top of page
7. HÃY XEM THÀNH PHỐ TỘI-LỖI! (Êxe 22:1-24:27)
Nếu...
...bạn xem phần đại cương gợi ý của sách Ê-xê-chi-ên, bạn sẽ thấy rằng 3 phân đoạn Kinh Thánh này đã làm đoạn kết cho phần hai của sách, đó là “Sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem”. Ê-xê-chi-ên tập trung vào 4 sự-kiện cuối cùng kết cuộc của thành phố (Êxe 22:1-31), kết cuộc của vương quốc (Êxe 23:1-49), kết cuộc của sự ảo tưởng (Êxe 24:1-14), và đoạn kết của cuộc hôn-nhân (c.15-27).
Êxe 24:1-27 ký thuật về 2 cáo-thị đến từ Đức Chúa Trời làm đau lòng người: đó là cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem bắt đầu (c.1-2), và cái chết của vợ tiên-tri (c.15-17). Thật là một cách đúng đắn hữu hiệu để đẩy các sứ-điệp của Ê-xê-chi-ên lên đến đỉnh điểm gây chú ý ở những phu-tù Do-thái ở Ba-by-lôn đang bị đui mù thuộc-linh!
1. Kết cuộc của thành phố (Êxe 22:1-31)
“Nhưng Đa-vít hãm lấy đồn Si-ôn” (IISa 5:7) và biến Giê-ru-sa-lem thành thủ phủ của mình. Tại đó không chỉ có ngai vàng mà còn có cả bàn thờ thánh vì nó thuộc về Si-ôn là nơi Đức Chúa Trời chọn làm nơi thánh của Ngài, “Vì Đức Giê-hô-va đã chọn Si-ôn, Ngài ước Si-ôn làm nơi ở của Ngài” (Thi 132:13 NKJV).
Dân Do-thái rất tự hào về Núi Si-ôn (Thi 48:1-14) và họ tuyên-bố rằng Đức Chúa Trời yêu thích Si-ôn hơn bất cứ nơi nào khác (Thi 87:1-7). Nhưng giờ đây, thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ ắt sẽ bị xâm lăng bởi “những dân ngoại đầy ô uế” là những kẻ do Đức Chúa Trời đưa đến! Tại sao Đức Chúa Trời lại muốn hủy diệt chính thành và đền thờ yêu dấu của Ngài như vậy? Bởi vì dân-sự Ngài đã phạm-tội, phá bỏ giao-ước và họ đang ở trong tình trạng vô phương cứu chữa. Ê-xê-chi-ên mô-tả tính-chất thật của “thành phố đẹp đẽ” này và ông kể ra một số tội ác mà dân thành Giê-ru-sa-lem đã phạm ngay cả trong khi ông đang nói. Ê-xê-chi-ên đã phơi-bày ra tội-lỗi trong quá-khứ của dân-tộc, và giờ đây ông lại đưa Giê-ru-sa-lem đến trước tòa án binh và lưu chép tội-lỗi của nó vào trong hồ sơ sổ sách cập nhật nhất.
• Một dân-tộc ô uế (Êxe 22:1-12): Từ vựng “huyết” hoặc “đổ máu” được lặp đi lặp lại 7 lần trong đoạn văn này và dùng nói về sự chết với sự ô uế. Tiên-tri nêu lên 2 tội trọng: làm đổ huyết người vô-tội (người công-bình) và thờ-lạy các thần của người ngoại bang (Êxe 7:23; Êxe 9:9).
Các quan trưởng ở Giê-ru-sa-lem nhận hối lộ rồi kết án tử hình người vô-tội đặng cho những kẻ khác chiếm đoạt tài sản của họ (Am 5:11-17; IVua 21:1-29).
Những sự xét-xử như vậy tỏ-ra không kính-sợ Đức Chúa Trời và không tôn-trọng con người là tạo vật được dựng nên theo hình ảnh Ngài, chưa kể họ là những người thật-thà lương thiện biết tuân-giữ luật-lệ Chúa (Xu 18:21-26; Phuc 16:18-20).
Hệ thống tòa án ở Giê-ru-sa-lem rất là xấu xa và bất-công đến nỗi các dân ngoại đều có nghe về nó (Êxe 22:4-5) và thế là họ lấy cớ đó mà cười nhạo, chỉ trích danh Đức Chúa Trời. Giê-ru-sa-lem nổi tiếng “là thành nhơ danh (ơ uế) và đầy loạn (rất lộn xộn)” (c.5) [55]. Nhưng lần này thì sự đoán-phạt dành cho họ đã đến cận kề. Đức Chúa Trời mới tuyên-án họ chứ Ngài chưa bắt tay thi hành án phạt. Các quan-trưởng đã lạm dụng quyền hành của họ, còn Đức Chúa Trời thì sẽ bày-tỏ quyền-năng Ngài ra.
Sự thờ hình-tượng, sự bất-công, và sự lạm dụng quyền hành hiện đang rất phổ biến trên thế giới ngày nay, và Đức Chúa Trời với lòng nhân-từ hay thương-xót của Ngài, Ngài vẫn đang cầm giữ sự đoán-phạt trong tay Ngài và Ngài đang ban cho tội-nhân cơ-hội ăn-năn để được cứu-rỗi. Lẽ-thật thánh này và thực trạng của nhân loại hiện nay vẫn không được người ta quan tâm, nhưng “ngày của Đức Giê-hô-va sẽ đến” (IIPhi 3:10) và tội-nhân sẽ được Đức Chúa Trời toàn-tri xét xử một cách công-bằng.
Ê-xê-chi-ên nêu lên một số tội-ác mà dân-sự đã phạm, và ông bắt đầu kể đến sự lạm dụng quyền hành của người ta đối với: các bậc cha mẹ, khách lạ, ngoại kiều, kẻ mồ côi và người góa bụa Êxe 22:7). Dân Do-thái có mạng-lịnh là phải tôn-kính cha mẹ (Xu 20:12), và Cơ-đốc nhân ngày nay cũng vậy (Êph 6:1-3). Thậm chí Đức Chúa Trời còn ban một lời-hứa đặc biệt kèm theo với mạng-lịnh này - “hầu cho ngươi được sống lâu trên đất ”- và giờ đây người Do-thái sắp sửa bị bắt đi lưu-đày khỏi xứ họ. Luật-lệ này còn đem lại sự quan-tâm chiếu-cố đặc biệt cho kẻ mồ côi, người góa bụa và những ngoại kiều (Xu 22:21-24; Xu 23:9-11; Lê 19:33-34; Giê 5:28), nhưng mạng-lịnh này cũng có chứa một sự cảnh-cáo. Nếu những người nghèo khổ này bị xét-xử bất-công thì những người vợ Do-thái của họ sẽ trở nên góa bụa và con cái họ sẽ trở thành mồ côi mồ cút. Sự không vâng-lời Chúa thật là điều nguy hiểm đáng sợ! Hội thánh ngày có điều lệ bắt buộc về trách-nhiệm đối với khách lạ (Mat 25:35,43; Gia 2:1-13), người góa bụa và kẻ mồ côi (Gia 1:27; ITim 5:1-25).
Sau khi xử lý tính vô nhân-đạo của cư-dân thành Giê-ru-sa-lem xong, Đức Chúa Trời kết án tội thờ hình-tượng của họ (Êxe 22:8). Họ đã dùng những tượng chạm làm ô uế đền thờ (Êxe 8:5 đến hết đoạn) và “thờ-lạy Đức Chúa Trời” chỉ bề ngoài theo hình thức mà thôi chứ không phải thờ-phượng Ngài bằng đôi tay thánh sạch và bằng những tấm-lòng biết vâng-lời (Ês 1:10-31). Giê-rê-mi nói với họ rằng họ đã biến nhà Đức Chúa Trời trở thành “hang trộm cướp” (Giê 7:11), là nơi để bọn trộm cướp chạy đến ẩn núp sau khi chúng gây án.
Người Do-thái đã làm nhơ bẩn ngày Sa-bát qua việc họ đã xem ngày đó gi ống như bất kỳ những ngày khác. Ngày Sa-bát là một dấu hiệu đặc biệt giữa Đức Chúa Trời với Y-sơ-ra-ên cho thấy rằng họ là tuyển dân của Ngài (Êxe 20:12-13,20; Xu 31:13-17), và nếu họ vi phạm luật-lệ này tức là họ đã coi thường uy quyền của Chúa và họ đã từ chối việc Chúa kêu-gọi họ thi hành chức-vụ trong thế-gian.
Thế nhưng vì cớ làm sao họ vẫn cứ được tiếp tục ở trong những tội-lỗi như vậy mà lại không bị tòa án xét-xử gì cả? Bởi vì các tòa án lúc bấy giờ đều do kẻ ác điều hành và họ không có thiện chí tuyên-bố trắng án cho những người vô-tội, cũng không thi hành xử phạt những kẻ phạm-tội. Thường thì người giàu được trả tự-do còn người nghèo thì hay bị xử ép. Người ta ăn hối lộ và đồng ý vu khống người vô-tội (Êxe 22:9,12), bất chấp cả luật-lệ cấm vu khống và làm chứng-dối (Xu 20:16; Xu 23:1-3,6-8; Phuc 16:19; Phuc 27:25). Theo luật, nếu người nào bị kết án là phạm-tội sát nhân thì ít nhất phải có 2 nhân-chứng ra làm-chứng, và các nhân-chứng này phải là những người đầu tiên ném đá vào kẻ bị kết án là tội-phạm đó (Dân 35:30-31; Phuc 17:6-7; Phuc 19:15).
Trong những năm trải qua chức-vụ mục-sư của mình, tôi có được chứng-kiến các hội thánh địa phương bị đả kích tơi bời do bị người ta vu-khống và làm-chứng dối, mặc dù trong Kinh Thánh Tân-ước có sự dạy dỗ rõ ràng về việc phải trung thực trong sự làm-chứng (ITim 5:19; Mat 18:16; IICôr 13:1). Quả thật là cần phải có suy nghĩ nghiêm túc rằng kẻ nói dối cũng như kẻ giết người thảy đều sẽ có một nơi trong hồ-lửa và sẽ không được vào thành phố trên trời (Kh 21:8,27).
Trong Êxe 22:9b-11 Đức Chúa Trời nhắm tới mục tiêu là những người Do-thái suy đồi sống vô đạo đức, Ngài bắt đầu với sự tham gia của họ vào “sự thờ-lạy” tục tĩu bẩn thỉu không thể nào tả được tại các nơi thánh thất đền miếu. Bi kịch ở đây là những kẻ thờ hình-tượng này đã lôi kéo cả gia đình mình vào sự suy đồi đạo đức cùng với mình! Các con trai của họ lại đi quan-hệ tình-dục với chính mẹ ruột và thậm chí với cả mẹ kế của chúng nó, những ông bố thì giao cấu với con dâu mình, và những người anh em nam nữ ruột thịt hoặc cùng cha khác mẹ cũng ăn nằm với nhau nữa! (Lê 18:6-30; Lê 20:10-27). Bọn đàn ông thì phạm-tội tà-dâm với vợ của người lân cận hoặc với những đàn bà khi họ đang có kinh-nguyệt (Êxe 18:6; Lê 18:19; Lê 20:18).
Ngày nay chúng ta thật dễ dàng bỏ qua sự đoán-phạt giáng trên dân-sự Đức Chúa Trời trong thời cổ đại, nhưng còn đối với dân-sự đương thời của Ngài thì sao? Những tội-lỗi về tình-dục trong hội thánh và trong các gia đình gọi là Cơ-đốc nhân đã gây chia-rẽ hội thánh và phá nát gia cang, nhiều hội thánh đã nhắm mắt làm ngơ trước tình trạng này.
Những sự khiêu-dâm – được in trên các sách báo, qua các băng hình video, và nhất là ở trên mạng internet – là thứ rất phổ biến hiện nay, và càng ngày càng trắng trợn hơn nữa là phổ biến tràn lan trên truyền hình. Người ta không kết hôn nhưng vẫn sống chung với nhau, ‘những cuộc hôn-nhân thử”, “hôn-nhân đồng tính”, và thậm chí có cả “những cuộc bán-dâm” đã xảy ra trong các hội thánh Tin Lành, và khi các vị mục-sư tin kính nổ lực xử-lý vấn-đề tội-lỗi này, thì người ta sẽ cho là sao mục-sư lại quá lưu tâm đến việc cá nhân của họ.
Những người phạm-tội loại này thường thì đơn giản rời khỏi đó rồi đến tham gia vào các hội thánh khác miễn sao nơi ấy họ có thể sống được và cảm thấy hài lòng. Như Ruth Bell Graham đã nói: “Nếu Đức Chúa Trời không phán-xét Châu Mỹ, thì Ngài ắt sẽ phải xin lỗi Sô-đôm và Gô-mô-rơ”.
“Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác” (ITim 6:10 NKJV), do đó chúng ta không phải ngạc nhiên khi những người làm ăn buôn bán ở Giê-ru-sa-lem đã tính lãi với giá cắt cổ trên số vốn họ bỏ ra và họ cũng ra bóp nặn, vơ vét thêm tiền lời trong công việc bán buôn kinh doanh của mình (Êxe 22:12).
Người Do-thái có thể tính lãi đối với người ngoài, nhưng không được tính lãi đối với người cùng thuộc dân-tộc mình (Xu 22:25-27; Lê 19:13; Lê 25:35-38; Phuc 23:19-20), và họ phải xử lý công-bằng trong tất cả những gì có liên-quan đến công việc làm ăn của họ. Tuy nhiên, phương châm của người đời “công việc là công việc” không bao giờ được đem thay thế cho mạng-lịnh của Đức Chúa Trời, “Hãy ban-cho, thì các người sẽ được ban-cho” (Lu 6:38 NIV)
Lý-do tại sao tuyển dân Đức Chúa Trời lại sống gian ác như thế? Bởi vì họ đã quên Đức Giê-hô-va (Êxe 22:12), và quên đi tội-lỗi mà Môi-se đã truyền bảo họ phải tránh (Phuc 4:9,23; Phuc 6:10-12; Phuc 32:18). Họ đã được khuyên răn hãy nhớ lại đời sống làm nô-lệ của họ tại Ê-díp-tô và bởi ân-điển mà Đức Chúa Trời đã giải cứu họ ra sao (Phuc 5:15; Phuc 15:15; Phuc 16:12; Phuc 24:18), và cũng hãy luôn nhớ rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời họ (Phuc 8:18).
Họ quên Đức Chúa Trời, tự mình dần dần trở nên vị thần của chính mình và bắt đầu không làm theo Lời Chúa nữa, quay sang ngược đãi người khác, nhưng lại cho rằng Đức Chúa Trời phải ban phước lành cho họ là chuyện đương nhiên. Tiên-tri Giê-rê-mi ở Giê-ru-sa-lem đang lên án dân-sự về những tội-lỗi này (Giê 3:21).
• Một dân-tộc bị kết án (Êxe 22:13-22): Đức Chúa Trời bắt tay thực hiện giáng cơn thịnh nộ đáp lại tội-lỗi của dân-sự Ngài (Êxe 6:11; Êxe 21:14,17), [56] và Ngài tuyên-bố rằng ngày đền tội của dân-sự đang cận kề. Dân thành Giê-ru-sa-lem vẫn cứ cố tình tiếp tục phạm-tội, bất chấp những lời cảnh-cáo của Đức Chúa Trời, nhưng lẽ nào họ lại dám cả gan kéo dài ngày đoán-phạt của Đức Chúa Trời? Hành động đoán-phạt đầu tiên của Ngài sẽ là làm cho tản lạc (Êxe 22:13-16) dân-sự sẽ bị đày sang Ba-by-lôn, số còn lại thì bị tản lạc đến các nước xung quanh (c.15-16).
Chắc chắn dân-sự có biết về cuộc đoán-phạt này sắp xảy ra, bởi vì trong giao-ước Ngài, Đức Chúa Trời đã hứa sẽ thực hiện sự đoán-phạt như vậy (Lê 26:27-39; Phuc 28:64-68). Người Do-thái muốn thờ-lạy các thần của người ngoại, vậy thì tại sao họ lại không đến chung sống với người ngoại và học đòi theo họ sự thờ-lạy đó? Đức Chúa Trời sẽ hạ dân Ngài xuống trước sự chứng-kiến của người ngoại và qua từng-trải này, Ngài sẽ đem dân Ngài trở về với chính Ngài.
Sự đoán-phạt thứ hai sẽ là lửa (Êxe 22:17-22), tức là sự hủy diệt thành và Đền Thờ yêu dấu của họ. Tiên-tri Ê-xê-chi-ên vẽ ra hình ảnh một lò lửa luyện kim loại với nhiều thứ kim loại khác nhau ở trong đó, và phần xỉ cáu cặn (thứ còn lại sau khi lấy quặng kim loại đã luyện xong ra khỏi lò luyện) đang được cào ra bỏ ngoài. Phần xỉ cáu cặn này tiêu biểu cho cư-dân thành Giê-ru-sa-lem là những người nghĩ rằng họ là “ngon lành số một” bởi vì họ đã không phải bị bắt đi lưu-đày. Hình ảnh về lò lửa luyện này rất quen thuộc trong Kinh Thánh. Sự đau khổ, khốn nạn của Y-sơ-ra-ên ở Ê-díp-tô là kinh-nghiệm tôi luyện giúp cho họ hình thành một dân-tộc và sửa soạn họ Xuất Khỏi Ê-díp-tô (Phuc 4:20; IVua 8:31; Giê 11:4).
Nhưng giờ đây, lò lửa luyện của Đức Chúa Trời đang ở Giê-ru-sa-lem, và ngọn lửa trong lò sẽ là sự đoán-phạt thánh dành cho tội-lỗi của dân-sự (Ês 1:21-26; Ês 31:9; Giê 6:27-30). Hai từ chìa khóa trong phân đoạn Kinh Thánh này là “tan chảy” và “nhóm (các ngươi) lại”. Dân-sự tập trung lại tại Giê-ru-sa-lem thì mới được an-toàn, nhưng phải do chính Đức Giê-hô-va là Đấng nhóm họ lại rồi làm cho họ tan chảy ra trong lò luyện của Ngài và đó là lúc Ngài đổ cơn thịnh nộ của Ngài ra trên họ. Hình ảnh này cũng sẽ được bàn đến trong (Êxe 24:1-14).
• Một dân-tộc bị hạ thấp giá-trị (Êxe 22:23-27): Ê-xê-chi-ên đã đưa ra lời buộc-tội các quan trưởng (c.25,27), [57] các thầy tế-lễ (c.26), các tiên-tri giả (c.28), những người dân bản xứ (c.29), và ở mọi lĩnh vực của xã hội người ta đều thấy có sự phạm-tội. Các quan trưởng hành động chẳng khác gì loài cầm thú, như sư tử và sói đang đói mồi. Tội-lỗi luôn luôn hạ thấp giá-trị con người xuống rồi biến họ trở thành cầm thú (Thi 32:9; Ch 7:21-23; IIPhi 2:18-22), thậm chí còn tồi tệ hơn cả loài cầm thú nữa là đằng khác! Những người này đã lạm dụng quyền hành của mình vào việc triệt hạ người vô-tội nhằm để kiếm chác thêm của cải cho mình. Họ đã khiến cho nhiều người trở nên góa bụa nghèo khổ bằng việc họ đã giết hại người vô-tội rồi cướp đoạt tài sản của người ta.
Chắc bạn sẽ nghĩ rằng các thầy tế-lễ sẽ giữ luật và chống lại những việc làm sai trái của chính quyền, nhưng rốt cuộc chính họ đã phá bỏ luật-lệ Chúa (Giê 32:32; Ca 4:13). Họ là những người được ban-cho sự kêu gọi thiêng-liêng làm nhiệm-vụ giảng dạy luật thánh của Chúa (Ma 2:6-8) để người ta có thể sống đời sống thánh-khiết và nhận biết phân biệt được đâu là những việc thiêng-liêng và đâu là những việc tầm thường (Êxe 44:23; Lê 10:10; Lê 11:47; Lê 20:25).
Nhưng thay vì dạy luật, các thầy tế-lễ lại phạm-luật, và khi có ai đó phá luật, thì các thầy tế-lễ lại nhìn họ với cái nhìn khác. Chẳng khác nào trường hợp của Ê-li và các con trai ông trong thời Sa-mu-ên còn trẻ (ISa 2:12-36).
Dân trong xứ (Êxe 22:29) là những cư-dân bản địa rất cường bạo (Êxe 12:19), thường thì họ hay làm sĩ quan chỉ huy trong quân đội, họ có quyền lực nên thao túng cả các quan trưởng và các thầy tế-lễ. Họ áp bức chèn ép người nghèo mà đáng lý ra họ phải giúp đỡ, họ lợi dụng những người khách lạ thay vì chào đón và giúp đỡ người ta. Nhưng mọi thứ họ có được bởi bạo lực và lạm dụng quyền hành của họ rồi đây sẽ mất hết khi ngày đoán-phạt đến.
• Một dân-tộc lừa gạt (Êxe 22:28): Cùng với các thầy tế-lễ, các tiên-tri giả cũng đã hổ trợ cho các thế lực chính trị xấu xa và họ còn dùng những lời dối trá khích bác dân chúng. Thay vì phơi-bày tội ác ra, họ lại đi thanh minh biện-hộ cho nó! (Êxe 13:10-16; Giê 6:14; Giê 8:11; Giê 23:16-22).
