...tự Giê-rê-mi (Êxe 1:2), Xa-cha-ri (Êxe 1:1), và Giăng Báp-tít (Lu 1:5-80), Ê-xê-chi-ên (“Đức Chúa Trời làm cho trở nên mạnh”) đã được Chúa kêu-gọi trở thành một thầy tế-lễ phụng-sự Ngài như một tiên-tri.
Trên cương vị là một phát-ngôn nhân của Đức Chúa Trời đến cùng những người Do-thái đang bị lưu-đày ở Ba-by-lôn, Ê-xê-chi-ên đã quở trách tội-lỗi họ và vạch trần tội thờ hình-tượng của họ, đồng thời ông cũng tiết-lộ cho họ biết về tương lai vinh-hiển mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho họ. Ông được Chúa kêu-gọi lúc ông vừa tròn 30 tuổi (Êxe 1:1), đó là độ tuổi bình thường để bắt đầu thi-hành chức-vụ của một thầy tế-lễ (Dân 4:1-3,23) [1]
Chắc hẳn Ê-xê-chi-ên cảm thấy dễ hơn khi làm một thầy tế-lễ, bởi vì người Do-thái vốn coi rất trọng các thầy tế-lễ, hơn nữa thầy tế-lễ có được thẩm-quyền đọc sách Luật-Pháp và có thể học hỏi bất cứ điều gì người cảm thấy cần học để biết phải làm gì trong công việc mình. Còn các nhà tiên-tri thì thường bị khinh rẻ và hay bị bắt bớ. Họ nhận sứ-điệp và các mệnh-lệnh từ Đức Chúa Trời vào những thời điểm bắt buộc nào đó và có thể họ sẽ không bao giờ biết chắc rằng rồi sẽ xảy ra điều gì. Làm tiên-tri thật là nguy hiểm. Người ta ai ai cũng hay bực mình và phẫn nộ khi nghe nói về tội-lỗi của họ, họ thích nghe sứ-điệp về những chuyện vui vẻ chứ họ không không thích nghe tuyên-bố những lời phán-xét.
Giê-rê-mi thi hành chức-vụ tại Giê-ru-sa-lem suốt 4 năm liền khi Ê-xê-chi-ên được sinh ra vào năm 622 BC, nhưng chắc chắn là vị thầy tế-lễ trẻ này đã lớn lên, và ông rất lưu tâm đến những gì Giê-rê-mi rao-giảng. [2] Có khả năng Đa-ni-ên và Ê-xê-chi-ên là bạn bè với nhau trước khi xảy ra cuộc lưu-đày, mặc dù không có chứng-cớ nào cả cho thấy họ có gặp nhau ở Ba-by-lôn.
Chức-vụ tiên-tri của Ê-xê-chi-ên vô cùng cần thiết tại Ba-by-lôn bởi vì lúc bấy giờ có rất nhiều tiên-tri giả nổi lên báo cho người Do-thái nghe những niềm hy-vọng giả dối rằng họ sẽ được giải cứu bằng phép-mầu mau chóng (thường là nhờ Ai-cập) và niềm vui chiến thắng sẽ trở lại trong xứ họ (Giê 5:30-31; Giê 27:1-11; Giê 28:1-17). Có thể vua Sê-đê-kia đã đến thăm Ba-by-lôn (Giê 51:59-61) và chuyển thư của Giê-rê-mi đến cho những người bị lưu-đày ở đó Giê 29:1-32), việc này xảy ra cùng năm Ê-xê-chi-ên nhận được sự kêu-gọi.
Thư này nói với người Do-thái rằng họ sẽ phải ở tại Ba-by-lôn 70 năm do đó họ nên định-cư ổn định cuộc sống, xây dựng phát triển gia đình và cầu-nguyện cho những kẻ bắt bớ họ. Đồng thời, Giê-rê-mi cũng tuyên-bố rõ ràng rồi đây Ba-by-lôn sẽ sụp đổ, là sứ-điệp mà những người đi lưu-đày rất háo hức muốn nghe.
Công việc khó khăn nhất của một tiên-tri là làm thay đổi suy nghĩ của dân-sự. Điều này có nghĩa cần phải nhổ bỏ tận gốc những cây cỏ dại là những thuyết-giáo dối giả và gieo trồng xuống những hạt giống tốt là Lời Đức Chúa Trời. Tức là cần phải lên-án đả kích những lý-lẽ nông cạn được xem là những cấu trúc cơ-bản của các nhà tiên-tri giả đưa ra, đồng thời cần phải xây dựng trong dân-sự những tòa nhà vĩnh cửu dựa trên nền-tảng vững chắc là các lẽ-thật (Êxe 1:10; IICôr 10:3-6). Để chuẩn bị cho chức-vụ khó khăn của Ê-xê-chi-ên, Đức Chúa Trời đã khiến ông nếm-trải 3 kinh-nghiệm đầy ấn-tượng sâu sắc.
1. Sự hiện thấy về vinh-quang Chúa (Êxe 1:1-28)
Vương quốc Giu-đa đã phải khốn đốn dưới sự cai-trị của quân Ba-by-lôn chiến thắng, và nhiều người Do-thái không hiểu nổi tại sao Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác-và Gia-cốp lại cứ yên lặng mãi như vậy (Thi 74:1-23).
Dân Do-thái không phải là tuyển dân của Chúa phải không? Đức Giê-hô-va đã không đánh bại được kẻ thù nghịch của họ và không ban-cho họ đất hứa chăng? Có phải Giê-ru-sa-lem không phải là thành thánh của Ngài và Ngài đã không ngự trong nơi đền thờ thánh của họ chăng? Vậy mà giờ đây tuyển dân của Ngài lại đang bị lưu-đày tại nơi xứ người ngoại đạo, còn miền đất hứa của họ thì bị xâm chiếm, thành Giê-ru-sa-lem đã rơi vào tay kẻ thù, và đền thờ thì bị cướp đi những báu vật. Đó là thời kỳ đen tối của Y-sơ-ra-ên, và trước hết Ê-xê-chi-ên phải hiểu được rằng cho dù hoàn cảnh làm nản lòng ra sao đi nữa thì cũng không phải là điều quan-trọng, cơ-bản là Đức Chúa Trời vẫn đang ngự trên ngôi Ngài tiếp tục hoàn thành mục đích thánh của Ngài trong thế-gian này. Trong sự hiện thấy của Ê-xê-chi-ên chứa đựng nhiều điều bí-ẩn không giải thích được, tuy nhiên có một sứ-điệp rất rõ ràng và có sức tác động mạnh mẽ: Đức Giê-hô-va là Chúa Chí Cao của Y-sơ-ra-ên và của tất cả mọi dân mọi nước trên đất.
