...trước tiên bạn phải biết về các tiên-tri đó là chức-vụ của họ tập trung vào hiện tại cũng như vào tương lai. Họ “nói trước” Lời Đức Chúa Trời cũng như “đoán trước” những công việc của Đức Chúa Trời.
Tiên-tri thật giống như bác-sĩ tốt: Họ chẩn đoán tình trạng, kê đơn thuốc, và cảnh-cáo bệnh-nhân điều sẽ xảy ra nếu toa thuốc bị phớt lờ (Giê 6:14; Giê 8:11). Khi các tiên-tri rao-ra một khải-tượng về tương lai, họ làm điều đó để khích-lệ dân-sự ngày nay vâng-lời Đức Chúa Trời.
Phi-e-rơ xác định nguyên-tắc này khi ông viết: “vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên-thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào” (IIPhi 3:11).
Không giống như Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên, Ê-sai không khởi đầu sách của ông bằng một ghi chép về sự kêu-gọi ông vào chức-vụ. Ông trình-bày điều này trong chương 6. Thay vào đó, ông khởi đầu bằng một sự xem xét thấu đáo về hiện trạng của Giu-đa và bày-tỏ một yêu-cầu tha thiết để dân-sự Đức Chúa Trời trở lại với Chúa. Khi bạn đã phân tích của ông, hãy chú ý nó tương tự ra sao với hoàn cảnh chúng ta trong thế giới phương Tây.
1. Điều Ê-sai nhìn thấy (Ês 1:1-31)
Chương này mô-tả một quang cảnh tòa án. Đức Chúa Trời triệu tập tòa án và định tội (c.2-4). Ngài trình-bày vụ-kiện của Ngài và lên án dân-tộc tội-lỗi (c.5-15) nhưng Ngài cho cơ-hội bị tố-cáo để ăn-năn và được tha-thứ (c.16-31).
Đức Chúa Trời đã mô-tả dân-sự tội-lỗi của Ngài ra sao?
-Họ là con cái dấy loạn (c.2-4) không có sự hiến dâng cho Đức Chúa Trời như thú vật làm vì chủ chúng! Từ “dấy loạn” mang theo nó ý nghĩa của việc phá vỡ một giao kèo. Tại núi Si-nai, Y-sơ-ra-ên đã bước vào một giao-ước trịnh trọng với Đức Giê-hô-va (Xu 19:1-20:25). Nhưng họ đã phá vỡ giao kèo bằng sự vô-tín và sự thờ thần-tượng của họ. Họ không cảm-kích điều Đức Chúa Trời đã làm cho họ và xem như những phước hạnh của mình. Họ đã từ bỏ Chúa, đi thụt lùi, và trở nên sa đọa, vì vậy, họ phạm-tội và đáng bị sự đoán-xét.
Theo quan-điểm con người, dân-tộc này đang thịnh vượng, nhưng theo quan-điểm Đức Chúa Trời, dân-tộc giống như một nạn nhân khốn khổ bị đánh từ đầu đến chân và bị để cho chết (Ês 1:5-6).
Những vết thương trở nên nhiễm trùng, cả thân thể bệnh hoạn và không ai làm gì để giúp đỡ. Các tiên-tri giả và các thầy tế-lễ giả hình thời đó sẽ thách thức việc mổ “xác chính trị” của Ê-sai, nhưng vị tiên-tri biết rằng sự chẩn đoán của ông là đúng. Mặc dù có sự lạc quan của những lãnh đạo ở Giu-đa, dân-tộc bệnh hoạn về đạo đức và thuộc-linh, và sự đoán-xét không thể tránh khỏi.
Trong c.7-9, Đức Chúa Trời mô-tả Giu-đa như một chiến trường tan hoang, một sa mạc từng là một khu vườn. Khi sử dụng hình ảnh này, Ê-sai có lẽ đang nhìn trước sự xâm lấn của San-chê-ríp, khi Giu-đa bị quân A-si-ri tàn phá và chỉ Giê-ru-sa-lem được để lại (chương 36-37). Dân-sự không để Đức Chúa Trời quản-lý xứ theo luật-pháp Ngài vì vậy Đức Chúa Trời trả Giu-đa cho dân ngoại và cho phép dân Ngài chịu khổ (Phuc 28:15).
Dân-sự chắc đã có một cú sốc bẽ bàng khi họ nghe Ê-sai so sánh thành thánh Giê-ru-sa-lem với các thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ tội-lỗi! (Ês 3:9; Sa 18:1-19:38) và các quan trưởng nghĩ gì khi Ê-sai chỉ nói: “rất ít người sót lại” sẽ sống? Xét cho cùng, Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng dân-tộc sẽ đông lên như bụi đất và sao trên trời (Sa 13:16; Sa 15:5).
Học thuyết về “những người sót lại” và quan-trọng trong sứ-điệp của các tiên-tri (Ês 6:13; Ês 10:20-22; Ês 11:13-16; Giê 6:9; Giê 23:3; Giê 31:7; Mi 2:12; Xa 8:12). Phao-lô cũng đề-cập về điều đó (Rô 9:27; Rô 11:5). Mặc dù có sự bội đạo của dân-tộc, một số tín-đồ thật còn sót lại sẽ được để lại hầu cho công việc Đức Chúa Trời có thể được thực hiện qua dân-tộc Do-thái.
Điều đáng ghê tởm về dân dấy loạn này là họ cũng là một dân tôn-giáo (Ês 1:10-15). Họ dự các lễ nghi đền thờ và đem cho Chúa nhiều của lễ; Nhưng lòng họ xa cách Đức Chúa Trời và sự thờ-phượng của họ đầy giả hình. Chỉ của lễ thì không bao giờ có thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời; vì cùng với sự tuân-giữ pháp-luật bên ngoài, Đức Chúa Trời muốn sự vâng-lời bên trong (ISa 15:22), một tấm-lòng tan vỡ (Thi 51:17) và một đời sống tin-kính (Mi 6:6-8).
Sự thờ-phượng Đức Giê-hô-va của Giu-đa là sự trái đạo chớ không phải sự mộ-đạo, và Đức Chúa Trời chán ngán điều đó! Thay vì giơ lên “bàn tay thánh” trong sự cầu-nguyện (ITim 2:8), tay họ vấy máu vì nhiều tội-lỗi của họ (Ês 59:3; Êxe 7:23; Công 20:26).
Nhưng trước khi đi qua sự xét-đoán trên những người thờ-phượng trong một thời đại đã qua, có lẽ chúng ta nên xưng ra tội-lỗi của “Hội thánh thờ-phượng” ngày nay. Theo nhà nghiên-cứu George Bara, 93% gia đình ở nước Mỹ có một cuốn Kinh Thánh và hơn 60% người xác nhận mang tính tôn-giáo, nhưng chúng ta không bao giờ biết điều này từ cách người ta hành động.
Cứ 550 người lớn ở nước Mỹ thì có một Hội thánh Tin Lành, nhưng có phải toàn bộ “tôn-giáo” này tạo nên một khác biệt lớn trong xã hội tội-lỗi của chúng ta? Tôn-giáo có tổ chức đã không ảnh hưởng đến tỉ-lệ tội-phạm, tỉ-lệ ly-hôn của đất nước hoặc loại “giải trí” được thấy qua phim ảnh và trên truyền hình.
Hội thánh bình thường phân phối khoảng 5% ngân sách của họ cho việc đến với người khác bằng Phúc-Âm, nhưng 30% cho việc xây dựng và bảo quản. Vào một thời điểm khi người nghèo và người già xin được giúp đỡ, các Hội thánh ở nước Mỹ đang tiêu khoảng 3 tỉ đô-la một năm vào việc xây dựng mới.
Nơi các Hội thánh có sự sống và phát triển, sự xây dựng đó có thể cần thiết; nhưng công trình xây dựng rất thường trở thành “một đá cối xay thay vì một cột mốc” theo lời của Vance Havner. Ít nhất 62% người do Barne nghiên-cứu đã nói rằng Hội thánh không thích hợp với thế giới ngày nay và đang đánh mất ảnh hưởng của nó trên xã hội. Có thể là, giống như những người thờ-phượng trong đền thờ Do-thái ngày xưa, chúng ta chỉ đang đi qua những cảm xúc (xem ‘The Frog in the Kettle’ của George Barna (con ếch trong ấm nước) do Regal Books xuất bản).
Ê-sai không dừng lại bằng sự chẩn-đoán nhưng cũng cho đơn thuốc, vì ông muốn Giu-đa làm một dân công-bình (Ês 1:16-31). Từ được dịch là “biện luận” trong c.18 nghĩa là “quyết định một vụ-kiện trong tòa”; Nhưng thay vì tuyên-án, vị quan tòa ban sự tha-thứ! Nếu họ làm sạch chính mình bằng cách ăn-năn và từ bỏ tội-lỗi (c.16-17; IICôr 7:1), thì Đức Chúa Trời sẽ lau sạch bản án để đáp ứng đức-tin họ (Ês 1:18).
Đức Chúa Trời có mọi lý-do để trừng-phạt dân-sự Ngài vì tội-lỗi họ. Nhưng trong ân-điển và sự thương-xót của Ngài, Ngài ban-cho họ sự tha-thứ của Ngài.
Một tội-lỗi nào dân-tộc cần phải xưng nhận và từ bỏ? Ê-sai định danh tội giết người (c.21), trộm cướp, hối lộ và áp bức người cô thế (c.23), cũng như thờ-phượng thần-tượng ngoai bang (c.29). Vì sự thờ thần-tượng của họ, người vợ từng chung thủy giờ đây là một gái điếm, và vì những hành đ ộng bất chính của họ, bạc tinh-khiết đã trở thành cặn bã.
Bi kịch đó là nhiều người thờ-phượng trong đền thờ đã tham dự vào những hành động xấu xa này và bởi đó thúc đẩy sự đổ nát của dân-tộc. Các quan trưởng duy trì một bề ngoài tôn-giáo để che đậy tội-lỗi họ, và dân-sự để họ làm điều đó.
Đức Chúa Trời sẽ làm gì nếu dân-sự không ăn-năn? Ngài sẽ giáng một sự xét-đoán khủng khiếp và sẽ thanh-trừng cặn bã và đốt cháy những kẻ có sự dấy loạn khiến họ trở thành kẻ thù của Ngài (c.24-31), Ê-sai kết thúc sứ-điệp đầu tiên của ông bằng một lời-hứa về sự hy-vọng rằng một ngày mà đó Giê-ru-sa-lem sẽ là một “thành của sự công-bình”.
2. Điều Ê-sai báo trước (ÊsIs1:1-31) (Ês 2:1-4:6)
Có 3 nhóm từ quan-trọng tóm tắt sứ-điệp thứ 2 của Ê-sai và sự rao-báo của nó về công việc trong tương lai của Đức Chúa Trời.
• Đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Vị tiên-tri nhìn về thời điểm khi vương quốc công-bình của Đức Chúa Trời sẽ được thiết lập và đền thờ sẽ trở thành trung tâm thờ-phượng Chúa khắp thế giới. Trong thời Ê-sai, dân Do-thái chọn các thần-tượng của dân ngoại nhưng thời kỳ sẽ đến khi dân ngoại từ bỏ các thần-tượng của họ và thờ-phượng Đức Chúa Trời chân-thật của Y-sơ-ra-ên. Các quốc gia cũng sẽ bỏ vũ khí họ xuống và ngừng chiến tranh.
Những lời báo trước này không nên được “thuộc-linh hóa” và áp dụng cho Hội thánh, vì chúng mô-tả một vương quốc của sự công-bình và hòa-bình theo nghĩa đen. Đền thờ Do-thái sẽ được xây dựng lại, và Lời Đức Chúa Trời sẽ bày-tỏ từ Giê-ru-sa-lem để điều khiển các dân-tộc trên thế giới.
Trong ánh sáng vinh-hiển của đền thờ Đức Chúa Trời trong tương lai, Ê-sai kêu-gọi dân-sự “bước đi trong sự sáng của Đức Giê-hô-va” (c.5). Cơ-đốc nhân ngày nay có một động cơ tương tự chúng ta chờ đợi sự tái-lâm của Đấng Christ vì Hội thánh Ngài (IGi 2:28-3:3).
•Ngày của Đức Giê-hô-va (Ês 2:6-3:26).
Đây là thời kỳ khi Đức Chúa Trời sẽ giáng sự đoán-xét đối với các nước và tẩy-thanh Y-sơ-ra-ên để chuẩn bị cho kỳ đến của Vua Ngài cai-trị Giê-ru-sa-lem.Ngày của Đức Giê-hô-va được mô-tả bởi Giăng (Kh 6:1-19:21), các tiên-tri (Ês 13:6; Êxe 30:1-26; Gio 1:15; Gio 2:1; So 1:7; Xa 14:1) và bởi Chúa Giê-xu (Mat 24:1-51; Mac 13:1-37; Lu 21:1-37). Đó sẽ là một thời hoạn nạn khủng khiếp, môi trường sẽ bị hủy hoại, và hằng triệu người sẽ chết (chú ý lặp lại nhóm từ “trong ngày đó” (Ês 2:17,20; Ês 3:7,18; Ês 4:1-2).
Đối với các tiên-tri “Ngày của Đức Giê-hô-va” được báo trước bởi những sự-kiện trong thời đại chúng. Trong sách Ê-sai, sự chinh phạt vương quốc phía Bắc cũng xâm lăng Giu-đa của A-si-ri, và sự giam cầm Giu-đa của Ba-by-lôn đều mô-tả “Ngày của Đức Giê-hô-va” hầu đến.
a. Tại sao Đức Chúa Trời sẽ đoán-xét dân Ngài?
Vì sự thờ thần-tượng, sự tham lam, kiêu-ngạo và áp bức người nghèo của họ (Ês 2:6-22). Thay vì nắm giữ lẽ-thật của Lời Đức Chúa Trời, họ chọn “những mê-tín của phương Đông” (c.6, NIV), không khác gì nhiều “người đi tìm tôn-giáo” ngày nay.
Sự phát triển của các tôn-giáo Đông phương trong thế giới Tây phương là một hiện tượng đáng sợ và đầy thách thức. Ngay cả người không tôn-giáo cũng đang thực hành những hình thức suy nghĩ và thư giãn của Đông phương, theo những kỹ thuật đang được dạy trong các lớp đại học và các hội thảo kinh doanh.
Sự thịnh vượng của đất nước khiến cho các quan trưởng kiêu-ngạo và tham lam. Thay vì tin-cậy Đức Chúa Trời, họ tin-cậy của cải và sự trang bị chiến tranh của mình, không nhận ra rằng chẳng có điều gì sẽ giải cứu họ trong ngày xét-đoán hầu đến. Các quan trưởng bóc lột người nghèo, đè ép họ như thóc trong cối xay (Ês 3:13-15).
Đức Chúa Trời sẽ không cho phép dân Ngài kiêu-ngạo và tự tin nhưng sẽ hạ thấp họ và cắt họ như những cây trong rừng. “Trong ngày đó chỉ Đức Giê-hô-va là tôn-trọng” (Ês 2:11,17) khi loài người trốn khỏi cơn thạnh nộ của Ngài và khám phá sự vô giá-trị của những thần-tượng cùng những hậu quả của tội-lỗi họ (c.19-22).
b. Đức Chúa Trời sẽ xét-đoán dân Ngài ra sao?