Họ rêu rao rằng Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ để cho thành thánh và đền thờ của Ngài bị những kẻ ngoại đạo dẫm đạp, nhưng đó lại chính là điều Đức Chúa Trời đã hoạch định sẽ cho xảy ra. Các tiên-tri giả ngụy biện với những lời dối trá còn dân chúng thì hí hửng vui-mừng tin lời họ.
Một dân-tộc làm cho Đức Chúa Trời thất-vọng (Êxe 22:30-31): Đức Chúa Trời tìm kiếm giữa vòng dân-sự Ngài một người nào đó có đủ uy tín, khả năng, quyền hành để lấp vá lại những nơi hư lủng của tường-thành hầu cho quân thù không thể nào lọt được vào trong xâm chiếm thành, thế nhưng Ngài đã không tìm được ai. Dĩ nhiên, tiên-tri Giê-rê-mi lúc bấy giờ đang ở Giê-ru-sa-lem, nhưng ông lại là một người không có quyền hành, vả lại ông lại đang bị các nhà chính trị, các thầy tế-lễ và các tiên-tri giả từ chối, loại bỏ.
Chính Giê-rê-mi cũng đã đi khắp thành tìm kiếm cho ra một người tin-kính nào đó (Giê 5:1-6), nhưng sự tìm kiếm của ông chẳng có kết quả gì. Tiên-tri Ê-sai cũng đã thất bại trong việc tìm kiếm tương tự (Ês 51:18; Ês 59:16). Đức Giê-hô-va hứa sẽ giữ lại Sô-đôm và Gô-mô-rơ nếu như Ngài tìm thấy có 10 người công-bình trong thành ấy (Sa 18:23-33), và Ngài cũng sẽ giữ lại Giê-ru-sa-lem nếu như ở đó có một người công-bình.
Đức Chúa Trời vẫn đang tiếp tục tìm kiếm những ai biết tuân-giữ luật-lệ đạo đức của Ngài, để người đó đứng vào chỗ khuyết lủng của tường thành và nhờ sự giúp sức của Chúa nên có thể đương đầu với kẻ thù. Khi bạn đọc lịch-sử, bạn sẽ gặp những con người tin-kính có lòng can-đảm chống cự lại những điều ác phổ biến trong thời của họ và họ còn dám đứng vào những chỗ tường thành bị hư thủng đặng tìm cách xây sửa lại chúng.
Đức Chúa Trời đang tìm những người biết cầu-xin giùm (Ês 59:1-4,16) là những người sẽ kêu van cùng Ngài xin Ngài rủ lòng thương-xót và xin Ngài phục-hồi lại sự thánh-khiết. Chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ rất thất-vọng khi dân Ngài chỉ biết dành thì giờ cho mọi thứ nhưng lại không dành thì giờ cho sự cầu-thay.
2. Kết cuộc của Vương quốc (Êxe 23:1-49)
Phân đoạn Kinh Thánh này nói về sự xét-xử rất đúng đắn tương tự như ở phân đoạn Kinh Thánh Êxe 16:1-63 mô-tả lại lịch-sử dân-tộc Y-sơ-ra-ên đã bội đạo, lìa bỏ Đức Chúa Trời ra sao. Trong cả 2 phân đoạn Kinh Thánh này đều nói đến hình ảnh của sự mãi-dâm, rằng Y-sơ-ra-ên đã phá bỏ “lời thề-ước hôn-nhân” của nình và trở nên giống như một con điếm, hết đi hành dâm với người này lại chuyển sang kẻ khác để tìm sự giúp đỡ [58].
Tuy nhiên, trong Êxe 1:1-28, tội của Y-sơ-ra-ên là tội thờ hình-tượng, tội tin vào các thần giả dối của người ngoại, còn ở Thi 23:1-6 thì tội được bàn đến ở đây của Y-sơ-ra-ên là tội tin vào các dân-tộc khác để được họ bảo vệ. Trong phân đoạn Kinh Thánh này, bạn sẽ thấy cả Y-sơ-ra-ên (vương quốc phía Bắc) và Giu-đa (vương quốc phía Nam) thảy đều đóng vai trò của phường điếm đĩ đã tìm đến sự giúp đỡ của A-si-ri, Ba-by-lôn, Ê-díp-tô, thay vì tin-cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời để nhờ Ngài hướng dẫn và giải cứu cho.
Trong suốt thời trị-vì của Rô-bô-am con trai Sa-lô-môn, dân-tộc Do-thái bị phân chia thành 2 vương quốc, Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Vương quốc Y-sơ-ra-ên phía Bắc (Sa-ma-ri) hầu như rất nhanh chóng từ bỏ đức-tin thật của mình, lao vào thờ hình-tượng và rốt cuộc họ đã tự xây đền thờ cho chính họ và tự thiết lập chức thầy tế-lễ cho riêng mình; trong khi đó vương quốc Giu-đa đã cố duy trì tuân-theo Luật-Pháp Môi-se.
Mọi thứ trở nên hết sức tồi tệ tại Sa-ma-ri vào năm 722 TC. Đức Chúa Trời đưa người A-si-ri đến chinh-phục họ và kết thúc dân-tộc. Giu-đa có một vài vị vua tin kính Chúa biết tìm kiếm Ngài và làm hài lòng Ngài, nhưng dần dần họ bị tan rã và bị người Ba-by-lôn bắt đi vào năm (606-586 TC).
Ô-hô-la tiêu-biểu cho Y-sơ-ra-ên có thủ phủ là Sa-ma-ri, trong khi Ô-hô-li-ba em gái nó tiêu-biểu cho Giu-đa có thủ phủ là Giê-ru-sa-lem. Ô-hô-la có nghĩa là “cái lều của dân-tộc”, trong khi đó từ Ô-hô-li-ba lại có nghĩa là “lều của tôi ở trong dân-tộc”. Khi nghe đến từ “lều”, hầu hết dân Do-thái đều nghĩ ngay đến Lều Tạm là nơi Đức Chúa Trời đã ngự xuống ở cùng với dân-sự Ngài. Vương quốc Y-sơ-ra-ên phía Bắc có nơi thánh riêng và chức thầy tế-lễ của mình tại Sa-ma-ri, và họ cũng có các tượng chạm với nhiều đền miễu trong khắp xứ nữa, nhưng đó là “lều của dân-tộc” chứ không phải là “lều của Đức Chúa Trời”.
Tuy nhiên, Luật Môi-se vẫn được tuân giữ ở Giu-đa, nhưng không phải là luôn luôn, và các thầy tế-lễ dòng Lê-vi vẫn tiếp tục phục-sự trong đền thờ mà Sa-lô-môn đã xây theo sự chỉ dẫn và quyền hành động của Đức Chúa Trời. Sau khi nhìn vào Giê-ru-sa-lem, thậm chí nhìn khắp tất cả mọi tội-lỗi của nó, Đức Chúa Trời vẫn có thể phán rằng, “Lều của Ta là ở trong dân-tộc”. Vinh quang Chúa đã lìa khỏi đền thờ (Êxe 9:3; Êxe 11:22-23), nhưng Đền Thờ vẫn cứ được người ta biết đến là nơi Đức Chúa Trời đã ngự.
Với nền-tảng đó, bây giờ chúng ta có thể xem xét ẩn -ụ này và xem thử nó ứng-dụng cho người Do-thái trong thời Ê-xê-chi-ên cũng như ứng-dụng cho dân-sự Đức Chúa Trời trong thời đại chúng ta ra sao. Sứ-điệp chính mà Đức Chúa Trời muốn Ê-xê-chi-ên trình-bày khúc chiết cho người Do-thái biết chính xác là Ngài sẽ trừng phạt hết cả vương quốc Giu-đa bởi vì cớ cách thức mà họ đã đối xử với Ngài. Đức Giê-hô-va đưa ra 3 lời tuyên-cáo: Giu-đa đã kiêu-căng ngạo mạn làm ngơ trước sự cảnh-báo của Chúa khi Ngài phán-xét Sa-ma-ri (Êxe 23:5-13); kế đó là Giu-đa đã phạm nhiều tội trọng còn hơn cả Sa-ma-ri đã phạm (c.14-21); bởi vậy, Đức Chúa Trời sẽ đoán-phạt Giu-đa là rất đúng và công-bằng (c.22-35).
• Dân Giu-đa không đếm xỉa đến sự cảnh-cáo của Đức Chúa Trời (Êxe 23:5-13): Cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đều chiếm vị-trí địa-lý có đặc điểm giống nhau là rất căng thẳng về mặt chính trị giữa vòng các nước và các đế quốc lớn hơn như (Ê-díp-tô, A-si-ri, Ba-by-lôn) là vấn-đề ảnh hưởng đến họ rất nghiêm-trọng.
Y-sơ-ra-ên và Giu-đa thường trở thành “những cây cầu” bắc ngang để cho các nước này hành quân qua đó. Chính điều này đã khiến cho người Do-thái không thể không tìm phe đồng minh cho mình. Trong những ngày dân-tộc được hiệp nhất, vua Đa-vít đã nhờ-cậy Đức Giê-hô-va giúp đỡ ông bảo vệ và giải cứu dân-sự, nhưng Sa-lô-môn lại có chính sách thiết lập các hiệp ước chính trị để làm sự bảo-đảm cho nền hòa-bình. Đây là lý-do tại sao ông đã cưới vô số cung tần mỹ nữ ngoại đạo để những người thân sinh ra họ sẽ không thể tấn công dân-tộc Do-thái.
Sa-ma-ri không có đức-tin thật nơi Đức Chúa Trời hằng sống, vì vậy họ đã tìm đến nhờ A-si-ri giúp đỡ. Ở đây có bức tranh là một gái điếm đang tìm nhân tình để chăm sóc ả và lời lẽ ngôn từ được dùng hết sức sinh động. Sa-ma-ri không chỉ hoan nghinh chào đón quân đội binh lính A-si-ri mà họ còn tiếp đón cả các thần-tượng của người A-si-ri nữa, và đạo của vương quốc phía Bắc đã trở nên một thứ đạo lạ pha trộn Luật Môi-se xen lẫn với sự thờ hình-tượng của người A-si-ri (IIVua 17:6-5).
Do đó, để trừng phạt Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời đã phải dùng người A-si-ri - “những tình nhân” của Y-sơ-ra-ên - để chinh phạt nó và tiêu diệt vương quốc phía Bắc. Mười chi phái hình thành vương quốc phía Bắc đã bị pha trộn hòa lẫn vào các dân-tộc cũng bị chinh phạt khác và xứ họ trở thành một phần của đế quốc A-si-ri.
Các quan trưởng Giu-đa biết rõ điều gì sẽ xảy ra cho vương quốc em gái của họ và lý-do tại sao những điều ấy xảy ra, nhưng họ đã không chịu tiếp thu bài học này vào tâm. Giu-đa cũng đã từng liên minh với A-si-ri và họ đã “phải lòng” những tên lính chiến trai tráng, bảnh bao trong quân phục đẹp đẽ của chúng (Êxe 23:11-13). Thay vì tìm kiếm Đức Giê-hô-va nhờ Ngài bảo vệ cho, dân Giu-đa lại đi tìm những người hàng xóm có quyền thế xin họ giúp đỡ, thế nhưng bọn người láng giềng ấy cho thấy Giu-đa không thể nhờ-cậy ở họ được. A-si-ri xâm lược Giu-đa trong suốt thời trị-vì của vua Ê-xê-chia, cướp phá xứ, nhưng chúng đã bị một thiên-sứ của Đức Chúa Trời chặn các đường tiến của chúng và giết chết chúng hàng loạt tại Giê-ru-sa-lem (Ês 36:1-37:38; IIVua 18:1-19:36). Đây là sự cảnh-cáo của Đức Chúa Trời dành cho Ê-xê-cha rằng vua không nên để cho nhân dân mình theo gương tội-lỗi của Sa-ma-ri.
Thậm chí dân Giu-đa còn phạm-tội nhiều hơn cả Sa-ma-ri nữa (Êxe 23:14-21): Sự đoán-phạt Sa-ma-ri của Đức Chúa Trời và sự giải cứu Giu-đa bằng phép-lạ của Ngài chắc hẳn sẽ khiến dân Giu-đa phải quỳ gối xuống tỏ-lòng biết ơn Chúa và dâng mình cho Ngài, thế nhưng điều đó đã không xảy ra. Ê-xê-chia bắt đầu kết thân với người Ba-by-lôn (Ês 39:1-8), một dân-tộc đang trở nên hùng mạnh. Các nhà cầm quyền Giu-đa bắt đầu ngưỡng mộ sức mạnh của Ba-by-lôn như họ đã từng ngưỡng mộ quân đội A-si-ri trước đó (IIVua 16:1-9).
Vua Giê-hô-gia-kim đi cầu xin Ba-by-lôn giúp ông đánh bại sức mạnh của Ê-díp-tô (Êxe 23:35-24:7), và chính việc này đã khiến cho Giu-đa trở thành nước chư hầu của Ba-by-lôn. Vương quốc Giu-đa càng ngày càng sùng bái hình-tượng nhiều hơn khi vị vua yếu đuối nhu nhược kia đã bị những người đi sau lần lượt soán ngôi, và một vài người trong số họ lên ngôi chỉ được ba tháng. Giu-đa thậm chí càng lúc càng bị mục ruỗng suy vi hơn cả Sa-ma-ri em gái nó nữa! (Êxe 23:11).
Dân Giu-đa sẽ phải lãnh nhận cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (Êxe 23:22-35): Ở đây có một lập luận rõ ràng là rất hợp lý: N ếu Đức Chúa Trời trừng phạt Sa-ma-ri vì nó đã phạm-tội, vả nếu Giu-đa phạm-tội ghê gớm hơn cả Sa-ma-ri, thì hiển nhiên Giu-đa cũng sẽ bị trừng phạt. Ở phần này trong sứ-điệp của mình, Ê-xê-chi-ên đã ban phát ra 4 lời tiên-tri đến từ Đức Chúa Trời:
-Thứ nhất, Đức Chúa Trời sẽ đem người Ba-by-lôn đến trừng-phạt Giu-đa tương tự như Ngài đã đem người A-si-ri đến trừng-phạt người Sa-ma-ri vậy (c.22-27). Ê-xê-chi-ên mô-tả chi-tiết về các quan tướng trong quân đội và về các quân-dụng mà họ mang theo. Sau khi dùng hình ảnh về sự trừng-phạt một gái điếm, ông mô-tả những kẻ đi xâm lược sẽ cướp bóc, lột truồng dân-tộc, làm lộ-ra sự dâm-dật của dân-tộc ra sao rồi cắt xẻo thân thể họ thế nào. Đó không phải là một bức tranh đẹp đẽ gì.
-Lời tiên-tri thứ hai (c.28-31) nhắc lại một vài sự-kiện của lời tiên-tri thứ nhất và nhắc nhở người ta nhớ rằng có sự đoán-phạt này là hoàn toàn đúng. Đã có lần, Giu-đa tranh thủ kết giao tình bạn với Ba-by-lôn, nhưng giờ đây họ lại ghét người Ba-by-lôn; do đó Đức Chúa Trời sẽ cho phép những người mà họ ghét kéo đến cướp phá quê hương họ và hủy diệt Giê-ru-sa-lem với đền thờ.
-Lời tiên-tri thứ ba (c.32-34) dùng hình ảnh một cái chén, là hình ảnh quen thuộc trong Kinh Thánh để dạy dỗ về sự chịu đựng, lãnh nhận (Ês 51:17,22; Giê 25:15-29; Giê 49:12; Ca 4:21; Ha 2:16; Gi 18:11; Kh 14:10). Chén mà Đức Chúa Trời trao cho họ sẽ lớn và sâu, lòng chứa đầy sự thịnh nộ của Ngài, và họ sẽ phải uống chén ấy.
-Lời tiên-tri cuối cùng (Êxe 23:35) giải thích lý-do Đức Chúa Trời phải phán-xét dân-sự Ngài: vì họ đã quên Ngài (Êxe 22:12) và họ đã ném Ngài ra phía đàng sau họ qua việc họ khước từ Ngài, loại bỏ Ngài ra khỏi suy nghĩ và đời sống của họ, “Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nữa” (Rô 3:18).
Vợ” của Đức Chúa Trời đã trở thành ả gái điếm ruồng bỏ Chồng mình. Giê-rê-mi dùng một hình ảnh quen thuộc Giê 2:1-8) và ông lấy làm ngạc nhiên khi thấy dân-tộc lại có thể thay đổi cả thần của mình (c.9-10). Ông cho biết Giu-đa đã từ chối nguồn nước sống và lại còn quay sang phá vỡ các bể chứa nước khiến không thể giữ nước lại được (c.13).
Hai chị em gái bị kết án đã bị đưa ra trước tòa và tội ác của họ đang được tòa luận đến. Tất cả những gì còn lại đều phải chịu sự xét-xử để kết thúc vụ án nhằm đưa đến sự định-tội như Ê-xê-chi-ên đã ghi nhận trong Êxe 23:36-49. Cả Sa-ma-ri lẫn Giu-đa đều không có được sự biện-hộ bào-chữa nào cả và họ cũng không thể trình vụ án này của mình lên bất kỳ tòa án nào cao hơn nữa.
Sự phán-quyết của Đức Chúa Trời là đúng và là là quyết định sau cùng. Ê-xê-chi-ên kết luận về Sa-ma-ri trong bảng tổng kết này để Giu-đa không thể nói rằng Đức Chúa Trời đã phán-xét vương quốc miền Bắc không công bằng. Tất cả mọi chứng-cớ đều được trình-bày ra và ở đây không có gì ngoại trừ quyết định duy nhất: phạm-tội thì phải bị lãnh hình phạt.
Thế họ đã phạm những tội gì vậy? Đó là những tội như thờ hình-tượng, tội bất-công, tội vô-tín (trông-cậy vào các nước thế-gian để được giúp đỡ), và tội đạo đức giả.
Họ thờ lạy hình-tượng và giết hại người vô-tội, sau đó lại làm như thể là người ngoan đạo lắm một cách giả hình, kéo nhau đi vào Đền Thờ thờ lạy Đức Giê-hô-va! Họ đã tự bán mình để hành-dâm v ới các dân-tộc thế-gian ngoại đạo, giá như mà họ tin-cậy Đức Chúa Trời thì ắt hẳn Ngài sẽ chăm-sóc họ và giải cứu họ. Trong quá trình thờ hình-tượng, thậm chí họ đã dâng sinh tế bằng chính con cái họ, là những con trai con gái vốn thuộc về Đức Chúa Trời (“những con cái chúng nó đã sanh cho ta”).
Đáng lý ra Giu-đa nên cứ tồn tại độc lập và tuyên-xưng ra đức-tin của họ đặt nơi Đức Giê-hô-va, thì đằng này các nhà lãnh đạo của họ lại đi tham dự cuộc hội nghị quốc tế âm mưu chống lại Ba-by-lôn và họ đã tự đi liên minh với các kẻ thù của Đức Giê-hô-va (c.40 Giê 27:2-22).
Ê-xê-chi-ên mô-tả hình ảnh các quan trưởng ở tại cuộc họp có hành vi như những con điếm chuẩn bị phục-vụ cho bọn khách làng chơi, và ông ví sánh cuộc họp đó giống như một cuộc cãi vã ầm ĩ của bọn người say rượu, [59] là “đám đông người vô tư” không muốn đối mặt với thực tế rằng Ba-by-lôn sẽ thắng.
Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, thì Giu-đa chẳng là gì cả ngoại trừ chỉ là một ả đàn bà tà-dâm đang đi gạ gẫm bán-dâm cho các “tình nhân”, và Ngài không thể nào chịu nổi tội họ đã phạm. Như Sa-ma-ri đ ã phạm-tội bởi một kẻ bề trên của nó là A-si-ri, thì bây giờ Giu-đa lại đang đóng vai một con đĩ thể hiện qua việc nó đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ các dân-tộc ngoại đạo thay vì tin-cậy nơi Đức Giê-hô-va.
Chính vì lẽ đó, Giu-đa ắt sẽ bị đối xử như đối xử với một người đàn bà phạm-tội ngoại tình và thậm chí còn bị đối xử tồi tệ hơn thế nữa. Luật Môi-se cho biết kẻ phạm-tội ngoại-tình sẽ bị ném đá (Lê 20:10; Phuc 20:20), kẻ làm gái điếm sẽ bị hỏa thiêu (Sa 38:24; Lê 21:9), và kẻ sát nhân sẽ bị tử hình, có lẽ bằng hình thức ném đá (Xu 21:12-14; Lê 24:17). Giu-đa sẽ bị trừng phạt vì tội tà-dâm, tội làm điếm, và vì tội làm đổ huyết người vô-tội (Êxe 23:47). [60] Tội ác của nó đã khiến nó phải lộ hình ra.
3. Kết cuộc của sự ảo tưởng (Êxe 24:1-14)
Phân đoạn Kinh Thánh này khép lại khép lại phần sách tập trung nói về sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem (Êxe 4:1-24:27) và nó chia thành 2 phần: ẩn-dụ về nồi nước sôi (Êxe 24:1-14) và “bài giảng bằng hành động” liên quan đến cái chết đột ngột của vợ tiên-tri (c.15-27). Sau đó, Ê-xê-chi-ên nói đến sự phán-xét của Đức Chúa Trời trên các dân ngoại (Êxe 25:1-32:32) và những lời phán hứa đầy vinh-hiển của Ngài dành cho dân Y-sơ-ra-ên (Êxe 33:1-48:35).
