top of page

PHI-LÍP (2)

KINH THÁNH

TÂN-ƯỚC

THỂ LOẠI

Các Sách Thư Phao-lô (13)



7. MỘT ĐÔI VÔ GIÁ (Phi 2:19-30)


Một...

...phóng-viên ở San Bernardino, California, dàn cảnh cho một người nằm sóng sượt trong một đường mương của một đường phố rộn rịp. Hằng trăm kẻ qua người lại đã chẳng có ai thèm dừng lại để giúp đỡ, hoặc thậm chí tỏ ra có thiện cảm với ông ta!

Mấy năm trước đây, nhiều nhật báo khắp nước đã kể lại thế nào có đến 38 người theo dõi một tên kia rình theo một thiếu nữ và cuối cùng đã tấn công cô ta - nhưng đã không có một ai chịu khó dùng điện thoại để gọi cảnh sát!


Tại Detroit, có hai thiếu niên khám phá ra một phụ nữ bị một cơn đau tim hành hạ trong một trạm điện thoại công cộng. Hai cậu bé đưa bà ta đến một ngôi nhà gần đó và bấm chuông cầu cứu. Câu trả lời duy nhất mà chúng nhận được là: “Ra khỏi nhà tôi và mang bà ta đi.”

Một bác-sĩ ở Kentucky đang lái xe trên xa lộ để đi thăm một con bệnh, thì thấy có một tai nạn. Ông ta dừng xe, giúp đỡ người bị nạn, rồi mới tiếp tục cuộc đi thăm thân chủ của mình. Nhưng một trong những người lái xe mà ông đã giúp đỡ lại đâm đơn kiện ông ta!


Ngày nay, có thể nào vẫn còn một người Sa-ma-ri nhân lành hay không? Phải chăng tất cả mọi người đều phải khiến cho lòng mình trở thành cứng cỏi để tự vệ? Có lẽ “hy sinh và phục-vụ” chỉ là những đức tính đã quá xưa rồi, không còn phù hợp với cái gọi là nền văn minh hiện đại của chúng ta chăng?

Thiết tưởng cũng cần lưu lý là ngay từ thời của Phao-lô, quan tâm đến nhau vốn không phải là một đức hạnh phổ biến. Các Cơ-đốc nhân tại Rô-ma đã chẳng quá bận tâm đến các vấn-đề tại Phi-líp Phao-lô đã chẳng tìm được một người nào trong đám họ sẵn sàng đến Phi-líp cả (Phi 2:19-21). Thời gian đã chẳng có thay đổi gì nhiều.


Trong phân đoạn này, Phao-lô vẫn còn bàn về tâm-trí thuận-phục. Ông đã đưa ra cho chúng ta một phần mô tả tâm-trí thuận-phục trong gương mẫu của Chúa Giê-xu (Phi 2:1-11). Ông đã giải thích các đặc điểm năng động của tâm-trí năng động theo từng-trải của ông (Phi 2:12-18).

Giờ đây, ông giới thiệu với chúng ta 2 trong số các phụ-tá của ông trong chức-vụ, là Ti-mô-thê và Ép-ba-phô-đích - và ông làm như thế là có lý-do. Ông biết những người đọc thư ông chắc sẵn sàng nói rằng: Chúng ta làm thế nào noi theo nổi các thí-dụ về những tấm gương tốt như của Đấng Christ và Phao-lô?

Dù sao thì Chúa Giê-xu cũng chính là Con Đức Chúa Trời, còn Phao-lô là một vị sứ-đồ được tuyển chọn, vốn có nhiều từng-trải thuộc-linh! - Vì lý-do đó, Phao-lô mới giới thiệu cho chúng ta 2 “thánh-đồ bình thường”, những người vốn chẳng phải là sứ-đồ hay những người dùng thực thi phép-lạ. Ông muốn cho chúng ta biết rằng tâm-trí thuận-phục không phải là một loại xa xí phẩm mà chỉ có một số ít người được chọn lọc mới được thụ hưởng mà thôi nó là điều cần thiết cho niềm vui Cơ-đốc, và là một cơ hội cho toàn thể các tín-hữu.


1. Ti-mô-thê (Phi 2:19-24). Có thể Phao-lô đã gặp Ti-mô-thê trong chuyến lưu hành truyền-giáo đầu tiên của ông (Công 14:6) và có lẽ thanh niên này quy đạo vào thời gian này (ICôr 4:17). Dường như mẹ và bà nội Ti-mô-thê đã ăn năn quy đạo trước rồi (IITim 1:3-5).

Ông là một người có mẹ là người Do-thái và cha là người ngoại quốc, nhưng Phao-lô vẫn luôn luôn xem ông như “con rất yêu dấu” của ông trong đức-tin (đạo) vậy (IITim 1:2). Lúc Phao-lô trở lại Đẹt-bơ và Lít-trơ trong chuyến đi thứ hai của mình, ông đã nhận Ti-mô-thê làm một trong các bạn đồng-công của mình (Công 16:1-4). Theo một ý nghĩa, thì Ti-mô-thê thay thế cho Giăng Mác mà Phao-lô đã từ chối không chịu đem đi cùng trong chuyến đi này, vì trước đó, Mác đã bỏ ngang nghĩa vụ của mình (Công 13:13; Công 15:36-41).


Trong từng-trải của Ti-mô-thê, chúng ta học biết được rằng tâm-trí thuận-phục không phải là một cái gì thình lình, tự nhiên tự động xuất hiện trong đời sống người tín-hữu. Ti-mô-thê từng phát triển và bồi dưỡng cho “tâm-tình (trí) như Đấng Christ đã có” đó. Ông trở thành một “tôi-tớ” không phải là chuyện tự nhiên nhưng trong lúc đồng đi với Đấng Christ và làm việc với Phao-lô, ông đã trở thành người đầy-tớ mà Phao-lô có thể tin-cậy và Đức Chúa Trời có thể ban phước cho. Xin lưu ý các đặc điểm của chàng thanh niên này.

- Người có tâm-trí của một tôi-tớ (Phi 2:19-21) Để bắt đầu, tự nhiên Ti-mô-thê biết chăm-sóc lo-lắng cho người khác và quan tâm đến các nhu-cầu của họ. Ông không chú ý “kết bạn để gây ảnh hưởng trên người ta”, ông thật lòng quan tâm đến sự an vui cả thuộc-thể lẫn thuộc-linh của họ.

Phao-lô đã quan tâm đến Hội thánh tại Phi-líp và muốn phái một người đến đấy để truyền đạt mối quan tâm đó của ông và thu thập các sự kiện. Chắc chắn là tại Rô-ma đã có đến mấy trăm Cơ-đốc nhân (trong Rô 16:1-27, Phao-lô đã nêu đích danh 26 người trong số đó để chào thăm họ) thế nhưng đã chẳng có ai trong đám họ chịu đảm nhận chuyến đi ấy! “ai nấy đều tìm lợi riêng của mình, chớ không tìm của Đức Chúa Giê-xu Christ” (Phi 2:21). Theo một ý nghĩa rất thực, thì mọi người chúng ta đều hoặc đang sống trong Phi-líp Phi 1:21, hoặc Phi 2:21!

Nhưng Ti-mô-thê vốn có một mối quan tâm tự nhiên đến sự an vui phúc lợi của người khác ông vốn có tâm-trí của một tôi-tớ. Có một điều hết sức xấu tại Rô-ma, ấy là các tín-hữu tại đó vốn quá mê mải các cuộc cãi lẫy nội bộ (Phi 1:15-16) đến nỗi chẳng còn thì giờ đâu để nghĩ đến công việc quan-trọng của Đức Chúa Trời. Đây là một trong những tấn thảm kịch của các vấn-đề trong Hội thánh chúng làm phân tán thì giờ, năng lực và các mối quan tâm, đẩy chúng ta xa khỏi những điều quan-trọng nhất. Ti-mô-thê đã chẳng quan tâm đề cao một phe đảng nào cả, cũng chẳng hậu thuẫn cho một chính nghĩa nhằm mục đích chia-rẽ nào. Ông chỉ quan tâm đến tình trạng thuộc-linh của dân-sự Đức Chúa Trời, và mối quan tâm đó là tự nhiên đối với ông. Mối quan tâm đó phát triển như thế nào? Lời đáp được tìm thấy trong đặc tính tiếp theo đây của thanh niên đặc biệt này.

- Người được huấn luyện để làm tôi-tớ (Phi 2:22)

Phao-lô đã không bổ sung Ti-mô-thê vào “đội” của ông ngay trong ngày chàng thanh niên này được cứu. Phao-lô vốn quá khôn-ngoan để có thể phạm một sai lầm như thế. Ông đã để Ti-mô-thê laị phía sau, để trở thành một phần trong mối thông-công của Hội thánh tại Đẹt-bơ và Lít-trơ, và chính nhờ mối thông-công này mà Ti-mô-thê đã tăng-trưởng trong các vấn-đề thuộc-linh và học hỏi được cách thức để phục-vụ Chúa.

Lúc Phao-lô trở lại khu vực này mấy năm sau đó, ông rất vui mừng khám phá ra rằng chàng thanh niên Ti-mô-thê ấy đều được anh em làm-chứng tốt cho (Công 16:2). Nhiều năm sau nữa, Phao-lô viết thư cho Ti-mô-thê để cho ông biết tầm quan-trọng của việc phải để cho các tín-hữu mới tăng-trưởng, trước khi đưa họ vào các địa-vị quan-trọng trong chức-vụ (ITim 3:6-7).


Một nhạc công của một hộp đêm nổi tiếng đến thăm một vị mục-sư và thông-báo rằng anh ta đã được cứu và muốn phục-vụ Chúa. Ông ta hỏi: “Tiếp theo đây, tôi phải làm gì?”

Vị mục-sư đáp: “Tốt lắm, tôi đề nghị bạn nên hợp tác với một chi hội tốt để bắt đầu tăng-trưởng. Bà nhà có phải là tín-đồ không?”

Người nhạc công nói: “Không. Tôi mong là sẽ thuyết phục được nàng. Nhưng, chắc là còn phải đợi. Ý tôi muốn nói là chắc tôi phải làm một việc gì đó cho Chúa ngay bây giờ.”

Vị mục-sư giải thích: “Không đâu. Bạn chẳng cần chi phải chờ đợi trong vấn-đề làm-chứng cho Chúa. Hãy tham gia một chi hội đang có nhiều công tác bận rộn, và hãy sử dụng các tài-năng của bạn vì Đấng Christ.”

Ông ta phản đối: “Nhưng ông không biết tôi là ai đâu. Tôi là một nhà biểu diễn nổi tiếng - tất cả mọi người đều biết tôi. Tôi muốn bắt đầu một tổ chức của riêng mình, thu đĩa hát, và xuất hiện trước những đám quần chúng đông đảo!”

Vị mục-sư cảnh cáo: “Nếu bạn muốn đi quá nhanh, bạn có thể tự làm hại cho bản thân và lời làm-chứng của mình đấy. Còn nơi để bắt đầu đưa người ta đến với Chúa, là ngay tại nhà riêng. Đức Chúa Trời sẽ mở cửa nhiều nơi để bạn phục-vụ một khi Ngài thấy bạn đã sẵn sàng. Trong khi chờ đợi, hãy học hỏi nghiên-cứu Thánh Kinh để tự tạo cơ may cho mình tăng-trưởng đã.”

Ông ta đã không nghe theo lời khuyên của vị mục-sư. Trái lại, ông ta dựng lên một tổ chức lớn và tự mình bắt đầu mọi việc. “Thành công” của ông ta kéo dài chưa được một năm. Chẳng những ông ta bị mất đi lời-chứng của mình vì chưa đủ mạnh để mang những gánh nặng, còn việc luôn luôn phải đi đây đi đó của ông ta khiến ông trở thành người xa lạ đối với vợ ông và gia đình. Ông trôi giạt vào một “nhóm thuộc vùng ven biên” rồi biến mất trong chức-vụ công-khai để trở thành một con người thất bại, bị phá sản.

Vị mục-sư nói: “Các nhánh cây của ông ta đã mọc và vươn ra xa hơn sức đâm sâu của các rễ cây. Khi nào việc ấy xảy ra thì thế nào cuối cùng bạn cũng bị đổ.”


Phao-lô đã không sai lầm như thế đối với Ti-mô-thê. Ông dành thì giờ cho Ti-mô-thê đâm rễ thật sâu, sau đó, mới nhận chàng thanh niên ấy để cùng làm việc với mình trong các vòng lưu hành truyền-giáo. Ông dạy Lời Chúa cho Ti-mô-thê và cho phép ông theo dõi vị sứ-đồ trong chức-vụ của mình (IITim 3:10-17).

Đây chính là phương pháp Chúa Giê-xu đã đào tạo các môn-đệ của Ngài. Ngài đích thân dạy bảo họ thật từng-trải bằng kinh-nghiệm ngay trong việc làm. Từng-trải mà không được dạy dỗ có thể dẫn tới chán-nản, còn dạy bảo mà không có kinh-nghiệm có thể dẫn tới chỗ chết thuộc-linh cần phải có cả 2.

Người được phần thưởng của một tôi-tớ (IITim; Phi2:23). Ti-mô-thê hiểu rõ ý nghĩa của sự “hy sinh và phục vụ” (Phi 2:17), nhưng Đức Chúa Trời đã ban thưởng cho sự tận-trung của ông. Để bắt đầu, Ti-mô-thê có được niềm vui trong việc giúp đỡ người khác. Chắc chắn là đã phải có khó khăn gian khổ, nhưng cũng có cả chiến thắng và phước hạnh nữa.

Vì Ti-mô-thê vốn là một “đầy tớ ngay lành và trung-tín”, tuy chỉ trung-tín trong việc nhỏ, Đức Chúa Trời đã ban cho ông nhiều phần thưởng lớn, khiến ông có được niềm vui của người có tâm-trí thuận-phục (Mat 25:21). Ông được niềm vui là cùng phục-vụ với vị đại sứ-đồ Phao-lô và giúp ông trong những công-tác khó khăn nhất đã được giao phó (từ ICôr 4:17 về sau, Ti-mô-thê được Phao-lô đề cập ít nhất 24 lần trong các bức thư của ông).

Nhưng có lẽ phần thưởng lớn nhất mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ti-mô-thê, là chọn ông làm người thay thế cho vị sứ-đồ lúc ông được gọi về nhà (IITim 4:1-11). Chính Phao-lô muốn đích thân đến Phi-líp, nhưng rồi phải sai phái Ti-mô-thê đi thay mình. Nhưng thật là một vinh dự lớn lao! Ti-mô-thê không những chỉ là con trai, là đầy tớ của Phao-lô, mà ông còn trở thành người thay thế Phao-lô nữa! Tên ông đã được các Cơ-đốc nhân ngày nay coi trọng, điều mà có lẽ chàng thanh niên Ti-mô-thê đã chẳng bao giờ mơ ước lúc bận rộn lo phục-vụ Đấng Christ!

Tâm-trí thuận-phục không phải là sản phẩm của một bài giảng dài một tiếng đồng hồ, của một cuộc hội thảo kéo dài một tuần lễ, hoặc thậm chí là cả một năm phục-vụ. Tâm-trí thuận-phục tăng-trưởng trong chúng ta khi nào - cũng như Ti-mô-thê -chúng ta chịu đầu-phục Chúa và tìm cách phục-vụ tha-nhân.


2. Ép-ba-phô-đích (Phi 2:25-30)

Phao-lô là “một người Hê-bơ-rơ của những người Hê-bơ-rơ” Ti-mô-thê có phân nửa là người Do-thái và phân nửa là người ngoại quốc (Công 16:1), còn Ép-ba-phô-đích hoàn toàn là một người ngoại quốc theo như điều chúng ta được biết. Ông là thành viên của Hội thánh Phi-líp, đã dám liều bỏ sức khỏe và mạng sống mình để đem món quà truyền-giáo tặng cho vị sứ-đồ đang ở tại Rô-ma (Phi 4:18). Tên ông có nghĩa là “duyên dáng”, và ông quả thật là một Cơ-đốc nhân rất “có duyên.”

- Ông là một Cơ-đốc nhân quân-bình (Phi 2:25)

Phao-lô vẫn chưa nói hết về con người này: “anh em tôi, bạn cùng làm việc và cùng chiến trận với tôi.” Ba đoạn mô tả này tương đương với những gì ông đã viết về Phúc-Âm trong chương thứ nhất của bức thư này:

“anh em tôi”; “sự thông-công của Phúc-Âm” (Phi 1:5)

“bạn cùng làm việc của tôi”; “sự tấn tới cho Phúc-Âm (Phi 1:12) “bạn cùng chiến trận của tôi”; “đức-tin của Phúc-Âm” (Phi 1:27)

Ép-ba-phô-đích là một Cơ-đốc nhân quân-bình.

Quân-bình là điều bằng rất quan-trọng trong đời sống Cơ-đốc nhân có một số người nhấn mạnh quá nhiều vào sự “thông-công” đến nỗi quên mất sự tấn tới của Phúc-Âm. Nhiều người khác lại quá dấn thân bảo vệ cho “đức-tin của Phúc-Âm” khiến họ chểnh mảng trong việc xây dựng mới thông-công với các tín-hữu khác.

Ép-ba-phô-đích thì không sa vào một cạm-bẫy nào trong số dó. Ông giống với Nê-hê-mi, là con người xây lại các vách thành Giê-ru-sa-lem, mà một tay thì cầm gươm còn tay kia thì cầm bay (Nêh 4:17). Bạn không thể dùng gươm để xây dựng hoặc cầm bay để chiến đấu! Phải có cả hai thứ đó trên tay, thì công việc Chúa mới hoàn thành.


Tiến sĩ H.A.Ironside thường kể lại câu chuyện về một nhóm tín-hữu chỉ nghĩ đến mối “thông-công” mà thôi. Họ ít quan tâm đến việc tìm đến với những người hư-vong hoặc bảo vệ đức-tin chống lại các kẻ thù với đạo. Trước cửa ngôi nhà làm chỗ hội họp của họ, họ treo một tấm bảng ghi rằng CHÚA GIÊ-XU MÀ THÔI (Jesus only). Nhưng gió đã thổi bay mất ba mẫu tự đầu và tấm bảng chỉ còn: CHÚNG TÔI MÀ THÔI (…us only). Đây là một phần mô tả hoàn hảo một nhóm Cơ-đốc nhân bị mất quân-bình.

