9. ĐÂY LÀ TÔI-TỚ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Ês 49:1-52:12)
Một bức trang trí trong phòng một người bạn viết rằng: “Thế-gian đầy những người muốn phục-vụ với tư-cách cố-vấn”.
Nhưng...
...Chúa Giê-xu Christ đã không đến với lời khuyên tốt lành, Ngài đến bằng tin tức tốt lành, Phúc-Âm mà tội-nhân có thể được tha-thứ và đời sống có thể trở nên mới mẻ một cách phấn khởi. Phúc-Âm là tin tức tốt lành đối với chúng ta, nhưng đó là “tin xấu” cho Con Đức Chúa Trời, vì nó có nghĩa là Ngài sẽ cần phải chuộc tội-lỗi của thế-gian.
Những chương này giới thiệu Tôi-Tớ của Đức Chúa Trời, Đấng Mê-si-a trong 3 mối liên-hệ quan-trọng: với các dân ngoại (Ês 49:1-50:3), với Cha Ngài (Ês 50:4-11) và với dân Y-sơ-ra-ên của Ngài (Ês 51:1-52:12).
1. Tôi-Tớ và dân ngoại (Ês 49:1-26) (Ês 49:1-50:3)
Tôi-Tớ nói với các dân-tộc không biết Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Dân ngoại là “xa lạ” và chỉ Tôi-Tớ Đức Chúa Trời mới có thể đem họ đến gần (Êph 2:11-22). Đâng Christ đã xác nhận những lời-hứa của Đức Chúa Trời đối với dân Do-thái và cũng trải rộng ân-điển Đức Chúa Trời đến các dân ngoại (Rô 15:8-12).
Trong sứ-điệp này, Tôi-Tớ Đức Chúa Trời giải thích chức-vụ của Ngài với tư cách đem sự sáng vào nơi tối tăm (Ês 49:1-7), sự giải phóng vào nơi giam cầm (c.8-13) và tình yêu cùng hy-vọng cho những người nản lòng (Ês 49:14-50:3).
•Sự sáng trong nơi tối tăm (Ês 49:1-7).
Tôi-Tớ Đức Chúa Trời đã phải nói với các dân ngoại điều gì hợp với quyền hạn của Ngài như thế? Từ trước khi Ngài giáng sinh, Ngài đã được Đức Chúa Trời kêu-gọi vào chức-vụ (Giê 1:5; Ga 1:15) và Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho Ngài như một gươm bén và một tên nhọn (Hêb 4:12; Kh 116). Đấng Mê-si-a đã đến với tư-cách một Tôi-Tớ và một Chiến sĩ, hầu-việc những ai tin-cậy Ngài và cuối cùng xét-đoán những ai chống nghịch Ngài.
Mọi tôi-tớ của Đức Chúa Trời sẽ giống như vũ khí sẵn sàng. Robert Murray Mc Cheyne đã viết: “Không phải là những tài năng lớn mà Đức Chúa Trời chúc phước nhiều như Chúa Giê-xu. Một người thi hành chức-vụ thánh (tôi-tớ) là một vũ khí đáng sợ trong tay Đức Chúa Trời”.
Dân-tộc Do-thái được kêu-gọi để làm vinh-hiển Đức Chúa Trời và làm sự sáng cho dân ngoại. Nhưng họ đã thất bại trong sứ-mạng mình. Đây là lý-do Đấng Mê-si-a được gọi là “Y-sơ-ra-ên” trong Ês 49:3 Ngài làm công việc mà Y-sơ-ra-ên lẽ ra phải làm.
Ngày nay, Hội thánh là sự sáng của Đức Chúa Trời giữa thế giới tối tăm này (Công 13:46-49; Mat 5:14-16), và như Y-sơ-ra-ên, chúng ta dường như thất bại trong sứ-mạng của mình để đem Phúc-Âm đến đầu cùng trái đất. Chúng ta không thể làm công việc thật hiệu quả khi chỉ 5% ngân sách của Hội thánh địa phương thông thường được dành cho sự truyền-giảng Phúc-Âm!
Khi Chúa Giê-xu Christ thi hành chức-vụ trên đất, đặc biệt cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, có những lúc khi công việc của Ngài dường như vô ích (Ês 49:4). C ác chức sắc tôn-giáo đã chống đối Ngài, các môn-đồ không phải lúc nào cũng hiểu Ngài, và những người được Ngài giúp đỡ không phải luôn cảm ơn Ngài. Ngài đã sống và lao động bởi đức-tin, và Đức Chúa Trời đã ban-cho Ngài sự thành công.
Chúa của chúng ta đã không thể dạy dỗ cho dân ngoại cho đến khi Ngài trước hết dạy dỗ cho dân Do-thái (c.5-6). Hãy đọc cẩn thận Mat 10:5-6; Mat 15:24; Lu 24:44-49; Công 3:25-26; Công 13:46-47; Rô 1:16. Khi Chúa chúng ta trở về trời, Ngài để lại một số người Do-thái tin-kính sót lại thực hiện công việc Ngài. Chúng ta đừng quên rằng “Sự cứu-rỗi thuộc về dân Do-thái” (Gi 4:22). Kinh Thánh là một cuốn sách của Do-thái, những tín-đồ và những truyền-đạo đầu tiên là dân Do-thái, và dân ngoại sẽ không nghe về Phúc-Âm nếu nó không được đem đến cho họ bởi dân Do-thái. Đấng Mê-si-a đã bị cả dân Do-thái lẫn dân ngoại khinh dể (Gi 49:7), nhưng Ngài đã làm công việc của Đức Chúa Trời và được vinh-hiển (Phi 2:1-11).
• Sự giải phóng và những phu-tù (Ês 49:8-13).
Tôi Tớ Đức Chúa Trời không chỉ là “Y-sơ-ra-ên mới”, nhưng Ngài cũng là “Môi-se mới” trong việc giải phóng dân Ngài. Chúa Giê-xu Christ là giao-ước của Đức Chúa Trời (Ês 42:6), vì vậy chúng ta có thể chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ những lời-hứa của Ngài. Môi-se đã dẫn dân-tộc ra khỏi ách nô-lệ ở Ê-díp-tô, và Đức Chúa Trời sẽ dẫn dân Ngài ra khỏi sự giam cầm ở Ba-by-lôn. Giô-suê đã dẫn dân-sự vào xứ họ để họ có thể tuyên-bố di-sản của mình, và Đức Chúa Trời sẽ đem họ về xứ họ “đặng lập lại những di sản hoang vu của nó” (Ês 49:8 NIV).
Điều này áp dụng ra sao cho dân ngoại?
Nếu Đức Chúa Trời không hồi phục dân-sự, thành và đền thờ, Ngài không hể làm trọn những lời-hứa của Ngài có liên-quan đến Đấng Mê-si-a. Nếu không có Giê-ru-sa-lem, Ngài sẽ được sinh ra ở đâu? Nếu không có Na-xa-rét, Ngài sẽ lớn lên ở đâu? Nếu không có Giê-ru-sa-lem và đền thờ, Ngài sẽ dạy dỗ, chịu khổ và chịu chết ở đâu? và Ngài đã làm điều này cho dân ngoại cũng như dân Do-thái.
Câu 10-12 nhìn xa hơn sự giải cứu khỏi Ba-by-lôn vào năm 536 TC để thấy vương quốc vinh-hiển trong tương lai. Chúa s ẽ gọi dân Do-thái từ đầu cùng trái đất và nhóm họ lại trong xứ họ (Ês 14:1-3; Ês 35:6; Ês 40:11; Ês 43:19).
•Tình yêu và hy-vọng cho những người nản lòng (Ês 49:14-50:3).
“Đức Giê-hô-va sẽ yên-ủi dân Ngài và sẽ bày-tỏ sự thương-xót trên những kẻ khốn khó của Ngài” (Ês 49:13 NIV).
Vì vậy dân-sự Đức Chúa Trời ca hát khi họ suy gẫm sự giải cứu trong tương lai, nhưng dân-sự bị giam cầm và những người ở trong “những di sản hoang vu” không vui-mừng như vậy. Thay vì ca hát họ phàn nàn: “Đức Giê-hô-va đã lìa bỏ ta. Và Chúa ta đã quên ta” (c.14 NKJV).
Chúa bảo-đảm với họ về tình yêu Ngài bằng cách so sánh Ngài với một người mẹ đầy lòng thương-xót (c.14-23), một chiến sĩ can-đảm (c.24-26), và một người yêu bất biến (Ês 50:1-3).
a. Một người mẹ đầy lòng thương-xót (c.14-23).
Kinh Thánh nhấn mạnh địa-vị người cha của Đức Chúa Trời, nhưng cũng có một mặt “địa-vị người mẹ” đối với bản-chất của Đức Chúa Trời mà chúng ta không nên quên. Đức Chúa Trời đầy thương-xót và yên-ủi chúng ta như một người mẹ yên-ủi con cái mình (Ês 66:13).
Ê-sai mô-tả Y-sơ-ra-ên như một đứa trẻ bú sữa, hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa là Đấng sẽ không bao giờ quên họ hoặc lìa bỏ họ. Thầy tế-lễ cả mang tên của các chi phái Y-sơ-ra-ên trên vai và trong lòng ông (Xu 28:6-9), chạm trên bích ngọc, nhưng Đức Chúa Trời đã khắc tên con cái Ngài trên tay Ngài. Từ “chạm” nghĩa là “chèn vào” biểu thị sự lâu dài của nó. Đức Chúa Trời không bao giờ có thể quên Si-ôn hay con cái của Si-ôn.
Si-ôn dường như là một người mẹ bị từ bỏ và son sẻ, nhưng bà sẽ được Đức Chua Trời chúc phước đến nỗi sẽ không có chỗ cho con cái bà! Chúng sẽ giống như những đồ trang sức xinh đẹp của cô dâu, không phải là những kẻ tị-nạn già yếu từ sự lưu-đày. Một lần nữa, tiên-tri nhìn về trước cho đến thời kỳ cuối cùng khi dân ngoại sẽ tôn-kính Đức Giê-hô-va và Y-sơ-ra-ên cac vua và các hoàng hậu sẽ là những bà vú cho con cái của Y-sơ-ra-ên!
b. Một chiến sĩ can-đảm (c.24-26).