Sứ-điệp của Đức Chúa Trời đến với Ê-xê-chi-ên vào ngày 15 tháng giêng năm 588 BC, nhằm ngày tháng bắt đầu cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem. Ngày này chính là thời điểm khủng hoảng đã được đề-cập đến trong IIVua 25:1-3 cũng như trong Giê 39:1-3 và Giê 52:4-6. rong những năm người Do-thái bị lưu-đày, họ có tổ chức kỷ niệm 4 kỳ lễ kiêng ăn hằng năm để nhớ lại những biến-cố đau thương về sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem (Xa 7:1-14; Xa 8:18-23).
Họ lấy mốc thời gian kể từ lúc cuộc vây hãm bắt đầu (tháng mười), khi các bức tường thành bị phá hủy hư hại (tháng thứ tư), khi Đền Thờ bị đốt cháy (tháng năm) và khi quan tổng đốc Ghê-đa-lia bị ám sát (tháng bảy, (Giê 41:1-2).
Đức Chúa Trời gọi Giu-đa là “nhà bội nghịch” không phải chỉ vì họ đã phá vỡ luật Ngài và vi phạm giao-ước của Ngài, mà còn là do vua Sê-đê-kia đã phá vỡ hiệp ước của mình với Ba-by-lôn gây kích-động Nê-bu-cát-nết-sa khiến ông ta rất bực tức. Hình ảnh một cái nồi đang nấu đưa chúng ta trở về với (Êxe 11:1-13) chỗ các quan trưởng Do-thái kiêu-ngạo rằng những người Do-thái còn ở lại Giê-ru-sa-lem thì tốt hơn những người Do-thái bị bắt dẫn sang Ba-by-lôn. Cư-dân Do-thái ở Giê-ru-sa-lem là “những tấm thịt ngon”, còn người Do-thái ở Ba-by-lôn chỉ là những miếng thịt vụn! Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời phủ nhận ý nghĩ đó và Ngài cho biết rõ rằng đám người bị lưu-đày ở Ba-by-lôn sẽ trở thành những dân sót để Ngài có thể dùng phục-hưng lại dân-tộc và đền thờ.
Giê-rê-mi đã viết thư giử cho những người bị lưu-đày khuyên-bảo họ định cư, xây dựng nhà cửa và phát triển gia đình để dân sót sẽ có thể tiếp tục thi hành chức-vụ của mình cho lý-do Đức Giê-hô-va đã chọn Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời cảnh cáo các quan trưởng Do-thái ở Giê-ru-sa-lem rằng họ không phải là “thịt” – mà họ chính là những tên đồ tể! Họ đã phạm-tội làm đổ huyết người vô-tội, và Đức Chúa Trời sẽ phán-xét họ vì cớ tội ác của họ. Nếu họ không bị nấu trong nồi nước sôi là Giê-ru-sa-lem, thì cuối cùng họ cũng sẽ bị giết bởi gươm của quân lính Ba-by-lôn. Giả sử họ có trốn thoát được khỏi thành đi chăng nữa, thì chắc chắn họ cũng sẽ bị bắt và bị giết đi.
Trong ẩn-dụ nói về nồi đang nấu này, Ê-xê-chi-ên dùng hình ảnh và từ ngữ nói về các quan trưởng ở Giê-ru-sa-lem. Vâng, Đức Chúa Trời đặt “những tấm thịt tốt nhất” vào nồi của Ngài (Giê-ru-sa-lem) rồi hầm thịt đó với xương (sự vây hãm của người Ba-by-lôn). Ngài sẽ không “nấu” thịt cho chín mà là nung nó bằng lửa lớn cho nó cạn nước và cháy đi! (Êxe 10:1-22).
Kế đó, Ngài sẽ đổ những miếng thịt đã bị nung cháy đó ra rồi đốt luôn cả chính cái nồi nữa! Giê-ru-sa-lem là một thành đầy tội ác, tràn ngập tội-lỗi giống như một cái nồi đã bị ten rét đóng váng rất bẩn thỉu bên trong. Nó đã làm đổ huyết người vô-tội và thậm chí nó cũng chẳng thèm vùi lấp huyết ấy lại (Sa 4:10; Lê 17:13; Phuc 12:16,24; Phuc 15:23). Những kẻ sát nhân đó cố tình để lại chứng-cớ cho mọi người xem và chúng chẳng hề lo sợ hậu quả gì cả! Nhưng Đức Chúa Trời sẽ báo thù cho những nạn nhân vô-tội và Ngài sẽ phơi-bày huyết của bọn sát nhân kia ra cho người ta thấy.
Các quan trưởng ở Giê-ru-sa-lem rất tin có sự giải cứu vì họ cứ dựa vào lời nói dối này: “Đức Chúa Trời chúng ta sẽ không bao giờ để cho tuyển dân của Ngài bị giết hại và thành thánh với Đền Thờ của Ngài bị phá hủy đâu!” Đây là một sự ảo tưởng, và Ê-xê-chi-ên đã cho nó một kết cuộc. Chính vì người Do-thái là tuyển dân của Ngài nên Ngài sẽ trừng-phạt họ, và vì Giê-ru-sa-lem là thành thánh của Ngài nên Ngài sẽ không thể để cho nó tiếp tục ngập ngụa trong sự làm ác. Chỉ có một cách thanh tẩy thành bằng việc đốt cháy nó và biến nó thành một lò hỏa táng vĩ đại (Êxe 24:9-10). Ngài phán-xét dân-sự tại trong thành (là “những miếng thịt ngon trong nồi” rồi sau đó Ngài cũng sẽ đốt cháy luôn cả cái nồi!
Cả Giê-rê-mi lẫn Ê-xê-chi-ên đều phải đối phó với niềm tin giả dối của dân-sự, một thứ niềm tin dựa trên nền tảng là những thuyết có lời giải thích sai trật, dối gạt. Giê-rê-mi cảnh-cáo Giu-đa: “Chớ nhờ-cậy những lời dối trá rằng: Chính đây là đền thờ của Đức Giê-hô-va, đền thờ của Đức Giê-hô-va, đền thờ của Đức Giê-hô-va” (Giê 7:4, NKJV ).
Sự hiện diện của Đền Thờ ở Giê-ru-sa-lem không phải là sự bảo-đảm cho việc thành phố sẽ được giải cứu, đặc biệt những gì đang xảy ra trong đền thờ đều trái ngược với ý muốn của Đức Chúa Trời. Bất cứ học thuyết thần-học nào khiến sinh ra tội-lỗi dễ dàng và xem sự đoán-phạt thánh này là không quan-trọng thì đó không phải là học thuyết thần-học thuộc Kinh Thánh. Sự đoán-phạt của Đức Chúa Trời bắt đầu với chính dân Ngài (IPhi 4:17), và Hêb 10:30 cảnh-cáo chúng ta rằng “Chúa sẽ đoán-xét dân mình” (NKJV).
Thế giới chúng ta ngày nay sống dựa vào những ảo tưởng và những sự hoang đường, bởi vì, giống như người Do-thái trong thời Ê-xê-chi-ên, thế giới hiện đại hôm nay không tin quyền-năng của Lời Đức Chúa Trời. Thiên-hạ vẫn cho vậy là đúng, theo họ thì tiền bạc là thước đo giá-trị và sự thành công, m ục đích sống là để có thú vui và làm những gì mình thích.
Bạn có thể tin bất cứ điều gì mà bạn cho là Đức Chúa Trời sẽ hài lòng, bạn cảm thấy hài lòng và có nhiều người khác cũng hài lòng, rồi mọi thứ ắt sẽ trở nên tốt đẹp bởi vì bạn nghĩ chắc không có hậu quả gì. Thế nhưng, sẽ có một ngày Đức Chúa Trời phơi-bày ra sự ngu dại của những ảo tưởng này và thế-gian sẽ quá trễ khi nhận ra rằng luôn luôn phải có hậu quả bởi những gì chúng ta tin và bởi cái cách chúng ta ăn ở cư-xử.
4. Đoạn kết của cuộc hôn-nhân (Êxe 24:15-27)
Thật lý thú khi học đến những điều được phán dạy trong Kinh Thánh về mấy người vợ của các tiên-tri. Áp-ra-ham là một tiên-tri (Sa 20:7) người có 2 lần nói dối về vợ mình và đã gặp rắc rối. Môi-se thì bị nói hành về người vợ mà ông đã chọn (Dân 12:1), và vợ của Ê-sai cũng là một nữ tiên-tri (Ês 8:3).
Bà đã sinh cho ông có ít nhất 2 con trai mang tên là dấu và điềm cho dân Giu-đa. Tiên-tri Giê-rê-mi không cho phép lấy vợ (Giê 16:1-4), và đây là một dấu hiệu báo cho người Do-thái biết rằng sự đoán-phạt sắp xảy đến vì vậy người ta không nên cưới gả, sinh con đẻ cái nơi trần gian này nữa. Vợ của Ô-sê trở thành một gái điếm mà trước đó ông đã phải mua ở chợ nô-lệ về (Os 1:1-3:21). Ấy thật là một nỗi lận đận biết bao!
Riêng Ê-xê-chi-ên còn phải trả một giá đắt hơn tất cả các tiên-tri trên. Để ban phán phát sứ-điệp của mình ra, Ê-xê-chi-ên phải chứng-kiến cảnh vợ mình chết đột ngột và ông đã không được thể hiện ra sự đau khổ tột cùng của mình trước cảnh ấy! Đức Chúa Trời bảo ông rằng vợ ông sẽ chết bất đắc kỳ tử và ông sẽ không được làm những gì mà người Do-thái thường làm trong những lúc họ mất mát người thân. Ông chỉ được phép than van thầm mà thôi chứ không được kêu la khóc lóc hoặc bày-tỏ sự than khóc bi ai trong đám tang như dân-sự ông.
Buổi sáng, ông ban phát sứ-điệp của mình ra cho các trưởng-lão thì buổi chiều vợ ông đột nhiên bị chết, và ông đã đem an táng bà vào sáng hôm sau. Khi người Do-thái đến an ủi ông, họ rất kinh ngạc vì thấy ông không kêu gào than khóc gì cả và không tỏ ra dấu hiệu gì của người trong tình trạng mất người thân. Ông cũng chẳng ăn những gì người ta đem đến giúp ông trong lúc ông đau buồn. Như có lần họ đã làm trước đó là, ông lại đề-nghị ông giải thích (Êxe 12:9; Êxe 21:7), Đức Chúa Trời đã ban cho ông sứ-điệp cho ông và mở miệng ông đ ể ông có thể nói.
Vợ ông là niềm vui của cuộc đời ông và là sự ưa thích của mắt ông (Êxe 24:16), vậy mà Đức Chúa Trời đã cất bà đi. Đền thờ ở Giê-ru-sa-lem là niềm vui của người Do-thái, bởi vì không có dân-tộc nào có được một nơi thánh như thế, nhưng giờ đây Đức Chúa Trời sắp sửa cất đền thờ đi.
Vào ngày 14 tháng 8 năm 586 BC., quân Ba-by-lôn phóng hỏa đốt đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Không nghe nói gì về con cái của Ê-xê-chi-ên và chúng ta cũng không biết ông có bao nhiêu con, chỉ nghe Đức Chúa Trời thông báo rằng, khi xảy ra sự hủy diệt đền thờ, thì những người bà con nào của các phu-tù mà còn đang sống ở Giê-ru-sa-lem ắt sẽ bị mất mạng.
Một lần nữa, Ê-xê-chi-ên là một dấu hiệu cho cho các phu-tù thấy việc Đức Chúa Trời sắp làm, và đây là điều đau đớn nhất và đáng giá nhất của tất cả “những bài giảng bằng hành động” của ông. Để rao-giảng một bài giảng, Ê-xê-chi-ên đã phải mất đi người vợ của mình. Nhưng ông lại ra lệnh cho người Do-thái hãy than thở, khóc lóc, thương tiếc cho việc bị mất Đền Thờ như ông đã thương tiếc sự mất mát đi người vợ kia, nhưng không được kêu gào khóc than quá bi lụy, và cũng không được biểu-lộ bất kỳ sự thay đổi trang phục hoặc thói quen ăn uống nào.
Cái chết của người vợ yêu dấu của tiên-tri Ê-xê-chi-ên là hành động của Đức Chúa Trời, và đó là biểu-hiện sự hủy diệt đền thờ. Người đàn bà kia đã chết trong sự vô-tội, nhưng còn đền thờ thì trở nên hang ổ của bọn trộm cướp. Đức Chúa Trời ban-cho Ê-xê-chi-ên bản cáo-thị rằng chỉ trong một ngày mà ông đã phải trở thành người đàn ông góa bụa, nhưng ý Ngài đang nói đến dân Giu-đa đã phạm-tội trong suốt nhiều năm qua vậy mà họ chẳng chịu lắng nghe ông. Vì vậy, sự hủy diệt đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem sẽ không gây cho người ta ngạc nhiên chút nào.
Thế nhưng, dân-sự đã nhận biết lẽ thật mà vị tiên-tri này đang nói đến bằng cách nào? Thời ấy họ không có hệ thống dịch vụ tin tức cấp thời như chúng ta ngày nay, do đó có lẽ toàn bộ thông tin về lẽ thật họ cần biết là qua cách thức duy nhất biểu hiện bằng cái chết của vợ tiên-tri. Đức Chúa Trời phán rằng sẽ có một sứ-điệp đến Ba-by-lôn thông báo thành Giê-ru-sa-lem sẽ sụp đổ và đền thờ sẽ bị phá hủy. Năm tháng sau đó thì những điều này thật sự đã xảy ra nhằm ngày mồng 8 tháng Giêng năm 585 BC (Êxe 33:21-22).
Ngày hôm sau, Đức Chúa Trời mở miệng tiên-tri và bỏ đi quy định mà ông đã phải chấp hành ngay từ lúc ban đầu ông thi hành chức-vụ của mình (Êxe 3:25-27). Từ đây, ông được tự-do nói năng khi ông nhận được sự hướng dẫn, đồng thời cùng lúc ấy, tiêu-điểm chức-vụ của ông cũng bắt đầu được chuyển hướng. Ông vạch trần tội-lỗi của dân-tộc và loan báo sẽ có sự đoán-phạt xảy ra. Giờ đây, ông sắp sửa rao báo kế hoạch chương trình của Đức Chúa Trời dành cho các dân-tộc ngoại giáo bao gồm cả Ba-by-lôn là kẻ đã chiến thằng; sau đó, ông rao-giảng về niềm hy-vọng cho các phu-tù Do-thái và chia-sẻ với họ những khải-tượng về vương quốc hầu đến.
Ê-xê-chi-ên quả là một đầy-tớ trung-thành của Đức Chúa Trời, thậm chí ông đã bằng lòng hy-sinh cả người vợ yêu dấu của mình để có thể rao-báo ra Lời Đức Chúa Trời. Thật đúng là một tấm gương của sự tận hiến!
8. ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN-XÉT CÁC DÂN-TỘC (Êxe 25:1-28:26)
Sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem là điều vui-mừng trông-đợi của các dân các nước ngoại giáo tọa lạc tại các vùng phụ cận của vương quốc Giu-đa. Trong suốt những ngày trọng đại đó của dân-tộc mình, người Do-thái trở nên một dân riêng biệt, và điều này đã khiêu khích các dân lân bang của họ.
Người Do-thái tuyên-bố rằng Đức Giê-hô-va là Đấng hằng sống chân thần muốn nói rằng các dân-tộc khác đã thờ lạy những pho-tượng chết mà thôi. Cả Sau-lơ lẫn Đa-vít đều đã gặp rất nhiều người của các dân-tộc ấy trên chiến trường, và những người ngoại giáo đó nhớ lại thì thấy mình thật hổ thẹn vì những lần thua trận bẽ mặt kia của họ. Nhưng từ khi vương quốc Giu-đa lìa xa trôi giạt khỏi Đức Giê-hô-va, nó bắt đầu tiếp nhận các thần khác và tập tành thờ-lạy chúng theo người ngoại giáo, và đối với những người láng giềng của họ thì điều này có vẻ hoàn toàn giả hình.
Xét cho cùng, nếu Đức Giê-hô-va là Đấng hằng sống chân thần, thì tại sao người Do-thái lại còn cần đến các thần khác nữa? Và tại sao các vua Giu-đa lại đi tìm kiếm các đồng minh để nhờ bảo vệ họ trong khi Đức Giê-hô-va có thừa khả năng chăm-sóc bênh vực họ? Không gì làm hài lòng những người ngoại giáo cho bằng việc họ có thể cười nhạo về những ngày xấu hổ, nhục nhã của dân Do-thái và họ tuyên-bố rằng các thần của người Ba-by-lôn mạnh hơn Đức Chúa Trời mà dân Do-thái đã thờ-phượng.
Điều mà các dân-tộc này đã không nhận thấy được rằng sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem không phải chỉ là sự đoán-phạt dân Do-thái mà thôi, nhưng đó còn là sự cảnh cáo người ngoại giáo nữa, “Kìa, người công-bình được báo đáp nơi thế thượng: Phương chi kẻ hung ác và kẻ có tội!” (Ch 11:31 NKJV). Rốt cuộc, nếu Đức Chúa Trời tỏ cơn giận của Ngài ra nghịch cùng chính dân-sự Ngài trước tiên như vậy, thì “sự cuối cùng của những kẻ chẳng vâng-theo Tin lành Đức Chúa Trời sẽ ra thế nào?” (IPhi 4:17).
Có sự khác biệt rất lớn giữa việc cha mẹ đầy lòng yêu thương sửa phạt con cái mình và việc quan tòa trừng-trị kẻ phạm-tội ác. Y-sơ-ra-ên dẫu biết rõ Lời Đức Chúa Trời nhưng họ lại phạm-tội chống nghịch lại nguồn sự sáng đó, còn dân người thì lại làm chứng-cớ rõ ràng cho sự sáng tạo (Rô 1:18-32; Thi 19:1-14) và lương tâm (Rô 2:11-16) nhưng họ cũng không được miễn trừ. Đức Chúa Trời cũng sẽ đoán-xét dân ngoại tùy theo cái cách họ đối đãi với dân-sự Ngài, bởi vì đây là lời-hứa theo giao-ước mà Ngài đã lập với Áp-ra-ham (Sa 12:1-3) [61]
Thật lý thú khi Ê-xê-chi-ên đã không nhận được sứ-điệp về sự đoán-phạt nghịch cùng người Ba-by-lôn, nhưng Đức Chúa Trời đã dùng Ê-sai (Ês 13:1-14,23; Ês 21:1-9) và đặc biệt là Giê-rê-mi (Giê 31:1-43; Giê 40:1-1; Giê 50:1-51:64) để làm công việc đó. Đức Chúa Trời truyền-lệnh cho Ê-xê-chi-ên hãy xây mặt hướng về các dân ngoại ấy (Êxe 25:2; Êxe 6:2; Êxe 13:17; Êxe 20:46; Êxe 21:21) và tuyên-bố rằng sự đoán-phạt sắp sửa xảy đến kìa.
1. Sự đoán-phạt các dân-tộc bà con với Y-sơ-ra-ên (Êxe 25:1-14)
Dân Am-môn, Mô-áp và Ê-đôm là những người bà con họ hàng có cùng chung huyết thống với người Do-thái.
-Người Am-môn và người Mô-áp có họ hàng bà con với Y-sơ-ra-ên qua Lót, cháu trai của Áp-ra-ham. Am-môn và Mô-áp là 2 con trai được sinh ra có cùng ông bà tổ-tiên là Lót với 2 người con gái của Lót (Sa 19:29-38).
-Ê-đôm là một tên khác của Ê-sau, người anh sinh đôi của Gia-cốp (Êxe 25:30; Ê-đôm có nghĩa là “đỏ”), và Gia-cốp đã sản sinh ra 12 chi phái của Y-sơ-ra-ên. Chắc bạn nghĩ rằng các dân-tộc bà con ruột với Y-sơ-ra-ên này ắt sẽ giúp đỡ cho Y-sơ-ra-ên, thế nhưng cả 3 dân đó đều có mối thù truyền kiếp với Y-sơ-ra-ên và luôn luôn thù địch với nó.
Hãy chú ý nội dung các sứ-điệp về sự đoán-phạt này rằng Đức Chúa Trời đã đưa ra lý-do của sự đoán-phạt (“vì ” Êxe 25:3,6,8,12,15; Êxe 26:2) và sự mô-tả cơn đoán phạt “nên” Êxe 25:4,7,9,13,16; Êxe 26:3).
• Am-môn (Êxe 25:1-7): Khi Y-sơ-ra-ên tiến về miền Đất Hứa, họ đánh bại hết dân này đến dân khác, nhưng Đức Chúa Trời phán bảo họ không được tấn công dân Am-môn bởi vì Ngài đã ban cho họ xứ của họ (Phuc 2:19). Họ là một giống dân hung dữ (Giê 40:14; Giê 41:5-7), và cả Sau-lơ lẫn Đa-vít đều đã đánh bại họ trên chiến trường (ISa 11:1-27; ISu 19:1-20:8). Dân Am-môn liên kết với dân Mô-áp tấn công Giu-đa nhưng cả hai đã bị thua thê thảm (IISu 20:2-37).
Dân Am-môn lấy làm vui sướng về sự phá hủy thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ (Êxe 25:3,6), và khi Nê-hê-mi đi đến Giê-ru-sa-lem trùng tu lại các tường thành, thì dân Am-môn đã hùa với San-ba-lát chống đối ông (Nêh 2:10-19).