- Ông là một Cơ-đốc nhân sẵn sàng gánh vác (Nêh 2:26-27,30)

Cũng như Ti-mô-thê, Ép-ba-phô-đích quan tâm chăm-sóc cho người khác. Để bắt đầu, ông đã quan tâm chăm-sóc Phao-lô. Khi từ Phi-líp, ông nghe tin Phao-lô bị tù tại Rô-ma, ông đã tình nguyện thực hiện chuyến đi xa đầy nguy hiểm đến Rô-ma để đứng bên cạnh Phao-lô hầu giúp đỡ ông. Ông mang theo món quà tình thương của Hội thánh và lấy chính mạng sống mình để bảo vệ nó.

Hội thánh chúng ta ngày nay cần những người nam người nữ sẵn sàng với các gánh nặng của công tác truyền-giáo và nhiều nơi công việc Chúa đang gặp khó khăn. Một cấp lãnh đạo công tác truyền-giáo nhấn mạnh: “Vấn-đề trong các Hội thánh của chúng ta, là chúng ta có quá nhiều khán-giả mà quá ít người tham gia.” Ép-ba-phô-đích không hài lòng với việc chỉ góp phần vào món quà tặng mà thôi. Ông tự hiến thân để mang món quà ấy đi!

Nhưng con người này cũng sẵn sàng gánh vác công việc cho Hội thánh nhà nữa. Sau khi đến được Rô-ma, ông lâm bệnh nặng. Thật vậy, ông bị đau gần chết. Điều đó khiến việc trở về Phi-líp của ông bị đình hoãn, nên những người ở đó rất lo cho ông.

Nhưng Ép-ba-phô-đích thì chẳng lo cho mình, mà quan tâm đến các anh em tại Phi-líp, vì họ rất lo lắng cho ông! Đây là một con người sống theo Phi 1:21, chớ không phải là theo Phi 2:21. Cũng như Ti-mô-thê, ông có mối quan tâm tự nhiên cho người khác. Câu “đã lo về” trong Phi 2:26 là cách mô tả đã được dùng để chỉ về tâm trạng của Đấng Christ trong vườn Ghết-sê-ma-nê (Mat 26:27). Cũng như Đấng Christ, Ép-ba-phô-đích hiểu rõ ý nghĩa của sự hy sinh và phục-vụ (Phi 2:30), vốn là 2 dấu hiệu của người có tâm-trí thuận-phục.

- Ông là một Cơ-đốc nhân được phước (Phi 2:28-30)

Thật là một thảm họa nếu ta sống cả đời mà chẳng đem phước hạnh gì đến cho ai cả! Ép-ba-phô-đích đã đem phước hạnh đến cho Phao-lô. Ông cùng đứng với Phao-lô trong từng-trải chịu tù-tội và không để cả cho căn bệnh của mình ngăn trở mình phục-vụ. Ông và Phao-lô chắc đã cùng nhau trải qua những thì giờ phước hạnh biết bao! Nhưng ông còn là phước hạnh cho Hội thánh của chính ông nữa.

Phao-lô khuyên Hội thánh phải tôn-trọng ông vì sự hy sinh và phục-vụ của ông (vinh-quang vẫn thuộc về Đấng Christ, nhưng tôi-tớ Ngài cũng được tôn-trọng thì chẳng có gì là sai lầm cả. Xin đọc ITês 5:12-13). Giữa hai câu Phi 2:7 (“tự bỏ mình đi” - tự lột bỏ danh tiếng của mình đi) và Phi 2:29 (“tôn-kính” - đề cao danh tiếng) đã chẳng có gì mâu-thuẫn cả. Đấng Christ đã “tự khiến mình trở thành trống không” trong hành động khiêm-hạ đầy ân-điển của Ngài, cho nên Đức Chúa Trời đã tôn cao Ngài. Ép-ba-phô-đích đã hy sinh mà chẳng nghĩ gì đến phần thưởng, nên Phao-lô khuyến khích Hội thánh hãy tôn-trọng ông, để Đức Chúa Trời được tôn-vinh.

Ông là một phước hạnh cho Phao-lô và cho chính Hội thánh của ông, và ông cũng là một phước hạnh cho chúng ta hôm nay nữa. Ông chứng-minh cho chúng ta thấy một đời sống đầy niềm vui là một cuộc đời biết hy sinh và phục-vụ mà một tâm-trí thuận-phục phải thật sự tạo ra. Ông và Ti-mô-thê đã cùng nhau khuyến khích chúng ta đặt mình đầu-phục Đấng Christ và thuận phục lẫn nhau trong Thánh Linh. Đấng Christ là khuôn mẫu cho chúng ta noi theo. Phao-lô cho chúng ta thấy quyền-năng, còn Ti-mô-thê và Ép-ba-phô-đích là bằng chứng cho thấy rằng phần tâm-trí ấy đã thật sự làm nên việc.

Bạn có sẵn sàng để cho Đức Thánh Linh tái tạo “tâm-trí thuận-phục” ngay trong bạn chăng?





8. HỌC TẬP CÁCH TÍNH SỔ (Phi 3:1-11)


Hoàn-cảnh và con người có thể cướp mất niềm vui của bạn, nhưng những sự việc cũng thế. Đây chính là tên trộm mà Phao-lô đề cập trong chương ba. Điều quan-trọng là phải thấy thông-điệp toàn diện của chương này trước khi khảo xét chi tiết, cho nên theo dõi thật cẩn thận phần bố cục dưới đây, có lẽ sẽ rất hữu ích.

- Phi 3:1-11

- Phi 3:12-16

- Phi 3:17-21

quá khứ của Phao-lô

hiện tại của Phao-lô

tương lai của Phao-lô

người tính sổ

người lực sĩ

người khách lạ

“tôi kể”

“tôi bươn tới”

“tôi trông đợi”

các giá trị mới

sinh lực mới

khải tượng mới

Điều Phao-lô đang mô tả đây là “tâm-trí thuộc-linh.” Trong Phi 3:18-19, ông mô tả những người tự xưng là Cơ-đốc nhân nhưng chỉ biết tư tưởng những điều “thuộc về đời này” mà thôi, nhưng rồi qua Phi 3:20, ông mô tả người tín-hữu có tâm-trí thuộc-linh, biết “nghĩ đến những điều thuộc về trời.”

Chắc bạn còn nhớ, thành phố Phi-líp là một thuộc-địa của La-mã, một “thành phố Rô-ma cách xa thành phố Rô-ma.” Theo cùng một ý nghĩa như thế, dân-sự của Đức Chúa Trời sống trong một thuộc-địa của thiên-đàng trên đất này.

“Chúng ta là công-dân trên trời” (Phi 3:20a), nên nhìn vào thế-gian theo quan-điểm của thiên-đàng. Đó là tâm-trí thuộc-linh.

Chúng ta rất dễ dàng bị của cải đời này vây lấy - chẳng những bởi những vật khả dĩ sờ nắm được mà chúng ta có thể nhìn thấy, nhưng bởi cả những điều không sờ nắm được như tiếng tốt, danh vọng và thành tựu lớn lao. Phao-lô viết về những điều “có lợi” cho ông (Phi 3:7) ông cũng đề cập những điều bị ông “bỏ lại đằng sau”và “những điều ở đằng trước” (Phi 3:13). Trong trường hợp của Phao-lô, một số những điều đó không thể sờ nắm hay nhìn thấy được như các thành tựu tôn-giáo (Ga 1:14), một cảm thức tự hài lòng, hợp luân lý đạo đức. Ngày nay, chúng ta gặp nhiều lưới bẫy cả nắm bắt nhìn thấy được lẫn không sờ nắm nhìn thấy được mà hậu quả là chúng ta bị mất đi niềm vui.


Nhưng ngay đến các vật khả dĩ sờ nắn được, tự chúng, vẫn không phải là tội-lỗi. Đức Chúa Trời đã tạo nên mọi vật, và Thánh Kinh tuyên bố rằng chúng đều tốt lành (Sa 1:31). Đức Chúa Trời biết chúng ta cần đến một số đồ vật để sống (Mat 6:31-34). Thật vậy, Ngài đã “ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng” (ITi 6:17). Nhưng Chúa Giê-xu cảnh cáo chúng ta rằng đời sống chúng ta không phải chỉ cốt tại có được dư dật mọi sự mà thôi (Lu 12:15). Lượng không bảo-đảm được cho phẩm. Nhiều người có những điều mà tiền bạc mua được, lại bị mất đi những điều mà tiền bạc không thể mua được.

Chữ chìa khóa trong Phi 3:1-11 là “kể” (c.7-8,13).

Trong Hi-văn có 2 từ ngữ khác nhau đã được dùng, nhưng ý niệm cơ-bản vẫn là một: đánh giá, thẩm định. Socrates từng nói: “Sống không biết suy xét thì không đáng sống.” Thế nhưng có rất ít người chịu ngồi lại để cân nhắc nghiêm túc các giá-trị đang kiểm soát những quyết định và hướng đi của họ. Nhiều người ngày nay chỉ là nô-lệ cho của cải, tài vật, mà hậu quả là không kinh-nghiệm được niềm vui thật sự của một Cơ-đốc nhân.

Trong trường hợp của Phao-lô, những “sự việc” ông vì đó mà sống trước khi biết Đấng Christ đều có vẻ rất đáng theo đuổi: một cuộc đời công-chính, việc vâng giữ luật-pháp, việc bênh vực cho tôn-giáo của tổ-phụ mình. Nhưng đã chẳng có điều nào trong số đó thỏa mãn được ông hoặc giúp được để Đức Chúa Trời vui nhận ông.

Cũng như phần lớn những người “có đạo” ngày nay, Phao-lô có đủ “đạo đức” để giữ mình khỏi gặp rắc rối, nhưng không đủ đức công-chính (righteousness) để đưa mình vào thiên-đàng! Những điều khiến cho Phao-lô xa lánh Chúa Giê-xu vốn không phải là những điều xấu - chúng vốn là những điều tốt! Nhưng ông phải từ bỏ “tôn giáo”của mình, thì mới tìm được sự cứu-rỗi.


Một ngày nọ, ra-bi Sau-lơ người Tạt-sơ, đã gặp Chúa Giê-xu Christ, Con Đức Chúa Trời, và trong chính ngày đó, các quan niệm về giá-trị của ông bị thay đổi (Công 9:1-31). Lúc Sau-lơ mở các sổ sách của mình ra để đánh giá sự giàu có của mình, ông đã khám phá ra rằng ngoài Chúa Giê-xu, mọi sự ông đã vì đó mà sống đều bị chối bỏ. Trong đoạn sách này, ông giải thích rằng chỉ có 2 loại công-chính (hay sự giàu có, của cải thuộc-linh) mà thôi. Sự công-chính nhờ việc làm, và sự công-chính bởi đức-tin - và chỉ có sự công-chính bởi đức-tin mới được Đức Chúa Trời vui nhận!


1. Sự công chính nhờ việc làm (Phi 3:1-6)

Lời Khuyên Bảo (Phi 3:1-3). Ở đây, “sau hết” không có nghĩa rằng Phao-lô sắp chấm dứt bức thư của ông, vì ông vẫn còn tiếp tục viết.Từ ngữ nấy có nghĩa là “trong phần còn lại” và ông giới thiệu một đoạn mới. Chữ “vậy” ở Phi 4:18 mới có nghĩa là “tôi sắp kết thúc!”. Trước đây, Phao-lô đã cảnh cáo các tín-hữu tại Phi-líp, nhưng giờ đây, ông lại cảnh cáo họ một lần nữa: “Hãy coi chừng loài chó hãy coi chừng kẻ làm công gian ác hãy coi chừng phép cắt-bì giả.” Ông cảnh cáo ai mà đến 3 câu như thế? Câu trả lới đưa chúng ta trở về với sử-ký của Hội thánh nguyên thủy.


Từ ban đầu, Phúc-Âm đã đến với người Do-thái “trước hết” (Công 3:26; Rô 1:16), cho nên bảy chương đầu của sách Công-vụ chỉ đề cập các tín-hữu Do-thái hoặc những người ngoại quốc đã theo Do-thái giáo mà thôi (Công 2:10). Trong Công 8:5-25, bức thông-điệp ấy đến với dân Sa-ma-ri, nhưng việc này vẫn không gây ra được một cơn phấn hưng, vì dân Sa-ma-ri ít ra cũng là một phần của dân Do-thái. Nhưng khi Phi-e-rơ đến với người ngoại quốc ở Công 10:1-48, thì việc ấy đã gây náo động. Phi-e-rơ đã bị gọi ra trước hội đường để giải thích các hoạt động của mình (Công 11:1-30). Dù sao thì số người ngoại quốc trong Công 10:1-48 đã trở thành Cơ-đốc nhân nhưng trước đó, đã không trở thành người Do-thái, và đây là cả một vấn-đề mới mẻ cho Hội thánh. Phi-e-rơ giải thích rằng chính Đức Chúa Trời đã hướng dẫn ông đi truyền-giảng cho người ngoại quốc, và vấn-đề có vẻ như đã được dàn xếp.


Nhưng nó không được dàn xếp lâu dài. Phao-lô được Đức Thánh Linh sai đi phục-vụ đặc biệt cho người ngoại quốc (Công 13:1-3; Công 22:21). Phi-e-rơ thì mở cửa đạo cho người ngoại quốc trong Công 10:1-48, và Phao-lô đã theo gương ông thực hiện vòng lưu hành truyền-giáo thứ nhất (Công 14:26-28). Sự việc xảy ra chẳng được bao lâu, thì các tín-hữu theo Do-thái giáo nghiêm nhặt chống lại chức-vụ thánh của Phao-lô, và đến An-ti-ốt để dạy rằng người ngoại quốc cần phải tuân phục luật-pháp Do-thái trước khi có thể được cứu (Công 15:1). Sự bất đồng ý kiến này đã đẫn tới Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem được mô tả trong Công 15:1-33. Kết quả của hội nghị là chức-vụ của Phao-lô được tán thành và Phúc-Âm của ân-điển Đức Chúa Trời đã chiến thắng. Người ngoại quốc không cần phải trở thành người cải theo Do-thái giáo rồi mới có thể trở thành Cơ-đốc nhân!

Nhưng đám người bất đồng ý kiến vẫn chưa hài lòng. Do không chống đối được Phao-lô tại An-ti-ốt và Giê-ru-sa-lem họ cứ theo ông bất cứ nơi nào ông đến để cố tìm cách cướp đi những người mà ông đã đưa về với Chúa và các Hội thánh mà ông thiết lập. Các học-giả Thánh Kinh gọi nhóm các giáo-sư giả, luôn tìm cách pha lẫn Luật-pháp và Ân-điển này là những “người muốn Do-thái hóa”. Thư tín Ga-la-ti vốn được viết ra trước nhất là nhằm đánh đổ tà-giáo này. Thánh Phao-lô đã đề cập chính nhóm “người muốn Do-thái hóa” này trong Phi 3:1-2. Ông dùng 3 danh từ để mô tả họ:

(1) “Loài chó”: Người Do-thái theo Chính thống giáo vẫn gọi người ngoại quốc là “chó”, nhưng ở đây Phao-lô lại gọi những người Do-thái theo Chính-thống giáo đó là “chó”. Không phải ông chỉ dùng tên ấy mà thôi, nhưng còn muốn so sánh các giáo-sư giả với loài thú ăn xác chết nhơ nhớp mà những người đứng đắn lấy làm ghê tởm. Giống như lũ chó hoang đó, những “người muốn Do-thái hóa” này luôn bám sát gót Phao-lô và theo ông từ nơi này đến nơi khác để “sủa” ra các tà thuyết của họ. Họ là những kẻ gây rối và mang theo một căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

(2) “Kẻ làm công gian ác”: Đám người này truyền dạy rằng tội-nhân được cứu là nhờ ân-điển cộng với việc lành, nhất là những công việc của Luật-pháp. Nhưng Phao-lô nhấn mạnh rằng các “việc lành” đó của họ thật ra chỉ là những công việc gian ác, vì chúng do xác thịt (bản tính cũ của con người) thực hiện, chớ không phải là công tác của Đức Thánh Linh, và chúng chỉ đề cao những kẻ làm việc, chớ không phải nhằm tôn-vinh Chúa Giê-xu Christ. Êph 2:8-10; Tit 3:3-7 nêu rõ rằng chẳng hề có ai được cứu là nhờ làm việc lành cả, kể cả những công việc tôn-giáo. Các việc lành của một Cơ-đốc nhân vốn là kết quả của đức-tin của người ấy, chớ không phải là cơ sở, là nền tảng để người ấy được cứu-rỗi.

(3) “Phép cắt-bì giả”: Ở đây, Phao-lô dùng từ ngữ “phép cắt bì” theo nghĩa châm biếm. Từ ngữ được dịch ra là “phép cắt-bì” theo nghĩa đen có nghĩa là “cắt xẻo” Những người muốn Do-thái hóa truyền dạy rằng phép cắt-bì là thiết yếu để được cứu-rỗi (Công 15:1; Ga 6:12-18) nhưng Phao-lô nhấn mạnh rằng phép cắt-bì tự nó chỉ là việc cắt xẻo mà thôi! Cơ-đốc nhân chân-chính đã trải-nghiệm một phép cắt-bì thuộc-linh trong Đấng Christ rồi (Côl 2:11), nên chẳng còn cần đến một việc cắt xẻo phần xác thịt nào nữa cả. Phép cắt-bì, phép báp-têm, Tiệc Thánh, dâng 1/10 hay bất luận một cách hành đạo nào khác đều không thể cứu được ai khỏi tội-lỗi cả. Chỉ có đức-tin đặt nơi Chúa Giê-xu Christ mới làm được việc ấy mà thôi.


Trái với các Cơ-đốc nhân giả, Phao-lô mô tả các Cơ-đốc nhân thật là “những người được cắt-bì thật” (Rô 2:25-29).

(1) Người ấy thờ-phượng Đức Chúa Trời trong Thánh Linh: Người ấy không trông-cậy vào các công việc lành của riêng mình, vốn chỉ là của xác thịt mà thôi (Gi 4:19-24).

(2) Người ấy khoe mình trong Đấng Christ: Người trông-cậy vào tôn-giáo thường khoe khoang về những gì họ đã làm. Cơ-đốc nhân chân-chính thì chẳng có gì để khoe khoang cả (Êph 2:8-10). Người ấy chỉ khoe khoang trong Đấng Christ mà thôi! Trong Lu 18:9-14, Chúa Giê-xu có kể lại một ẩn-dụ mô tả 2 thái-độ đối lập nhau này.