Bằng cách cất khỏi họ mọi điều họ đang nhờ cậy, kể cả thức ăn, nước, các quan trưởng, chiến sĩ, các quan-xét và các tiên-tri (Ês 3:1-15). Cả hệ-thống hỗ trợ của đất nước sẽ bị tan rã và sẽ không có giải pháp nào. Không ai sẽ muốn giữ chức-vụ ngoại trừ đàn bà và trẻ em. (Các quan trưởng quốc gia thời Ê-sai đang lập biểu-đồ một đường lối ngoài ý muốn Đức Chúa Trời và cuối cùng sẽ đem đến tai họa, nhưng những người công-bình còn sót lại sẽ được Đức Chúa Trời bảo vệ (c.10-12).
Sau khi lên án những người có chức lãnh đạo, tiên-tri tập trung vào những người đàn bà kiêu-ngạo đã trục lợi từ tội-lỗi của chồng họ (Ês 3:16-4:1). Tiên-tri A-mốt có một sứ-điệp tương tự cho các đàn bà ở vương quốc phía Bắc (Am 4:1-3).
Mọi sự sẽ khác đi đối với những đàn bà này khi sự xét-đoán của Đức Chúa Trời đến trong xứ! Trong ngày đó, không ai sẽ chú ý quần áo đắt tiền của họ, nữ trang và dầu thơm cùng kiểu tóc trau chuốt của họ. Họ sẽ là tù binh chiến tranh, bị dẫn đi bằng một dây thừng, như thú vật sắp bị giết. Rất nhiều người nam sẽ bị giết nên sẽ không đủ những người chồng để phân phối (Ês 4:1).
Đức Chúa Trời nhẫn nhục khi Ngài xem con người bóc lột nhau một cách xấu xa và tàn phá sự sáng tạo của Ngài cách ích kỷ. Nhưng một ngày sắp đến khi những tội-nhân vô-tín sẽ bị trừng phạt và dân-sự Đức Chúa Trời sẽ dự phần trong vinh-hiển của vương quốc Ngài. Bạn sẵn sàng chưa?
c. Chồi của Đức Giê-hô-va.
Tiên-tri nhìn xa hơn “ngày của Đức Giê-hô-va” thời kỳ khi vương quốc sẽ được thiết lập trên đất. “Chồi của Đức Giê-hô-va” là một danh hiệu tiên-tri dành cho Chúa Giê-xu Christ Đấng đến như một “chồi” từ gốc cây dường như đã chết của triều đại Đa-vít (Ês 11:1; Ês 53:2; Giê 23:5; Giê 33:15; Xa 3:8; Xa 6:12).
Đức Chúa Trời sẽ tẩy-sạch dân Ngài (Xa 4:4; Xa 12:10; Xa 13:1), phục hồi sự kết quả của xứ và ở cùng họ như Ngài đã làm khi Ngài dẫn dắt họ qua đồng vắng (Ês 4:5-6; Xu 13:21-22). Không chỉ đền thờ nhưng mọi vật ở trong sẽ được chúc phước bởi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va! Không như thời của Ê-sai, “trong ngày đó” dân-sự sẽ nên thánh (được biệt riêng), và xứ sẽ xinh đẹp và vinh-hiển.
- Ês 2:1-22; xem giải nghĩa Ês 1:1-31.
- Ês 3:1-31; xem giải nghĩa Ês 1:1-31.
- Ês 4:1-6; xem giải nghĩa Ês 1:1-31.
3. Điều Ê-sai hát (Ês 5:1-30)
Người rao-giảng đã trở thành người hát rong và hát lên một bài dân-ca cho Chúa (“bạn yêu dấu của tôi”). Có lẽ những người đã phớt lờ các bài giảng của ông sẽ lắng nghe bài hát của ông. Ông hát về chính dân mình (c.7) và cho thấy Đức Chúa Trời đã nhân-từ với họ ra sao. Đức Chúa Trời đã ban cho họ một xứ thánh và là một xứ tuyệt diệu, nhưng họ đã phạm luật-pháp, làm ô uế xứ bằng tội-lỗi họ và không kết quả cho vinh-hiển của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời đã làm cho họ mọi điều Ngài có thể. Giờ đây tất cả mọi điều còn lại để Ngài làm là đem đến sự xét-đoán trên vườn nho không kết quả và khiến nó trở thành một thứ rác rưởi (chú ý rằng Chúa Giê-xu đã đề-cập đến phân đoạn này trong Mat 21:33-44).
Thế nào là “trái nho hoang” mà dân-tộc sinh ra thay vì “trái nho tốt” mà Đức Chúa Trời tìm kiếm? Trong 6 “tai họa” tiếp theo, Ê-sai định danh những tội-lỗi đem đến sự đoán-xét trên xứ.
•Sự tham lam (Ês 5:8-10).
Trong sự bất-tuân luật-pháp (Lê 25:23-28; IVua 21:1-3), những người giàu lừa gạt người nghèo và chiếm đất họ. Những kẻ bóc lột giàu có này xây dựng những khu nhà lớn và phát triển những nông trại bao la, nhưng Đức Chúa Trời cảnh-cáo họ rằng nhà của họ sẽ trống rỗng và mùa màng của họ nghèo nàn. Hãy tưởng tượng 10 mẫu vườn nho chỉ cho 6 ga-lông rượu và 6 giạ hạt giống sinh ra nửa giạ lúa!
•Sự say sưa (Ês 5:11-17).
Luật-pháp Cựu-ước không đòi hỏi sự cai rượu hoàn toàn nhưng nó cảnh cáo về sự say sưa (Ch 20:1; Ch 23:29-31; Ha 2:15). Sự cảnh-cáo này được lặp lại trong Tân-ước dành cho các tín-đồ ngày nay (Rô 13:13; ICôr 6:9-10; Êph 5:18).
Ê-sai mô-tả người quá nghiện rượu đến nỗi họ bắt đầu cuộc truy hoan ngay khi họ thức dậy vào buổi sáng, và họ tiếp tục uống rượu cho đến quá khuya. Họ hưởng thụ những buổi tiệc và âm nhạc rồi mắc vào những sự cãi lẫy say sưa (Ês 5:14 NIV). Nhưng khi sự đoán-xét đến, những người này sẽ đói khát và trở thành “thức ăn” cho âm ty (c.14). Những “kẻ ăn uống” chính họ sẽ bị ăn và những kẻ uống rượu kiêu-ngạo sẽ bị hạ xuống.
•Sự cẩu thả (Ês 5:18-19).
Ê-sai mô-tả những người bị tội-lỗi trói buộc nhưng họ nói về Chúa và những lời cảnh-cáo của Ngài một cách suồng sã. “Họ thậm chí nhạo báng Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên và thách thức Chúa trừng-phạt họ” (c.19 TLB). Danh “Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên” được sử dụng 25 lần trong Ê-sai, nhưng những kẻ tội-lỗi này chẳng tôn-trọng gì danh ấy. Chúng ta ngày nay có những kẻ hay chế giễu hoài nghi nói một cách hời hợt về Chúa và nghĩ rằng họ sẽ thoát khỏi sự trừng-phạt.
•Sự lừa dối (Ês 5:20).
Những tiêu-chuẩn đạo đức đã bị hủy hoại bởi những định nghĩa mới về tội-lỗi (Am 5:7), người ta sử dụng từ vựng của Đức Chúa Trời chớ không phải từ điển của Ngài. Giống như “sự nói 2 mặt” ngày nay, loại ngôn ngữ này khiến dễ dàng lừa dối người ta và tránh né một lương-tâm tội-lỗi.
Trên thế giới ngày nay, những khoản thuế gia tăng là “những sự gia tăng thu nhập quốc gia” và người nghèo là “người thiếu hụt tài chính”. Sự khám-nghiệm y-học không phải là nguyên nhân sự chết của một bệnh nhân; đó là “sự rủi ro về chẩn đoán ở tầm lớn” (xem Double Speak ‘Lời 2 mặt’ của William Lutz). Bản dịch Kinh Thánh Giê-ru-sa-lem về Thi 12:2 nói điều đó một cách hoàn hảo: “Mọi điều chúng làm là nói dối lẫn nhau, lấy môi dua nịnh mà nói từ lòng giả dối”.
•Sự kiêu-ngạo (Ês 5:21).
Thay vì lắng nghe Đức Chúa Trời, các quan trưởng trao đổi nhiều và thực hiện những quyết định dựa trên sự khôn-ngoan của mình. “Họ tự xưng mình là khôn-ngoan, mà trở nên ngu dại” (Rô 1:22; ICôr 1:18-25). “Chớ khôn-ngoan theo mắt mình, hãy kính-sợ Đức Giê-hô-va, và lìa khỏi sự ác” (Ch 3:7).
•Sự bất công (Ês 5:22-25).
Các quan-xét được xem là thi hành luật-pháp đã sử dụng quyền hành của họ để tha kẻ có tội và trừng-phạt người vô-tội. Họ quan tâm những bữa tiệc rượu hơn là những cuộc xử án công-bằng, và quan tâm việc kiếm tiền (hối lộ) hơn là đề cao công-lý.
Ê-sai cảnh cáo những chính trị gia đồi bại này rằng lửa thạnh nộ của Đức Chúa Trời sắp đến và sẽ đốt cháy họ. Họ giống như hoa bị cắt không có rễ, đẹp đẽ một thời gian, nhưng chắc chắn sẽ chết và trở thành bụi đất.
Nhóm từ trong c.25 nói về cơn giận của Đức Chúa Trời được lập lại trong Ês 9:12,21 và trong Ês 10:4. Tay Ngài giơ lên trong kỳ xét-đoán và sẽ không bỏ xuống cho đến khi Ngài đã hoàn tất công việc Ngài. Ngài sẽ gọi đội quân A-si-ri từ xa và sử dụng họ để trừng-phạt dân Ngài (Ês 5:26-30).
Vương quốc Y-sơ-ra-ên phía Bắc sẽ bị tiêu diệt và Giu-đa, vương quốc phía Nam, sẽ bị tàn phá nhưng cuối cùng được giải cứu, chỉ bị giam cầm ở Ba-by-lôn một thế kỷ sau đó. Đức Chúa Trời nghiêm túc về tội-lỗi của dân-tộc này. Nếu họ không ăn-năn và chấp nhận đề nghị tha-thứ của Ngài (Ês 1:18), vậy mọi điều Ngài có thể làm là giáng sự xét-đoán.
4. Điều Ê-sai từng trải (Ês 6:1-13)
Bất cứ ai đọc 2 sứ-điệp đầu tiên của Ê-sai có thể có khuynh hướng hỏi: “Người này có quyền gì để rao sự xét-đoán trên các quan trưởng của xứ chúng ta và nhiều người thờ-phượng trong đền thờ?” Câu trả lời ở trong chương này: Sự ghi chép của Ê-sai về sự kêu-gọi ông vào chức-vụ. Trước khi ông rao-ra bất cứ “tai họa” nào trên người khác, ông trước hết xưng-tội mình và nói “Khốn nạn cho tôi!”. Ông đã nhìn thấy Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, và ông không thể im lặng. Hãy chú ý các giai đoạn trong từng-trải của Ê-sai với Đức Chúa Trời.
•Sự hiện thấy: Ông nhìn thấy Chúa (Ês 6:1-4).
Chúng ta giả sử rằng Ê-sai đã ở trong đền thờ khi sự-kiện kỳ diệu này xảy ra, nhưng chúng ta không thể chắc chắn. Đền thờ được đề-cập một là đền thờ trên trời, hơn là đền thờ của Sa-lô-môn.
Vua Ô-xia mất năm 740 TC và là một trong những lãnh đạo lớn nhất của Giu-đa, dù những năm về sau ông bị trừng-phạt vì bất-tuân Đức Chúa Trời (IISu 26:16-21). Một vua vĩ đại có thể để lại ngôi trên đất, nhưng vị Vua vĩ đại nhất vẫn ngự trên ngôi thiên-đàng. Theo Gi 12:41 đây là Chúa Giê-xu Christ.
Duy nhất ở đây là những Sê-ra-phin được đề-cập trong Kinh Thánh. Từ Hê-bơ-rơ nghĩa là “cháy” và liên-hệ những tạo vật này với sự thánh-khiết của Đức Chúa Trời. Đây là lý-do chúng lặp đi lặp lại. “Thánh thay, thánh thay, thánh thay” trưóc ngôi Đức Chúa Trời. Một số sinh viên nghĩ rằng những Sê-ra-phin là những “sinh vật” được mô-tả trong Kh 4:6-9).
Khi tôi làm phát ngôn viên đài ra-đi-ô trên chương trình “Songs in the Night” (những bài hát trong đêm) của Hội thánh Moody ở Chicago, tôi thường nhận những bài báo của thính-giả, những tiết mục họ nghĩ có thể hữu ích trên đài phát thanh hằng tuần. Tôi đã quên đa số, nhưng một số mục vẫn ở trong tâm-trí tôi. Một trong những mục hay nhất là “khi triển vọng u ám, hãy cố gắng nhìn lên”.
Đối với Ê-sai trẻ tuổi, triển vọng thật u ám. Vị vua yêu quý của ông đã chết, dân-tộc ông ở trong sự nguy hiểm và ông chẳng thể làm được gì cho điều đó. Triển vọng có thể u ám, nhưng tiến trình đầy vinh-hiển! Đức Chúa Trời vẫn ngự trên ngôi và tể-trị với tư cách Chủ tể vụ trụ! Theo quan-điểm của Thiên-đàng “khắp đất đầy sự vinh-hiển Ngài” (Ês 6:3; Dân 14:21-22; Thi 72:18-19). Khi thế giới của bạn sụp đổ, thật tốt đẹp khi nhìn mọi sự theo quan-điểm của Thiên-đàng.
Sự thấu suốt: Ông nhìn thấy chính mình (Ês 6:5-7). Sự hiện thấy về một Đức Chúa Trời thánh-khiết và âm thanh của thánh ca thờ-phượng đã đem đến sự nhận biết lòng của Ê-sai, và ông đã xưng mình là tội-nhân. Môi dơ dáy bị gây nên bởi một tấm-lòng dơ dáy (Mat 12:34-35).
Ê-sai cầu xin được tẩy sạch bên trong (Thi 51:10) và Đức Chúa Trời đã đáp-ứng nhu-cầu của ông. Nếu hình ảnh này ở trên đất, than có lẽ đến từ bàn thờ bằng đồng nơi huyết tế-lễ đổ ra, hoặc có lẽ từ lư hương của thầy tế-lễ cả vào ngày lễ Chuộc-tội (Lê 16:12). Sự tẩy uế Ê-sai đến bởi huyết hoặc lửa và được xác-minh bởi Lời Chúa (Ês 6:7).
Trước khi chúng ta có thể dạy dỗ người khác, chúng ta phải để Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng ta. Trước khi chúng ta rao-ra “tai họa” trên người khác, chúng ta phải thành thật nói: “Khốn nạn cho tôi!” sự nhận biết của Ê-sai dẫn đến sự xưng-tội dẫn đến sự tẩy-sạch (IGi 19). Giống như Ê-sai, nhiều anh hùng đức-tin lớn đã nhìn thấy bản thân là tội-nhân và hạ mình trước Đức Chúa Trời: Áp-ra-ham (Sa 18:27), Gia-cốp (Sa 32:10), Gióp (Giop 40:1-5), Đa-vít (IISa 7:18), Phao-lô (ITim 1:15) và Phi-e-rơ (Lu 5:8-11).