Đức Giê-hô-va báo trước rằng Ngài sẽ phó dân Am-môn vào tay của “những con cái của phương đông” (Êxe 25:4), tức là vào tay quân Ba-by-lôn. Trong cuộc hành quân của mình, Nê-bu-cát-nết-sa đã dừng lại tại điểm giao nhau của 2 con đường, một đường dẫn đến Giê-ru-sa-lem và đường còn lại dẫn đến Ráp-ba, thủ đô của Am-môn (Êxe 21:18-24).
Tại đó, ông nghe theo lời hướng dẫn của các thầy bói và Đức Chúa Trời đã khiến ông hành quân đến Giê-ru-sa-lem. Dân Am-môn háo hức thở dài khoái trá và rất đỗi vui-mừng khi họ nhìn thấy Giê-ru-sa-lem bị hủy hoại và Đền Thờ bị báng bổ, mạo phạm, nhưng giờ đây thì giờ của họ cũng đã đến. Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt Am-môn và dân-tộc này sẽ biến mất khỏi thế-gian vĩnh viễn.
• Mô-áp (Êxe 25:8-11) [62]
Chính Ba-lát vua Mô-áp là người đã thuê Ba-la-am đến rủa sả Y-sơ-ra-ên khi họ đóng trại trên đồng bằng Mô-áp (Dân 22:1-24:25), và chính Ba-la-am là người đã dạy dân Mô-áp cách dụ dỗ Y-sơ-ra-ên vào sự phạm-tội chống nghịch Đức Chúa Trời (Dân 25:1-9; Dân 31:16). Tội-lỗi của Mô-áp là tội phỉ báng Y-sơ-ra-ên, không công-nhận dân Do-thái là dân-tộc đặc biệt của Đức Chúa Trời. Đối với người Mô-áp, thì sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem đã chứng-minh rằng dân Do-thái cũng chỉ là một dân-tộc giống như bất kỳ các dân-tộc khác mà thôi. “Nếu các ngươi quả đúng là dân-tộc đặc biệt như thế,” họ vặn vẹo, lý luận, “thế thì tại sao các ngươi lại phải nếm mùi thất bại nhục nhã như vậy?”. Ngay cả Ba-la-am cũng thừa nhận rằng Y-sơ-ra-ên là một dân-tộc đặc biệt đã được biệt riêng ra khỏi các dân-tộc khác (Dân 23:8-10).
Dân Mô-áp là giống dân rất kiêu-ngạo bởi vì họ nghĩ dân-tộc của họ rất mạnh bạo, vững vàng không ai có thể đánh bại được (Ês 16:6). Mô-áp tọa lạc trên núi cao, có Biển Chết bao bọc phía tây và phía đông thì có hoang mạc. Đức Chúa Trời nói cho họ biết Ngài sẽ đưa những kẻ xâm lược đi xuyên qua biên giới phía tây bắc vốn “không thể vào được” để vào xứ họ (“sườn núi”, Êxe 25:9 NIV), mặc dù các sườn núi ấy toàn là những vách đá thẳng đứng, và Đức Chúa Trời đã tạo nên như vậy. Chính quân A-si-ri là kẻ đến xâm lược và tiêu diệt dân Mô-áp, ngày nay Mô-áp không còn được ai nhớ đến nữa.
• Ê-đôm (Êxe 25:12-14): Ê-đôm căm ghét người Do-thái kể từ khi Ê-sau bán quyền trưởng nam của mình cho Gia-cốp em trai mình một cách ngu ngốc, và từ khi người mẹ của 2 anh em này lập mưu gian để cướp đoạt phước lành dành cho người tộc-trưởng để cho con trai cưng Gia-cốp của bà (Sa 25:29-34:27) [63].
Gia-cốp đi đến Ha-ran sống với người cậu của mình chủ yếu là để tránh cơn giận và mưu toan, ý định giết người của anh trai mình.
Các hậu tự của Ê-đôm về sau đã trở thành những tộc-trưởng mạnh bạo đầy quyền lực (Sa 36:1-43), còn các con trai của Gia-cốp thì trở thành những người sáng lập ra 12 chi phái của Y-sơ-ra-ên, là dân-tộc Đức Chúa Trời đã chọn để hoàn tất các mục đích vĩ đại của Ngài trên đất này.
Tiên-tri Áp-đia viết rằng Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt Ê-đôm bởi vì cái cách mà họ đã đối xử với dân Do-thái (Ap 1:10-14). Khi Giê-ru-sa-lem bị tấn công, dân Ê-đôm đã reo hò tán thưởng quân Ba-by-lôn (Thi 137:7) và họ đã không giúp đỡ những người Do-thái chạy giặc để lánh nạn. Ngược lại, Ê-đôm lại còn giúp đỡ quân Ba-by-lôn đi truy đuổi bắt cho được những người Do-thái đang chạy trốn đó và lấy làm vui-mừng hoan hỉ về những tai ương đã xảy ra với người Do-thái.
Cùng với quân Ba-by-lôn, dân Ê-đôm đã nhào vô cướp bóc của cải trong thành Giê-ru-sa-lem và cướp đi cả sinh mạng của những người bà con ruột thịt với họ. Gây ra tội ác cho con người cũng là gây ra tội ác đối với Đức Chúa Trời bởi vì loài người đã được tạo dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Ngày ấy sẽ đến là lúc Ê-đôm phải nhận lãnh sự đoán-phạt nặng nề của Đức Chúa Trời giáng xuống họ (Ca 4:21-22).
Sứ-điệp của Đức Chúa Trời dành cho Ê-đôm nhắc nhở chúng ta rằng những sự hận thù trong gia đình đã phải trả giá đắt, thường dẫn đến sự đau thương và bi kịch. Dân Ê-đôm cứ khư khư ôm lấy lòng thù hận căm ghét người Do-thái suốt từ thế-hệ này đến thế-hệ khác. “nó Ê-đôm) đã dùng gươm đuổi theo anh em mình, bỏ cả lòng thương-xót, và cơn giận nó cứ cắn xé không thôi, nuôi sự thạnh nộ đời-đời” (Ca Am1:11 NASB).
“Đừng để người ta kéo bạn xuống quá thấp khiến bạn phải căm thù người ta”, Booker T. Washington đã nói như vậy, và Chúa Giê-xu có phán: “Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu-nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi” (Mat 5:44). Lòng căm thù và ý định báo thù của Ê-đôm cuối cùng đã dẫn nó đến với sự hủy diệt (Ap 1:1-14). Ê-xê-chi-ên sẽ nói về Ê-đôm rõ hơn trong phân đoạn 35.
2. Sự đoán-phạt các dân-tộc lân bang (Êxe 25:1-14) (Êxe 25:15-26:21)
Sau khi đề-cập đến những tội-lỗi của các dân-tộc bà con với Y-sơ-ra-ên, Ê-xê-chi-ên xây mặt mình hướng về xứ Phi-li-tin (Êxe 25:15-17) và xứ Phê-ni-xi, đặc biệt là các thành của Phê-ni-xi là Ty-rơ (Êxe 26:1-28:19) và Si-đôn (c. 20-24). Một lần nữa, những tội-lỗi như sự kiêu-ngạo, sự thù hận và ý định trả thù lại nổi cộm lên, chi phối và xúi giục các dân-tộc hành động thậm chí kể cả đối với các dân các nước thời nay cũng vậy. Thật dễ ngụy tạo che đậy sự kiêu-ngạo dưới lớp vỏ giả trang là lòng yêu nước, thương nòi, bọc ngoài sự căm thù là hình thức của lòng nhiệt huyết dân-tộc, và sự báo thù thì núp dưới bóng sự thi hành công-lý giả hình.
• Phi-li-tin (Êxe 25:15-17): Sau khi dân Y-sơ-ra-ên tiến vào chiếm xứ Ca-na-an, người Phi-li-tin ở lân cận trở thành kẻ thù nguy hiểm của họ. [64] Trong số các quan-xét, có Sam-ga (Cac 3:31) và Sam-sôn (Cac 13:1-16:31) đã tấn công họ, cả Sa-mu-ên và Sau-lơ cũng có đối đầu với họ. Cuối cùng, Đa-vít là người đánh bại họ, và họ đã phải chịu ở dưới ách kìm kẹp suốt thời trị-vì của vua Sa-lô-môn (IISa 5:17-25; IISa 21:15-22; IISa 23:9-17). Khi quốc gia Do-thái bị phân chia, người Phi-li-tin đòi lại nền độc lập của họ, trở thành những thương gia, nhà buôn cùng với người Phê-ni-xi làm ăn buôn bán rất thành công.
Người Phi-li-tin đã nuôi lòng căm thù dân-tộc đối với người Do-thái và tìm mọi cơ-hội quấy rối, tấn công họ. Ê-xê-chi-ên không phải là tiên-tri duy nhất đã nói tiên-tri về sự đoán-phạt của Đức Chúa Trời giáng trên dân Phi-li-tin (Giê 47:1-7; Am 1:6-8; So 2:4-7). Người Phi-li-tin li ên minh với người Ê-díp-tô ra sức chống lại Nê-bu-cát-nết-sa; Dân Ba-by-lôn quá đông so với họ và họ đã bị đánh bại, bị bắt đi đày ải tương tự như các dân-tộc bị thua khác vậy (Giê 25:15-32:47).
• Ty-rơ (Êxe 26:1-21): Ê-xê-chi-ên dành hết 4 sứ-điệp nói về tội ác và số phận của thủ phủ nước Phê-ni-xi (Phoenicia), (c. 1-21 Êxe 27:1-36, Êxe 28:1-10,11-19). Trong thời trị-vì của mình, cả Đa-vít lẫn Sa-lô-môn đều có kết bạn thân tình với Hi-ram vua xứ Ty-rơ (Tyre) (IISa 5:11; IVua 5:1-18), và Giê-sa-bên vợ vua A-háp là con gái của Ết-ba-anh, một vị vua đã quá cố của Ty-rơ (IVua 16:31). Sứ-điệp trong phân đoạn Kinh Thánh này gồm có 4 phần, mỗi phần bắt đầu với một câu tuyên-bố Lời Đức Chúa Trời phán (Êxe 26:1-6,7-14,15-18,19-21).
• Sự hủy diệt được loan báo (Êxe 26:1-6):
Hình ảnh được dùng ở đây là một trận bão tố tạo nên nhiều cơn sóng dữ mang tính huỷ diệt dấy lên (c.3,19). Thành Ty-rơ có vị-trí một phần nằm trên bờ biển Địa Trung Hải và một phần là đảo nằm cách bờ biển nửa dặm, vì vậy Ê-xê-chi-ên đã dùng hình ảnh cơn bão là thích hợp. Đức Chúa Trời nổi giận với Ty-rơ vì nó đã vui-mừng về sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem và thậm chí nó còn thấy đây là cơ-hội để nó trở nên phồn thịnh hơn. Nhưng Đức Chúa Trời loan báo rằng những dân-tộc này chắc chắn sẽ giống như những cơn sóng dữ kia của biển cả cuộn trào lên liên miên không ngớt và cuối cùng chúng sẽ đưa Ty-rơ đến chỗ bị diệt vong mà thôi. Tên “Ty-rơ” nghĩa là “vầng đá”, do đó, câu “khiến nó thành một vầng đá sạch láng” (c.4,14) rất có ý nghĩa. Ty-rơ thật đã trở thành một khối đá trơ trọc nhô lên khỏi mặt biển và là một nơi chỉ để cho những ngư-dân phơi lưới mà thôi.
Ty-rơ vẫn còn sống sót sau cuộc chinh-phạt của người A-si-ri, nhưng khi Ba-by-lôn trở nên hùng cường, Nê-bu-cát-nết-sa liền kéo đến vây hãm thành phố biển này suốt 15 năm (586-571 TC.) và đánh thắng nó, nhưng ông đã không chinh phạt thành phố đảo đó. Vào năm 322 TC, Alexander Đại Đế vây hãm Ty-rơ suốt 7 tháng, cho xây một con đường đắp cao dẫn đến đảo và việc này đã giúp ông ta chiếm được đảo.
• Sự hủy diệt được thực hiện (Êxe 26:7-14):
Ê-xê-chi-ên đưa ra sự mô-tả việc người Ba-by-lôn vây hãm một phần của Ty-rơ nằm trên bờ Địa Trung Hải. Nê-bu-cát-nết-sa bắt đầu cuộc vây hãm của mình vào năm 587 TC., sau cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem, và mặc dù thành phố duyên hải này là một pháo đài được phòng vệ rất nghiêm ngặt, thế nhưng ông ta vẫn kiên trì chinh-phục cho đến lúc thành công.
Người Ba-by-lôn đã quăng gỗ đá ở đó xuống biển nhằm để cho chúng ta phải tự hư đi. Đức Chúa Trời cho rằng Nê-bu-cát-nết-sa chưa đư ợc “trả tiền công xứng đáng” cho những sự nổ lực của ông ta, do đó Ngài đã ban cho ông Ê-díp-tô như là phần tiền thưởng thêm vậy (Êxe 29:18-20).
• Than khóc cho sự hủy diệt (Êxe 26:15-18):
Vì Ty-rơ nằm tại khu trung tâm thương mại thuộc vùng bờ biển Địa Trung Hải và nó là quốc gia nổi tiếng trong công việc làm ăn buôn bán, cho nên sự sụp đổ của nó đã tàn phá nền kinh tế nói chung. Ở đây không phải là một “hiệu ứng gây tác động từ từ” mà là những con sóng ba đào dâng cao! Những người cùng hợp tác làm ăn buôn bán với họ đều là những thương gia – được gọi là “các quan trưởng” (c.16) và “các vua” (Êxe 27:35) nay họ đã bị trắng tay, và họ chỉ còn biết cất lời ca-thương than khóc cho bi kịch thê thảm đã xảy ra.
Trong Êxe 26:17-18, chúng ta gặp sự than khóc bi ai được điểm qua về sự sụp đổ của thành. Hãy luôn nhớ rằng vào thời cổ đại, các tiên-tri thỉnh thoảng lại dùng những lời ca-thương trong đám tang mang tính-chất chấm biếm chọc cười để nhạo báng chế giễu kẻ thù của Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ thấy những lời ca-thương này trong phân đoạn 27 và 32.
Dân chúng ở dọc bờ biển lấy làm lo sợ và họ tự hỏi không biết rồi đây điều gì sẽ xảy ra với nền kinh tế nước nhà vì hiện giờ mạng lưới thương nghiệp trọng điểm của họ đã bị tiêu tùng. Thế giới chúng ta ngày nay được nối kết với nhau qua những chuỗi mạng điện tử có khả năng truyền-đạt thông-tin, giao-dịch tiền bạc và những đơn đặt hàng cho việc mua bán trao đổi trong kinh doanh với tộc độ cao, đảm-bảo an toàn để thực hiện. Hãy hình dung điều gì sẽ xảy ra cho nền kinh tế thế giới nếu tất cả những sự nối kết, liên-hệ làm ăn qua mạng điện tử này ở New York bị gián đoạn, hủy bỏ. điều này nhắc nhở chúng ta rằng trong thời kỳ sau rốt, khi An-ti Christ tổ chức mạng lưới quy mô toàn cầu được gọi là “Ba-by-lôn”, thì Đức Giê-hô-va sẽ hủy diệt hết mọi thứ và khiến những công việc làm ăn buôn bán của người ta rơi vào sự đổ nát, tang thương (Kh 18:1-24).
• Sự hủy diệt đời-đời (Êxe 26:19-21):
Ê-xê-chi-ên cung-cấp cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh của sự hủy diệt Ty-rơ qua sự mô-tả những kẻ bị trừng-phạt phải ngã chùi xuống “hố” (c.20). Tiếng Hê-bơ-rơ bor có nghĩa là “cái giếng, cái hố, hay bể chứa”, nhưng nó còn ám chỉ đến hố chôn người chết (Thi 28:1; Thi 88:4,6) và đôi khi nó cũng được hiểu là âm-phủ nơi ở của những linh-hồn người chết. Sự kiêu-ngạo của Ty-rơ và thái-độ xấu xa của nó đối với người Do-thái đã đem đến cho nó những hậu quả bi thảm.
Câu: “Ta sẽ dùng mầy làm một sự kinh khiếp” (Thi 26:21 KJV) nên được đọc là: “Ta sẽ giáng sự kinh khiếp trên mầy!” (NASB). Hãy chú ý những câu Đức Giê-hô-va phán về các việc Ngài sẽ làm đối với thành Ty-rơ:Ngài sẽ khiến nó đổ nát, làm cho nó bị chìm xuống biển, khiến nó rơi xuống hầm hố, giáng sự kinh khiếp trên nó, và cách ly nó khỏi thế-gian vĩnh viễn. Đồng thời, Ngài hứa ban cho Y-sơ-ra-ên là kẻ thù của nó, một tương lai vinh-hiển, sáng lạng và phước hạnh!
-Êxe 25:15-17; xem giải nghĩa Giê 25:1-14.
-Êxe 26:1-21; xem giải nghĩa Êxe 25:1-14.
3. Lời than vãn về sự hủy diệt Ty-rơ (Êxe 27:1-36)
Các tiên-tri thời Cựu-ước thỉnh thoảng lại dùng “những bài ca-thương trong đám tang” mang tính châm biếm để chế giễu các kẻ thù của họ, và bạn sẽ nhận thấy điều này cũng xuất hiện trong sự than vãn về sự đổ nát của thành Ty-rơ. Cả Ê-xê-chi-ên lẫn dân-tộc Do-thái đều không thương tiếc gì về sự hủy diệt thành ty-rơ cả, thế nhưng biến-cố ấy đã đem đến cho Ê-xê-chi-ên cơ-hội biểu-lộ lẽ-thật thuộc-linh trong bài ca-thương này.
Vì Ty-rơ là một thành phố biển, cho nên phân đoạn Kinh Thánh này đã ví sánh thành phố và công việc làm ăn buôn bán của nó như một con tàu đẹp đẽ cuối cùng đã bị chìm đem lại sự kinh khiếp cho các nhà buôn cũng như các khách hàng làm ăn với họ. Hình ảnh này được gọi là “ẩn-dụ mở rộng”, hoàn toàn không giống như “con tàu tổ quốc” của chúng ta.
Một quốc gia hoặc một thành phố nào đó thực sự không phải là con tàu, nhưng giữa 2 hình này có chứa đựng nhiều điểm để so sánh giúp chúng ta hiểu hơn về đất nước và thành phố đó. Những từ như “buôn bán” và “hàng hóa” được dùng 21 lần trong phân đoạn 27 này, bởi vì Ty-rơ vốn là một thành phố trung tâm của thương mại.
Ẩn-dụ về con tàu hoàn toàn muốn ám chỉ đến vai trò của thành Ty-rơ, vai trò của những người kinh doanh buôn bán và khách hàng của họ, vai trò công việc, và tất cả hệ thống thương mại của nó đã phát triển rất mạnh ở khu vực Địa Trung Hải.
• Công việc đóng tàu (Êxe 27:1-7):
Đây không chỉ là một con tàu có ích đã đem lại sự giàu có cho thành phố, mà nó còn là con tàu đẹp đẽ khiến các quốc gia khát ngưỡng mộ (c.3,11, Êxe 28:12). Ty-rơ kiêu hãnh về vẻ đẹp tuyệt trần và sự thành công của nó nhưng nó chẳng hề dâng lên lời ngợi-khen nào cho Đức Chúa Trời về sự nhân-từ Ngài. Những nguyên liệu tốt nhất đã được mang đến đóng tàu, bắt đầu bằng gỗ linh sam lấy từ Núi Hẹt-môn (Hermon) là gỗ dùng để đóng tàu thủy và boong tàu, cùng với gỗ cây bách lấy từ miền Li-ban (Lebanon) dùng làm những cột buồm.
Họ làm các mái chèo bằng gỗ cây dẽ lấy từ núi Ba-san (Bashan) và sàn tàu đóng bằng gỗ hoàng dương lấy từ đảo Kít-tim (Cyprus), được khảm bằng ngà voi (xem bản dịch NIV và NLT). Một con tàu lớn của người Phê-ni-xi cần đến 50 tay chèo và 200 thủy-thủ đoàn. Ê-díp-tô cung-cấp cho họ vải gai mịn có thêu dùng làm cánh buồm và cờ xí, cù lao Ê-li-sa cung-cấp vải vóc làm màn cháng đẹp đẽ che trên các boong tàu.
Có lần tôi nghe một diễn-giả thật thà nhưng kém hiểu biết tuyên-bố trên truyền hình rằng Hoa Kỳ sẽ chấm dứt hoạt động thương mại buôn bán trao đổi với các quốc gia nào không tán thành đường lối chính trị sai và sự phủ nhận các nhân quyền của nó. Động-cơ phát biểu của ông thì đúng nhưng sự hiểu biết của ông thì quá hạn hẹp. Có lẽ ông ta không nghe được tiếng tôi, nhưng tôi đã hét to lên thế này: “Nếu chúng ta đã làm như ông tuyên-bố, thì chắc chắn giờ đây ông không thể nào có được một cái mi-crô mà cũng chẳng có lấy một cái máy thu hình nào để phát chương trình trên ti-vi đâu!” Tôi được biết cái máy điện quen thuộc mà chúng ta đã và đang sử dụng được chế tạo từ những chất liệu lấy từ ít nhất 20 quốc gia! “Con tàu tổ quốc” của Ty-rơ nhắc nhở chúng ta rằng thế giới đang ngày càng được thu nhỏ lại và các quốc gia vẫn không muốn lệ thuộc vào nước khác để có được những thứ họ cần. Từ “internet” là cách viết tắt của cụm từ “international network” (mạng truyền thông quốc tế), rằng hệ thống điện tử vô hình đã nối kết hàng triệu triệu máy vi tính và nối kết các khối óc với các con tim của những người sử dụng chúng lại với nhau.
