...lúc Ti-mô-thê đang hầu-việc tại thủ đô Ê-phê-sô, Tít lại đang bận rộn trên đảo Cơ-rết. Tít là một tín-đồ Hy-lạp (Ga 2:3) đã phục sự đắc lực cho Phao-lô trong những công-tác đặc biệt với Hội thánh tại Cô-rinh-tô (IICôr 7:13-14; IICôr 8:6,16,23; IICôr 12:18).
Rõ ràng là Tít đã được chinh-phục về với Đấng Christ qua chức-vụ cá nhân của Phao-lô (Tit 1:4) như Ti-mô-thê vậy (ITim 1:2). Phao-lô đã viết, “Ấy vậy, nói về Tít, thì là bạn bè tôi, và là người cùng làm việc với tôi ở nơi anh em” (IICôr 8:23).
Nhưng các tín-hữu trên đảo Cơ-rết không phải là những người dễ dàng nhất để làm việc chung, và Tít phần nào đã ngã lòng. Giống như Ti-mô-thê, có lẽ Tít là một thanh niên, Nhưng khác với Ti-mô-thê, ông không có nhút nhát và đau yếu về thuộc thể.
Phao-lô đã từng ở với Tít trên đảo Cơ-rết và đã để ông nơi đó để sửa lại những điều sai trật. Vì những người Do-thái ở đảo Cơ-rết có mặt tại lễ Ngũ Tuần (Công 2:11), có thể là họ đã đem Phúc-Âm đến cho xứ sở của mình.
Tít được dự phần trong các nan-đề! Các Hội thánh cần những người lãnh đạo đủ tư cách, và những nhóm tín-hữu khác nhau tại các Hội thánh cần được chăn dắt. Một nhóm giáo-sư giả đang cố tìm cách pha trộn luật-pháp Do-thái với Phúc-Âm ân-điển (Tit 1:10,14), trong khi một số tín-đồ gốc Dân Ngoại thì đang lạm dụng sứ-điệp của ân-điển và biến nó trở thành sự phóng túng dâm-loạn (Tit 2:11-15).
Theo bản tánh tự nhiên, các tín-hữu tại Cơ-rết không dễ dàng để làm việc chung (Tit 1:12-13), và Tít cần sự nhịn-nh ục và tình yêu-thương vượt trội hơn. Rất có thể sẽ dễ dàng cho Tít khi đã “nghe tiếng gọi của Đức Chúa Trời đi đến nơi nào khác,” nhưng ông cứ ở lại đó và làm trọn công việc của mình.
Khi bạn đọc và nghiên-cứu bức thư này, bạn sẽ khám phá rằng đây là một bản tường thuật súc tích của bức thư thứ nhất Phao-lô gửi cho Ti-mô-thê. Trong chương đầu tiên này, Phao-lô nhắc Tít nhớ đến 3 trách-nhiệm ông phải hoàn-thành:
1. Rao-giảng Lời Đức Chúa Trời (Tit 1:1-4)
Trong lời chào thăm khá dài này, Phao-lô nhấn mạnh tầm quan-trọng của Lời Đức Chúa Trời. Bốn lần ông dùng giới từ Hy-lạp kata, có nghĩa gốc là “xuống.” Nhưng trong mạch văn này, kata giúp chúng ta nhìn thấy mối tương quan giữa chức-vụ với Lời Đức Chúa Trời.
Hãy xem xét 4 cụm từ sau:
a. “Theo đức-tin của những kẻ được chọn của Đức Chúa Trời” (Tit 1:1a).
Chức-vụ của Phao-lô được ảnh-hưởng bởi Lời của Đức Chúa Trời. Ông là “một tôi-tớ của Đức Chúa Trời” (chỗ duy nhất Phao-lô dùng cụm từ này) và là “một sứ-đồ của Chúa Giê-xu Christ.
Nhưng mục đích của chức-vụ ông là chia sẻ đức-tin, phần chân-lý chứa đựng trong Lời của Đức Chúa Trời. “Những kẻ được chọn của Đức Chúa Trời” là những người đã tin nhận Chúa Giê-xu Christ làm Cứu Chúa mình (Phi 1:1-5; Êph 1:4).
b. “Chân-lý theo sau theo sự tin-kính” (Tit 1:1b).