Dân Ba-by-lôn là những chiến sĩ mạnh mẽ, nhưng Chúa sẽ giật lấy Y-sơ-ra-ên từ tay họ. Bằng sự thương-xót, Ngài sẽ giải phóng những phu-tù và bảo-đảm rằng Ba-by-lôn sẽ không bao giờ làm khổ họ lần nữa. Sự-kiện Đức Chúa Trời cho phép thời điểm thích hợp đến, Ngài sẽ giải phóng dân Ngài. “Những kẻ trông-cậy ta sẽ chẳng hổ thẹn” (c.23).
c. Một người yêu bất biến (Ês 50:1-3).
Hình ảnh Y-sơ-ra-ên là vợ của Đức Giê-hô-va thường được tìm thấy nơi các tiên-tri (Ês 54:4-5; Ês 62:1-5; Giê 2:1-3; Giê 3:1-11; Os 2:1-23; Êxe 16:1-63).
Y-sơ-ra-ên đã được “gả” cho Đức Giê-hô-va khi họ chấp nhận giao-ước tại núi Si-nai (Xu 19:1-20:26), nhưng họ đã vi phạm giao-ước đó bằng cách “làm gái điếm” và thờ-phượng hình-tượng. Nhưng Đức Chúa Trời đã không lìa bỏ dân-sự Ngài cho dù họ đã không trung-thành với Ngài.
•Sự cho phép ly-dị theo luật Môi-se được tìm thấy trong Phuc 24:1-4; Mat 19:1-2.
“Tờ ly-dị” tuyên-bố rằng cuộc hôn-nhân trước đó đã bị phá vỡ và người đàn bà được tự-do tái lập gia đình. Nhưng nó cũng ngăn trở người đàn bà trở lại với chồng trước của mình. Đức Chúa Trời thật sự đã “ly-dị” vương quốc phía Bắc và cho phép nó bị dân A-si-ri đồng hóa (Giê 3:8), vì vậy nó không thể trở về. Nhưng Ngài đã không “ly-dị” với vương quốc phía Nam, Ngài chỉ để cho người vợ bất trung của mình chịu sự trừng-phạt trong tay Ba-by-lôn.Ngài sẽ tha-thứ này và chấp nhận nàng trở lại lần nữa.
Bức tranh thứ 2 trong đoạn này là bức tranh về một gia đình nghèo bán con cái mình làm nô-lệ (IIVua 4:1-7; Ne 5:1-5). Đức Chúa Trời đã không bán dân Ngài; bởi tội-lỗi họ, họ đã tự bán mình. Đức Chúa Trời đã kêu gọi họ nhiều lần và tìm cách khiến họ quay lưng với những lối ác của họ, nhưng họ không chịu lắng nghe. Giu-đa đã mắc vào sự lưu-đày không phải vì sự yếu đuối của Đức Chúa Trời, nhưng vì sự phạm-tội của họ.
Làm sao dân-sự có thể nói họ bị quên và bị lìa bỏ khi Chúa là một người mẹ đầy lòng thương-xót, một chiến sĩ can-đảm và một người yêu bất biến? Ngài thành-tín với Lời Ngài thậm chí khi chúng ta vô-tín (IITim 2:11-13), nhưng Ngài cũng thành-tín tha-thứ khi chúng ta ăn-năn và xưng-tội (IGi 1:9).
Sứ-điệp của Tôi-Tớ cho dân ngoại là một sứ-điệp về hy-vọng và phước hạnh Ngài sẽ đối phó với dân Ngài để đến lượt họ có thể đem đến phước hạnh của Đức Chúa Trời cho dân ngoại.
-Ês 50:1-3; xem giải nghĩa Ês 49:1-26.
2. Tôi-Tớ và Giê-hô-va Đ ức Chúa Trời (Ês 50:4-11)
Trong 2 “Bài ca về Tôi-Tớ” đầu tiên (Ês 42:1-7; Ês 49:1-7), bạn tìm thấy những ngụ ý về sự chống đối chức-vụ của Đấng Mê-si-a, nhưng trong Bài ca thứ 3 này, sự chịu khổ của Ngài được mô-tả cách sống động. Khi chúng ta đi đến Bài ca thứ 4 (Ês 52:12-53:12), chúng ta sẽ được biết không chỉ là cách Ngài chịu khổ, mà còn được biết lý-do sự chịu khổ của Ngài là cần thiết.
Hãy chú ý rằng 4 lần trong phân đoạn này, Tôi-Tớ sử dụng danh “Chúa Giê-hô-va”. “Jehovah Adonai” có thể được dịch là “Chúa tối cao” và bạn sẽ tìm thấy danh hiệu này không nơi nào khác trong “những bài ca về Tôi-Tớ”. Theo Robert B.Girdlestone, danh “Jehovah Adonai” nghĩa là “Đức Chúa Trời là chủ của mỗi thành viên trong gia đình loài người, và do đó Ngài đòi hỏi sự vâng-phục không hạn chế của mọi người” (Synonyms of the Old Testament (những từ đồng nghĩa trong Cựu-ước); Eerdmans, 1951, tr.34). Vì vậy điểm nhấn mạnh ở đây là về sự đầu-phục Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Tôi-Tớ trong mọi lãnh vực của đời sống và sự phục-vụ của Ngài.
Tâm-trí Ngài đầu-phục Đức Chúa Trời để Ngài có thể học Lời Đức Chúa Trời và ý muốn Đức Chúa Trời (Ês 50:4). Mọi điều Chúa Giê-xu nói và làm đã được Cha Ngài dạy cho Ngài (Gi 5:9,30; Gi 6:38; Gi 8:28). Ngài cầu-nguyện với Cha để được sự hướng dẫn (Gi 11:42; Mac 1:35) và suy gẫm Lời Chúa. Điều Đức Chúa Trời dạy Tôi-Tớ, Tôi-Tớ đã chia-sẻ với những người cần sự khích-lệ và giúp đỡ. Tôi-Tớ nêu một gương tốt ở đây cho mọi người biết tầm quan-trọng của “thời gian yên tĩnh” với Chúa mỗi ngày.
•Ý chí của Tôi-Tớ cũng đầu-phục Đức Chúa Trời.
“Tai được mở ra” là tai nghe và vâng-theo tiếng của chủ. Những người được Ê-sai dạy dỗ đã không “sẵn sàng” và “vâng-lời” (Ês 119), nhưng Tôi-Tớ đã làm theo ý muốn Đức Chúa Trời cách vui-mừng. Điều này không chỉ vì nó có nghĩa là phó thân Ngài cho kẻ ác là những kẻ chế nhạo Ngài, đánh đòn Ngài, tát tai Ngài và rồi đóng đinh Ngài vào thập-tự (Mat 26:67; Mat 27:26,30).
•Tôi-Tớ đã làm mọi điều này bằng đức-tin nơi Đức Chúa Trời (Ês 50:7-11).
Ngài quyết định làm theo ý muốn Đức Chúa Trời dù điều đó có nghĩa là lên thập-tự giá (Lu 9:51; Gi 18:1-11) vì Ngài biết rằng Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ Ngài. Tôi-Tớ đã bị vu cáo, nhưng Ngài biết rằng Đức Chúa Trời sẽ bào chữa cho Ngài và cuối cùng đặt kẻ thù Ngài vào chỗ nhục nhã.
Hãy nhớ rằng khi Chúa Giê-xu Christ thi hành chức-vụ trên đất, Ngài phải sống bằng đức-tin như chúng ta phải sống như vậy hôm nay. Ngài đã không sử dụng quyền-năng thiêng-liêng cách ích kỷ cho chính Ngài nhưng tin-cậy Đức Chúa Trời và nhờ vào quyền-năng của Thánh Linh.
Câu 10-11 được nói đặc biệt với dân Do-thái còn sót lại, nhưng những câu ấy có một ứng dụng cho dân Đức Chúa Trời ngày nay. Những ngư ời trung-tín của Ngài bối rối về điều Đức Chúa Trời đang làm, nhưng Ngài bảo-đảm với họ rằng đức-tin của họ sẽ được tưởng thưởng.
Tấn-sĩ BobJenes thường nói: “Đừng bao giờ nghi ngờ trong bóng tối điều mà Đức Chúa Trời đã cho bạn biết trong ánh sáng”. Nhưng những người vô-tín tìm cách loại bỏ bóng tối bằng cách thắp sáng những ngọn lửa của riêng họ (chẳng hạn như làm theo những kế hoạch của họ), sẽ đi đến chỗ buồn rầu và khổ sở.
Trong sự vâng-lời Chúa, bạn có thể tìm thấy chính mình trong bóng tối, nhưng đừng hoảng sợ, vì Ngài sẽ đem đến cho bạn ánh sáng bạn cần ngay đúng lúc.
3. Tôi-Tớ và Y-sơ-ra-ên (Ês 50:4-11) (Ês 51:1-52:12)
Phần này chứa đựng nhiều lời khuyên: “hãy lắng nghe Ta” (Ês 51:1,4,7) “Hãy thức dậy, thức dậy” (c.9,17 Ês 52:1-6) và “hãy ra đi” (c.7,12). Không kể Ês 51:6-9 là một lời cầu nguyện được nói Chúa, mỗi lời khuyên này đều từ Đức Chúa Trời dành cho dân Ngài ở Ba-by-lôn.
•“Hãy lắng nghe ta” (Ês 51:1-8).
Ba lời khuyên này được nói với những người trung-tín còn sót lại ở Y-sơ-ra-ên, dân được mô-tả trong Ês 50:10. Trong lời khuyên thứ nhất (Ês 51:1-3), Chúa bảo họ nhìn lại và nhớ đến Áp-ra-ham với Sa-ra, tổ-tiên của dân-tộc Do-thái (Sa 12:1-25:34). Đức Chúa Trời đã kêu-gọi họ “chỉ một mình”, nhưng từ 2 người già này đã ra một dân nhiều như bụi trên đất và sao trên trời (Sa 13:16; Sa 15:5).
Những người còn sót lại rời Ba-by-lôn vốn nhỏ bé và yếu đuối, nhưng Đức Chúa Trời đã có thể khiến họ gia tăng thành một dân-tộc hùng mạnh và cũng biến xứ tàn phá của họ thành một thiên-đường. Đức Chúa Trời phán với một dân-sự Ngài: “Hãy yên lòng! Điều tốt nhất dù sao phải đến!”