• Việc trang bị và điều hành con tàu (Êxe 27:8-11):
Trong sự mô-tả các thuỷ-thủ đoàn của con tàu, Ê-xê-chi-ên thực sự gọi tên một số quốc gia đã góp phần làm cho Ty-rơ trở nên phát đạt, phồn thịnh như vậy. Các tay chèo đến từ Si-đôn và A-vát (Arvad), là 2 thành phố khác của Phê-ni-xi, còn các hoa tiêu khéo léo tài trí thì đến từ Ty-rơ. Những thợ đóng sửa tàu kỳ cựu thì đến từ Ghê-banh, một thành phố ở miền duyên hải khác làm nhiệm-vụ đi lại trên mạn tàu kiểm tra, sửa chữa, xảm hoặc bít lại những chỗ hở chỗ nối của ván đóng tàu để giữ cho tàu luôn ở trong tình trạng tốt và chắc chắn.
Nói tóm lại, hình ảnh trên đã đưa ẩn-dụ về con tàu đến với chính thành phố Ty-rơ ở thực tế (c.10-11). Ty-rơ đã phải thuê quân đội là những lính đánh thuê đến từ Phe-rơ-sơ (Persia –Ba-tư), Ly-đi (Lydia - Vùng Tiểu Á), Li-bi (Libia - Bắc Mỹ), A-vát (Phoenicia), Lút (Cilicia) và Phút (Gammad ). Những người lính đánh thuê này đã bán sự phục-vụ của họ để bảo vệ thành Ty-rơ và hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng tàu thủy của nó.
Hình như bọn lính tráng không có vẻ biết trước đang có nguy hiểm gì chực chờ họ bởi vì đem treo mũ với khiên của mình lên trên cá bức tường như những sự trang trí cho thành phố thêm đẹp đẽ. Thành phố biển Ty-rơ này vốn là một pháo đài chắc chắn, cho nên Nê-bu-cát-nết-sa đã phải tốn rất nhiều thời gian đến 13 năm mới phá vỡ được những hàng rào phòng thủ của nó.
Chúng ta không nên đưa ẩn-dụ này đi quá xa, thế nhưng thật là ý nghĩa khi Ê-xê-chi-ên đem những vai trò cần thiết của hoạt động kinh doanh của Ty-rơ vào trong quân đội và lực lượng hải quân. Chắc chắn sự phòng vệ quốc gia rất quan-trọng cho sự thành công trong thương mại và đó cũng là sự bảo vệ an-toàn cho mỗi công dân, và thỉnh thoảng, “những lợi ích quốc gia” và “những hoạt động kinh doanh buôn bán” trở nên đan bện vào nhau. “Những vụ làm ăn lớn” luôn trông chờ vào chính sách đối ngoại nào đó để có thể mở ra những thị trường mới và duy trì chúng.
• Con tàu khởi hành (Êxe 27:12-25):
Con tàu tổ quốc rất ấn-tượng và đẹp đẽ này được chế tạo để tiến ra biển chứ không phải để tiến tới cầu tàu nơi bến cảng, do đó Ê-xê-chi-ên đã mô-tả lại cách thức giao dịch buôn bán dọc theo bờ biển Địa Trung Hải của thành Ty-rơ ra sao. Từ “ buôn bán” được dùng 13 lần trong bản dịch Kinh Thánh đầu tiên năm 1611 (Authorized Version), có nghĩa là “làm công việc thương mãi, mậu dịch”.
Các quốc gia được kể tên ở đây đã mua hàng hoá từ Ty-rơ và họ lại bán sản phẩm của họ cho Ty-rơ. Chính sự hợp tác làm ăn mua bán này đã đem lại lợi nhuận cho tất cả những nước tham gia. Bạc, sắt, thiếc, và chì đến từ Ta-rê-si (Tarshish) có lẽ thuộc Tây Ban Nha. Nô lệ [65] và những đồ dùng bằng đồng đến từ Gia-van, Mê-si-aếc (Greece) và Tu-banh (Thổ Nhĩ Kỳ) . Ngựa, ngựa chiến và lừa cũng đến từ Thổ Nhĩ Kỳ. Còn những mặt hàng xa xỉ đắt tiền như: ngà voi và gỗ mun đến từ Đê-đan (Rhodes); và ngọc lam, san hô, hồng ngọc cùng nhiều thứ vải vóc tốt đến từ Giô-đanh (Jordan).
Ty-rơ trao đổi buôn bán với người Do-thái và mua lại nhiều loại thực phẩm của họ. Ty-rơ còn mua rượu và hàng len của Sy-ri, mua cừu non, cừu đực trưởng thành và dê của A-ra-bi. A-ra-bi còn bán cho Ty-rơ các gia-vị hương-liệu quý nhập từ nước ngoài, vàng và đá quý. Các quốc gia khác cung cấp bánh ngọt, dầu thơm, và những sản phẩm được chế tạo chẳng hạn như vải vóc, các đồ dùng được rèn bằng sắt, và thảm trải sàn cho Ty-rơ. Người dân Ty-rơ đổi lấy những nguyên vật liệu thô rồi chế tạo sản xuất ra thành nhiều mặt hàng hữu dụng rất phong phú, sau đó bán chúng cho các đại lý tiêu thụ và cho khách hàng của họ.
Cùng với việc trao đổi hàng hóa lấy hàng hóaá, thì tiền và tín dụng cũng được dùng đến trong nhiều hình thức giao dịch, mua bán, vì vậy có rấy nhiều cơ-hội để bọn cho vay nặng lãi và những kẻ làm nghề môi giới kiếm lợi. Nhờ vào mạng lưới kinh doanh buôn bán của Ty-rơ khiến những mặt hàng xa xỉ phẩm, những thứ cần dùng, công ăn việc làm và lợi tức thu nhập trở nên lúc nào cũng sẵn có đối với các quốc gia nổi tiếng trên thế giới.
• Sự chìm tàu (Êxe 27:26-36):
Hình ảnh được người ta ngưỡng-mộ giờ đây đã chuyển sang khung cảnh hoang tàn đổ nát, “Nhưng mà những tay chèo của mầy đã dẫn mầy trên nước lớn, và gió đông đã đập nát mầy trong lòng biển!” (c. 26 NLT). Có cơn bão kéo đến như như lời Chúa đã phán trong Êxe 26:3,19 và con tàu vĩ đại này đã bị đánh vỡ tan tành trong biển cả mênh mông.
“Gió đông” ở đây là ý muốn nói đến sự xâm lăng của quân đội Ba-by-lôn (Êxe 17:10; Êxe 19:12). Nhiều hàng hoá có giá-trị, con tàu đẹp đẽ cùng tất cả thủy-thủ đoàn, bọn lính chiến và những người phục-vụ tài trí khôn-ngoan trên tàu hết thảy đều đã bị bỏ mình mất dạng trong lòng biển khơi.
Thế nhưng, vẫn chưa hết đâu: những nhân viên quản-lý các doanh nghiệp, những kẻ làm nghề môi giới, và khách hàng làm ăn của Ty-rơ sẽ bị tác động cảm thấy run sợ trước sự cố chìm tàu này. Người ta sẽ đứng trên bờ than khóc cho kết cuộc của một hệ thống thương nghiệp đồ sộ quy mô đã từng cho họ công ăn việc làm, lợi tức, và sự an-ninh.
Một số con buôn là đối thủ cạnh tranh của Ty-rơ sẽ “huýt sáo” hoặc “huýt gió” khi họ nghe được tin tức này (Êxe 27:36), có lẽ họ rất kinh ngạc trước thảm kịch ấy. Tuy nhiên, động từ “huýt gió” có thể còn có nghĩa là “huýt gió khinh bỉ, chê bai nhạo báng”, ý muốn nói rằng có một số nhà lãnh đạo trong hệ thống kinh doanh buôn bán với Ty-rơ đã rất vui sướng hả hê khi họ nhìn thấy nó sụp đổ.
Họ đã hợp tác làm ăn với mạng lưới thương mại chung này bởi vì họ bắt buộc phải như vậy, nhưng giờ đây có lẽ họ sẽ có cơ hội xây dựng hệ thống kinh doanh của chính họ để họ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Sự than khóc thê lương kinh hoàng này là sự biểu-lộ đầy nổ lực cho cái điều mà cả thế giới sẽ thực hiện khi hệ thống “Ba-by-lôn lớn” của Sa-tan sụp đổ trước lúc Chúa Cứu Thế trở lại thiết lập vương quốc Ngài (Kh 18:17-19).
“Con tàu tổ quốc” này dù có đẹp đẽ, sang trọng và đem lại nhiều hiệu quả lợi lộc cho người ta cỡ nào đi chăng nữa, nhưng khi Chúa quyết định nó phải chìm thì không ai có thể ngăn cản được sự ra tay của Ngài. Khi Nữ hoàng Vít-to-ri-a tổ chức “Lễ Kỷ Niệm 60 năm” của mình vào năm 1897, Rudyard Kipling đã công bố bài thơ của ông là “Bài Ca Tiễn Biệt” với những lời cảnh-cáo nhẹ nhàng dành cho một quốc gia vĩ đại nào đó đã lấy làm kiêu-hãnh, tự-mãn về đế quốc rộng lớn của mình. Khi người ta đọc đến câu thơ thứ ba của bài thơ, chúng tôi tự hỏi không biết có ai trong s ố họ đã nghĩ đến sự mô-tả “con tàu tổ quốc” như trên của Ê-xê-chi-ên chăng:
Tiếng tăm lực lượng hải quân của chúng ta nay đâu còn nữa,
Cồn cát và vùng đất mũi đã chìm trong biển lửa xa xa!
Ô kìa! Mọi vẻ nguy nga, nét tráng lệ của chúng ta ngày ấy,
Dáng phù hoa đó nay đâu tìm thấy, mà chỉ còn như Ni-ni-ve, Ty-rơ!
Sự đoán-phạt dân các thành này, vẫn có thể sẽ dành cho chúng ta,
Người ơi! Xin chớ bỏ qua mà phải luôn ghi nhớ điều này!
4. Sự đoán phạt nhà cầm quyền Ty-rơ (Êxe 28:1-19)
Hình như có đến hai đối tượng khác nhau được đề cập đến trong những câu Kinh Thánh này: Một là kẻ thống trị Ty-rơ (c.1-10), và hai là vua Ty-rơ (c.11-19). Đoạn đầu tuyên-bố sự đoán-phạt thánh, trong khi đoạn sau chỉ là một bài ca-thương thì đúng hơn. Cả hai kẻ này đều phạm tội quá kiêu-căng ngạo mạn về sự khôn-ngoan và sự giàu có của mình, cả hai đều đã lạm dụng các đặc quyền đặc lợi của họ và họ còn xúc phạm Đức Chúa Trời nữa. Quả thực, kẻ thống trị Ty-rơ thậm chí còn tuyên-bố mình là thần! Tuy nhiên, quân ngoại xâm sẽ đến tiêu diệt kẻ thống trị Ty-rơ (c.7-10), trong khi đó chính Đức Giê-hô-va sẽ tự Ngài phán-xét vua Ty-rơ (c.16-19).
Kẻ thống trị kia còn được gọi là “loài người” (c.2), nhưng vua Ty-rơ thì được gọi là “một chê-ru-bim được xức dầu” (c.14). Có một vài sinh viên đã nhận diện kẻ thống trị Ty-rơ chính là nhà cầm quyền của thành phố khi Nê-bu-cát-nết-sa đến xâm lược, đồng thời, họ cho rằng vua Ty-rơ là Sa-tan, kẻ thù của Đức Chúa Trời và cũng là của dân Do-thái, nó chính là kẻ đã tiếp thêm sức mạnh cho kẻ thống trị Ty-rơ và dùng kẻ ấy để hoàn thành những mục tiêu xấu xa của nó. [66]
• Sự đoán-phạt kẻ thống trị Ty-rơ (Êxe 28:1-10):
Vấn đề ở đây là sự kiêu-ngạo, một thứ tội-lỗi mà Đức Chúa Trời rất ghét (Ch 6:16-17). Kẻ thống trị này đã kiêu-ngạo về sự khôn-ngoan và sự giàu có của mình (Êxe 28:3-5), và bởi vì sự kiêu-căng ngạo mạn này, hắn đã tự tôn mình lên là một vị thần. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã cho hắn thấy hắn chỉ là con người, vì kẻ thống trị Ty-rơ rồi đây sẽ bị giết chết giống như bao con người khác mà thôi.
Khi bạn đọc Kinh Thánh Cựu-ước, bạn sẽ gặp được nhiều trường hợp Đức Chúa Trời đoán-phạt các nhà cầm quyền kiêu-ngạo tương tự như vậy, chẳng hạn như Pha-ra-ôn, người đã được dân Ê-díp-tô tôn sùng như một vị thần (Xu 5:2), Nê-bu-cát-nết-sa (Đa 4:1-37), và Hê-rốt Ạt-ríp-ba (Công 12:1-25). Các nhà cầm quyền trên thế giới ngày nay chẳng thèm quan-tâm để ý gì đến Đức Chúa Trời cả và họ hành động như thể họ là những vị thần vậy, nhưng rồi đây tất cả họ sẽ bị tố cáo, bị phơi-bày ra và sẽ bị đoán-xét.
• Sự đoán phạt vua Ty-rơ (Êxe 28:11-19):
Sự tuyên-bố trước là một trong những lời “bởi vì…do đó” của Ê-xê-chi-ên (c.6-7), chẳng hạn như ở trong phân đoạn 25, 26, còn ở phần này thì chỉ chú trọng nói đến việc Đức Chúa Trời phán-xét vua Ty-rơ và hủy diệt người đi. Khi bạn đọc đến những câu này, bạn sẽ có cảm giác rằng “vị vua” này hoàn toàn hơn hẳn một con người bình thường và vua đã làm những điều được mô-tả như là việc của Sa-tan làm vậy.
Việc Sa-tan muốn thống trị các quốc gia và cai-trị trên các nhà lãnh đạo của các quốc gia đó thì thật là rõ ràng như được ghi trong (ISu 21:1-20) và trong (Đa 9:1-27), còn trong (Mat 4:8-10) thì khẳng định Sa-tan vốn có quyền hành tác động và chi phối các quốc gia.
Việc sử dụng từ “Chê-ru-bim” trong (Êxe 28:4,16) gợi ý rằng chúng ta đang nói đến một tạo vật giống như thiên-sứ, còn có một thực tế nữa là vua “đã được lập lên trên hòn núi thánh của Đức Chúa Trời” (c.14). Điều này nghe có vẻ như có liên-quan rất nhiều với sự mô-tả trong Ês 14:12-32.
Ban đầu Sa-tan vốn là một thiên-sứ biết vâng-lời, thế nhưng sau đó nó đã chống nghịch lại Đức Chúa Trời và dẫn đến sự nổi loạn nhằm chiếm đoạt ngai của Ngài. Phần kế tiếp mô-tả vẻ đẹp hoàn mỹ của vua và kể tên ra 9 loại ngọc quý đã tạo nên vẻ đẹp đó. Tất cả những viên ngọc này cũng được thấy g ắn trên tấm yếm che ngực của thầy tế-lễ thượng phẩm Do-thái (Êxe 28:17-20).
Điều này gợi rằng tại “Ê-đen, vườn của Đức Chúa Trời” và trên “núi thánh của Ngài”, thì người này đã nhận những nhiệm-vụ đặc biệt của chức thầy tế-lễ và ông phải có trách-nhiệm thi hành chúng cho Đức Chúa Trời. Những các khung để dát và gắn các viên ngọc kia được làm bằng thứ vàng tốt nhất. Sự kiêu-căng tự phụ và tham vọng ích kỷ cá nhân của vua khiến vua phạm-tội nên Đức Chúa Trời đã loại bỏ vua. Khi sự mô-tả thứ nhất đề-cập đến kẻ thống trị Ty-rơ, chắc chắn là muốn ám chỉ đến ác thần của thời đại này, là Sa-tan, kẻ thù của Đức Chúa Trời.
Kẻ thống trị Ty-rơ, được ma quỷ xúi giục và tiếp sức nên người đã nhúng tay vào việc làm ăn kinh doanh cùng với nhiều việc vi phạm khác nữa (Êxe 28:16), vì người tự coi mình là thần (c.2). Người đã làm ăn buôn bán bất-lương như câu 18 đã nói: “bởi sự buôn bán ngươi không công-bình” (NIV). Sa-tan kiêu-ngạo: “Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Đấng Rất Cao” (Ês 14:14), và nó còn hứa với Ê-va rằng: “rồi ngươi sẽ trở nên như Đức Chúa Trời” (Sa 3:5 NKJV). Kẻ thống trị Ty-rơ chấp nhận lời đề-nghị giúp đỡ của Sa-tan là điều dẫn người đi đến sự sụp đổ, giống như Sa-tan đã đi đến sự sa ngã vậy.
Nhưng trong công việc của kẻ cai trị Ty-rơ, hắn đã bị Sa-tan làm cho ô uế và bị hủy diệt. Các quốc gia lấy làm kinh hãi trước sự đoán-phạt dành cho kẻ thống trị Ty-rơ và thành phố của hắn, nhưng họ không hề nghĩ đến việc chính Sa-tan đã ở đằng sau những thành công của thành phố này, còn Đức Giê-hô-va thì đang ở phía sau sự hủy diệt thành. Điều này nhắc chúng ta nhớ đến công-vụ của các sứ-đồ trong Lu 10:1-24. Đức Chúa Trời dùng các sứ-đồ để chữa lành người bệnh, đuổi quỷ, và tuyên bố sứ-điệp về thiên-đàng; còn Chúa Giê-xu thì nhìn thấy họ chiến thắng Sa-tan khiến nó bị sa xuống từ trời (Lu 10:18-19).
5. Những lời Chúa hứa với Y-sơ-ra-ên (Êxe 28:20-26)
Sau khi ban phát sứ-điệp về sự đoán-xét, Ê-xê-chi-ên thỉnh thoảng lại “đánh rơi” một sứ-điệp hy-vọng dành cho con dân của Đức Chúa Trời đang bị đau khổ tổn thất. Mặc dù Đức Giê-hô-va đã trừng phạt chính dân sự của Ngài bằng việc phá hủy thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ như vậy, nhưng Ngài vẫn luôn luôn là Đức Chúa Trời của họ, và Ngài vẫn hằng quan-tâm yêu-thương họ, “nhưng nơi nào tội-lỗi đã gia thêm, thì ân-điển lại càng dư dật hơn nữa” (Rô 5:20).
• Sự đoán phạt Si-đôn (Êxe 28:20-24):
Si-đôn là một thành phố đối thủ của Ty-rơ, nằm cách Ty-rơ khoảng 25 dặm về hướng bắc.Thường thì hai thành phố này hay được cùng đề-cập đến một lượt (Ês 23:1-4; Giê 47:4; Gios 3:4), thế nhưng ở đây Si-đôn đã được nói đến một mình rằng nó sẽ phải bị Đức Chúa Trời đoán phạt. [67]
Người dân Si-đôn rất khinh miệt người Do-thái và thường gây rối họ, nhưng giờ đây kẻ đối địch này sắp bị kết liễu, “Vừa lúc ấy, sẽ không có chà chuôm hay châm chích, gai gốc hay đau đớn cho nhà Y-sơ-ra-ên, trong những kẻ ở chung quanh dân ấy, và đãi dân ấy cách khinh dể. Bấy giờ chúng nó sẽ biết ta là Chúa Giê-hô-va” (Êxe 28:24). Ê-xê-chi-ên đã ngạc nhiên thốt lên rằng Đức Chúa Trời sẽ được vinh-hiển qua sự hủy diệt thành này (c. 22 Êxe 39:12-13). Sao Đức Chúa Trời lại có thể được vinh-hiển bởi sự tàn sát như thế? Bởi vì điều ấy sẽ bày-tỏ sự thánh-khiết của Ngài ra qua việc trừ bỏ các thần giả dối và trừng phạt tội-lỗi. Gươm giáo của quân lính Ba-by-lôn sẽ giết chết rất nhiều người còn hễ ai trốn thoát khỏi thành ắt sẽ phải chết bởi những tai họa, dịch bệnh thường xảy ra kèm theo các cuộc tàn sát trong thời chiến tranh.
• Sự tập hợp dân Y-sơ-ra-ên lại (Êxe 28:25-26):
Một trong những chủ-đề chính của sách này là sự giải cứu các phu-tù Do-thái thoát khỏi Ba-by-lôn và trong tương lai họ được tập họp lại hiệp nhất để lập lại quốc gia. Sau khi dân Do-thái bị lưu-đày 70 năm cùng với cuộc xâm lược Ba-tư của người Ba-by-lôn, Đức Chúa Trời đã đã khiến cho vua Si-ru cho phép họ trở về xứ mình xây dựng lại Đền Thờ (IISu 36:22-23; Exo 1:1-11). Nhưng sự trở về của gần 50.000 người (Exo2:64-65) vào năm 538-637 TC. đã không ứng-nghiệm hoàn toàn những lời-hứa trong Ê-xê-chi-ên, vì họ còn có một sự ứng dụng vào thời kỳ sau rốt.