“Sự tin kính” là một ý niệm quan-trọng trong bức thư này, y như trong ITi-mô-thê, ngay cho dù từ thực tế này chỉ được dùng có một lần. Nhưng sự lặp lại của “những việc lành” nhấn mạnh quan-điểm này (Tit 1:16; Tit 2:7,14; Tit 3:1,5,8,14).
Lẽ thật của Phúc-Âm biến đổi một đời sống từ sự không tin-kính (Tit 2:12) đến đời sống thánh-khiết.
Đáng buồn thay, có những người trong các Hội thánh trên đảo Cơ-rết, giống như một số thuộc-viên trong Hội thánh ngày nay, xưng mình đã được cứu, nhưng đời sống họ chối bỏ lời tuyên xưng đức-tin của mình (Tit 1:12).
Đức-tin nơi Chúa Giê-xu Christ này không chỉ cứu chúng ta hôm nay, và khiến đời sống chúng ta tin-kính nhưng nó cũng đem đến cho chúng ta sự trông-cậy về tương lai (Tit 1:2).
Chúng ta có sự đảm-bảo chắc chắn cho tương lai vì cớ những lời-hứa của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời không thể nào nói dối. (Dan 23:19)
Chúng ta được sanh lại “để có một sự trông-cậy sống” (IPhi 1:3), vì chúng ta đã tin nơi Đấng Christ hằng sống. Tín-đồ chúng ta hiện nay có sự sống đời-đời (IGi 5:11-12; Gi 3:16) nhưng khi Chúa Giê-xu Christ trở lại, chúng ta sẽ hưởng sự sống đời-đời theo một cách thức còn lớn lao hơn nữa.
c. “Theo mệnh-lệnh của Đức Chúa Trời” (Tit 1:3).
Đức Chúa Trời mạc khải sứ-điệp của Ngài qua việc rao-giảng. Điều này không có nghĩa là hành động công-bố Lời Chúa, nhưng đúng hơn là nội dung của sứ-điệp ấy.
“Ngài hài lòng bởi sự rao-giảng rồ dại (sứ-điệp của Thập-tự giá) để cứu-rỗi những kẻ tin” (ICôr 1:21).
Lời của Phúc-Âm này được giao phó cho Phao-lô (ITi 1:11), và ông đã giao phó cho Tít. Chức-vụ này là theo mệnh-lệnh của Đức Chúa Trời chớ không phải do nơi một người nào (Ga 1:10-12).
Như trong ITi-mô-thê, danh hiệu “Cứu Chúa” thường được lặp lại trong Tít (Tit 1:3-4; Tit 2:10,13; Tit 3:4,6). Lời do Đức Chúa Trời ban-bố được viết ra bày tỏ Cứu Chúa này, vì nhu-cầu của tội-nhân là một Cứu Chúa.
Ân-điển của Đức Chúa Trời đem đến sự cứu-rỗi, chớ không phải sự định-tội (Tit 2:11). Chúa Giê-xu đã có thể đến thế-gian này như một quan tòa, nhưng Ngài lại chọn đến như một Đấng Cứu Thế (Lu 2:10-11).
d. “Theo đức-tin chung” (Tit 1:4).
Từ “chung” có nghĩa là “có chung.” Đức-tin này thuộc về tất cả dân-sự của Đức Chúa Trời chớ không chỉ một ít kẻ được chọn. Cơ-đốc nhân trong các nhóm hệ-phái khác nhau có thể mang những danh hiệu khác nhau, nhưng tất cả những người có cùng đức-tin cứu-rỗi đều hưởng “sự cứu-rỗi chung” (Giu 1:3).
Có một phần chân-lý rõ rệt được giao phó trong Hội thánh, “đức-tin đã truyền cho các thánh một lần đủ cả” (Giu 1:3, bản NIV). Bất cứ điều gì tẻ tách khỏi “đức-tin chung” này đều là sự dạy dỗ giả dối và không được khoan nhượng trong Hội thánh.
Khi ôn lại 4 câu này, bạn có thể thấy là Phao-lô liên-hệ tất cả mọi sự trong chức-vụ của ông với Lời Đức Chúa Trời. Sự kêu-gọi của ông và việc rao-giảng của ông tùy thuộc vào đức-tin nơi Đấng Christ.
Ông muốn Tít nắm vững thực tế này và đặt Lời Đức Chúa Trời ưu tiên hàng đầu trong chức-vụ mình. Từ đầu đến cuối cả 3 Thư tín Giám-mục này có sự chú trọng đến việc dạy dỗ Lời Đức Chúa Trời.