•Cơn Bão (Êxe 1:3-4): Sông Kê-ba cũng là một kênh đào chảy ra từ sông Ơ-phơ-rát, phía nam thành Ba-by-lôn, nơi người Do-thái đang nhóm nhau lại cầu-nguyện (Công 16:13). Ê-xê-chi-ên đề-cập đến sự việc này trong Êxe 1:1; Êxe 3:23; Êxe 10:15,20,22; Êxe 43:3.
-Hình như giữa lúc Ê-xê-chi-ên đang có mặt ở đó cùng với các phu-tù khác thì Đức Chúa Trời đã gọi ông bước vào chức-vụ mới.
-Còn Ê-sai được Ngài kêu-gọi khi ông đang thờ-phượng Ngài trong đền thờ (Ês 6:1-13).
-Phao-lô và Ba-na-ba được kêu-gọi lúc họ đến dự nhóm thờ-phượng tại An-ti-ốt (Công 13:1-3).
Ê-xê-chi-ên đi đến buổi nhóm cầu-nguyện đó, là một buổi nhóm cầu-nguyện bình thường như thường lệ, thế nhưng Đức Chúa Trời đã khiến buổi nhóm ấy trở thành thời-điểm rẽ hướng trong đời ông. Chúng ta không bao giờ biết trước được cái ngày khác thường khiến chúng ta bước vào con đường đi làm nhiệm-vụ là ngày nào.
Lời Đức Giê-hô-va phán với Ê-xê-chi-ên qua hình thức bằng sự hiện thấy, và Ngài đặt tay trên ông tuyên-bố rằng ông sẽ phải thi hành chức-vụ đặc biệt. Nhóm từ “có Lời Đức Giê-hô-va phán” được dùng 50 lần trong lời tiên-tri và trong sứ-điệp mà ông đã rao ra đầy quyền-năng. Cụm từ “tay Đức Giê-hô-va” cũng được t ìm thấy trong Êxe 3:14,22; Êxe 8:1; Êxe 33:22; Êxe 37:1; Êxe 40:1. Lời Đức Giê-hô-va đem lại sự khai sáng và tay Đức Giê-hô-va làm cho có khả năng (Êph 1:15-23).
Trong Kinh Thánh, cơn bão thường dùng nói về hình ảnh sự phán-xét của Đức Chúa Trời (Ch 1:27; Ês 66:15; Giê 4:13; Giê 23:19; Na 1:3). Đám mây lớn giữa cơn gió lốc đến từ phương bắc mà Ê-xê-chi-ên đã nhìn thấy muốn ám chỉ tới cuộc xâm lược Giu-đa của đội quân Ba-by-lôn, sự hủy diệt xứ, hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ (Giê 4:6; Giê 6:1).
Suốt 40 năm, Đức Chúa Trời đã dẫn dắt Y-sơ-ra-ên bằng một cụm mây đầy vinh-hiển, nhưng giờ đây lại có một cụm mây mang đến sự sửa-phạt trên dân-tộc bất tuân của Ngài. Tiên-tri Giê-rê-mi cũng có sự hiện thấy tương tự vào lúc ông mới bắt đầu thi hành chức-vụ (Giê 1:13-16).
Ê-xê-chi-ên nhìn thấy có tia sáng chiếu ra cùng với ánh lửa chớp nhoáng bao bọc chung quanh đám mây giống như thể kim loại đang bị nấu chảy tuôn ra từ trong đám mây ấy. Cả 2 hình ảnh này đều nhắc nhở đến sự thánh-khiết của Đức Chúa Trời, vì “Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt” (Xu 19:16,18; Phuc 4:24; Hêb 12:29).
Khi mô-tả sự hiện thấy này, Ê-xê-chi-ên thường dùng những từ “ như là” và “giống như” ít nhất 25 lần, ý nói rằng những gì ông thấy tượng-trưng cho các sự-thật sẽ diễn ra mà Đức Chúa Trời muốn tiết-lộ với ông. Xuyên suốt Kinh Thánh, Đức Giê-hô-va thường dùng những điều quen thuộc minh họa cho các lẽ-thật thuộc-linh vốn không nằm trong phạm-vi của từ ngữ và sự mô-tả của loài người.
•Chê-ru-bim (Êxe 1:5-14 và trong Êxe 10:15,20): Ê-xê-chi-ên nhận diện những tạo vật sống đó là các Chê-ru-bim – những vật sống ở thiên-đàng được nói đến lần đầu trong Sa 3:24. Những bức rèm phủ quanh hòm giao-ước có thêu hình các Chê-ru-bim (Xu 26:1), trên hòm giao-ước và trên nắp thi-ân có 2 Chê-ru-bin bằng vàng (Xu 25:18-22).
Chê-ru-bim được nhận ra rất dễ dàng trong đền thờ của Sa-lô-môn (IVua 6:23-29; IISu 3:10-13) và trong các sự hiện thấy của Giăng ở sách Khải-huyền (Kh 4:6-9; Kh 5:6-14; Kh 6:1-11; Kh 14:3; Kh 15:7; Kh 19:4).
Những vật sống này có hình thể con người, chân đi thẳng, bàn chân như bàn chân bò, có 4 khuôn mặt và có 4 cánh, dưới các cánh của chúng đều có tay như tay người. Cánh chúng được xếp tiếp giáp nhau để chúng khi đi thì không phải xây lại, mà cứ đi thẳng tới và chúng có thể đổi hướng đi cách lẹ làng. Các cánh chúng tiếp giáp với nhau tạo thành hình vuông mà mỗi con trong số chúng đứng tại một góc.
Điều đáng chú ý ở đây là 4 khuôn mặt của chúng: đó là mặt người, mặt sư tử, mặt bò và mặt chim ưng (Êxe 1:10). Con người là tạo vật cao cấp nhất của Đức Chúa Trời được Ngài nắn tạo theo hình ảnh Ngài.
Sư tử là loài thú dữ tợn nhất của núi rừng khó có thể thuần hóa được, trong khi bò là thú nuôi nơi đồng cỏ có sức mạnh dữ dội nhất. Còn chim ưng là loài chim lớn nhất và thậm chí được ví với hình ảnh Đức Chúa Trời (Phuc 32:11-12).
Tuy nhiên ở đây còn có sự liên hệ với giao-ước mà Đức Chúa Trời đã lập với Nô-ê sau cơn đại hồng thủy (Sa 9:8-17). Đức Chúa Trời hứa sẽ không hủy diệt thế-gian nữa bằng nước lụt, Ngài đã hứa lời này với Nô-ê (con người), với hậu tự của ông, với chim muông (chim ưng), với thú nuôi (bò), và với thú hoang (sư tử).