Khải-tượng: Ông nhìn thấy nhu-cầu (Ês 6:8).
Dân-tộc cần có Chúa, và Chúa cần một tôi-tớ dạy dỗ cho dân sự. Ê-sai tình nguyện làm tôi-tớ đó. Ông không bàn luận sự kêu-gọi ông với Chúa, như Môi-se (Xu 3:11-4:15) và Giê-rê-mi đã làm (Giê 1:4), nhưng chấp nhận sự chỉ định và khiến bản thân sẵn sàng cho Chủ của ông.
Đừng bao giờ đánh giá thấp điều Đức Chúa Trời có thể làm với một người làm việc tự-nguyện. Thậm chí có một nhu-cầu lớn hơn cho những người làm việc ngày nay, và chúng ta có những cơ-hội lớn lao để chia-sẻ Phúc-Âm cho một thế giới hư-mất. Bạn có phải là một trong những người sẵn sàng tình-nguyện của Đức Chúa Trời?
Sự mù lòa: Dân-tộc không thể nhìn thấy (Ês 6:9-13). Chúa đã không ban cho tôi-tớ Ngài nhiều sự khích-lệ! Chức-vụ của Ê-sai thật sự sẽ khiến mắt của một số người mù lòa hơn, tai họ điếc hơn và lòng họ cứng cỏi hơn. Câu 9-10 quan-trọng đến nỗi được trích dẫn 6 lần trong Tân-ước (Mat 13:13-15; Mac 4:12; Lu 8:10; Gi 12:40; Công 28:25-28; Rô 11:8).
Đức Chúa Trời không cố ý làm cho tội-nhân mù lòa, điếc lác và cứng-lòng; nhưng dân-sự càng chống lại lẽ thật của Đức Chúa Trời, họ càng ít có khả năng tiếp nhận lẽ-thật của Đức Chúa Trời. Nhưng tôi-tớ phải rao-ra Lời Chúa cho dù người ta đáp-ứng ra sao, vì sự kiểm-nghiệm của chức-vụ không phải là thành công bên ngoài nhưng là sự trung-tín với Chúa.
Đức Chúa Trời cho Ê-sai biết rằng chức-vụ của ông sẽ kết thúc dường như trong thất bại, với xứ bị đổ nát và dân-sự bắt làm phu-tù (Ês 6:11-12). Nhưng một số người còn sót lại sẽ sống! Điều đó sẽ giống như chồi của một cây bị ngã mà từ đó các rễ (“giống thánh”) sẽ mọc ra, và chúng sẽ tiếp tục đức-tin thật trong xứ. Ê-sai cần một cái nhìn từ xa về chức-vụ của ông, nếu không, ông sẽ cảm thấy như ông sẽ không hoàn thành cái gì cả.
“Hãy đi và nói” vẫn là mệnh-lệnh của Đức Chúa Trời cho dân-sự Ngài (c.9 Mat 28:7; Mac 5:19). Ngài đang chờ đợi chúng ta đáp lời “Có tôi đây, xin hãy sai tôi”.
2. ĐỨC CHÚA TRỜI Ở CÙNG CHÚNG TA! (Ês 7:1-12:6)
“Này, tôi với con cái mà Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi, là dấu và điềm trong Y-sơ-ra-ên, bởi Đức Giê-hô-va vạn quân” (Ês 8:18).
Lời tuyên-bố này của tiên-tri Ê-sai là một chìa khóa để hiểu ý nghĩa của những sự-kiện và lời tiên-tri trong phân đoạn này. Ở những sứ-điệp trước đó của ông, Ê-sai tập trung vào nhu-cầu thuộc-linh của dân-sự ông, nhưng trong phân đoạn này, ông đề-cập đến hoàn cảnh chính trị và tình trạng các quan trưởng không tin cậy Chúa. Bốn tên biểu-tượng có liên-quan trong những sứ-điệp của Ê-sai, mỗi tên có một ý nghĩa rất đặc biệt: Em-ma-nu-ên, Ma-he-sa-la-hát-bát, Sê-a-gia-súp và Ê-sai.
1. Em-ma-nu-ên: Sứ-điệp về sự hy-vọng (Ês 7:1-25)
Một lời-hứa cho vua A-cha (Ês 7:1-9). Đây là thời kỳ nguy hiểm cho dân-tộc Giu-đa. A-si-ri trở nên mạnh hơn và đe dọa những nước nhỏ hơn có sự an-ninh dựa vào một cán cân chính trị rất tinh tế. Sy-ri và Ép-ra-im (vương quốc phía Bắc) đã đẩy Giu-đa vào một liên minh chống lại A-si-ri, nhưng A-cha từ chối hợp tác với họ.
Tại sao? Vì ông đã bí mật lập một hiệp-ước với A-si-ri (IISu 16:5-9). Ông sử dụng “quyền lực chính trị” thay vì tin cậy quyền-năng Đức Chúa Trời. Si-ry và Ép-ra-im lập kế-hoạch lật đổ A-cha và đặt “con trai của Ta-bê-ên” lên ngôi, và A-cha là một người sợ hãi.
Chúa ra lệnh cho Ê-sai dẫn con trai ông là Sê-a-gia-súp (“một số người sót lại sẽ trở về”) và gặp A-cha khi vua đang kiểm tra hệ thống nước trong thành. Lòng A-cha dao động và lòng dân sự ông run sợ (Ês 7:2); Nhưng Ê-sai đến với một sứ-điệp về sự bảo-đảm: “Hãy cẩn thận, ở yên lặng; Đừng sợ chi, cũng đừng nhút nhát” (c.4).
A-cha sẽ tìm thấy sự bình-an bên trong ra sao? Bằng cách tin lời-hứa của Đức Chúa Trời rằng kẻ thù của Giu-đa sẽ bị đánh bại. “Nếu các ngươi không tin, chắc sẽ không đứng vững được” (c.9). Đưc-tin nơi những lời-hứa của Đức Chúa Trời là cách duy nhất để tìm thấy sự bình-an giữa hoạn nạn. “Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình-yên trọn-vẹn, vì người nhờ cậy Ngài” (Os 26:3).
Trong mắt Đức Chúa Trời, 2 vua đầy đe dọa chỉ là “2 khúc củi cháy âm ỉ” (Os 7:4 NIV), những người sẽ chóng biến mất khỏi hiện trường, và họ đều chết 2 năm sau đó. Hơn nữa, trong 65 năm, Ép-ra-im (Y-sơ-ra-ên, vương quốc phía Bắc) sẽ mất mãi mãi. Ê-sai đã nói lời tiên-tri này trong năm 734TC. A-si-ri đã đánh bại Sy-ri trong năm 732 TC và xâm lược Y-sơ-ra-ên trong năm 722 TC. Họ đã truc xuất nhiều người Do-thái và đồng hóa những người còn lại bằng cách hướng dẫn dân ngoại vào xứ, và vào năm 669 TC (65 năm sau đó), dân-tộc này đã không còn tồn tại.
•Một dấu hiệu cho nhà Đa-vít (Ês 7:10-16).
Nếu A-cha tin lời-hứa của Đức Chúa Trời, ông có lẽ sẽ phá vỡ liên minh của ông và kêu-gọi dân-tộc đến với sự cầu-nguyện và ngợi khen. Nhưng vẫn tiếp tục trong sự vô-tín của mình. Nhận ra sự yếu đuối về đức-tin của vua, Ê-sai đề-nghị đưa ra một dấu-hiệu để khích-lệ ông, nhưng A-cha mặc một “bề ngoài mộ đạo” và từ chối đề nghị của ông. Biết rằng mình đã bí mật liên minh với A-si-ri, làm sao A-cha có thể thành thật cầu xin Chúa một dấu-hiệu đặc biệt? Vì vậy, thay vì chỉ nói với vua, Ê-sai đã nói với cả “nhà Đa-vít” và đưa ra lời tiên-tri liên quan đến “Em-ma-nu-ên”.
Dĩ nhiên, sự ứng-nghiệm cuối cùng của lời tiên-tri này ở trong Chúa Giê-xu Christ của chúng ta, Ngài là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Mat 1:18-25; Lu 1:31-35). Sự giáng-sinh đồng trinh của Đấng Christ là một học thuyết chính. Vì nếu Chúa Giê-xu Christ không phải là Đức Chúa Trời đến trong xác thịt loài người, vậy chúng ta không có Chúa Cứu Thế. Chúa Giê-xu phải sinh bởi một nữ đồng trinh, khác với dòng dõi loài người, vì Ngài đã tồn tại trước mẹ Ngài, Ngài không chỉ sinh ra trong thế-gian này, Ngài đã từ trời xuống thế-gian (Gi 3:13; Gi 6:33,38,41-42,50-51,58). Chúa Giê-xu được Cha sai đến và vì vậy đã vào trong thế-gian có một bà mẹ loài người nhưng không có m ột cha loài người (Ês 4:34; Ês 5:23-24,30; Ês 9:4).
Tuy nhiên, “dấu hiệu” này có một ý nghĩa trực tiếp đối với A-cha và dân-tộc Giu-đa. Một người đàn bà lúc đó là một trinh nữ sẽ lập gia đình thụ thai và sinh một con trai có tên là “Em-ma-nu-ên” Con trai này sẽ là một sự nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời ở cùng dân-sự Ngài và sẽ chăm-sóc họ. Dường như trinh nữ này là vợ thứ 2 của Ê-sai, vợ thứ nhất của ông đã chết sớm khi Sê-a-gia-súp sinh ra, và con trai thứ 2 của Ê-sai được đặt tên là “Em-ma-nu-ên” và “Ma-he-sa-la-hát-bát” (Ês 8:1-4 chú ý c.8 và 10).
Những bé trai Do-thái chính thống trở thành “Những con trai của luật-pháp” vào tuổi 12. Con trai đặc biệt này là một sự nhắc nhở rằng Sy-ri và Ép-ra-im sẽ biến mất khỏi bức tranh trong vòng 12 năm kế tiếp. Ê-sai đã rao lời tiên-tri này năm 734 TC. Vào năm 732 TC, A-si-ri đã đánh bại Sy-ri, và năm 722 TC, A-si-ri xâm lược vương quốc phía Bắc, lời tiên-tri đã được ứng-nghiệm.
• Một lời cảnh-cáo cho Giu-đa (Es 7:17-25).
Thay vì tin cậy Chúa, A-cha tiếp tục cậy A-si-ri để được giúp đỡ, và Ê-sai đã cảnh cáo ông rằng A-si-ri sẽ trở thành kẻ thù của Giu-đa. Quân A-si-ri sẽ xâm lược Giu-đa và tàn phá xứ đến nỗi nông nghiệp sẽ chấm dứt và dân-sự chỉ có sản phẩm bơ sữa để ăn (c.15,21-23). Trang trại màu mỡ sẽ trở thành đất hoang vu và dân-sự sẽ bị buộc săn thú hoang để lấy thức ăn. Đó sẽ là một thời kỳ của sự sỉ nhục lớn (c.20 IISa 10:4-5) và hoạn nạn lẽ ra có thể tránh được làm các quan trưởng tin-cậy nơi Chúa.
2. Ma-ha-sa-la-hát-bát: Một cảnh-cáo về sự xét-đoán (Ês 8:1-23)
Ê-sai đã cưới một trinh nữ, và những văn-kiện hợp lệ được làm-chứng và được đóng dấu cưới một trinh nữ, và những văn-kiện hợp lệ được làm-chứng và được đóng dấu một cách thích đáng. Ông thậm chí tuyên-bố rằng đứa con đầu của họ sẽ là một con trai và tên nó sẽ là Ma-ha-sa-la-hát-bát, nghĩa là “mau cướp bóc, nhanh cướp phá”.
Vì các con trai của Ê-sai là những dấu hiệu cho dân-tộc (Ês 8:18), tên này đầy ý nghĩa. Nó nói về sự xét-đoán trong tương lai khi A-si-ri sẽ chinh-phục Sy-ri và xâm lược Y-sơ-ra-ên cùng Giu-đa, và khi Ba-by-lôn sẽ đem Giu-đa vào vòng phu-tù. Một đứa trẻ sẽ bắt đầu nói những câu ý nghĩa về thời kỳ của 2 nước.
Vào năm 732 TC, khoảng 2 năm sau khi con trai của Ê-sai ra đời, cả Phê-sa và Rê-sin đều chết (Ês 7:1) và A-si-ri đã chinh-phục Sy-ri rồi bắt đầu xâm lược Y-sơ-ra-ên (IIVua 15:29). Quân đội này “mau cướp bóc và nhanh cướp phá”.
Trong phần còn lại của chương này, Ê-sai sử dụng 3 sự tương phản sống động để cho các quan trưởng Giu-đa thấy sai lầm họ phạm phải bằng cách nhờ-cậy A-si-ri thay vì tin cậy Chúa.
•Nước lụt thay vì dòng sông êm dịu (Ês 8:5-10).
Bè phái theo A-si-ri ở Giu-đa vui-mừng khi A-si-ri đánh bại Sy-ri và khi cả Phê-ca với Rê-xin chết. Những chiến thắng này dường như chứng-minh rằng một sự liên minh với A-si-ri là đường lối an-toàn nhất để theo. Thay vì tin-cậy Chúa (“lòng nước Si-lô-ê chảy dịu” trong c.6) họ cậy sông lớn của A-si-ri.
Điều họ không nhận ra là sau này sẽ trở thành một trận lụt khi A-si-ri đến và tiêu diệt Y-sơ-ra-ên cùng tàn phá Giu-đa. Đưc Chúa Trời ban cho dân Ngài hòa-bình, nhưng trong sự vô-tín, họ đã chọn chiến tranh. Họ đang bước đi bằng ngoại cảnh chớ không bằng đức-tin.
Nhưng Ê-sai không nhìn thấy chiến thắng lâu dài nào cho đội quân xâm lược. Xét cho cùng, họ đang đi vào xứ của Em-ma-nu-ên, và Đức Chúa Trời ở cùng dân Ngài và sẽ giải cứu họ vì cớ danh Ngài. A-si-ri có thể vạch chiến lược của họ, nhưng Đức Chúa Trời sẽ ngăn trở mọi hoạt động của họ. Đội quân của San-chê-ríp đóng trại quanh Giê-ru-sa-lem, chắc chắn về chiến thắng. Nhưng Đức Chúa Trời đã quét sạch họ bằng một đòn đơn giản (chương 37).
•Họ chọn cạm-bẫy thay vì nơi thánh (Ês 8:11-15).
Đức Chúa Trời cảnh-cáo Ê-sai đừng theo đa số và đừng hỗ trợ cho đảng phái thuận A-si-ri được số đông ưa thích. Dù lập trường của ông bị xem như một sự mưu phản, Ê-sai chống đối mọi liên minh với ngoại bang và kêu-gọi dân-sự đặt niềm tin nơi Chúa (Ês 7:9; Ês 28:16; Ês 30:15).
Những lãnh đạo chính trị Do-thái hỏi: “Điều đó có được nhiều người thích không? Điều đó có an-toàn không?” Nhưng tiên-tri hỏi: “Điều đó có đúng không? Đó có hải là ý muốn Đức Chúa Trời?”