Các Hội thánh địa phương cần phải là “những học viện Thánh Kinh” nơi mà Lời Đức Chúa Trời được dạy dỗ cách có hệ thống và theo một cách thức thực tiễn.
2. Phong-chức cho những người lãnh đạo đủ tư cách (Tit 1:5-9)
Một lý-do Phao-lô đã để Tít ở lại trên đảo Cơ-rết là để ông có thể tổ chức các hội chúng địa phương và “sắp đặt” những việc còn đang thiếu sót. Cụm từ này là một thuật ngữ y học nó được ứng-dụng cho việc sắp xếp một chi trong thân bị cong vẹo.
Tít không phải là nhà độc tài thuộc-linh của đảo này, nhưng ông là người đại diện chính thức của sứ-đồ Phao-lô có thẩm quyền hành động. Cách làm việc của Phao-lô là phong-chức cho các trưởng-lão trong các Hội thánh ông đã thiết lập (Công 14:23), nhưng ông đã không thể ở lại tại Cơ-rết lâu đủ để hoàn thành công tác này.
Một số phẩm chất kể ra ở đây (Tit 1:6-8), đã được thảo luận trong phần nghiên-cứu ITi 3:2-3 của chúng ta: “không chỗ trách được, chồng chỉ một vợ . . . có tiết-độ, không hung bạo, không ham tiền bạc . . . hay tiếp khách . . . không mê rượu.”
Sự kiện những tiêu-chuẩn này áp-dụng cho các Cơ-đốc nhân trên đảo Cơ-rết cũng như cho những người tại thành Ê-phê-sô chứng tỏ rằng tiêu-chuẩn đánh giá của Đức Chúa Trời dành cho những người lãnh đạo không thay đổi bất thường.
Một Hội thánh ở thành phố lớn và một Hội thánh ở tỉnh nhỏ cả hai đều cần những người tin-kính giữ vai trò lãnh đạo.
Giờ thì, hãy xem xét 9 phẩm chất phụ thêm:
a. “Có con cái trung-tín” (Tit 1:6b).
“Trung-tín” có nghĩa là “có đức-tin.” Con cái của người giám-mục cần phải tin Chúa. Xét cho cùng, nếu một tôi-tớ của Đức Chúa Trời không thể chinh-phục con cái riêng của mình cho Đấng Christ, thì người ấy có thể mong đợi sự thành công gì với những người bên ngoài?
Đây là nguyên-tắc tương tự mà Phao-lô nhấn mạnh với Ti-mô-thê (ITi 3:5) – đời sống Cơ-đốc và sự hầu-việc Chúa phải bắt đầu tại gia đình. Con cái trong gia đình một trưởng-lão phải không chỉ được cứu, mà còn phải là những gương-mẫu tốt đẹp của sự vâng-lời và tận hiến.
Việc bị kiện cáo là “buông tuồng” (đời sống phóng túng) hoặc không vâng-lời (“ngỗ nghịch, ” không thể khuyên bảo được) sẽ khiến cha chúng không đủ tư cách giữ chức trưởng-lão.
Điều này, dĩ nhiên, áp dụng cho con cái vẫn còn ở trong gia đình, dưới thẩm quyền của cha mình.
Quá thường xuyên, những người mới tin Chúa cảm thấy một sự kêu-gọi vào chức-vụ và mong muốn được phong chức trước khi họ có cơ hội xây dựng gia đình mình trong đức-tin.
Nếu con cái còn nhỏ, vấn-đề không quá lớn lao nhưng con cái đã trưởng-thành cảm thấy sửng sốt vô cùng khi đột nhiên cả nhà trở nên “ngoan đạo!” Một người cha khôn-ngoan trước hết chinh-phục gia đình riêng của mình cho Đấng Christ và tạo cho họ một cơ-hội để tăng-trưởng trước khi người ấy chuyển chỗ ở và dời đến trường Kinh-Thánh. Chúng ta sẽ gặp ít khó khăn hơn trong chức-vụ nếu phương cách này được tuân theo thường xuyên hơn.
b. “Kẻ quản-lý của Đức Chúa Trời” (Tit 1:7a).
Một người quản-lý không làm chủ nhưng quản-lý tất cả những gì chủ đặt trong tay mình. Có lẽ người quản-gia nổi tiếng nhất trong Kinh Thánh là Giô-sép, người có toàn quyền cai-quản tất cả mọi việc trong nhà Phô-ti-pha (Sa 39:1-9).