Sự hiện diện của các Chê-ru-bim trước ngai Đức Chúa Trời bảo-đảm rằng Ngài luôn nhớ đến lời-hứa của Ngài và luôn chăm-sóc các tạo vật của Ngài. Nhưng cũng nên nhớ rằng mọi sự tạo dựng đều có thể được Đức Giê-hô-va sử dụng để chúc phước hoặc sửa-phạt dân-sự Ngài. Trong khải-tượng này, chúng đóng vai trò là sự phán-xét của Đức Chúa Trời trên dân-sự.
Sự sống của các vật sống này đến từ “thần” (Đức Thánh Linh)[3] trong đám mây Êxe (Sa 1:12,20), và sự sống này khiến chúng có khả năng di chuyển như ánh chớp; thực tế, khi chúng chạy đi chạy lại trông giống như những tia chớp nhoáng sáng.
Lần đầu tiên nhìn thấy các vật sống này, Ê-xê-chi-ên so sánh chúng với những tia lửa vãi sáng tứ bề và cũng giống như tia sáng kim loại chiếu ra bóng nhoáng (Sa 1:4) nhưng lúc nhìn thấy chúng rõ hơn, ông lại lại so sánh chúng với kim loại đồng lóng lánh (Sa 1:7), có hình trạng giống như than đỏ và đuốc lửa nhoáng sáng và phát ra ánh chớp (Sa 1:13-14). Sứ-đồ Giăng cũng đã mô-tả vẻ đẹp của thành thánh như vậy (Kh 21:1-22:21), rõ ràng tiên-tri Ê-xê-chi-ên đã dùng lời vẽ nên bức tranh tuyệt mỹ này!
•Những bánh xe (Êxe 1:15-21): Gồm có 4 bánh xe (c.16), mỗi bánh gắn với một Chê-ru-bin. Những bánh xe này làm cho các vật sống và đám mây có thể di chuyển theo bất cứ hướng nào ngay lập tức tựa như tia chớp mà không cần phải xây lại. Các bánh xe có hình dạng như những viên bích ngọc, hoàng ngọc tỏa ra màu vàng và màu hơi lục. Chúng có vòng bánh xe rất cao, thậm chí chúng từ mặt đất vương chạm tới trời, vành bánh xe thì đầy những con mắt trông dễ sợ lắm.
Thần (Đức Thánh Linh) của các tạo vật sống này ở trong bánh xe để khi chúng đi hướng nào thì những bánh xe cũng sẽ đi theo hướng đó. Ấy là một cảnh tượng quả thật rất hãi hùng với những bánh xe khổng lồ, những sinh vật sống, những ngọn lửa bao phủ, và những vành bánh xe gắn đầy các con mắt. Thật là một bức tranh lý thú về sự báo-trước của Đức Chúa Trời, Ngài luôn hành động, đó là bức tranh được Ngài phát thảo thật khó hiểu, nhưng không hề sai lầm, và không bao giờ chậm trễ!
•Vòng khung (Êxe 1:22-25): Vòng khung này dang rộng khủng khiếp trông giống vòng kim cương (pha lê) lấp lánh rải ra trên đầu các Chê-ru-bim. Bây giờ chúng ta sẽ thấy toàn bộ bức tranh: một chiếc xe ngựa kéo có 4 bánh xe chạy trên nền trời thật lẹ làng từ nơi này đến nơi khác theo hướng chỉ định của Đức Giê-hô-va. Khi nó chuyển động, tiếng ầm ầm từ các các cánh Chê-ru-bim vang lên nghe như tiếng ầm ầm của những dòng nước lớn đổ dồn “như tiếng của Đấng Toàn Năng”, rùng rùng như tiếng của một đạo binh vĩ đại đang hành quân (Êxe 3:13; Êxe 10:5; Thi 46:3; Kh 1:15; Kh 19:6).
Các bánh xe tượng-trưng cho s ự hiện diện khắp nơi của Đức Chúa Trời, trong khi các con mắt đính trên vành bánh xe gợi ý về sự thông biết mọi điều của Ngài, Ngài nhìn thấy và biết hết mọi thứ. Ê-xê-chi-ên thấy được cảnh tượng trong tương lai của Đức Chúa Trời sẽ diễn ra khi Ngài hành động trong thế-gian này. Nhưng đồng thời còn có thêm yếu tố kế tiếp này nữa. (Êxe 1:26-28)
Các bánh xe mô-tả sự hiện hữu và toàn-tri của Đức Chúa Trời, còn ngai thì nói lên quyền tể-trị tuyệt đối của Ngài. Ngai Ngài màu xanh da trời có những tia lửa chiếu ra từ bên trong (sự thánh-khiết, xem Kh 15:2) và có một dải cầu vồng bao quanh ngai (nét đẹp hoàn mỹ của giao-ước).
Nô-ê đã nhìn thấy cầu vồng này sau cơn lụt (Sa 9:13-16), sứ-đồ Giăng thấy nó trước cơn lụt (Kh 4:3), còn Ê-xê-chi-ên thì thấy nó hiện diện trên cơn lụt và cai-trị cơn lụt. Trong cơn thịnh nộ, Đức Chúa Trời vẫn luôn nhớ đến sự thương-xót (Ha 3:2). Ê-xê-chi-ên nhận ra rằng ông đang nhìn thấy vinh-quang của Đức Giê-hô-va (Êxe 1:28), và ông sấp mặt xuống sợ hãi tột độ (Êxe 3:23; Đa 8:17; Đa 10:9,15,17; Kh 1:17). “Người” mà ông nhìn thấy trên ngai có lẽ có hình dáng giống Chúa Giê-xu Christ chúng ta (Êxe 8:2; Êxe 40:3).
Vinh-quang Đức Giê-hô-va là một trong những chủ-đề chính của sách tiên-tri Ê-xê-chi-ên (Êxe 3:12,23; Êxe 8:4; Êxe 9:3; Êxe 10:4,18-19; Êxe 11:22-23; Êxe 39:21; Êxe 43:2,4-5; Êxe 44:4). Sau đó, Ê-xê-chi-ên thấy vinh-hiển của Đức Chúa Trời lìa khỏi đền thờ chuyển đến bao phủ núi Ô-li-ve rồi trở lại ngự trong đền thờ của vương quốc Ngài. Vì cớ tội-lỗi của Y-sơ-ra-ên nên vinh-quang Chúa đã lìa khỏi đền thờ; nhưng Đức Chúa Trời có hứa rằng sẽ có một ngày thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ được phước hạnh bởi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va. Thành này sẽ được gọi là “Giê-hô-va Shammah-Đức Giê-hô-va ở đó” (Êxe 48:35).