(3) Người ấy không tin vào xác thịt: Triết-lý về tôn-giáo phổ biến ngày nay là “Chúa giúp những người tự giúp mình.” Câu này cũng phổ biến vào thời của Phao-lô, và nó vẫn sai lầm hồi đó cũng như hiện nay. (Khi nói “xác thịt” là Phao-lô ngụ ý nói “con người cũ” mà chúng ta nhận được khi sinh ra đời). Thánh Kinh chẳng có câu nào nói tốt cho “xác thịt” cả, thế nhưng phần đông thiên-hạ ngày nay lại hoàn toàn trông-cậy vào những gì họ có thể làm được để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Xác thịt chỉ phá hoại đường lối của Đức Chúa Trời trên đất này mà thôi (Sa 6:12). Nó chẳng được ích lợi gì cho đời sống thuộc-linh cả (Gi 6:63). Trong nó chẳng có gì tốt lành, thiện hảo cả (Rô 7:18). Cho nên chúng ta đừng ngạc nhiên vì không thể trông-cậy gì nơi xác thịt cả!


Một bà nọ tranh luận với vị mục-sư của mình về vấn-đề đức-tin và việc làm này. Bà ta nói: “Tôi nghĩ rằng vào thiên-đàng cũng giống như chèo một chiếc xuồng vậy. Một mái chèo là đức-tin, còn mái chèo kia là việc làm. Nếu bạn dùng cả hai, bạn sẽ đến đích nếu bạn chỉ dùng một mái chèo mà thôi, bạn sẽ đi vòng quanh thành những vòng tròn.”

Vị mục-sư đáp: “Thí-dụ minh họa của bà chỉ có một chỗ sai mà thôi. Chẳng hề có ai lại dùng một chiếc xuồng có mái chèo để lên thiên-đàng cả!”

Chỉ có một việc lành duy nhất đưa được một tội-nhân vào thiên-đàng mà thôi: đó là công lao đã hoàn tất của Đấng Christ trên thập-tự giá (Gi 17:1-4; Gi 19:30; Hêb 10:11-14).


* Một Tấm Gương (Phi 3:4-6), Phao-lô không đề cập một ngọn tháp bằng ngà bản thân ông vốn biết rõ tính cách phù du của việc gắng công ra sức chiếm đoạt sự cứu rỗi nhờ làm việc lành. Hồi còn là một sinh viên trẻ tuổi, ông từng ngồi dưới chân Ga-ma-li-ên, là vị Ra-bi vĩ đại (Công 22:3). Sự nghiệp của ông với cương vị một lãnh tụ Do-thái giáo vốn đầy hứa hẹn (Ga 1:13-14) thế nhưng ông đã từ bỏ tất cả - để trở thành một thành-viên bị thù ghét của một “giáo-phái Cơ-đốc” và một nhà truyền-giảng Phúc-Âm. Sự thật là những người muốn Do-thái hóa đang tìm cách thỏa hiệp là để tránh việc bị bắt bớ (Ga 6:12-13), trong khi Phao-lô thì tận trung với thông-điệp về ân-điển của Đấng Christ, mà hậu quả là phải chịu bắt bớ.

Trong đoạn sách có tính cách tiểu-sử cao độ này, Phao-lô xét lại cuộc đời mình. Ông làm một người xét sổ, mở các sổ sách ra để xem mình có tài sản gì, và khám phá ra rằng mình đã bị phá sản!


(1) Mối liên-hệ của Phao-lô với đất nước dân tộc: Ông ra đời trong một gia đình Hy-bá-lai thuần túy và bước vào mối liên-hệ giao-ước khi chịu phép cắt-bì. Ông không phải là một người ngoại quốc cải giáo, cũng không phải là một hậu duệ của Ích-ma-ên (một con trai khác của Áp-ra-ham) hoặc Ê-sau (con trai khác Y-sác). Các người muốn Do-thái hóa chắc hiểu rõ việc Phao-lô bảo ông thuộc về chi phái Bên-gia-min vì Bên-gia-min và Giô-sép vốn là hai con trai cưng của Gia-cốp! Mẹ họ là Ra-chên, vợ yêu của Gia-cốp. Nhà vua đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên xuất thân từ chi phái Bên-gia-min, và chi phái nhỏ bé này từng tận-trung với Đa-vít trong cuộc phản loạn của Áp-sa-lôm. Di sản về phương diện loài người của Phao-lô là điều đáng tự hào! Nếu đo theo chuẩn-mực ấy, ông có thể vượt qua dễ dàng và hết sức vẻ vang.


(2) Mối liên-hệ giữa Phao-lô với luật-pháp: “Về luật-pháp thì thuộc phe Pha-ri-si…về sự công-bình của luật-pháp, thì không chỗ trách được” (Phi 3:5-6). Với người đồng thời của Phao-lô, một người Pha-ri-si đạt đến tột đỉnh của từng trải tôn-giáo, đỉnh cao nhất mà một người Do-thái lý tưởng trông-mong có thể đạt được. Nếu có ai vào được thiên-đàng, thì phải là một người Pha-ri-si! Ông giữ theo giáo-lý chính thống (Công 23:6-9) và cố gắng trung-tín hoàn tất mọi nghĩa vụ tôn-giáo (Lu 18:10-14).

Nếu như ngày nay chúng ta có thói quen dùng danh từ “Pha-ri-si” như tương đương với “kẻ đạo đức giả”, thì cách dùng như thế vốn không được thịnh hành trong thời của Phao-lô. Nếu được đo bằng sự công-chính căn cứ vào Luật-pháp, thì Phao-lô là người không chỗ chê trách. Ông đã giữ trọn luật-pháp và đạo truyền-thống.


(3) Mối liên-hệ giữa Phao-lô với các kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng chỉ tin vào chân-lý mà thôi, thì chưa đủ một người còn phải chống lại sự dối trá nữa. Phao-lô đã bảo vệ đạo chính-thống của ông bằng cách bắt bớ bách hại các môn-đệ của tên Giê-xu “giả mạo” kia (Mat 27:62-66). Ông đã tham dự cuộc ném đá Ê-tiên (Công 7:54-60) và về sau đã cầm đầu cuộc tấn công vào Hội thánh nói chung (Công 8:1-3).

Cả trong những năm về sau này, Phao-lô vẫn nhìn nhận vai trò bắt bớ bách hại của ông (Công 22:1-5; Công 26:1-11; ITim 1:12-16). Tất cả những người Do-thái đều có thể khoe khoang về di sản theo huyết thống của mình (tuy chắc chắn là họ chưa từng góp được chút công sức gì vào đó!). Một số người Do-thái có thể khoe khoang về lòng tận-trung của họ với Do-thái giáo. Nhưng Phao-lô còn có thể khoe khoang về những điều đó cộng thêm thái-độ nhiệt thành bắt bớ bách hại Hội thánh của ông nữa.

Đến đây, ta có thể thắc mắc đặt câu hỏi: “Làm thế nào một người thành tâm như Sau-lơ người Tạt-sơ có thể sai lầm?” Câu trả lời là: Vì ông đã dùng cây thước đo sai! Giống như chàng thanh niên làm quan giàu có (Mac 10:17-22) và người Pha-ri-si trong ẩn-dụ của Đấng Christ (Lu 18:10-14). Sau-lơ người Tạt-sơ đang nhìn vào mặt ngoài chớ không phải là vào bên trong. Ông tự đo mình bằng các chuẩn-mực do loài người - chớ không phải là do Đức Chúa Trời - đặt ra. Trong phạm vi tuân thủ mặt ngoài các đòi hỏi của luật-pháp, Phao-lô rất thành công nhưng ông đã “không biết dừng lại để xem xét các tội-lỗi bên trong mà ông đã vi-phạm.” Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giê-xu vạch rõ rằng có những thái-độ và tham muốn tội-lỗi cũng như các hành động tội-lỗi vậy (Mat 5:21-48).

Khi tự nhìn mình và nhìn vào người khác, Sau-lơ người Tạt-sơ tự cho mình là công-chính. Nhưng một ngày nọ ông nhìn vào bản thân so với Chúa Giê-xu Christ! Đến chừng đó ông mới thay đổi cách đánh giá và các ý niệm về giá-trị của mình, và từ bỏ “sự công-chính nhờ vào việc làm” để tiếp nhận “sự công-chính của Chúa Giê-xu Christ.”


2. Sự công-chính bởi đức-tin (Phi 3:7-11). Lúc Phao-lô gặp Chúa Giê-xu Christ trên con đường đến Đa-mách (Công 9:1-43), ông đã tin-cậy Ngài và trở thành một con cái của Đức Chúa Trời. Đây là một phép-lạ xảy ra chỉ trong khoảnh khắc nhờ ân-điển của Đức Chúa Trời, loại phép-lạ vẫn còn xảy ra ngày nay khi các tội-nhân chịu nhìn nhận nhu-cầu của mình và lấy đức-tin quay lại với Cứu Chúa. Lúc Phao-lô gặp Đấng Christ, ông nhận thức được rằng các việc lành chỉ là phù du, còn việc ông tự xưng là người công-chính thì thật là tội-lỗi. Một sự chuyển đổi kỳ diệu đã xảy ra. Phao-lô bị mất đi một số điều, nhưng những gì ông được còn vượt xa những gì ông đã bị mất!


Những mất mát của Phao-lô: Để bắt đầu, ông bị mất bất cứ điều gì mà ngoài Đức Chúa Trời thì đó là điều lợi cho cá nhân ông. Chắc chắn Phao-lô là một học-giả nổi tiếng (Công 26:24) và là một lãnh tụ tôn-giáo. Ông vốn tự hào về di-sản Do-thái và các thành tựu tôn-giáo của mình. Tất cả những điều đó đều có giá-trị đối với ông ông có thể nhờ chúng để được hưởng lợi lộc.

Chắc ông cũng có nhiều bạn bè ngưỡng mộ lòng nhiệt thành đó của ông. Nhưng ông đã đo cả kho báu đó bằng những gì Chúa Giê-xu Christ đã cống hiến, và ông nhận thức được rằng tất cả những gì mà ông thiết tha yêu mến đó thật ra chẳng gì khác hơn là “đồ bỏ” so với những gì ông có được trong Đấng Christ. Các “báu vật” của ông chỉ đem vinh-quang đến cho riêng ông mà thôi, nhưng chẳng đem vinh-quang về cho Đức Chúa Trời. Chúng chỉ là “lợi” cho chỉ một mình ông mà thôi, và như thế thì ông là một người ích-kỷ.

Nói như thế không có nghĩa là Phao-lô từ bỏ phần di sản phong phú với tư cách một người Do-thái theo chính thống-giáo của mình. Nếu bạn đọc các thư tín của ông và theo dõi chức-vụ của ông trong sách Công-vụ, bạn sẽ thấy ông đánh giá cao cả dòng máu Do-thái lẫn quyền công-dân La-mã của ông như thế nào. Trở thành Cơ-đốc nhân không hề biến ông thành một người kém Do-thái hơn.

Thật ra, nó còn khiến ông thành một người Do-thái hoàn thiện, một con cháu thật của Áp-ra-ham, cả về phương diện thuộc-linh lẫn thuộc-thể (Ga 3:6-9). Cũng không phải vì ông thấy được tính cách nông cạn của tôn-giáo, của người Pha-ri-si mà ông đã hạ thấp các định chuẩn luân-lý đạo đức của mình. Ông chấp nhận một tiêu-chuẩn sống cao hơn - trở nên giống như Chúa Giê-xu Christ (Rô 12:1-2). Khi một người trở thành Cơ-đốc nhân thì Đức Chúa Trời cất đi phần xấu, nhưng Ngài giữ lại phần tốt và khiến nó trở nên càng tốt hơn.


Những điều lợi của Phao-lô: Một lần nữa, chúng tôi xin nhắc lại câu nói của Jim Eliot: “Người biết vứt bỏ điều mình không thể giữ để được điều mình không thể mất, thì không phải là kẻ dại dột.” Đây chính là từng-trải của Phao-lô: ông vứt bỏ tôn-giáo và danh tiếng của mình, nhưng lại được lợi nhiều hơn là bị thua lỗ.

(1) Sự nhận biết Đấng Christ (Phi 3:8). Điều này có nghĩa sâu xa hơn là chỉ hiểu biết về Đấng Christ mà thôi, vì Phao-lô vốn đã có đầy đủ loại thông-tin có tính cách lịch-sử đó trước khi ông được cứu-rỗi nữa. “Nhận biết Đấng Christ” có nghĩa là có được một mối liên-hệ cá nhân vơi Ngài bởi đức-tin. Đó là từng-trải mà Chúa Giê-xu đề cập trong Gi 17:3. Bạn và tôi biết về nhiều người, kể cả các nhân vật đã sống nhiều thế kỷ về trước nũa, nhưng biết một cách riêng tư, như bạn tri kỷ, thì rất ít. “Cơ-đốc giáo là Chúa Cơ-đốc.” Được cứu-rỗi là được biết Ngài một cách riêng tư.

(2) Sự công chính của Đấng Christ (Phi 3:9). Sự công chính là mục tiêu lớn nhất của Phao-lô nhằm đạt cho kỳ được lúc ông còn là một người Pha-ri-si, nhưng đó chỉ là sự công-chính riêng tư, sự công-chính do việc làm mà chẳng hề có ai đạt tới được. Nhưng khi Phao-lô tin-cậy Đấng Christ thì ông vứt bỏ sự công-chính riêng ấy đi, để nhận được sự công-chính của Đấng Christ. Thuật ngữ chỉ sự chuyển đổi này là kể-cho (xin đọc kỹ Rô 4:1-8). Nó có nghĩa là “kể vào trương mục của một người nào đó.” Phao-lô xem lại các sổ sách kế toán của mình và nhận thấy ông hoàn toàn bị phá sản về phương diện thuộc-linh. Ông nhìn sang sổ sách của Đấng Christ và thấy Ngài đầy đủ trọn vẹn.

Khi ông tin cậy Đấng Christ, ông thấy Đấng Christ chuyển sự công chính của Ngài sang trương mục của riêng ông! Hơn thế nữa, ông còn khám phá ra rằng tội-lỗi ông lại được chuyển hết sang cho trương mục của Chúa Giê-xu trên thập-tự giá (IICôr 5:21). Và Đức Chúa Trời đã hứa với Phao-lô rằng Ngài sẽ chẳng bao giờ còn ghi ra các tội-lỗi của ông để chống lại ông nữa. Thật là một từng-trải phi thường của ân-điển Đức Chúa Trời!


Rô 9:30-10:13 là một khúc sách tương tự mà bạn cần phải đọc thật cẩn thận. Điều Phao-lô nói về dân Y-sơ-ra-ên cũng đã nghiệm đúng cho đời sống ông trước khi ông được cứu. Và nó cũng nghiệm đúng cho đời sống của nhiều người có “tôn-giáo”ngày nay: họ không chịu vứt bỏ sự công-chính riêng đi, để nhận lấy món quà tặng miễn phí là sự công-chính của Đấng Christ. Nhiều người tự cho là “có đạo” ngày nay thậm chí không chịu thừa nhận là họ đang cần có sự công-chính nào cả, Cũng như Sau-lơ người Tạt-sơ, họ đo mình bằng chính họ, hoặc bằng các chuẩn-mực của Mười Điều Răn, nhưng không nhìn thấy phần ở bên trong của tội-lỗi. Phao-lô đã phải từ bỏ tôn-giáo của ông để nhận lấy sự công-chính, nhưng ông không cho đó là một hy sinh.

(3) Sự thông-công với Đấng Christ (Phi 3:10-11). Lúc trở thành Cơ-đốc nhân thì không phải là đoạn kết thúc mà chỉ mới là lúc bắt đầu cho Phao-lô. Từng trải của ông với Đấng Christ thật phi thường, biến đổi cả cuộc đời ông. Và từng trải ấy cứ tiếp tục trong những năm tiếp theo đó. Đây là một từng-trải cá nhân (“cho đến nỗi tôi được biết Ngài…”. Khi Phao-lô đồng bước đi với Đấng Christ, cầu-nguyện, vâng-theo ý chỉ Ngài và tìm cách tôn-vinh danh Ngài. Lúc hãy còn sống dưới Luật-pháp, tất cả những gì Phao-lô có, chỉ là cả một bộ luật. Nhưng giờ đây ông có được một Bạn Thân, một người Thầy, một bạn Đồng Hành luôn luôn kề cận! Đó cũng là một từng-trải về quyền-năng (“quyền phép sự sống lại của Ngài”), khi quyền-năng sự sống lại của Đấng Christ đến để vận hành trong đời sống Phao-lô. “Đấng Christ sống trong tôi!” (Ga 2:20). Hãy đọc Êph 1:15-23 và Êph 3:13-21 để thấy cách Phao-lô đánh giá quyền-năng của sự sống lại của Đấng Christ và điều nó có thể làm trong đời sống của bạn.

Rồi cũng có một từng-trải về đau khổ (“và sự thông công thương khó của Ngài…”) Phao-lô biết rằng được chịu khổ vì Đấng Christ là một đặc ân (Phi 1:29-30). Thật vậy, chịu-khổ là một phần kinh-nghiệm của ông ngay từ đầu (Công 9:16). Càng tăng-trưởng trong sự nhận biết Đấng Christ và trong từng-trải về quyền-năng Ngài, chúng ta sẽ càng bị kẻ thù tấn công. Đã có lần Phao-lô vốn là kẻ bắt bớ bách hại, nên ông biết rõ bị bắt bớ bách hại có ý nghĩa gì. Và từng-trải ấy thật đáng giá! Vì bước đi với Đấng Christ cũng là một kinh-nghiệm thực tế (“được đến sự sống lại từ trong kẻ chết”). Phao-lô sống được cho Đấng Christ vì ông đã chết đối với bản ngã (Rô 6:1-23 giải thích việc này) hằng ngày, ông vác thập-tự giá mình đi theo Ngài. Kết quả của sự chết này là sự sống lại thuộc-linh (Phi 3:11) khiến Phao-lô bước đi trong “cuộc đời mới” (Rô 6:4). Phao-lô tóm tắt toàn thể từng-trải này trong Ga 2:20, vậy hãy dành thì giờ đọc câu ấy.

Vậy, Phao-lô đã được lợi nhiều hơn là lỗ. Thật vậy, những điều lợi của ông tạo phấn khởi đến độ ông xem tất cả những “điều khác chỉ như rơm rác nếu đem so với nó! Cho nên chẳng có gì để lấy làm lạ khi ông có được niềm vui - cuộc đời ông không bị lệ thuộc vào những “điều” rẻ tiền của thế-gian, mà vào các giá-trị vĩnh cửu tìm thấy trong Đấng Christ.