•Trong mệnh-lệnh thứ 2 (Ês 51:4-6),
Đức Chúa Trời bảo họ nh ìn lên và nhận biệt rằng sự công-bình sẽ đến thế-gian và họ sẽ được Chúa bênh vực. Hãy chú ý sự nhấn mạnh về từ “của Ta”: Dân của Ta, nước của Ta, sự công-bình của ta, cánh tay Ta, sự cứu-rỗi của Ta.
Đây là ân-điển của Đức Chúa Trời, làm cho dân Ngài điều mà họ không xứng đáng được và điều họ không thể làm cho chính mình. “Cánh tay của Chúa” là một ý niệm chính trong lời tiên-tri của Ê-sai (Ês 30:30; Ês 4:10; Ês 51:5,9; Ês 52:10; Ês 53:1; Ês 59:16; Ês 62:8; Ês 63:5,12). Trời và đất sẽ qua đi, nhưng sự công-bình và sự cứu-rỗi của Đức Chúa Trời sẽ còn lại đời-đời. Sự công-bình đó sẽ được thể hiện cách đặc biệt khi Đấng Mê-si-a tái-lâm và thiết lập vương quốc Ngài trên đất.
•Lời khuyên thứ 3 (Ês 51:7-8): tập trung về việc nhìn vào, nơi chúng ta tìm thấy sự sợ hãi hoặc đức-tin. Tại sao dân-tộc phải sợ loài người khi Đức Chúa Trời ở cạnh họ? “Này Đức Chúa Trời là sự cứu-rỗi tôi, tôi sẽ tin-cậy và không sợ hãi” (Ês 12:2). “Hãy tôn Đức Giê-hô-va vạn quân là thánh; các ngươi chỉ nên sợ Ngài và kinh hãi Ngài” (Ês 8:13).
Có luật-pháp Đức Chúa Trời trong lòng bạn nghĩa là thuộc về Ngài và được cứu (Gie 31:31-34; Hêb 10:16). Sâu và mọt sẽ hủy diệt kẻ thù, nhưng sự cứu-rỗi của Đức Chúa Trời sẽ còn lại. Sâu và mọt không làm việc của chúng một cách rõ ràng, nhưng chúng làm việc có hiệu quả như nhau. Những hạt giống của sự tàn phá đã hiện diện ở đế quốc Ba-by-lôn, và quan trưởng không biết điều đó.
-“Hãy thức dậy, thức dậy” (Ês 51:9-52:6).
“Hãy lắng nghe ta” được nói để khuyên dân-sự, nhưng “hãy thức dậy, thức dậy” dành cho sự đánh thức Chúa (Ês 5:9-16) và Giê-ru-sa-lem (c 17-23 Ês 52:1-6).
Những người xót lại ở Ba-by-lôn đã cầu-nguyện như thể Đức Chúa Trời đang ngủ và cần được đánh thức Thi 7:6; Thi 44:23; Thi 78:65-72). Họ muốn Đức Chúa Trời để lộ cánh tay Ngài khi Ngài làm việc vào lúc Ngài đánh bại Pha-ra-ôn và cứu dân Ngài khỏi ách nô-lệ của Ê-díp-tô. Sự trở về từ Ba-by-lôn được xem như “sự rời Ê-díp-tô” khác (Ês 43:16-17; Ês 49:9-12) với Đức Chúa Trời điều khiển hoàn toàn và kẻ thù hoàn toàn bị đánh bại.
Đức Chúa Trời đáp lời cầu-nguyện của họ bằng những lời yên-ủi (Ês 51:12-16; Ês 51:3,19). Ngài nhắc họ lần nữa về sự yếu đuối của loài người (Ês 40:6-8) và quyền-năng của Đức Chúa Trời Đấng Sáng Tạo (Ês 51:13). Tại sao họ phải sợ cỏ rác khi Đức Chúa Trời của vũ-trụ ở cạnh họ? Vì họ là dân Ngài được đặt vào Lời Ngài, và Ngài sẽ giải thoát họ, bảo vệ họ và chu-cấp cho họ. Họ có môt nhiệm-vụ quan-trọng để thực hiện, và Ngài sẽ giúp họ có thể làm được việc đó.
-Trong “sự kêu-gọi thức dậy” thứ 2, tiên-tri nói với thành Giê-ru-sa-lem đổ nát (c.17-23) và mô-tả nó như một bà mẹ sững sờ như say sưa vì không có con để giúp đỡ. Trong Kinh Thánh, sự xét đoán đôi khi được mô tả như việc uống một chén rượu (Ês 29:9; Ês 63:6; Thi 75:8; Giê 25:15-16; Kh 14:10).
Con cái của Giê-ru-sa-lem đã mắc vào sự lưu-đày, nhưng giờ đây họ sẽ trở về và cho “mẹ” của họ hy-vọng mới và một khởi đầu của họ. Đặt chân trên cổ kẻ thù bạn là một sự tuyên-bố có tính làm nhục nhã về sự chiến bại của họ, nhưng thay vì Ba-by-lôn “bước trên” dân Do-thái, dân Do-thái sẽ “bước trên” dân Ba-by-lôn!
-Sự “kêu-gọi thức dậy” thứ 3 (Ês 52:1-6) cũng được nói với Giê-ru-sa-lem, và là một mệnh-lệnh không chỉ để thức dậy nhưng còn để ăn mặc tề chỉnh! cất bỏ sự sững sờ của nó thì chưa đủ, nó còn phải mặc vào quần áo vinh-hiển của mình.
Ba-by-lôn “nữ hoàng” sẽ ngã xuống bụi đất trong sự nhục nhã (Ês 47:1), nhưng Giê-ru-sa-lem sẽ dấy lên từ bụi đất và được tôn lên ngôi làm nữ hoàng! Ê-díp-tô đã bắt dân sự Đức Chúa Trời làm nô-lệ, A-si-ri đã áp bưc họ, và Ba-by-lôn đã lưu đày họ, nhưng giờ đây điều đó đã chấm dứt. Dĩ nhiên sự ứng-nghiệm cuối cùng về lời-hứa này sẽ xảy ra khi Đấng Mê-si-a tái lâm, giải phóng Giê-ru-sa-lem khỏi kẻ thù của nó, và thiết lập núi Si-ôn làm sự vui-mừng của cả đất (Ês 61:4-11).
Thành Giê-ru-sa-lem được gọi là “thành thánh” 8 lần trong Kinh Thánh (Nêh 11:1,18; Ês 48:2; Ês 52:1; Đa 9:24; Mat 4:5; Mat 27:53; Kh 11:2). Thành đã được Đức Chúa Trời “biệt riêng” cho những mục đích riêng biệt của Ngài, nhưng khi dân-sự Ngài không vâng-lời Ngài, Ngài ra lệnh cho thành bị hủy diệt, trước tiên bởi quân Ba-by-lôn và sau đó bởi quân Rô-ma.
Suốt thời kỳ lưu-đày, danh Đức Chúa Trời đã bị nói phạm thượng vì kẻ thù chế nhạo dân Do-thái và hỏi họ vì sao Đức Chúa Trời vĩ đại của họ không giải cứu họ (Thi 115:1-18; Thi 137:1-9). Phao-lô đã trích dẫn Ês 52:5 trong Rô 2:24. Nhưng khi những người còn xót lại được phục-hồi, sẽ biết danh Đức Chúa Trời và tìm cách tôn-kính danh ấy.
•“Hãy đi, hãy đi” (Ês 52:7-12).
Sự thất bại của Ba-by-lôn do Si-ru chắc chắn là tin tức tốt lành cho dân Do-thái vì nó có nghĩa là sự tự-do cho các phu-tù (Ês 40:9; Ês 41:27). Phúc-Âm chúng ta chia-sẻ ngày nay là Chúa Giê-xu Christ có thể giải phóng các tù-nhân (Rô 10:15). Trong mấy mươi năm, những người xót lại đã chịu khổ trong một nước ngoại bang, không có bàn thờ hay chức tế-lễ, nhưng giờ đây họ sẽ trở về xứ mình, xây lại đền thờ mình và phục-hồi chức-vụ Đức Chúa Trời ban-cho mình.
Người ta thường nói rằng “tin tức tốt lành là để chia sẻ” và đó là điều xảy ra ở Giê-ru-sa-lem. Các quan trưởng (người canh gác” hiểu sứ-điệp và cùng hát với nhau vì vinh-hiển của Đức Chua Trời (Ês 44:23). Nhưng họ không chỉ nghe điều Đức Chúa Trời đã làm họ cũng thấy nó xảy ra! Đồng vắng sẽ dự phần vào bài ca vì các thành hoang vu và “những nơi bỏ hoang” sẽ được biến đổi (Ês 51:3). Những người xót lại đã cầu-xin cánh tay thánh-khiết của Đức Chúa Trời hành động, và Ngài đáp lời cầu-nguyện của họ (c.9).
Ê-sai thích sử dụng sự lặp lại: “Hãy yên-ủi, hãy yên-ủi” (Ês 40:1) “Hãy thức dậy, thức dậy” (Ês 51:9,17; Ês 52:1), và giờ đây “Hãy đi, hãy đi” (Ês 52:11).
Dường như kỳ lạ khi Đức Chúa Trời sẽ phải thúc giục dân Ngài rời khỏi một nơi giam cầm, nhưng một số người trong số họ đã trở nên quen thuộc với Ba-by-lôn và lưỡng lự ra đi. Nhóm thứ nhất, khoảng 50.000 người, đã rời Ba-by-lôn vào năm 538 TC khi Si-ru ra chiếu chỉ của mình. Họ ở dưới sự lãnh đạo của Sết-ba-xa, Xô-rô-ba-bên, và thầy tế-lễ cả Giê-sua (Exo 1:1-2:68). Họ mang theo mình “khí dụng của Đức Giê-hô-va” (Ês 52:11), là những vật cần cho sự phục-vụ trong đền thờ. Một nhóm thứ 2 gần 1800 người được lãnh đạo bởi E-xơ-ra ra đi vào năm 458 TC.