Chắc chắn những người Do-thái còn sống sót ấy trở về với Xô-rô-ba-bên đã không được “ở đó yên ổn” (Êxe 28:26) bởi vì họ phải đối diện với đủ thứ vấn-đề rắc rối mà người dân trong xứ đã gây cho họ. Vả lại, Ê-xê-chi-ên đã đề-cập đến “những kẻ” tức là nhiều quốc gia khác chứ không phải chỉ nói đến Ba-by-lôn là nước mà dân Do-thái đã bị lưu đày tại đó.
Thì giờ sẽ đến khi Đức Chúa Trời kêu-gọi tuyển dân của Ngài tập họp lại tại trong chính đất nước của họ, Ngài sẽ phán-xét họ, thanh tẩy họ, và thiết lập vương quốc vinh-hiển của Ngài (Xa 10:8-12; Xa 12:9-13:1; Mat 24:31). Đức Chúa Trời đã ban xứ Pa-lét-xtin (Palestine) cho Áp-ra-ham và các hậu tự của ông (Sa 13:14-18; Sa 15:7-17) và Ngài đã thực hiện lặp lại lời-hứa này với Gia-cốp (Sa 28:10-15; Sa 35:12; Thi 105:8-11).
Người Do-thái được làm chủ xứ này bởi vì Đức Chúa Trời đã ban nó cho họ, nhưng họ được sở hữu xứ với điều kiện họ phải vâng-theo những điều khoản quy định trong giao-ước mà Đức Chúa Trời đã lập với họ. Bởi vì họ nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời cho nên họ đã bị Ngài đuổi ra khỏi xứ sống kiếp lưu đày ở Ba-by-lôn.
Ê-xê-chi-ên sẽ nói rõ hơn về tương lai của Y-sơ-ra-ên trong phân đoạn 37-48, nhưng lời phán hứa ngắn ngủi này chắc chắn đã đem đến sự khích-lệ cho những người dân sót trung-tín trong đức-tin giữa vòng đám dân Do-thái bị lưu đày, tương tự như vậy, lời-hứa chắc chắn về sự tái-lâm của Đấng Christ c ũng sẽ đem lại sự khích-lệ cho con dân Ngài ngày nay. [68]
9. Ê-DÍP-TÔ SẼ SỤP ĐỔ! (Êxe 29:1-32:32)
Ê-díp-tô (Ai-cập) là quốc gia thứ 7 nằm trong “vòng tua đoán-phạt” của Ê-xê-chi-ên đã gây sự chú ý nhiều hơn những quốc gia khác mà tiên-tri đã đề-cập. Nhiều thế kỷ trước đó, Ê-díp-tô đã bắt dân Do-thái phải chịu đựng vô vàn cực khổ của thân phận người nô-lệ, và thậm chí sau khi đất nước Do-thái bị phân chia, người Ê-díp-tô như cái gai trước mắt người Do-thái và là một nước đồng minh không thể tin-cậy được chút nào.
Nhưng người Do-thái đã bắt chước tổ-phụ mình là Áp-ra-ham (Sa 12:10-20) và ông bà tổ-tiên mình (Xu 14:10-12; Xu 16:1-3; Dân 11:4-9:18; 14:1-5) trong việc này, hễ khi nào có xảy ra cuộc khủng hoảng gì, thì họ lại vội vàng quay sang tìm người Ê-díp-tô nhờ giúp đỡ. Người Do-thái dù đã rời khỏi Ê-díp-tô đã lâu, thế nhưng họ vẫn cứ còn lý tưởng hóa những gì họ đã nếm trải và họ đã quên đi kiếp sống nô-lệ với những công việc cực nhọc nặng nề ở đó trước đây.
Dĩ nhiên là, khi vua Sa-lô-môn cưới công chúa Ê-díp-tô, ông đã thiết lập được mối quan-hệ làm ăn với Ê-díp-tô, nhưng sau khi ông băng hà thì những sợi dây ràng buộc trong mối quan-hệ này cũng đã đứt theo. “Khốn thay cho những kẻ xuống Ê-díp-tô đặng cầu cứu”, là lời Ê-sai đã cảnh cáo trong thời kỳ khủng hoảng quốc gia (Ês 31:1 NKJV; Ês 30:1-2), và ông cũng đã đưa ra sự cảnh cáo tương tự như vậy cho con dân Đức Chúa Trời ngày nay. Con cái Chúa nào lo tìm kiếm cho mình sự giúp đỡ của thế-gian thay vì tin-cậy nơi Đức Chúa Trời, thì người đó ắt sẽ phạm những tội giống như người Do-thái thời ấy đã phạm.
Bốn phân đoạn đầu chứa đựng 7 sứ-điệp (còn gọi là những lời tiên-tri) của Đức Chúa Trời tỏ cho Ê-xê-chi-ên để ông ban phát cho người Ê-díp-tô và những phu-tù Do-thái. Câu “có lời Đức Giê-hô-va phán” hoặc với câu tương tự, đã tạo nên nét khác biệt của từng sứ-điệp. Sáu trong 7 sứ-điệp có kèm theo niên đại (riêng sứ-điệp thứ ba không có – Ês 30:1-19), do đó chúng ta có thể gắn chúng vào bảng niên đại của sách. Mỗi sứ-điệp trình-bày một bức tranh – hoặc một ẩn-dụ – nhưng đều nói về sự đoán-phạt đang đe dọa Ê-díp-tô.
1. Quái vật bị giết chết (Êxe 29:1-16)
Sứ-điệp thứ nhất này được ban ra nhằm ngày mồng 7 tháng Giêng năm 587 TC., cách khoảng 7 tháng trước khi Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt. Ê-xê-chi-ên đã xây mặt ông hướng về Pha-ra-ôn Hốp-ra (Hophra), là người nắm quyền cai-trị Ê-díp-tô từ năm 589 TC-570 TC (Giê 44:30). Bức tranh ở đây là cảnh giết chết một con quái vật ở biển.[69]
• Tội-lỗi của Pha-ra-ôn (Êxe 29:1-7): Đức Giê-hô-va ví sánh Hốp-ra với con quái vật đang dầm mình dưới nước sông và nó tuyên bố sông đó là chỉ dành cho nó mà thôi. Dòng sông Nin (Nile) rất cần thiết cho sự sống của Ê-díp-tô và người ta xem nó như một vị thần; còn Hốp-ra thì tuyên-bố rằng chính ông ta đã tạo ra dòng sông này cho nên nó phải thuộc về ông ta.
Trong lời tiên-tri này, Pha-ra-ôn được ví như một con cá sấu hung dữ, đang trong tư thế bảo vệ canh giữ các dòng nước của xứ gồm sông Nin và tất cả các kênh rạch và nó sẵn sàng gây chiến, tấn công bất cứ ai dám thách thức với những lời tuyên-bố của nó.
-Tội-lỗi chính của ông là tội kiêu-ngạo (c.1-5), tội giành lấy công-trạng cho mình về những điều do Đức Chúa Trời làm nên. Bất cứ tạo vật vĩ đại nào đang trực thuộc Ê-díp-tô thì thảy đều do Đức Chúa Trời ban cho bởi các ân-điển Ngài chứ không phải do Pha-ra-ôn và dân chúng của ông tạo nên.
Thế nhưng Đức Chúa Trời đã chẳng hề cảm kích con cá sấu đó và cũng chẳng sợ hãi nó chút nào! Ngài tuyên-bố sẽ tóm được nó, sẽ móc lưỡi cao vào miệng nó, và kéo nó cùng với nhiều cá dưới sông đu bám vào mình nó (tức là dân Ê-díp-tô) đi vào đồng vắng, chúng nó sẽ bị phơi nắng tại đó cho đến chết. Chúng sẽ trở thành thức ăn cho thú đồng và cho lũ chim chuyên ăn xác chết đã thối. Các Pha-ra-ôn người Ê-díp-tô thường rất sốt sắng chuẩn bị sẵn lăng mộ cho mình, thế nhưng Hốp-ra đã được chôn cất giống như một con vật bị chết vô thừa nhận vậy. Thật hổ thẹn biết bao cho một người từng tuyên-bố mình là vị thần vậy mà giờ đây chỉ được đem chôn như thế!
-Tội thứ hai của Hốp-ra là ông đã phản bội Y-sơ-ra-ên (c.6,7). Ê-díp-tô giống như cây sậy yếu ớt không đáng tin-cậy. Đáng lý ra dân Do-thái đừng nên bao giờ đi tìm sự giúp đỡ của Ê-díp-tô, nhưng khi họ đã làm như vậy thì người Ê-díp-tô ít nhất cũng phải giữ lời của mình. Dân Ê-díp-tô nổi tiếng là dân hay hứa mà không giữ lời (IIVua 18:20-21; Ês 36:6).
Chính Ê-díp-tô xúi giục Giu-đa phá vỡ hiệp-ước của họ với Ba-by-lôn, và hành động ngu xuẩn này của vua Sê-đê-kia đã khiêu khích Ba-by-lôn tấn công đánh chiếm Giê-ru-sa-lem. Trong lúc Nê-bu-cát-nết-sa tấn công vảo Giê-ru-sa-lem, Giu-đa đã đến thương lượng đàm phán với Ê-díp-tô nhờ Ê-díp-tô đưa quân binh tới giải vây Giê-ru-sa-lem, và chỉ trong một thời gian ngắn, quân Ba-by-lôn đã phải tháo chạy khỏi Giê-ru-sa-lem vì chúng còn phải đối phó với Ê-díp-tô. Tuy nhiên, mưu-đồ kế hoạch này đã không có kết quả như ý. Cư-dân thành Giê-ru-sa-lem vui-mừng khi thấy sự vây hãm thành đã chấm dứt, thế nhưng, Đức Chúa Trời cảnh-cáo họ rằng quân thù của họ sẽ sớm quay lại Giê-ru-sa-lem để hoàn thành nốt công việc của chúng (Giê 34:21-22; Giê 37:8).
• Cuộc xâm lăng của Nê-bu-cát-nết-sa (Giê 29:8-12):
Đây là lời tiên-tri nói về việc quân Ba-by-lôn sẽ kéo đến Ê-díp-tô để làm ứng-nghiệm Lời Đức Chúa Trời và hủy diệt con người cùng các loài thú và tàn diệt xứ (Giê 43:8-13:46). Dân Ê-díp-tô hoặc bị giết hoặc bị tản lạc đi khắp nơi và xứ sẽ bị “thành ra đồng vắng hoang vu” (Êxe 29:10). Cụm từ: “từ tháp Sy-e-nê cho đến bờ cõi Ê-thi-ô-bi ” của người Ê-díp-tô trong câu 10 tương đương với cụm từ “từ Đan cho đến bờ cõi Beersheba” của dân Y-sơ-ra-ên, ở đây có ý muốn nói toàn bộ quốc gia từ đầu chí cuối đất nước.
Bản dịch NIV dịch câu này là “từ Migdol (miền bắc) cho đến Aswan (miền nam)”. [70] Nê-bu-cát-nết-sa sẽ thực hiện cuộc càn quét xứ thật tàn khốc, và cảnh hoang vắng tiêu điều này sẽ kéo dài 40 năm (c.11-13). Nê-bu-cát-nết-sa tấn công Ê-díp-tô vào năm 568-567 TC. và đã làm ứng-nghiệm lời tiên-tri đó.
• Sự thương-xót của Đức Chúa Trời (Êxe 29:13-16): Sau đó 40 năm, Đức Chúa Trời sẽ: (1) thâu nhóm những người Ê-díp-tô bị tan lạc lại trong xứ họ và cho phép họ lập quốc, nhưng (2) vương quốc của họ sẽ không có được sự cường thịnh và vinh-quang như trước đây nữa. Nó sẽ trở nên một “nước yếu hèn” mà thôi. Dân Do-thái sẽ nhận ra rằng Ê-díp-tô không đáng tin-cậy nữa và họ không nên đặt lòng tin vào Ê-díp-tô (hãy đối chiếu Êxe 28:24 với Êxe 29:16).
Xin lưu ý câu “chúng nó sẽ biết rằng ta là Chúa Giê-hô-va” được lặp đi lặp lại 3 lần trong sứ-điệp này (c.6,9,16). Câu này là một trong những sự xác-quyết chủ yếu trong sách Ê-xê-chi-ên và được dùng khoảng 60 lần. Đức Chúa Trời bày-tỏ thuộc-tính của Ngài qua sự đoán-phạt cũng như qua nhiều phước hạnh mà Ngài đã ban, và đôi khi những sự đoán-phạt của Ngài lại thường thu hút sự chú ý của chúng ta nhiều hơn một cách nhanh chóng.
2. Giá phải trả (Êxe 29:17-21)
Lời tiên-tri thứ hai này được ban ra vào ngày 26 tháng Tư năm 571 TC., là niên đại mới nhất được đề-cập trong sách Ê-xê-chi-ên . Tuy nhiên, tiên-tri Ê-xê-chi-ên đã kể nó vào đây bởi vì nó đề-cập đến Ê-díp-tô. Vì Nê-bu-cát-nết-sa [71] là đầy-tớ của Đức Giê-hô-va (Giê 25:9; Giê 27:6; Giê 43:19), nên ông ta xứng đáng nhận được công giá của mình; nhưng những chiến lợi phẩm chiến tranh có được từ cuộc xâm lược Ty-rơ vẫn không thể bồi thường đủ cho thì giờ và công sức mà đạo binh của ông đã bỏ ra vây hãm thành (từ “công khó” trong Êxe 29:18, bản dịch NIV dịch là “chiến dịch khó khăn”).
Họ đã bỏ ra 13 năm trời ròng rã xây đắp những công sự, thành lũy và tấn công Ty-rơ, thế nhưng họ vẫn không tài nào ngăn chặn được thành đã dùng lực lượng hải quân hùng hậu của nó chuyên chở các kho báu trong thành đi nơi khác. Thậm chí Ê-díp-tô còn trợ giúp Ty-rơ ngăn chặn cuộc tấn công và thuyên chuyển của cải của họ đi.
Đức Chúa Trời quả quyết rằng Ê-díp-tô sẽ phải trả tiền công cho đạo binh Ba-by-lôn là việc được phơi-bày ra rành rành trong suốt cuộc vây hãm. Đức Chúa Trời tể trị trên mọi quốc gia và Ngài có thể thực hiện ý muốn của Ngài mà không cần đến một sự hủy diệt nào hoặc sự miễn trừ hay trách-nhiệm giải trình của họ đối với Ngài.
Vào năm 568 TC., Nê-bu-cát-nết-sa xâm lược Ê-díp-tô, càn quét khắp xứ và cuối cùng để lại xứ trong cảnh hoang tàn đổ nát (c.8-12). Như vậy, Đức Chúa Trời đã trừng-phạt cả Ty-rơ lẫn Ê-díp-tô và Ngài đã ban thưởng cho Ba-by-lôn.
Nhưng tất cả điều này thì có can-hệ gì với dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời? Tiên-tri Ê-xê-chi-ên đã thêm một lời-hứa cho dân Do-thái (c.21), bảo-đảm với họ rằng rồi đây họ sẽ có thời kỳ phục hưng là lúc Ngài sẽ ban cho họ sức mới (nứt ra một cái sừng) để họ thực hiện những nhiệm-vụ đầy gian nan mới của mình.
Sau khi Mê-đi Ba-tư đánh chiếm Ba-by-lôn vào năm 539 TC., (Da 5), vua Si-ru hạ sắc chỉ cho phép dân Do-thái trở về quê hương mình tái thiết Đền Thờ (Exo 1:1-11). Có lẽ mọi việc mà các dân-tộc khác đã làm đều do Đức Chúa Trời cho phép để dân-sự Ngài có thể duy trì sự làm-chứng của họ và hoàn thành công tác mà họ đã được giao phó trên đất này.
Câu đề-cập đến sự mở miệng của Ê-xê-chi-ên không phải ám chỉ việc ông bị bắt buộc câm lặng (Êxe 3:26; Êxe 24:27), bởi vì sự đó đã được cất đi khi tin tức đến Ba-by-lôn cho biết rằng Giê-ru-sa-lem đã bị chiếm (Êxe 33:21-21). Đó là vào ngày mồng 8 tháng Giêng năm 585 TC., nhưng lời tiên-tri trong Êxe 29:17-21 đã được ban ra nhằm ngày 26 tháng Ba năm 571 TC., tức là cách sau đó 14 năm. Lời phán hứa với Ê-xê-chi-ên trong câu 21 cho biết rằng khi lời tiên-tri của ông được ứng-nghiệm và dân sót trở về xứ, thì họ sẽ lưu tâm đến những lời của Ê-xê-chi-ên và tìm thấy ích lợi trong các lời ấy.
Dân Do-thái ở Ba-by-lôn đã không tiếp thu sứ-điệp Ê-xê-chi-ên ban ra cách nghiêm túc (Êxe 33:30-33), nhưng ngày ấy sẽ đến và khi đó Đức Chúa Trời sẽ chứng-minh rằng ông đúng, “cuối cùng thì những lời của ngươi ắt sẽ được người ta lưu tâm đến” (Êxe 29:21 NLT).
Ê-xê-chi-ên sẽ trở lại với chủ-đề “quái vật” trong phân đoạn Êxe 32:1-16).
3. Cơn bão được loan báo (Êxe 30:1-19)
Lời tiên-tri thứ ba không kèm theo niên đại nhưng có lẽ nó được ban ra cùng khoảng thời gian với lời tiên-tri thứ hai. Nó mô-tả sự đoán-phạt Ê-díp-tô bằng sự tàn phá của cơn bão lớn làm rúng động cả mặt đất.
• Cơn bão đang đến (Êxe 30:1-5): “Ngày của Đức Giê-hô-va” (c.3) là câu Kinh Thánh chuyên dùng để mô-tả bất cứ thời kỳ đoán-phạt nào của Đức Chúa Trời, chẳng hạn như sự đoán-phạt Ê-díp-tô. Nó đặc biệt ám chỉ đến thời kỳ Đại Nạn trong những ngày sau rốt khi Đức Giê-hô-va trừng-phạt mọi dân mọi nước (Ês 65:17-19; Gios 1:1-3:21; So 1:1-2:15; Kh 6:1-19:21) trước khi Ngài trở lại thế gian thiết lập vương quốc của Ngài. Dù sự đoán-phạt này mang tính cục bộ, như là đối với Ê-díp-tô, hay mang tính toàn cầu, là xảy ra trong những ngày sau rốt, thì nó đều là công việc của Đức Chúa Trời và không ai có thể ngăn cản hay chế ngự nó. Đó là “ngày có mây, kỳ của các dân-tộc” (Êxe 30:3 NIV).
Trong thời kỳ cuối cùng, tất cả mọi dân mọi nước đều sẽ nếm biết thời kỳ thịnh nộ này, còn trong thời Ê-xê-chi-ên thì sự đoán-phạt sẽ giáng trên Ê-díp-tô và các nước đồng minh lân bang của nó, bao gồm có Ê-thi-ô-pi (là dân-tộc Cút (Cush) sống ở thượng nguồn sông Nin; xem c.5 và c.9), Phút (Put) -một dân-tộc người Phi Châu, dân-tộc Lút (Lud) - thuộc Ly-đi (Lydia), các dân-tộc A-ra-bi (Ả Rập), dân-tộc Cúp (Cub) - thuộc Li-bi-a (Libya), và “con cái của đất đồng minh” (c.5 NIV), có lẽ là những người Do-thái làm lính đánh thuê cho quân đội Ê-díp-tô (Êxe 27:10).
• Ê-díp-tô sẽ trở nên hoang vu (Êxe 30:6-9): Khi quân binh Ba-by-lôn đánh chiếm xứ, không chỉ có Ê-díp-tô sụp đổ mà các nước đồng minh của nó cũng sụp đổ theo. Những nơi này trước đó đã hoang vu, giờ đây chúng lại càng tệ hại hơn khi Ê-díp-tô bị tàn phá, thôn tính. Đức Chúa Trời sẽ tiêu diệt các đồng minh của Ê-díp-tô và nhóm ngọn lửa lên thiêu hủy nó. Dân Cút tưởng rằng họ sẽ được yên ổn, vì vậy Đức Chúa Trời sẽ sai các sứ-giả đến đánh thức họ nhưng tất cả đều đã quá muộn.
• Ba-by-lôn sẽ thực hiện công việc của Đức Chúa Trời (Êxe 30:10-12): Khi Đức Chúa Trời trừng-phạt Ê-díp-tô trong thời kỳ Y-sơ-ra-ên còn làm nô-lệ ở đó, Ngài đã tự làm công việc của mình; nhưng giờ đây Ngài sẽ dùng Nê-bu-cát-nết-sa như một đầy-tớ được Ngài chỉ định đi trừng-phạt những người Ê-díp-tô kiêu-căng ngạo mạn kia.
Đạo quân của Nê-bu-cát-nết-sa là những kẻ hết sức tàn ác dã man (Êxe 28:7), “hung bạo” (Êxe 31:12; Êxe 32:12) và chúng đi đến đâu giết người đến đó bỏ đầy xác chết khắp xứ. Nhưng những sự đoán-phạt của Đức Chúa Trời cũng sẽ ảnh hưởng đến các dòng sông và làm cho chúng trở nên khô cạn, là một tai ương lớn khiến cho đất cũng khô cằn theo.