Đặc tính quan-trọng nhất của một người quản-lý là sự trung-tín (Côl 4:1-2; Mat 25:21). Người ấy phải sử dụng những gì chủ giao cho mình vì lợi ích và vì sự vinh-hiển của chủ, chớ không vì bản thân mình cách riêng tư (Lu 16:1-13).
Người trưởng-lão không bao giờ được nói, “Đây là của mình!” Tất cả những gì người ấy có đều đến từ Đức Chúa Trời (Gi 3:27) và phải được dùng cho Đức Chúa Trời. Thời giờ, tài sản, những ước muốn, và khả năng của người ấy tất cả đều do Chúa cho người ấy vay mượn và người ấy phải trung-tín sử dụng chúng để tôn-cao Đức Chúa Trời và xây-dựng Hội thánh. Dĩ nhiên, tất cả Cơ-đốc nhân cần phải là những người quản-lý trung-tín, chớ không chỉ các mục-sư mà thôi!
c. “Không cứng cõi kiêu-ngạo” (Tit 1:7b).
“Không hống-hách” (bản NIV), luôn tự đề cao để làm theo ý riêng mình. Trong khi các thuộc-viên Hội thánh cần phải tôn-trọng và tuân-theo sự lãnh đạo của các trưởng-lão, họ cần phải biết chắc rằng đó là sự lãnh đạo chớ không phải sự chuyên-quyền độc tài.
Một mục-sư cứng cõi thì kiêu-ngạo, sẽ không tiếp thu những lời đề nghị và phê bình của tín-hữu mình, và chắc chắn người ấy luôn theo đường riêng mình.
d. “Không nhanh giận-dữ” (Tit 1:7c).
Người ấy không được nóng tính. Có một sự giận dữ công-chính nghịch với tội-lỗi (Êph 4:26), nhưng đa số cơn giận của chúng ta là không công-bình và nhằm chống trả lại người khác.
Tự nó, sự nóng tính là một điều tốt. Một người công-bình cần phải giận dữ khi nhìn thấy những điều sai trái. Có người đã nói, “Sự nóng tính là một điều thật tuyệt đến nỗi thật đáng tiếc khi đánh mất nó.”
Quả là lời khuyên khôn-ngoan vậy.
e. “Yêu-mến những người lành” (Tit 1:8a).
“Một người yêu-mến những điều lành” (NIV) là một cách dịch thay thế, và điều này bao gồm những người lành. Nhưng nó cũng bao gồm sách báo hay, âm nhạc hay, những mục đích tốt đẹp, và nhiều điều tốt khác.
Một người là một người lành vì người ấy có một tấm-lòng lành và sống giữa những điều tốt lành. Thật khó tin được rằng một tôi-tớ tận-hiến của Đức Chúa Trời sẽ cố tình liên kết với những điều xấu xa cho bản thân và gia đình người ấy.
f. “Công-bình” (Tit 1:8b).
Từ dịch thích hợp là “ngay-thẳng.” Người ấy cần phải là một người ngay thẳng luôn trung-thành với lời mình nói và thực hành những gì mình rao-giảng. Cách cư xử của người ấy là công-bình.
g. “Thánh-khiết” (Tit 1:8c).
Từ “không bị hoen ố” nêu lên ý này.
“Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là thánh” (IPhi 1:16). Nghĩa gốc của từ “thánh-khiết” là “khác biệt.” Cơ-đốc nhân khác biệt với những tội-nhân hư-mất, vì Cơ-đốc nhân là những người được dựng nên mới bởi ân-điển của Đức Chúa Trời (IICôr 5:17).
h. “Tiết-độ” (Tit 1:8d).
Nghĩa của từ này là “tự chủ, ” và nó áp-dụng cho những ham muốn và hành vi của một người. Từ đồng nghĩa là “được khép vào kỷ luật”.
Một vị mục-sư phải có kỷ luật trong việc sử dụng thời gian của mình để công việc của ông có thể được hoàn tất. Ông phải đặt những ham muốn của mình vào kỷ luật, đặc biệt khi những thuộc-viên có thiện chí cố tìm cách nhồi nhét ông với cà phê và bánh ngọt!