Đức Chúa Trời đã ra lệnh họ ra đi vì Ba-by-lôn là một thành bị kết án (Giê 50:8; Giê 51:6,45). Ngài cảnh-cáo họ đừng nấn ná nhưng phải nhanh chóng đi ra trong khi họ có cơ-hội (Giê 48:20). Họ không phải chạy trốn như tội-phạm, nhưng không có lý-do gì để nán lại. Ngài cũng lưu ý họ đừng mang theo mình bất cứ vật ô uế nào của Ba-by-lôn. “Đừng động đến đồ ô uế nào” (Giê 52:11) chắc chắn sẽ kể đến toàn bộ hệ-thống thờ thần-tượng và những tập-tục huyền-bí của Ba-by-lôn đã làm hư-hỏng dân-tộc Do-thái (Giê 47:11-15). Phao-lô thực hiện những ứng dụng cho các tín-đồ ngày nay trong IICôr 6:14-7:1.
Đức Chúa Trời có một lời đặc biệt cho các thầy tế-lễ và người Lê-vi là những người mang khí dụng của đền thờ: “Hãy ra khỏi đó (Ba-by-lôn) và hãy tinh sạch” (IICôr 52:11 NIV). Đây là một mệnh-lệnh tốt lành cho mọi tôi-tớ của Đức Chúa Trời vâng-theo. Nếu chúng ta làm ô uế mình, chúng ta cũng sẽ làm ô uế công việc của Chúa. Bi thảm thay cho một chức-vụ thánh trở nên một người ô uế cho dân-sự Đức Chúa Trời!
Tiên-tri thêm vào một lời khích-lệ sau cùng: “Đức Giê-hô-va sẽ đi trước mặt các ngươi, và Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ là sự bảo vệ đằng sau ngươi” (c.12 IICôr 58:8). Điều này nhắc nhở chúng ta về sự rời khỏi Ê-díp-tô của Y-sơ-ra-ên khi Chúa đi trước họ (Xu 13:21) và đứng giữa họ với kẻ thù (Xu 14:19-20) Khi dân-sự Đức Chúa Trời vâng-theo ý muốn Đức Chúa Trời, họ luôn có thể nương tựa nơi sự dẫn dắt và bảo vệ của Đức Chúa Trời.
Ê-sai đã dọn đường cho “trung tâm” của mối liên-hệ của Đức Chúa Trời với Tôi-Tớ Mê-si-a, Bài ca thứ 4 về Tôi-Tớ (Ês 52:13-53:12). Chúng ta phải dọn lòng mình, vì chúng ta đang bước trên đất thánh.
-Ês 51:1-23; xem giải nghĩa Ês 50:4-11.
-Ês 52:1-12; xem giải nghĩa Ês 51:1-23.
10. LEO LÊN NÚI EVEREST (Ês 52:13-53:12)
“Năm khổ thơ vô song này của bài thơ Tôi-Tớ thứ 4 là núi Everest của lời tiên-tri về Đấng Mê-si-a”.
Học-giả Cựu-ước, Tiến-sĩ Kyle M.Yates đã viết như vậy cách đây hơn 50 năm, và những lời của ông vẫn có giá-trị. Phân đoạn này ở trung tâm của các chương 49-57, và sứ-điệp của nó ở trung tâm của Phúc-Âm. Giống như núi Everest, Ês 53:1-12 nổi bật về vẻ đẹp và sự cao quý, nhưng chỉ vì nó bày-tỏ Chúa Giê-xu Christ và đưa chúng ta đến đồi Gô-gô-tha.
Sự giải nghĩa về Đấng Mê-si-a ở Ês 53:1-12 được tiếp tục bởi các ra-bi Do-thái cho đến thế kỷ 12. Sau đó, các học-giả Do-thái bắt đầu giải nghĩa phân đoạn này như một mô-tả về những hoạn nạn của dân-tộc Y-sơ-ra-ên. Nhưng làm sao Y-sơ-ra-ên có thể chết cho tội-lỗi của Y-sơ-ra-ên? (c.8). Và ai đã tuyên-bố rằng Y-sơ-ra-ên vô-tội và do đó đã chịu khổ một cách bất công? (c.9). Không, tiên-tri viết về một cá nhân vô-tội, không phải một dân-tộc phạm-tội. Ông đã khiến nó trở nên hoàn toàn rõ ràng rằn cá nhân này chết vì tội-lỗi của những kẻ phạm-tội hầu cho những kẻ phạm-tội có thể tự-do.
Tôi-Tớ mà Ê-sai mô-tả là Đấng mê-si-a, và Tân-ước xác định rằng Tôi-Tớ Mê-si-a này là Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét, Con Đức Chúa Trời (Mat 8:17; Mac 15:28; Lu 22:37; Gi 12:38; Công 8:27-40; IPhi 2:21-24). Ês 53:1-12; được trích dẫn hoặc được ám chỉ trong Tân-ước thường xuyên hơn bất cứ chương Cựu-ước nào khác. Danh mục những trích dẫn trong phụ lục Tân-ước Hy-lạp của tôi cho ít nhất 41 trích dẫn khác nhau, và đây có thể không phải là tất cả.
Mười lăm câu tạo nên bài ca “Tôi-Tớ” thứ 4 rơi vào 5 khổ thơ của từng 3 câu, và mỗi khổ thơ này bày-tỏ một l4 thật quan-trọng về Tôi-Tớ và điêu Ngài thực hiện cho chúng ta.
Dân-sự Ngài đã không thán phục hoặc ưa thích Tôi-Tớ (Ês 52:2-3), và dù vậy khi đến cuối cùng, Ngài khiến các vua sửng sốt và kinh ngạc! nếu chúng ta hiểu 5 câu này theo thứ tự niên đại, chúng ta thấy rằng dân-sự sửng sốt bởi hình dung Ngài (Ês 52:14), sự cao-trọng của Ngài (c.13) và sứ-điệp của Ngài (c.15). Ở đây chúng ta có sự thương-khó và sự chết của Chúa, sự sống lại và thăng-thiên của Ngài và sự rao-giảng Phúc-Âm khắp thế giới.
•Bị giật mình vì hình dạng của Tôi-Tớ (Ês 52:14).
“Họ sẽ thấy Tôi-Tớ ta bị đánh, bị đổ huyết, xấu xí đến nỗi chắc chắn không biết một người đang đứng đó” (TLB). “Ngài trông quá xấu xí đến nỗi Ngài dường như không còn là người nữa” (JB).
Khi bạn xem xét mọi điều Chúa Giê-xu chịu đựng về thuộc thể giữa thời gian Ngài bị bắt và bị đóng đinh trên thập-tự, không có gì ngạc nhiên khi Ngài không còn trông như một con người. Những quyền hợp pháp của Ngài không chỉ bị cất khỏi Ngài, kể cả quyền về một cuộc xử án công-bằng, nhưng những quyền con người của Ngài cũng bị cất khỏi Ngài, vì vậy Ngài thậm chí đã không được đối xử như một con người, chớ đừng nói đến một công dân Do-thái.
Khi bị xét hỏi trước mặt An-ne, Chúa Giê-xu đã bị một quan chức vả mặt (Gi 18:22). Tại phiên toà trước Cai-phe, Ngài đã bị nhổ nước miếng, bị vả và bị đánh trên đầu bằng những đấm tay (Mat 26:67; Mac 14:65; Lu 22:63). Phi-lát sai đánh đòn Ngài (Gi 19:1; Mat 27:26; Mac 15:15), và quân lính của ông ta đánh Ngài (Gi 19:3).
Sự đánh đòn khủng khiếp đến nỗi các tù-nhân được biết là chết vì thử thách. Tôi-Tớ Đức Chúa Trời đã nói: “Ta đã đưa lưng cho kẻ đánh ta, và má cho kẻ nhổ râu ta; Ta đã không giấu mặt ta khỏi sự sỉ nhuc và khạc nhổ” (Ês 50:6). Và họ đã làm điều này cho chính Con của Đức Chúa Trời!
Câu chuyện sinh động về sự chịu khổ của Ngài được trình-bày trong một số bài giảng nhưng được tìm thấy trong Kinh Thánh, có lẽ ngoại trừ ở Thi 22:1-30. Các tác-giả Phúc-Âm cho chúng ta những sự-kiện nhưng không phải những chi-tiết. Đủ để nói rằng khi tội-nhân được hoàn chỉnh với Chúa Cứu Thế, Ngài không trông như con người, và con người quá kinh hoàng đến nỗi họ quay mặt đi. Điều đã được làm cho Chúa Giê-xu lẽ ra phải được th ực hiện cho Ba-ra-ba và cho chúng ta.
•Giật mình vì sự cao-trọng của Tôi-Tớ (Ês 52:13).
Tôi Tớ đã chịu thương khó và chịu chết, nhưng Ngài đã không chết mãi, Ngài “được tôn lên, dấy lên, và rất cao trọng”. Nhóm từ “làm cách khôn-ngoan” nghĩa là “thành công trong nỗ lực của mình”. Điều mà đối với con người giống như một thất bại nhục nhã, là một đại thắng trong mắt Đức Chúa Trời (Côl 2:15). Ngài đã nói với Cha Ngài: “Con đã tôn-vinh Cha trên đất làm xong công việc Cha giao cho làm” (Gi 17:4).
Chúa Giê-xu không chỉ được khiến sống lại từ cõi chết, thân thể Ngài còn được vinh-hiển. Ngài đã thăng-thiên về nơi Ngài ngự bên hữu của Cha. Ngài có mọi quyền hạn (Mat 28:18) vì mọi sự đã được đặt dưới chân Ngài (Êph 1:20-23). Không có ai trong vũ-trụ cao hơn Chúa Giê-xu. Thật là một sửng sốt cho những kẻ xem Ngài là người thấp hèn nhất (Phi 2:1-11).
•Giật mình vì sứ-điệp của Tôi-Tớ (Ês 52:15).
Những người có miệng mở ra sửng sốt về sự nhục nhã và sự cao-trọng của Ngài sẽ ngậm miệng lại trong tội-lỗi khi họ nghe sự tuyên-bố của Ngài. Phao-lô giải nghĩa điều này như sự rao-giảng Phúc-Âm cho các dân ngoại (Rô 15:20-21).
