anh em là thư gửi gắm của chúng tôi, viết trong lòng chúng tôi, mọi người đều biết và đều đọc.” 

Rồi ông nói: “Quyển sách hay nhất trên thế-gian này không thể thay thế cho chính đời sống của bạn. Hãy để cho họ thấy Đấng Christ trong cách cư-xử của bạn, và điều đó sẽ tạo cơ hội để bạn chia sẻ Phúc-Âm của Đấng Christ cho họ.”

Vũ khí quan-trọng nhất để chống lại ma quỷ là một đời sống tin kính. Và một chi hội địa phương thực hành cái chân-lý “sống theo điều mình tin”, sẽ đánh bại được kẻ thù.

Đây là điều thiết yếu đầu tiên để thắng trận.


Tinh thần cộng-tác (IICôr 1:27b)

Bây giờ, Phao-lô thay đổi thí-dụ minh họa từ chính trị sang các bộ môn điền kinh. Từ ngữ “đồng tâm chống cự” là tự căn của từ ngữ “các môn điền kinh” (athletics) trong Anh văn. Phao-lô vẽ ra các bức tranh về Hội thánh như một toàn đội, và ông nhắc nhở họ rằng chính công-tác tập thể, lối chơi toàn đội, mới đem đến chiến thắng.

Nên nhớ luôn là trong Hội thánh tại Phi-líp đang có chia-rẽ. Có một điều rõ ràng, là có 2 phụ nữ đã không thuận với nhau (Phi 4:2). Rõ ràng là các thành-viên đáng lẽ phải thông-công, giao hảo với nhau, lại chia phe ra như trường hợp vẫn thường là như thế, mà kết quả là sự chia-rẽ làm ngăn trở công việc của Hội thánh.

Kẻ thù luôn luôn vui mừng khi thấy các chia-rẽ nội bộ trong công-tác của chi hội địa phương. Khẩu hiệu của nó là “chia-rẽ để chinh-phục”, và nó thường đạt được ý nguyện. Chỉ khi nào các tín-hữu biết đoàn kết lại với nhau, họ mới thắng được kẻ ác.

Xuyên suốt bức thư này, Phao-lô đã có một sách lược lý thú để nhấn mạnh tầm quan-trọng của sự đoàn kết. Trong Hy-văn, tiền trí từ “sun” có nghĩa là “với nhau, cùng nhau” và khi sử dụng nó với nhiều từ ngữ khác nhau, nó tăng cường ý niệm đoàn kết, hợp nhất (nó có phần nào giống với tiền trí từ “co” trong Anh văn). Trong thư Phi-líp, Phao-lô đã dùng tiền trí từ này ít nhất 16 lần, nên các độc-giả của ông không thể nào bị hụt mất bức thông-điệp trong đó. Trong Phi 1:27 từ ngữ Hy-văn là sunathleo, “phấn đấu với nhau như các lực-sĩ ”.


Jerry rất chán nản và quyết định nói toạc ra với huấn luyện viên cảm nghĩ của mình.

Anh ta phàn-nàn: “Tập dượt chẳng còn có ý nghĩa gì nữa. Mike là cả đội, ông chẳng cần chi đến số người còn lại trong đội của chúng tôi.”

Huấn luyện viên Gardner biết rõ chỗ rắc rối: “Jerry này, không phải vì Mike có nhiều cơ may ném rổ mà số còn lại các cậu không còn cần thiết nữa. Phải có người nào đó tạo điều kiện thuận lợi dưới rổ – và đó chính là chỗ của cậu - mà đó chính là công của các cậu.”


Lắm khi trong đội bóng phải có một “ngôi sao” được mọi người chú ý và khen ngợi. Thường thường thì điều đó gây khó chịu cho số người còn lại trong đội. Họ không đang cùng làm việc ngang hàng với nhau, mà làm việc chỉ để cho một người được nổi bật. Chính thái-độ này đã tạo ra thất bại.

Tai hại thay, chúng ta cũng có một vài “ngôi sao” trong Hội thánh. Giăng đã phái đối phó với một người tên Đi-ô-trép, “là kẻ ưng đứng đầu Hội thánh” (IIIGi 1:9). Ngay đến Gia-cơ và Giăng cũng từng đòi hỏi những địa-vị đặc biệt (Mat 20:20-28). Từ ngữ quan-trọng là cùng với nhau, đồng tâm nhất trí cùng đứng vững để chiến đấu với kẻ thù.

Chẳng có gì khó khăn lắm để mở rộng cái ý niệm về chi hội địa phương là một đội các lực-sĩ. Mỗi người đều được giao cho một vị-trí, một công việc, và nếu mỗi người đều làm công việc của mình, thì điều đó sẽ giúp ích cho tất cả những người khác. Không phải mọi người đều là thủ quân! Toàn đội phải theo đúng quy luật, mà Lời Đức Chúa Trời là quyển “sách luật” của chúng ta. Chỉ có một mục tiêu, đó là tôn-vinh Đấng Christ và vâng-theo ý chỉ Ngài.

Nếu tất cả chúng ta đều đồng-công cộng-tác với nhau, chúng ta sẽ đạt được mục tiêu, chiếm được giải thưởng và tôn-vinh Chúa. Nhưng vào giờ phút mà có một ai đó trong chúng ta bắt đầu bất-tuân luật-lệ, bỏ tập dượt (đời sống Cơ-đốc nhân đòi hỏi phải có tinh thần kỷ-luật), hay tự tìm lấy vinh-quang cho riêng mình, thì sự phối hợp đồng đội sẽ không còn, và sự chia-rẽ, tranh cạnh sẽ thắng hơn.

Nói khác đi, Phao-lô nhắc lại cho chúng ta về nhu-cầu của tâm-trí chân-chất. Trong đời sống chúng ta bao giờ cũng có niềm vui, cả khi phải chiến đấu với kẻ thù, nếu chúng ta biết sống vì Đấng Christ, vì Phúc-Âm và thực hiện sự phối hợp Cơ-đốc đồng đội.

Điều chắc chắn là sẽ có một người nào đó mà chúng ta không thể cộng-tác được (IICôr 6:14-18; Êph 5:11) nhưng có rất nhiều người để chúng ta có thể - và cộng-tác với họ!

Chúng ta là công-dân Nước Trời, do đó, phải bước đi cách kiên-định. Chúng ta là thành-viên của cùng một “đội” nên phải cộng-tác với nhau. Nhưng còn có một điểm thiết-yếu thứ ba nữa để thành công khi chúng ta trực diện với kẻ thù, và đó là lòng tin-quyết.


2. Lòng tin-quyết (Phi 1:28-30).

“Đừng để các đối thủ khiến cho anh em hoảng sợ.” 

Từ ngữ mà Phao-lô dùng tả vẽ một con ngựa hoảng sợ phải lâm trận. Điều chắc chắn là chẳng hề có ai lại mù quáng lao vào một trận đánh nhau, nhưng người tín-hữu tận-trung thì chẳng bao giờ cố tính tránh mặt kẻ thù.

Trong mấy câu này, Phao-lô đưa ra nhiều lời khích-lệ chúng ta hãy tin-quyết trong khi chiến đấu.


-Thứ nhất, những trận đánh này chứng-tỏ chúng ta đã được cứu-rỗi (c.29). Chúng ta chẳng những chỉ tin Đấng Christ, mà còn sẵn sàng chịu-khổ vì Ngài nữa. Phao-lô gọi đó là “sự thông-công (trong sự) thương-khó của Ngài” (Phi 3:10).

Vì một số lý-do nào đó, nhiều tín-hữu mới nghĩ rằng tin-cậy Đấng Christ có nghĩa là kết thúc những cuộc chiến đấu. Trong thực tế điều đó có nghĩa chiến là bắt đầu những chiến trận mới.

“Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình-yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn-nạn trong thế-gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế-gian rồi! ” (Gi 16:33)

“Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân-đức trong Đức Chúa Giê-xu Christ, thì sẽ bị bắt bớ.” (IITim 3:12).


Nhưng hiện diện của sự tranh chấp là một đặc ân chúng ta vì Ngài mà chịu-khổ. Thật vậy, Phao-lô bảo rằng sự tranh chấp này đã được “ban-cho” chúng ta - đây là một ân-tứ, một quà tặng! Nếu chúng ta vì bản thân mà chịu-khổ, thì đó không phải là một đặc ân nhưng vì chúng ta chịu-khổ vì Đấng Christ, chịu-khổ cùng với Ngài, thì đó là một vinh-dự cao cả và thánh-khiết.