• Không gì có thể thoát khỏi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời (Êxe 30:13-19): Ê-xê-chi-ên nói cho chúng ta biết điều sẽ xảy ra và xảy ra như thế nào, giờ đây ông còn bày-tỏ cho chúng ta hay mục đích lớn lao của cơn giận Ngài là gì. Hãy chú ý cụm từ “Ta sẽ ” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi Đức Chúa Trời mô-tả công việc đoán phạt của Ngài sẽ giáng trên cả miền Hạ Ê-díp-tô (Nốp -Noph- = Memphis; c.13) lẫn trên miền Thượng của nó là Pha-trốt (Pathros). Chỉ vì một vùng kiêu-ngạo tự-phụ, mà cả Ê-díp-tô sẽ phải sống trong nỗi kinh hoàng. Thành Xô-an (Zoan) chính là “Rameses”, thành Nô (No) là “Thebes” và thành Sin là “ Pelusium”. Những động từ cho thấy rõ ràng rằng Đức Chúa Trời muốn cho xứ trở nên hoang tàn hoàn toàn như: hủy diệt, làm cho hoang vu, đặt lửa, đổ cơn giận, bẻ gãy, ban ngày sẽ tối tăm. Dân Do-thái đã được dẫn đường đi ra khỏi Ê-díp-tô bời một đám mây chiếu sáng (Xu 13:21), còn dân Ê-díp-tô có lần đã từng bắt dân Do-thái làm nô-lệ thì giờ đây họ sẽ phải ở dưới đám mây tối tăm.
Kết quả sự đoán-phạt của Đức Chúa Trời là Ê-díp-tô kiêu-căng ngạo-mạn vốn hùng mạnh kia sẽ bị hủy diệt, và dân-tộc này sẽ không bao giờ bước lên được đỉnh cao như trước đây nữa. Những người trai trẻ sẽ bị giết còn những thanh thiếu nữ sẽ bị bắt làm nô-lệ, do đó thế-hệ tương lai của nó sẽ rơi vào tay của kẻ thù.
Các dân-tộc dường như không nhận biết rằng Đức Chúa Trời không bao giờ coi thường những gì xảy ra với dân-sự Ngài. Sự đoán-phạt bằng cách làm cho hoang vu mà Chúa đã khiến xảy ra cho Ê-díp-tô trước Cuộc Xuất Khỏi Ê-díp-tô chắc chắn đã dạy cho người Ê-díp-tô một bài học nhớ đời, vậy mà hình như họ đã quên đi bài học ấy. Trong việc chống đối các mục đích của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên, Ê-díp-tô đã mời gọi sự đoán-phạt của Ngài đến với chính quốc gia họ, vì Chúa luôn luôn giữ những lời phán hứa theo giao-ước của Ngài.
4. Các xương bị bẻ gãy (Êxe 30:20-26)
Lời tiên-tri này được ban phát ra nhằm ngày 29, tháng T ư năm 587 TC., và nó ám chỉ đến việc Đức Chúa Trời triệt hạ sức mạnh của đạo binh Ê-díp-tô. Cánh tay là biểu-tượng của sức mạnh, nhưng Đức Chúa Trời sẽ bẻ gãy cả 2 cánh tay của Pha-ra-ôn và khiến Ê-díp-tô trở nên bất lực bất năng. Sẽ không có ai quan-tâm đến việc nẹp lại mấy cái xương gãy hoặc thậm chí băng bó lại các vết thương để cho chúng mau lành.
“Sự bẻ gãy” thứ nhất xảy ra tại Cạt-kê-mít (Carchemish) vào năm 605 TC., khi Nê-bu-cát-nết-sa đánh bại Pha-ra-ôn Nê-cô (Necho) (IIVua 24:7; Giê 46:2). Cũng chính tại Cạt-kê-mít này, vua Giô-si-a tin kính Chúa đã bị giết. “Sự bẻ gãy” thứ hai diễn ra khi Pha-ra-ôn Hốp-ra quyết tâm giúp đỡ Giu-đa lúc Nê-bu-cát-nết-sa tấn công Giê-ru-sa-lem (Giê 37:5 đến hết đoạn). Với cả hai cánh tay đều “đã bị gãy”, Ê-díp-tô sẽ không thể cầm gươm được nữa, và điều đó đã làm cho cuộc chiến kết thúc. Pha-ra-ôn còn có biệt hiệu thứ hai là “Sức Mạnh Đanh Thép”, nhưng giờ đây biệt hiệu đó chẳng có giá-trị gì nữa.
Trong khi Đức Chúa Trời cho phép quân Ba-by-lôn bẻ gãy hai cánh tay của Ê-díp-tô, thì Ngài lại tăng thêm sức mạnh cho những cánh tay của người Ba-by-lôn! Thậm chí Ngài đã đặt chính gươm của Ngài vào tay Nê-bu-cát-nết-sa! Dân Ê-díp-tô hoặc sẽ bị giết chết hoặc sẽ bị tan tác khắp nơi và đất nước họ sẽ bị bỏ phế hoan vu. Câu “Chúng nó sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va” ở đây đã được lặp lại hai lần (Êxe 30:25-26).
Trong thời gian Y-sơ-ra-ên lưu trú tạm thời tại Ê-díp-tô, Pha-ra-ôn không hề công nhận có Đức Giê-hô-va, nhưng giờ đây dân-tộc ông ta chắc chắn đã nhận biết được rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người Hê-bơ-rơ quả thật là Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thần.
5. Cây bị đổ xuống (Êxe 31:1-18)
Niên đại của sứ-điệp này là vào ngày 21 tháng Sáu năm 587 TC., và hình ảnh trong sứ-điệp này là một cây lớn đã bị chặt xuống. Trong Kinh Thánh, một cái cây đôi khi được dùng ví sánh với một dân-tộc hoặc một đế quốc nào đó (Êxe 17:1-24; Đa 4:1-37). Suy luận của tiên-tri đã trình-bày ở đây rất đơn giản. Ê-díp-tô kiêu ngạo về sự vĩ đại của nó, tuy nhiên nó không vĩ đại bằng A-si-ri, trong khi đó A-si-ri đã bị quân Ba-by-lôn đánh chiếm. Kết luận: vậy thì, nếu Ba-by-lôn có thể đánh bại A-si-ri thì chắc chắn nó cũng đánh bại được Ê-díp-tô.
• Sự vĩ đại của A-si-ri (c.1-9): Ê-díp-tô tự-cao tự đại về sự vĩ đại của nó, vì thế, Ê-xê-chi-ên đề nghị Pha-ra-ôn hãy nêu tên một dân-tộc nào đó so sánh với Ê-díp-tô, “Ai có thể được sánh ngang với Ê-díp-tô?” Ê-xê-chi-ên hỏi, và sau đó ông ông trả lời cho câu hỏi ấy của mình: “Chỉ có người A-si-ri mà thôi!”. Người Ê-díp-tô rất hài lòng, sung sướng khi họ thấy dân-tộc họ đứng ở vị-trí rất cao.
Những cây bách mọc hoang ở Li-ban được người ta biết đến là nhờ chất lượng và chiều cao của nó. Dân A-si-ri cũng giống như một trong những cây hương bách đó, họ gây ấn-tượng với các dân khác bởi họ đang ở đỉnh cao của sự phát triển. Được nuôi dưỡng nhờ vào rất nhiều sông nước tượng-trưng cho các quốc gia đang ở dưới sự thống-trị của A-si-ri phải lo cống nộp để làm giàu cho nó (Chim trời và thú đồng tìm thấy sự an-toàn cho chúng ở cây này cũng được tượng-trưng cho các quốc gia đó).
Đức Giê-hô-va cho phép người A-si-ri tr ở nên vĩ đại hùng cường bởi vì Ngài đã sắm sẵn công việc cho nó làm. Vương quốc Y-sơ-ra-ên phía Bắc nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời, vì vậy Ngài dùng quân A-si-ri để trừng phạt họ và đánh chiếm xứ của họ (722 TC.). Trong thời vua Ê-xê-chia, Đức Chúa Trời dùng quân A-si-ri để sửa phạt vương quốc Giu-đa, nhưng Ngài đã không cho phép A-si-ri đánh chiếm Giê-ru-sa-lem (Ês 37:1-38; IIVua 19:1-36; IISu 32:1-33). Đức Chúa Trời tể-trị trên tất cả các dân-tộc và thậm chí Ngài có thể dùng đến cả dân ngoại để hoàn tất những mục đích của Ngài.
Không có quốc gia nào có thể ví sánh nổi với A-si-ri. Bằng những lời cường điệu hóa đầy thi-vị, Ê-xê-chi-ên nói rằng ngay cả cây hương bách và những cây khác mọc trong Vườn Ê-đen hóa ra cũng chẳng có giá-trị gì khi chúng đứng cạnh A-si-ri. Nhưng chính Đức Giê-hô-va đã khiến cho A-si-ri trở nên đẹp đẽ, vĩ đại (c.9), dẫu vậy người A-si-ri vẫn không hề nhận biết hoặc hiểu ra sự thật này.
• A-si-ri sụp đổ (c.10-14): Như chúng ta đã thấy từ trước, Đức Chúa Trời rất ghét sự kiêu-ngạo và Ngài hay xử phạt nó thật nặng. Ngài đã trừng phạt sự kiêu-ngạo của Giu-đa và Sa-ma-ri (Êxe 16:1-63), Am-môn, Mô-áp, Ê-đôm (Êxe 25:1-17), đặc biệt là Ty-rơ (Êxe 23:3,26-28), đối với A-si-ri cũng vậy, và cuối cùng Ngài đã đoán-phạt Ê-díp-tô. Nói về tính hợp lý của sự đoán-phạt này, thì có niềm hy-vọng nào cho một nước yếu kém hơn như Ê-díp-tô? Đức Chúa Trời sẽ gọi “một đấng mạnh của các nước” (c.11) đến hạ bệ A-si-ri và vị này dĩ nhiên chính là Nê-bu-cát-nết-sa (Êxe 30:11).
Cây này rất cao và rất vững vàng, vậy mà cuối cùng nó cũng sẽ bị chặt xuống phơi mình trên đất cho bị hư mục đi mà thôi. Các nước sẽ từ bỏ A-si-ri và tìm kiếm sự trợ giúp của các quốc gia khác. Từ trên đỉnh cao chót vót, A-si-ri rồi đây ắt sẽ bị rơi xuống tận dưới đáy sâu nhất của vực thẳm (chốn âm-phủ).
Từ vị-trí của kẻ có sức mạnh vĩ đại, vương quốc này sẽ biến thành một nước hèn yếu nhất, và từ sự giúp đỡ cho đời sống của nhiếu quốc gia khác, giờ đây nó lại phải nếm biết sự chết và sự hư-nát. A-si-ri đã từng được người ngưỡng-mộ và ngợi-khen tán tụng, nhưng bây giờ chuyện đó không còn nữa mà chỉ còn lại sự nhạo báng chế giễu và sự xem thường mà thôi.
Đức Chúa Trời bắt buộc phải dạy cho A-si-ri một bài học (c.14), rằng hễ những ai tự-tôn tự-đại chính mình thì cuối cùng ắt sẽ bị hạ bệ rất nhục nhã, một bài học mà các quốc gia và mọi cá nhân ngày nay đều phải học cả (Ch 29:23; Ês 2:12; Ma 4:1; Mat 23:11-12; IPhi 5:5-7).
• Sự mai táng A-si-ri (c.15-18): Tương tự Ty-rơ trong Ê-xê-chi-ên đoạn 28 và Ba-by-lôn trong Ê-sai đoạn 14, giờ đây A-si-ri cũng sẽ bị đem xuống tận dưới đáy nơi ở của thế giới tội ác cùng với tất cả các nhà thống-trị và các dân-tộc nào đã nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời.
Khi A-si-ri sụp đổ, một làn sóng kinh sợ đã lan tràn khắp các nước khác, nhưng vua A-si-ri được điều này an-ủi : ông chằng khác gì so với các nhà thống trị đã đi trước ông. Tất cả họ đều cùng ở chung một nơi.
Trong câu 18, Ê-xê-chi-ên cho biết rằng nhà thống trị Ê-díp-tô “Trong những cây của vườn Ê-đen, thì ngươi là giống ai về sự vinh-hiển tôn-trọng? Ngươi cũng sẽ bị xô xuống cùng với các cây của Ê-đen trong nơi vực sâu của đất, ngươi sẽ nằm chính giữa những kẻ không chịu cắt bì, với những kẻ đã bị gươm giết. Pha-ra-ôn và hết thảy dân chúng người sẽ như vậy, Chúa Giê-hô-va phán” (NKJV).
Người Ê-díp-tô rất coi trọng phép cắt-bì của họ, nhưng nhà thống trị họ thì lại sẽ phải nằm ở chốn âm-ty chung với những kẻ chết từ các dân-tộc không chịu cắt-bì. Thật đáng hổ thẹn biết bao! (Êxe 28:10). Vua Ê-díp-tô tưởng mình cùng với vương quốc của mình to lớn vĩ đại như A-si-ri vậy, do đó Đức Chúa Trời đã khiến cho vua phải bị hổ nhục bằng cách đặt vua chung với người A-si-ri vào trong thế giới của người chết.
6. Quái vật bị sập bẫy (Êxe 32:1-16)
Niên đại của lời tiên-tri này là vào ngày mồng 5 tháng Ba năm 585 TC., tức hai tháng sau khi những phu-tù Do-thái nhận được tin Giê-ru-sa-lem sụp đổ (Êxe 33:21-21). Chủ-đề “quái vật” này được nói đến trong Êxe 29:1-16, nhưng Ê-xê-chi-ên lại đề-cập nó lần nữa nhằm đưa ra thêm một vài lẽ-thật thuộc-linh nữa.
• Quái vật đã bị bắt (c.1-10): Đây là “bài ca-thương chính thức” dành cho vua Ê-díp-tô là người tự cho rằng mình là con sư tử lớn nhưng trong mắt Đức Chúa Trời thì vua chỉ là một con cá sấu mà thôi. Pha-ra-ôn đã quẫy đập trong nước tạo nên một cảnh tượng gây chú ý, nhưng tất cả những gì vua làm được cũng chỉ là sục bùn lên khiến nước bị vấy bẩn mà thôi, và còn tạo ra lắm vấn-đề bởi sự bất-tuân với Đức Chúa Trời.
Trong phân đoạn 29, Đức Chúa Trời đã tóm được “con cá sấu” Ê-díp-tô bằng một lưỡi câu, nhưng giờ đây Ê-díp-tô trở nên quá yếu hèn, do đó chỉ cần bủa lưới cũng đã dễ dàng bắt được con cá sấu đó rồi (Êxe 12:13; Êxe 17:20; Êxe 19:8 ). Đức Chúa Trời ắt sẽ bắt con cá sấu đó lôi lên trên mặt đất bỏ nó ở đó cho đến chết, xác của nó sẽ bị những con chim ăn thịt xác thối đói mồi bay nhào xuống rỉa ăn ngấu nghiến, theo như phân đoạn Exe 29:3-5 đã cho chúng ta biết.
Nhưng Ê-xê-chi-ên còn đưa ra thêm vài ba hình ảnh nữa: đất sẽ bị đẫm ngập trong huyết, còn bầu trời thì bị sự tối tăm bao phủ (c.6-8). Những hình ảnh này khiến chúng ta nhớ lại tai vạ thứ nhất và thứ chín đã xảy ra trước khi dân Y-sơ-ra-ên xuất khỏi Ê-díp-tô, đó là sự hoá nước thành máu và trời đất trở nên tối tăm suốt 3 ngày đêm (Xu 7:20-24; Xu 10:21-29). Theo Kh 8:8-9, sẽ có một sự đoán-phạt tương tự xảy đến trong thời kỳ Đại Nạn.
Sự mô-tả các dấu hiệu xuất hiện trên bầu trời khiến chúng ta nghĩ đến ngày của Đức Giê-hô-va trong tương lai đã được ghi nhận trong (Gios 3:1-17; Am 5:18-20; Mat 24:1-51). Thật lá ý nghĩa khi nói rằng những biến-cố trong quá-khứ đã cất đi bóng đêm trước đó của họ, và giờ đây bóng đêm ấy lại xuất hiện với sự sụp đổ của Ê-díp-tô. Đó chính là một sự diễn tập thử về những sự đoán-phạt sẽ xảy ra trong ngày sau rốt.
Lại một lần nữa, Ê-xê-chi-ên giải thích rằng tương tự như sự sụp đổ của A-si-ri đã gây nên làn sóng kinh hoàng khắp các quốc gia (Êxe 30:16; Êxe 27:35; Êxe 28:19), thì bây giờ sự sụp đổ của Ê-díp-tô cũng đã làm cho các dân các nước khiếp sợ như vậy (Êxe 32:9-10). Nhưng liệu người ta có học tập từ kinh-nghiệm này và trở lại cùng Đức Chúa Trời không? Không, họ sẽ lại tiếp tục phạm-tội và nổi loạn chống nghịch lẽ-thật của Ngài mà thôi.
• Quái vật bị trừng phạt (c. 11-15): Ở đây Ê-xê-chi-ên đã nhắc lại lời tiên-tri là gươm của Ba-by-lôn sẽ bỏ Ê-díp-tô lại trong cảnh hoang tàn đổ nát và những sự kiêu hãnh cùng dáng vẻ phù hoa nguy nga tráng lệ đầy tính phô trương của Ê-díp-tô rồi đây sẽ bị tiêu tan tất cả. Thậm chí sự sống của các súc vật trên đất cũng sẽ bị hủy diệt hết y như tai vạ đã xảy ra cho Ê-díp-tô trong thời Môi-se vậy.
Sẽ không còn sẵn người hay con vật nào làm việc trên đất và kéo nước nữa, các dòng suối và các kênh lạch sẽ không còn bị khuấy đục, sông nước sẽ “chảy như dầu” mà không gì có thể ngăn chặn được dòng chảy của chúng. Điều này tương phản với hành vi tính cách của Pha-ra-ôn được mô-tả trong câu 2.
Thông thường, dòng chảy của dầu là bức tranh diễn-tả sự bình-an và sự thịnh vượng có được là nhờ vào các ơn phước của Đức Chúa Trời, nhưng trong trường hợp này, nó lại có ý nói lên sự bình-an có được bởi có cơn đoán phạt của Chúa. Sẽ không còn con người hay súc vật nào ở đó khuấy bùn lên và làm ô uế sông nước nữa. Hình ảnh này cũng nhắc chúng ta nhớ rằng sự thất bại tiêu tan của Ê-díp-tô ắt sẽ đem lại sự bình-an cho “các trũng nước” của các quốc gia.
7. An táng xác chết quái vật (Êxe 32:17-32)
Đây là lời tiên-tri thứ 7 và và vì không thấy có nó có niên đại, cho nên chúng ta cho rằng nó đã được ban phát ra cách hai tuần kể từ sau sứ-điệp kế trước nó tức vào ngày 17 tháng Tư năm 585 TC. Nó được tiếp theo cách thức của Êxe 31:15-18 và nó mô-tả người Ê-díp-tô đang đi xuống âm-phủ, là nơi ở của người chết. Ê-xê-chi-ên được Chúa chỉ bảo hãy than khóc cho đoàn dân đông đã bị giết bởi gươm của quân Ba-by-lôn.
Bức tranh thể hiện sự khủng khiếp và rùng rợn nhất khi các dân-tộc khác chào đón Pha-ra-ôn cùng đạo quân của ông, sau đó các dân-tộc ấy chế giễu, nhạo báng họ lúc họ đến nơi sâu thẳm nhất của vực sâu là chốn âm-ty này.
Chúng ta có thể diễn đạt lại những lời của các dân ấy như vầy: “Ủa! Ngươi tưởng ngươi đẹp đẽ nhất và hùng mạnh không ai bằng kìa mà? Giờ thì hãy nhìn vào ngươi kìa! Ngươi tự-tôn tự-đại mình là một dân-tộc đã chịu phép cắt-bì, vậy mà bây giờ ngươi lại đang nằm giữa những kẻ không chịu cắt-bì đã chết kia. Giống như chúng tôi, ngươi cho rằng mình là vô địch, thế mà giờ đây ngươi lại đang cùng hội cùng thuyền với chúng tôi trong sự chết và sự hư-nát. Ngươi sẽ chẳng còn được ngự trên ngai vàng nữa đâu mà là ngươi đang ở trong mồ mả! Giường ngủ của ngươi chỉ là một cái huyệt mả mà thôi!”.
Ê-xê-chi-ên nêu tên một số dân-tộc, lớn có nhỏ có, nhưng họ thảy đều vui vẻ tiếp đón Pha-ra-ôn cùng thần dân của ông ta đã xuống tới âm-phủ. Đó là dân Asshur (c.22), cũng gọi là A-si-ri; dân Ê-lam (c.24) một khu vực thuộc I-ran; dân Mê-si-aếc (Meshach) và Tu-banh (c.26) có lẽ được tọa lạc tại Tiểu Á (Asia Minor); và dân Ê-đôm với dân Si-đôn là những người hàng xóm láng giềng của Y-sơ-ra-ên (c.29-30). Tương tự vua A-si-ri trước đây (Êxe 31:16), giờ đây Pha-ra-ôn ắt sẽ thấy tất cả các dân này, sẽ được yên-ủi rằng chẳng phải chỉ mỗi mình ông ta đã bị đánh bại và bị giết chế mà thôi.