Ông phải kiểm soát tâm-trí và thân thể mình, khi ông đầu-phục Đức Thánh Linh (Ga 5:23, từ “tiết-độ” ở đây có nghĩa là “tự-chủ”).
i. “Hằng giữ lời thành-tín” (Tit 1:9).
“Thành-tín” là một từ Phao-lô ưa thích (ITim 1:15; ITim 4:9; IITim 2:11; Tit 3:8). Lời Đức Chúa Trời là đáng tin-cậy, vì Đức Chúa Trời không thể nói dối (Tit 1:2). Bởi vì Lời Chúa là thành-tín, nên những ai dạy dỗ và rao-giảng Lời Chúa cần phải trung-tín.
Một lần nữa, Phao-lô dùng cụm từ “đạo lành” mà chúng ta đã gặp trong ITi-mô-thê (Tit 1:10). Nó có nghĩa là “đạo-lý lành mạnh” kích thích sự tăng-trưởng thuộc-linh.
Vì thế các trưởng-lão có một chức-vụ đối với Lời Chúa bao gồm 2 phần: (1) gây dựng Hội thánh với đạo-lý “lành mạnh,” và (2) bác bẻ các giáo-sư giả là kẻ phổ biến đạo-lý không lành mạnh.
Người tín-hữu ngây thơ trong Hội thánh nói, “Chúng tôi không cần đạo-lý! Chỉ cần dạy chúng tôi những tư tưởng sùng kính hữu ích là đủ!” họ thật sự không hiểu biết điều mình đang nói. Tách rời khỏi chân-lý (và từ này hàm ý đạo lý trong Kinh-Thánh) không thể nào có sự giúp đỡ hay sự lành mạnh về thuộc-linh.
Việc đề cập đến những người chống đối đạo thật đưa Phao-lô đến chỗ nêu lên trách-nhiệm thứ ba mà Tít phải làm trọn.
3. Làm cho các giáo-sư giả nín lặng (Tit 1:10-16)
Các giáo sư giả chẳng bao lâu sau đã xuất hiện trong Hội thánh ban đầu. Bất cứ nơi nào Đức Chúa Trời gieo chân-lý, Sa-tan nhanh chóng xuất hiện để gieo những sự giả dối.
Tít đối diện một kẻ thù tương tự với kẻ thù được mô tả trong ITi-mô-thê – sự pha trộn của việc tuân-giữ luật-pháp Do-thái, những truyền thống do con người đặt ra, và chủ nghĩa thần-bí. Phao-lô nêu lên 3 thực-tế về các giáo-sư giả này.
a. Bản chất của cá nhân họ.
Phao-lô không có điều tốt đẹp nào để nói về họ! Họ sẽ không thuận-phục Lời Đức Chúa Trời hay thẩm-quyền của tôi-tớ Đức Chúa Trời, vì họ ngỗ ngược. Từ dịch thích hợp là “phản loạn.”
Hãy cảnh giác trước các giáo-sư không tự đặt mình dưới thẩm-quyền.
• Họ là những kẻ nói suông vô ích.
Những gì họ nói gây ấn-tượng nơi kẻ khác, nhưng không chứa đựng nội dung hay đại ý gì. Khi bạn “tóm tắt lại,” nó chỉ là không khí nóng bỏng. Hơn thế nữa, họ trổi vượt trong việc nói, không phải trong việc làm. Họ có thể khuyên người khác phải làm gì, nhưng họ không tự mình làm những điều đó.
Xin lưu ý đặc biệt Tit 1:16.
Điều rất đáng buồn là họ lừa dối người khác bởi những đạo-lý giả dối của mình. Họ tự nhận là đang dạy dỗ chân-lý, nhưng lại là những kẻ kể xấu chuyện người khác. Bởi vì chính mình họ đã bị Sa-tan lừa dối, nên họ lừa dối người khác, “dạy dỗ những điều không nên dạy” (Tit 1:11).
• Họ có tánh xác thịt và tinh thần thế-gian: là “những kẻ dối trá, là thú dữ, những kẻ ham ăn mà làm biếng” (Tit 1:12). Thật là một bản cáo trạng kinh khiếp! Thay vì sống cho những điều tốt đẹp của đời sống thuộc-linh, họ sống cho những ham muốn riêng của mình.
Những tính từ Phao-lô dùng thu hút sự chú ý của người đọc.
-Những người này không chỉ là “thú vật,” mà là “những thú dữ”
-Họ không chỉ là “những kẻ ham ăn,” mà là “những kẻ ham ăn biếng nhác.”