Khi bạn kính-sợ Chúa, bạn không cần phải sợ con người hoặc hoàn cảnh. Phi-e-rơ đề-cập đến phân đoạn này khi ông viết: “Nhưng nếu anh em phải chịu khổ vì điều công-bình, thì anh em có phước. Đừng sợ điều họ sợ; đừng kinh hãi. Nhưng hãy biệt Đấng Christ làm Chúa trong lòng mình:” (IPhi 3:14-15 NIV).
Ê-sai so sánh Chúa với nơi thánh, một vầng đá là nơi ẩn trú cho tín-đồ nhưng là một cái bẫy cho kẻ nào chống nghịch. Hình ảnh Đấng Mê-si-a là hòn đá được tìm thấy lần nữa trong IPhi 28:16 (IPhi 2:4-7; Rô 9:33). “Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, một sự giúp đỡ rất hiện thực trong cơn gian truân” (Thi 46:1).
•Họ chọn sự tối tăm thay vì sự sáng (Ês 8:16-22).
Dân-tộc đã khước từ sứ-điệp của Ê-sai, nhưng điều đó không có nghĩa là chức-vụ ông bị thất bại. Các môn-đồ thật của Chúa đã tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời và cất giữ trong lòng họ. Bằng đức-tin, tiên-tri vui lòng kiên nhẫn chờ đợi Lời Đức Chúa Trời được ứng-nghiệm.
Nhưng thậm chí nếu lời của ông rơi vào những cái tai điếc, Ê-sai và gia đình ông chính là một “lời tiên-tri sống” mà dân-tộc không thể làm ngơ. Tên của Ê-sai nghĩa là “Đức Giê-hô-va là sự cứu-rỗi” và điều này sẽ nhắc nhở dân-sự tin-cậy Chúa giải cứu họ. Tên của con trai lớn của ông nghĩa là “một số người còn sót lại sẽ trở về”, và đây là một lời-hứa khi dường như dân-tộc bị tiêu diệt.
Một số người tin còn sót lại thật đã từ Ba-by-lôn trở về và họ được khích-lệ bởi điều Ê-sai viết trong các chương 40-66. Tên của đứa con trai nhỏ, Ma-ha-sa-la-hát-bát, nghĩa là “nhanh cướp bóc, mau cướp phá” và chỉ ra sự suy sụp của Sy-ri với Ép-ra-im. câu 18 được trích trong Hêb 2:13-14 và được áp dụng cho Chúa Giê-xu Christ.
Trong thời kỳ khủng hoảng của họ, thay vì trở lại với Đức Chúa Trời để được sự kôn ngoan, dân sự đã cầu hỏi ma quỉ (Ês 8:19; Phuc 19:10-12) và điều này làm gia tăng sự tối tăm về đạo đức và thuộc-linh của họ. Sự gia tăng những điều huyền-bí trong thời đại của chúng ta là chứng-cớ con người cố tìm chối bỏ Lời Đức Chúa Trời là quay về những sự giả dối của Sa-tan.
“Nếu dân chẳng nói theo lời này, họ không có ánh sáng của bình minh” (Ês 8:20 NIV). Các quan trưởng của Giu-đa nóng lòng tìm kiếm rạng đông của một ngày mới, nhưng họ chỉ thấy một sự tối tăm sâu thẳm. Lời Đức Chúa Trời là sự sáng duy nhất đáng tin-cậy của chúng ta trong sự tối tăm của thế-gian này (Thi 119:105; IIPhi 1:19-21).
3. Sê-a-gia-súp: Một lời-hứa về sự thương-xót (Ês 8:1-23) (Ês 9:1-11:16)
Tên này nghĩa là “một số người sót lại sẽ trở về”, và sự trở về xứ những người Do-thái sót lại là một chủ-đề chính trong những chương này (Ês 10:20-11:11,12,16). Khi A-si-ri chinh-phục vương quốc Y-sơ-ra-ên phía Bắc (Ép-ra-im), dân-tộc chưa bao giờ được hồi-phục nhưng đã trở thành điều mà chúng ta biết là Sa-ma-ri. Sau sự giam cầm ở Ba-by-lôn (605-586TC), dân Giu-đa được cho cơ-hội khác để tự thiết lập mình trong xứ. Và qua họ, Chúa đem Đấng Mê-si-a vào thế-gian. Nếu một số người sót lại không trở về, những kế hoạch của Đức Chúa Trời để cứu-chuộc một thế giới hư-mất có thể bị thất bại. Phải nhờ vào số ít người sót lại biết bao!
Sự thương-xót của Đức Chúa Trời đối với dân-sự Ngài được nhìn thấy qua 4 chức-vụ Chúa thực hiện cho họ.
• Chúa hứa-ban cho họ một Đấng Cứu Chuộc.
Ê-sai ti ếp tục chủ-đề về sự sáng và sự tối tăm (Ês 8:20-22) bằng cách rao-ra “Sẽ không còn bóng tối nữa” (Ês 9:1 NIV). Đấng Cứu Chuộc sẽ đến và đem cho thế-gian bình minh của một ngày mới (c.2; Lu 1:78-79; Gi 8:12). Chúng ta biết rằng lời tiên-tri này đề-cập đến Đấng Christ vì cách nó được trích dẫn trong Mat 4:13-15 khu vực địa lý được định danh trong Mat 9:1 đặc biệt bị tàn phá khi quân A-si-ri tiến vào, nhưng những khu vực này đặc biệt sẽ tôn-trọng bởi chức-vụ của Đấng Mê-si-a. Chúa Giê-xu được đồng nhất hóa với “xứ Ga-li-lê thuộc dân ngoại” (Mat 4:15 NIV) và chức-vụ đầy yêu-thương của Ngài đối với dân-sự đem đến ánh sáng và sự vui-mừng.
Nhưng tiên-tri đã nhìn xa hơn sự đến thứ nhất của Đấng Christ để thấy sự đến thứ 2 của Ngài và sự thiết lập vương quốc công-bình của Ngài (Ês 9:3-7). Thay vì bảo vệ một số ít người sót lại, Đức Chúa Trời sẽ mở rộng đất nước.
Thay vì kinh-nghiệm sự buồn rầu, dân-sự sẽ vui-mừng như những thợ gặt sau một mùa thu hoạch lớn, những chiến sĩ sau một chiến thắng lớn (Cac 6:1-7:25), hoặc những tù nhân chiến tranh sau khi được tha bổng khỏi ách nô-lệ.
Dĩ nhiên, một số điều này đã xảy ra khi Đức Chúa Trời đánh bại A-si-ri và giải cứu Giê-ru-sa-lem (Ês 37:1-38). Nhưng sự ứng-nghiệm cuối cùng vẫn là tương lai. Mọi quân dụng sẽ bị tiêu diệt (Ês 9:5) vì các nước sẽ không biết chiến tranh nữa (Ês 2:4).
Ês 9:6 tuyên-bố cả nhân-tính (“một con trẻ được sinh ra”) và thần-tính (“một con trai được ban cho”) của Chúa Giê-xu Christ. Tiên-tri sau đó vượt trên thời kỳ vương quốc khi Đấng Mê-si-a sẽ cai-trị trong sự công-bình và công-lý từ ngôi của Đa-vít. Đức Chúa Trời đã hứa với Đa-vít rằng triều đại và ngôi của ông sẽ vững lập mãi mãi (IISa 7:16), và điều này được ứng-nghiệm đúng nghĩa trong Chúa Giê-xu Christ (Lu 1:32,33; Xa 9:9), Đấng một ngày nào đó sẽ cai-trị từ Giê-ru-sa-lem (Ês 11:1-5; Giê 23:5-8; Giê 30:8-10). Vương quốc này được gọi là “Millennium” nghĩa là “một ngàn năm”. Nhóm từ này được sử dụng 6 lần trong Kh 20:1-15.
Nếu danh Ngài là “Đấng Lạ Lùng”, vậy sẽ không có điều gì khó hiểu về sự cai-trị của Ngài! Là Đấng Mưu Luận, Ngài có sự khôn-ngoan để cai-trị cách công-bình. Và là Đức Chúa Trời Quyền Năng, Ngài có quyền để thực hiện những kế hoặc của Ngài “Cha Đời Đời” không gợi ý rằng Con cũng là Cha, vì mỗi Ngôi trong Đức Chúa Trời là rõ ràng. “Cha của Sự Vĩnh Hằng” là một cách dịch tốt hơn.
Ở giữa dân Do-thái, từ “cha” có nghĩa “người khởi đầu” hoặc “nguồn gốc”. Ví-dụ, Sa-tan là “cha (kẻ khởi đầu) của sự nói dối” (Gi 8:44). Nếu bạn muốn điều gì vĩnh cửu, bạn phải có được nó từ Chúa Giê-xu Christ Ngài “Cha của sự Vĩnh Hằng”.
•Chúa xét-đoán Y-sơ-ra-ên vì tội-lỗi (Ês 9:8-10:4).
Phân đoạn dài này mô-tả điều sẽ xảy ra cho vương quốc phía Bắc khi quân A-si-ri xâm lược. Mặc dù chức vụ của Ê-sai chủ yếu cho dân Giu-đa, ông sử dụng Y-sơ-ra-ên như một bài học thực tế để cảnh-cáo vương quốc phía Bắc rằng Đức Chúa Trời không xem nhẹ tội-lỗi? Giu-đa đã phạm-tội trọng, nhưng Đức Chúa Trời trong sự thương-xót của Ngài đã tha-thứ họ vì cớ Đa-vít (Ês 37:35; IVua 11:13; IVua 15:4; IISu 21:7).
Tuy nhiên, sự nhẫn nhục của Đức Chúa Trời một ngày nào đó sẽ chấm dứt.
Lời tuyên-bố chính là: “Vì mọi điều này cơn giận Ngài chẳng lánh khỏi, nhưng tay Ngài còn giơ ra” (Ês 9:12,17,21; Ês 10:4; Ês 5:25). Đây là bàn tay phán-xét của Đức Chúa Trời được giơ ra, không phải sự thương-xót của Ngài (Ês 65:2; Rô 10:21). Đức Chúa Trời xét-đoán họ về sự kiêu-ngạo của họ khi nghĩ rằng những khó khăn hiện tại của họ là tạm thời và dân-tộc có thể tự xây dựng lại tốt hơn trước (Rô 9:8-12).
Ngài cũng đoán xét họ về sự cứng lòng của họ khi từ chối ăn-năn và trở lại với Chúa (c.13-17). Mục đích yêu thương của Đức Chúa Trời trong sự quở phạt là để chúng ta đầu-phục Ngài; Nhưng nếu chúng ta làm cứng lòng mình, vậy sự quở phạt trở thành sự xét-đoán (Hêb 12:1-11). Y-sơ-ra-ên đang bị dẫn đi sai lạc bởi những tiên-tri giả và những quan trưởng dại dột, dân-tộc sẽ không nghe Lời Đức Chúa Trời.
Sự gian ác của Ép-ra-im là tiêu diệt dân-tộc này, giống như ngọn lửa hủy hoại khu rừng hoặc đồng ruộng (Ês 9:18-19). Nhưng tội-nhân sẽ trở thành nhiên liệu cho lửa mà Đức Chúa Trời có thể đốt lên! Trong sự tham lam, dân-sự của vương quốc phía Bắc cắn nuốt nhau (c.20) và tranh chiến nhau (c.21). Nhưng họ sẽ sớm bị A-si-ri cắn nuốt và đánh bại.
Trong Ês 10:1-4; Ê-sai lên án Ép-ra-im về sự bất-công của họ đặc biệt đối với người nghèo, góa phụ và cô nhi. Những luật-lệ bất-công và những sắc lệnh áp bức đã cưới của những người này cả những vật sở hữu tầm thường của họ và những quyền lợi Đức Chúa Trời ban cho họ (Phuc 15:7-8; Phuc 24:17-18). Ba câu hỏi của tiên-tri trong Ês 10:3 phải được mỗi người suy gẫm, là những người cần phải sẵn sàng khi Chúa đến.
Nếu Đức Chúa Trời không thể đem cho chúng ta sự ăn-năn qua Lời Ngài, vậy Ngài phải giơ tay Ngài lên và quở phạt chúng ta. Nếu chúng ta không đầu-phục sự quở phạt của Ngài, vậy Ngài phải giang tay Ngài ra và xét-đoán chúng ta. Đức Chúa Trời nhẫn nhục, nhưng chúng ta không nên thử Ngài bằng thái-độ vô ý hoặc chai lì của chúng ta.
“Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!” (Hêb 10:31).
•Chúa sẽ xét-đoán kẻ thù (Ês 10:5-34)
“Khốn tay cho người A-si-ri!” là cách phân đoạn này mở đầu (xem NIV). Mặc dù Đức Chúa Trời sử dụng A-si-ri để quở phạt Giu-đa, Ngài sẽ không để “công-cụ” của Ngài tự đề-cao nó trong sự kiêu-ngạo. A-si-ri là roi, gậy, rìu và cưa của Ngài (Ês 10:5,15,24). Nhưng chúng đối với dân Do-thái giống như bùn ngoài đường (c.6) và cướp bóc xứ giống như một nông dân thu lượm trứng (c.14).
Mục đích của Đức Chúa Trời là quở phạt, nhưng quân A-si-ri cố ý hủy diệt (c.7). Họ khoe-khoang về những cuộc chinh-phạt của mình (c.8-14; Ês 37:10-13) nhưng không dành vinh-hiển cho Đức Chúa Trời.
Vì thái-độ ngu dốt của họ, Đức Chúa Trời sẽ xét-đoán A-si-ri, vì Đấng làm nên chắc chắn có sự tinh thông về những công-cụ của Ngài! Giống như một bệnh tật hủy hoại và ngọn lửa rừng nóng rực, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ đến với dân-tộc kiêu-ngạo này cùng quân đội của họ. Ngài sẽ hạ họ như cây trong rừng (Ês 10:33-34). Trong thời của Ê-xê-chi-ên, Đức Chúa Trời đã tiêu diệt 185.000 quân lính A-si-ri (Ês 37:36-37) và đế quốc A-si-ri vĩ đại cuối cùng rơi vào Ba-by-lôn năm 609 TC.
Mặc cho A-si-ri chinh phạt vương quốc phía Bắc và ý định tiêu diệt Giu-đa. Đức Chúa Trời sẽ cứu một số người sót lại hầu cho “12 chi phái” sẽ không bị hủy diệt (Công 26:7; Gia 1:1; Kh 21:12). “Một số người sót lại sẽ trở về” (Ês 10:21) là cách dịch của tên con trai lớn của Ê-sai, Sê-a-gia-súp.
Trong các câu 28-30, Ê-sai lần theo bước tiến của quân đội A-si-ri khi họ xâm lấn Giu-đa và diễu hành quanh Giê-ru-sa-lem. Nhưng Lời Đức Chúa Trời đối với dân sự là “Hỡi dân ta, ngươi ở tại Si-ôn, chớ sợ người A-sy-ri!” (c.24). Ê-sai đã trình bày sứ-điệp tương tự cho vua Ê-xê-chi-ên khi quân đội A-si-ri vây Giê-ru-sa-lem, vào năm 701 TC (Ês 37:1-7).