Bây giờ chúng ta có thể bắt đầu hiểu được sứ-điệp Đức Chúa Trời ban cho tiên-tri của Ngài là gì rồi. Dẫu rằng dân-sự Ngài đang bị lưu-đày và cả dân-tộc sắp bị hủy diệt, thế nhưng Đức Chúa Trời vẫn cứ ngự trên ngai và Ngài có quyền-bính thay đổi được mọi tình huống. Trong sự sắm sẵn tuyệt vời của Ngài, Ngài lần lượt hành động trong những vấn-đề của các dân-tộc khác và Ngài bày-tỏ ra kế hoạch kín-nhiệm của Ngài. Y-sơ-ra-ên không còn là nạn nhân của quân xâm lược Ba-by-lôn hiếu chiến nữa.
Chính Đức Chúa Trời là Đấng khiến cho đế quốc Ba-by-lôn đến chinh-phục dân-sự Ngài để Ngài sửa-phạt họ vì tội họ chống nghịch Ngài, tuy nhiên, Ngài cũng có thể đưa đế quốc Mê-đi Ba-tư đến xâm lược Ba-by-lôn, và khiến Si-ru vua Ba-tư (Phe-rơ-sơ) cho phép dân Do-thái trở về xứ mình.
“Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn-ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời! Sự phán-xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được!” (Rô 11:33).
Vấn-đề không phải ở chỗ Đức Chúa Trời đã ban cho Ê-xê-chi-ên sứ-điệp gì để ông rao-giảng, hoặc dân-sự sẽ dấy nghịch chống đối ông ra sao, mà là ông sẽ được khích-lệ và được trở nên mạnh mẽ bởi vì ông đã được chứng-kiến ngai quyền-năng của Đức Chúa Trời ngự giữa đám lửa hừng. Ông đã nhìn thấy vinh-quang Ngài.
2. Đón nhận gánh nặng của Đức Giê-hô-va (Rô 1:1-28) (Êxe 2:1-3:3)
Giờ đây, Ê-xê-chi-ên sẽ nhận lãnh sứ-mệnh chính của mình là làm tiên-tri cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và Ngài bảo ông ắt phải đương đầu với một công việc vô vàn khó khăn. Chúng ta hoặc đang lớn lên trong một gia đình nào đó, hoặc đang giảng dạy tại một lớp học trường chúa nhật, hoặc đang làm công tác chăn bầy ở hội thánh, hay là đang đi truyền-bá Phúc-Âm tại một đất nước xa lạ nọ, thì trước hết chúng ta phải tiếp nhận những người mà chúng ta có thể dẫn đưa họ đến với điều Chúa muốn họ sẽ trở thành. Đức Chúa Trời ban cho Ê-xê-chi-ên 4 mạng-lệnh quan-trọng cần phải tuân theo sau đây:
(1) Hãy đứng lắng nghe (Êxe 2:1-2): Sau khi có sự hiện thấy, Ê-xê-chi-ên sấp mình xuống đất, ông đã bị vinh-quang Đức Giê-hô-va và dấu lạ về những công việc Ngài sẽ làm trong thế-gian này chế ngự hoàn toàn. Ngoài Đức Giê-hô-va tối cao thì còn ai có thể có ngai giống như cỗ xe ngựa đó và có thể đi lại lẹ làng như Ngài? Ngoài Đức Giê-hô-va ra thì còn ai có khả năng đi lại giữa đám lửa đang hừng cháy để hoàn tất những mục đích vĩ đại của Ngài?
Ê-xê-chi-ên được gọi là “con người” 93 lần trong sách tiên-tri này của ông, đó cũng là tước-hiệu Đức Chúa Trời đã dùng gọi Đa-ni-ên (Đa 8:17). “Con Người” còn là tước-hiệu của Chúa Cứu Thế (Đa 7:13) là tước-hiệu Đức Chúa Giê-xu Christ đã dùng nói về chính Ngài ít nhất là 84 lần trong khi Ngài thi hành chức-vụ trong thế-gian.
Tuy nhiên trong trường hợp của Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên, thì tước-hiệu “con người” này nhấn mạnh nhân tính và sự chết của họ. Ê-xê-chi-ên đã sấp mặt xuống đất khi nghe Đức Chúa Trời phán bảo ông, điều này nhắc nhở ông và chúng ta là loài người phải biết khiêm-nhường hạ mình bởi vì chúng ta được bắt đầu từ trong bụi đất (Sa 1:26; Sa 3:19), “Vì Ngài biết chúng tôi nắn nên bởi giống gì, Ngài nhớ lại rằng chúng tôi bằng bụi đất” (Thi 103:14). Đức Chúa Trời luôn nhớ điều đó, còn chúng ta thỉnh thoảng lại quên.
Có lúc chúng ta phải sấp mình xuống khiêm-nhường thờ lạy Chúa, và có lúc chúng ta cần đứng lên để nhận mệnh-lệnh (Gios 7:6 đến hết đoạn). Mệnh-lệnh từ Lời Chúa và quyền-năng của Đức Thánh Linh khiến chân Ê-xê-chi-ên có thể đứng thẳng lên, rồi Đức Thánh Linh ngự vào trong ông, làm cho ông trở nên mạnh mẽ. Trong rất nhiều trường hợp, Đức Thánh Linh đã đỡ nâng ông và cất ông lên (Êxe 2:2; Êxe 3:14; Êxe 8:3; Êxe 11:1,24; Êxe 37:1; Êxe 43:5). Điều quan-trọng ở đây là Ê-xê-chi-ên đã vâng-lời Chúa đứng trước Ngài và lắng nghe Lời Ngài.
(2) Hãy đi nói (Êxe 2:3-5): Tiên-tri không phải là những người chỉ chuyên làm công việc đoán trước tương lai mà thôi, mặc dù đó là phần việc trong chức-vụ của họ. Cơ-bản họ là những người báo trước đã tuyên-bố Lời của Đức Chúa Trời ra cho mọi người. Đôi khi họ ban ra sứ-điệp phán-xét, nhưng thường thường có đi kèm theo sau bằng sứ-điệp hy-vọng và tha-thứ. Người Do-thái cần nghe sứ-điệp của Ê-xê-chi-ên bởi vì chống nghịch Chúa, bướng bỉnh, và cứng lòng. [4]
Bạn sẽ tìm thấy trong sách này có ít nhất 16 lần người Do-thái được mô-tả là “những kẻ chống nghịch”. Họ phản loạn nghịch lại Đức Giê-hô-va, ngoan cố không chịu đầu-phục ý muốn Ngài. Họ từ chối không làm theo những quy định của giao-ước và việc này đã dẫn họ đến thất bại và bị quân Ba-by-lôn bắt đi lưu-đày. Thậm chí trong khi bị giam cầm, họ vẫn nuôi hy-vọng hão huyền rằng người Ê-díp-tô sẽ đến giải cứu họ, hoặc có thể Đức Chúa Trời sẽ làm một phép-lạ vĩ đại nào đó cho họ.