Phao-lô có một “tâm-trí thuộc-linh” và nhìn “mọi sự việc” của đời theo quan-điểm của thiên-đàng. Những người sống vì những “điều” thuộc về đời này thì chẳng bao giờ thật sự có hạnh phúc vì họ phải luôn luôn bảo vệ các kho báu của họ và lo-âu bối rối, sợ chúng bị mất đi giá-trị. Người tín-hữu có tâm-trí thuộc-linh thì không như thế các kho báu của người ấy trong Đấng Christ thì chẳng bị trộm cắp gì được, cũng chẳng bao giờ bị mất giá.

Mong rằng bây giờ là thì giờ thuận tiện để bạn trở thành người biết tính sổ, hầu đánh giá đúng những “điều” mà bạn xem là quan-trọng nhất.





9. HÃY THẮNG CUỘC ĐUA (Phi 3:12-16)


Phần đông thiên-hạ đọc các tiểu-sử để thỏa mãn sự tò mò của họ đối với các vĩ-nhân, mong rằng mình cũng phát giác được các “bí quyết” để khiến họ trở thành vĩ đại. Tôi nhớ mình từng có mặt trong một hội nghị thảo luận của một trường phổ thông nhiều năm trước đây, lắng nghe một bác-sĩ cao tuổi hứa kể lại bí quyết của cuộc đời trường thọ và khỏe mạnh của mình (ông từng làm y sĩ cho Tổng thống Hoa Kỳ. Tôi không nhớ là vị nào, nhưng vào giai đoạn đó của cuộc đời tôi, thì có lẽ đó là Washington hay Jefferson). Mọi người chúng tôi ngồi đó đều rất trông mong học biết được bí quyết của cuộc một cuộc sống lâu. Đến đỉnh điểm bài thuyết-giảng của mình, bị bác-sĩ ấy đã bảo với chúng tôi: “Hãy uống 8 ly nước lã mỗi ngày!”.

Trong Phi 3:1-21, Phao-lô đưa ra phần tiểu-sử thuộc-linh: quá-khứ (Phi 3:1-10) hiện tại (Phi 3:12-16) và tương lai (Phi 3:17-21) của ông. Chúng ta từng gặp Phao-lô “tính sổ”, và phát giác được các giá-trị mới lúc ông gặp Chúa Giê-xu Christ. Trong đoạn này, chúng ta gặp một Phao-lô “lực-sĩ điền kinh” với phần sinh lực thuộc-linh, bươn tới lằn mức là đích đến trong cuộc chạy đua của các Cơ-đốc nhân. Trong đoạn cuối cùng, chúng ta sẽ thấy Phao-lô “người khách lạ” đã được quyền công-dân trên trời và trông-mong ngày trở lại của Chúa Giê-xu Christ. Trong mỗi một từng-trải này, Phao-lô đều vận dụng tâm-trí thuộc-linh ông nhìn các sự việc của đời này theo quan-điểm của Đức Chúa Trời. Kết quả là ông đã không bị phân tâm vì những sự việc phía sau lưng, chung quanh, hoặc cả trước mặt mình nữa - tức là những điều đó đều không thể cướp đi niềm vui của ông!


Trong các thư tín của mình, Phao-lô dùng nhiều thí-dụ từ thế-gian này để truyền-thông chân-lý về cuộc sống Cơ-đốc. Có bốn thí dụ nổi bật: quân sự (mặc lấy toàn bộ binh giáp của Đức Chúa Trời”), kiến trúc (“anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời”), nông nghiệp (“ai gieo giống chi, sẽ gặt giống ấy”) và điền kinh. Trong phân đoạn này, là Phao-lô lực sĩ điền kinh. Các học-giả Thánh Kinh không nhất trí với nhau về môn thể thao chính xác mà Phao-lô mô tả ở đây , chẳng hay đó là đua chạy bộ hay đua bằng xe ngựa! Cuộc đua nào thì cũng phù hợp cả, nhưng bản thân tôi thì thích cách đua bằng xe ngựa hơn.

Xe đua của người Hy-lạp dùng trong các cuộc thi tài Thế vận hội và các cuộc tranh tài khác thật ra chỉ là một cái bục nhỏ, mỗi bên có một bánh xe. Người lái xe rất khó ngồi vững được suốt cả cuộc đua chạy vòng quanh vận động trường. Anh ta phải chồm về phía trước, tập trung hết các dây thần kinh và cơ bắp của mình để giữ thăng bằng và điều khiển các con ngựa. Động từ “bươn tới” trong Phi 3:14 theo nghĩa đen có nghĩa là “căng như trong một cuộc chạy đua.”


Điều quan trọng cần chú ý là không phải Phao-lô đang nói với chúng ta về phương pháp để được cứu-rỗi. Nếu ông đề cập vấn-đề đó, thì đây sẽ là một bức tranh về sự cứu-rỗi nhờ việc làm hoặc việc tự cố gắng công sức, tu đức lập công, mà như thế là mâu thuẫn với những gì ông đã viết trong 11 câu đầu của chương sách này. Muốn tham gia các cuộc thi tài thế vận Hy-lạp thì người lực sĩ phải là một công-dân trước đã. Anh ta không chạy đua để được quyền công-dân. Trong Phi 3:20, Phao-lô nhắc nhở chúng ta rằng: “chúng ta là công-dân trên trời.” 

Vì chúng ta đã là con cái Đức Chúa Trời nhờ đức-tin đặt nơi Đấng Christ, chúng ta có trách-nhiệm phải tham dự cuộc chạy đua này và đạt các mục tiêu mà Đức Chúa Trời đã đặt ra cho chúng ta. “Hãy làm nên sự cứu-chuộc mình…Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động (vận hành trong) lòng anh em…” là bức tranh rất gợi hình của Phi 2:12-13. Mỗi tín-hữu đều đứng trên đường đua mỗi người có một “đường chạy” đặc biệt để noi theo đó mà chạy và mỗi người đều có một đích đến. Nếu chúng ta chạy đến đích đúng theo cách Đức Chúa Trời đã hoạch định, thì được phần thưởng. Nếu thất bại, chúng ta mất phần thưởng, nhưng không mất quyền công-dân (Đọc ICôr 3:11-15 để có cùng một ý niệm ấy, dù biểu tượng được lấy từ ngành kiến trúc.

Tất cả chúng ta đều muốn làm những “Cơ-đốc nhân chiến thắng” và hoàn thành các chủ đích bởi đó chúng ta đã được cứu. Đâu là những điểm thiết yếu để thắng cuộc chạy đua và một ngày sắp đến sẽ lãnh được phần thưởng đã hứa?


1. Không hài lòng (Phi 3:12-13) “Không phải tôi đã giựt giải rồi.” Đây là lời phát biểu của một Cơ-đốc nhân vĩ đại đã chẳng bao giờ tự cho phép mình hài lòng về các thành tựu thuộc-linh của mình. Rõ ràng là Phao-lô đã mãn nguyện với Đấng Christ (Phi 3:10), nhưng vẫn chưa hài lòng với cuộc đời làm Cơ-đốc nhân của mình. Một sự không thỏa lòng được thánh hóa là điều thiết yếu đầu tiên để bươn tới trong cuộc chạy đua Cơ-đốc.

Harry từ văn phòng của ông quản-lý bước ra với cái nhìn bối rối trên gương mặt, đủ làm héo mấy đóa hồng trên bàn làm việc của cô thư-ký. Cô ta hỏi:

“-Anh không bị đuổi việc đấy chớ?

-Không! Không đến nỗi tệ như thế. Nhưng chắc chắn là sự việc có liên quan với các thành tích bán hàng của tôi. Tôi không hình dung ra được, vì tháng rồi, tôi đã đem về vô số đơn đặt hàng. Tôi tưởng ông ta sẽ khen ngợi tôi, nhưng trái lại, ông ta lại bảo là tôi cứ giậm chân tại chỗ.”

Sau đó trong ngày, cô thư-ký đã kể lại với ông chủ về Harry. Ông chủ cười: “Harry là tay bán hàng giỏi nhất của chúng ta mà không muốn mất. Nhưng anh ta có xu hướng muốn an nghỉ trên các thành tích của mình vì đã hài lòng với những gì mình đã làm được. Nếu tôi không chọc tức anh ta mỗi tháng một lần, anh ta sẽ chẳng bao giờ có kết quả tốt.”


Nhiều Cơ-đốc nhân tự hài lòng với bản thân vì so sánh cách “chạy” của mình với nhiều người khác, thường thường lại là với các Cơ-đốc nhân chẳng tiến bộ bao nhiêu. Giá như Phao-lô tự so sánh với người khác, chắc ông đã bị cám-dỗ để kiêu-ngạo và có lẽ tự cho phép mình lơi lỏng một chút. Dù sao thì vào thời của Phao-lô, đâu có mấy tín-hữu có được từng trải như chính ông? Nhưng Phao-lô đã không tự so sánh mình với tha nhân ông tự so mình với chính mình và với Chúa Giê-xu Christ! Cách dùng 2 lần từ ngữ “trọn lành” (và “trọn vẹn”) trong hai câu 12 và 15 giải thích ý nghĩ của ông. Ông vẫn chưa đạt đến mức trọn lành (Phi 3:12), nhưng ông đã “trọn vẹn” (trưởng-thành, chín chắn, Phi 3:15) và một trong những dấu-ấn của sự trưởng-thành đó là nhận biết rằng mình chưa trọn lành! Một Cơ-đốc nhân trưởng-thành biết thành thật tự đánh giá và phấn đấu để sống tốt hơn.

Trong Thánh Kinh, chúng ta thường bị cảnh cáo phải chống lại việc đánh giá sai tình trạng thuộc-linh của mình. Hội thánh tại Sạt-đe “có tiếng là sống, nhưng mà là chết” (Kh 3:1). Họ hữu-danh vô-thực. Hội thánh tại Lao-đi-xê khoe khoang về sự giàu có của mình, nhưng dưới con mắt của Đức Chúa Trời, họ vốn “khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù, lõa lồ” (Kh 3:17). Tương phản với Hội thánh Lao-đi-xê, các tín-hữu tại Si-miệc-nơ tưởng là họ nghèo trong khi thật ra họ rất giàu có! (Kh 2:9). Sam-sôn tưởng mình vẫn còn năng lực như xưa nhưng sự thật là nó đã từ bỏ ông rồi (Cac 16:20).

Tự đánh giá có thể là một việc làm nguy hiểm vì chúng ta có thể đi sai theo 2 hướng: (1) tự cho mình tốt hơn con người thật của mình, và (2) tự biến mình thành tồi tệ hơn con người thật của mình. Phao-lô đã không ảo tưởng về bản thân ông, ông vẫn luôn luôn “bươn tới” để “giựt giải về sự kêu gọi trên trời… trong Đức Chúa Giê-xu Christ.” Một sự không thỏa lòng thuộc-linh là thiết yếu để tiến bộ thuộc-linh.

“Đức Chúa Trời ôi! Linh hồn tôi mơ ước Chúa, như con nai cái thèm khát khe nước. Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống, tôi sẽ đến ra mắt Đức Chúa Trời chừng nào?” (Thi 42:1-2).


2. Tận hiến (Phi 3:14a) “Tôi cứ làm một điều”.

“Một điều” là một câu quan-trọng cho đời sống làm Cơ-đốc nhân. “Ngươi còn thiếu một điều” là câu Chúa Giê-xu phán với chàng thanh niên làm quan giàu có (Mac 10:21). Ngài giải thích cho Ma-thê khi bà chỉ trích cô em gái mình: “Có một việc cần mà thôi” (Lu 10:42). Người mù nhờ quyền-năng của Đấng Christ và được sáng mắt reo lên: “Tôi chỉ biết một điều” (Gi 9:25). Còn Thi 27:4 thì chứng thực “Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy! Ấy là tôi muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê-hô-va, để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê-hô-va.” Có quá nhiều Cơ-đốc nhân ôm đồm “quá nhiều điều”, trong khi bí quyết của sự tiến bộ là chỉ tập trung vào “một điều” mà thôi.

Đây chính là quyết định vốn là một bước ngoặc trong cuộc đời của D.L.Moody. Trước thảm kịch hỏa hoạn tại Chicago năm 1871, ông Moody tham gia phong trào phát triển Trường Chúa Nhật, công-tác trong tổ chức YMCA, các buổi nhóm truyền-giảng Phúc-Âm, và nhiều hoạt động khác nữa nhưng sau vụ cháy, ông quyết định tận hiến để dành độc quyền cho công-tác truyền-giảng Phúc-Âm mà thôi, “tôi chỉ làm một việc duy nhất này mà thôi” trờ thành một thực tại đối với ông. Kết quả là hàng triệu người đã được nghe Phúc-Âm.

Người tín-hữu phải tận hiến để “chạy cuộc đua của Cơ-đốc nhân” , chẳng hề có lực sĩ điền kinh nào thành công nhờ làm đủ thứ công việc, đủ các bộ môn người ta chỉ thành công nhờ chuyên môn rèn luyện chỉ một bộ môn nào đó mà thôi. Có một số ít lực-sĩ dường như cùng giỏi nhiều bộ môn, nhưng họ là những ngoại lệ. Những người chiếm giải là những người tập trung, chú mục vào một mục tiêu duy nhất, chẳng để cho điều gì khác khiến mình bị xao lãng. Họ hoàn toàn tận hiến cho tiếng gọi của mình. Như Nê-hê-mi quan tổng trấn xây lại vách thành Gie-ru-sa-lem, họ đáp lại những lời mời gọi gây phân tâm, xao lãng bằng câu “Ta mắc làm công việc lớn, xuống không đặng. Lẽ nào để công việc dứt trong khi bỏ nó đặng đi xuống với các ngươi?” (Nêhe 6:3) “…ấy là một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định” (Gia 1:8). Tập trung là bí quyết để có được năng lực (quyền năng). Nếu một dòng sông chảy tràn bờ, thì khu vực chung quanh sẽ bị biến thành đầm lầy. Nhưng nếu dòng sông ấy có những con đê và dòng chảy của nó được kiểm soát, nó sẽ trở thành một nguồn năng lượng. Sống cho điều ta cho là quan-trọng nhất, hoàn toàn là một vấn-đề về giá-trị và các quyền ưu tiên.


Hướng đi (Phi 3:14b) Người chưa được cứu bị quá-khứ cai trị kiểm soát, nhưng Cơ-đốc nhân tham dự cuộc chạy đua thì nhìn về hướng tương lai. Hãy tưởng tượng xem có gì xảy ra trong một cuộc đua nếu những người đánh xe (hay chạy đua) dừng lại để nhìn lui! Một người đi cày quay lại nhìn phía sau mình đã là tệ hại rồi (Lu 9:62), nhưng với người đánh xe đua thì làm như thế có nghĩa là có thể gây đụng chạm và thiệt hại nghiêm trọng.

Chúng ta có thói quen nói “quá-khứ, hiện tại, tương lai” nhưng đúng ra chúng ta phải nhìn thời gian như từ tương lai chuyển thành hiện tại rồi mới vào quá-khứ. Ít ra người tín-hữu phải hướng về tương lai “quên lửng sự ở đằng sau.” Xin nhớ luôn rằng theo ngôn ngữ của Thánh Kinh, thì “quên” không có nghĩa là không nhớ. Ngoại trừ người già yếu, người bị thôi miên hay bị rối loạn não bộ, không hề có người trưởng-thành nào có thể quên được điều đã xảy ra trong quá-khứ. Chúng ta vẫn mong có thể xóa bỏ một số ký ức không hay, nhưng không thể nào làm như thế được. Trong Thánh Kinh, “quên” có nghĩa là “không còn bị ảnh hưởng, hay bị một điều gì đó làm hại.” Khi Đức Chúa Trời hứa “Ta sẽ chẳng còn nhớ lại tội lỗi gian ác của họ nữa” (Hêb 10:17) thì không phải là Ngài ngụ ý dạy rằng Ngài vốn có một ký ức không được tốt lắm, mà như thế thì thật là thuận tiện, thích hợp! Đức Chúa Trời không thể là như thế được. Điều Ngài ngụ ý muốn nói là “Ta sẽ không giữ tội-lỗi họ lại để chống lại họ. Tội-lỗi họ chẳng còn ảnh hưởng gì đến địa vị của họ đối với ta nữa hay chẳng ảnh hưởng gì đến thái-độ của ta đối với họ nữa.”

Vậy “quên lửng sự ở đằng sau” không gợi ý về một động tác rèn luyện tinh thần hoặc tâm-lý để chúng ta tìm cách xóa đi mọi tội-lỗi trong quá-khứ, vốn là điều không thể nào có được. Nó chỉ đơn giản có nghĩa là chúng ta có thể đập tan năng lực của quá-khứ bằng cách sống cho tương lai. Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể thay đổi ý nghĩa của quá-khứ. Trong quá khứ của Phao-lô có nhiều điều khiến ông có thể cân nhắc, đánh giá cao để giữ ông lại (ITim 1:12-17), nhưng chúng lại trở thành những nguồn cảm hứng để đẩy ông vượt nhanh lên phía trước. Các biến cố xảy ra không có gì thay đổi, nhưng cách ông hiểu chúng đã thay đổi.


Một thí-dụ hay cho nguyên-tắc này là Giô-sép (Sa 45:1-15). Lúc ông gặp lại các anh mình lần thứ 2 và tự bày tỏ mình cho họ, ông đã không oán ghét gì họ. Lẽ tất nhiên là họ đã xử tệ với ông, nhưng ông nhìn lại quá-khứ theo quan-điểm của Đức Chúa Trời kết quả là ông đã không thù oán gì các anh mình. Giô-sép biết Đức Chúa Trời có một kế hoạch cho đời sống ông - một cuộc đua mà ông phải chạy - và một khi đã hoàn thành kế hoạch bằng cách nhìn về phía trước, ông đã phá vỡ quyền lực của quá-khứ.

Có quá nhiều Cơ-đốc nhân đã bị những hối tiếc về quá-khứ trói buộc. Họ cố tìm cách chạy đua mà quay mặt về phía sau! Cho nên chẳng có gì lấy làm lạ nếu họ bị vấp ngã cản trở những Cơ-đốc nhân khác. Một số Cơ-đốc nhân chạy đua lại bị phân tâm vì các thành công chớ không phải vì các thất bại của quá-khứ và điều này thì cũng tai hại y như thế. “Những việc ở đằng sau” phải được gát qua một bên, để thay vào đó là “những việc ở đằng trước.”