“hầu cho mọi miệng phải ngậm lại, và cả thế-gian đều trở nên tội-lỗi trước mặt Đức Chúa Trời” (Rô 3:19).
Nhiều người đã bị tra tấn và giết chết cách tàn nhẫn, nhưng việc biết sự chịu khổ của họ không đụng đến lương tâm chúng ta, dù nó có thể gợi lên niềm thương cảm của chúng ta. Những sự chịu khổ và sự chết của Chúa chúng ta thì khác, vì chúng có liên-quan đến mọi người trong thế-gian. Sứ-điệp Phúc-Âm không phải là “Đấng Christ đã chết”, vì đó chỉ là một sự-kiện trong lịch-sử, giống như “Napoleon đã chết”. Sứ-điệp Phúc-Âm là “Đâng Christ đã chịu chết vì tội-lỗi chúng ta” (ICôr 6:1-4). Bạn và tôi đều phạm-tội về sự chết của Đấng Christ như An-ne, Cai-phe, Hê-rốt An-ti-pa và Phi-lát.
Giờ đây chúng ta hiểu vì sao người ta kinh ngạc khi họ hiểu sứ-điệp Phúc-Âm: Người mà họ đã kết án đã tuyên-bố rằng họ bị kết án nếu họ không từ bỏ tội-lỗi và tin Ngài. bạn không thể vui-mừng trong Tin Mừng về sự cứu-rỗi cho đến khi bạn trước hết đối diện với tin xấu về sự kết án. Chúa Giê-xu đã chịu thương khó và chịu chết không phải vì Ngài có tội, nhưng vì chúng ta có tội. Người ta ngạc nhiên về sự-kiện này, nó làm miệng họ ngậm lại.
Từ được dịch là “vảy rửa” trong Ês 52:15 có thể được dịch là “làm giật mình”, nhưng hầu hết có lẽ nó chỉ về sự tẩy rửa theo nghi thức, là một phần quan-trọng trong hệ-thống tế-lễ của Môi-se (Lê 14:1-7,16; Lê 16:14-15; Dân 8:7). Mặc dù sự rảy huyết, nước và dầu không cất đi tội-lỗi, nhưng nó khiến cho người nhận được tinh sạch về mặt nghi thức và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời.
Bởi sự hy-sinh của Đấng Christ, chúng ta có thể nói cho mọi dân-tộc biết sự tha-thứ và sự cứu-chuộc đó được ban-cho vô điều kiện đối với tất cả những ai tiếp nhận Ngài (IPhi 1:1-2).
2. Sự nhục nhã: Tôi-Tớ buồn bực (Ês 53:1-3)
Ês 53:1-12 mô-tả đời sống và chức-vụ của Chúa Giê-xu Christ (c.1-4) sự chết (c.5-8) và chôn của Ngài (c.9), cùng sự sống lại và sự tôn-cao của Ngài (c.10-12). Chủ đề kết nối chương này là Tôi-Tớ đã chết thay cho kẻ có tội. Khi các nhà thần-học nói về “sự chuộc-tội thay”, đó là điều họ muốn nói. Chúng ta không thể giải thích mọi điều về thập-tự giá, nhưng điều này dường như rõ ràng: Chúa Giê-xu đã thế chỗ của tội-nhân và trả giá cho sự cứu-rỗi họ.
Hoàn toàn có một sự tương phản giữa “cánh tay của Chúa” nói về quyền-năng mạnh mẽ và “cái rễ ra từ đất khô” là một hình ảnh về sự nhục nhã và yếu đuối. Khi Đức Chúa Trời tạo nên vũ-trụ, Ngài đã sử dụng các ngón tay Ngài (Thi 8:3) và khi Ngài giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ê-díp-tô chính là bởi bàn tay mạnh mẽ của Ngài (Xu 13:3). Nhưng để cứu tội-nhân hư-mất, Ngài đã phải giơ cánh tay mạnh mẽ của Ngài! Nhưng dân-sự vẫn không chịu tin sự bày-tỏ lớn lao này về quyền-năng Đức Chúa Trời (Rô 1:16; Gi 12:37-40).
Tôi-Tớ là Đức Chúa Trời, nhưng Ngài trở nên loài người và lớn lên! Con trẻ được sinh ra đó là nhân-tính của Ngài, Con được ban cho đó là thần-tính của Ngài (Ês 9:6). Khi viết về tương lai của Y-so-ra-ên, Ê-sai đã sử dụng hình ảnh về cây: Đấng Mê-si-a là Chồi của Đức Giê-hô-va (Ês 4:2), những người xót lại giống như những gốc cây bị chặt (Ês 6:13), các dân-tộc kiêu-ngạo sẽ bị hạ như cây, nhưng từ gốc cây dường như chết của Đa-vít “chồi của Y-sai” sẽ ra (Ês 10:33-11:1). Vì Chúa Giê-xu Christ là Đức Chúa Trời, Ngài là “chồi của Đa-vít” nhưng vì Ngài là con người, Ngài là “hậu tự của Đa-vít” (Kh 22:16).
Y-sơ-ra-ên không phải là một thiên-đường khi Chúa Giê-xu ra đời, về mặt chính trị và thuộc-linh, đó l à một đồng vắng của vùng đất khô Ngài không đến như một cây lớn nhưng như một “thực vật mỏng manh” Ngài được sinh ra trong cảnh nghèo nàn ở Bết-lê-hem và lớn lên trong một trại của người thợ mộc tại Na-xa-rét tầm thường (Gi 1:43-46).
Bởi Lời Ngài và việc làm của Ngài, Chúa Giê-xu đã thu hút đoàn dân đông, nhưng không có điều gì về ngoại hình thể xác Ngài khiến Ngài khác biệt với bất kỳ người Do-thái nào. Mặc dù có một số ít người cố tình tìm cách để không gây thu hút, xã hội ngày nay đã tạo ra một tôn-giáo vì vẻ đẹp thể chất. Thật tốt để nhớ rằng Chúa Giê-xu đã thành công mà không cần điều đó.
Một khi họ hiểu điều Ngài yêu-cầu nơi họ, đa số người đã đối xử Tôi-Tớ ra sao? Như cách họ đối xử với bất cứ nô-lệ nào khác: Họ khinh dể Ngài, định giá rẻ về Ngài (30 miếng bạc) và “nhìn hướng khác khi Ngài đi qua” (Ês 53:3 TLB). họ xấu hổ về Ngài vì Ngài không bày tỏ những điều quan-trọng đối với họ, những điều như của cải (Lu 16:14) thanh thế xã hội (Lu 14:7-14; Lu 15:1-2) danh vọng (Lu 18:9-14), được người khác phục-vụ (Lu 22:24-27) và chiều theo bản thân (Mat 16:21-28). Ngài bị khước từ hôm nay vì những lý-do tương tự.
3. Sự chuộc-tội: Tôi-Tớ bị đánh đập (Ês 53:4-6)
Đây là trung tâm của đoạn này, và nó giới thiệu trung tâm của sứ-điệp Phúc-Âm: Tôi-Tớ vô-tội chịu chết làm của lễ cho tội-lỗi. Sứ-điệp này ở trung tâm của hệ-thống tôn-giáo Y-sơ-ra-ên, con sinh tế vô tội chết thay cho tội-nhân (Lê 16:1-24), nhưng Ngài cũng đồng nhất hoá với những hậu quả tội-lỗi của A-đam khi Ngài dạy dỗ cho những người nghèo khó.
Mat 8:14-17 ứng-dụng Ês 53:4 cho chức-vụ chữa bệnh của Chúa chúng ta chớ không phải sự chết thay của Ngài. Mọi phước hạnh chúng ta có trong đời sống Cơ-đốc đến bởi thập-tự giá, nhưng câu này không dạy rằng có “sự chữa bệnh trong sự chuộc-tội” và vì vậy mọi tín-đồ có “quyền” để được chữa lành bệnh, lời tiên-tri này được ứng-nghiệm suốt đời sống của Chúa chúng ta, không phải sự chết của Ngài.
Sự nhấn mạnh trong các câu 4-6 là về những đại từ số nhiều: sự đau đớn và buồn rầu của chúng ta, tội-lỗi chúng ta, sự vi phạm của chúng ta. Chúng ta đã lạc lối, chúng ta đã hướng về con đường riêng của mình, Ngài chịu chết không vì bất cứ điều gì Ngài đã làm nhưng vì điều chúng ta đã làm.
Ngài “bị thương” nghĩa là “bị đâm”. Tay và chân Ngài đã bị đinh đâm xuyên (Thi 22:16; Lu 24:39-40) và hông Ngài bị đâm bằng giáo (Gi 19:31-37; Xa 12:10; Kh 1:7). Ngài đã bị đóng đinh vào thập giá, không phải là một hình thức xử tử của Do-thái (Gi 12:32-33; Gi 18:31-32). Hình phạt xử tử đối với người Do-thái nghĩa là ném đá (Lê 24:14; Dân 15:35-36). Nếu họ muốn làm nhục nạn nhân thêm nữa, họ có thể phơi bày thi thể giữa công chúng (Phuc 21:22-23), một tập tục mà Phi-e-rơ đã liên-hệ đến sự đóng đinh trên thập-tự giá (Công 5:30; Công 10:39; IPhi 2:24).
Trên thập-tự giá, Chúa Giê-xu Christ đã “bị vết” nghĩa là “bị đè nén dưới một ánh nặng”. Gánh nặng nào? “Đức Giê-hô-va đã chất trên người tội lỗi của hết thảy chúng ta” (Ês 53:6,12,14). Tội-lỗi thật sự là một gánh nặng trở nên nặng nề hơn bao lâu chúng ta chống nghịch Đức Chúa Trời (Thi 38:4).
Ngài bị “đánh phạt” và hứng nhiều “lằn roi”, nhưng hình phạt đó đem cho chúng ta sự bình-an và sự chữa lành. Cách duy nhất mà một người phạm luật có thể bình-an với luật-pháp là phải chịu hình phạt mà luật-pháp yêu cầu. Chúa Giê-xu đã giữ luật-pháp cách trọn vẹn, nhưng Ngài đã gánh chịu trận roi đòn thuộc về chúng ta.