Vì Do-thái quá bất-trị, hay nổi loạn cho nên Đức Chúa Trời đã gọi họ là “dân bội nghịch” -theo tiếng Hê-bơ-rơ là “goy”-từ thường dành để chỉ về dân ngoại! Y-sơ-ra-ên là tuyển dân của Đức Chúa Trời, là một dân-tộc đặc biệt, thế nhưng họ lại đang hành động như người ngoại giáo là những người đã không có được những ơn phước và các đặc ân, đặc quyền mà Đức Chúa Trời đã ban cho người Do-thái.
Đây là từ ngữ không hề đem lại sự khích-lệ chút nào đối với vị tiên-tri trẻ tuổi là Ê-xê-chi-ên lúc bấy giờ, tuy nhiên ông cần biết trước rằng công việc của ông rồi đây sẽ lắm khó khăn. Đức Chúa Trời cũng đã ban sứ-điệp tương tự cho Ê-sai khi Ngài kêu-gọi ông (Ês 6:8-13). Cho dù dân-sự có chịu lắng nghe và làm theo hay không hay là làm ngơ tỏ ra như chẳng biết gì thì Ê-xê-chi-ên vẫn cứ trung-thành thực hiện công tác của mình (ICôr 4:2).
(3) Đừng sợ (Êxe 2:6-7):Trong câu 6 có đến 3 lần Đức Giê-hô-va khuyên-bảo, động-viên Ê-xê-chi-ên chớ sợ dân-sự, và Ngài cứ nhắc đi nhắc lại điều đó Êxe 3:9). Ngài từng ban-cho Giê-rê-mi lời cảnh-báo giống như vậy (Giê 1:8), và Chúa Giê-xu cũng đã ban-cho các môn-đồ Ngài lời răn-đe tương tự (Mat 10:26,28,31). “Ta, chính ta, là Đấng yên-ủi các ngươi. Ngươi là ai, mà sợ loài người hay chết, sợ con trai loài người là kẻ sẽ trở nên như cỏ?” (Ês 51:12), điều quan-trọng ở đây là Ê-xê-chi-ên đã can-đảm tuyên-bố Lời Đức Chúa Trời ra, còn những người nghe ông đáp lại ra sao thì không thành vấn-đề. Mặc dù chính dân-sự Đức Chúa Trời sống như những cây tầm gửi và những bụi cây có gai [5] thậm chí, giống như những con bò cạp hay chích gây đau đớn, nhưng vẫn không làm nhụt chí của đầy-tớ Ngài.
(4) Hãy tiếp nhận Lời Ngài vào trong lòng (Êxe 2:8-3:3): Là một thầy tế-lễ, Ê-xê-chi-ên biết rằng Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ đã mô-tả Lời Đức Chúa Trời là linh-lương mà chúng ta cần nhận lãnh vào lòng và tiêu hóa. Ông Gióp đã đánh giá Lời Chúa có giá-trị hơn “vật thực cần thiết” của ông (Gios 23:12), và Môi-se đã khích-lệ người Do-thái hãy sống nhờ vào Lời Đức Chúa Trời như nhờ vào bánh (ma-na) mà Chúa thường chu-c ấp cho chúng ta hằng ngày (Phuc 8:3; Mat 4:4).
Tiên-tri Giê-rê-mi đã “ăn” Lời Đức Chúa Trời (Giê 15:16) và sứ-đồ Giăng cũng vậy (Kh 10:8-10). Các tiên-tri của Đức Chúa Trời phải nói ra từ trong lòng mình, nếu không thì sứ-điệp của họ sẽ không đáng được tin-cậy.
Có một bàn tay đưa ra trao cho Ê-xê-chi-ên một cuộn sách không có tin tốt lành nào hết bởi vì cả trong lẫn ngoài sách đều chứa toàn “những lời ca-thương, than thở và khốn nạn” (Êxe 2:10). Có lẽ sách ấy chứa đựng sứ-điệp được ký-thuật từ trong chương 4 cho đến hết chương 32, nói về sự phán-xét của Đức Chúa Trời trên Giê-ru-sa-lem và trên các dân-tộc ngoại giáo (xem Đại cương gợi ý của sách Ê-xê-chi-ên).
Đức Chúa Trời truyền-lệnh cho Ê-xê-chi-ên phải ăn nuốt cuộn sách này để nếm biết vị ngọt như mật của nó (Thi 19:10; Thi 119:103), dẫu rằng sau đó ông sẽ phải nếm vị đắng (Êxe 3:14), giống y trường hợp của sứ-đồ Giăng (Kh 10:8-11). Đó là vinh dự lớn lao cho người trở thành một phát-ngôn nhân của Đức Giê-hô-va, đồng thời chúng ta phải có khả năng giãi bày cả vị đắng lẫn vị ngọt.
Ê-xê-chi-ên được nghe nói đến tính cứng cỏi của dân-sự ông trước khi ông có sự hiện thấy về vinh-quang Đức Chúa Trời, do đó có lẽ ông đã rất khó khăn để chấp nhận sự kêu-gọi của Chúa. Tuy nhiên, sau khi nhìn thấy được ngai vinh-hiển của Chúa Giê-hô-va chí cao, thì Ê-xê-chi-ên liền biết rằng ông đã có tất cả những sự giúp đỡ cần thiết để ông có thể làm theo ý chỉ của Chúa. Trong khi thi hành chức-vụ đầy khó khăn của mình giữa vòng những người Y-sơ-ra-ên, Môi-se đã được khích-lệ qua sự gặp gỡ Đức Chúa Trời trên đỉnh núi và qua sự nhìn thấy được vinh-quang Ngài phô bày ra. Tiên-tri Ê-sai nhìn thấy vinh-quang của Đấng Christ trong đền thờ trước khi ông bước vào thi-hành chức-vụ (Ês 6:1-13; Gi 12:34-41).