Ta có thể có được sự không thỏa lòng thuộc-linh, tận hiến và nhìn đúng hướng nhưng vẫn thua trong cuộc chạy đua và bị mất phần thưởng. Điều thiết yếu thứ tư.

Quyết tâm (Phi 3:14) “Tôi bươn theo”. Trong Phi 3:12, động từ này đã được dịch là “tôi đương chạy” và hàm ý có nỗ lực lớn lao. Người Hy-lạp dùng nó để mô tả người thợ săn hăm hở đuổi theo con mồi của mình. Một người không thể trở thành lực sĩ điền kinh thắng giải nhờ nghe các bài thuyết trình, xem phim ảnh, đọc sách hay hoan hô cổ vũ trong những cuộc thi tài. Anh ta trở thành người chiếm giải nhờ tham gia thi đấu và quyết tâm giựt giải. Phao-lô đã dùng cùng một nhiệt tâm lúc ông bắt bớ bách hại Hội thánh (Phi 3:6) để phục vụ Đấng Christ. Hãy suy nghĩ xem có gì lạ nếu các Cơ-đốc nhân cũng quyết định sống cuộc đời thuộc-linh của mình y như họ chơi golf, đi câu cá, hay chơi (bowling)?

Ở đây có hai thái-cực nên tránh: (1) “Tôi phải làm cả! ” và (2) “Đức Chúa Trời phải làm cả.” Thái-độ thứ nhất là quá khích, thái-độ thứ hai là im lìm bất động, và cả hai đều tiến đến chỗ thất bại. “Hãy bắt tay vào và để đó cho Đức Chúa Trời” là một khẩu hiệu hay, nhưng không mô tả đúng tiến trình sống của Cơ-đốc nhân. Có người đội trưởng nào lại bảo với cả đội của mình rằng: “Tốt lắm, các anh em, chúng ta chỉ cần ra sân, rồi để cho ông huấn luyện viên lo hết mọi chuyện?” Mặt khác, cũng chẳng có người đội trưởng nào lại nói: “Hãy nghe tôi và quên tất cả những gì ông huấn luyện viên đã nói đi!” Cả 2 đều thái quá và sai lầm.

Cơ-đốc nhân chạy đua với tinh thần thuộc-linh biết rằng Đức Chúa Trời phải vận hành trong mình nếu mình muốn thắng cuộc (Phi 2:12-13). “Ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Gi 15:5). Đức Chúa Trời vận hành trong chúng ta để Ngài có thể hành động thông qua chúng ta. Khi nào chúng ta tự đặt mình tham gia các công việc thuộc về đời sống thuộc-linh, thì Đức Chúa Trời có thể khiến chúng ta trưởng-thành và ban sức lực cho chúng ta tham dự cuộc đua “Sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm. còn như sự tin kính là ích cho mọi việc” (ITim 4:7-8). Một số Cơ-đốc nhân quá bận rộn với việc “chết đối với bản ngã” đến độ chẳng bao giờ sống lại để chạy cuộc đua! Còn nhiều người khác thì lại quá chắc chắn rằng đang dự cuộc đua đến nỗi chẳng bao giờ chịu dừng lại để đọc Lời Chúa, cầu nguyện và cầu xin Chúa ban quyền-năng cho mình.

Người chạy đua đang bươn tới mục tiêu nào với quyết tâm thuộc-linh như thế? “Giải về sự kêu gọi trên trời trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (Phi 3:14). Khi đã chạy được đến đích, người ấy sẽ nhận được phần thưởng. Một lần nữa, Phao-lô không gợi ý rằng chúng ta nhờ sức riêng mà đến được thiên-đàng. Ông chỉ bảo rằng như người lực-sĩ được thưởng công thế nào, thì người tín hữu tận trung cũng sẽ được mão miện khi Đấng Christ tái lâm. (Xem ICôr 9:24-27 để có một đoạn tương tự và lưu ý rằng nếu trong một cuộc chạy đua theo thế-gian chỉ có một lực-sĩ được giải mà thôi, thì trong cuộc chạy đua thuộc-linh, tất cả các Cơ-đốc nhân đều có thể được thưởng. Hơn nữa, chiếc vòng nguyệt quế của các cuộc thi tài thế vận sẽ tàn phai, nhưng chiếc mão miện của Đấng Christ ban cho thì chẳng bao giờ phai tàn. Điều quan-trọng là chúng ta phải chạy cho đến đích Ngài đã đặt ra cho chúng ta. Bất chấp chúng ta có thành công đến đâu dưới mắt loài người, chúng ta sẽ chẳng được ban thưởng chi cả, ngoại trừ khi “chúng ta giựt được điều mà Chúa Giê-xu Christ đã vì chúng ta mà giựt lấy” (Phi 3:12).


3. Kỷ luật (Phi 3:15-16) Chỉ lao khổ chạy đua để giựt được giải, vẫn chưa đủ người lực sĩ dự cuộc đua còn phải tuân thủ các quy luật nữa. Trong các cuộc thi tài của người Hy-lạp, các trọng tài rất khắt khe trong vấn đề này. Bất cứ một vi phạm luật lệ nào cũng khiến người lực-sĩ bị loại. Anh ta không bị mất quyền công dân (dù có khiến nó bị tiếng xấu), mà bị mất đặc quyền tham dự và thắng giải. Trong 2 câu Phi 3:15-16, Phao-lô nhấn mạnh tầm quan-trọng của việc Cơ-đốc nhân phải nhớ các “quy-luật thuộc-linh” đã được Lời Chúa ấn-định.


Một trong những lực sĩ điền kinh lừng danh nhất của Hoa Kỳ là Jim Thorpe. Tại Thế Vận hội năm 1912 ở Stockholm, anh đã thắng 2 cuộc thi 5 và 10 môn phối hợp, và dĩ nhiên, đã trở thành người hùng của Thế vận hội. Thế nhưng năm sau đó, các quan chức khám phá ra rằng Thorpe từng chơi dã cầu với tư cách bán chuyên nghiệp, do đó, đã hủy bỏ vị trí tài tử (nghiệp dư) của anh ta. Điều đó có nghĩa là anh ta phải trả lại các huy chương vàng và các bảng thành tích của mình, và các kỷ lục của anh ta đều bị xóa bỏ. Đó là cái giá đắt phải trả cho việc vi phạm các quy luật.

Đây là điều Phao-lô nghĩ đến lúc ông viết ICôr 9:24-27 “Hết thảy những người đua tranh tự mình chịu lấy mọi sự kiêng kỵ” (ICôr 9:25). Nếu người lực sĩ phạm luật, anh ta sẽ bị truất quyền thi đấu “người đấu sức trong diễn trường chỉ đấu nhau theo lệ luật thì mới được mão triều thiên” (IITim 2:5). Vấn-đề không phải là anh ta nghĩ gì hay các khán-giả nghĩ gì, mà là điều các trọng tài quyết định. Có một ngày, mỗi một Cơ-đốc nhân sẽ phải ứng-hầu trước Tòa phán-xét của Đấng Christ (Rô 14:10-12). Từ ngữ Hy-văn chỉ Tòa phán-xét là bema, cùng một từ ngữ được dùng để mô tả chỗ các trọng tài của Thế vận hội trao các giải thưởng. Nếu tôi tự khép mình vào kỷ-luật để tuân thủ mọi luật lệ, tôi sẽ được một giải thưởng.


Lịch sử theo Thánh Kinh vốn đầy dẫy những người đã bắt đầu cuộc đua rất thành công, nhưng cuối cùng lại thất bại vì bất tuân các quy-luật của Đức Chúa Trời. Họ không bị mất sự cứu-rỗi, nhưng bị mất phần thưởng (ICôr 3:15). Việc ấy đã xảy ra với Lót (Sa 19:1-38), Sam-sôn (Cac 16:1-31), Sau-lơ (ISa 28:1-25; ISa 31:1-13) và A-na-nia với Sa-phi-ra (Công 5:1-11). Và nó cũng có thể xảy đến cho chúng ta nữa! Thật là một kinh nghiệm phấn khích được nhìn xem Chúa Giê-xu và tham gia cuộc đua mỗi ngày (Hêb 12:1-2). Sự việc sẽ càng phấn khởi hơn nữa khi chúng ta được nghe “tiếng gọi từ trên trời” và Chúa Giê-xu sẽ tái-lâm để cất chúng ta lên thiên-đàng! Chừng đó, chúng ta sẽ ứng hầu trước Tòa phán-xét (bema) để nhận các phần thưởng của mình. Đó là viễn ảnh tương lai đã thúc đẩy Phao-lô, vì nó cũng có thể là động cơ thúc đẩy chúng ta nữa.


4. Sống Theo Thì Tương Lai (Phi 3:17-21) Thật lạ lùng là trong một bức thư đầy vui mừng người ta lại thấy Phao-lô khóc! Có lẽ ông tự khóc cho mình và hoàn cảnh khó khăn của riêng mình chăng? Không đâu, ông vốn là một con người có tâm trí chân chất, nên hoàn cảnh của ông không hề khiến ông chán nản thất vọng. Phải chăng ông khóc vì những gì các Cơ-đốc nhân người Rô-ma đang làm cho ông? Cũng không, ông vốn có tâm trí thuận phục nên sẽ không để cho người khác cướp đi niềm vui của mình. Những giọt lệ này không hề vì ông, mà chúng được đổ ra vì người khác. Vì Phao-lô có tâm trí thuộc-linh, cho nên tấm-lòng bị tan vỡ vì cách sống của một số người tự xưng là Cơ-đốc nhân nhưng lại sống theo “tâm-trí thuộc về mọi sự của đời này.”

Tuy chúng ta không dám đoan chắc, nhưng rất có thể hai câu Phi 3:18-19 mô tả những người muốn Do-thái hoá và những người theo họ. Chắc chắn là Phao-lô đang viết về những người tự xưng là Cơ-đốc nhân, chớ không phải là những kẻ ngoài Hội thánh. Những người muốn Do-thái là “kẻ thù của thập-tự giá Đấng Christ “ở chỗ họ thêm Luật-pháp Môi-se vào cho công lao cứu-chuộc của Đấng Christ đã hoàn tất trên thập-tự giá. Việc họ tuân thủ các luật-lệ về kiêng-ăn của Cựu-ước chắc đã biến bụng dạ họ thành ra một “vị thần” (xem Côl 2:20-23), và việc họ nhấn mạnh trên phép cắt-bì khiến họ hãnh diện chính là điều mà đáng lẽ họ phải lấy làm xấu hổ (Ga 6:12-15). Đám người này vốn chẳng có tâm-trí thuộc-linh họ chỉ biết nghĩ về thế-gian mà thôi. Họ đang bám chặt vào các nghi lễ và tín-ngưỡng trần-gian mà Đức Chúa Trời đã ban bố cho dân Y-sơ-ra-ên để chống lại các phước hạnh của thiên-đàng mà các Cơ-đốc nhân đã có được trong Chúa Giê-xu Christ (ÊEph 1:3; Êph 2:6; Côl 3:1-3).

Từ ngữ “thuộc linh” cũng từng bị lạm dụng nhiều như từ ngữ “thông công” vậy. Có quá nhiều người tưởng rằng một “Cơ-đốc nhân thuộc-linh” là một con người thần bí, mơ mộng, không thực tế và lạnh nhạt. Khi cầu nguyện thì người ấy đổi giọng thành ra rung rung như cất lên từ phần mộ và kể lể dông dài với Đức Chúa Trời về những điều mà Ngài đã biết rồi. Tai hại thay, loại ngoan đạo trơn láng ấy chỉ là một thí-dụ tồi cho tính cách thuộc-linh chân-chính. Tâm-trí thuộc-linh không đòi hỏi người ta phải không thực tế và có vẻ thần bí. Trái lại, tâm-trí thuộc-linh khiến tín-hữu suy nghĩ càng rõ ràng hơn và thực hiện mọi việc có hiệu quả hơn.

Tâm-trí thuộc-linh chỉ đơn giản có nghĩa là nhìn thế-gian này theo quan-điểm của thiên-đàng “Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất.” (Côl 3:2). D.L.Moody thường chế giễu các Cơ-đốc nhân “quá để tâm-trí vào thiên-đàng đến nỗi chẳng có được điều tốt lành nào trên đất này cả” và lời khuyên này vẫn còn cần được lưu ý. Các Cơ-đốc nhân có đến 2 quyền công-dân - một trên đất và một trên trời - và quyền công-dân trên trời phải khiến chúng ta trở thành những con người tốt hơn trên đất này. Người tín-hữu có tâm-trí thuộc-linh không bị những “việc” của đời này thu hút. Người ấy quyết định trên cơ sở các giá-trị vĩnh hằng chớ không phải là trên những điều điên dại chóng qua của xã hội. Lót đã chọn cánh đồng được sông Giô-đanh tưới nước cho thật đầy đủ vì các giá-trị của ông chỉ là thuộc về thế-gian, nên cuối cùng đã bị mất cả. Môi-se đã từ bỏ các thú vui và của cải của Ai-cập vì ông còn có điều vô cùng kỳ điệu hơn để vì đó mà sống (Hêb 11:24-26) “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì?” (Mac 8:36).

“Nhưng chúng ta là công-dân trên trời” (Phi 3:20). Từ ngữ Hy-văn đã được dịch ra là “trò chuyện” (conversation) hoặc “quyền công-dân” (citizenship) cũng là từ ngữ mà do đó chúng ta có chữ “chính trị” (politics). Nó có liên quan với hành vi của một người với tư cách công-dân của một quốc gia. Phao-lô khuyến khích chúng ta nên có tâm-trí thuộc-linh, và ông làm việc ấy bằng cách chỉ ra các đặc điểm của một Cơ-đốc nhân có quyền công-dân trên thiên-đàng. Như thành phố Phi-líp là một thuộc-địa của La-mã trên đất lạ, Hội thánh là một “thuộc-địa của thiên-đàng” trên thế-gian này.


1. Tên chúng ta đã được ghi trong Sách trên thiên-đàng. Công-dân thành phố Phi-líp được đặc quyền làm công dân La-mã tuy họ sống cách xa xứ ấy. Khi một em bé ra đời tại Phi-líp, điều quan-trọng là tên nó phải được ghi vào các sổ sách hộ tịch hợp pháp. Khi một tội-nhân hư-vong tin Đấng Christ và trở thành một công-dân của thiên-đàng, tên người ấy được ghi vào “quyển sách sự sống” (Phi 4:3).

Quyền công-dân rất quan trọng. Khi bạn đến một quốc gia khác, điều thiết yếu là bạn phải có một giấy hộ chiếu chứng-minh quyền công-dân của bạn. Chẳng có ai trong chúng ta lại muốn chịu số phận của Philip Nolan trong câu chuyện kể cổ điển về Con Người Không Có Tổ Quốc (The man without a country). Vì ông ta nguyền rủa tên quê hương mình, Nolan bị kết án phải sống trên tàu và chẳng bao giờ được thấy lại quê hương mình, hoặc thậm chí không được nghe cái tên ấy hoặc các tin tức về sự tiến bộ của nó. Suốt 56 năm ông ta thực hiện một cuộc du hành vô tận từ chiếc tàu này sang chiếc tàu khác, trên vùng biển này tới vùng biển khác, và cuối cùng chôn luôn ngoài biển. Ông là “một người không có tổ quốc.”

Tên của các Cơ-đốc nhân đã được ghi vào “quyển sách sự sống” và đây chính là điều quyết định để cuối cùng người ấy sẽ được quê hương trên thiên-đàng (Kh 20:15). Khi bạn xưng nhận Đấng Christ trên đất này thì Ngài cũng xưng nhận tên bạn trên thiên-đàng (Mat 10:32-33). Tên bạn đã được viết trên thiên-đàng (Lu 10:20) và nó sẽ cứ còn ở đó mãi mãi (Động từ Hy-văn “ghi” trong Lu 10:20 thuộc thì trọn vẹn: “nó được ghi một lần dứt khoát và sẽ cứ còn mãi.”)


Một bạn thân của tôi ngụ tại Washington DC, thu xếp để tôi và cậu con cả của tôi thăm một vòng Tòa Bạch Ốc. Bà ta dặn tôi đến một cửa vào lúc 8 giờ sáng và chuẩn bị để trình các chứng-minh thư cho biết chúng tôi là ai. Tôi và Da-vít tiến đến cánh cửa, người gác cửa lễ phép hỏi tên chúng tôi. Chúng tôi khai tên và trình các chứng-minh thư.

Ông ta nói: “Vâng, thưa ông Warren Wiersbe và cậu David quý vị có thể vào!” Chúng tôi vào được Tòa Bạch Ốc vì tên chúng tôi đã được ghi trong một danh sách hợp pháp, và tên chúng tôi sở dĩ được ghi vào đó là nhờ sự can thiệp của một người khác. Với vấn-đề vào thiên-đàng của chúng ta cũng thế: vì chúng ta đã tin Đấng Christ, tên chúng ta đã được ghi rồi, và chúng ta sẽ bước vào trước vinh-quang Đức Chúa Trời chỉ là nhờ công lao và sự cầu-thay của Ngài mà thôi.


2. Chúng ta nói tiếng của thiên-đàng. Những người có tâm-trí “chỉ nghĩ về những điều thuộc về đất này” thì trò chuyện với nhau về những điều thuộc về đất. Dù sao thì những lời ra từ môi miệng chúng ta làm bộc lộ những gì vốn có trong lòng chúng ta (Mat 12:34-37). Người không được cứu thì không hiểu những điều thuộc về Linh của Đức Chúa Trời (ICôr 2:14-16), cho nên, làm thế nào để người ấy có thể trò chuyện về những điều đó cho người khác hiểu được? Các công dân của thiên-đàng hiểu rõ những điều thuộc-linh và thích thú thảo luận cũng như chia-sẻ những điều đó lẫn cho nhau.

“Họ thuộc về thế-gian, cho nên nói theo như thế-gian, và người thế-gian nghe họ. Chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời: ai nhìn biết Đức Chúa Trời thì nghe chúng ta còn ai chẳng hề thuộc về Đức Chúa Trời, thì chẳng nghe chúng ta. Ấy bởi đó chúng ta nhìn biết thần chân-thật và thần sai lầm” (IGi 4:5-6).