Vì Ngài đã thế chỗ chúng ta, chúng ta giờ đây có sự bình-an với Đức Chúa Trời và không thể bị kết án bởi luật-pháp của Đức Chúa Trời (Rô 5:1; Rô 8:1). “Sự lành bệnh” trong Ês 53:5 chỉ về sự tha-tội, không phải sự lành bệnh của thân thể (IPhi 2:24; Thi 103:3). Tội-lỗi không chỉ như một gánh nặng, mà nó còn giống như một căn bệnh chỉ Đức Chúa Trời mới có thể chữa trị (Ês 1:4-6; Giê 30:12; Na 3:19).
•Tội-lỗi thật nghiêm-trọng.
Tiên-tri gọi nó là sự vi phạm, nghĩa là sự chống nghịch với Đức Chúa Trời, dám vượt qua ranh giới Đức Chúa Trời đã vạch (Ês 53:5,8). Ngài cũng gọi nó là sự gian ác, chỉ về tính cong quẹo của bản chất tội-lỗi (c.5-6). Nói cách khác, chúng ta là tội-nhân do sự lựa chọn và bản-chất.
Giống như chiên, chúng ta được sinh ra có một bản chất xúi giục chúng ta lạc lối, và giống như chiên, chúng ta dại dột quyết định đi con đường riêng của mình. Bởi bản-chất, chúng ta sinh ra là con cái của sự thạnh nộ (Êph 2:2), Dưới luật-pháp của Môi-se, chiên chết thay cho người chăn, nhưng dưới ân điển, Đấng Chăn Chiên Hiền Lành đã chế thay cho con chiên (Gi 10:1-18).
4. Sự cam chịu: Tôi-Tớ yên lặng (Ês 53:7-9)
Một tôi-tớ không được phép nói lại, người ấy phải đầu phục-vụ ý muốn của chủ mình. Chúa Giê-xu Christ đã yên lặng trước những người tố cáo Ngài cũng như những kẻ làm khổ Ngài. Ngài đã yên lặng trước Cai-phe (Mat 26:62-63), các thầy tế-lễ cả và trưởng-lão (Mat 27:13) Phi-lát (Mat 27:14; Gi 19:9) và Hê-rốt An-ti-pa (Lu 23:9). Ngài không nói khi quân lính chế giễu Ngài và đánh Ngài (IPhi 2:21-23). Đây là điều đã gây ấn tượng cho quan coi kho người Ê-thi-ô-pi khi ông đọc đoạn sách này trong Ê-sai (Công 8:26-40).
Ês 53:7 nói về sự im lặng của Ngài dưới hoạn nạn và c.8 nói về sự im lặng của Ngài khi bị xét xử và bị kết tội chết một cách bất hợp pháp. Trong các tòa án ngày nay, một người có thể bị phát hiện phạm những tội-lỗi khủng khiếp, nhưng nếu người ta có thể chứng-minh rằng có điều gì đó trong cuộc xét xử là bất hợp pháp, vụ-kiện phải được xử lại. Mọi điều về những cuộc xét-xử Ngài là bất hợp pháp, nhưng Chúa Giê-xu không cầu xin cuộc xét-xử khác.
“Ta há chẳng uống chén mà Cha đã ban cho ta uống sao?” (Gi 18:11).
Tôi-Tớ được ví sánh với một chiên con (Ês 53:7) là một trong những biểu-tượng thường xuyên về Chúa Cứu Thế trong Kinh Thánh. Một chiên con đã chết cho mỗi gia đình Do-thái tại lễ Vượt Qua (Xu 12:1-13), và Tôi-Tớ đã chết cho dân Ngài, dân-tộc Y-sơ-ra-ên (Ês 53:8). Chúa Giê-xu là “Chiên Con Đức Chúa Trời Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Gi 1:29) và 28 lần trong Sách Khải-huyền, Chúa Giê-xu Christ được ám chỉ như Chiên Con.
Vì Chúa Giê-xu Christ đã bị đóng đinh trên thập-tự giá cùng với những tội-nhân với tư cách một tội-nhân, nên thật hữu lý khi thi thể Ngài sẽ không được chôn cất nhưng Đức Chúa Trời đã có những kế hoạch khác. Sự chôn Chúa Giê-xu Christ là một phần của Phúc-Âm cũng như sự chết của Ngài vậy (ICôr 15:1-5), vì sự chôn cất là chứng-cớ Ngài đã thật sự chết.
Nhà cầm quyền Rô-ma sẽ không giao xác cho Giô-sép và Ni-cô-đem nếu nạn nhân chưa chết (Gi 19:38-42; Mac 15:42-47). Một người giàu có như Giô-sép sẽ không bao giờ đục một ngôi mộ cho chính mình quá gần với nơi xử án, đặc biệt khi nhà ông cách xa hằng dặm. Ông đã chuẩn bị nó cho Chúa Giê-xu và có hương liệu cùng vải liệm sẵn sàng cho sự chôn cất.
Đức Chúa Trời đã làm ứng-nghiệm lời tiên-tri của Ê-sai cách kỳ diệu thay!
5. Sự xác minh: Tôi-Tớ được thỏa lòng (Ês 53:10-12)
Tiên-tri giờ đây giải thích thập-tự giá theo quan-điểm của Đức Chúa Trời. Cho dù Chúa Giê-xu bị đóng đinh bởi bàn tay kẻ ác, sự chết của Ngài đã được Đức Chúa Trời định trước (Công 2:22-23). Chúa Giê-xu không phải là một thánh tử đạo, sự chết Ngài cũng không phải là một tai nạn. Ngài là của lễ của Đức Chúa Trời thay cho tội-lỗi của thế-gian.
Ngài không chết mãi! “Ngài sẽ kéo dài những ngày của người” (Ês 53:10) nghĩa là Tôi-Tớ được phục-sinh để sống đời-đời, trong sự sống lại của Ngài, Ngài đã chiến thắng mọi kẻ thù và giành được chiến lợi phẩm (Êph 1:19-23; Êph 4:8). Sa-tan đã đề nghị với Đấng Christ một vương quốc vinh-hiển để đổi lấy sự thờ-lạy (Mat 4:8-10), nghĩa là tránh thập-tự giá. Chúa Giê-xu đã “vâng-phục cho đến chết” và Đức Chúa Trời đã “tôn-cao Ngài” (Phi 2:8-9).
Phần khác của “phần thưởng” Ngài được tìm thấy trong nhận định “Người sẽ thấy dòng dõi mình” (Ês 53:10). Chết mà khôntg có con là một nỗi khổ và sự nhục nhã đối với dân Do-thái nhưng Chúa Giê-xu đã sinh ra một gia đình thuộc-linh bởi sự đau đớn của Ngài trên thập-tự giá (c.11). Nhận định của Ê-sai về gia đình thuộc-linh của Ngài (Ês 8:18) được trích dẫn trong Hêb 2:13 và được áp-dụng cho Đấng Christ cùng gia đình thuộc-linh của Ngài.
•Công việc của Tôi-Tớ trên thập-tự giá đem đến sự thỏa mãn (Ês 53:11).
-Trước hết, Tôi-Tớ đã làm thỏa lòng Cha.
“Ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài (Cha)” (Gi 8:29).
Cha trên trời không thấy sự vui-mừng khi xem Con yêu dấy của Ngài chịu khổ, vì Cha không hài lòng với sự chết của kẻ ác chớ đừng nói đến sự chết của Con Đức Chúa Trời công-bình. Nhưng Cha hài lòng rằng sự vâng-phục của Con Ngài đã hoàn thành sự cứu-chuộc mà Ngài đã hoạch định từ ngàn xưa (IPhi 1:20) “Mọi việc đã được trọn” (Gi 19:30).
Sự chết của Tôi-Tớ cũng thỏa mãn luật-pháp Đức Chúa Trời. Thuật ngữ thần-học cho điều này là “sự chuộc-tội” (Rô 3:25; IGi 2:2). Trong các tà-giáo, từ này nghĩa là “dâng một của lễ để xoa dịu một vị thần giận dữ” nhưng ý nghĩa Cơ-đốc phong phú hơn. Đức Chúa Trời giận dữ về tội-lỗi vì nó xúc phạm sự thánh-khiết của Ngài và vi phạm Thánh luật của Ngài. Trong sự thánh-khiết của mình, Ngài phải xét-đoán tội-nhân, nhưng trong tình yêu của mình, Ngài mong muốn tha-thứ họ. Đức Chúa Trời không thể bỏ qua tội-lỗi hoặc thoả hiệp với nó, vì điều đó sẽ mâu thuẫn với bản-chất và luật-pháp Ngài.
Đức Chúa Trời đã giải quyết vấn-đề ra sao? Quan án đã thế chỗ tội-phạm và đáp-ứng đúng những yêu-cầu của Thánh luật Ngài! “Ngài đã bị kể vào hàng kẻ dữ” và thậm chí cầu-nguyện cho họ (Ês 53:12; Lu 22:37; Lu 23:33-34). Luật-pháp đã được thỏa mãn, và Đức Chúa Trời giờ đây có thể nhân-từ tha-thứ tất cả những ai sẽ tiếp nhận Con Ngài.
Ân-điển là tình yêu đã trả giá, và tội-nhân được cứu bởi ân-điển (Êph 2:8-10). Sự công-bình chỉ có hể kết án kẻ ác và biện hộ cho người công-bình (IVua 8:32), nhưng ân điển biện-hộ cho người bất-kính khi họ tin Chúa Giê-xu Christ! (Ês 53:11; Rô 4:5).
Biện-hộ nghĩa là “xưng công-bình”. Ngài gánh tội-lỗi của chúng ta để chúng ta có thể nhận được món quà của sự công-bình Ngài (IICôr 5:21; Rô 5:17). Sự biện hộ nghĩa là Đức Chúa Trời tuyên-bố tội-nhân tin nhận là công-bình trong Đấng Christ là không bao giờ ghi nhớ tội-lỗi họ (Thi 32:1-2; Rô 4:1-8).