Tiên-tri Ha-ba-cúc được cất từ khe núi tuyệt vọng lên đến đỉnh núi chiến thắng qua sự suy gẫm của ông về vinh-quang Đức Chúa Trời trong lịch-sử Y-sơ-ra-ên (Ha 3:1-19). Trước khi Ê-tiên hy-sinh mạng sống mình vì cớ Chúa Giê-xu Christ, ông đã nhìn thấy vinh-quang của Con Đức Chúa Trời trên thiên-đàng (Công 7:55-60). Động-cơ duy nhất giúp chúng ta không bao giờ thất bại đó là hãy làm tất cả mọi điều vì vinh-hiển của Đức Chúa Trời.
-Êxe 2:1-9; xem giải nghĩa Êxe 1:1-28.
-Êxe 3:1-3; xem giải nghĩa Êxe 1:1-28.
3. Tuyên ra lời của Đức Giê-hô-va (Êxe 3:4-27)
Điều mà con người cần cho mình hơn bất cứ thứ gì khác đó là được nghe Lời Đức Chúa Trời. Thậm chí trước khi quốc gia sụp đổ, tiên-tri Giê-rê-mi đã cảnh-báo dân-sự không được nghe lời của các tiên-tri giả, mặc dù vậy, có nhiều nhà lãnh đạo cùng với phần đông dân-sự vẫn không chịu nghe ông khuyên (Giê 5:30-31; Giê 6:14; Giê 7:8; Giê 8:10). Đức Chúa Trời đã phán bảo rất rõ với dân Y-sơ-ra-ên giữa lúc họ đang bị thất bại nhục nhã và đang bị lưu-đày, thế mà, lúc bấy giờ họ lại cứ khư khư bám víu vào những niềm hy-vọng hão huyền và vẫn tiếp tục nghe những lời nói dối của các tiên-tri giả ở Ba-by-lôn (Giê 29:15-32).
Lòng người lúc nào cũng thích được nghe những lời yên-ủi giả dối chứ không ưa nghe những lời lên án chân-thật đem lại sự thanh-tẩy. Ê-xê-chi-ên rao-báo Lời của Đức Chúa Trời ra trong vai trò ông là một sứ-giả (Êxe 3:4-10), người đau khổ, cay đắng, buồn rầu (c.10-15), người canh giữ (c.16-21), và là một dấu-hiệu (c.22-27).
•Sứ-giả (Êxe 3:4-9): Có 3 yếu-tố liên-quan đến ở đây là: rao ra, nhận lãnh (hiểu) sứ-điệp, và làm theo. “Hãy đi thuật lại Lời Ta bảo!” là nhiệm-vụ Đức Chúa Trời giao cho Ê-xê-chi-ên. Ông là một sứ-giả, dân Y-sơ-ra-ên là những thính-giả, và Lời Đức Chúa Trời là sứ-điệp được ban ra. Một trong số những từ trong Kinh Thánh Tân-ước nói về sự rao-giảng là từ “kerusso” có nghĩa “sứ-giả rao-truyền”.
Thời xưa, những nhà cầm quyền thường sai phái các sứ-giả trong hoàng cung đi ra truyền-đạt sứ-điệp của họ cho dân chúng, và các sứ-giả này bắt buộc phải nói ra chính xác những sứ-điệp mà họ nhận được trước đó. Nếu Ê-xê-chi-ên muốn trở nên một sứ-giả trung-thành, thì bắt buộc ông phải thực hiện từng phần một cho đến chi-tiết cuối cùng của nhiệm-vụ Đức Chúa Trời giao phó.
•Yếu-tố thứ hai là nhận lãnh (Êxe 3:5-7): Nhận lãnh Lời Đức Chúa Trời có nghĩa là hiểu được Lời Ngài và ghi-khắc vào trong tâm-trí mình (Mat 13:19). Từ khi Ê-xê-chi-ên được Đức Chúa Trời chọn làm tiên-tri cho Ngài, thì những gì ông nói ra đều trở nên quan-trọng và dân-sự bắt buộc phải nhận lãnh chúng. Ông nói với họ bằng ngôn ngữ của chính họ, vì thế, họ không thể viện lý-do bảo rằng: “Chúng tôi không hiểu ông đang nói gì?”. Ông hiểu những lời họ nói và ngược lại họ cũng hiểu những gì ông nói với họ. Nếu Đức Chúa Trời sai Ê-xê-chi-ên đến với một dân-tộc nào đó mà bắt buộc ông phải nhờ người phiên dịch lại tiếng ông nói cho người ta nghe, thì chắc hẳn họ sẽ hiểu được sứ-điệp của ông và nhận lãnh nó.
Vậy mà, chính dân-sự ông lại làm ngơ như thể không nghe không hiểu gì. Chúa Giê-xu cũng dùng những lời tương tự trong Êxe 11:21-24 khi Ngài lên án các thành phố của người Do-thái vì đã chối bỏ Ngài. Sau khi thấy Ngài làm những phép-lạ giống như vậy tại nơi các thành của người ngoại, ắt hẳn họ sẽ ăn-năn trở lại với Ngài.
•Yếu-tố thứ ba là làm theo (Êxe 3:7-9): Đức Chúa Trời thường không sai chúng ta là những sứ-giả của Ngài đến với dân-sự Ngài để làm vui lòng họ hoặc nói với họ những lời dễ nghe. Ngài mong muốn chúng ta làm theo những gì Ngài phán bảo. Thật đáng buồn thay, dân Y-sơ-ra-ên đã có lịch-sử đầy bi-kịch về sự bất-tuân. Luật-pháp Đức Chúa Trời và chống nghịch lại ý chỉ của Ngài. Đó là câu chuyện dài của họ trong suốt thời gian 40 năm nơi đồng vắng (Phuc 9:7) cũng như suốt hơn 800 năm tại nơi xứ họ (IISu 36:11-21). Không hề có dân-tộc nào khác được Đức Chúa Trời ban phước như dân tộc Y-sơ-ra-ên, vì Đức Chúa Trời đã ban cho người Do-thái luật thánh của Chúa, các giao-ước, xứ sở thịnh vượng, đền thờ, và các tiên-tri có nhiệm-vụ đem đến cho họ những lời cảnh-báo và những lời-hứa khi họ cần (Rô 9:1-5). Tương tự dân Y-sơ-ra-ên, nhiều dân-tộc ngày nay có nghe Lời Đức Chúa Trời nhưng cố tình không hiểu, hoặc nếu có hiểu được đi chăng nữa thì họ lại không chịu làm theo.