Nhưng nói tiếng của thiên-đàng không chỉ gồm có những gì chúng ta nói ra, mà còn gồm cả cách thức chúng ta nói nữa. Cơ-đốc nhân có tâm-trí thuộc-linh không phải cứ đi quanh quẩn để trích dẫn các câu trong Thánh Kinh suốt ngày! Nhưng người ấy phải thận trọng để chỉ nói điều gì khiến Đức Chúa Trời được tôn vinh mà thôi. “Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn, và nêm thêm muối. hầu cho anh em biết phải nên đối đáp mỗi người là thể nào” (Côl 4:6). Không tín-hữu nào lại nói rằng: “xin nhận lời nói này với một hạt muối”. Hãy có muối trong ngôn từ của anh em. Muối ngăn chận sự hư hoại “Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến.” (Êph 4:29).


3. Chúng ta tuân thủ các luật lệ của thiên-đàng. Các công-dân thành phố Phi-líp được cai-trị theo luật-pháp La-mã, chớ không phải luật Hy-lạp, tuy họ sinh sống cách xa Rô-ma đến mấy trăm dặm. Thật vậy, chính các chính sách ấy đã bỏ tù Phao-lô lúc ông đến Phi-líp lần đầu tiên (Công 16:16-24). Bản thân Phao-lô cũng lợi dụng quyền công dân La-mã của mình để bảo đảm cho việc ông vốn được luật-pháp La-mã bảo vệ ông (Công 16:35-40; Công 21:33-40; Công 22:24-30).

Trong Phi 3:17, Phao-lô cảnh cáo các tín-hữu người Phi-líp chớ bắt chước loại công-dân xấu. “Hãy bắt chước tôi”. Lẽ dĩ nhiên, Phao-lô là một người theo Đấng Christ, cho nên lời răn bảo đó của ông không phải là vị-kỷ (ICôr 11:1). Phao-lô vốn biết rõ bản thân ông là một “khách lạ” đối với thế-gian này, “một người ở trọ, khách đi đường” (IPhi 2:11). Cuộc đời ông được luật-pháp thiên-đàng cai-trị, và chính điều này đã khiến ông khác với người thế gian. Ông quan tâm lo lắng cho người khác, chớ không phải cho bản thân. Ông quan tâm cống hiến chớ không phải là thu vét. Động cơ thúc đẩy ông là tình yêu (IICôr 5:14) chớ không phải là thù oán. Bởi đức-tin, Phao-lô vâng-lời Đức Chúa Trời, biết rằng sẽ có ngày mình được ban thưởng. Thiên-hạ có thể chống đối, bắt bớ bách hại ông bây giờ, nhưng vào ngày cuối cùng để tính toán mọi việc, ông sẽ là người chiến thắng.


Thật đáng buồn khi nói rằng ngày nay có nhiều người giống như những người muốn Do-thái hóa vào thời của Phao-lô, vẫn tự xưng là công-dân thiên-đàng, nhưng đời sống họ lại không chứng-minh điều đó. Họ nhiệt thành trong các hoạt động tôn-giáo, thậm chí còn khắt khe tự khép mình vào kỷ-luật nữa, nhưng chẳng có chứng-cứ hiển nhiên nào cho thấy là họ đang được Thánh Linh của Đức Chúa Trời cai-trị kiểm soát đời sống họ cả. Tất cả những gì họ làm đều do xác thịt thôi thúc, và họ nhận được mọi vinh-quang. Họ lầm lạc đã là điều tồi tệ rồi, thế nhưng họ còn dẫn đường cho nhiều người khác cùng đi lạc nữa. Cho nên chẳng có gì đáng lấy làm lạ khi Phao-lô đã khóc về họ.


4. Chúng ta tận-trung với chính-nghĩa của thiên-đàng. Thập-tự giá của Đấng Christ là luận-đề của Thánh Kinh, tâm điểm của Phúc-Âm, và là nguyên nhân chủ yếu của những lời ca ngợi tán tụng trên thiên-đàng (Kh 5:8-10). Thập-tự giá là bằng-chứng của tình yêu Đức Chúa Trời đối với các tội-nhân (Rô 5:8) và của lòng thù ghét của Ngài đối với tội-lỗi. Thập-tự giá kết án những gì thế-gian đánh giá cao. Nó phán-xét nhân loại và tuyên-phán bản án đúng: có tội!


Theo ý nghĩa nào, những người muốn Do-thái hóa lại là “kẻ thù nghịch thập-tự giá?” Có một điều chắc chắn, là thập-tự giá đã kết thúc tôn-giáo của Cựu-ước. Lúc bức màn trong Đền thờ bị xé đôi, Đức Chúa Trời đã thông báo con đường Ngài đã mở ra thông-qua Đấng Christ (Hêb 10:19-25). Lúc Chúa Giê-xu kêu lớn: “Mọi việc đã xong!” là Ngài đã tự dâng mình lên làm sinh tế để chuộc tội. Do đó, kết thúc cả hệ thống tế-lễ (Hêb 10:1-14). Bởi sự chết và sống lại của Ngài, Chúa Giê-xu đã hoàn tất “phép cắt-bì thuộc-linh”, khiến phép cắt-bì theo nghi lễ không còn cần thiết nữa (Côl 2:10-13). Mọi sự mà các Cơ-đốc nhân người Do-thái bênh vực, đều đã bị sự chết của Đấng Christ trên thập-tự giá loại trừ!

Hơn nữa, tất cả những gì họ vì đó mà sống, đều đã bị thập-tự giá lên án. Chúa Giê-xu đã triệt hạ bức tường ngăn cách giữa người Do-thái và người ngoại quốc (Êph 2:14-16), nhưng các Cơ-đốc nhân người Do-thái thì đang xây lại bức tường ấy. Họ tuân thủ “các mạng lịnh của xác thịt” (Hêb 9:10), các quy tắc “hấp dẫn” đối với xác thịt nhưng không do sự chỉ dẫn của Thánh Linh. Nhưng người tín-hữu chân chính thì đóng đinh xác thịt vào thập-tự giá (Ga 5:24). Người ấy cũng đóng đinh cả thế gian vào thập-tự giá nữa (Ga 6:14). Thế nhưng các Cơ-đốc nhân người Do-thái lại cứ đặt tâm-trí vào “những điều thuộc về thế gian.” Chính thập-tự giá là tâm điểm của cuộc đời làm Cơ-đốc nhân. Người ấy không được loài người, tôn-giáo hoặc các thành tựu của riêng mình đề cao, người ấy lấy thập-tự giá làm vinh (Ga 6:14).


Sở dĩ Phao-lô khóc, vì ông biết rõ tương lai của đám người ấy: “Sự cuối cùng của họ là hư-mất” (Phi 3:19). Thế giới này tự mang trong nó cái ý niệm về hoang phế và mất mát. (Từ ngữ này đã được dịch là “phung phí” trong Mac 14:4). Giu-đa đã bị gọi là “con trai của sự hư mất” và đây chính là từ ngữ đã được sử dụng (Gi 17:12). Một cuộc đời bị phung phí và cả cõi vĩnh hằng bị phung phí. Trái lại, người con thật của Đức Chúa Trời, người có quyền công-dân của thiên-đàng, có một tương lai tươi sáng.


5. Chúng ta đang trông-chờ Chúa của thiên-đàng. Những người muốn Do-thái hóa sống theo thì quá-khứ, cố tìm cách kéo các tín-hữu người Phi-líp trở lại với Môi-se và luật-pháp nhưng các Cơ-đốc nhân chân-chính sống theo thì tương lai, chờ đón ngày trở lại của Cứu Chúa mình (Phi 3:20-21).

-Như người tính sổ trong những câu Phi 3:1-11, Phao-lô đã phát giác được nhiều giá-trị mới.

-Như người lực sĩ trong những câu Phi 3:12-16, ông chứng tỏ mình có sinh lực mới.

-Giờ đây, với tư cách người khách lạ, ông có được một khải-tượng mới: “Chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình.” Chính việc đón chờ sự tái-lâm của Đấng Christ này là động cơ thúc đẩy các Cơ-đốc nhân có tâm-trí thuộc-linh.

Trong quyền năng hiện tại của niềm hy vọng về tương lai có rất nhiều năng lực. Áp-ra-ham nhờ trông mong một thành phố, mà hài lòng sống trong một nhà trại (Hêb 11:13-16). Môi-se nhờ trông mong các phần thưởng của thiên-đàng, mà sẵn sàng quăng đi các của báu thế gian (Hêb 11:24-26). Nhờ “niềm vui đặt trước mặt mình” (Hêb 12:2) mà Chúa Giê-xu sẵn sàng chấp nhận chịu sự gian khổ của thập-tự giá.

Sự kiện Chúa Giê-xu Christ sắp tái-lâm là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy nhiều người sống để phục-vụ hôm nay. “Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch” (IGi 2:28-3:3).


Công-dân trên trời sống trên đất này sẽ chẳng bao giờ ngã lòng vì biết rằng sẽ có ngày Chúa mình trở lại. Người ấy trung tín thực hiện công việc của mình, kẻo e khi Chúa mình trở lại sẽ nhận thấy mình không vâng-lời Ngài chăng (Lu 12:40-48).

Người tín-hữu có tâm-trí thuộc linh không sống vì những điều thuộc về đời này người ấy đón chờ các phước hạnh của đời hầu đến. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng người ấy chẳng biết gì đến hay bỏ bê các bổn phận bắt buộc hằng ngày của mình mà có nghĩa là những gì người ấy làm hôm nay đều do những gì Đấng Christ sẽ làm trong tương lai điều khiển.

Phao-lô đặc biệt bảo rằng người tín-hữu sẽ nhận được một thân thể mới, giống như thân thể của Đấng Christ vậy. Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thân thể “hèn mạt” (Phi 3:21) nhưng khi chúng ta nhìn thấy Đấng Christ, chúng ta sẽ nhận được một thân thể vinh-hiển.

Sự việc ấy sẽ xảy ra trong khoảnh khắc, trong chớp mắt (ICôr 15:42-53). Bây giờ mọi sự trên đời này đều trở thành vô giá-trị đối với chúng ta – nói cách tương đối chúng cũng nên được xem như vậy trong hiện tại.

Nếu chúng ta đang sống với thì tương lai, chúng ta phải rèn luyện tâm-trí thuộc-linh để sống cho những điều thật sự quan-trọng.

Khi Đấng Christ tái-lâm, Ngài sẽ “bắt phục muôn vật” (Phi 3:21b). Từ ngữ “phục” này có nghĩa là “sắp xếp theo hàng lối.” Phải chăng đó chính là vấn-đề của chúng ta ngày nay? Chúng ta không đang sắp xếp mọi việc theo đúng trật tự của chúng. Các giá-trị của chúng ta đã bị bóp méo.

Hậu quả là nguồn sinh lực của chúng ta đã bị phung phí cho các hoạt động vô dụng, còn khải tượng của chúng ta thì bị che mờ, khiến cho sự tái-lâm của Đấng Christ không thật sự là động cơ thúc đẩy đời sống chúng ta.

Sống trong thì tương lai có nghĩa là để cho Đấng Christ sắp xếp mọi việc trong đời sống theo đúng hàng lối. Nó có nghĩa là sống “nhìn chăm vào các giá-trị vĩnh cửu” và dám tin vào lời-hứa của Đức Chúa Trời rằng: “Ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì còn lại đời-đời” (IGi 2:17).





10. BẠN CHẲNG CẦN GÌ PHẢI LO ÂU! (Phi 4:1-9)


Nếu có người nào có lý-do để bào chữa cho sự âu-lo, thì đó là Phao-lô. Các Cơ-đốc nhân là những bạn thân yêu của ông tại thành phố Phi-líp đang bất đồng ý kiến với nhau, nhưng ông lại không thể có mặt tại đó để giúp đỡ họ. Chúng ta không rõ Ê-vô-đi và Sin-ty-cơ tranh cãi với nhau về chuyện gì, nhưng cho dù điều đó có là thế nào đi chăng nữa, nó đang gây chia-rẽ trong Hội thánh. Cùng với nguy cơ chia-rẽ tại Phi-líp, Phao-lô còn phải đối đầu với sự chia-rẽ giữa các tín-hữu tại Rô-ma nữa (Phi 1:14-17). Thêm vào các gánh nặng này là việc chính ông có thể bị xử tử! Phải, Phao-lô có lý do chính đáng để lo-âu - nhưng ông đã không âu-lo! Trái lại, ông còn dành thì giờ để giải thích cho chúng ta bí quyết để chiến thắng âu-lo.


Nỗi lo là gì? Từ ngữ Hy-văn được dịch ra là “lo phiền” trong câu 6 có nghĩa là “bị đẩy sang nhiều hướng khác nhau.” Hy vọng của chúng ta đẩy chúng ta về một hướng các nỗi lo sợ lại đẩy chúng ta về hướng ngược hẳn lại chúng ta bị xô đẩy 4 phía! Ngữ căn của từ Anh văn Worry (lo-âu) có nghĩa là “làm nghẹt thở.” Nếu bạn từng thật sự âu-lo, chắc đã biết nó “bóp nghẹt” người ta như thế nào rồi. Thật vậy, lo-âu dứt khoát tạo ra nhiều hậu quả sinh lý: nhức đầu, đau cổ, ung nhọt, thậm chí đau lưng nữa. Lo-âu ảnh hưởng đến tư tưởng, sự tiêu hóa và cả cách phối trí, tổ chức công việc của chúng ta nữa.

Theo quan-điểm thuộc-linh thì lo-âu là suy nghĩ sai lầm (tâm-trí) và cảm xúc sai lầm (tấm-lòng) về hoàn-cảnh, thiên-hạ và sự việc. Âu-lo là kẻ trộm cướp niềm vui quan-trọng nhất. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ tự nhủ “đừng lo” thì chưa đủ, vì làm như thế thì chẳng bao giờ “bắt phục” được kẻ trộm. Lo-âu là một vấn-đề “nội tâm” nên cần nhiều hơn là ý định tốt mới thắng được nó. Liều thuốc giải độc để trị lo âu là tâm-trí an-toàn “sự bình-an của Đức Chúa Trời …sẽ gìn giữ (bảo vệ, canh gác như một binh sĩ vậy) lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Giê-xu Christ“ (Phi 4:7). Một khi bạn đã có được tâm-trí an-toàn, thì sự bình-an của Đức Chúa Trời sẽ gìn giữ bạn (Phi 4:7) và Đức Chúa Trời của sự bình-an sẽ hướng dẫn bạn (Phi 4:9). Với loại bảo vệ như thế, bạn còn âu-lo mà làm chi?


Muốn chinh-phục âu-lo và có được tâm-trí an-toàn, chúng ta phải thỏa mãn các điều kiện Đức Chúa Trời đã quy định. Có tất cả là 3 điều: cầu-nguyện phải lẽ (Phi 4:6-7), suy nghĩ đúng đắn (Phi 4:8) và sống ngay lành (Phi 4:9).


(1) Cầu-nguyện phải lẽ (Phi 4:6-7): Phao-lô không viết: “Hãy cầu-nguyện cho vấn-đề ấy.” Ông vốn quá khôn-ngoan để có thể viết như thế. Ông dùng 3 từ ngữ để mô tả việc “cầu-nguyện phải lẽ”: cầu-nguyện, nài-xin tạ-ơn. 

Cầu-nguyện phải lẽ bao gồm cả 3.

Từ ngữ cầu-nguyện là từ tổng quát để nói về việc dâng trình lên Chúa lời cầu xin. Nó ẩn tàng ý niệm tôn-thờ, tận-hiến và thờ-phượng. Hễ khi nào chúng ta nhận thấy mình lo-âu, thì hành động đầu tiên của chúng ta phải là dành thì giờ để ở riêng ra với Đức Chúa Trời và thờ-phượng Ngài.

Tôn-thờ (adoration) là điều cần thiết ở đây.

Chúng ta phải nhìn thấy tính cách vĩ đại và vẻ uy-nghiêm của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải nhận thức được rằng Ngài vĩ đại đủ để giải quyết các vấn-đề của chúng ta. Việc quá thường xảy ra là chúng ta hấp tấp lao ngay vào trước sự hiện diện Ngài để kể lể với Ngài các nhu-cầu của mình, trong khi đáng lẽ ra chúng ta phải âm thầm đến gần ngôi Ngài với thái-độ thành kính sâu xa.

-Bước đầu tiên trong việc cầu-nguyện phải lẽ là tôn-thờ.

-Bước thứ hai là nài-xin, là nhiệt thành trình bày các nhu-cầu và các vấn-đề của chúng ta. Không có chỗ cho lời cầu-nguyện miễn cưỡng không thành thật. Tuy chúng ta đã biết không phải lời cầu-nguyện của chúng ta sẽ được nhậm là nhờ “nói nhiều” (Mat 6:7-8), chúng ta vẫn phải nhận thức được rằng Cha chúng ta muốn chúng ta phải thiết tha trong việc cầu-xin (Mat 7:1-11). Đó là cách mà Chúa Giê-xu đã cầu-nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê (Hêb 5:7), và trong khi các môn-đệ thân cận nhất với Ngài đều ngủ, thì mồ hôi của Chúa Giê-xu đã vả ra thành những giọt máu! Nài-xin không phải là một vấn-đề nỗ lực xác thịt, nhưng là sự tha thiết thuộc-linh (Rô 15:30; Côl 4:12).


Sau tôn-thờ và nài-xin là cảm kích, cảm tạ Đức Chúa Trời (Êph 5:20; Côl 3:15-17). Chắc chắn rằng Đức Chúa Cha rất vui khi được nghe các con cái Ngài nói “cám ơn Chúa”. Lúc Chúa Giê-xu chữa lành cho 10 người phung, chỉ có một trong mười người đó trở lại để tạ ơn Ngài (Lu 17:11-19), và chúng ta tự hỏi chẳng hay ngày nay, tỷ lệ đó có cao hơn hay không? Chúng ta đều nhanh nhẩu cầu xin nhưng lại chậm chạp cảm kích.


Bạn sẽ nhận thấy rằng “cầu-nguyện phải lẽ” không phải là điều mà tất cả các Cơ-đốc nhân đều có thể làm được ngay, vì “cầu-nguyện phải lẽ” tùy thuộc vào loại tâm-trí phải-lẽ. Chính vì thế mà công thức để có được lòng bình-an của Phao-lô chỉ được tìm thấy ở cuối thư, chớ không phải là trong phần mở đầu sách ấy.