Dù sao thì Ngài cũng đã chịu-khổ vì chúng ta, cho nên sẵn sàng chịu-khổ vì Ngài là điều tối thiểu chúng ta có thể làm để chứng-tỏ tình yêu và lòng tri-ân của mình.


Một lời khích-lệ nữa là: nhiều ngưòi khác nữa cũng đang kinh qua cùng một cuộc tranh chấp giống như thế (c.30). Sa-tan muốn cho chúng ta nghĩ rằng mình đang cô đơn trong cuộc chiến đấu, rằng các khó khăn của chúng ta là có một không hai, nhưng sự thật không phải là như thế.

Phao-lô nhắc nhở người Phi-líp rằng ông đang trải qua cùng những khó khăn giống như điều họ đang gặp tuy họ đang sống cách xa thành phố Rô-ma đến mấy trăm dặm. Thay đổi địa điểm về mặt địa-lý thường không phải là giải pháp cho các vấn-đề thuộc-linh, vì bản tính con người thì ở đâu cũng vẫn thế, mà kẻ thù của chúng ta thì ở đâu cũng có. Biết rằng các tín-hữu bạn của tôi cũng đang chiến đấu, là một khích-lệ để tôi cứ tiến lên và cầu-nguyện cho họ như cầu-nguyện cho bản thân tôi vậy.


Thật ra, trải qua sự tranh chấp thuộc-linh là một phương pháp phải có để chúng ta tăng-trưởng trong Đấng Christ. Đức Chúa Trời ban-cho chúng ta phần sức lực cần thiết để đứng vững chống lại kẻ thù, và niềm tin-quyết này là chứng-cứ cho thấy rằng nó sẽ bị bại trận, còn chúng ta đang đứng về phía chiến thắng (c.28b).

Người Phi-líp từng thấy Phao-lô chiến đấu lúc ông còn ở với họ (đọc Công 16:19 và tt), cũng như từng chứng-kiến sự vững vàng trong Chúa của ông. Từ ngữ “chiến tranh” (agonia) ở đây là tự căn của từ ngữ thống khổ (agony) trong Anh văn, và là chữ đã được dùng chỉ cuộc chiến đấu của Đấng Christ trong vườn Ghết-sê-ma-nê (Lu 22:24).

Hễ khi nào chúng ta trực diện với kẻ thù mà biết trông-cậy nơi Chúa, thì Ngài sẽ ban cho chúng ta tất cả những gì là cần thiết cho cuộc chiến. Khi kẻ thù nhìn thấy niềm tin-quyết mà Đức Chúa Trời ban-cho chúng ta, nó sẽ vô cùng sợ hãi.


Thế thì tâm-trí chân-chất ban cho chúng ta niềm vui giữa chiến trận, vì nó tạo ra trong chúng ta tính kiên-định, tinh thần cộng-tác và niềm tin-quyết. Chúng ta trải-nghiệm niềm vui của “sự phối hợp đồng đội thuộc-linh” khi cùng chiến đấu với nhau cho đức-tin của Phúc-Âm.





5. GƯƠNG MẪU CAO (Phi 2:1-11)


(Phi 2:1-4) Một nhân vật trong vở hài kịch dài nổi tiếng tuyên-bố: “Tôi yêu nhân loại, nhưng tôi không thể chịu đựng nổi con người!”

Người khác có thể cướp mất niềm vui của chúng ta. Phao-lô đang có vấn-đề với một số người tại Rô-ma (Phi 1:15-18) cũng như với một số người khác tại Phi-líp, nhưng chính những người ở Phi-líp mới khiến ông bận tâm nhất. Lúc Ép-ba-phô-đích đem món quà tặng hào phóng từ Hội thánh Phi-líp đến cùng tin-mừng về mối quan tâm của Hội thánh dành cho Phao-lô, ông cũng đem đến một tin-xấu về việc có thể có chia-rẽ trong Hội thánh. Rõ ràng là có hai mối đe dọa cho sự đoàn kết của Hội thánh: có các giáo-sư giả từ bên ngoài xâm nhập (Phi 3:1-3) và có bất đồng ý kiến nội bộ (Phi 4:1-3). Phao-lô không nêu rõ 2 bà Ê-vô-đi (Hương thơm) và Sin-ty-cơ (May mắn) đang cãi nhau về chuyện gì. Có lẽ cả 2 bà đều muốn làm trưởng ban truyền-giáo hay ca-trưởng gì đó!


Phao-lô vốn biết rõ điều mà nhiều nhân-sự trong Hội thánh ngày nay không biết, là có chỗ khác nhau giữa hiệp một với đồng nhất. Sự hiệp-một thuộc-linh đích thực vốn từ bên trong mà ra, nó là một vấn-đề của tấm-lòng. Sự đồng nhất là hậu quả của áp lực từ bên ngoài.

Chính vì lý-do đó mà Phao-lô mở đầu đoạn này bằng lời kêu gọi đến các động cơ thúc đẩy thuộc-linh cao nhất có thể có được (Phi 2:1-4). Vì các tín-hữu tại Phi-líp đều ở “trong Đấng Christ”, điều đó phải khích-lệ họ hành động hướng về sự hiệp một và yêu thương nhau, thay vì chia-rẽ và thù địch.

Bằng lời lẽ đầy ân-hậu, Phao-lô muốn nói với Hội thánh rằng: “Anh em bất đồng ý kiến với nhau, chứng-tỏ giữa anh em đang có vấn-đề thuộc-linh trong sự thông-công. Nó sẽ không thể được giải quyết bằng luật lệ hay những lời đe dọa đâu, mà chỉ được giải quyết khi tấm-lòng anh em đã ngay thẳng với Đấng Christ và với nhau mà thôi.” Phao-lô muốn cho họ thấy rằng nguyên nhân cơ bản là thói vị-kỷ, mà nguyên nhân của thói vị-kỷ là tội kiêu-ngạo. Đời sống một Cơ-đốc nhân tự đặt mình lên trên người khác sẽ chẳng bao giờ có niềm vui.


Bí quyết của niềm vui là tâm-trí chân-chất bất chấp hoàn-cảnh. Bí quyết của niềm vui không lệ thuộc vào người khác là tâm-trí thuận-phục. Câu chìa khóa là “Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình.” (Phi 2:3). Trong chương 1 thì “Đấng Christ đứng đầu”, còn trong chương 2 thì “tha-nhân đứng tiếp theo đó.” Phao-lô, người chinh-phục linh-hồn trong chương 1, đã trở thành Phao-lô người đầy-tớ trong chương 2.

Điều quan-trọng là chúng ta phải hiểu Thánh Kinh ngụ ý gì khi nói đến “khiêm-nhường.” Người khiêm-nhường không phải là người tự nghĩ là mình hèn hạ chẳng ra gì, mà người ấy chẳng bao giờ nghĩ gì đến bản thân cả! (Theo thiển ý thì chính Andrew Murray đã nói như thế! ).

Khiêm-nhường là đức tính mà khi bạn biết rằng mình có nó là bạn đã đánh mất nó rồi! Người thật sự khiêm-nhường tự biết mình và chấp nhận mình (Rô 12:3). Người ấy tự đặt mình đầu-phục Đấng Christ để làm tôi-tớ cho Ngài, để lợi dụng bản thân và những gì mình có làm vinh-danh Đức Chúa Trời và làm lợi ích cho người khác. “Người khác” là ý niệm mấu chốt của chương này (Phi 2:3-4), người tín-hữu ấy xây mắt khỏi bản thân để nhìn chăm vào các nhu-cầu của tha-nhân.

“Tâm-trí thuận-phục” không có nghĩa là người tín-hữu luôn luôn vâng dạ đối với mọi người hay phải là “tấm thảm chùi chân tôn-giáo” cho mọi người lợi dụng! Có một số người muốn mua chuộc bạn bè và duy trì sự đoàn kết trong Hội thánh bằng cách “nhượng bộ” tất cả mọi người chìu theo mọi đòi hỏi và ước muốn của họ. Đây không hề là gợi ý của Phao-lô. Kinh Thánh chép thật hoàn hảo: “Vì (tình yêu mến) Đức Chúa Giê-xu Christ mà chúng tôi xưng mình là tôi-tớ của anh em” (IICôr 4:5). Nếu chúng ta có tâm-trí đơn sơ mộc mạc của chương 1, chúng ta sẽ không gặp vấn-đề về tâm-trí thuận-phục của chương 2.