Đức Chúa Trời bảo đảm với tiên-tri của Ngài rằng Ngài sẽ ban cho ông tất cả những gì cần thiết để ông có thể chịu đựng được sự chống đối và sự bất-tuân của dân chúng. Trong Êxe 3:8 có một lối chơi chữ liên-quan đến tên của Ê-xê-chi-ên với ý nghĩa là “Đức Chúa Trời vững mạnh” hoặc “Đức Chúa Trời làm cho trở nên vững chắc”. Nó cũng có nghĩa “Đức Chúa Trời cứng rắn”. Nếu dân-sự cứng lòng và mặt chai mày đá, thì Đức Chúa Trời ắt sẽ làm cho đầy-tớ Ngài trở nên cứng rắn và khiến người trung-thành với nhiệm-vụ của mình. Ngài cũng ban cho Giê-rê-mi lời-hứa giống như vậy Giê 1:17).
•Người đau khổ (Êxe 3:10-15): Ê-xê-chi-ên khi đang đứng trên bờ sông Kê-ba thì có sự hiện thấy và nghe tiếng Đức Chúa Trời (Êxe 1:3), thế nhưng giờ đây ông được truyền-lệnh phải đi đến với những kẻ đang bị đày tại một nơi gọi là Tên-a-bíp. Địa điểm này hiện tại chưa được xác định là ở đâu, nhưng chắc chắn nó không phải là vùng Tê-a-viu ngày nay. Có một ít thôn làng nằm dọc theo sông Kê-ba (Exo 2:59; Exo 8:17), và có một số người Do-thái đang bị lưu-đày sinh sống ở đó bên cạnh dân Ba-by-lôn.
Thần Linh của Đức Chúa Trời đã cất tiên-tri Ê-xê-chi-ên lên (Êxe 3:12,14) [6] rồi đưa ông đến nơi có những kẻ bị đày đang nhóm họp lại với nhau và có lẽ họ đang cầu-nguyện. Kinh-nghiệm đáng nhớ này lại được tiếp tục xảy ra lặp lại (Êxe 8:3; Êxe 43:5), và chắc là Ê-xê-chi-ên không còn nghi ngờ gì nửa về việc tiên-tri Ê-li đã được Đức Chúa Trời gọi trở về bằng cách Ngài cũng đã cất ông đi như vậy (IIVua 2:11,16; IVua 18:12; Công 8:39). Ê-xê-chi-ên đã nhận lãnh Lời Đức Chúa Trời và giờ đây ông phải đem lời Ngài đến cho dân-sự Ngài.
Khi Đức Thánh Linh hành động, Ê-xê-chi-ên nghe vang lên một số âm thanh phía sau ông: có tiếng vỗ cánh vỗ cánh xào xạc, rùng rùng của các Chê-ru-bim, tiếng những bánh xe quay nghe vù vù, ào ào, và “có tiếng động lớn ầm ầm” như xảy ra động đất vậy. Ông biết ngai vinh-hiển của Đức Chúa Trời đang di chuyển và Ngài đang thực hiện các mục đích của Ngài.
Câu ngợi khen: “Đáng chúc phước cho sự vinh-hiển Đức Giê-hô-va từ nơi Ngài!” (Êxe 3:12) này phát ra từ đâu thế? Cả hai bản dịch KJV và bản dịch NASB đều cho rằng từ các Chê-ru-bim. Nhưng bản dịch NIV thì gợi ý chính Ê-xê-chi-ên đã kêu lên như vậy. Tuy nhiên, câu này cũng có thể được dịch là “Kìa, vinh quang Đức Giê-hô-va đã dấy lên từ nơi Ngài”, đó là sự mô-tả thì đúng hơn là sự tuyên-bố. Như chúng ta đã thấy trong Êxe 8:1-11:25, sự chuyển động của vinh-quang Đức Chúa Trời chính là chủ-đề chính của sách này.
Đức Giê-hô-va đem đầy-tớ Ngài đến Tên-A-bíp để ông có thể ngồi cùng những người đang bị đày ở đó và ông cảm nhận được gánh nặng tuyệt vọng với sự đau khổ, cay đắng của họ. Thi 137:1-9 cho thấy sự khốn khổ và lòng căm hận của họ đối với người Ba-by-lôn ra sao. Khi người Do-thái biết ăn-năn, tìm kiếm Chúa và ra mắt Đức Chúa Trời, họ lấy làm hối tiếc về những gì đã xảy ra và họ cầu-nguyện rằng rồi có ngày họ sẽ trả thù, sẽ đánh bại những người Ba-by-lôn đã bắt giam giữ họ và chế nhạo họ. Khi Ê-xê-chi-ên đến ngồi ở đó với họ, ông đã bị chi phối bởi những lời Đức Giê-hô-va đã phán với ông và những gì Ngài đã làm cho ông thấy trước đó, khiến ông nhận ra được tính-chất quan-trọng của việc ông được Chúa kêu-gọi và trách-nhiệm Chúa đang đặt trên vai ông giờ đây thật lớn lao, nặng nề biết bao. Đó là công việc ích lợi cho đầy-tớ Chúa giữa vòng dân-sự ông, ông đã khóc với kẻ khóc và vui với kẻ vui, ông có thể thực hiện chức vụ tốt hơn khi ông hiểu được lòng họ và cảm-nhận được nỗi đau của họ. [7] Tuyên-bố sứ-điệp của Đức Chúa Trời ra với người ta không phải là chuyện đơn giản. Chúng ta còn phải tìm kiếm cầu-xin để có được tấm-lòng chu đáo, quan-tâm từ nơi Chúa.
•Người canh giữ (Êxe 3:16-21): Những người canh gác trên các tường thành có tầm quan-trọng đối với sự an nguy của cả thành phố và là hình ảnh thường được nói đến trong Kinh Thánh (Ês 21:11-12; Ês 56:10; Ês 62:6; Giê 6:17; Thi 127:1; Thi 130:6; Hêb 13:17). Điều cần nhấn mạnh ở đây là sự phán-xét, trong khi Êxe 33 lại đề-cập đến niềm hy-vọng, và sứ-điệp cũng giống vậy: tiên-tri Ê-xê-chi-ên phải trung-thực cảnh-báo cho dân-sự biết về sự phát-xét, đối với dân-sự phải lưu ý quan-tâm đến lời cảnh-báo này và hãy mau từ bỏ tội-lỗi mình. Nói một cách thuộc-linh, thì “bức tường thành” đã bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên chính là mối giao-ước tương-giao của họ cùng với Đức Giê-hô-va. Nếu họ vâng-theo những điều giao-ước đã quy định được Môi-se công-bố , thì Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ chăm-sóc bảo vệ họ và ban phước cho họ. Còn nếu họ bất-tuân, thì Ngài ắt phải sửa phạt họ. Tuy nhiên cho dù Đức Chúa Trời sửa-trị hay ban phước, thì Ngài vẫn luôn luôn thành-tín với giao-ước của Ngài (Lê 26:1-46; Phuc 28:1-68).