-Họ là những kẻ có danh tiếng, chớ không phải là tôi-tớ.
-Họ “sống bám” vào những kẻ theo họ, và (đúng với bản tánh con người) những kẻ theo họ ưa thích điều đó!
*Phao-lô tóm tắt đặc-tính của họ trong câu 16.
-Họ “đáng gớm ghiếc,” nghĩa là “đáng ghét, đáng ghê tởm.” Cơ-đốc nhân có giác quan thuộc-linh tốt đẹp sẽ hoàn toàn phẫn nộ với đặc-tính và cách cư-xử của những giáo-sư này, và sẽ không bao giờ theo họ.
“Trái-nghịch” có nghĩa là “họ không thể và sẽ không thuyết phục được.” Tâm-trí họ đã quyết và họ sẽ không đối diện với chân-lý.
“Đầy tội-lỗi” nghĩa đen là “không thể nào đậu kỳ thi.” Đức Chúa Trời không dùng họ bởi vì họ đã được chứng-tỏ là không đủ năng lực. Cùng từ Hy-lạp này được dịch là “kẻ bị bỏ” trong ICôr 9:27 và trong ngữ cảnh liên-hệ đến điền kinh này nó có nghĩa là “bị loại ra không cho thi.”
Sau khi đã mô-tả tính-chất của những giáo-sư này, Phao-lô kế đó chia-sẻ một thực tế thứ hai.
b. Những điều họ đã làm.
• Bức tranh thật rõ:
Những giáo-sư giả này nói dối từ nhà này sang nhà khác và do đó phá đổ đức-tin của các tín-hữu. Nhiều gia đình mạnh mẽ bị ảnh hưởng bởi các đạo-lý không lành mạnh của họ.
Về một mặt, họ đang dạy dỗ việc tuân-giữ luật-pháp của Do-thái giáo (“những người chịu cắt-bì,” Tit 1:10; Tit 3:9) mà Phao-lô chối bỏ. Họ cũng đang dạy dỗ “những truyện huyễn của người Do-thái” (Tit 1:14), là điều có lẽ mô tả những sự diễn giải không có thật về các gia phổ trong Cựu-ước (ITim 1:4).
Tôi không bao giờ hết ngạc nhiên trước những điều một số người nhận từ Thánh Kinh! Có lần tôi tham dự một chương trình nói chuyện điện thoại trên một đài phát thanh ở Chicago, thảo luận về lời tiên-tri trong Kinh-Thánh.
Một người gọi điện thoại đến và tìm cách tiếp tục chương trình bằng cách công-bố những sự giải nghĩa lạ kỳ của ông ta về những lời tiên-tri của Sách Đa-ni-ên. Ông chối bỏ sự giải thích rõ ràng nêu lên trong Kinh-Thánh và rất khó chịu với tôi, khi tôi từ chối không đồng ý với những ý nghĩ lạ đời của ông.
Tiến-sĩ David Cooper từng nói, “Khi ý nghĩa đơn giản của Thánh Kinh đã rõ ràng dễ hiểu, đừng tìm kiếm ý nghĩa nào khác nữa.” Không cần thiết phải tìm ra “những ý nghĩa sâu xa hơn” cho những sự dạy dỗ đơn giản của Lời Đức Chúa Trời. Một phương pháp học Kinh-Thánh như thế giúp một “học-viên” tìm thấy bất cứ điều gì người ấy đang tìm kiếm!
Vì các tín-hữu Hội thánh đầu tiên thường nhóm lại tại nhà riêng, nên dễ dàng hiểu được làm thế nào “cả nhà” (Tit 1:11) lại có thể bị phá đổ bởi các giáo-sư giả.
Các tín-hữu ngày nay đang có các lớp học Kinh-Thánh tại nhà mình phải thận-trọng kẻo những khách lạ đến dự mang theo các đạo-lý lạ kỳ.
Có những giáo-phái và tà-giáo tìm kiếm những lớp này và gài những tay sai của họ vào chỉ nhằm mục đích giành lấy những người trở lại đạo, vì thế chúng ta phải thận-trọng.
c. Vì sao họ làm điều đó.
Động cơ chính của họ là để kiếm tiền: ”vì mối lợi đáng bỉ” (Tit 1:11). Họ không đang giúp việc cho Hội thánh họ đang sử dụng tôn-giáo để làm đầy túi riêng của mình.