Đức Chúa Trời đã sử dụng A-si-ri để sửa phạt dân Ngài, nhưng Ngài sẽ không cho phép dân-tộc bất kính này đi quá những mục đích của Ngài. Đ ức Chúa Trời có thể sử dụng những người không tin để thực hiện ý muốn Ngài trong đời sống của dân-sự Ngài, nhưng Ngài luôn luôn ở trong sự điều khiển. Chúng ta chẳng bao giờ cần phải sợ hãi bàn tay sửa phạt của Đức Chúa Trời, vì Ngài luôn luôn sửa phạt trong tình yêu (Hêb 12:1-11).
•Chúa sẽ hồi-phục dân Ngài.
Tương phản với những cây kiêu-ngạo bị Đức Chúa Trời cắt hạ (Hêb 10:33-34)là một cái chồi non từ một gốc cây dường như đã chết. Ê-sai nhìn xa hơn những thử thách của dân-sự ông là vương quốc vinh-hiển sẽ được thiết lập khi Đấng Mê-si-a đến cai-trị (Hêb 11:1-9). Triều đại Đa-vít đã chấm dứt, nhưng từ dòng dõi của ông, Đấng Mê-si-a sẽ đến (Rô 1:13; Kh 5:5). Một số người Giu-đa tin kính còn sót lại đã giữ cho dân-tộc sống hầu cho Đấng Mê-si-a có thể ra đời.
Vương quốc Ngài sẽ đòi hỏi sự cai-trị công-bình (Ês 11:1-5) vì Con Đức Chúa Trời và Thánh Linh Đức Chúa Trời sẽ thực hiện những công việc của vương quốc cách công-bình. Khi vua Mê-si-a phán lời Ngài, lời đó có quyền-năng (Thi 2:9; Kh 19:15). Vương quốc Ngài cũng sẽ có nghĩa là một sự sáng tạo được phục-hồi vì thiên nhiên một lần nữa sẽ vui hưởng sự hài hòa mà nó đã hưởng trước khi tội-lỗi bước vào (Ês 11:6-9; Rô 8:18-25). “Thế gian sẽ đầy-dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va như các dòng nước che lấp biển” (Ês 11:9; Ha 2:14).
Những nhân tố của vương quốc sẽ là một dân-tộc Do-thái được tập hợp lại và được hợp nhất (Ês 11:10-16). “Chồi” sẽ trở thành một “biểu ngữ” cho sự củng cố dân sự khi Chúa đến và nhóm dân-sự Ngài lại từ các nước nơi họ đã bị lưu đày (Ês 43:5-6). Đó sẽ giống như một “sự rời khỏi Ai-cập thứ 2” khi Đức Chúa Trời mở đường cho dân-sự Ngài trở về xứ. Trong một ý nghĩa giới hạn lời-hứa này đã được ứng-nghiệm sau khi dân A-si-ri chiến thắng và khi dân Do-thái thoát khỏi sự giam cầm ở Ba-by-lôn; Nhưng sự ứng-nghiệm cuối cùng sẽ ở vào cuối thời kỳ khi Đấng Mê-si-a nhóm họp dân Ngài lại (Ês 27:12-13; Ês 49:22-23; Ês 56:7-8; Mat 24:31; Rô 11:25-29). Sự phân-rẽ nhiều thế kỷ giữa Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sẽ đi đến kết thúc, và thậm chí dân ngoại sẽ bước đi trên “đường cái” dẫn đến Giê-ru-sa-lem.
“Đường cái” là một trong những hình ảnh ưa thích của Ê-sai. Những ai vâng lời Chúa có một con đường bằng phẳng để đi (Ês 26:7-8). Khi Đức Chúa Trời gọi dân sự Ngài trở về xứ, Ngài sẽ dọn đường cho họ (Ês 40:3-4) và dẫn dắt họ cách bình-an (Ês 42:16), Ngài sẽ cất bỏ mọi trở ngại để dân-sự có thể ra đi dễ dàng (Ês 49:11; Ês 57:14; Ês 62:10). Đường cái của Đức Chúa Trời sẽ được gọi là “Đường Thánh” (Ês 35:8).
Khi Ê-sai nhìn vào dân-sự, ông nhìn thấy một dân-tộc tội-lỗi một ngày nào đó sẽ bước đi con “đường cái của sự thánh-khiết” và bước vào một vương quốc công-bình. Ông nhìn thấy một dân hoạn-nạn ngày nào đó sẽ vui hưởng một vương quốc đẹp đẽ và hòa-bình. Ông nhìn thấy một dân tản lạc sẽ được nhóm lại và hiệp nhất dưới vương quyền của Chúa Giê-xu Christ. Chúa Giê-xu đã dạy chúng ta cầu-nguyện “Nước Ngài được đến” (Mat 6:10) vì chỉ khi nước Ngài đến mới có thể có hòa-bình trên đất.
-Ês 9:1-20; xem giải nghĩa Ês 8:1-23.
-Ês 10:1-34; xem giải nghĩa Ês 8:1-23.
-Ês 11:1-16; xem giải nghĩa Ês 8:1-23.
4. Ê-sai: một bài ca về sự cứu-rỗi (Ês 12:1-6)
Tên của Ê-sai nghĩa là “Đức Giê-hô-va là sự cứu-rỗi” và “sự cứu-rỗi” là một chủ-đề chính trong bài ca này. “Trong ngày đó” đề-cập đến ngày nhóm họp và hiệp nhất Y-sơ-ra-ên cùng sự cai-trị công-bình của Chúa Giê-xu Christ.
Những người Do-thái sót lại sẽ trải qua thời kỳ hoạn nạn trên đất (“kỳ tai hại của Gia-cốp” (Gie 30:7) được nhìn thấy Đấng Mê-si-a của họ, ăn-năn và tiếp nhận Ngài bằng đức-tin (Xa 12:10-13; Xa 14:4-11). Được tẩy-sạch và được thiết lập trong vương quốc đã hứa ban cho họ, dân-tộc sẽ ngợi-khen Chúa và ca tụng Ngài giữa vòng dân ngoại.
Điệp-khúc trong Ês 12:2 “Đức Giê-hô-va chính Đức Giê-hô-va là sức mạnh của tôi, bài ca của tôi; Ngài cũng trở nên sự cứu-rỗi của tôi” đã được hát lên lúc dân Do-thái rời khỏi Ai-cập (Xu 15:2) và lúc tái dâng hiến đền thờ thời E-xơ-ra (Thi 118:14). Nó được Biển Đỏ hát sau khi dân Do-thái đã được giải cứu khỏi Ai-cập bởi Môi-se, một tiên-tri. Nó được hát ở Giê-ru-sa-lem khi đền thờ thứ 2 được dâng hiến dưới sự lãnh đạo của E-xơ-ra, một thầy tế-lễ. Nó sẽ được hát lần nữa khi dân-tộc Do-thái tiếp nhận Chúa Giê-xu làm vua của họ. Họ sẽ nhận biết Ngài là “Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên” và sẵn sàng và sống theo thánh-luật của Ngài.
Bài hát vui mừng này kết thúc phân đoạn này của Ê-sai trong đó tiên-tri sử dụng 4 tên ý nghĩa để cho dân-sự biết điều Đức Chúa Trời đã hoạch định cho họ. Vì Em-ma-nu-ên có một sứ-điệp về sự hy-vọng. Ma-ha-sa-la-hát-bát đưa ra một cảnh-cáo về sự xét-đoán, nhưng em trai ông là Sê-a-gia-súp nói đến một lời-hứa về sự thương-xót. Tên của người cha, Ê-sai, đem đến một bài ca về sự vui-mừng khi dân-sự khám phá rằng Đức Giê-hô-va thật sự là sự cứu-rỗi của họ.
Chúa sẽ không bao giờ từ bỏ dân Ngài. Cho dù ngày khó khăn thế nào, hay đêm dài ra sao, đối với dân-sự Đức Chúa Trời, điều tốt nhất phải đến.
3. VỊ TIÊN-TRI NẶNG LÒNG (Ês 13:1-23:18)
“Dù các ông thích hay không, lịch-sử ở về phía chúng tôi. Chúng tôi sẽ chôn các ông!”
Thủ tướng Liên Bang Xô Viết, Nikita Khrushchev đã phát biểu lời tuyên-bố đó với một nhóm ngoại giao phương Tây vào 18/11/1956. Nhưng Khruchchev đã chết, và khi tôi viết những lời này, hệ-thống chủ nghĩa Mác đã đe dọa chôn vùi phương Tây đang tự chôn mình. Lời tiên-tri khoe khoang của Khrushchev đã không ứng-nghiệm.
Có một kiểu mẫu nào cho lịch-sử không? Có người nào chịu trách-nhiệm không? Sử-gia người Anh Edward Gibbon đã gọi lịch-sử là “chẳng hơn gì sổ ghi về tội-lỗi, những điên rồ và những bất hạnh của nhân-loại”. Nhưng nhà lãnh đạo truyền-giáo người Mỹ Arthur T.Pierson nói rằng “Lịch-sử là lịch-sử của Chúa”. Điều nào là đúng?
Tiên-tri Ê-sai sẽ đứng chung với Pierson, vì 11 chương này chắc chắn là chứng-cớ Đức Chúa Trời đang hành động giữa các dân-tộc trên thế giới. Trong các chương này, tiên-tri bày tỏ kế hoạch của Đức Chúa Trời không chỉ cho Giu-đa mà còn cho 10 dân-tộc ngoại bang.
Tổng-thống James Garfield gọi lịch-sử là “cuộn giấy tiên-tri được mở ra”, và Ê-sai mở cuộc giấy để chúng ta đọc.
Các lãnh đạo trên thế giới cần ph ải học bài học mà Nê-bu-cát-nết-sa đã học một cách khó khăn, rằng “Đấng rất cao cai-trị trong nước loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý” (Đa 4:25). Phao-lô đã thực hiện lời tuyên-bố tương tự trước những triết-gia Hy-lạp ở thành A-thên: “(Đức Chúa Trời) định thì giờ cho (các nước) và nơi chính xác họ phải sông” (Công 17:26 NIV). Thật vậy, “lịch-sử là lịch-sử của Chúa”.
Ê-sai gọi những lời tuyên-bố tiên-tri này là “gánh nặng” (Ês 13:1; Ês 14:28; Ês 15:1; Ês 17:1; Ês 19:1; Ês 21:1; Ês 22:1; Ês 23:1). Từ Hê-bơ-rơ nghĩa là “nâng lên”. Tiên-tri đang mang một sức nặng vì tính-chất quan-trọng của sứ-điệp ông (Giê 23:33). Ông đang rao ra những sự xét-đoán có liên quan đến sự hủy diệt các thành và sự tàn sát hằng ngàn người. Chắc chắn ông cảm thấy nặng lòng!
1. Ba-by-lôn (Ês 13:1-22) (Ês 14:23; Ês 21:1-10)
Từ “Ba-bên” nghĩa là “cổng vào một thần” và nghe giống từ Hê-bơ-rơ “balal” nghĩa là “sự lộn xộn” (Sa 10:8-10 Sa 11:1-9). Trong Kinh Thánh, Ba-by-lôn tượng trưng cho hệ thống thế gian do con người dựng nên để thách thức Đức Chúa Trời.
Giê-ru-sa-lem và Ba-by-lôn là những thành tương phản: một thành là thành được chọn của Đức Chúa Trời, thành kia là thành gian ác của loài người. Thành của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại đời-đời, nhưng thành chống nghịch của loài người cuối cùng sẽ bị tiêu diệt (Kh 14:8; Kh 16:19; Kh 17:1-18:24).
Đức Chúa Trời tập hợp quân đội Ngài (Ês 13:1-5,17-18) Đức Chúa Trời là tối cao. Ngài có thể gọi bất cứ quân đội nào Ngài muốn, để thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào Ngài hoạch định. Ngài có thể gọi họ bằng một tiếng huýt sáo (Ês 7:18), hay bằng cách sử dụng các quan trưởng để giương cờ, kêu lên và ra hiệu cho các chiến sĩ (Ês 13:2). trong trường hợp này, Đức Chúa Trời tập hợp quân đội Mê-đi (c.17 Es 21:2), và Ngài gọi họ là “những người được thánh hóa”. Dù không tin nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời, người Mê-đi được Đức Chúa Trời biệt riêng để làm công việc thánh của Ngài.
Ba-by-lôn đã hoàn toàn bị tàn phá năm 689 TC bởi San-chê-ríp và quân đội A-si-ri, nhưng nó đã được con trai của San-chê-ríp xây dựng lại. Vào năm 539 TC, Đa-ri-út người Mê-đi đạ chiếm thành (Đa 5:31), nhưng ông không tàn phá nó. Vào những thế kỷ tiếp theo, Ba-by-lôn đã có “những giây phút chói lói”, nhưng sau cái chết của người chinh-phục vĩ đại cuối cùng của nó, Alexander Đại đế, thành phố suy sụp và chẳng bao lâu đã không còn nữa. Lời tiên-tri của Ê-sai đã ứng-nghiệm, vì thành đã không được xây dựng lại.
Nhưng rõ ràng lời tiên-tri của Ê-sai mô-tả điều gì đó ý nghĩa hơn sự thăng trầm của một thành phố cổ. Các tiên-tri thường bắt đầu một sứ-điệp bằng cách tập trung vào các sự-kiện cục-bộ, nhưng sau đó mở rộng khải-tượng của họ để bày-tỏ điều gì đó lớn hơn.
Ê-sai nhìn thấy trong sự sụp đổ của Ba-by-lôn một bức tranh về “ngày của Chúa” (Ês 13:6,9,13), thời kỳ khi Đức Chúa Trời sẽ trút cơn thạnh nộ của Ngài lên cả thế giới (c.11).
Hình ảnh của người đàn bà đau đẻ được sử dụng trong Kinh Thánh để mô-tả thời kỳ của sự xét-đoán (c.8 Ês 21:3; Ês 26:17) (Giê 6:24; Mi 4:9-10; Mat 24:8 nói “những sự buồn phiền” là “cơn đau đẻ” ITês 5:3). Ê-sai nhìn thấy xa hơn ngày đó là ngày khi hệ thống thế-gian của Ba-by-lôn sẽ bị tiêu diệt (Kh 17:1-18:24). Hãy so sánh Ês 13:10 với Mat 24:29; Gio 2:10; Kh 6:12-14; Giê 50:1-51:64.
•Đức Chúa Trời giải cứu dân Ngài (Ês 14:1-23).
Ê-sai cảnh cáo rằng vương quốc Giu-đa sẽ bị Ba-by-lôn bắt giữ trong sự giam cầm (Ês 5:13; Ês 6:11-12; Ês 11:11 nơi “Si-nê-a” là Ba-by-lôn Ês 39:6) và điều này đả xảy ra vào năm 586 TC.
Giê-rê-mi nói tiên-tri rằng sự giam cầm sẽ kéo dài 70 năm. Khi ấy Ba-by-lôn sẽ bị xét-đoán và dân Do-thái được phép trở về quê hương (Giê 25:1-14). Vì vậy việc Đa-ri-út chiếm Ba-by-lôn sẽ là tin-mừng cho dân Do-thái, vì nó sẽ mang ý nghĩa kết thúc sự lưu-đày và ách nô-lệ của họ.
Bức tranh trong Ês 14:1-23 là bức tranh về một vua hùng mạnh mà sự kiêu-ngạo đưa ông đến sự hủy diệt. Đây là điều đã xảy ra cho Bên-xát-sa khi Đa-ri-út người Mê-đi chiếm Ba-by-lôn năm 539 TC (Đa 5:1-31). Ê-sai mô-tả sự đến âm-phủ của vua, thế giới của người chết, nơi mà của cải, vinh-quang và quyền lực của vua tiêu tan.