•Ê-xê-chi-ên là một tiên-tri có trách-nhiệm.
Một số phu-tù Do-thái lúc bấy giờ oán trách Đức Chúa Trời về hoàn cảnh khốn khổ đáng buồn của họ, một số khác thì trách cứ ông bà tổ-tiên họ. Ê-xê-chi-ên làm sáng-tỏ cho họ biết rằng mỗi người phải chịu trách-nhiệm về chính mình trước mặt Chúa (Êxe 18). Ông trình-bày cho họ thấy 4 viễn cảnh.
-Thứ nhất, đó là viễn cảnh người ta chắc sẽ chết nếu người canh giữ không trung-thực và không cảnh-báo họ (Êxe 3:18). Huyết của họ sẽ đổ ra trên tay người canh giữ và người canh giữ đó chắc chắn phải chịu trách-nhiệm về việc này (c. 20 Êxe 18:13; Êxe 33:34-8). Hình ảnh huyết đổ lại trên tay (hoặc trên đầu) đưa chúng ta trở về với Sa 9:5 và chúng ta thấy nó hiện ra trong Luật Môi-se (Lê 20:1-27; Gios 2:19; IISa 1:16; IISa 3:29; Ês 1:15; Ês 59:3). Chúa Giê-xu đã dùng hình ảnh này trong Mat 23:35; Lu 11:50-51; Công 5:28; Công 18:6; Công 20:26. Viễn cảnh thứ hai rất rõ ràng.
-Viễn cảnh thứ hai vẽ lên hình ảnh người canh giữ đang trung-thực cảnh báo kẻ ác nhưng họ không thèm nghe (Êxe 3:19). Thái-độ cứng lòng tại Ba-by-lôn. Chúa Giê-xu than khóc cho Giê-ru-sa-lem bởi vì người ta không muốn đến với Ngài (Mat 23:37-39).
-Viễn cảnh thứ ba mô-tả hình ảnh người công-bình chắc sẽ chết bởi vì họ từ bỏ, không vâng-giữ giao-ước và người canh giữ đã không chịu cảnh báo họ (Êxe 3:20). Tiên-tri cũng chính là người canh gác không chỉ làm mỗi công việc cảnh-báo những tội-nhân hãy từ bỏ tội-lỗi mình mà họ còn phải cảnh-báo những người tuân giữ giao-ước (“người công-bình”) nhưng nay họ từ bỏ nó và không vâng-lời Đức Chúa Trời nữa. Thực tế họ vâng-lời Chúa ra sao không quan-trọng nhưng nếu họ cố tình bội nghịch chống lại Đức Chúa Trời thì sự vâng-lời đó của họ sẽ trở nên vô nghĩa. Tuy nhiên, huyết của họ sẽ đổ lại trên tay người canh giữ nều người canh giữ ấy không chịu cảnh-báo họ. Bằng việc đặt một rào chắn nào đó trên lối đi, Đức Chúa Trời luôn tìm cách bảo vệ, ngăn chặn người công-bình tránh khỏi tội-lỗi; nhưng điều đó không miễn trừ cho người canh giữ khỏi lên tiếng cảnh giác và cảnh-báo họ.
-Viễn cảnh cuối cùng là hình ảnh người công-bình lưu tâm đến lời cảnh-báo của người canh giữ nên không bị phán-xét (Êxe 3:21). Người Do-thái cần phải nghiêm-túc không được xem nhẹ giao-ước đã được ấn-chứng mà họ đã nhận lãnh (Xu 19:1-20:26). Nếu vị tiên-tri cũng là người canh giữ này nhìn thấy dân-sự vốn trung-tín nhưng nay họ lại sắp phá vỡ giao-ước, thì ông cần cảnh-cáo họ rằng họ chắc sẽ phải bị phán-xét. Đôi khi có những người tin-kính nghĩ sự vâng-lời của họ “đã kiếm” về cho họ điều công-bình làm hài lòng họ, và ý nghĩ đó hết sức sai lầm. Đức Chúa Trời ban cho dân-sự Ngài rất nhiều đặc quyền, đặc ân, nhưng Ngài không bao giờ ban cho họ đặc quyền phạm-tội.
Bốn hình ảnh này đã được ban cho người Do-thái dưới thời giao-ước cũ và khuyên-bảo họ phải tuân-giữ luật-pháp và cảnh báo họ về hiểm họa của sự chết thuộc thể. Được xưng công-bình bởi luật-pháp mang tính chất ngoại tại, còn được xưng công-bình bởi đức-tin của chúng ta nơi Đức Chúa Giê-xu Christ mang tính chất nội tại.
Chúng ta không nên nhầm lẫn 2 điều này (Rô 9:30-10:13). Được xưng công-bình bởi đức-tin là ân-điển của Đức Chúa Trời ban-cho những ai tin nhận Chúa Giê-xu Christ, và sự công-bình của họ ở trước mặt Chúa không phụ thuộc vào những việc lành họ làm (Rô 3:1-4:25): tuy nhiên, chúng ta có được sự giao -hông với Chúa hay không thì điều đó tùy thuộc vào tấm lòng vâng-lời Ngài của chúng ta (IICôr 6:14-7:1), và Ngài sẽ sửa-phạt những ai là con cái Ngài nhưng lại phản nghịch chống đối lại ý chỉ của Ngài (Hêb 12:9), “Cũng có tội đến nỗi chết” (IGi 5:16-17).
Ở đây trách-nhiệm cá nhân chính là điều cốt yếu, kể cả đối với người canh giữ lẫn dân-sự đều như nhau. Nếu người Do-thái sống dưới thời giao-ước cũ có trách-nhiệm về những hành-vi của mình, thì ngày nay những tín đồ đã có trong tay đầy đủ Kinh Thánh, có Đức Thánh Linh ngự-trị trong lòng và có sự mặc-khải về Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu Christ, ắt sẽ phải có thêm bao nhiêu trách-nhiệm nữa? (Hêb 12:12-28)
•Dấu hiệu (Êxe 3:22-27): Ê-xê-chi-ên không chỉ nói suông Lời Đức Chúa Trời với dân-sự, mà ông còn sống trước mặt họ theo nếp sống mà họ nhìn thấy qua sứ-điệp của Đức Chúa Trời đã hiện ra thật sinh động trước từng cặp mắt họ. Đức Chúa Trời phán cùng ông rằng: