top of page
7. THỜI GIAN LÀM CHỨNG (Kh 10:1-11:19)
Khải-...
...huyền 10:1-14:20 mô-tả các biến-cố xảy ra vào thời kỳ giữa của Bảy Năm Đại Nạn. Điều này giải thích việc Giăng lập lại phần thời gian ba-năm-rưỡi bằng hình-thức này hay hình-thức khác (Kh 11:2-3; Kh 12:6,14; Kh 13:5).
Vào lúc bắt đầu giai đoạn này, Kẻ chống Lại Đấng Christ khởi sự chinh phục bằng cách hứa bảo vệ dân Do-thái và giúp đỡ họ xây dựng lại đền thờ Giê-ru-sa-lem. Nhưng sau ba năm rưỡi, người phá bỏ thỏa thuận đã ký, xâm chiếm đền thờ, và bắt đầu bắt bớ dân Do-thái.
Cho dù các biến-cố trong thời gian giữa Cơn Đại Nạn có nặng nề ra sao, Đức Chúa Trời không thiếu những chứng-nhân cho thế giới. Trong Kh 10:1-11:19 chép 3 lời chứng quan-trọng: từ vị thiên-sứ có sức mạnh (Kh 10:1-11), từ hai người làm-chứng (Kh 11:1-14), và từ các trưởng-lão trên trời (Kh 11:15-19).
1. Lời chứng của Thiên-sứ mạnh sức (Kh 10:1-11)
Trong Khải-huyền có hơn 60 lần đề-cập đến thiên-sứ. Dẫu sao, thiên-sứ là đội quân được Đức Chúa Trời sai đến để hoàn tất chương trình của Ngài trên thế gian. Người tin Chúa ngày nay ít khi nghĩ về chức-vụ của các tôi-tớ này (Hêb 1:14), nhưng ngày kia tại thiên-đàng chúng ta sẽ hiểu tất cả những gì họ đã làm cho chúng ta tại đây.
• Lời mô tả về vị Thiên-sứ (Kh 10:1-4)
Làm chúng ta ngạc nhiên, vì người có một số tính-chất đặc biệt thuộc về Chúa Giê-xu Christ. Giăng đã thấy và nghe “một thiên-sứ mạnh mẽ” (Kh 5:2). Tất cả thiên-sứ là đấng có sức lực (Thi 103:20), nhưng rõ ràng một số thiên-sứ có sức mạnh và quyền-năng trổi hơn các thiên-sứ khác.
Đầu tiên chúng ta thấy cái mống ở chung quanh ngôi Đức Chúa Trời (Kh 4:3) bây giờ cái mống nằm ở trên đầu vị sứ-giả này như mão miện. Cái mống là dấu hiệu cho con người biết rằng Đức Chúa Trời sẽ chẳng bao giờ hủy diệt con người bằng nước lụt. Ngay cả trong cơn thạnh nộ, Đức Chúa Trời cũng nhớ lại lòng thương-xót của Ngài (Ha 3:2). Dù vị thiên-sứ này là ai, người cũng nhận quyền-phép từ ngôi Đức Chúa Trời ban cho.
• Đức Chúa Trời thường ngự giữa đám mây.
Đức Chúa Trời dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên bằng trụ mây sáng lòa (Xu 16:10), những đám mây mù mịt bao phủ núi Si-nai khi Đức Chúa Trời ban luật-pháp cho dân-sự (Xu 19:9). Khi hiện ra với Môi-se, Đức Chúa Trời ở giữa đám mây rực rỡ (Xu 24:15; Xu 34:5). “Ngài dùng mây làm xe của Ngài” (Thi 104:3). Một đám mây tiếp Chúa Giê-xu lên trời (Công 1:9) và lúc Chúa Giê-xu trở lại, Ngài cũng ngự xuống giữa đám mây (Kh 1:7).
Gương mặt của thiên-sứ được mô-tả “như mặt trời” phù hợp với lời mô tả về Chúa Giê-xu Christ trong Kh 1:16 chân của thiên-sứ giống lời mô-tả về Chúa trong câu 15. Tiếng của người giống tiếng sư tử gợi lại Kh 5:5.
Đây có thể là Chúa Giê-xu Christ của chúng ta hiện ra với Giăng trong vai trò một thiên-sứ đế vương.
Chúa Giê-xu thường hiện ra trong Cựu-ước như là “thiên-sứ của Đức Giê-hô-va” (Xu 3:2; Cac 2:4; Cac 6:11-12,21-22; IISa 24:16). Đây là sự thể hiện tạm thời vì một chương trình đặc biệt, chớ không phải là hiện thân thường xuyên.
Hai tính-chất khác cho thấy chúng ta nhận ra thiên-sứ là Chúa Giê-xu Christ: đó là cuốn sách trong tay người và bộ dạng bên ngoài của người. Cuốn sách nhỏ chứa đựng phần còn lại trong sứ-điệp tiên-tri Giăng sẽ đem đến cho chúng ta. Vì Chúa là Đấng duy nhất đáng cầm quyển sách mở các ấn (Kh 5:5), chúng ta có thể kết luận Ngài là Đấng duy nhất có quyền ban cho tôi-tớ Ngài phần còn lại của sứ-điệp.
Bộ dạng của thiên-sứ là bộ dạng của người chiến thắng chiếm lĩnh lãnh thổ của mình. Người tuyên-bố thâu tóm toàn thế giớí! (Gios 1:1-3). Dĩ nhiên, chỉ có Đấng Cứu Rỗi đắc thắng mới có thể tuyên-bố như vậy. Chẳng bao lâu Kẻ chống lại Đấng Christ sẽ hoàn tất việc chinh phục và buộc cả thế giới quy phục quyền cai-trị của nó.
Nhưng trước khi điều này xảy ra, Đấng Cứu Chuộc tuyên-bố thế giới thuộc về chính Ngài, đó là cơ-nghiệp Cha Ngài hứa ban cho Ngài (Thi 2:6-9). Quỷ Sa-tan gầm thét như sư tử làm cho con mồi hoảng sợ (IPhi 5:8), nhưng tiếng gầm của Sư Tử chi phái Giu-đa thông báo chiến thắng. (Thi 95:3-5; Ês 40:12-17).
Kinh Thánh không cho chúng ta biết tại sao Giăng bị cấm không được chép những gì bảy tiếng sấm phát ra, việc duy nhất “được đóng ấn” trong quyển sách “ được mở ấn niêm phong” (Đa 12:9; Kh 22:10). Tiếng của Đức Chúa Trời thường được ví với tiếng sấm (Gi 12:28-29; Thi 29:1-11; Giop 26:14; Giop 37:5). Chúng ta suy đoán cũng chẳng ích lợi gì khi Đức Chúa Trời che khuất lẽ-thật của Ngài (Phuc 29:29).
• Lời tuyên bố của Thiên-sứ (Kh 10:5-7)
Làm chúng ta đầy lòng sợ hãi, không chỉ vì nội dung nhưng còn vì cách tuyên-bố nữa. Đó là một khung cảnh uy nghiêm, tay người đưa lên trời như thể người thề nguyền.
Nhưng nếu thiên-sứ này là Chúa Giê-xu Christ, tại sao Ngài phải thề? Ngài thề để khẳng định sự oai nghiêm và chắc chắn của lời Ngài đã phán. Chính Đức Chúa Trời “thề” khi Ngài lập giao-ước với Áp-ra-ham (Hêb 6:13-20) và khi Ngài lập Con Ngài làm thầy tế-lễ thượng phẩm (Hêb7:20-22). Ngài cũng thề khi hứa cùng vua Đa-vít rằng Đấng Christ sẽ ra từ nhà vua (Công 2:29-30).
Kh 10:6 nhấn mạnh đến Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Nhiều cơn đoán-phạt khác nhau đã xảy ra trên các tầng trời, trên đất, trên biển và còn nhiều cơn đoán-phạt hơn nữa sắp xảy ra. Chữ được dịch là thời gian thật sự mang nghĩa “trì hoãn”. Đức Chúa Trời đã trì hoãn cơn đoán-phạt của Ngài để tội-nhân hư-mất có thời gian ăn-năn (IIPhi 3:1-9) tuy nhiên bây giờ Ngài đẩy nhanh công việc đoán-phạt của Ngài và hoàn tất chương trình Ngài đã định.
Hãy nhớ lại rằng các thánh tử đạo trên trời lo lắng về việc Đức Chúa Trời chậm trễ báo thù cho cái chết của họ (Kh 6:10-11). “Ôi, Hỡi Chúa cho đến bao giờ?” là tiếng kêu khóc của các con cái Đức Chúa Trời bị đau khổ từ thế-hệ này đến thế-hệ khác. Đức Chúa Trời chậm trễ hoàn thành lời-hứa của Ngài đã cho kẻ nhạo báng cơ hội phản bác lời Đức Chúa Trời và nghi ngờ sự thành tín của Ngài (xem IIPhi 3:1-18).
Lời Đức Chúa Trời là thật và thời gian của Ngài là trọn-vẹn. Điều này giúp an-ủi các thánh-đồ; nhưng lại là sự đoán-phạt đối với các tội-nhân.
Trong Kinh Thánh, sự mầu-nhiệm là “điều kín giấu thiêng-liêng”, lẽ thật che khuất đối với những người ngoại nhưng được bày-tỏ cho các con cái Đức Chúa Trời qua lời của Ngài (Mat 13:10-12). “Sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời” có liên quan đến vấn-đề tội-lỗi xa xưa trong thế-gian.
Tại sao trong thế gian lại có cả đạo đức lẫn sự xấu xa tự nhiên? Tại sao Đức Chúa Trời không làm gì cả? Dĩ nhiên, con cái Chúa biết rằng Đức Chúa Trời “đã làm” tại đồi Gô-gô-tha khi Chúa Giê-xu Christ mang lấy tôi-lỗi và nhận chịu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời thay cho thế gian tội-lỗi.
Chúng ta cũng biết rằng Đức Chúa Trời cho phép sự gian ác gia tăng cho đến khi thế-gian được sắp sẵn cho sự đoán phạt (IITês 2:7; Kh 14:14-20). Vì Đức Chúa Trời đã trả xong nợ tội, nên Ngài tự-do trì hoãn cơn đoán-phạt của Ngài, và con người không thể cáo buộc Ngài bất công và thờ ơ.
Tiếng kèn thứ bảy thổi vang là dấu hiệu cho thấy điều mầu-nhiệm này được thành (Kh 11:4-19). Nửa thời kỳ Đại Nạn còn lại bắt đầu khi các thiên-sứ khởi sự trút các bát thạnh nộ, vì các tai nạn này “làm đầy trọn cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời” (Kh 15:1).
Những chỉ dẫn vị thiên-sứ truyền cho Giăng (Kh 10:8-11) nhắc chúng ta nhớ đến trách-nhiệm chúng ta phải ăn nuốt lời Đức Chúa Trời làm linh lương nuôi-dưỡng đời sống thuộc-linh chúng ta. Giăng nhìn thấy cuốn sách hoặc biết nội dung và mục đích của sách không thì chưa đủ, ông phải nuốt cuốn sách vào bụng.
Lời Đức Chúa Trời được ví sánh với thức ăn: bánh (Mat 4:4), sữa (IPhi 2:2), thịt (IC ôr 3:1-2), và mật ong (Thi 119:103). Đấng tiên-tri Giê-rê-mi (Giê 15:16) và Ê-xê-chi-ên (Êxê 2:9-3:4) biết phải “ăn nuốt” lời Chúa trước khi họ có thể chia-sẻ cho người khác.
Lời Kinh Thánh luôn phải “trở nên xác thịt” (Gi 1:14) trước khi ban phát cho người có nhu-cầu. Khốn thay cho thầy giáo hoặc người giảng đạo chỉ nói ra lời Đức Chúa Trời nhưng không sống đúng với lời ấy, không làm lời ấy sống động trong cuộc đời mình.
Đức Chúa Trời sẽ không nhồi nhét lời Ngài vào trong miệng chúng ta và ép buộc chúng ta nhận lấy. Ngài trao vào tay chúng ta và chúng ta nên cầm lấy. Ngài cũng không thay đổi những tác dụng của lời Ngài trên cuộc đời chúng ta: sẽ có buồn lo lẫn vui-mừng, cay đắng lẫn ngọt ngào.
Kinh Thánh chứa đựng nhiều lời hứa ngọt ngào và những bảo đảm quý giá, nhưng còn có nhiều lời cảnh cáo nặng nề và lời báo trước sự đoán-phạt. Cơ-đốc nhân làm-chứng cho cả sự sống lẫn sự chết (IICôr 2:14-17). Sứ-giả trung-tín sẽ rao ra mọi ý muốn của Đức Chúa Trời (Công 20:27). Người sẽ không thêm bớt vào trong sứ-điệp của Đức Chúa Trời nhằm làm hài lòng người nghe (IITim 4:1-5).
Thiên-sứ ủy thác cho Giăng lại phải nói tiên-tri do đó công việc của ông chưa hoàn tất. Ông phải rao báo lời tiên-tri của Đức Chúa Trời có liên quan đến nhiều dân-tộc, nhiều nước, nhiều thứ tiếng và các vua (Kh 5:9). Chữ các nước thường nói đến các nước ngoại bang. Giăng sẽ bàn nhiều đến các nước trên thế giới khi ông giới thiệu phần còn lại của lời tiên-tri.
2. Lời-chứng của hai chứng-nhân (Kh 11:1-14)
• Chức-vụ của hai chứng-nhân (Kh 11:1-6)
Được mô-tả đầu tiên. Nơi thi hành chức-vụ là thành Giê-ru-sa-lem và thời gian vào nửa phần đầu của thời kỳ Đại Nạn. Dân Y-sơ-ra-ên đang thờ-phượng nơi đền thờ được xây lại dưới sự che chở của Kẻ Chống Lại Đấng Christ, chưa lộ bản-chất thật của nó. Thiêng-liêng hóa các câu 1-2 và hiểu đền thờ có liên quan đến Hội thánh sẽ tạo ra nhiều rắc rối nghiêm trọng.
-Trước hết, làm cách nào Giăng có thể đo được thân thể con người không thấy được, cho dù Hội thánh vẫn còn trên thế gian? Nếu đền thờ là Hội thánh, vậy thì những người thờ-phượng ấy là ai và bàn thờ ấy là gì?
-Và từ lúc Hội thánh kết hiệp người Do-thái và ngoại bang trong môt thân (Êph 2:11), tại sao người ngoại bang lại bị phân biệt trong đền thờ? Dường như là việc làm khôn-ngoan nhất khi hiểu đền thờ này thực sự là một tòa nhà trong thành thánh Giê-ru-sa-lem (Nêh 11:1,18; Đa 9:24).
Việc Giăng đo đạt đền thờ là hành động thuộc về biểu tượng. Đo một cái gì có nghĩa bạn dành điều đó về cho mình. Khi chúng tôi bán căn nhà tại Chicago, những người chủ mới dẫn theo kiến trúc sư lấy số đo các nơi và góp ý những thay đổi có thể. Nếu vị kiến trúc sư đến trước khi người mua nhà cam kết, chắc chúng tôi đã mời ông ấy ra khỏi nhà. Chúa phán qua Giăng, “Ta sở hữu thành ph ố và đền thờ này, Ta dành cả hai cho chính Ta!” Kinh Thánh Cựu-ước chép điều này trong Êxe 40:1-41:26; Xa 2:1-3.
Những điều Giăng làm có ý nghĩa đặc biệt vì người ngoại bang đã chiếm lấy Giê-ru-sa-lem. Kẻ chống lại Đấng Christ đã phá bỏ hiệp-ước ký với Dân Y-sơ-ra-ên (Đa 9:27) và bây giờ nó sắp dùng đền thờ cho các mục-đích hiểm độc của nó (IITês 2:3-4). Tất cả những điều này được giải thích chi-tiết trong Kh 13:1-18.
Chúa Giê-xu phán, “Thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày đạp cho đến chừng nào các kỳ dân ngoại được trọn” (Lu 21:24). “Các kỳ dân ngoại” bắt đầu vào năm 606 trước Chúa khi quân Ba-by-lôn khởi sự quấy phá nước Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem, thời kỳ này kéo dài cho đến khi Chúa Giê-xu Christ trở lại giải cứu Thành Thánh và c ứu-chuộc dân Y-sơ-ra-ên (Xa 14:1-21).
Hãy lưu ý rằng 2 chứng-nhân thi hành chức-vụ suốt thời kỳ đầu cơn Đại Nạn (Kh 11:3 1260 ngày). Lúc ấy thành Giê-ru-sa-lem bị dân ngoại cai trị 42 tháng, đó là thời kỳ cuối cơn Đại Nạn.
Lời làm-chứng của 2 chứng-nhân có liên quan đến dân Y-sơ-ra-ên và đền thờ. Thật là thảm họa khi quyền-năng của Đức Chúa Trời và Lời của Ngài ở bên ngoài đền thờ chớ không ở trong như các thời trước đây. Giống như đền thờ Chúa Giê-xu đã bỏ đi, ngôi nhà mới này sẽ bị hoang vu (Mat 23:28). Hai chứng-nhân này được gọi là các đấng tiên-tri (Kh 11:3,6), và tôi hiểu đây là chức-vụ tiên-tri trong bối cảnh Cựu-ước, kêu gọi các nước ăn-năn quay trở về cùng Đức Chúa Trời chân thần của dân Y-sơ-ra-ên.
Hai chứng-nhân này không những rao báo lời Đức Chúa Trời, nhưng họ còn làm công việc của Ngài và thi hành nhiều phép lạ đoán-phạt, điều này nhắc chúng ta nhớ đến Môi-se và Ê-li (Xu 7:14-18; IVua 17:1; IIVua 1:1-12).
Một số nhà nghiên-cứu trích dẫn Ma 4:5-6, làm bằng-chứng cho biết một trong 2 người làm-chứng này là tiên-tri Ê-li, nhưng Chúa Giê-xu áp-dụng lời tiên-tri đó cho Giăng Báp-tít (Mat 17:10-13).
Tuy nhiên, Giăng Báp-tít chối rằng người không phải là Ê-li trở lại trần gian (Gi 1:21,25; Lu 1:16-17). Sự lộn xộn này có thể được giải thích phần nào qua việc nhận biết rằng trải suốt lịch-sử nước Do-thái, Đ ức Chúa Trời đã sai các sứ-giả đặc biệt - “những Ê-li” - kêu gọi dân-sự của Ngài đến sự ăn-năn do đó trong bối cảnh này, các chứng-nhân sẽ làm ứng-nghiệm lời tiên-tri Ma-la-chi.
Thay vì liên-hệ sứ-mạng của các chứng-nhân với Môi-se và Ê-li, thiên-sứ đã phán với Giăng lại đề-cập chức-vụ của họ với Xô-rô-ba-bên và thầy tế-lễ cả Giê-hô-sua (Xa 4:1-14). Hai chứng-nhân ấy đã giúp tái lập lại nước Y-sơ-ra-ên và xây lại đền thờ.
Đó là nhiệm-vụ nặng nhọc, thậm chí dân ngoại bang lại làm cho khó khăn hơn nhưng Đức Chúa Trời ban sức mạnh đặc họ cần để hoàn tất công việc. Lẽ thật này là niềm an-ủi cho các tôi tớ Đức Chúa Trời ở mọi thời đại, vì công việc Chúa chẳng bao giờ dễ dàng.
• Các chứng-nhân bị giết (Kh 11:7-10)
Chỉ khi nào họ hoàn tất việc làm-chứng. Các tôi-tớ vâng lời của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại cho đến khi làm xong công việc. “Con thú” (Kẻ chống lại Đấng Christ) hiện nay đang nắm quyền trong tay và muốn chiếm hữu đền thờ nhưng nó không thành công được cho đến khi 2 chứng-nhân bị cất khỏi. Đức Chúa Trời sẽ cho phép nó giết họ, vì không ai có thể gây chiến chống lại “con thú” và thắng được nó (Kh 13:4).
Người ta không được phép chôn xác 2 chứng-nhân (Thi 79:1-3). Nhưng ngay cả sự việc không hay này cũng được Đức Chúa Trời dùng để làm-chứng cho loài người. Rất có thể các máy quay truyền hình trên thế giới và các nhà phân tích tin tức sẽ bàn luận ý nghĩa của nó.
Cư dân trên đất sẽ reo mừng khi kẻ thù của họ bị chết và tổ chức một “lễ hội ma quỷ” bằng cách gởi quà tặng cho nhau. Do đó dường như sức mạnh của 2 chứng-nhân không bị giới hạn tại Giê-ru-sa-lem, nhưng họ có thể làm nhiều việc khác xảy ra tại các nơi khác trên thế giới.
Hai đấng tiên-tri này chắc chắn có mối liên-hệ đến dân Y-sơ-ra-ên và phần lớn thế giới không thừa nhận nước Y-sơ-ra-ên. Giữa Kỳ Đại nạn, “con thú” sẽ quay trở lại chống nghịch dân Y-sơ-ra-ên và tiến hành bắt bớ dân Do-thái. Hai chứng-nhân sẽ không có mặt bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên và phong trào bài Do-thái đáng sợ xảy ra.
Thành Giê-ru-sa-lem được gọi là “thành lớn” (Kh 11:8) theo quan điểm con người, đây là câu nói đúng. Nhưng Đức Chúa Trời nhìn thấy con người và các nước qua lăng kính thiêng-liêng. Đối với Ngài, thành Giê-ru-sa-lem được xem là ô uế và trần tục như Sô-đôm và nổi loạn kiêu-ngạo như Ai-cập.
• Hai chứng-nhân sống lại (Kh 11:11-14).
Thật kỳ lạ, hai chứng-nhân không những từ kẻ chết sống lại, nhưng họ còn được cất lên trời! Đức Chúa Trời giải cứu họ thoát khỏi tay kẻ thù và cho họ được cả thế giới trông thấy. Sự vui-mừng lớn của thế giới bỗng nhiên trở thành nỗi sợ hãi kinh khiếp. (Chú ý chữ lớn trong chương 11, được nhắc đến tám lần).
Chúng ta có phải hiểu thời gian 3 ngày rưỡi ở đây theo nghĩa đen hay không? Hoặc nhóm chữ này chỉ có nghĩa “sau một thời gian ngắn ngủi”? Nó có vẻ quá cụ thể đến nỗi không thể có nghĩa như vậy. Thời gian này có biểu-tượng cho một giai đoạn dài, như là 3 năm rưỡi không? Hai xác chết cứ nằm trên đường phố hơn 3 năm rưỡi là điều không chấp nhận được.
Có lẽ đây là bức tranh tất cả các thánh-đồ được cất lên giữa Cơn Đại Nạn, và ba năm rưỡi bao gồm phần đầu của giai đoạn này. Nếu như vậy, cái chết của 2 chứng-nhân biểu-tượng cho điều gì? Cố gắng giải thích vấn-đề này chỉ tạo ra vấn-đề khác thôi
Những ngày này dường như là những ngày thật theo nghĩa đen, giống như 42 tháng trong Kh 11:2 là những tháng đúng nghĩa của nó. Kinh Thánh không giải thích tại sao khoảng thời gian này được chọn và chẳng có ích gì khi chúng ta suy đoán.
Các bạn của Đức Chúa Trời chứng-kiến Ngài được cất lên trời (Công 1:9-12), nhưng kẻ thù của các chứng-nhân thấy họ sống lại và run rẩy sợ hãi. Nỗi sợ của họ gia tăng khi cơn động đất xảy ra, giết hại 7.000 người và phá hủy một phần mười thành Giê-ru-sa-lem. Cơn động đất xảy ra khi ấn thứ sáu mở ra (Kh 6:12), và khi bát thạnh nộ thứ bảy trút xuống, sẽ có cơn động đất lớn hơn (Kh 16:18-20).
3. Lời-chứng của các trưỏng-lão (Kh 11:15-19)
Chúng ta đợi “tai họa” thứ ba chép trong Kh 8:13 xảy ra và bây giờ nó đã đến. Khi thiên-sứ thứ bảy thổi kèn, ba biến-cố đầy ấn-tượng xảy ra.
• Lời loan-báo chiến thắng (Kh 11:15).
“Những tiếng lớn” này có thể là các ban hợp xướng trên trời. Lời loan-báo trọng đại cho biết vương quốc (Giăng dùng số ít vì “con thú” bây giờ nắm quyền kiểm soát thế giới trong tay) của thế-gian thuộc về Chúa Giê-xu Christ. Dĩ nhiên, Đấng Christ không tuyên-bố vương quyền của Ngài cho đến lúc Ngài trở lại nhưng Ngài đã chiến thắng rồi.
Quỷ Sa-tan dâng cho Ngài các nước thế-gian, nhưng Ngài từ chối không nhận (Mat 4:8-9). Thay vào đó, Ngài chịu chết trên thập-tự giá, sống lại, và về trời trong chiến thắng và tại đó Cha Ngài ban cơ-nghiệp cho Ngài (Thi 2:4-9).
Tuy nhiên, chúng ta không nên hiểu sai lệch rằng hiện nay Chúa chúng ta không có tể-trị, vì thật Ngài đang cầm quyền cai-trị. Theo Hêb 7:1-2 Chúa Giê-xu Christ là “Vua công-bình” và “Vua bình-an”. Ngài đang ngự trên ngôi cùng với Cha Ngài (Kh 3:21), và Ngài sẽ trị-vì cho đến khi Ngài đánh bại tất cả kẻ thù của Ngài (ICôr 15:25). Ngày nay, Ngài cai-trị vương quốc thiêng-liêng nhưng trong tương lai, Ngài sẽ cai-trị các nước thế-gian bằng cây gậy sắt.
Cho dù hoàn cảnh có khó khăn ra sao, hoặc con cái Đức Chúa Trời có thể nghĩ rằng họ thất bại như thế nào đi nữa, Chúa Giê-xu Christ vẫn là Vua trên muôn Vua, Chúa trên muôn Chúa, Ngài đang cầm quyền cai-trị. Ngày kia, chúng ta sẽ chiến thắng!
• Tiếng reo hò ngợi-khen (Kh 11:16-18).
Các trưởng-lão rời khỏi ngai và sấp mình thờ-lạy trước ngôi Đức Chúa Trời. Họ dâng lời cảm-tạ Ngài vì ba phước hạnh: Đấng Christ đã cầm quyền rất cao trong tay (c.17), Ngài phán-xét cách công-bình (c.18), và Ngài ban thưởng rộng rãi (c.18).
Trong Kh 4:10-11, các trưởng-lão ngợi-khen Đấng tạo Hóa và trong Kh 5:9-14 họ thờ lạy Đấng Cứu Chuộc.
Ở đây họ nhấn mạnh đến Đấng Đắc Thắng và là Vua. Hãy nhớ rằng Hội thánh trên đất dường như có vẻ thất bại, vì đế quốc Rô-ma là người chiến thắng và là vua. Giăng muốn nhắc các thánh-đồ nhớ rằng họ là “nước thầy tế-lễ”đang trị-vì cùng Đấng Cứu Chuộc (Kh 1:5-6).
Dường như đôi lúc ngôi trên trời bỏ trống, nhưng không phải vậy. Chúa Giê-xu Christ có cả quyền-năng và thẩm quyền - thực ra, Ngài có hết thảy thẩm-quyền (Mat 28:18 chữ quyền-năng có nghĩa “thẩm-quyền”). “Ngài...đã khởi sự cầm quyền” là cách dịch hay.
Đấng Christ không những cầm quyền cao cả, nhưng Ngài còn phán-xét công-bình (Kh 11:18). Chiên Con cũng là Sư Tử! Trong câu 18, chúng ta có “bản mục lục” phần còn lại của sách Khải-huyền. Các biến-cố này không xảy ra ngay khi thiên-sứ thổi kèn nhưng thiên-sứ chỉ báo hiệu sự bắt đầu, và bây giờ các biến-cố này xảy ra như đã định trước.
“Các nước nổi giận”. Các nước nổi giận về điều gì? Chắc chắn Chúa đã đối đãi tốt và nhân-từ với họ. Ngài chu cấp cho họ mọi nhu-cầu (Công 14:15-17; Công 17:24-31), phân định lãnh thổ cho họ, và thương-xót trì hoãn cơn đoán-phạt của Ngài để con người có cơ-hội được cứu. Hơn nữa, Ngài sai Con Ngài làm Đấng Cứu Chuộc cả thế-gian. Ngày nay, Đức Chúa Trời ban-ơn tha-thứ cho các nước! Ngài còn có thể làm gì cho họ nữa?
Vậy thì, tại sao các nước lại nổi giận? Vì họ muốn đi theo đường riêng. “Tại sao các ngoại bang (các nước) náo loạn, và những dân-tộc toan mưu chước hư không? Các vua thế gian nổi dậy, các quan trưởng bàn nghị cùng nhau, nghịch Đức Giê-hô-va và nghịch Đấng chịu xức dầu của Ngài (Đấng Christ), mà rằng, “Chúng ta hãy bẻ lòi tói của hai Người và quăng xa ta xiềng xích của Họ” (Thi 2:1-3).
Họ muốn thờ-lạy và hầu-việc tạo vật thay cho Đấng dựng nên (Rô 1:25).
Giống như trẻ vị thành niên, các nước muốn loại bỏ tất cả sự ràng buộc và Đức Chúa Trời sẽ cho phép họ làm như vậy. Kết quả là một “Ba-by-lôn” khác (Kh 17:1-18:24), nổ lực cuối cùng của con người muốn xây dựng Thời Đại Hoàn Hảo, “thiên đường trên đất”.
Hãy lưu ý sự thay đổi trong thái-đ ộ của các nước thế gian. Trong Kh 11:2 các nước giày đạp thành Giê-ru-sa-lem. Trong Kh 11:9 họ reo mừng khi 2 chứng-nhân chết. Nhưng bây giờ, họ lại giận dữ sự kiêu hãnh và vui vẻ của họ sẽ không kéo dài lâu. Thái-độ hiếu chiến này cuối cùng là động lực khiến các nước liên minh lại chống Đức Chúa Trời trong trận đại chiến Hạt-ma-ghê-đôn.
“Cơn thạnh nộ Ngài đã đến”. Chữ nổi giận trong câu 18 là dạng động từ của chữ cơn thạnh nộ. Nhưng sự giận dữ của con người không thể nào sánh được với cơn thạnh nộ của Chiên Con (Kh 6:16-7). Ngay cả cơn giận dữ của quỉ Sa-tan, có độc ác đến đâu, cũng không thể ngang bằng với cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (Kh 12:17).
Trong thời kỳ đầu Đại nạn đau khổ có gia tăng, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời chỉ bày-tỏ trong thời kỳ sau của Cơn Đại nạn mà thôi (Kh 11:18; Kh 14:10; Kh 16:19; Kh 19:15). Trong tiếng Hy-lạp có hai chữ nói về cơn giận: thumos, có nghĩa “sự giận dữ, giận điên người”, và orgé được dùng ở đây có nghĩa “sự căm phẫn, sự giận với một thái-độ ổn định”.
Cơn giận của Đức Chúa Trời không phải là sự nóng nảy bộc phát nhưng đó là cơn phẫn nộ chống lại tội-lỗi. Cả 2 từ ngữ Hy-lạp này được dùng trong Khải-huyền để mô tả cơn giận của Đức Chúa Trời: orgé được dùng 4 lần thumos được dùng 7 lần (Kh 14:10,19; Kh 15:1,7; Kh 16:1,19; Kh 19:15). Cơn giận của Đức Chúa Trời không vô tư, vì Ngài ghét tội-lỗi và yêu sự công-bình và chính-trực nhưng cả hai đều chắc chắn và có thể biết trước được.