Các vua đã chết ở nơi âm-phủ đứng rước ông (Ês 14:9), nhưng đó đều là sự nhạo báng. Sự chết là mức-độ lớn; không có vua nào trong thế giới của người chết. “Lu-ci-phe” (c.12) là tiếng La-tinh nói về “sao mai” và gợi ý rằng sự vinh-hiển của vua không kéo dài bao lâu. Sao mai chiếu sáng nhưng sớm bị tiêu nuốt bởi ánh sáng mặt trời.
Tiên tri nhìn thấy trong sự hiện này điều gì đó sâu xa hơn sự chiến bại của một đế quốc. Trong sự sụp đổ của vua Ba-by-lôn, ông nhìn thấy sự thất bại của Sa-tan, “vua của thế gian này” kẻ tìm cách làm mạnh mẽ và thúc đẩy lãnh đạo của các nước (Gi 12:31; Êph 2:1-3). Đa 10:20 cho thấy rằng Sa-tan đã lập “các vua” (các thiên sứ sa ngã) cho các nước khác nhau để nó có thể khiến các quan trưởng hành động trái với ý muốn Đức Chúa Trời.
Thiên-sứ cao nhất này trong số các thiên-sứ của Đức Chúa Trời đã tìm cách chiếm ngôi Đức Chúa Tr ời và giành cho mình sự thờ-phượng mà chỉ thuộc về Đức Chúa Trời (Mat 4:8-10). Tên “Lu-ci-phe” (“sao mai”) chỉ ra rằng Sa-tan tìm cách bắt chước Chúa Giê-xu Christ, Đấng là “sao mai sáng chói” (Kh 22:16). “Ta sẽ giống như Đấng Rất Cao” cho thấy chiến lược cơ bản của nó, vì nó là một kẻ bắt chước (Ês 14:14; IICôr 11:13-15).
Giống như vua Ba-by-lôn Sa-tan một ngày nào đó sẽ bị hạ xuống và bị đánh bại. Nó sẽ bị đuổi khỏi thiên-đàng (Kh 12:1-18) và cuối cùng bị quăng vào địa-ngục (Kh 20:10). Dù Đức Chúa Trời sẽ đối phó với các vua hoặc các thiên-sứ hay không (Ch 16:18) vẫn đúng: “Sự kiêu-ngạo đi trước sự hủy diệt, và tính tự cao đi trước sự sa ngã” (NKJV).
•Đức Chúa Trời rao ra sự chiến thắng (Es 21:1-10). “Đồng vắng ở gần biển” có thể là khu vực quanh vịnh Ba-tư. Ê-sai sử dụng hình ảnh “bão sa mạc” khi ông mô tả cuộc tấn công của quân A-si-ri chống lại Ba-by-lôn, xảy ra năm 689 TC. Vào thời đó, Ba-by-lôn và A-si-ri là các thế lực đối địch, dù A-si-ri mạnh hơn, và các nước trong khối lưỡi liềm màu mỡ hy-vọng rằng Ba-by-lôn sẽ ngưng tấn công A-si-ri. Tiếc thay, Ba-by-lôn rơi vào A-si-ri mở đường cho A-si-ri quét sạch khu vực xâm chiếm.
Nhận ra những hậu quả về sự sụp đổ của Ba-by-lôn, tiên-tri kinh-nghiệm nỗi đau như một người đàn bà đau đẻ (c.3-4) và cảm thấy bị nghiền như thóc trong cối xay (c.10). Nếu lời tuyên-bố này chỉ về sự sụp đổ của Ba-by-lôn năm 539 TC, dân Do-thái sẽ vui-mừng, vì nó sẽ có nghĩa là sự giải thoát khỏi ách giam cầm. Nhưng vào năm 689 TC, sự thất bại của Ba-by-lôn nghĩa là sự hủy diệt vương quốc phía Bắc và sự tàn phá vương phá Nam.
Chú ý rằng Giê-rê-mi (Giê 51:8) và Giăng (Kh 14:8; Kh 18:2) đều tiếp nhận lời của Ê-sai, “Ba-by-lôn đã đổ rồi! đã đổ rồi!”.
-Ês 14:1-23; xem giải nghĩa Ês 13:1-22.
2. A-si-ri (Ês 14:24-27)
Từ chính ở đây là mục đích. Đức Chúa Trời điều khiển sự dấy lên và sụp đổ của các nước khi Ngài thực hiện những mục đích thiêng-liêng của Ngài trên thế giới. A-si-ri là công-cụ của Ngài để thực hiện những mục đích Ngài (Ês 10:5), và sẽ đến ngày khi Đức Chúa Trời xét-đoán A-si-ri (c.5).
Sự xét-đoán này sẽ xảy ra trong xứ Giu-đa, và Đức Chúa Trời sẽ là quan tòa. A-si-ri đã xâm lược Giu-đa suốt triều đại Ê-xê-chi-ên (701 TC), nhưng Đức Chúa Trời đã tiêu diệt quân đội khi chúng đe dọa chiếm Giê-ru-ra-lem (Ês 37:36). Đức Chúa Trời cho phép A-si-ri trừng phạt Giu-đa nhưng Ngài sẽ không để cho kẻ thù tiêu diệt dân Ngài.
3. Phi-li-tin (Ês 14:28-32)
Một lãnh đạo A-si-ri (“cái roi” Ês 10:15,24) đã chết, và người Phi-li-tin vui-mừng khi kẻ thù họ đã bị suy yếu (Một số sinh-viên nghĩ rằng lãnh đạo này là Shalmaneser V). Nhưng Ê-sai đã cảnh-cáo họ rằng sự vui-mừng của họ là quá tự tin, vì vua mới sẽ tồi tệ hơn. Ê-sai so sánh kẻ cai-trị A-si-ri đã chết với một con rắn sinh ra một con rắn thậm chí tồi tệ hơn!
“Hãy than khóc, hỡi các thành Phi-li-tin. Các ngươi bị kết án” (Ês 14:31 TLB).
Hãy chú ý trong lời tiên-tri này rằng Đức Chúa Trời có một lời đảm-bảo đặc biệt cho dân-sự Ngài, Giu-đa. Thậm chí người nghèo nhất trong những người nghèo sẽ có thức ăn và sự an-toàn (c.30) Si-ôn sẽ được giải cứu khỏi kẻ thù (c.32, Ês 37:36). Nhưng dân Phi-li-tin sẽ bị quét sạch bởi chiến tranh và đói kém (Ês 14:30). Quân đội A-si-ri sẽ đến từ phương Bắc giống như một luồng khói lớn (c.31) và cửa của các thành Phi-li-tin sẽ không ngăn được họ.
Các công-sứ (“sứ-giả” trong c.32) của những nước khác sẽ hỏi điều gì đang xảy ra, nhưng tin tức ngoại giao sẽ tập trung vào Giu-đa chớ không phải Phi-li-tin! Sự giải cứu Giu-đa của Đức Chúa Trời là tin tức thật, không phải là sự xâm chiếm Phi-li-tin của A-si-ri. Chúng ta không biết các nhà ngoại giao và phát-ngôn viên trong giới truyên thông ngày nay sẽ tin tưởng Đức Chúa Trời về một phép-lạ giải cứu hay không.
4. Mô-áp (Ês 14:28-32) (Ês 15:1-16:14)
Dân Mô-áp là sản phẩm sự kết hợp loạn luân của Lót với con gái ông (Sa 19:30-38) và là kẻ thù công khai của dân Do-thái Rô 25:31; Phuc 23:3).
•Lời nguyền về Mô-áp (Ês 15:1-9).
Trong vòng 3 năm (Ês 16:14), lời tiên-tri này nghịch với Mô-áp sẽ được ứng-nghiệm với sự than kóc lớn của dân-tộc. Có ít nhất 14 đề-cập khác nhau về sự than khóc xảy ra trong chương này. Khóc, than vãn, sói đầu, thắt bao gai, kêu la, v.v… Dân-sự trốn trong các đền thờ của họ và cầu-nguyện với các thần của họ, nhưng không ích lợi gì (Ês 15:2).
Thậm chí một ngày hạ mình của dân-tộc đã không ngăn được A-si-ri xâm chiếm Mô-áp và tàn phá xứ. Các đội quân tấn công thường dừng lại ở các con suốt và dòng sông và để lại xứ trong cảnh tan hoang (c.6-7). Nơi đâu có nước ở Mô-áp, nơi đó vấy máu, cuộc tàn sát thật lớn (c.9). Làm sao dân Mô-áp yếu đuối có thể hy-vọng đánh bại con sư tử A-si-ri to lớn?
•Sự nài xin của Mô-áp (Ês 16:1-5).
Một nơi quân A-si-ri không thể chinh phạt là Giê-ru-sa-lem (Ês 10:24-34). Dù quân đội A-si-ri tiến vào vương quốc Giu-đa và phá hại xứ thật nhiều, nó không thể chiếm Giê-ru-sa-lem (chương 36-37). Tuy nhiên, thay vì chạy trốn đến núi Si-ôn, những người Mô-áp tị-nạn đã trốn về phía Nam đến những chỗ cạn của sông Ạt-nôn và “thành đá” của Sê-la ở Ê-đôm.
Từ Sê-la, dân tị-nạn đã gởi lời thỉnh cầu đến vua Giu-đa để cho họ chỗ nương náu tránh kẻ thù, như một hòn đá bảo vệ một ngày nóng nực (Ês 16:3-4; Ês 32:1-2)
Ê-sai không có ấn tượng với những lời cầu-xin của dân Mô-áp. Ông gọi dân Mô-áp là kẻ tống tiền, kẻ tàn hại, kẻ bóc lột, và tuyên-bố rằng dân này chắc chắn bị tiêu diệt (Ês 16:4). Vì sao? Vì họ muốn sự giúp đỡ của Giu-đa, nhưng họ không cần Đức Chúa Trời của Giu-đa. Câu 5 rõ ràng là một hứa ngôn tiên-tri, chỉ ra ngày mà Đấng Mê-si-a sẽ cai-trị trên ngôi Đa-vít trong sự công-bình và thương-xót. Nhưng Mô-áp sẽ không đầu-phục. Họ mu ốn sự giải cứu theo điều-kiện của họ.
•Sự kiêu-ngạo của Mô-áp (Ês 16:6-14).
Chúng ta có thể hiểu sự kiêu-ngạo của một thành giống như Ba-by-lôn (Ês 14:12-14), nhưng dân-tộc Mô-áp bé xíu phải khoe khoang về điều gì? Sự kiêu-ngạo của họ đã ngăn trở họ đầu phục Giu-đa, và điều này dẫn đến thất bại của họ.
Sự khoe khoang của họ sẽ biến thành sự than van và những bài ca của họ sẽ biến thành những bài hát truy điệu. Mô-áp sẽ trở thành như một vườn nho bị giẫm nát và một cánh đồng màu mỡ không được gặt hái. Ês 16:9-11 mô-tả nỗi đau buồn của tiên-tri và nỗi đau buồn của Chúa, về sự tàn phá của Mô-áp.
“Ta chẳng vui về sự chết của kẻ ác” (Êxe 33:11). Ê-sai lẽ ra có thể vui-mừng về sự tàn phá của kẻ thù cũ, nhưng trái lại, ông đã khóc (Ch 24:17-18).
-Ês 15:1-9; xem giải nghĩa Ês 14:28-32.
-Ês 16:1-14; xem giải nghĩa Ês 14:28-32.
5. Đa-mách (Sy-ri) và Ép-ra-im (Y-sơ-ra-ên) (Ês 17:1-14)
Hai nước này liên kết nhau để chống lại A-si-ri và Giu-đa (Ês 7:1-2), vì vậy tiên-tri nói với 2 nước trong một sứ-điệp. Trong ầs 17:1-2 ông cảnh-cáo Đa-mách, thủ đô của A-ram (Sy-ri) rằng thành sẽ bị kẻ thù chiếm lấy. Điều này đã xảy ra khi quân A-si-ri chinh phạt A-ram năm 732 TC. Theo thông tục của họ, người A-si-ri đã trục xuất nhiều công-dân, làm cho xứ và các thành hoang vắng.
Sự sụp đổ của Đa-mách là một cảnh-cáo cho Y-sơ-ra-ên, vương quốc phía Bắc đã phân-rẽ khỏi Giu-đa và Đức Chúa Trời của Giu-đa (IVua 12:1-33). Tiên-tri đã sử dụng nhiều hình ảnh để mô-tả sự sụp đổ của Ép-ra-im: sự tàn phá của các thành được xây công-sự (Ês 17:3), mặt trời lặn (c.4a “sự vinh-hiển đã ra đi” (ISa 4:19-22 NKJV), sự hao mòn của một người bệnh (Ês 17:4b) sự lượm mót của một mùa thu hoạch nhỏ (c.5,6), sự hư nát của một khu vườn biến thành đất bỏ hoang (c.9-11), sự tràn ngập của một cơn lũ lụt (c.12-13a) và rơm rác và cỏ dại bị thổi đi trong một cơn bão (c.13b).
Khi sự xét-đoán đến, dân Y-sơ-ra-ên nhận ra rằng những thần-tượng của họ không thể cứu được họ; Vì vậy họ trở lại với Chúa để được giúp đỡ, nhưng đã quá trễ (Ch 1:20-33). Dân-tộc bệnh hoạn vì tội-lỗi không mong gì hồi-phục được. Một khi gió bắt đầu thổi và lũ lụt bắt đầu dâng lên, dân-tộc không có hy-vọng gì. Vào năm 722 TC. A-si-ri đã chinh phạt, và vương quốc Y-sơ-ra-ên không còn nữa.
Sự nhấn mạnh trong phân đoạn nay là về Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân (Chúa Toàn Năng), Đấng điều khiển các đội quân trên trời và dưới đất (ầs 17:3). Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên (c.6), Đấng đã kêu-gọi chúc phước và cảnh-cáo họ về tội-lỗi của họ. Ngài là Đấng dựng nên chúng ta. Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên (c.7), Ngài là Đức Chúa Trời của sự cứu-rỗi và Hòn Đá của chúng ta (c.10). Dân Y-sơ-ra-ên dại dột biết bao khi cậy nơi các thần của họ do con người tạo ra thay vì tin-cậy Đức Chúa Trời hằng sống (c.8 IVua 12:25-33).
Nhưng giống như Y-sơ-ra-ên ngày xưa, con người ngày nay tin-cậy các thần do họ tạo ra, thay vì Đức Chúa Trời Đấng đã dựng nên họ, các thần-tượng này bao gồm các thần giả dối của lạc thú, của cải, thế lực quân sự, thành quả khoa-học và thậm chí là “kinh nghiệm tôn-giáo”.
6. Ê-thi-ô-bi (Ês 18:1-7)
Bản văn nguyên gốc có “Cút” một xứ bao gồm Ê-thi-ô-bi ngày nay, Su-đăng và Sê-ma-li. Ê-sai gọi nó là “xứ của những cánh đập ào ào” (c.1 NIV) không chỉ vì còn trùng quấy phá xứ, nhưng cũng vì hoạt động ngoại giao điên cuồng tiếp tục khi dân-tộc tìm kiếm các đồng minh để bảo vệ mình khỏi A-si-ri. Ông mô-tả các đại-sứ trong ánh sáng của họ, là những con thuyền đi nhanh, đến các nước Châu Phi để được giúp đỡ. Nhưng Đức Chúa Trời bảo họ trở về nhà (c.2) vì Ngài sẽ tự đối phó với A-si-ri, không cần sự giúp đỡ của bất cứ quân đội nào.
Tương phản với hoạt động điên cuồng của loài người trên đất là sự kiên-nhẫn thầm lặng của Đức Chúa Trời trên Thiên-đàng (c.4) khi Ngài chờ đợi đúng kỳ để gặt vụ mình của sự xét-đoán. A-si-ri được mô-tả là trái nho chín sẽ không bao giờ sót lại, vì Đức Chúa Trời sẽ cắt nó (c.5). Trong c.6, Ê-sai mô-tả bữa tiệc do Đức Chúa Trời bày ra cho chim và thú, xác chết của 185.000 quân lính A-si-ri (Ês 37:36). Xem Kh 14:14-20 và Kh 19:17-21 nơi 2 hình ảnh tương tự này được sử dụng cho kỳ xét-đoán sau rốt.
Thay vì đánh chiếm đây đó với những kế hoạch ngoại giao, dân Cút sẽ đi đến Giê-ru-sa-lem với những lễ vật cho Chúa và cho vua Giu-đa (Ês 17:1-14; IISu 32:20-23). Khi vương quốc tiên-tri được thiết lập, các dân ngoại sẽ đến núi Si-ôn để thờ-phượng Chúa và đem đến cho Ngài những lễ vật (Ês 60:1-7).
7. Ê-díp-tô (Ês 18:1-7) (Es 19:1-20:6)
Cố Tấn-sĩ Wilbur M.Smith, một học-giả tiên-tri hàng đầu đã viết rằng Ês 19:1-25 “chứa đựng lời tiên-tri quan trọng nhất liên quan đến Ê-díp-tô trong toàn bộ Kinh Thánh Cựu-ước” (Egypt in Biblical Prophecy, tr.77 “Ê-díp-tô trong lời tiên-tri ở Kinh Thánh”). Đó là một lời tiên-tri đáng chú ý, vì Ê-sai tuyên bố rằng 3 kẻ thù Ê-díp, Y-sơ-ra-ên, và A-si-ri (I-rắc ngày nay) ngày nào đó sẽ được hiệp-nhất trong sự thờ-phượng Ch úa và dự phần ơn phước Ngài!
Đức Chúa Trời sẽ xét-đoán Ê-díp-tô (Ês 19:1-15; Ês 20:1-6). Lời tiên-tri này có lẽ đã được ứng-nghiệm năm 670 TC khi Ê-díp-tô bị chinh-phạt bởi Esar-haddan, vua A-si-ri. Sự chinh phạt của A-si-ri chứng-minh rằng nhiều thần của Ê-díp-tô không có khả năng giúp đỡ (Ês 19:1), và các đồng bóng cùng thuật-sĩ không thế đưa ra lời khuyên (c.3). Trong thời Môi-se, Đức Chúa Trời đã thấy các thần của Ê-díp-tô (Xu 12:12; Dân 33:4) và sự khôn-ngoan của các quan trưởng Ê-díp-tô và Ngài sẽ làm điều đó lần nữa.
Nhưng đó không phải là tất cả, 42 tuổi của Ê-díp-tô gọi là “nomes” sẽ bị rơi vào sự xáo trộn và bắt đầu tranh chiến với nhau (Ês 19:2). Sông Ni-lơ, nguồn kinh tế của Ê-díp-tô và là dòng chảy cùng các kênh trong xứ, tất cả sẽ khô cạn, và điều này sẽ khiến các nông-phu, ngư-phủ và thợ dệt vải mất việc (c.5-10).
Trải bao thế kỷ, người Ê-díp-tô được tôn-trọng vì sự khôn-ngoan của họ, nhưng giờ đây các vua và mưu-sĩ sẽ không biết phải làm gì (c.11-13). Thay vì đi con đường ngay thẳng, dân-tộc đã bị dẫn lạc lối bởi các quan trưởng hoa mắt như kẻ say rượu đi xiêu tó quanh đống nôm mửa của mình (c.14-15). Không phải là bức tranh đẹp đẽ cho lắm!
Trong thời đại này của sự thông tin gần như tức thời và vận chuyển nhanh chóng, khi mà trong một vấn-đề vài phút, các nước có thể đi đến bờ vực chiến tranh, chúng ta quên rằng Đức Chúa Trời vẫn tể-trị và làm bất cứ điều gì Ngài muốn trong công việc của loài người.
Đức Chúa Trời phá hủy mọi điều người Ê-díp-tô tin-cậy liên hiệp chính trị, kinh tế, tôn-giáo và sự khôn-ngoan của họ và khiến họ trở thành mục tiêu dễ dàng cho người A-si-ri. Khi tin tức thế giới đáng sợ và bạn không biết Đức Chúa Trời ở đâu, hãy đọc Thi 2:1-11 và Công 4:23-31 và hãy nắm lấy hy-vọng.
•Đức Chúa Trời sẽ cứu Ê-díp-tô (Ês 19:16-25).
Nhóm từ “trong ngày đó” được sử dụng 5 lần trong phân đoạn này và chỉ về những ngày sau rốt khi Chúa Giê-xu Christ sẽ thiết lập vương quốc Mê-si-a của Ngài trên đất.
- Một số thay đổi đáng kể sẽ xảy ra.
Ê-díp-tô sẽ sợ hãi Y-sơ-ra-ên (c.16-17) và trở nên được cải hoán cho sự thờ-phượng Đức Chúa Trời chân-thật (c.18-22). Họ sẽ tin-cậy Ngài, không phải những thần-tượng của họ, và cầu-nguyện với Ngài trong những lúc cần kíp. Đây là một lời-hứa rằng vô số người Hồi-giáo ở Ê-díp-tô ngày nào đó sẽ trở lại với Chúa và được cứu!
Những thay đổi thuộc-linh này sẽ đem đến một thay đổi lớn về chính trị: Y-sơ-ra-ên, Ê-díp-tô và A-si-ri (I-rắc ngày nay) sẽ hợp tác và hưởng phước hạnh của Chúa! Họ sẽ không chỉ nhận phước hạnh của Đức Chúa Trời, nhưng họ sẽ đều là một phước hạnh cho những dân-tộc khác (c.23-25).
Một lần nữa, Ê-sai chọn chủ-đề “đường cái” của ông để nhấn mạnh sự hiệp-nhất của 3 nước (Ês 11:16). Đó sẽ là một ngày kỳ diệu thay khi có sự hòa-bình trong vòng Trung Đông vì các nước đã quỳ xuống trước Vua của muôn vua! Chúng ta phải tiếp tục cầu-nguyện: “Dầu vậy, lạy Chúa Giê-xu, xin hãy đến” (Kh 22:20).
Là một lời chú cho lời tiên-tri này và bày-tỏ rằng Ê-sai đã làm những điều kỳ lạ nào đó để gây chú ý của người Giu-đa. Một bè phái muốn lập một liên minh với Ê-díp-tô và Cút, nhưng Ê-sai cảnh cáo họ rằng những liên minh đó chắc chắn sụp đổ. Trong 3 năm, tiên-tri đã nói như một tù binh chiến tranh, mặc chỉ một cái khố, để bày-tỏ sứ-điệp của ông. Đảng phái theo Ê-díp-tô ở Giu-đa đã đem cho tiên-tri sự phiền phức cũng như những người theo Ê-díp-tô đã làm, là những người cùng đi với Môi-se (Kh 30:1-7; Kh 31:1-3; Dân 11:1-35; Dân 14:1-45).
-Ês 19:1-25; xem giải nghĩa Ês 18:1-7.
-Ês 20:1-6; xem giải nghĩa Ês 18:1-7.
-Ês 21:1-10; xem giải nghĩa Ês 13:1-22.
8. Ê-đôm (Ês 21:11-12)
Đu-ma và Sê-I-rơ là tên dành cho Ê-đôm (Dân 24:18). Ê-sai đã đổi một chữ cái trong từ Hê-bơ-rơ “A-đam” và tạo ra “Đu-ma” nghĩa là “sự tĩnh mịch, sự yên lặng”. Đó là cách ông nói: “Ê-đôm sẽ im lặng, nó s ẽ không còn nữa”. Dân Ê-đôm là con cháu của Ê-sau, có biệt danh là “đỏ (Ê-đôm)” (Sa 25:21-34). Ê-đôm là một xứ khắc nghiệt của đá cát đỏ, dân họ cay đắng thù địch với dân Do-thái (Thi 137:7).
Ê-sai là người canh gác trên vách thành (Ês 21:6; Êxe 3:16-21; Êxe 33:1-11) và ông được hỏi: “Đêm thể nào”. Giờ ban đêm thể nào? Sự tiến công của đội quân A-si-ri đã đem sự tối tăm đáng sợ đến cho các nước, và Ê-đôm muốn biết liệu có hy-vọng nào hay ánh sáng nào không. Lời đáp của-tiên tri ngắn gọn nhưng xác đáng, với cả sự thông tin và lời mời. Buổi sáng sẽ đến vì A-si-ri sẽ bị Đức Chúa Trời đánh bại trong các đồng của Giu-đa (Ês 37:36). Nhưng buổi sáng sẽ không kéo dài vì Ba-by-lôn sẽ thay thế A-si-ri và đem đến cho các nước sự tối tăm hơn nữa.
Sau đó Ê-sai thêm vào một lời mời gồm 3 từ đơn giản: hỏi, trở lại, đến. Tiên-tri thúc giục “Hãy tìm kiếm Chúa. Hãy quay lưng với tội-lỗi và trở lại với Ngài. Hãy đến với Ngài và Ngài sẽ tiếp nhận các ngươi!” Chỉ một “ngày cứu rỗi” ngắn ngủi sẽ hiện ra, và họ nên lợi dụng cơ-hội.
Ê-đôm đã không để ý đến lời mời gọi. Dân-tộc đã bị chiếm bởi Ba-by-lôn, sau đó bởi Ba-tư (là người đã thay đổi tên thành “Idumea” và cuối cùng bởi người Rô-ma. Cuộc chiến giữa Ê-sau và Gia-cốp được điều khiển bởi các Hê-rốt, là người Idumea. Sau sự sụp đổ Giê-ru-sa-lem năm 70 SC, Ê-đôm đã biến mất khỏi hiện trường.
9. A-ra-bi (Ês 21:13-17)
Ê-sai nhìn thấy những đoàn thương buôn người A-ra-bi từ Đê-đan rời khỏi con đường buôn bán và trốn trong các bụi cây vì sự xâm lược của đội quân A-si-ri. Thức ăn và nước được đem đến cho những người tị-nạn bởi dân từ Thê-ma một thị trấn ốc đảo.
Cuối cùng đoàn người phải chạy trốn vì những thú vật chậm chạp của các nhà lái buôn làm sao có thê bì kịp với kỵ binh A-si-ri hoặc những cung của họ làm sao bì với vũ khí của quân xâm lược? Giống như người lao động, Đức Chúa Trời có một “hợp đồng” để thực hiện (Ês 16:14). Trong vòng 1 năm, sự phù hòa và vinh-quang của các chi phái A-ra-bi sẽ biến mất.
10. Giu-đa và Giê-ru-sa-lem (Ês 22:1-25)
Dân Giu-đa cư xử giống như kẻ lân cận ngoại đạo của họ, vì vậy chỉ đúng khi Ê-sai phải kể họ trong danh sách các dân-tộc Đức Chúa Trời sẽ xét-đoán. Vâng, trong sự thương-xót, Đức Chúa Trời sẽ giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi quân A-si-ri, nhưng Ngài sẽ không giải cứu họ khỏi Ba-by-lôn. Ê-sai chỉ ra 2 tội-lỗi đặc biệt sẽ gây cho Giu-đa suy sụp và cuối cùng rơi vào sự giam cầm ở Ba-by-lôn.
•Sự vô-tín của dân-sự (Ês 22:1-14).
Mặc dù một số phần của sự mô-tả này có thể dường như áp dụng cho sự xâm lấn của A-si-ri trong thời Ê-xê-chia (chương 36-37, IIVua 18:1-19:37 IISu 32:1-33), sự đề-cập chủ-yếu là về sự chinh phạt Giê-ru-sa-lem của người Ba-by-lôn vào năm 586 TC.
Trong thời Ê-sai, Giê-ru-sa-lem là một “thành vui-mừng” khi dân-sự tham dự mọi kỳ lệ (Ês 5:11-13; Ês 32:12-13) triết-lý phổ biến là “chúng ta hãy ăn và uống, vì ngày mai chúng ta sẽ chết” (Ês 22:13; Ês 56:12; ICôr 15:32). Nhưng tiên-tri đi xuống một trong 3 thung lũng quanh Giê-ru-sa-lem, và ở đó Đức Chúa Trời cho ông một khải-tượng. Những khải-tượng và thung lũng thường đi với nhau.
Ông thấy người ta chết, không phải do vết thương chiến trận nhưng do đói kém và bệnh hoạn (Ês 22:2). Ông thấy các quan cai-trị trong nước chạy trốn trong sự sợ hãi khi quân thù đến (c.3-7 IIVua 25:1-10). Dân-sự sẽ làm mọi điều có thể chuẩn bị cho một sự bao vây lâu dài. (Ês 22:8-11), tập trung áp giáo (IVua 7:2; IVua 10:17), xây công-sự cho các vách thành (IVua 22:9-10), phục-vụ việc cấp nước (c.9 IISu 32:1-4,30; IIVua 20:20), và xây một bể chứa giữa các tường thành (Ês 22:11). Nhưng mọi sự chuẩn bị điên cuồng này sẽ không giải cứu họ khỏi kẻ thù.
“Những sự phòng thủ của Giu-đa bị cất bỏ rồi” (c.8, NIV). Trong sự tự tin sai lầm, họ nói “Như Chúa đã giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi A-si-ri, Ngài cũng sẽ giải cứu chúng ta khỏi Ba-by-lôn”.
•Dân-sự đã làm mọi sự trừ ra tin-cậy Chúa (c.11).
Thay vì dự tiệc, lẽ ra họ nên kiêng-ăn, khóc lóc, thắt bao gai, và nhổ tóc mình trong sự đau buồn (c.12 Exo 9:3; Gia 4:8-10) Đức Chúa Trời sai đến dân-tộc nhiều tiên tri để cảnh-cáo họ, nhưng dân-sự không lắng nghe. Giờ đây đã quá trễ, tội-lỗi của họ không thể được tha-thứ vì lòng họ rất cứng cỏi. Giu-đa sẽ mắc vào sự giam cầm, và Lời Đức Chúa Trời phán với Ê-sai sẽ được ứng-nghiệm (Ês 6:9-13).
•Sự vô-tín của các quan trưởng (Ês 22:15-25).
Nếu các quan trưởng trung-tín với Chúa và kêu-gọi dân-sự ăn-năn có thể có sự hy-vọng, nhưng quá nhiều quan trưởng giống như Sép-na, chỉ nghĩ đến bản thân. Là quan coi kho (quản-gia), Sép-na đứng thứ nhì sau vua Ê-xê-chi-ên về quyền hạn (xem chương 36-39). Nhưng ông đã sử dụng quyền hạn mình (và có thể sử dụng tiền của vua) để xây cho mình ngôi mộ kỷ niệm (Ês 22:16) và thu lấy xe ngựa (c.18 Ês 2:7). Sép-na không phải là người thuộc-linh, và ông có thể đứng về phía đảng phái theo Ê-díp-tô ở Giu-đa.
Đức Chúa Trời đã xét đoán Sép-na bằng cách giáng chức ông (ông đã trở thành “như quả bóng” (Es 22:18) vào trong một xứ xa xôi (A-si-ri?), nơi ông chết. Ông không thể có một tang lễ sang trọng và không thể được chôn trong ngôi mộ cầu kỳ của ông.
Đức Chúa Trời chọn một người mới, Ê-li-a-kim (“Đức Chúa Trời sẽ dấy lên”) và gọi là “đầy-tớ ta”. Thay vì bóc lột dân-sự, ông sẽ là một người cha đối với họ và sử dụng “chìa khóa” (quyền hạn) của ông vì lợi ích của dân-tộc. Ông sẽ như một cái móc đáng tin-cậy được đóng vào trường, trên đó bạn có thể treo nhiều gánh nặng. Nhưng thậm chí một lãnh đạo tin-kính như Ê-li-a-kim cũng không theo ngăn cản sự sụp đổ cuối cùng của Giu-đa, một người nào đó cả dân-tộc sẽ sụp đổ (c.25). Ê-li-a-kim là một bức tranh về Chúa Giê-xu Christ (Kh 3:7). Tôi-tớ cao-trọng hơn hết.
11. Phê-ni-xi (Ês 23:1-18)
Dân Phê-ni-xi (Phoenicia) là một dân buôn bán mà xứ họ có lẽ ngày nay được biết là Lebanon. Tàu bè của họ chạy ở các bờ biển Địa Trung Hải, nơi nhiều thuộc địa của họ bảo-đảm cho họ một sự cung-cấp dồi dào của cải trên thế giới. Ty-rơ và Si-đôn là các thành phố chủ chốt. Cả Đa-vít và Sa-lô-môn đã lợi dụng những nhân công và vật liệu xây dựng từ Phê-ni-xi (IISa 5:11; IVua 5:8-9). Vua A-háp đã cưới công chúa người Phê-ni-xi tên Giê-sa-bên, là người đề xướng việc thờ thần Ba-anh ở Y-sơ-ra-ên (IVua 16:29-33).
•Lời tuyên-bố (Ês 23:1-7).
Ê-sai nói với các tàu bè từ Tây Ban Nha (Ta-rê-si) được neo tại Cyprus (Kít-tim), bảo đoàn thủy thủ của chúng hãy khóc lóc và về nhà (c.6) vì Ty-rơ không còn nữa. Các thương buôn từ Tây Ban Nha, các vùng ven biển và cả Ê-díp-tô sẽ than khóc vì kỹ nghệ tàu bè to lớn của Ty-rơ đã mất và kinh tế Địa Trung Hải đã bị tàn phá (Kh 17:1-18:24 để có một điểm tương tự, và chú ý rằng cả Ba-by-lôn với Ty-rơ ví sánh với những kỵ nữ (Ês 23:16-17).
Các công-dân Ty-rơ vui-mừng sẽ trở nên những kẻ tị-nạn khóc than (c.7) khi Nê-bu-các-nết-sa sẽ chinh phạt Phê-ni-xi năm 572 TC (ông ta không chinh phạt khu vực đảo Ty-sơ, nhưng Alexander Đại đế sẽ làm điều đó năm 322 TC (Êxe 26:1-21).
•Lời giải thích (Ês 23:8-14)
“Ai đã định sự này ngịch cùng Ty-rơ?” (c.8, NIV).
Đức Giê-hô-va Toàn Năng! Như Ngài đã định hủy diệt Ê-díp-tô (Ês 19:23) và Ba-by-lôn (Ês 14:27) Ngài cũng định xét-đoán Ty-rơ. Như A-si-ri đã hủy phá thành Ba-by-lôn năm 689 TC, Ty-rơ và Si-đôn cũng sẽ bị tàn phá bởi một Ba-by-lôn hồi sinh năm 585-572 TC (Ês 23:13). Sự kiêu-ngạo của Ty-rơ (c.9) là một tội-lỗi mà Đức Chúa Trời không thể bỏ qua.
•Lời đoán trước (Ês 23:15-18).
Thậm chí trước sự tàn phá cuối cùng của chúng, Ty-sơ và Si-đôn sẽ không có liên-quan trong việc kinh doanh 70 năm. Lịch-sử cho chúng ta biết rằng người A-si-ri đã bắt đầu suy yếu về quyền lực, Ty-rơ và Si-đôn hồi sinh công việc kinh doanh của họ. Tiên-tri so sánh thành hồi sinh với một kỹ nữ già phải hát những bài ca hay để gây sự chú ý.
Rõ ràng việc kinh doanh tàu bè sẽ không dễ dàng hoặc có lợi như trước đó. Trong c.18 Ê-sai nhìn trước vương quốc Mê-si-a khi của cải thành Ty-rơ sẽ không được tích trữ (Xa 9:3) nhưng được dâng cho Chúa làm một của lễ thánh.
Cuộc hành trình của chúng ta suốt 7 chương này đã dạy chúng ta một số bài học quan-trọng.
-Thứ nhất, Đức Chúa Trời điều khiển các nước trên thế giới, và Ngài có thể làm với họ điều Ngài muốn. “Dù những cối xay của Đức Chúa Trời xay từ từ, nhưng chúng xay hết sức nhuyễn” (Friedrich von Logau, dịch bởi Henry Wadsworth Long fellow).
-Thứ 2, Đức Chúa Trời đặc biệt ghét tội-lỗi và sự kiêu-ngạo (Ês 13:11; Ês 16:6; Ês 23:9; Ch 8:13). Khi các dân-tộc quay lưng với Đức Chúa Trời hằng sống để cậy của cải và vũ trang của họ, Đức Chúa Trời phải cho họ thấy rằng Ngài là nơi trú ẩn chắc chắn duy nhất.
Thứ ba, Đức Chúa Trời xét-đoán các dân-tộc vì cách họ cư xử với nhau. Giu-đa là nước duy nhất được đề-cập có luật-pháp Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời đã xem 10 dân-tộc ngoại khác chịu trách-nhiệm về điều họ đã làm. “Những kẻ không luật-pháp mà phạm-tội, cũng sẽ không luật-pháp mà hư-mất” (Ro 2:12).
-Sau cùng Đức Chúa Trời luôn ban một lời-hứa và hy vọng cho dân-sự Ngài. Ba-by-lôn sẽ sụp đổ, nhưng Đức Chúa Trời sẽ gìn giữ Giu-đa (Ês 14:1-3,32). Mô-áp sẽ không chấp nhận nơi thánh từ Giê-ru-sa-lem, nhưng Đức Chúa Trời ngày nào đó sẽ thiết lập ngôi Đấng Mê-si-a ở đó (Ês 16:5). A-si-ri và Ê-díp-tô có thể là kẻ thù công-khai của dân Do-thái, nhưng một ngày nào đó 3 nước sẽ cùng quy vinh-hiển cho Đức Chúa Trời (Ês 19:23-25).
Vì vậy, cho dù hoàn cảnh của quốc gia hay thế giới có thể trở nên đáng sợ ra sao, con cái Đức Chúa Trời có thể có sự bình-an vì họ biết Đức Chúa Trời Toàn Năng ngự trên Ngôi Ngài. Các nước có thể nổi giận và lập mưu nghịch cùng Đức Chúa Trời, nhưng “Đấng ngự trên trời sẽ cười” (Thi 2:4).
Khi Chúa của trời và đất là Cha của bạn, và bạn vui-mừng mang lấy ách của Đấng Christ, bạn không có gì phải sợ hãi (Mat 11:25-30). Vì vậy, hãy yên lòng!
4. MỘT NƠI TRÚ ẨN KHỎI CƠN BÃO TỐ (Ês 24:1-27:12)
Sau khi nói tiên-tri về 11 nước khác nhau, Ê-sai mở rộng lời tiên-tri của ông và mô-tả một sự xét-đoán sẽ giáng trên cả thế giới.
Từ Hê-bơ-rơ “erets” được sử dụng 16 lần trong chương 24, được dịch là đất, trái đất và thế-gian trong Bản dịch King James. Không phải lúc nào cũng dễ dàng để nói khi “erets” chỉ về một quốc gia hay cả trái đất, nhưng văn cảnh luôn luôn hướng dẫn chúng ta. Ês 24:1-27:12 mô-tả một sự xét-đoán toàn cầu sẽ kết thúc bằng sự hủy diệt kẻ thù Đức Chúa Trời và sự phục-hồi của dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời trong xứ họ.
Ê-sai cảnh cáo vương quốc phía Bắc rằng dân A-si-ri sẽ tiêu diệt họ, và ông cho Giu-đa biết rằng dân Ba-by-lôn sẽ giam cầm họ, nhưng những tai họa cục bộ này chỉ là những điều báo trước về một tai họa lớn kỳ sau rốt sẽ nhận chìm cả thế-gian. Các nhà tiên-tri gọi thời kỳ của sự xét-đoán kinh khiếp này là “Ngày của Chúa” và trong Kinh Thánh Tân-ước, nó được mô-tả trong Mat 24:1-51; Mac 13:1-37; Kh 6:1-19:21).
Ê-sai thực hiện 3 lời tuyên-bố sẽ yên-ủi tuyển dân của Đức Chúa Trời trong ngày xét-đoán kinh hoàng đó. Những lời tuyên bố này cũng khích-lệ chúng ta ngày nay khi chúng ta thấy thế giới của chúng ta lún sâu vào tội-lỗi và sự chống nghịch với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sẽ đối phố kẻ ác chăng? Có hy-vọng gì cho người công-bình?
1. Chúa sẽ xét đoán kẻ thù Ngài (Ês 24:1-23)
Kết quả của sự xét-đoán của Đưc Chúa Trời sẽ là một thế giới trống rỗng, bị bỏ hoang, bị bóp méo, và dân-cư của nó bị tản lạc. Tiên-tri có thể nhớ đến Sa 1:2; Sa 11:9) khi ông viết điều này.
•Không ai trên đất sẽ thoát được.
Vì “Đức Chúa Trời chẳng hề vị nể ai” (Công 10:34). Địa vị, thế lực của cải chẳng phải là sự bảo vệ tránh khỏi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chỉ phán ra, và giống như một kẻ tàn phế sắp chết, “thế gian lụn bại và tàn đi” (Ês 24:3-4 NKJV). Những kẻ kiêu-ngạo về của cải và địa-vị sẽ thấy mình nghèo nàn và bất lực.
Tại sao Đức Chúa Trời quở phạt cư-dân trên thế-gian? Vì họ đã làm ô uế thế gian bởi tội-lỗi mình. Khi A-đam phạm-tội, Đức Chúa Trời rủa sả đất như một phần của sự trừng-phạt (Sa 3:17-19; Rô 8:20-22), và Đức Chúa Trời cảnh-cáo dân Y-sơ-ra-ên rằng tội-lỗi họ đã l àm ô uế Đất Hứa (Dân 35:33). Ngày nay chúng ta thấy sự tham lam của loài người làm ô uế đất có của cải Đức Chúa Trời ban cho. Tội-lỗi có những hậu quả trong thiên nhiên cũng như trong phẩm cách và lương-tâm loài người.
Qua bao thế kỷ, loài người đã làm ô uế thế-gian bởi sự bất-tuân luật-pháp Đức Chúa Trời và vi-phạm các thánh-luật của Ngài. Đây là lý-do về Cơn lụt (Sa 6:5,11-14). Từ lâu trước khi Môi-se ban ra luật-pháp, con người đã biết rằng nói dối, ăn cắp và giết người là sai trái (Rô 1:18-2:16).
Nhưng dù vậy họ đã làm những điều ác này. “Giao-ước đời đời” ở Ês 24:5 đề-cập đến điều chúng ta gọi chung là “Giao-ước Nô-ê” (Sa 8:20-9:17) và chủ yếu đề-cập mối quan tâm của chúng ta về thế giới của Đức Chúa Trời và cách chúng ta đối xử với con người. Ês 24:16 gợi ý rằng Đức Chúa Trời cũng sẽ xét-đoán thế gian vì con người phản bội và không giữ lời. Con người thế-gian đã lạm dụng đất và cư-dân trên đất, và họ sẽ trả giá cho điều đó.
Câu 6-13 cho một bức tranh sống động về điều xảy ra trên đất suốt Ngày của Chúa. Trong Y-sơ-ra-ên, mùa gặt nói chung là một thời kỳ vui-mừng lớn, nhưng sẽ không có sự vui-mừng nào cả, vì sẽ không có mùa gặt nào. Những sự xét-đoán của Đức Chúa Trời sẽ hủy hoại mùa màng cũng như người làm việc là những người sẽ cày cấy đất (Kh 6:8; Kh 9:15).
“Thành” được đề-cập ít nhất 8 lần trong các chương này (Ês 24:10,12; Ês 26:5; Ês 27:10) và được hiểu giống nhau hơn là một sự đề-cập đến bất kỳ một thành riêng biệt nào. Dù dân-sự sông trong khu vực ngoại thành hay trong các thành phố, họ cũng sẽ không thoát khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.
Giống như một nông dân gặt hái quả ô-liu hay quả nho cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ thực hiện một công việc hoàn hảo xét-đoán tội-nhân (Ês 24:13). Tiếng hát duy nhất suốt mùa gặt của Ngài sẽ được thực hiện bởi những người tin còn sót lại là những người tin-cậy Đức Chúa Trời và được giải cứu (c.14-16a). Học thuyết về “những người còn sót lại” là một phần quan-trọng trong sứ-điệp của Ê-sai (Ês 1:9; Ês 10:20-22; Ês 11:11,16; Ês 14:22,30). Con trai lớn của Ê-sai được gọi là “một số người sót lại sẽ trở về” (Ês 7:3).
Tiên tri đã thay đổi hình ảnh trong Ês 24:17-18 khi ông mô-tả những cố gắng vô ích của các thú vật sợ hãi để tránh những cái bẫy của thợ săn. Nhưng xa rời đức-tin nơi Chúa, sẽ không có nơi trốn thoát nào trong ngày xét-đoán lớn đó. Cho dù tội-nhân đi đâu, họ sẽ không thể trốn khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (Kh 6:15-17).
• Việc mở các cửa sổ trên trời (Ês 24:18b) nhắc nhở chúng ta về Cơn lụt (Sa 7:11). Chúa Giê-xu phán rằng, trước “Ngày của Chúa”, xã hội sẽ như trong thời trước Cơn lụt (Mat 24:37-42). Trong ngày ấy, Đức Chúa Trời sẽ rúng động mọi vật, và bất cứ điều gì con người đã làm sẽ đảo lộn như một người say và sụp đổ như túp lều mỏng manh (Ês 24:20; Ês 1:8). Sức nặng của tội-lỗi sẽ quá nặng nên con người không thể mang nổi.
Nhưng Ngày của Chúa sẽ ảnh hưởng không chỉ trên đất và dân-sự của nó mà cũng ảnh hưởng đến Sa-tan và cơ-binh của nó. Đức Chúa Trời sẽ xét-đoán “các thế lực trên trời cao” cũng như