Phao-lô nêu ra cho chúng ta 4 tấm gương về tâm-trí thuận-phục: Chúa Giê-xu Christ (Phi 2:1-11), chính Phao-lô (Phi 2:12-18), Ti-mô-thê (Phi 2:19-24) và Ép-ba-phô-đích (Phi 2:25-30). Lẽ dĩ nhiên Tấm Gương Quan-Trọng là Chúa Giê-xu, nên Phao-lô bắt đầu với Ngài. Chúa Giê-xu Christ là thí-dụ minh họa 4 đặc điểm của con người có tâm-trí thuận-phục.


1. Người ấy nghĩ đến người khác chớ không nghĩ đến bản thân (Phi 2:5-6). “Tâm-tình (mind)” của Đấng Christ có nghĩa là “thái-độ” mà Đấng Christ bộc lộ. “Hãy có đồng một tâm-tình như Đấng Christ đã có” (Phi 2:5). Nói cho cùng thì quan-điểm quyết định kết quả. Nếu quan-điểm là ích kỷ, thì hành động sẽ là mưu mô và phá hoại. Gia-cơ cũng nói giống như thế (xem Gia 4:1-10).


Mấy câu này trong thư Phi-líp đưa chúng ta quay trở về với quá-khứ vĩnh cửu. “Hình Đức Chúa Trời” chẳng liên quan gì với bóng dáng hoặc kích cỡ. Đức Chúa Trời là Thần Linh (Gi 4:24), do đó, không thể được suy nghĩ theo điều kiện, chữ nghĩa của loài người. Khi Thánh Kinh đề cập “đôi mắt của Đức Giê-hô-va” hay “bàn tay của Đức Giê-hô-va” thì không dạy rằng Đức Chúa Trời có hình dáng của con người. Đúng hơn thì đó chỉ là lời lẽ của loài người nhằm mô tả các thuộc-tính (các đặc điểm) và hoạt động của Ngài mà thôi.

Từ ngữ “hình” ở đây có nghĩa là “phần bộc lộ ra ngoài của bản tính bên trong.” Câu này có nghĩa là trong quá-khứ vĩnh cửu Chúa Giê-xu Christ là chính Đức Chúa Trời. Thật vậy, Phao-lô vạch rõ rằng Ngài “bình-đẳng với Đức Chúa Trời.” Nhiều câu Kinh Thánh khác nữa như Gi 1:1-4; Côl 1:15; Hêb 1:1-3 cũng nhấn mạnh Chúa Giê-xu Christ là Đức Chúa Trời.

Chắc chắn là với cương vị Đức Chúa Trời, Chúa Giê-xu Christ đã chẳng thiếu thốn gì cả! Ngài có đầy đủ mọi vinh-quang và được ca-tụng trên thiên-đàng. Ngài cùng với Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh cai-trị cả vũ trụ. Nhưng câu 6 vạch rõ một sự kiện đáng kinh ngạc: Ngài chẳng xem sự bình-đẳng mình với Đức Chúa Trời là điều nên “nắm giữ một cách ích-kỷ” Chúa Giê-xu đã không nghĩ đến bản thân Ngài nghĩ đến người khác. Cách nhìn hay thái-độ (coi, xem) của Ngài là mối quan-tâm bất vị-kỷ chỉ nghĩ đến tha-nhân.

Đó là “tâm-tình (trí) của Đấng Christ”, một thái-độ ngụ ý bảo rằng: “Tôi không giữ các đặc quyền của mình cho riêng tôi, mà phải sử dụng chúng cho người khác và muốn làm như thế, tôi sẽ vui vẻ gạt chúng qua một bên và trả bất cứ giá cần thiết nào.”


Một phóng-viên nọ phỏng vấn một vị cố-vấn rất thành công từng hướng nghiệp cho hằng trăm công nhân được vui vẻ theo đúng ngành nghề của họ. Khi được hỏi về bí quyết sự thành công của mình, ông ta đáp: “Nếu bạn muốn tìm biết một công nhân thật ra là người như thế nào, đừng giao trách-nhiệm cho anh ta - mà phải cho anh ta nhiều đặc quyền. Phần đông thiên-hạ đều có thể chu toàn trách-nhiệm nếu bạn trả công đủ cho họ nhưng cần phải có một người lãnh đạo thật mới sử dụng được các đặc quyền. Một cấp lãnh đạo phải dùng các đặc quyền mình có để giúp đỡ người khác và xây dựng tổ chức của mình một người kém cỏi hơn sẽ lợi dụng các đặc quyền của mình để tự tiến thân.” 

Chúa Giê-xu đã sử dụng các đặc quyền mình có trên trời để làm lợi ích cho người khác - để giúp đỡ chúng ta.

Thiết tưởng cần so sánh thái-độ của Đấng Christ với thái độ của Lu-xi-phe (Ês 14:12-15) và A-đam (Sa 3:1-7). Nhiều học-giả Thánh Kinh tin rằng sự sa ngã của Lu-xi-phe là một phần mô tả sự sa ngã của Sa-tan.

Nó nguyên là một vị thiên-sứ cao cấp nhất, rất gần với ngôi Đức Chúa Trời (Êxe 28:11-19), nhưng lại muốn ngự trên ngôi của Đức Chúa Trời kia! Lu-xi-phe nói: “Ta sẽ” nhưng Chúa Giê-xu nói “xin ý Cha được nên.” Lu-xi-phe không hài lòng với địa-vị một tạo vật nó muốn làm Đấng Tạo Hóa kia!

Chúa Giê-xu vốn là Đấng Tạo Hóa, thế nhưng Ngài sẵn sàng trở thành người. Thái-độ khiêm-hạ của Đấng Christ là một lời quở trách thói kiêu-ngạo của Sa-tan.


Lu-xi-phe không hài lòng khi chỉ có một mình làm kẻ phiến loạn nó xâm nhập vườn Ê-đen để cám-dỗ con người cùng phản loạn với nó. A-đam vốn có tất cả những gì ông muốn ông thật sự là “vua” của cả công trình thọ tạo của Đức Chúa Trời (“Chúng ta làm nên loài người…đặng quản trị…”, Sa 1:26).

Nhưng Sa-tan nói: “Ngươi sẽ trở nên giống như Đức Chúa Trời.” A-đam đã tự ý muốn thâu tóm điều vốn vượt quá khả năng vươn tới của mình, nên hậu quả là đã nhận chìm cả nhân loại vào trong tội-lỗi và chết chóc. A-đam và Ê-va chỉ nghĩ đến bản thân họ mà thôi. Chúa Giê-xu Christ thì nghĩ đến người khác.


Chúng ta không lấy làm lạ khi thấy người không tin Chúa ích kỷ và tham lam, muốn vơ vét tất cả, nhưng không trông-mong điều đó cho các Cơ-đốc nhân là những người đã từng-trải tình yêu của Đấng Christ và sự thông-công của Đức Thánh Linh (Phi 2:1-2).

Trong Tân-ước, đã có hơn 20 lần, Đức Chúa Trời truyền dạy cho chúng ta cách sống với nhau. Chúng ta phải yêu thương…kính-nhường nhau (Rô 12:10), gây-dựng cho nhau (ITês 5:11) và mang lấy gánh nặng cho nhau (Ga 6:2). Chúng ta không nên đoán-xét nhau (Rô 14:13) mà thay vào đó nên khuyên bảo nhau (Rô 15:14).

Người khác là chữ chìa khóa trong ngôn ngữ của một Cơ-đốc nhân đang rèn luyện tâm-trí thuận-phục.


2. Người ấy phục-vụ (Phi 2:7).

Nghĩ đến người khác chỉ theo nghĩa trừu tượng mà thôi, thì chưa đủ chúng ta còn phải hạ mình sẵn sàng phục-vụ bằng những công việc hèn mọn nhất nữa. Một triết-gia lừng danh từng viết ra nhiều lời lẽ đầy quang vinh về vấn-đề giáo dục trẻ con, nhưng lại bỏ bê chính con cái mình.

Thật là dễ cho ông ta yêu đám trẻ con trừu tượng, nhưng đến khi phải đem ra thực hành, thì đó lại là một việc khác.

Chúa Giê-xu đã nghĩ đến người khác và đã trở thành một người đầy tớ. Phao-lô vạch lại các bước tiến của sự khiêm-hạ của Đấng Christ: (1) Ngài đã tự bỏ mình đi (làm cho mình trở thành trống không), gạt qua một bên quyền tự-do sử dụng các thuộc-tính riêng với tư cách là Đức Chúa Trời của mình (2) Ngài hoàn toàn trở thành một con người, có thân thể vô-tội (3) Ngài dùng thân thể ấy để làm tôi-tớ (4) Ngài đưa thân thể ấy lên thập-tự giá và sẵn sàng chịu chết.


Thật là một ân-điển phi thường! Từ thiên-đàng xuống thế gian, từ địa vị vinh-quang đến chỗ chịu hèn hạ nhục nhã, từ ông chủ trở thành kẻ tôi-tớ, từ sống đến chết, thậm chí “chết trên thập-tự giá!”

Trong thời Cựu-ước, Đấng Christ từng đến viếng thế-gian này nhân một vài chức-vụ đặc biệt (Sa 18:1-33 là một trường hợp như thế), nhưng những lần viếng thăm đó chỉ là tạm thời.

Lúc được sinh ra tại Bết-lê-hem, Ngài đã bước vào một sự hợp nhất vĩnh viễn với nhân loại, là một địa-vị không có lối thoát. Ngài sẵn sàng tự hạ mình xuống để có thể nâng chúng ta lên! Xin chú ý là Phao-lô lại dùng từ ngữ “hình” một lần nữa trong câu 7 “lấy hình tôi-tớ” mặc cho bản tính bên trong.

Chúa Giê-xu không tự xưng mình là một kẻ tôi-tớ, Ngài không phải là một diễn viên thủ vai đầy-tớ. Ngài đã thật sự làm một đầy-tớ! Đây là cách bộc lộ thật sự bản tính bên trong của Ngài. Ngài là Đức Chúa Trời - Người, là thần-tánh và nhân-tánh hợp nhất, và Ngài đã đến thế-gian để làm một đầy-tớ.

Khi đọc 4 sách Phúc-Âm, có bao giờ bạn chú ý để thấy rằng chính Chúa Giê-xu đã phục-vụ nhiều người khác, chớ không phải là người khác phục-vụ Ngài, không? Ngài đáp-ứng nhu-cầu của đủ mọi thành phần: ngư dân, người thâu thuế, kẻ đau ốm, buồn khổ, “Ấy vậy, Con Người đã đến, không phải để người ta hầu-việc mình, nhưng để mình hầu-việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người.” (Mat 20:28).

Tại Phòng Cao, lúc các môn-đệ Ngài đều từ chối phục-vụ, thì Chúa Giê-xu đã đứng dậy, cởi áo ngoài ra, lấy một tấm khăn vấn ngang lưng, để rửa chân cho họ! (Gi 13:1-20). Ngài đã dành lấy chỗ của một tên nô-lệ hèn hạ! Đây chính là tâm-trí thuận-phục trong hành động – và thật chẳng có gì lạ khi Chúa Giê-xu kinh-nghiệm niềm vui như vậy.


Trong trận nội chiến Hoa Kỳ, Tướng George B.McClellan được giao cho Đạo quân Potomac rất lớn, chủ yếu vì dư luận quần chúng đứng về phía ông ta. Ông ta tự cho mình là một lãnh tụ quân sự quan-trọng, và thích nghe thiên-hạ gọi mình là “một Nã-phá-luân trẻ tuổi”. Tuy nhiên, chiến công của ông ta chẳng có gì đặc biệt cả.

Tổng thống Lincoln đã muốn bổ nhiệm ông ta làm Tổng-tư-lệnh, mong rằng chức-vị ấy sẽ có tác động, nhưng vẫn còn trì hoãn.

Một tối nọ, Tổng thống Lincoln và hai thành viên trong bộ tham mưu của ông đến thăm McClellan, và được biết rằng ông ta đã đi dự một tiệc cưới. Ba nhân vật ấy ngồi chờ, và một tiếng đồng hồ sau ông tướng nọ mới về. Chẳng chú ý gì đến tổng thống cả, McClellan đi lên thang lầu và không trở lại. Nửa giờ sau, tổng thống Lincoln sai người đến báo với McClellan rằng các vị ấy đang đợi ông ta. Người được sai đi trở lại và trình rằng ông tướng đã đi ngủ.

Những người cộng sự với tổng thống rất tức giận, nhưng Lincoln chỉ đứng lên và dẫn đầu đoàn người ấy trở về.

Vị tổng thống giải thích: “Bây giờ không phải là lúc để bàn về tước vị hay phẩm giá cá nhân. Tôi sẵn sàng cầm gương ngựa cho McClellan nếu ông ta đem thành công đến cho chúng ta.” 

Thái độ khiêm-tốn ấy là điều đã giúp cho Lincoln trở thành một con người vĩ đại và một vị tổng thống vĩ đại. Ông đã không tự nghĩ đến mình, mà chỉ nghĩ đến việc phục-vụ cho người khác. Phục-vụ là dấu hiệu thứ hai của tâm-trí thuận-phục.


3. Người ấy hy sinh (Phi 2:8).

Nhiều người sẵn sàng phục-vụ cho tha-nhân nếu việc ấy chẳng tốn kém gì cho họ cả. Nhưng nếu phải trả giá, tức khắc họ thôi quan tâm. Chúa Giê-xu thì “vâng-phục cho đến chết, thậm chí chết trên thập-tự giá” (c.8).

Cái chết của Ngài không phải là cái chết của một vị thánh tử-đạo, mà là cái chết của một Cứu Chúa. Ngài sẵn sàng hy sinh mạng sống vì tội-lỗi của thế gian.


Tiến-sĩ J.H.Jowett có nói: “Chức-vụ chẳng phải trả-giá chi cả, cũng chẳng hoàn thành được gì cả.” Muốn có được một phước hạnh nào, thì phải có việc “đổ máu.” Trong một ngày lễ tôn-giáo tại Brasil, một giáo-sĩ đi từ nhà trại này đến nhà trại khác để xem xét các hàng hóa được trưng bày. Ông thấy một tấm bảng treo trước một căn lều, ghi “Những cây thánh-giá rẻ tiền.” Ông tự nhủ “Đây là điều mà nhiều Cơ-đốc nhân đang trông mong hiện nay - những cây thập-tự rẻ tiền. Thập-tự giá của Chúa tôi không phải là rẻ tiền. Tại sao thập-tự giá của tôi lại rẻ tiền cho được?”


Người có tâm-trí thuận-phục không trốn tránh hy sinh. Người ấy sống vì sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời và vì lợi ích của người khác, và nếu phải trả-giá để tôn-vinh Đấng Christ và giúp ích được cho tha-nhân thì người ấy sẽ sẵn lòng.

Đó là thái-độ của Phao-lô (Phi 2:17), Ti-mô-thê (Phi 2:20) và cả Ép-ba-phô-đích nữa (Phi 2:30).

Hy sinh và phục-vụ đi đôi với nhau nếu muốn cho sự phục-vụ thật sự trở thành sự phục-vụ của Cơ-đốc giáo.


Trong quyển sách nhan đề: “Tận hiến và Lãnh đạo” (Dedication and Leadership) của mình, Douglas Hyde giải thích tại sao người Cộng sản thành công trong chương trình của họ. Bản thân vốn là một đảng viên Cộng sản suốt 20 năm, ông Hyde hiểu rõ triết-lý của họ.

Ông nêu ra rằng người cộng sản chẳng bao giờ yêu cầu một người làm một công-tác “thấp hèn, nhỏ mọn” cả. Họ luôn luôn yêu cầu người ta hãy mạnh dạn đảm-nhiệm một việc gì mà người ấy phải trả-giá cao.

Họ đưa ra những đòi hỏi lớn lao nên sẵn sàng được đáp-ứng.

Ông Hyde gọi lời kêu gọi  là một trong những yếu tố quan-trọng nhất của sự thành công trong chương trình của người Cộng sản. Ngay cả các đoàn viên trẻ trong phong trào cũng được trông-mong phải học tập, phục-vụ, cống hiến và tuân lệnh, mà đây chính là điều thu hút và giữ chân họ.

Ban Trị Sự một Hội thánh nọ lập kế hoạch cho chương trình “Chúa nhật thanh niên” hàng năm và một nhân-viên gợi ý để cho các thanh niên làm trật-tự viên, hướng dẫn giờ cầu-nguyện, lo phần âm nhạc đặc biệt. Một thanh niên đứng lên nói: “Thành thật mà nói, chúng tôi rất chán việc cứ bị sai làm những công việc nhỏ nhặt. Năm nay, chúng tôi thích làm một việc khó khăn kia, và có lẽ chúng tôi sẽ cứ duy trì công việc ấy suốt năm luôn. Chúng tôi đã bàn với nhau và đã cầu-nguyện về vấn-đề ấy, và chúng tôi thích được giao cho căn nhà ở tầng trệt để sửa lại, làm một lớp học. Chúng tôi muốn bắt đầu đi thăm các thành viên cao tuổi hằng tuần và đem đến cho họ các băng ghi âm những buổi nhóm lại. Và nếu có thể được, chúng tôi muốn làm chứng-đạo mỗi chiều Chúa Nhật ngoài công viên thành phố. Chúng tôi mong quý vị sẽ đồng ý.”

Cậu ta ngồi xuống, và vị tân mục-sư trẻ tuổi mỉm cười. Ông ta đã thách-thức riêng với các thanh niên là hãy làm một việc gì mà họ phải trả-giá - và họ đã hăng hái đáp lại lời thách thức ấy. Ông biết rằng hy sinh là cần thiết nếu thật sự muốn tăng-trưởng và phục-vụ.


Trắc-nghiệm cho tâm-trí thuận-phục không phải chỉ là sẵn sàng nhận bao nhiêu đau khổ, nhưng là sẵn sàng cống hiến bao nhiêu trên phương diện hy sinh.

Một vị mục-sư than phiền rằng các tín-đồ của ông đã đổi lời của bài thánh ca, từ “xin nhận lấy cuộc đời tôi để dùng nó theo ý Chúa” thành ra “Hãy nhận lấy vợ tôi và để tôi được sống theo ý tôi”. Họ muốn người khác hy sinh, còn bản thân họ thì chẳng sẵn sàng hy sinh cho tha-nhân.

Có một trong những nghịch lý của đời sống Cơ-đốc, ấy là chúng ta càng ban ra nhiều thì sẽ càng nhận nhiều, chúng ta càng hy sinh nhiều, thì Đức Chúa Trời sẽ càng ban phước cho chúng ta nhiều.

Đây là lý-do giải thích tại sao tâm-trí thuận-phục dẫn tới niềm vui nó khiến chúng ta càng giống với Đấng Christ hơn.

Điều này có nghĩa là chúng ta được chia-sẻ niềm vui với Ngài cũng y như chúng ta đã chia-sẻ đau khổ với Ngài. Lẽ dĩ nhiên, khi tình yêu đã là động cơ thúc đẩy (Phi 2:1), thì sự hy sinh chẳng bao giờ được đo lường hay đề cập. Người luôn luôn nói về những hy sinh của mình, thì không có tâm-trí thuận-phục.

Bạn có đang phải trả-giá gì để làm Cơ-đốc nhân không?


4. Người ấy tôn-vinh Đức Chúa Trời (Phi 2:9-11).

Lẽ dĩ nhiên, đây là mục tiêu quan-trọng nhất của chúng ta: tôn-vinh Đức Chúa Trời. Trong câu 3, Phao-lô cảnh cáo chúng ta đối với “hư-vinh”. Loại ganh đua thúc đẩy Cơ-đốc nhân chống lại Cơ-đốc nhân và việc phục-vụ chống lại việc phục-vụ vốn không có tính cách thuộc-linh, cũng không thỏa lòng. Làm như thế chỉ là phí công vô ích. Chúa Giê-xu đã tự hạ-mình để người khác được đề cao, nên Đức Chúa Trời đã tôn-cao Ngài. Và kết quả của việc tôn-cao đó, là Đức Chúa Trời được tôn-vinh.

Việc Chúa chúng ta được tôn-cao bắt đầu với sự sống lại của Ngài. Lúc người ta chôn xác Chúa, thì đó là việc cuối cùng mà bàn tay loài người đã làm cho Ngài. từ đó trở đi thì chính Đức Chúa Trời đã hành động. Loài người đã làm điều tệ hại nhất cho Cứu Chúa, nhưng Đức Chúa Trời đã đề cao và tôn-vinh Ngài.

Loài người gán cho Ngài những tên nhạo báng, “vua cáo”, nhưng Đức Chúa Cha đã ban-cho Ngài một tên đầy quang vinh! Cũng như trong việc Ngài đã tự hạ-mình xuống, Ngài đã được ban-cho tên “Giê-xu” (Mat 1:21), thì trong việc Ngài được tôn-cao, Ngài đã được ban-cho tên là “Chúa” (c.11; Công 2:32-36) Ngài đã sống lại cõi chết, trở về thiên-đàng trong chiến thắng và được ngự trên ngôi Cha.

Việc Ngài được tôn-cao gồm luôn quyền tể-trị trên toàn thể các tạo vật trên trời, dưới đất, bên dưới đất. Mọi người đều phải quỳ xuống trước mặt Ngài (Ês 45:23). Có lẽ “bên dưới đất” ám chỉ những kẻ bị hư-vong, vì người thuộc gia đình Đức Chúa Trời thì hoặc là ở thiên-đàng hoặc là trên đất (Êph 3:14-15).

Có một ngày, tất cả mọi người đều sẽ phải quỳ xuống trước mặt Ngài để xưng nhận Ngài là Chúa. Lẽ dĩ nhiên người ta có thể quỳ xuống và tôn-xưng Ngài ngay hôm nay, để nhận được sự cứu-rỗi (Rô 10:9-10). Quỳ xuống trước mặt Ngài ngay hôm nay có nghĩa là được cứu-rỗi, quỳ xuống trước mặt Ngài vào ngày phán-xét thì có nghĩa là bị kết án.

Chủ đích toàn diện của sự hạ-mình rồi được tôn-cao của Đấng Christ là nhằm tôn-vinh Đức Chúa Trời (c.11). Lúc Chúa Giê-xu trực diện với thập-tự giá thì vinh-quang của Đức Chúa Cha là điều tràn ngập trong tâm-trí Ngài (“Đức Chúa Giê-xu phán như vậy, đoạn, ngước mắt lên trời mà rằng: Thưa Cha, giờ đã đến xin làm vinh-hiển Con, hầu cho Con cũng làm vinh-hiển Cha”, Gi 17:1). Thật vậy, Ngài đã ban vinh-quang ấy cho chúng ta (Gi 17:22) và có một ngày, chúng ta sẽ cùng chia-sẻ nó với Ngài trong thiên-đàng (Gi 17:24; Rô 8:28-30).

Công tác cứu-rỗi vốn vô cùng quan-trọng và lớn lao hơn là chỉ cứu một linh-hồn bị hư-vong mà thôi, cho dù việc cứu-rỗi ấy có diệu kỳ đến đâu đi chăng nữa. Chủ đích tối hậu của việc cứu-rỗi chúng ta là nhằm tôn-vinh Đức Chúa Trời (Êph 1:6,12,14).

Trong khi sống vì người khác, người có tâm-trí thuận-phục phải tìm cơ hội hy sinh và phục-vụ nhưng rốt cuộc, nó sẽ dẫn đến vinh-quang. “Vậy, hãy hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời, hầu cho đến kỳ thuận hiệp Ngài nhắc anh em lên” (IPhi 5:6).

Giô-sép đã chịu khổ và phục vụ suốt 13 năm, nhưng rồi Đức Chúa Trời đã tôn-cao ông và đưa ông lên địa-vị nhân vật đứng hàng thứ hai để cai-trị xứ Ai-cập. Đa-vít đã được xức dầu để làm vua lúc ông hãy còn rất trẻ. Ông đã phải trải qua nhiều năm gian-khổ, nhưng đến đúng kỳ, thì Đức Chúa Trời đã tôn ông lên làm vua dân Y-sơ-ra-ên.

Niềm vui của người có tâm-trí thuận-phục chẳng những đến từ việc giúp đỡ người khác, mà còn từ việc chia-sẻ trong sự thông-công với các khổ-nạn của Đấng Christ nữa (Phi 3:10) nhưng trước nhất là nhờ biết rằng chúng ta đang tôn-vinh Đức Chúa Trời. Chúng ta đang để cho ánh sáng của mình soi ra qua các việc lành của chúng ta, và điều này tôn-vinh Đức Chúa Cha ở trên trời (Mat 5:16). Có lẽ hôm nay chúng ta vẫn chưa thấy vinh-quang, nhưng rồi chúng ta sẽ thấy nó lúc Chúa Giê-xu tái-lâm để ban thưởng cho các tôi-tớ tận-trung với Ngài.





6. NHỮNG BƯỚC VÀO RA CỦA ĐỜI SỐNG CƠ-ĐỐC NHÂN (Phi 2:12-18)


Mark Twain viết: “Có ít điều gây khó chịu nhiều hơn là nỗi buồn phiền về một gương tốt.” Có lẽ điều gây buồn phiền nhiều nhất của một tấm gương tốt, là chúng ta không thể thực hiện được một việc giống như thế trong chính đời sống mình. Ngưỡng mộ một người nào đó có thể là nguồn cảm hứng cho chúng ta, nhưng nó không giúp được ta làm nổi việc ấy. Trừ phi người ấy có thể nhập vào cuộc đời chúng ta, chia-sẻ các tài năng của người ấy cho chúng ta, chúng ta sẽ không thể nào đạt nổi những đỉnh cao của các thành tựu của người ấy. Nó cần nhiều hơn là chỉ có một gương tốt từ bên ngoài mà thôi, nó phải có năng lực từ bên trong.

Phao-lô đã giới thiệu Chúa Giê-xu Christ cho chúng ta Ngài đúng là tấm gương quan trọng cho chúng ta trong việc rèn luyện để có được một tâm-trí sẵn sàng thuận-phục.


Chúng ta đọc thấy và nhất trí với việc ấy, nhưng làm thế nào để chúng ta thực tập đây? Làm thế nào để bất luận một con người hay chết nào dám trông mong thực hiện được điều Chúa Giê-xu đã làm? Dường như chỉ muốn thử làm như thế mà thôi, cũng đã là có quá nhiều cao vọng rồi! Với địa-vị của mình, khi cố gắng phát triển đức khiêm-hạ tức là chúng ta cũng đang thực hành thói kiêu-ngạo, vì cả gan dám bắt chước Chúa Giê-xu Christ.

Vấn-đề thực ra không khó khăn đến thế, Phao-lô không đòi hỏi chúng ta “vươn tới các vì sao”, tuy điều chúng ta phải thực hiện là một mục tiêu còn cao hơn thế nữa. Đúng ra thì ông đặt trước mặt chúng ta mẫu mực của Đức Chúa Trời về thế nào là một tâm-trí thuận-phục, và phần quyền-năng mà Ngài có thể ban-cho chúng ta để hoàn tất điều Đức Chúa Trời đã truyền dạy. “Chính Đức Chúa Trời cảm động (vận hành trong) lòng anh em…” (Phi 2:13).

Không phải là bằng cách bắt chước, nhưng là bằng cách nhập thể. “Đấng Christ sống trong tôi” (Ga 2:20). Cuộc đời một Cơ-đốc nhân không phải là một loạt những bước thăng trầm. Đúng hơn thì nó là một tiến trình “vào, ra”. Đức Chúa Trời vận hành bên trong chúng ta, phần chúng ta là bày tỏ ra bên ngoài. Chúng ta nuôi dưỡng tâm-trí thuận-phục bằng cách đáp lại những gì Đức Chúa Trời đang có sẵn để cung-cấp cho chúng ta.


1. Có một chủ đích để hoàn tất (Phi 2:12,14-15).

“(Tự) làm nên sự cứu-chuộc mình” (c.12) không hề gợi ý: “Anh em phải làm việc để tự cứu lấy mình”. Để bắt đầu, nên nhớ rằng Phao-lô đang viết thư cho những người đã là “thánh-đồ” rồi (Phi 1:1), nghĩa là họ đã tin-cậy Đấng Christ và đã được biệt riêng ra cho Ngài rồi. Động từ “làm” ờ đây mang ý nghĩa là “làm để hoàn tất”, như giải một bài toán vậy. Vào thời của Phao-lô, nó cũng được dùng để chỉ việc “làm hầm mỏ” nghĩa là khai thác tất cả những quặng có thể có giá-trị, hoặc “làm đồng” nghĩa là tận thu tối đa những gì có thể có được trong một mùa gặt.

Chủ đích mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta thực hiện là trở nên giống như Đấng Christ, “để nên giống như hình bóng (ảnh, tượng) Con Ngài” (Rô 8:29). Trong đời sống có nhiều vấn-đề, nhưng Đức Chúa Trời sẽ giúp chúng ta “giải quyết” chúng.

Cuộc đời chúng ta có nhiều tiềm-năng phi thường, như một hầm mỏ hay một cách đồng vậy, và Ngài giúp chúng ta biến phần tiềm-năng ấy thành hiện thực.


Cindy trông có vẻ không được vui khi cô từ trường cao đẳng về nghỉ hè với gia đình. Cha mẹ cô nhận thấy thái-độ bất thường đó của cô nhưng đủ khôn-ngoan để chờ đội cho đến khi cô sẵn sàng thố lộ vấn-đề của mình với họ. Việc ấy đã xảy ra sau bữa cơm tối:

“Thưa cha mẹ, con có chuyện muốn nói, nhưng sợ xúc phạm đến cha mẹ.”

Bà mẹ quả quyết với cô: “Con cứ nói đi, cha mẹ sẽ thông cảm với con. Cha mẹ sẽ cùng cầu-nguyện với con - dù đó là bất cứ việc gì.”

“Vâng, chắc cha mẹ biết là hồi ở trung học, con có nói mình sẽ trở thành nữ y tá, chủ yếu vì mẹ là nữ y tá, và con nghĩ là cha mẹ muốn con nối gót mẹ. Nhưng con đã không tiếp tục được nữa. Chỉ vì Chúa không muốn con trở thành nữ y tá.”

Bà mẹ mỉm cười và nắm tay Cindy: “Con yêu ơi, cha mẹ muốn con vâng theo ý chỉ của Đức Chúa Trời cho cuộc đời của con. Nếu con làm một việc nào khác, thì cha mẹ mới không vui đó!”

Cindy đã dám làm một việc cần phải có nhiều can-đảm, cô ta đã trực diện với ý chỉ Đức Chúa Trời và quyết định thực hiện sự cứu-rỗi của riêng mình – nếp sống Cơ-đốc của chính mình - chớ không phải là làm theo điều mà một người nào khác muốn cho cô làm. Có một trong nhiều điều kỳ diệu trong việc trở thành một Cơ-đốc nhân, là biết rằng Đức Chúa Trời có một kế hoạch cho đời sống chúng ta (Êph 2:10) và sẽ giúp chúng ta thực hiện nó để tôn-vinh Ngài.

Đức Chúa Trời của chúng ta là một Đức Chúa Trời đa dạng vô hạn! Chẳng hề có hai đóa hoa nào giống hệt nhau, cũng chẳng hề có 2 mảnh tuyết nào giống y nhau, thế tại sao 2 Cơ-đốc nhân phải giống y hệt nhau? Mọi người chúng ta đều phải trở nên giống như Đấng Christ, nhưng chúng ta cũng phải là chính mình nữa.

Câu “làm nên sự cứu-chuộc mình” có lẽ đặc biệt liên-hệ đến các vấn-đề riêng trong Hội thánh Phi-líp, nhưng câu nói ấy cũng có thể ứng-dụng cho từng cá nhân Cơ-đốc nhân. Chúng ta không nên “bắt chước” người khác một cách quá dễ dãi, nhất là “các Cơ-đốc nhân vĩ đại.” Chúng ta chỉ nên noi theo những gì mình thấy về Đấng Christ trong đời sống của họ (“Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy”, ICôr 11:1). Tất cả các “đại thánh-đồ” đều có đôi bàn chân bằng đất sét, và cuối cùng, đều sẽ làm cho bạn thất vọng, nhưng Chúa Giê-xu Christ thì chẳng bao giờ phản bội, thất tín với bạn.

Trong hai câu 14,15, Phao-lô so sánh cuộc đời của một tín-hữu với đời sống những người sống theo thế-gian. Người không được cứu luôn luôn phàn-nàn và tìm lầm lỗi, nhưng Cơ-đốc nhân thì vui mừng. Xã hội chúng quanh chúng ta “bị méo mó và cong quẹo”, nhưng Cơ-đốc nhân luôn luôn đứng thẳng vì dựa vào Lời Đức Chúa Trời để tự “đo” mình. Thế-gian đầy tối tăm, nhưng Cơ-đốc nhân là những ngọn đèn sáng. Thế gian chẳng có gì để ban-cho cả, nhưng Cơ-đốc nhân có Lời của Sự Sống, có thông-điệp về sự cứu-rỗi nhờ đặt đức-tin vào Đấng Christ.

Nói khác đi, khi chúng ta để cho Đức Chúa Trời thực hiện chủ đích này trong đời sống mình, chúng ta sẽ trở thành những nhân-chứng hữu hiệu hơn trong một thế-gian đang tuyệt vọng, rất cần đến Đấng Christ. Hãy ứng-dụng các đặc điểm này cho Chúa Giê-xu, bạn sẽ thấy là Ngài đã sống một cuộc đời trọn vẹn trong một thế-gian bất toàn.