Điều này giải thích vì sao Phao-lô nói rằng một trong những điều kiện đối với một trưởng-lão là “không được tham lợi bẩn.” Một tôi-tớ thật của Đức Chúa Trời không hầu-việc vì lợi ích cá nhân người ấy hầu-việc để giúp đỡ những người khác lớn lên trong đức-tin.
Nhưng đàng sau tính tham-lam này là một vấn-đề khác: Tâm-trí và lương-tâm họ đã bị dơ nhớp (Tit 1:15). Đây là điều xảy ra khi một người sống một đời sống 2 mặt: Bề ngoài, người ấy khiến chúng ta phải tôn-trọng nhưng bề trong, người ấy đang sa sút. Không ai có thể phục-vụ 2 chủ.
Lòng ham-mến tiền bạc của những kẻ dối gạt này khiến họ dạy dỗ đạo-lý giả dối và sống đời sống giả dối, và kết quả là lương-tâm ô uế của họ không cáo trách họ. Đây là một bước gần hơn với “lương-tâm chai lì” mà Phao-lô đã đề cập đến (ITi 4:2).
Tit 1:15 là một trong những câu mà một số người không hiểu biết tìm cách sử dụng để bênh vực cho những việc làm không tin-kính của họ.
“Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch” được dùng để bào chữa cho đủ mọi thứ tội-lỗi. Tôi nhớ đã cảnh cáo một thiếu niên về loại văn chương cậu ta đang đọc, và lời bào chữa của cậu ta là, “Cái đẹp nằm trong mắt của người xem. Tấm-lòng ông hẳn là ô uế nếu ông nhìn thấy tội-lỗi trong những gì tôi đang đọc. Xét cho cùng, ‘Mọi sự là tinh-sạch cho những người tinh-sạch.’”
-Trước tiên, Phao-lô đang bác bẻ sự dạy dỗ giả dối của những kẻ tuân giữ luật-pháp này liên quan đến đồ ăn. Họ đang dạy rằng các luật kiêng ăn của người Do-thái vẫn còn ứng-dụng cho các tín-đồ Cơ-đốc (ITim 4:3-5). Nếu bạn ăn đồ ăn bị nghiêm cấm, tức bạn khiến chính mình bị ô uế, nhưng nếu bạn từ chối thức ăn ấy, bạn trở nên thánh-khiết hơn.
“Vấn-đề trái ngược hẳn,” Phao-lô biện-luận. “Những giáo-sư này có đầu óc và lương-tâm bị ô uế. Do đó, khi họ nhìn vào các thức ăn vô-tội vạ này, họ nhìn thấy tội-lỗi, vì tội-lỗi đã làm ô uế tầm nhìn của họ. Nhưng những ai trong chúng ta có tâm-thần và lương-tâm trong sạch biết rằng mọi thức ăn đều tinh sạch. Không phải thức ăn đang làm ô uế các giáo-sư này mà chính các giáo-sư này đang làm ô uế thức ăn vậy!”
Nhưng nguyên-tắc này không được áp-dụng cho những điều mà chúng ta biết là xấu. Chẳng hạn như, sự khác biệt giữa Hội họa tuyệt vời với sách báo khiêu-dâm không chỉ “ở trong mắt của người xem.”
Một họa-sĩ lớn không khai thác thân hình con người cho lợi ích thấp hèn. Đối với một tín-đồ việc chìm đắm trong những hành động tình-dục tội-lỗi, và cho rằng những việc làm đó trong sạch vì lòng người ấy trong sạch, là sử dụng Lời Đức Chúa Trời để bào chữa cho tội-lỗi.
Sự ứng-dụng Phao-lô nêu lên là đối với đồ ăn, và chúng ta phải cẩn thận giữ việc ứng-dụng này trong phạm vi đó.
Sau khi đã chia-sẻ 3 thực tế này về các giáo-sư giả này, Phao-lô thêm vào một vấn-đề sâu xa hơn.
d. Điều Tít sẽ phải làm.
Ông sẽ không đứng yên một bên và để cho họ tiếp tục! Trước tiên, ông sẽ phải dùng “đạo lành” mà “khuyên dỗ” họ (Tit 1:9).
Vũ khí duy nhất chống lại những sự lừa dối của Sa-tan là chân-lý của Đức Chúa Trời. “Chúa đã phán vậy!” là kết thúc của mọi sự tranh luận.
• Tít sẽ phải bịt miệng họ lại (Tit 1:10) và ngăn họ không được dạy dỗ và truyền-bá các đạo-lý giả dối. Ông sẽ phải “quở trách họ nặng nề” (Tit 1:13).
Phao-lô gửi đến Ti-mô-thê cùng lời khuyên này trong bức thư cuối của mình: “Hãy đem lòng rất nhịn nhục và dùng đạo lành mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (IITim 4:2).
Mục đích của Phao-lô, dĩ nhiên, là thuyết phục các giáo-sư này và khiến họ có “đức-tin vẹn lành” (Tit 1:13). Nhưng trong khi đang làm điều này, ông phải bảo vệ Hội thánh khỏi những sự dạy dỗ giả dối của họ.
Đạo giả giống như men: Nó len lỏi vào cách bí-mật, nó phát triển nhanh chóng, và nó lan tràn khắp nơi (Ga 5:9). Thời điểm tốt nhất để tấn công đạo giả là ngay lúc bắt đầu, trước khi nó có cơ-hội lan tràn ra.
Thái-độ của một số thuộc-viên Hội thánh là, “Bạn tin gì, điều đó không quan-trọng, miễn bạn tin một điều gì đó là được.” Phao-lô sẽ không tán đồng với triết-lý dại dột đó. Việc bạn tin nơi lẽ-thật của Lời Đức Chúa Trời hay tin vào những lời giả dối, điều đó làm cho sự thể thay đổi hoàn toàn giữa sự sống và sự chết.
Bạn có thể chọn điều bạn muốn tin, nhưng bạn không thể thay đổi hậu quả của nó.
“Các ngươi sẽ biết chân-lý,” Chúa Giê-xu Christ phán, “và chân-lý sẽ buông tha các ngươi” (Gi 8:32).
2. CÁCH THỨC ĐỂ CÓ MỘT HỘI THÁNH MẠNH MẼ (Tit 2:1-3:15)
Trái ngược với các giáo-sư giả, Tít có bổn-phận “dạy dỗ những điều hiệp với đạo lành” (Tit 2:1). Vi-trùng đối với một thân thể vật-lý thể nào, thì việc dạy dỗ giả dối đối với một thân thể thuộc-linh, tức Hội thánh, cũng thể ấy.
Trong những câu cấu thành phân đoạn này, bạn sẽ thấy một sự hài hòa đẹp đẽ giữa việc dạy đạo và lời khuyên thực tế, vì hai việc này phải đi đôi nhau. Phao-lô bàn luận một số khía cạnh khác nhau của sự hầu-việc Chúa tại Hội thánh địa phương.
1. Các thánh-đồ già cả (Tit 2:1-4a)
Một người trẻ tuổi như Tít sẽ dễ hiểu lầm hoặc thậm chí bỏ bê những tín-hữu già cả trong hội chúng của mình biết bao.
“Tôi muốn có một Hội thánh của những người trẻ tuổi!” một vị mục-sư có lần nói với tôi, quên đi rằng một ngày kia chính ông cũng sẽ già đi. Một Hội thánh cần cả những người già lẫn những người trẻ, và họ cần phải giúp đỡ lẫn nhau.
Ân-điển của Đức Chúa Trời khiến chúng ta có thể lấp hố ngăn cách giữa các thế-hệ trong Hội thánh. Một cách thức để thực hiện điều này là đối với tất cả các thành-viên, già cũng như trẻ, phải sống đúng theo những tiêu-chuẩn Đức Chúa Trời đã đặt ra cho đời sống chúng ta.
Những người già cả phải tiết-độ, nghĩa là “phải có chừng mực trong việc dùng rượu.” Những người già với thời giờ nhàn rỗi có thể la-cà quá lâu bên chung rượu.
Nghiêm trang có nghĩa là “tỏ ra đàng hoàng, xứng đáng,” nhưng điều này không ám chỉ một người nghiêm nghị không bao giờ cười. Có một vẻ trang nghiêm đối với tuổi già khiến tạo nên sự kính-trọng, và sự kính-trọng này đem lại thẩm-quyền cho thánh-đồ già cả.
Tôi cảm-tạ Đức Chúa Trời biết dường nào về các thánh-đồ đáng tôn-kính đã từng trợ giúp trong chức-vụ mục-sư của riêng tôi! Khi họ đứng lên dạy dỗ, cả Hội thánh đều lắng nghe và chú ý đến.