-Nếu chúng ta có tâm-trí chân-chất của chương 1 thì chúng ta có thể dâng lên sự tôn-thờ (người phân tâm, thì làm sao có thể ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời cho được?) Nếu chúng ta có tâm-trí thuận-phục của chương 2, chúng ta có thể tiến đến với lời nài xin (một người có tâm trí kiêu-ngạo thì có chịu cầu xin Đức Chúa Trời điều gì chăng?).

-Nếu chúng ta có tâm trí thuộc-linh của chương 3, chúng ta có thể bộc lộ sự cảm kích (một người có tâm-trí theo thế-gian sẽ chẳng được Đức Chúa Trời ban cho điều gì để cảm kích) Nói khác đi, chúng ta phải thực hành theo các chương một, hai và ba thì mới từng trải được tâm-trí an-toàn của chương 4.


Phao-lô khuyên chúng ta “dùng lời cầu-nguyện…mà trình các sự cầu-xin của mình cho Đức Chúa Trời” “chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự, hãy …cầu-nguyện” là lời răn bảo của ông.

Chúng ta luôn luôn sẵn sàng cầu-nguyện cho những “việc lớn” trong đời sống mà quên cầu-nguyện cho những cái-gọi-là “việc nhỏ” - cho đến khi chúng lớn dần và trở thành 'việc lớn”! Hãy cầu-nguyện với Đức Chúa Trời và mọi sự liên quan đến chúng ta với Ngài là bước đầu tiên dẫn đến việc chiến thắng lo-âu.


Kết quả là “sự bình-an của Đức Chúa Trời” sẽ gìn giữ tấm-lòng và tâm-trí chúng ta. Chắc bạn nhớ là Phao-lô đang bị xiềng chung với một người lính La-mã, bị canh giữ cả ngày lẫn đêm. Cũng thế “sự bình-an của Đức Chúa Trời” sẽ đứng đó để canh giữ cả 2 lãnh vực tạo ra âu-lo: tấm-lòng (cảm thức sai lầm) và tâm-trí (tư tưởng sai lầm).

Khi chúng ta dâng tấm-lòng mình cho Đấng Christ để được cứu-rỗi, là chúng ta đã từng-trải được “sự hòa thuận với Đức Chúa Trời” (Rô 5:1) nhưng “sự bình-an của Đức Chúa Trời đưa chúng ta tiến một bước xa hơn vào các phước hạnh của Ngài.

Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng các thử thách từ bên ngoài sẽ không còn nữa, mà chỉ có nghĩa là chúng ta sẽ có được một niềm tin quyết từ bên trong, bất chấp hoàn-cảnh, thiên-hạ hoặc việc đời.


Đa-ni-ên đã cho chúng ta một thí-dụ minh họa kỳ diệu về sự bình-an nhờ biết cầu-nguyện. Lúc nhà vua ra chiếu chỉ rằng toàn thể các thần-dân không được phép cầu-nguyện với bất cứ một ai khác ngoài ra chính nhà vua, thì Đa-ni-ên đã vào phòng riêng, mở các cửa sổ ra và cầu-nguyện y như trước đó (Đa 6:1-10).

Cần lưu ý cách cầu nguyện của Đa-ni-ên.

Ông “cầu-nguyện xưng tạ trước mặt Đức Chúa Trời mình” (Đa 6:10) và nài xin (Đa 6:11).

Cầu-nguyện - nài-xin - xưng-tạ! Và kết quả là ông đã được sự bình-an giữa cơn khốn khó! Đa-ni-ên đã có thể ngủ qua đêm với bầy sư tử trong sự bình-an trọn vẹn, trong lúc ấy ngay trong cung mình, nhà vua đã không ngủ được (Đa 6:18)!

Điều kiện đầu tiên để có được tâm-trí an-toàn và chiến thắng lo-âu, là cầu-nguyện phải lẽ. Điều kiện thứ hai là:

(2) Suy nghĩ đúng đắn (Phi 4:8): Sự bình-an liên quan cả với tấm-lòng lẫn tâm-trí, “Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ ngươi trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài.” (Ês 26:3).

Suy nghĩ sai dẫn đến cảm xúc sai, rồi chẳng bao lâu cả tấm-lòng lẫn tâm-trí đều bị xô đẩy, giằng xé, khiến chúng ta cảm thấy như bị lo-âu bóp nghẹt.

Chúng ta phải biết rằng các tư tưởng vốn có thật và đầy sức mạnh, thậm chí khi chúng ta không thể nhìn thấy, hoặc cân đo chúng. Chúng ta phải “bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng-phục Đấng Christ” (IICôr 10:5).

“Gieo ra một ý nghĩ sẽ gặt được hành động.

Gieo ra một hành động, sẽ gặt được một thói quen.

Gieo ra một thói quen, sẽ gặt được một cá tính.

Gieo ra một cá tính, sẽ gặt được một vận mệnh!”


Phao-lô kể ra chi tiết những điều chúng ta cần suy nghĩ với tư cách Cơ-đốc nhân.

Điều chi chân thật: Tiến-sĩ Walter Cavert có phúc trình một cuộc điều tra liên quan đến sự lo-âu, cho thấy chỉ có 8% trong những điều mà thiên-hạ lo-lắng là những vấn-đề đáng quan tâm mà thôi.

Số 92% kia đều hoặc là do tưởng tượng, là những việc chẳng bao giờ xảy ra, hoặc bao gồm các vấn-đề mà dù sao thì người ta cũng không thể kiểm soát được. Sa-tan vốn là một kẻ nói dối (Gi 8:44), và nó muốn phá hỏng tâm-trí chúng ta bằng những lời dối-trá của nó (IICôr 11:3).

“Sao, há không phải Đức Chúa Trời từng phán rằng…? “ là cách nó tiếp cận chúng ta như đã tiếp cận bà Ê-va (Sa 3:1 và tt). Đức Thánh Linh kiểm soát tâm-trí chúng ta bằng sự thật (chân-lý Gi 17:17; IGi 5:6) nhưng ma quỷ tìm cách kiểm soát tâm-trí chúng ta bằng những lời dối-trá của nó. Hễ khi nào chúng ta tin một lời dối-trá, tức là Sa-tan đã thắng hơn!


Điều chi đáng tôn, điều chi công-bình: Câu này có nghĩa là “bất cứ điều chi đáng tôn-trọng và công-bằng.” Có rất nhiều điều chẳng đáng tôn-trọng, và Cơ-đốc nhân không nên suy nghĩ về những điều đó. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng chúng ta phải vùi đầu trong cát để tránh những điều không lý thú, không tốt đẹp, mà có nghĩa là chúng ta không nên tập trung chú ý vào những điều không đáng tôn-trọng, để cho chúng chiếm hữu, cai-trị tư tưởng chúng ta.


Điều chi thanh sạch, điều chi đáng ưa chuộng, điều chi có tiếng tốt: “Thanh-sạch” có lẽ ám chỉ sự trong sạch về mặt luân lý đạo đức, vì thiên-hạ thời đó cũng như bây giờ, vốn luôn luôn bị các cám dỗ nhơ nhớp về phương diện tình-dục tấn công (Êph 5:8-12; Êph 4:17-24).

“Đáng ưa chuộng” có nghĩa là “đẹp đẽ, hấp dẫn” và “có tiếng tốt” có nghĩa là “đáng đề cập, viện dẫn.” Người tín-hữu phải tập trung phần lớn vào các tư tưởng cao siêu, thanh thoát, chớ không phải là vào các tư tưởng thấp hèn của thế-gian hư-hoại này.


Điều chi có nhân-đức đáng khen: Nếu đó là điều có liên quan đến đức hạnh, nó sẽ thúc đẩy chúng ta có hành động tốt hơn và nếu đó là điều đáng khen nó sẽ thúc giục chúng ta khen ngợi người khác. Chẳng một Cơ-đốc nhân nào nếu phung phú “trí năng” vào các ý nghĩ sẽ dìm mình xuống hay dìm nhiều người khác xuống, nếu chúng ta chia sẻ các ý nghĩ ấy với họ.


Nếu bạn chịu khó đối chiếu bảng liệt kê này với phần mô tả Lời Đức Chúa Trời của Đa-vít trong Thi 19:7-9, bạn sẽ thấy có chỗ giống nhau. Cơ-đốc nhân nào đổ đầy Lời Đức Chúa Trời cho tấm-lòng và tâm-trí mình, sẽ có được một “ra-đa nội tâm” để phát giác được các tư tưởng sai trái.

“Phàm kẻ nào yêu mến luật-pháp Chúa được bình an lớn” (Thi 119:165). Suy nghĩ đúng đắn là kết quả của việc suy gẫm Lời Chúa hằng ngày.


Điều kiện thứ ba để có được tâm-trí an-toàn là: Sống ngay lành.

(3) Sống ngay lành (Phi 4:9): Bạn không thể nào tách rời hành động bên ngoài với thái độ bên trong. Tội-lỗi luôn luôn tạo hậu quả là sự bất-an (trừ phi khi lương tâm đã bị chai lì rồi), còn sự trong-sạch thì phải tạo kết quả là bình-an.

“Công-bình sẽ sanh ra bình-an, trái của sự công-bình sẽ là yên lặng và an ổn mãi mãi” (Ês 32:17)

“Nhưng sự khôn-ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận, tiết độ, nhu-mì, đầy dẫy lòng thương-xót và bông trái lành, không có sự hai lòng và giả hình” (Gia 3:17).

Sống ngay lành là điều kiện cần thiết để được sự bình an của Đức Chúa Trời.

Phao-lô thăng bằng 4 hoạt động: “học và nhận” “nghe và thấy.” Học hỏi về một chân-lý là một việc, nhưng tiếp nhận nó vào lòng để biến nó thành một phần của con người bên trong chúng ta là một việc khác (ITês 2:13). Chỉ đưa các sự kiện vào trong đầu óc mà thôi thì chưa đủ chúng ta phải có cả các chân-lý ở trong lòng nữa.

Trong chức-vụ của Phao-lô, chẳng những ông chỉ dạy Lời Chúa, mà còn phải sống theo lời ấy nữa, để những người nghe ông có thể nhìn thấy chân-lý ấy trong chính đời sống ông. Từng-trải của Phao-lô cũng phải là kinh-nghiệm của chúng ta. Chúng ta phải học hỏi Lời Chúa, tiếp nhận và làm theo đó. “Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình” (Gia 1:22).

“Sự bình-an của Đức Chúa Trời” là một trắc-nghiệm cho biết chúng ta có đang theo đúng ý chỉ của Đức Chúa Trời hay không. “Nguyền xin sự bình-an của Đấng Christ cai-trị trong lòng anh em, là bình-an mà anh em đã được gọi đến đặng hiệp nên một thể lại phải biết ơn” (Côl 3:15). Nếu chúng ta đang bước đi với Chúa thì sự bình-an của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời của sự bình an sẽ tạo ảnh hưởng trên tấm-lòng chúng ta. Hễ khi nào chúng ta không vâng-lời, chúng ta bị mất sự bình-an, và biết là mình đã có làm điều gì đó sai trái. Sự bình-an của Đức Chúa Trời “cai-trị” trong lòng chúng ta, sẽ kêu-gọi chúng ta ra khỏi đó!


Cầu-nguyện phải lẽ, suy nghĩ đúng đắn, sống ngay lành, đó là các điều kiện để có được tâm-trí an-toàn và chiến thắng lo-âu. Như Phi-líp 4 là “chương sách về sự bình-an” của Tân-ước, thì Gia 4:1-17 là “chương sách về chiến tranh”. Nó bắt đầu bằng câu hỏi: “Những điều chiến đấu tranh cạnh trong anh em bởi đâu mà đến?” 

Gia-cơ giải thích các nguyên nhân của chiến tranh: đó là cầu nguyện sai lầm (“anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ”, Phi 4:3) suy nghĩ sai lầm (ai hai lòng hãy làm sạch lòng mình đi” Phi 4:8) và sống sai trái (“anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao?”Phi 4:4). Không có chỗ đứng nào là trung lập cả. Hoặc là chúng ta đặt tấm lòng và tâm-trí mình đầu-phục Thánh Linh của Đức Chúa Trời và thực-hành việc cầu-nguyện phải lẽ, suy nghĩ đúng đắn và sống ngay lành hoặc là chúng ta đầu-phục xác thịt để cảm thấy mình bị âu-lo dằn vặt, xâu xé.


Chúng ta chẳng cần chi phải lo-âu! Mà lo-âu còn là tội nữa! (Gần đây, bạn có đọc Mat 6:24-34 không?). Với sự bình-an của Đức Chúa Trời gìn giữ chúng ta và Đức Chúa Trời của sự bình-an hướng dẫn chúng ta - tại sao chúng ta laị lo-âu?





11. BÍ QUYẾT ĐỂ HÀI LÒNG (Phi 4:10-23)


“Rắc rối của ông ấy, là ông ta là một chiếc nhiệt kế, chớ không phải là một máy điều nhiệt.”

Câu nói của một trong các vị chấp-sự khiến vị mục-sư nổi tánh tò mò. Hai người đang bàn nhau về những người có thể sẽ ở trong ban trị-sự Hội thánh, và tên ông Jim vừa được nhắc đến.

Ông chấp-sự giải thích: “Thưa ông mục-sư, sự việc là như thế này: Một chiếc nhiệt kế thì chẳng làm thay đổi được chút gì chung quanh nó, nó chỉ ghi nhận nhiệt độ mà thôi. Nó cứ tăng giảm luôn. Nhưng một máy điều nhiệt thì điều hòa khu vực chung quanh và thay đổi nó khi cần phải thay đổi. Ông Jim là một chiếc nhiệt kế - ông ta thiếu khả năng thay đổi sự việc. Trái lại, chính chúng lại làm biến đổi ông ta!”


Phao-lô là một máy điều nhiệt. Thay vì có tinh thần thuộc-linh cứ thăng trầm tùy theo hoàn-cảnh thay đổi, ông lại xông ngay vào, lúc nào cũng sẵn sàng thi hành công-tác của mình và phục-vụ Đấng Christ. Nhưng câu ông tự ám chỉ ở cuối bức thư này cho thấy ông không phải là nạn nhân của hoàn-cảnh, mà là người chiến thắng hoàn cảnh: “Tôi có thể chấp nhận mọi sự” (Phi 4:11) “Tôi làm được mọi sự” (Phi 4:13) “tôi đã nhận được hết” (Phi 4:18). Phao-lô chẳng cần phải được chìu chuộng thì mới hài lòng, ông đi tìm sự hài lòng trong các nguồn tài nguyên thuộc-linh dư dật do Đấng Christ cung-cấp.


Hài lòng không phải là tự phụ tự mãn, cũng không phải là sự bình-an giả tạo có cơ sở là sự dốt nát. Người tín-hữu tự phụ tự mãn thì chẳng quan tâm gì đến tha-nhân, trong khi Cơ-đốc nhân hài lòng biết chia sẻ các phước hạnh của mình. Hài lòng không phải là trốn tránh chiến đấu, mà đúng hơn là có được sự bình-an và tin quyết giữa chiến trận. “Tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào cũng thỏa lòng ở vậy” (Phi 4:11). Trong câu này, có hai từ ngữ đặc biệt quan-trọng: “tập” và “thỏa lòng.”


Động từ “tập” có nghĩa là “học tập bằng kinh-nghiệm”. Sự hài lòng thuộc-linh của Phao-lô là không phải điều ông có được ngay tức khắc sau khi được cứu-rỗi. Ông đã phải kinh-nghiệm qua nhiều từng-trải khó-khăn trong cuộc sống để học tập cách hài lòng. Từ ngữ “thỏa lòng” thật ra có nghĩa là “chứa đựng.” Nó mô tả một người mà tất cả tài nguyên sáng kiến đều có sẵn bên trong, đến độ chẳng cần chi đến những vật gì khác ở bên ngoài để thay thế cho chúng. Từ ngữ Hy -văn đó có nghĩa là “tự mãn” (self-sufficient) và là một chữ tâm đắc của các triết-gia khắc kỷ (stoic). Nhưng Cơ-đốc nhân không tự mãn vì bản thân (tự phụ), mà tự mãn vì mình đã được ở trong Đấng Christ. Nhờ có Đấng Christ ngự trong lòng chúng ta, chúng ta luôn luôn đủ sức để đối phó với mọi đòi hỏi của cuộc đời.

Trong chương này, Phao-lô nêu tên 3 nguồn tài nguyên thuộc-linh kỳ điệu, giúp chúng ta luôn luôn đầy đủ, khiến chúng ta hài lòng.


1. Sự thần-hựu tể-trị của Đức Chúa Trời (Phi 4:10) Trong thời đại của các thành tựu khoa học hiện nay, chúng ta cứ ngày càng ít được nghe nói về sự thần-hựu của Đức Chúa Trời. Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng thế-gian này là một guồng máy tự nhiên khổng lồ, và cả đến Đức Chúa Trời cũng không thể ngăn được các bánh xe đang quay thật đều đặn kia.

Nhưng Lời Đức Chúa Trời dạy rõ ràng về các hành động thần hữu của Đức Chúa Trời trong cõi thiên nhiên và trong đời sống những người thuộc về Ngài. Từ ngữ “thần-hựu” (providence) vốn do hai từ ngữ La-văn mà ra: pro có nghĩa là trước, và video nghĩa là nhìn thấy. Sự thần-hựu chỉ đơn giản có nghĩa là Đức Chúa Trời đã nhìn thấy, đã sắp xếp điều đó trước rồi. Nó không phải chỉ có nghĩa là Đức Chúa Trời đã biết trước mà thôi, vì sự thần-hựu còn có nghĩa bao quát hơn nhiều. Nó là việc Đức Chúa Trời đã hành động trước để sắp xếp hoàn cảnh tình hình nhằm hoàn thành các chủ đích của Ngài.


Câu chuyện quen thuộc của Giô-sép và các anh em của ông minh họa ý nghĩa của quyền-năng thần-hựu (Sa 37:1-50:26). Các anh của Giô-sép ghen-tị với ông nên bán ông làm nô-lệ lúc ông chỉ mới được 17 tuổi. Ông bị đưa sang Ai-cập, và tại đó Đức Chúa Trời đã tiết lộ cho ông biết về 7 năm đói kém sẽ đến sau 7 năm có mùa màng bội thu. Chính nhờ Giô-sép giải mộng cho Pha-ra-ôn mà sự kiện ấy được phát giác. Nhờ đó, Giô-sép được cất nhắc lên địa-vị tể tướng Ai-cập. Sau 20 năm ly cách, các anh của Giô-sép được phục hòa với ông, và họ hiểu rõ việc Đức Chúa Trời đã làm.

Giô-sép nói: “Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh là để giữ gìn sự sống các anh” (Sa 45:5). “Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại làm điều ích cho tôi” (Sa 50:20). Đây là quyền năng thần-hựu: Bàn tay Đức Chúa Trời đang cai-trị và tể-trị trên mọi việc của đời sống. Phao-lô đã kinh nghiệm sự thần-hựu trong cuộc đời và chức-vụ của ông, nên ông mới có thể viết: “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (Rô 8:28). Do sự thần-hựu của Ngài, Đức Chúa Trời đã khiến cho Hội thánh tại Phi-líp quan tâm đến các nhu cầu của Phao-lô, mà việc ấy lại xảy ra đúng lúc Phao-lô cần đến tình yêu của họ hơn hết! Họ đã từng quan tâm, nhưng thiếu cơ hội để giúp đỡ. Nhiều Cơ-đốc nhân ngày nay có cơ hội nhưng lại thiếu quan tâm!


Đời sống không phải là một chuỗi các sự việc tình cờ, mà là một chuỗi các sự việc đã có chủ đích. “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi mắt ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi” (Thi 32:8). Áp-ra-ham đã gọi Đức Chúa Trời là “Đức Giê-hô-va Di-rê” nghĩa là “Đức Giê-hô-va sẽ sắm sẵn tại đó” (Sa 22:14). “Khi người đã đem chiên ra hết, thì đi trước, chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người” (Gi 10:4). Đây là sự thần-hựu, một nguồn mạch kỳ diệu để chúng ta hài lòng.


2. Quyền-năng không thất bại của Đức Chúa Trời (Phi 4:11-13). Phao-lô nhanh chóng cho các bạn ông biết ngay rằng ông không hề phàn-nàn than phiền điều gì! Niềm vui của ông không hề lệ thuộc vào hoàn-cảnh hay các sự việc xảy ra niềm vui của ông đến từ một nguồn sâu xa hơn, một điều nằm ngoài cả sự ngheo khó lẫn sự thịnh vượng.

Phần đông chúng ta đều đã học tập được cách “chịu nghèo hèn” vì khi gặp khó khăn chúng ta biết chạy ngay đến với Chúa. Nhưng có rất ít người học biết cách “được dư dật.” Sự hưng thịnh từng gây nhiều thiệt hại cho các tín-hữu hơn là nghịch cảnh.

“Vả ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa nhưng ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ” (Kh 3:17).


Từ ngữ “tập” trong Phi 4:12 không phải là chữ “tập” trong Phi 4:11. Chữ tập ở đây có nghĩa là “bắt đầu làm quen với sự huyền nhiệm” Từ ngữ này vốn được các tôn giáo ngoại đạo dùng ám chỉ “các huyền-nhiệm nội tâm” của họ. Qua việc bị xét xử, thử thách, Phao-lô đã được được làm quen với sự huyền-nhiệm diệu kỳ của sự hài lòng mặc dù nghèo hèn hay thịnh vượng. “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Phi 4:13). Chính quyền-năng của Đức Chúa Trời trong ông đã ban cho ông sự hài lòng thuộc-linh.


Sa mù đã tràn vào O'Hara Field là phi trường của thành phố Chicago, khiến chuyến bay của tôi phải bị đình hoãn. Tôi đang ngồi trong nhà ga của phi trường, lặng lẽ đọc sách, vừa cầu-nguyện xin Đức Chúa Trời thực hiện các kế hoạch của Ngài về chuyến đi của tôi. Gần bên tôi là một ông sang trọng, cũng chờ một chuyến bay với tôi, nhưng ông ta cứ đi tới đi lui như một con sư tử bị nhốt trong chuồng vậy, và những lời lẽ mà ông ta dùng để mô tả sương mù còn khiến cho bầu không khí ngột ngạt thêm! Tôi tự nghĩ thầm: “Đây là một người chẳng có tiềm lực nội tâm nào cả”, sau đó, ông ta hỏi tôi làm thế nào lại có thể bình tĩnh như thế khi tất cả các chuyến bay đều bị trễ giờ, và tôi được cơ hội chia sẻ Phúc-Âm cho ông ta.


Lúc bay về Chicago từ New York thượng qua New York City, chúng tôi phải tạm dừng lại phi trường Kennedy hơn một tiếng đồng hồ. Lúc cô tiếp-viên thông-báo chúng tôi sẽ đáp xuống sau một tiếng đồng hồ nữa, từ băng ghế bên kia, ông ta đã thét lên: “Đưa chai rượu cho tôi.” Đây là tiềm-lực duy nhất của ông ta khi mọi sự đều xảy ra trái với ý muốn của ông ta.


Cả cõi thiên nhiên đều chịu lệ thuộc vào các tiềm-lực vẫn còn bị giấu kín. Những cây cổ thụ sai các rễ của nó đâm sâu xuống lòng đất để lấy từ đó ra nước và các khoáng chất. Các con sông đều có nguồn trên những ngọn núi đầy tuyết phủ. Phần quan-trọng nhất của một cội cây là phần mà bạn không thể nhìn thấy được, tức là bộ rễ, và phần quan-trọng nhất của đời sống Cơ-đốc nhân là phần mà chỉ có một mình Đức Chúa Trời mới nhìn thấy được mà thôi.

Nếu chúng ta không lấy đức-tin để rút tỉa từ các tiềm-lực sâu xa của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ bị thất bại trước các áp lực của cuộc đời. Phao-lô trông-cậy vào quyền-năng của Đấng Christ đang vận hành trong đời sống ông (Phi 1:6,21; Phi 2:12-13; Phi 3:10). “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng Christ” là khẩu hiệu của Phao-lô nó cũng có thể là khẩu hiệu của chúng ta nữa.


“Tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì nhờ sức lực của Đấng đang sống trong tôi” là cách J.B.Phillips dịch Phi 4:13. Bản Diễn Ý thì dịch “Tôi đủ sức làm mọi việc (Đức Chúa Trời yêu cầu) nhờ năng lực Chúa cho”. Dù bạn thích bản dịch nào, chúng đều nói một điều giống nhau: Cơ-đốc nhân có đầy đủ năng lực bên trong mà người ấy có cần để sẵn sàng đáp-ứng thật đầy đủ các đòi hỏi của đời sống. Chúng ta chỉ cần lấy đức-tin để “giải phóng” nguồn năng lực này.


Tất cả các Cơ-đốc nhân đểu phải đọc quyển sách nhan đề: “Bí Quyết Thuộc-Linh” của Hudson Taylor (Hudson Taylor's Spiritual Secret) của Tiến-sĩ và Bà Howard Taylor, vì nó minh họa cái nguyên-tắc của quyền-năng bên trong cuộc đời một giáo-sĩ lừng danh đã phục-vụ tại Trung Quốc.

Qua nhiều năm, Hudosn Taylor đã làm việc gian khổ và cảm thấy mình phải trông-cậy vào Đấng Christ đáp-ứng các nhu-cầu của mình, nhưng dù sao thì ông vẫn không được vui vẻ cũng như được tự-do trong chức-vụ. Rồi một bức thư của một người bạn đã mở mắt cho ông thấy sự đầy đủ của Đấng Christ.

Ông nói: “Không phải là nhờ tin-cậy vào chính sự trung-tín của tôi, mà nhờ nhìn ra để thấy được Đấng Thành-Tín.” Đây là bước ngoặt trong cuộc đời ông. Trong từng khoảnh khắc một, ông đã rút tỉa quyền-năng của Đấng Christ cho từng trách-nhiệm trong ngày và quyền-năng của Đấng Christ đã đưa ông vượt qua tất cả.


Chúa Giê-xu đã dạy cùng một bài học như thế trong bài giảng về gốc nho và nhánh trong Gi 15:1-17. Ngài là gốc nho chúng ta là các nhánh nho. Một nhánh nho chỉ có ích nếu sanh được nhiều trái nếu không bạn có thể đem thiêu nó đi. Nhánh nho không sinh trái nhờ chính nó tự lực, mà nhờ hút nhựa sống từ Gốc Nho. “Ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Gi 15:5). Hễ người tín-hữu duy trì mối tương-thông của mình với Đấng Christ, thì quyền-năng của Đức Chúa Trời luôn có sẵn để giúp người ấy làm mọi sự. “Tôi tự túc trong sự sung túc của Đấng Christ” (Phi 4:13 bản AMP).


Sự tể trị thần hựu và quyền-năng không hề thất bại của Đức Chúa Trời là 2 tiềm-lực thuộc-linh mà chúng ta có thể từ đó rút tỉa để có thể thích hợp cho mọi nhiệm-vụ trong đời sống. Nhưng hãy còn một tiềm-lực thứ ba nữa:


3. Lời-hứa bất biến của Đức Chúa Trời (Phi 4:14-23) Phao-lô cám ơn Hội thánh tại Phi-líp về món quà quá hào hiệp của họ. Ông so sánh món quà tặng đó của họ với 3 điều rất quen thuộc:


(1) Một cây đang đâm chồi (Phi 4:10). Từ ngữ “lo tưởng” (trong Anh văn là flourished) mang ý niệm về một nụ hoa hay một chồi non hay búp hoa sắp nở. Chúng ta thường phải trải qua “mùa đông” thuộc linh, nhưng rồi mùa xuân cũng đến, và có sự sống, phước hạnh mới. Bản thân cội cây không tự nhắc mìn lên hay di chuyển gì hoàn cảnh cũng không có gì thay đổi. Chỗ khác nhau, ấy là sự sống mới từ bên trong.


(2) Một sự đầu tư (Phi 4:14-17). Phao-lô xem món quà tặng truyền-giáo của họ là một số vốn đầu tư sẽ sinh nhiều lợi lộc thuộc-linh cho họ. Từ ngữ “chia sẻ” ở đây là chữ “thông-công” rất quen thuộc của chúng ta. Hội thánh đã tham gia một cuộc dàn xếp là “ban cho và nhận lãnh” Hội thánh cung-cấp phần vật chất cho Phao-lô và nhận được phần thuộc-linh từ Chúa. Chúa luôn luôn giữ sổ sách (kế toán) cẩn thận và chẳng bao giờ sai trật trong việc chi trả số tiền lời thuộc-linh! Sở dĩ Hội thánh nghèo thiếu là vì không chịu chia-sẻ phần vật chất với các Hội thánh khác.


(3) Một của lễ (Phi 4:18). Phao-lô xem món quà của họ như một của lễ thuộc-linh, đặt trên bàn thờ để tôn-vinh Đức Chúa Trời. Trong đời sống các Cơ-đốc nhân, có những “của lễ thuộc-linh” như thế (IPhi 2:5). Chúng ta phải dâng thân thể mình làm sinh-tế (Rô 12:1-2), cũng như lời ca ngợi tán tụng của môi miệng chúng ta (Hêb 13:15).

Các việc lành là một của lễ dâng lên cho Chúa (Hêb 13:16), và các linh-hồn hư-vong mà chúng ta được đặc quyền đưa về với Đấng Christ (Rô 15:16) cũng vậy. Ở đây Phao-lô xem các tín-hữu người Phi-líp như các thầy tế-lễ, tặng món quà của họ như dâng một của lễ lên cho Chúa. Theo Ma 1:6-14, chúng ta cần dâng những vật tốt nhất của mình có cho Chúa.


Nhưng Phao-lô không xem món quà đó như chỉ đơn giản đến từ Phi-líp. Ông thấy nó là sự cung-ứng của thiên-đàng cho những nhu-cầu của ông. Lòng tin-cậy của Phao-lô vốn đặt nơi Chúa. Có một sự tương phản đáng chú ý giữa Phi 4:18 và Phi 4:19. Ta có thể diễn ý như sau: “Các bạn đáp-ứng nhu-cầu của tôi, còn Đức Chúa Trời thì đáp-ứng nhu-cầu của các bạn. Các bạn đáp-ứng một nhu-cầu của tôi, nhưng Đức Chúa Trời tôi sẽ đáp-ứng tất cả nhu-cầu của các bạn. Các bạn gởi tặng tôi sự nghèo khó của các bạn, nhưng Đức Chúa Trời sẽ lấy những gì là phong phú của vinh-quang Ngài để cung-ứng cho nhu-cầu của các bạn.”


Đức Chúa Trời không hứa cung-ứng mọi sự cho “lòng tham” của chúng ta. Khi nào con cái Chúa sống trong ý chỉ Ngài, phục-vụ cho sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời, mọi nhu-cầu của người ấy sẽ được đáp-ứng.

Hudson Taylor thường nói: “Khi công việc của Đức Chúa Trời được thực hiện theo đường lối Ngài và vì sự vinh-hiển Ngài, thì nó sẽ không bị thiếu tiếp liệu”.


Một mục-sư trẻ đến với một Hội thánh có thói quen gây quỹ thường niên bằng cách tổ chức những bữa tiệc hay bán một số mặt hàng, và những việc đại loại như thế.

Ông bảo với các chức-viên của mình rằng ông không nhất trí với chương trình đó của họ và gợi ý: “Xin chúng ta cầu-nguyện xin Chúa đáp-ứng mọi nhu-cầu. Đến cuối tháng, cứ trang trải mọi chi phí trước, còn tiền lương của tôi thì để sau cùng. Nếu không đủ tiền lương cho tôi, thì tôi là người chịu thiệt, chớ không phải là Hội thánh. Nhưng tôi nghĩ là sẽ chẳng có ai phải chịu thiệt thòi đâu.” 

Các chức viên đoan chắc là cả ông mục-sư lẫn Hội thánh đều sẽ chết, nhưng sự việc đã không xảy ra như thế. Mỗi tháng, mọi chi phí đều được trang trải và đến cuối năm ngân quỹ còn thừa lần đầu tiên sau nhiều năm.


Sự hài lòng đến từ tiềm-lực thích hiệp. Những tiềm-lực của chúng ta là sự thần-hựu, quyền-năng và lời-hứa của Đức Chúa Trời. Các tiềm-lực ấy đã đủ cho mọi nhu-cầu của đời sống Phao-lô, vì cũng có thể cung-cấp đầy đủ cả cho chúng ta nữa.


Ứng-Dụng Thư Phi-líp. Bây giờ thì bạn đã học hỏi nghiên-cứu xong bức thư đầy phấn khởi và rất thực tiễn này rồi, vậy đừng đánh mất những gì bạn đã học hỏi được. Điều tốt nhất trong vấn-đề nghiên-cứu Thánh Kinh không phải là học hỏi nhưng là phải sống theo những gì mình đã học hỏi được. Vậy sau đây là vài gợi ý giúp bạn có thể giữ được mãi niềm vui cho đời sống mình.


1. Hãy đặt tâm-trí bạn đầu-phục Chúa lúc bắt đầu mỗi ngày: Đây là một phần của thì giờ đọc Thánh Linh, suy gẫm và cầu-nguyện của bạn.

“Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương-xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ-phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời này nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm-thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào” (Rô 12:1-2).

Hãy lấy đức-tin dâng thân thể, tâm-trí, và ý chí của bạn cho Đức Chúa Trời khi bạn bắt đầu mỗi ngày.


2. Hãy để cho Đức Thánh Linh làm mới lại tâm-trí bạn bằng Lời Đức Chúa Trời. Đọc Kinh Thánh có hệ thống mỗi ngày là việc bạn phải làm nếu bạn muốn chiến thắng và có được niềm vui.


3. Trong khi cầu-nguyện, hãy cầu xin Chúa ban cho bạn mỗi ngày biết sống bằng một tâm-trí chân-chất, sẵn sàng thuận-phục, một tâm-trí thuộc-linh và an-toàn. Lúc suy gẫm về thời biểu làm việc trong ngày, phải chắc chắn là chẳng có gì trong kế hoạch của bạn sẽ có thể cướp đi niềm vui mà Đức Chúa Trời muốn cho bạn có được.

Có lẽ bạn phải gặp một người mà mình không ưa. Hãy cầu xin Chúa cho bạn có được tâm-trí thuận-phục mà bạn cần. Hoặc, có lẽ bạn sẽ phải vượt qua một việc khó khăn. Thế thì, phải chắc chắn là bạn đã có được phần tâm-trí chân-chất, quan tâm đến Đấng Christ và sự tiến triển của Phúc-Âm, chớ không phải chỉ bận tâm đến những gì bạn thích hay không thích mà thôi.


4. Trong ngày, nên quan tâm luôn đến tâm-trí của bạn! Nếu bạn cảm thấy bị mất sự bình-an và niềm vui trong lòng, hãy dừng lại và thực hiện việc kiểm điểm: Tôi có tâm-trí chân-chất không? Tôi có vừa đánh mất cơ hội để tôn-vinh Đấng Christ không? Hay tôi đã có hơi hấp tấp, nên đã đánh mất tâm-trí thuận-phục?

Nếu bạn khám phá ra mình đã phạm-tội, thì hãy lập tức xưng nó ra với Chúa (IGi 1:9). Nếu có thể được, nên quay lại và sửa chữa sai lầm của bạn. Nếu không thể làm được việc ấy, hãy cầu xin Chúa cho bạn một cơ hội khác để làm-chứng cho Ngài.


5. Hãy canh giữ các cửa ra vào của tâm-trí bạn.

Nên nhớ lời răn bảo của Phao-lô trong Phi 4:8 “Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chân-thật, điều chi đáng-tôn, điều chi công-bình, điều chi thanh-sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân-đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến”.

Khi một ý nghĩ không tốt, bất khiết len lỏi vào tâm-trí bạn, phải đối phó với nó ngay tức khắc. Nếu bạn nuôi-dưỡng nó, nó sẽ bắt rễ và tăng-trưởng - và sẽ cướp mất niềm vui của bạn. Nhiều khi Sa-tan cũng phóng “tên lửa” của nó vào bạn, và lắm khi nó sẽ lợi dụng người khác để làm việc ấy thay nó. Một trong những phương pháp tốt nhất để đánh bại loại tư tưởng đó, là đổ đầy Kinh Thánh cho tâm-trí bạn.Vậy hãy dành thì giờ học thuộc lòng Lời Chúa.


6. Nên nhớ niềm vui của bạn không thể là một điều làm thỏa mãn thói ích kỷ của bạn nó phải là cách thức Đức Chúa Trời dùng bạn để tôn-vinh Chúa Giê-xu Christ và giúp đỡ người khác. Đấng Christ đứng hàng đầu, thứ hai là tha-nhân, cuối cùng là chính ta và kết quả sẽ là NIỀM VUI.



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page