Vào buổi sáng 29/5/1953, ông Edmund Hillary và Tenzing Norgay đã chinh-phục, núi Everest, đỉnh núi cao nhất thế giới. Không ai từng “chinh-phục” Ês 53:1-12 vì luôn có những độ cao mới để đạt đến. Điều quan-trọng là biết Tôi-Tớ công-bình của Đức Chúa Trời một cách riêng tư Chúa Giê-xu Christ, sự chinh-phục của Ngài trên tội-lỗi là chủ-đề của chương này. “Bằng sự thông biết về mình” (nghĩa là biết Ngài cách riêng tư bằng đức tin), Tôi-Tớ công-bình của Ta sẽ xưng công-bình nhiều người (c.11).
“Này là sự sống đời-đời: đó là họ có thể biết Cha, Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Giê-xu Christ là Đấng Cha đã sai đến” (Gi 17:3 NIV).
11. LỜI HỨA VÀ HÌNH PHẠT (Ês 54:1-59:21)
Tôi Tớ đã vâng phục hoàn tất công việc Ngài trên đất, và hôm nay Ngài đang hành động trên trời, cầu-thay cho dân-sự Đức Chúa Trời (Hêb 7:25; Rô 8:34). Nhưng đâu là những kết quả của sự hy-sinh Ngài? Đối với Y-sơ-ra-ên, nó có nghĩa là sự hồi-phục (Ês 541-17). Đối với các dân ngoại, nó có nghĩa là một sự mời gọi (Rô 55:1-56:8) và đối với tội-nhân chống nghịch, nó có nghĩa là một sự tố cáo (Rô 56:9-59:21) một cảnh-cáo từ Đức Chúa Trời rằng họ cần phải ăn-năn.
1. Sự hồi phục cho Y-sơ-ra-ên (Ês 54:1-17)
Hình ảnh trong chương này là hình ảnh về Đức Giê-hô-va, người chồng chung thuỷ, tha thứ Y-sơ-ra-ên, người vợ bất trung, và phục-hồi nàng vào nơi phước hạnh. Ê-sai đã sử dụng hình ảnh hôn-nhân trước đó (Ês 50:1-3) và sẽ sử dụng nó lần nữa (Ês 62:4).
Giê-rê-mi cũng đã sử dụng nó (Giê 3:8), và đó là một chủ-đề quan-trọng trong Ô-sê (Os 2:1-23) và Ê-xê-chi-ên (Êxe 16:1-63; Êxe 23:1-49).
Dân-tộc đã được “gả” cho Đức Giê-hô-va tại núi Si-nai, nhưng nàng phạm-tội tà-dâm bằng cách quay sang các thần khác, và Chúa đã tạm thời lìa bỏ nàng. Tuy nhiên, các tiên-tri tiên-đoán rằng Y-sơ-ra-ên sẽ được phục-hồi khi Đấng Mê-si-a đến và thiết lập Vương Quốc Ngài.
Đó sẽ là loại phục-hồi nào?
Trước hết, đó là một sự hồi-phục niềm vui-mừng và vì vậy là một cơ hội để ca hát (Ês 54:1a). Ê-sai chắc chắn là tiên-tri về ca hát ông đề-cập những bài ca và việc hát hơn 30 lần trong sách ông. Cơ-hội trực tiếp cho sự vui-mừng này là sự giải phóng dân-tộc, khỏi sự lưu-đày, nhưng sự ứng-nghiệm cuối cùng là khi Đấng Cứu Chuộc đến Si-ôn và dân-tộc được sinh ra lần nữa (Ês 59:20).
Đó cũng là một sự hồi-phục sự kết quả khi dân-tộc sẽ gia tăng và cần nhiều chỗ hơn (Ês 54:1b-3). Dân-tộc đã bị giảm bớt bởi sự xâm lược của Ba-by-lôn, nhưng Đức Chúa Trời sẽ giúp họ sinh sôi nảy mở trở lại. Vào cuối thời kỳ này, chỉ một số người tin còn sót lại sẽ bước vào vương quốc, nhưng Chúa sẽ mở rộng, và những thành hoang vu sẽ có cư-dân trở lại!
Phao-lô đã trích dẫn Ês 54:1 trong Ga 4:27 và ứng-dụng nguyên-tắc thuộc-linh cho Hội thánh: Thậm chí khi Đức Chúa Trời chúc phước Sa-ra và những người Do-thái sót lại bằng con cái. Ngài cũng sẽ chúc phước Hội thánh, dầu Hội thánh chỉ là một nhóm người nhỏ bé trên thế-gian.
Phao-lô không đặt Y-sơ-ra-ên ngang hàng với Hội thánh hay gợi ý rằng những lời-hứa thời Cựu-ước đối với dân Do-thái giờ đây được ứng-nghiệm qua Hội thánh. Nếu chúng ta tuyên-bố những lời tiên-tri về Do-thái trong Cựu-ước cho Hội thánh, vậy chúng ta phải tuyên-bố tất cả, những sự xét-đoán cũng như những phước hạnh, và đa số người không muốn làm vậy!
Sự phục-hồi xứ của Y-sơ-ra-ên cũng có nghĩa là sự tin quyết (Ês 54:4-10). Ê-sai trình-bày một lời-hứa khác trong những lời-h ứa “đừng sợ” của ông (Ês 41:10,13,14; Ês 43:1,5; Ês 44:2,8; Ês 51:7; Ês 54:14) và giải thích vì sao dân-tộc không cần phải sợ hãi.
-Trước hết, tội-lỗi họ đã được tha (c.4).
Tại sao họ phải sợ tương lai khi Đức Chúa Trời đã bôi xoá tội-lỗi của quá khứ? (Ês 43:25; Ês 44:22). Vâng, dân sự đã phạm trọng tội với Đức Chúa Trời của họ, nhưng Ngài tha-thứ họ, và điều này có nghĩa là một khởi đầu mới (Ês 40:1-5). Họ có thể quên sự xấu hổ về tội-lỗi mình như một dân-tộc non trẻ, như được chép trong Các quan-xét và ISa-mu-ên, cũng như sự sỉ nhục về “cảnh goá bụa” của họ trong sự lưu-đày ở Ba-by-lôn.
-Lý-do khác cho sự tin-quyết là tình yêu không đổi thay của Chúa (Ês 54:5-6). Đức Giê-hô-va là Đấng dựng nên họ và sẽ không huỷ diệt dân mà Ngài đã tạo dựng vì vinh-hiển Ngài.
Ngài là Đấng Cứu Chuộc họ và không thể bán họ vào tay kẻ thù. Ngài là Chồng của họ và sẽ không phá vỡ những lời-hứa giao-ước của Ngài. Như một người vợ bất trung, Y-sơ-ra-ên đã bỏ Chồng mình, nhưng Ngài không bỏ nàng mãi mãi. Ngài chỉ cho nàng cơ hội để thấy sống trong một xứ mà người ta thờ lạy các thần giả tạo là như thế nào. Đức Chúa Trời sẽ gọi nàng về cầu hôn nàng cho chính Ngài (Os 2:14-23) và nàng sẽ không còn là “người vợ bị để nữa” (Ês 54:6 NIV). Nàng cảm thấy bị từ bỏ (Ês 49:14) nhưng Đức Chúa Trời đã không bỏ nàng.
-Một lý-do thứ 3 cho sự tin-quyết là lời hứa đáng tin-cậy của Đức Chúa Trời (Ês 54:7-10). Đức Chúa Trời phải bày-tỏ sự giận dữ của Ngài đối với tội-lỗi họ, nhưng giờ đây sự sửa phạt đã chấm dứt, và họ sẽ trở về xứ mình (về cơn giận của Đức Chúa Trời, hãy xem Ês 9:12,17,21). Ngài hứa: “Ta sẽ lấy lòng thương-xót cả thể mà thâu ngươi lại. Ta sẽ thương-xót ngươi vì lòng nhơn-từ vô cùng”.
Mỗi khi chúng ta chống nghịch Đức Chúa Trời và không chịu lắng nghe những lời cảnh-cáo của Ngài, Ngài phải sửa phạt chúng ta, và Ngài làm điều đó trong tình yêu (Hêb 12:1-11). Cha chúng ta không thể cho phép con cái Ngài phạm tội và thoát được sự trừng phạt. Nhưng mục đích của sự sửa-phạt của Ngài là để đem chúng ta đến sự ăn-năn và giúp chúng ta có thể sanh “bông trái bình-an của sự công-bình” (Hêb 12:11). Khi Đức Chúa Trời “đánh” con cái lầm lỗi của Ngài, Ngài có thể làm họ đau, nhưng Ngài không bao giờ làm hại họ. Điều đó luôn vì ích lợi của chúng ta và vinh-hiển Ngài.
Đức Chúa Trời đã giữ lời-hứa Ngài về Cơn Nước Lụt (Sa 9:11-17) và Ngài sẽ giữ những lời-hứa của Ngài đối với dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Họ có thể tin-cậy nơi tình yêu Ngài, giao-ước Ngài, và sự thương-xót của Ngài.
Các phu-tù không chỉ sẽ được tự do và dân-tộc được hồi-phục, mà thành Giê-ru-sa-lem cũng sẽ được xây lại (Ês 54:11-17). Nếu ngôn ngữ ở đây dường như quá đáng, hãy nhớ rằng tiên-tri nhìn thấy một sự ứng-nghiệm trực tiếp và cả sự ứng-nghiệm cuối cùng (Kh 21:18-21).
Những người xót lại đã xây lại đền thờ và thành dưới sự lãnh đạo của quan tổng trấn Giê-ru-sa-lem, thầy tế-lễ cả Giê-sua, thầy thông-giáo Ê-xơ-ra, người xây tường thành Nê-hê-mi, cùng các tiên-tri A-ghê và Xa-cha-ri. Nhưng Giê-ru-sa-lem được phục-hồi chẳng giống gì với điều Ê-sai mô-tả ở đây! Về thành xinh đẹp đó, chúng ta phải chờ đợi cho đến kỳ tái-lâm của Chúa là sự thiết lập Vương Quốc Ngài. Khi ấy mọi công-dân của Giê-ru-sa-lem sẽ biết Chúa (Ês 54:13), và thành sẽ tự-do khỏi sự kinh hãi với chiến tranh (c.14).
Chúa chúng ta đã trích dẫn phần đầu của c.13 trong Gi 6:45 khi bạn đọc bản văn, bắt đầu ở c.34 bạn thấy rằng Chúa Giê-xu đang nói về những người đến với Cha. “Mọi kẻ Cha cho Ta sẽ đến cùng Ta” (c.37, NKJV) không có nghĩa là Cha ép buộc tội-nhân được cứu. Những người đến cùng Ngài vì họ được “Đức Chúa Trời dạy dỗ” và Thánh Linh đến gần họ qua Lời Ngài. Sự truyền-giảng Phúc-Âm cá nhân sẽ không cần ở Giê-ru-sa-lem mới, vì mọi công-dân sẽ biết Chúa.
2. Sự mời gọi đối với dân ngoại (Ês 54:1-17) (Ês 55:1-56:8)
Tôi-Tớ đã chịu chết không chỉ vì tội-lỗi của Y-sơ-ra-ên (Ês 53:8), mà còn vì tội-lỗi của cả thế-gian (Gi 1:29 IGi 4:14). Ê-sai nói rõ qua sát của ông rằng dân ngoại được kể đến trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Điều mà Ê-sai và các tiên-tri khác không biết là dân Do-thái và dân ngoại tin nhận một ngày nào đó sẽ được hiệp-nhất trong Chúa Giê-xu Christ, ở trong Hội thánh (Êph 3:1-12).
Đức Chúa Trời đưa ra một lời mời gọi cho dân ngoại với 3 ý: hãy đến (Ês 55:1-5), hãy tìm kiếm (c.6-13) và hãy thờ-phượng (Ês 56:1-8).
(1) Hãy đến (Ês 55:1-5).
Lời mời gọi được mở rộng cho “mọi người, chớ không chỉ cho dân Do-thái. Bất cứ ai khao khát điều gì thật sự làm thỏa mãn (Gi 4:10-14) đều được hoan nghênh đến. Như trong Ês 25:6 tiên-tri mô-tả những phước hạnh của Đức Chúa Trời bằng những thuật ngữ về một đại yến tiệc, nơi Đức Chúa Trời là chủ tiệc.
Ở phương Đông, nước là một thành phần quý báu và sự dư dật nước là một phước hạnh đặc biệt (Ês 41:17; Ês 44:3). Rượu, sữa và bánh là những món ăn chủ yếu của họ. Dân-sự đang sống nhờ vào những thứ thay thế không nuôi dưỡng họ. họ cần “đồ thật” mà chỉ Chúa mới có thể ban-cho. Trong Kinh Thánh, cả nước và rượu là những hình ảnh về Đức Thánh Linh (Gi 7:37-39; Êph 5:18).
Chúa Giê-xu là “bánh của sự sống” (Gi 6:32-35) và Lời hằng sống của Ngài giống như sữa (IPhi 2:2). Chúa chúng ta có thể đã nghĩ đến Ês 55:2 khi Ngài phán: “Đừng làm việc vì đồ ăn hay hư-nát, nhưng vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời-đời” (Gi 6:27 NKJV).
Con người phải làm việc cực nhọc để đào giếng, chăm-sóc bầy chiên cùng đàn gia súc, gieo giống và trông nom vườn nho. Nhưng Chúa đã ban-cho họ vô điều kiện mọi sự họ đang lao nhọc vì nó. Nếu họ lắng nghe Lời Ngài, họ sẽ có khuynh hướng đến, vì Đức Chúa Trời kéo tội-nhân đến với chính Ngài qua Lời Ngài (Gi 5:24). Hãy chú ý sự nhấn mạnh về việc nghe trong Ês 55:2-3.
“Những sự thương-xót chắc chắn dành cho Đa-vít” có liên-quan đến giao-ước của Đức Chúa Trời với Đa-vít (IISa 7:1-29) trong đó Ngài hứa rằng một hậu-tự sẽ cai-trị trên ngôi Đa-vít đời-đời. Dĩ nhiên đây là Chúa Giê-xu Christ (Lu 1:30-33) và chứng-cớ Ngài là Vua của Đức Chúa Trời được nhìn thấy qua sự sống lại của Ngài từ cõi chết (Công 13:34-39). Chúa Giê-xu Christ là giao-ước của Đức Chúa Trời dành cho dân ngoại (“các dân”) và những lời-hứa của Ngài sẽ không thay đổi bao lâu Con Ngài vẫn sống, tức là đời-đời.
Ês 55:5 chỉ ra rằng Đức Chúa Trời sẽ sử dụng Y-sơ-ra-ên để kêu-gọi dân ngoại đến với sự cứu-rỗi, mà chắc chắn có thật trong những ngày đầu của Hội Thánh (Công 10:1; Công 11:13; Công 13:1) và sẽ trở thành sự thật trong suốt thời kỳ vương quốc (Ês 2:2-4; Ês 25:14; Xa 8:22). Giê-ru-sa-lem sẽ là trung tâm thờ-phượng trên thế giới, và Đức Chúa Trời sẽ được quy vinh-hiển khi các dân-tộc gặp gỡ với Y-sơ-ra-ên để tôn-kính Chúa.
(2) Hãy tìm kiếm (Ês 55:6-13).
Khi Đức Chúa Trời giải cứu dân-sự Ngài khỏi Ba-by-lôn và đưa họ trở về xứ của họ cách bình-an, đó là một chứng-cớ đối với các dân-tộc khác. nó cũng cho Y-sơ-ra-ên cơ hội nữa để làm sự sáng cho các dân ngoại (Ês 49:6) và đem họ đến đức-tin nơi Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống. Trong khi thật quan-trọng để Y-sơ-ra-ên tìm kiếm Chúa và hoàn toàn tận hiến cho Ngài, cũng quan-trọng để họ chia-sẻ lời mời gọi này với các dân-tộc.
Điều gì có liên-quan trong việc “tìm kiếm Chúa”? Trước hết, nó có nghĩa là thừa nhận rằng chúng ta là tội-nhân và chúng ta đã xúc phạm Đức Chúa Trời thánh-khiết. Đó có nghĩa là ăn-năn (Ês 55:7), đổi ý về tội-lỗi, từ bỏ tội lỗi và đến với Chúa. Chúng ta phải trở lại với Đức Chúa Trời bằng đức-tin và tin lời-hứa của Ngài rằng Ngài sẽ tha-thứ dư dật trong sự thương-xót. Sự ăn-năn và đức-tin đi đôi với nhau: “sự ăn-năn đối với Đức Chúa Trời, và đức-tin đối với Chúa Giê-xu Christ chúng ta” (Công 20:21).
Nhưng không ai nên trì hoãn làm điều này! Nhóm từ “đang khi Ngài có thể được tìm thấy” gợi ý rằng, nếu chúng ta không nhận lời mời gọi của Ngài cách nghiêm túc, lời mời có thể chấm dứt trong lúc chúng ta đang trì hoãn. Trong ví-dụ về Tiệc Yến Lớn, Đức Chúa Trời đã đóng cửa đối với những người khước từ lời mời của Ngài (Lu 14:16-24; Ch 1:20-33). “Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa hiện nay là ngày cứu-rỗi” (IICôr 6:2).
Tìm cách “ước-đoán” Đức Chúa Trời không phải là một dấu hiệu khôn-ngoan, vì đường lối và tư tưởng Ngài vượt quá sự hiểu biết của chúng ta (Ês 55:8-9). Chúng ta tạo ra Đức Chúa Trời theo hình ảnh của chính mình rồi kết luận rằng Ngài suy nghĩ và hành động giống như chúng ta (Thi 50:21), và chúng ta sai lầm! bạn có bao giờ tìm cách giải thích ân-điển Đức Chúa Trời cho một người chưa được cứu là người nghĩ rằng thiên-đàng là một “Tòa nhà Danh tiếng” cho những người thành đạt thay vì là nhà Cha cho những người tin nhận. Trong thế-gian này, bạn làm việc vì những gì bạn có được, và bạn nghi ngờ bất cứ điều gì vô điều kiện.
Đức Chúa Trời bắt đầu kêu-gọi và cứu rỗi tội-nhân hư-mất ra sao? bằng quyền-năng của Lời Ngài (Ês 55:10-11). Lời Đức Chúa Trời là hạt giống (Lu 8:11). Như mưa và tuyết không bao giờ bị lãng phí nhưng thực hiện những mục đích của Ngài, Lời Ngài cũng không bao giờ qua đi.
“Lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi mãi đời-đời” (Ês 40:8). Chúng ta không bao giờ biết Đức Chúa Trời sẽ sử dụng thậm chí một lời tự nhiên của chứng-nhân ra sao để trồng và tưới hạt giống trong lòng ai đó.
Ês 55:12-13 mô-tả sự vui-mừng của những phu-tù về sự giải thoát của họ khỏi cảnh lưu-đày và cả sự vui-mừng của Y-sơ-ra-ên khi họ dự phần vào “sự rời Ê-díp-tô vinh-hiển” đó vào thời kỳ cuối cùng và trở về xứ họ. Khi vương quốc được thiết lập, cả thiên nhiên sẽ ngợi ca Chúa (Ês 32:13; Ês 35:1-2; Ês 49:23; Ês 52:8-9).
(3) Hãy thờ-phượng (Ês 56:1-8).
Dân-tộc đã bị lưu-đày vì đã bất tuân luật-pháp Đức Chúa Trời, đặc biệt là điều răn thứ Ês 4: “Hãy nhớ ngày Sa-bát để giữ nó nên thánh” (Xu 20:8). Điều răn này là một “dấu” đặc biệt giữa Đức Chúa Trời và dân Do-thái (Xu 31:12-18; Nêh 9:13-14). Nó chưa bao giờ được dành cho dân ngoại. dân Do-thái bị quở trách vì họ xem ngày Sa-bát cách hời hợt suốt thời gian đi trong đồng vắng (Êxe 20:10-26) và khi họ sống trong xứ (Giê 17:19-27). thậm chí sau khi trở về xứ thánh sau sự lưu-đày, dân Do-thái tiếp tục vi-phạm ngày Sa-bát (Nêh 13:15-22).
Hãy nhớ rằng ngày Sa-bát là ngày thứ 7 trong tuần, ngày mà Đức Chúa Trời làm nên thánh khi Ngài hoàn tất sự sáng tạo (Sa 2:1-3). Chúa nhật là Ngày của Chúa ngày đầu tiên trong tuần, và nó kỷ niệm