Điều quan-trọng cần lưu ý, là chủ đích này được thực hiện “giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch này” (c.15). Phao-lô không khuyên chúng ta rút lui khỏi thế-gian để sống cô lập trong một nơi ẩn cư thuộc-linh. Chỉ khi nào chúng ta trực diện với các nhu-cầu và các vấn-đề của cuộc đời thực, chúng ta mới bất đầu trở thành giống như Đấng Christ được.

Người Pha-ri-si sống cô lập và tách rời với thực tại đến độ họ đã phát triển một loại công-chính nhân tạo, hoàn toàn trái ngược với sự công-chính mà Đức Chúa Trời muốn cho họ có. Hậu quả là người Pha-ri-si đã áp đặt trên dân chúng một tôn-giáo của sự sợ hãi và trói buộc (Mat 23:1-39), và sở dĩ họ đã đóng đinh Đấng Christ vào thập-tự giá chỉ vì Ngài dám chống lại loại tôn-giáo ấy. Không phải là bằng cách lìa khỏi thế-gian, nhưng bằng cách phục-vụ nó, chúng ta mới thấy chủ đích của Đức Chúa Trời được thực hiện trong chúng ta.


2. Có quyền-năng để nhận lãnh (Phi 2:13).

Nguyên-tắc mà Phao-lô đã quy định là: Đức Chúa Trời phải vận hành trong chúng ta trước khi Ngài có thể hành động thông qua chúng ta. Chúng ta thấy nguyên-tắc này hoạt động xuyên suốt bộ Thánh Kinh trong đời sống các nhân vật như Môi-se, Đa-vít, các sứ-đồ và nhiều người khác nữa. Đức Chúa Trời có một chủ đích đặc biệt cho từng người phải thực hiện, và mỗi người đều là duy nhất, chớ không bắt chước một ai cả.

Thí-dụ, Đức Chúa Trời đã phải bỏ ra 40 năm để đưa Môi-se đến chỗ Ngài có thể dùng ông để lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên. Trong lúc Môi-se chăn chiên suốt 40 năm ấy, Đức Chúa Trời đã hành động trong ông để có một ngày Ngài sẽ có thể hành động qua ông. Đức Chúa Trời vốn quan tâm đến người làm việc hơn là công việc. Nếu người làm việc trở thành người Ngài mong muốn thì công việc cũng sẽ được thực hiện theo ý Ngài.

Có quá nhiều Cơ-đốc nhân chỉ vâng-lời Đức Chúa Trời do áp lực từ bên ngoài, chớ không phải nhờ năng lực từ bên trong. Phao-lô cảnh cáo người Phi-líp rằng điều quan-trọng không phải là việc ông hiện diện giữa họ, nhưng là việc họ muốn vâng-lời và làm đẹp lòng Đức Chúa Trời (Phi 1:27; Phi 2:12).

Họ không thể xây dựng cuộc đời họ trên Phao-lô, vì có lẽ ông sẽ không còn ở với bao lâu nữa. Thật đáng buồn khi thấy một số chức-vụ trong Hội thánh bị suy yếu hoặc thất bại vì có thay đổi cấp lãnh đạo. Chúng ta có khuynh hướng muốn làm đẹp lòng người ta, và chỉ vâng-lời Đức Chúa Trời khi có người khác nhìn mình. Nhưng khi bạn biết đầu-phục quyền-năng của Đức Chúa Trời từ bên trong, việc vâng-lời Ngài sẽ trở thành một điều thích thú, chớ không phải là một vấn-đề phải chiến đấu.

Quyền-năng vận hành trong chúng ta là quyền-năng của Thánh Linh Đức Chúa Trời (Gi 14:16-17,26; Công 1:8; ICôr 6:19-20). Từ ngữ Anh văn energy (năng lực) vốn do một từ ngữ đã được dịch ra là “làm việc, hành động” trong câu 13. Chính năng lực của Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta và qua chúng ta! Cùng một Thánh Linh đã ban quyền-năng cho Đấng Christ lúc Ngài thi hành chức-vụ tại thế, cũng có thể ban quyền-năng cho chúng ta nữa.

Nhưng chúng ta phải thừa nhận sự kiện cả năng lực của xác thịt (Rô 7:5) lẫn của ma quỷ (Êph 2:2; IITês 2:7) cũng đang hành động. Nhờ sự chết, sống lại và thăng-thiên của Đấng Christ, năng lực của Đức Chúa Trời đã được ban cho chúng ta (Êph 1:18-23). Quyền-năng đang có sẵn, nhưng chúng ta phải làm thế nào để sử dụng được nó? Đức Chúa Trời, bởi Đức Thánh Linh, sử dụng những “công-cụ” nào để vận hành trong đời sống chúng ta? Có 3 “công-cụ”: Lời Đức Chúa Trời, sự cầu-nguyện và chịu khổ.


(1) Lời Đức Chúa Trời - “Bởi vậy, chúng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi về sự anh em tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời mà chúng tôi đã truyền cho, không coi như lời của loài người, bèn coi như lời của Đức Chúa Trời, vì thật là lời Đức Chúa Trời, cũng hành động trong anh em có lòng tin” (ITês 2:13), Năng lực của Đức Chúa Trời được truyền sang cho chúng ta qua Lời được linh cảm của Ngài. Cùng một Lời đã được phán ra để cả vũ trụ này xuất hiện, có thể truyền quyền-năng của Đức Chúa Trời vào cho đời sống chúng ta! Nhưng chúng ta có trách-nhiệm phải hoan nghênh, tiếp nhận Lời ấy, chớ không phải đối xử với Lời ấy theo như cách chúng ta đối xử với lời nói của loài người. Lời Đức Chúa Trời vốn độc nhất vô nhị: nó được linh cảm, có uy-quyền và vô ngộ. Nếu chúng ta không hoan nghênh tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời, thì quyền-năng Ngài không thể tăng cường năng lực cho đời sống chúng ta.

Nhưng chúng ta còn phải nhận lấy Lời Đức Chúa Trời cho riêng mình nữa. Điều này có nghĩa nhiều hơn là chỉ nghe, hoặc thậm chí đọc và nghiên-cứu suông mà thôi. Nhận lấy Lời Chúa cho mình có nghĩa là mừng đón nó và biến nó thành một phần của con người bên trong của chúng ta. Với con người thuộc linh thì chân lý của Đức Chúa Trời giống như lương thực thực phẩm đối với con người thuộc thể vậy.


Cuối cùng, chúng ta phải ứng-dụng Lời Đức Chúa Trời nó chỉ có tác dụng bên trong những người “tin”. Khi chúng ta tin-cậy Lời Đức Chúa Trời và theo đó mà hành động, quyền-năng của Đức Chúa Trời sẽ được truyền sang cho đời sống chúng ta. Lời mà thiên-sứ hứa với bà Ma-ri trong Lu 1:37 “Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được” đã được bản American Standard Version (1901) dịch là: “Chẳng hề có lời nào từ Đức Chúa Trời ra mà không có quyền-năng.” Lời Đức Chúa Trời có quyền-năng bên trong, và đức-tin “giải phóng” phần quyền-năng ấy.

Chúng ta thấy chân-lý này tác động trong đời sống Chúa Giê-xu. Ngài truyền cho người teo tay hãy đưa thẳng tay ra, và chính lịnh truyền ấy đã ban cho người ấy năng lực để vâng-lời và được chữa lành (Mat 12:13). Ngài truyền cho Phi-e-rơ đi trên mặt nước để đến với Ngài và lịnh truyền ấy đã giúp Phi-e-rơ làm như thế, bao lâu ông vận dụng đức-tin của mình (Mat 14:22-33). Chính đức-tin đặt vào lời-hứa của Đức Chúa Trời đã “giải phóng” quyền-năng của Ngài. Lệnh truyền của Ngài là khả năng của Ngài. Đức Thánh Linh viết ra các lời-hứa của Ngài cho chúng ta trong Lời Chúa, và Ngài ban cho chúng ta đức-tin để nắm chặt lấy các lời-hứa ấy: “Vì chưng cũng như các lời-hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói “A-men” làm sáng danh Đức Chúa Trời.” (IICôr 1:20).


(2) Cầu-nguyện - Vậy nếu muốn quyền-năng của Đức Chúa Trời vận hành bên trong chúng ta, chúng ta phải dành thì giờ hằng ngày cho Lời Ngài. Nhưng chúng ta cũng còn phải cầu-nguyện nữa, vì cầu-nguyện là “công cụ” thứ hai mà Đức Chúa Trời dùng để vận hành trong đời sống các con cái Ngài, “Vả, Đức Chúa Trời bởi quyền lực cảm động trong chúng ta, có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng” (Êph 3:20).

Đức Thánh Linh liên-hệ chặt chẽ với thói quen cầu-nguyện trong đời sống chúng ta (Rô 8:26-27; Xa 12:10). Sách Công-vụ vạch rõ rằng cầu-nguyện là nguồn gốc của quyền-năng thuộc linh theo lệnh truyền của Đức Chúa Trời (Công 1:14; Công 4:23-31; Công 12:5,12) và Lời Đức Chúa Trời với sự cầu-nguyện vốn đi đôi với nhau (Công 6:4).

Trừ phi khi Cơ-đốc nhân dành thì giờ cầu-nguyện, Đức Chúa Trời sẽ không thể hành động bên trong và thông qua người ấy. Trong Thánh Kinh và trong lịch-sử nhân loại, những người được Đức Chúa Trời dùng là những con người hay cầu-nguyện.

-Chịu khổ - “công cụ” thứ ba của Đức Chúa Trời là chịu khổ. Thánh Linh của Đức Chúa Trời vận hành cách đặc biệt trong đời sống những người sẵn sàng chịu khổ để tôn-vinh Đấng Christ (IPhi 4:12-19).

-“Lò lửa thử thách” sẽ thiêu hủy các chất cặn bã và ban quyền-năng cho người tín-hữu phục-vụ Đấng Christ. Bản thân Phao-lô từng chịu-khổ trong một nhà tù tại Phi-líp và được Đức Chúa Trời ban quyền-năng cho, khi ông bị đánh đòn và tra chân vào cùm trong ngục tối, vì ông đã có thể ca hát và tán-tụng Đức Chúa Trời bất chấp sự đau đớn (Công 16:19-33).

-“Lò lửa thử thách” của ông cũng giúp ông tha-thứ cho viên giám ngục. Không phải là cơn động đất đã cáo trách con người ấy trận động đất suýt chút nữa đã đưa ông ta đến chỗ tự sát. Chính lời lẽ đầy khích-lệ của Phao-lô: “Đừng làm thế, chúng ta hãy còn cả đây” là loại tình yêu đã làm tan vỡ tấm-lòng ông ta, nên ông ta quỳ xuống trước mặt Phao-lô để hỏi ông rằng mình phải làm gì để được cứu-rỗi.


Lời Đức Chúa Trời, cầu-nguyện và chịu-khổ là 3 “công-cụ” mà Đức Chúa Trời dùng trong đời sống chúng ta. Như điện phải chạy qua một dây dẫn thế nào, Đức Thánh Linh cũng phải vận hành qua các phương tiện mà Đức Chúa Trời đã cung-cấp. Khi nào một Cơ-đốc nhân đọc Lời Chúa và cầu-nguyện, người ấy sẽ trở thành giống với Đấng Christ hơn và hễ người ấy càng giống với Đấng Christ bao nhiêu, thì người thế-gian không tin Chúa sẽ càng chống đối người ấy mạnh mẽ hơn bấy nhiêu.

Sự “thông-công (trong sự) thống khố của Ngài” (Phi 3:10) hằng ngày đưa người tín-hữu trở lại với Lời Đức Chúa Trời và sự cầu nguyện, khiến cả 3 công-cụ ấy cùng tác động với nhau để cung cấp quyền-năng thuộc-linh có cần để người ấy tôn-vinh Đấng Christ.

Nếu chúng ta muốn có tâm-trí thuận-phục, có niềm vui đi đôi với nó, thì phải thừa nhận rằng mình có một chủ đích để thực hiện (kế hoạch của Đức Chúa Trời cho đời sống chúng ta), một quyền-năng cần nhận lãnh (Đức Thánh Linh), và một lời-hứa để tin.


3. Có một lời-hứa để tin (Phi 2:16-18).

Lời-hứa đó là gì? Là niềm vui nhờ biết thuận-phục mà có. Triết-lý của thế-gian là phải đấu tranh để được niềm vui: đấu tranh với tất cả mọi người để được điều bạn muốn, thì bạn sẽ được nó và sẽ vui-mừng. Gương của Chúa Giê-xu là một thí-dụ thật đầy đủ để chứng-minh rằng triết-lý đó của thế-gian là sai. Ngài đã chẳng bao giờ dùng gươm hay một loại vũ khí nào khác thế nhưng Ngài đã thắng được trận chiến tranh quan trọng nhất lịch-sử: cuộc chiến tranh chống lại tội-lỗi, sự chết, và hỏa-ngục. Ngài đã đánh bại hận thù bằng cách bày tỏ tình yêu Ngài thắng lời nói dối bằng lời nói thật. Nhờ Chúa thuận-phục mà Ngài đã chiến thắng! Và tôi với bạn cũng phải dám tin vào lời-hứa của Ngài: “Bởi vì ai tự nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên” (Lu 14:11), “Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên-đàng là của những kẻ ấy.” (Mat 5:3).


Người có tâm-trí thuận-phục và thực hành theo đó có được một niềm vui song phương: một niềm vui cho đời sau (c.16) và một niềm vui ngay bây giờ (c.17-18). Đến ngày của Đấng Christ (Phi 1:6,10) Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng cho những người tận-trung với Ngài. “Sự vui-mừng của Chúa ngươi” sẽ là một phần của phần thưởng ấy (Mat 25:21).

Người tín-hữu tận-trung sẽ khám phá ra rằng các đau-khổ của mình trên thế-gian được biến thành vinh-quang thiên-đàng! Người ấy sẽ thấy rằng công-khó của mình không phải là vô ích (ICôr 15:58). Chính loại lời-hứa và niềm vui tương lai ấy cũng đã giúp cho Đấng Christ lúc Ngài chịu-khổ trên thập-tự giá (Hêb 12:1-2).

Nhưng chúng ta chẳng cần chi phải chờ cho đến ngày Đấng Christ trở lại rồi mới bắt đầu có được niềm vui của một tâm-trí biết thuận-phục. Niềm vui ấy là một thực tại (c. 17-18) và nó đến khi chúng ta dám hy sinh và phục-vụ. Điều cần lưu ý là trong 2 câu bàn về sự hy sinh, Phao-lô dùng 2 từ ngữ vui (joy) và đồng vui (rejoice) - rồi lặp lại 2 từ ngữ ấy. Phần đông thiên-hạ đều ghép chung nỗi buồn với sự đau-khổ, nhưng Phao-lô thấy đau-khổ và hy sinh là những cánh cửa mở để đưa người ta đến với một niềm vui sâu-nhiệm hơn trong Đấng Christ.

Trong câu 17 Phao-lô so sánh từng-trải hy sinh của ông với việc thầy tế-lễ dâng lễ quán (Dân 15:1-10). Rất có thể lần xét xử sắp tới sẽ đưa tai họa đến cho Phao-lô và ông sẽ bị hành hình. Nhưng điều đó chẳng cướp đi được niềm vui của ông. Sự chết của ông sẽ là một sinh tế tự nguyện, một của lễ, dâng lên cho Đấng Christ và Hội thánh Ngài mà điều ấy sẽ đem niềm vui đến cho ông. “Hy sinh và phục-vụ” là các dấu hiệu của tâm-trí thuận-phục (Phi 2:7-8,21-22,30) và tâm-trí thuận-phục cảm thấy vui-mừng dù là giữa lúc chịu khổ.

Cần phải có đức-tin để rèn luyện tâm-trí thuận-phục. Chúng ta phải tin rằng các lời-hứa của Đức Chúa Trời là thật, và chúng sắp hành động trong đời sống chúng ta y như đã vận hành trong đời sống Phao-lô vậy. Đức Chúa Trời vận hành trong chúng ta qua Lời Ngài, sự cầu-nguyện và chịu-khổ và chúng ta bộc lộ nó ra trong nếp sống và sự phục-vụ hằng ngày. Đức Chúa Trời hoàn thành chủ đích của Ngài trong chúng ta khi chúng ta tiếp nhận và tin Lời Ngài. Cuộc đời không phải là một chuỗi những bước thăng trầm. Đúng hơn thì đó là một chuỗi liên tiếp “những bước vào ra.” Đức Chúa Trời vận hành bên trong - còn chúng ta thì bộc lộ ra! Tấm gương tốt đã được Đấng Christ cung-cấp, năng lực thì đến từ Đức Thánh Linh, và kết quả là VUI-MỪNG!

HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page