Khi chết rồi thì ai cũng như ai; và đúng như John Donne đã nhắc nhở chúng ta, khi tiếng chuông lễ tang rung lên, “là tiếng chuông dành cho anh đó!”. Sẽ không có “vua chúa và thường dân” ở trong nơi của người chết nữa, và chúng ta không thể vào nơi đó trong sự bình-an và an-ninh nếu không có đức-tin đặt nơi Đức Chúa Giê-xu Christ, “Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? Cái nọc sự chết là tội-lỗi, sức mạnh tội-lỗi là luật-pháp. Nhưng, tạ-ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta” (ICôr 15:55-57 NKJV).
THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP
Phân đoạn 33 và 48 của sách Ê-xê-chi-ên tập trung vào niềm hy-vọng của Y-sơ-ra-ên như đã được tìm thấy trong lời phán hứa mà Đức Chúa Trời đã hứa với tuyển dân của Ngài. Trong phân đoạn 33, Đức Chúa Trời nhắc nhở tiên-tri Ngài rằng người canh giữ phải làm nhiệm-vụ của mình là canh gác bảo vệ và thông báo cho dân sự biết mọi tin tức qua công việc phải luôn luôn chăm chú quan sát xem thử có chuyện gì sẽ xảy ra và lắng tai nghe ngóng xem Đức Chúa Trời đang nói gì.
Trong các phân đoạn kế trước, Đức Chúa Trời tiết-lộ sự đoán-phạt của Ngài sẽ giáng trên chính dân Ngài và giáng trên các dân-tộc láng giềng của họ. Ê-xê-chi-ên đã nói cho các phu-tù ở Ba-by-lôn biết thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị quân Ba-by-lôn đánh chiếm, xứ sẽ bị cướp bóc, và đền thờ thì bị phá hủy.
Nhưng trong phần khép lại của sách này, Ê-xê-chi-ên có được diễm phúc loan-báo về một tương lai sáng lạng dành cho con dân Đức Chúa Trời. Thành thánh và đất hứa rồi đây sẽ được phục-hồi (Êxe 37:1-39:29), và ắt sẽ có một đền thờ mới cho vinh-quang Chúa lưu trú (Êxe 40:1-48:35). Ê-xê-chi-ên đã có lần nhìn thấy sự vinh-quang đó lìa khỏi đền thờ bị ô uế (Êxe 11:23), và ông cũng nhìn thấy sự trả lại một đền thờ mới (Êxe 43:4-5; Êxe 44:4). Vương quốc được hứa bởi các tiên-tri chắc chắn sẽ được thiết lập, và Đấng Mê-si-a Con Đa-vít sẽ trị-vì từ Giê-ru-sa-lem.
Một số sinh-viên thích hiểu Êxe 33:1-48:35 theo lối duy tâm hoặc tượng-trưng, thích áp dụng những sự mô-tả “một cách thuộc linh” này vào hội thánh ngày nay hơn là áp dụng vào Y-sơ-ra-ên trong tương lai theo nghĩa đen. Nhưng nếu chúng ta hiểu những lời tiên-tri của Ê-xê-chi-ên theo nghĩa đen ở một mức-độ nào đó, thì chúng ta cần phải làm ngay điều gì để thay đổi phương pháp tiếp cận của chúng ta và chuyển sang hiểu lời của Ê-xê-chi-ên một cách tượng-trưng?
Như tiến-sĩ David Cooper đã nói: “Khi hiểu biết Kinh Thánh thật rõ ràng thì sẽ tạo nên lương-tri, do đó chúng ta không cần phải hiểu thêm về điều gì khác nữa”. Chúng ta phải đối diện với sự thật rằng cả 2 phương pháp tiếp cận theo cách hiểu tượng-trưng và hiểu theo nghĩa đen – đều trình-bày những vấn-đề cần được làm sáng tỏ, nhưng nếu chúng ta muốn hiểu những lời tiên-tri của Ê-xê-chi-ên về mặt giá-trị thì dường như chúng chứa đựng ít vấn-đề hơn.
Hơn nữa, việc nhìn thấy được sự ứng-nghiệm những lời tiên-tri này theo nghĩa đen để hoàn thành mục tiêu mà Đức Chúa Trời đã hoạch định cho chúng, là sự khích-lệ đối với dân Y-sơ-ra-ên. Có một số dân-tộc nếu như họ cũng đã từng-trải qua bất kỳ những sự thống khổ nào như dân Y-sơ-ra-ên đã trải qua, và nếu họ cướp đi niềm hy-vọng của tuyển dân Đức Chúa Trời thì điều đó sẽ làm cho sự chịu đựng nỗi thống khổ của họ trở thành vô nghĩa.
Phương pháp tiếp cận trên của chúng ta sẽ thừa nhận rằng những lời tiên-tri này đã được ứng-nghiệm theo nghĩa đen và Y-sơ-ra-ên rồi đây họ sẽ gặp được Đấng Mê-si-a và họ sẽ được dự phần vào vương quốc vinh-hiển theo như đã được hứa bởi Ê-xê-chi-ên cùng với các tiên-tri khác. Lúc ấy, chúng ta cũng sẽ tìm tòi áp dụng những bài học thuộc-linh cơ-bản như đã được dạy dỗ trong các phân đoạn Kinh Thánh này, áp-dụng những lẽ-thật như đã từng được áp-dụng cho dân của Đức Chúa Trời vào hội thánh chúng ta ngày nay.
10. NHỮNG LỜI CẢNH BÁO VÀ LỜI HỨA TỪ NGƯỜI CANH GIỮ (Êxe 33:1-35:15)
Thật đúng khi người ta cho rằng điều quan-trọng nhất khi bàn về các đấng tiên-tri là họ không những nhìn thấy trước những gì sẽ xảy ra hoặc nhận thức ra được vấn đề gì đã xảy ra mà họ còn có khả năng nhìn thấu suốt bên trong của thực chất vấn-đề, sự vật sự việc. Nhận thức được vấn-đề gì đã xảy ra của nhà tiên-tri là điều rất quan-trọng bởi vì nó sẽ giúp chúng ta giải quyết được với quá-khứ, hiểu rõ hơn những gì Đức Chúa Trời đã làm và lý-do tại sao Ngài lại làm như vậy.
Khả năng nhìn thấy trước những gì sẽ xảy ra giúp chúng ta tránh được rắc rối và có niềm hy-vọng cho tương lai. Còn khả năng nhìn thấu suốt bên trong của thực chất vấn-đề sẽ giúp chúng ta hiểu được rõ hơn chính bản thân mình và những người chung quanh mình, đồng thời chúng ta cũng sẽ hiểu được mình cần phải làm gì để trở thành những con dân tốt hơn thực hiện ý chỉ của Đức Chúa Trời.
Trong những phân đoạn Kinh Thánh này, Ê-xê-chi-ên đã áp dụng 3 khả năng trên để phơi-bày tội-lỗi ra, để phân tích lịch-sử và ban ra những lời-hứa cho tương lai. Ông bàn đến vấn-đề tội-lỗi của dân Do-thái (Êxe 33:1-33), tội-lỗi của các vị lãnh đạo của họ (Êxe 34:1-31), và tội-lỗi của dân Ê-đôm láng giềng của họ (Êxe 35:1-15).
1. Tội-lỗi của dân-tộc (Êxe 33:1-33)
Phân đoạn Kinh Thánh này có liên hệ trở lại với một vài sứ-điệp kế trước của Ê-xê-chi-ên và cùng với các sứ-điệp ấy đem đến những lẽ-thật cần thiết cho sự nhận biết Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, nhận biết về tình trạng của họ, và nhận biết những điều Đức Chúa Trời muốn họ phải làm. Bạn hãy tham khảo Êxe 3:15-27 đoạn 5 và đoạn 6’ Êxe 11:14-21; Êxe 18:1-32; Êxe 20:1-8; Êxe 24:25-27.
Đúng là cho dù Đức Giê-hô-va đã hướng dẫn đầy-tớ Ngài phối hợp những lẽ-thật thuộc-linh chính yếu này trong một sứ-điệp duy nhất để không ai có thể nói rằng, “Tôi đâu có nghe Chúa bảo chúng tôi làm gì đâu!”. Ê-xê-chi-ên đã xoay hẳn ánh sáng của Lời Chúa về phía dân-tộc (Êxe 33:1-20), là những người sòn ở lại tại Giu-đa và Giê-ru-sa-lem (c.23-29), và cả những phu-tù ở Ba-by-lôn (c.21-22,30-33), ông cũng đã phơi-bày ra những điều kín giấu trong lòng họ và trong đời sống họ.
• Toàn thể dân-tộc (Êxe 33:1-20): Mọi người Do-thái từng sống trong thành có tường bao bọc thảy đều hiểu Ê-xê-chi-ên đang nói đến điều gì khi ông đề-cập tới người canh giữ trên tường thành, vì những người canh gác này đóng vai trò rất quan-trọng trong việc phòng vệ thành. Người canh giữ trung-tín phải luôn dán mắt theo dõi quan sát xem xem sẽ có gì xảy ra và kịp thời cảnh-báo khi họ nhìn thấy quân thù đang kéo đến gần. Nếu người canh giữ lanh lợi, nhạy bén và có tinh thần cảnh giác cao độ, lại thêm có tinh thần trung-tín nữa, đồng thời dân chúng biết vâng-lời người, thì chắc chắn sự sống của họ sẽ được cứu. Còn nếu người canh giữ thiếu tinh thần cảnh giác, bất cẩn, hoặc dân chúng thờ ơ, lơ là, thì thành phố họ ắt hẳn sẽ bị vây hãm và mọi người chắc sẽ phải chết.
Đức Chúa Trời kêu-gọi Ê-xê-chi-ên làm người canh giữ của Ngài (Êxe 3:19-21) và nhiệm-vụ của Ê-xê-chi-ên là lắng nghe tiếng Chúa cảnh-cáo và rao-báo lời Ngài ra cho mọi người biết. Người canh giữ trung-tín luôn có đôi tay sạch sẽ, còn người canh giữ bất-trung sẽ có đôi tay nhơ bẩn ô uế bởi máu những người đã chết do người canh giữ bất-trung ấy đã không tuyên lời cảnh-cáo họ.
Ê-sai ví sánh những người canh giữ bất-trung giống như kẻ mù, giống loài chó câm không biết sủa, và họ chỉ là những kẻ ham ngủ mà thôi (Ês 56:10). Ê-xê-chi-ên là một người canh giữ trung-tín đã ban phát sứ-điệp của Đức Chúa Trời ra cho dân Do-thái tại Ba-by-lôn và cho cả những người quay về ở Giu-đa.
Sứ-điệp đó là: “Hãy ăn-năn, hãy xây bỏ tội-lỗi mình!”.Từ “xây bỏ” được dùng 8 lần trong phân đoạn Kinh Thánh này và nó diễn tả “sự ăn-năn hối cải”. Những từ Kinh Thánh dịch là “hãy ăn-năn” có nghĩa đơn giản dễ hiểu là “hãy thay đổi quyết định của bạn”, nhưng sự thay đổi quyết định này còn có liên-quan đến sự biến đổi đời sống. Nếu một kẻ trộm thực sự ăn-năn tội lỗi mình đã phạm thì kẻ trộm ấy ắt sẽ hoàn trả lại cho người ta những gì hắn đã lấy. Những kẻ nói dối sẽ thừa nhận sự dối gạt của mình và cầu-xin người ta tha-thứ cho, còn những kẻ say sưa thì sẽ thôi không uống rượu nữa.
Vấn-đề được bàn đến trong Ês 33:10-20 nhắc chúng ta nhớ đến Ês 18:1-32 chỗ Ê-xê-chi-ên lý giải về trách-nhiệm của loài người trước mặt Đức Chúa Trời. Dân Do-thái đã đổ lỗi cho thế-hệ tiền bối của mình về những gì đã xảy ra cho dân-tộc, nhưng Ê-xê-chi-ên cho biết rõ ràng rằng Đức Chúa Trời sẽ không trừng-phạt con cái Ngài vì cớ tội-lỗi của ông bà tổ-tiên họ. Mỗi người phải chịu trách-nhiệm về tội-lỗi của chính mình chứ không được đổ tội cho người khác.
Nhưng Ês 33:10 gợi ý có một số người Do-thái hiện giờ đang cảm thấy sự đau khổ vì tội-lỗi họ giống như gánh nặng oằn trên đôi vai họ “đang dần dần vơi đi” từng ngày. Tuy nhiên, cảm xúc hối-hận này vẫn không đủ khiến cho họ ăn-năn thật.
Chúng ta phải biết phân biệt rõ ràng chính xác giữa sự hối tiếc, sự ân hận, và sự ăn-năn thật. Hối tiếc là hành động của lý trí; bất kỳ lúc nào chúng ta nhớ lại những việc mình đã làm, thì chúng ta sẽ tự hỏi: “Sao mình lại làm thế?”. Ân hận bao gồm cả cảm xúc lẫn lý-trí, chúng ta cảm thấy ghê tởm và đau khổ, nhưng chúng ta vẫn không thay đổi quyết định của mình. Còn sự ăn-năn thật bao gồm lý-trí, tâm tư cảm xúc và cả ý chí. Chúng ta thay đổi suy nghĩ về tội-lỗi của mình và đồng ý với điều Đức Chúa Trời nói về chúng. Chúng ta cảm thấy ghê tởm chính bản thân mình vì những gì mà mình đã làm. Chúng ta quyết tâm từ bỏ tội-lỗi và trở lại cùng Đức Chúa Trời cầu xin Ngài thương-xót.
Khi Phi-e-rơ nhớ lại tội chối Chúa của mình, ông đã ăn-ăn và cầu xin Ngài tha-thứ. Khi Giu-đa nhớ lại tội phản Chúa Giê-xu Christ, ông chỉ trải qua cảm xúc ân hận mà thôi, nên ông đã bỏ đi ra ngoại treo cổ tự vẫn, “Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối-cải, và sự hối-cải dẫn đến sự rỗi linh-hồn, về sự đó người ta chẳng hề ăn-năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết” (IICôr 7:10 NKJV). Nếu tội-nhân từ bỏ tội-lỗi mình và trở lại cùng Đức Chúa Trời trong đức-tin, thì người đó sẽ được tha-thứ. Sứ-điệp của Phao-lô là “sự ăn-năn đối với Đức Chúa Trời, và đức-tin trong Đức Chúa Jêsus là Chúa chúng ta” (Công 20:21), và sứ-điệp này ngày nay vẫn có giá-trị đúng đắn.
Người Do-thái lại hành động giống như trước đây (Êxe 18:21-29), là họ tranh luận cới Ê-xê-chi-ên và quả quyết rằng Đức Chúa Trời không công-bằng vì Ngài đã làm những việc bất công. Điều này cho thấy họ tự chứng-minh cho chính họ là họ đã không thực sự ăn-năn chút nào, bởi vì tội-nhân có lòng ăn-năn thì ắt sẽ không biện-luận tranh cãi với Lời Đức Chúa Trời. Dân Do-thái muốn nói thế này: “Đức Chúa Trời dùng những quả cân không chuẩn trên các cái cân của Ngài! Đúng là những quả cân của Ngài dùng đã bị liệt!”. Nhưng những lời lên án của họ chống báng lại Đức Chúa Trời là hoàn toàn sai. Như Ê-xê-chi-ên đã nói cho họ biết (c.21-29), rằng không phải đường lối của Đức Chúa Trời sai mà là chính đường lối của họ sai! Trách-nhiệm của họ đã chứng-minh Đức Chúa Trời không ai mà là chính họ sai!
• Những người dân bản xứ (Êxe 33:23-29): Quân Ba-by-lôn đã bỏ lại một số dân cư nghèo khổ trong xứ để họ chăm sóc đồng ruộng và dọn dẹp những sự đổ nát (Giê 52:16), còn những người dân nào sống sót còn lại sau cuộc vây hãm thành thì đều bị bắt dẫn sang Ba-by-lôn. Đức Chúa Trời có nghe được những điều m ấy người dân này muốn nói rằng: “Chúng ta có quyền đối với xứ này bởi vì Đức Chúa Trời đã sắm sẵn nó cho chúng ta ở kia mà!”.
Xét cho cùng, khi Áp-ra-ham mới có một mình [72] thì Đức Chúa Trời đã ban cho ông xứ này, còn bây giờ dân sự sống sót kia trước đây từng sống đông đúc tại xứ này khá lâu. Có một điều rất thực tế là việc họ còn được sống sót đã chứng-minh rằng họ là những người vô cùng đặc biệt đối với Đức Chúa Trời. Do đó, họ có thể đòi xứ này lại cho mình bởi vì những người sở hữu xứ trước đây giờ thì đã chết hoặc bị bắt đi lưu-đày cả rồi.
Họ quên rằng Giê-rê-mi đã giải quyết xong vấn-đề phân loại tuyển dân Đức Chúa Trời thành 2 nhóm gồm có nhóm những phu-tù ở Ba-by-lôn và nhóm những người dân còn sống sót tại Giu-đa. Theo như ký-thuật trong Giê-rê-mi đoạn 24, thì Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho Giê-rê-mi biết có 2 giỏ trái vả, một giỏ thì đầy những trái vả tốt còn giỏ kia thì chỉ toàn là vả xấu. Những trái vả tốt tượng-trưng cho các phu-tù ở Ba-by-lôn, là những dân sót sẽ được Đức Chúa Trời dùng để mai này xây dựng lại đền thờ và phục-hưng dân tộc.
Còn những trái vả xấu ngụ ý về vua Sê-đê-kia và những kẻ lãnh đạo ở Giê-ru-sa-lem đã bất tuân với Đức Chúa Trời qua việc họ phá vỡ hiệp ước với Ba-by-lôn. Rõ ràng những người dân còn ở lại tại Giu-đa đã không được Đức Chúa Trời xem là “đặc biệt” hay “được chọn”. [73]
Nhưng Áp-ra-ham là một người công-bình, còn những người dân ở lại Giu-đa thì sống đời sống coi thường bất chấp luật pháp Đức Chúa Trời! Trong Êxe 33:25-26, Ê-xê-chi-ên nêu lên một số tội mà họ đã phạm như: tội ăn huyết (Phuc 12:16,23; Lê 17:10), thờ hình-tượng (Xu 20:4-6), sát nhân (c.13), dựa vào bạo lực (“các ngươi cứ cầm chắc gươm mình”, KJV); làm những việc tồi tệ ghê tởm, chẳng hạn như là phạm-tội tà dâm (c.14).
Thế mà, thay vì được thừa kế xứ và trở nên giàu có, thì đằng này dân sự đã bị giết bởi gươm, bởi thú dữ trong đồng hoang, hoặc bởi ôn dịch hay xảy ra kèm theo các cuộc chiến tranh (Êxe 33:27; Êxe 5:12; Êxe 7:15; Êxe 12:16; Êxe 14:12-21). Thay vì xứ sẽ trở thành sản nghiệp là phần thưởng dành cho họ, thì nó lại trở nên hoang vu và nó được vui hưởng sự nghỉ ngơi theo luật Sa-bát dành cho nó (Lê 26:32-35,43; IISu 36:21).
• Những phu-tù Ba-by-lôn (Êxe 33:21-22,30,33): Đạo quân Ba-by-lôn đã phóng hỏa đốt thành Giê-ru-sa-lem vào ngày 14 tháng Tám năm 586 TC., và khoảng 5 tháng sau ngày mồng 8 tháng Giêng năm 585 TC có một người tị-nạn chạy đến Ba-by-lôn báo tin buồn rằng Giê-ru-sa-lem và đền thờ đã hủy diệt. Điều này xảy ra y như những lời tiên-tri của Ê-xê-chi-ên và chứng-minh rằng ông đúng là tiên-tri của Đức Chúa Trời (Phuc 18:20-22).
Vào đêm trước khi Ê-xê-chi-ên nhận được tin tức này, ông có cảm biết trước được Đức Chúa Trời đang đặt tay Ngài trên ông, cho nên ông biết Ngài sắp tiết-lộ điều gì đó đặc biệt cho ông. Việc nghe được tin này đã mở miệng Ê-xê-chi-ên để ông không còn câm nữa như khi ông không rao ra sứ-điệp của Đức Chúa Trời (Êxe 3:26-27). Giờ đây ông có thể trò chuyện đàm đạo với dân chúng và thực hiện chức-vụ “mục-sư” giữa vòng họ khác hẳn với việc rao-giảng tiên-tri của ông. Sau khoảng suốt 13 tháng liền, Ê-xê-chi-ên đã bị bắt buộc phải câm, nhưng giờ đây ông được tự-do nói thoải mái. Chắc chắn những người phu-tù rất chú ý điều này và họ tò mò muốn biết sắp có điều gì xảy ra với ông.
Nhưng Ê-xê-chi-ên biết rõ rằng nhưng người đến nhà ông để nghe ông nói chuyện kh ông phải vì họ ngưỡng mộ chức-vụ của ông hay để làm theo điều họ nghe được. Trong ngày ấy, họ đi gặp những người khác, họ hẹn gặp nhau dưới ánh nắng nóng bức và cùng nhau thảo luận về chức-vụ của Ê-xê-chi-ên (c.30).
Thậm chí họ còn mời gọi người ta cùng với họ đến nghe vị diễn-giả này nói chuyện nữa! Nhưng việc đến nghe Lời Đức Chúa Trời không phải là việc quan-trọng đối với họ, “chúng nó nói với nhau, mỗi người cùng anh em mình rằng: Xin hãy đến nghe lời ra từ Đức Giê-hô-va là thể nào!” (c.30 NLT).
Thực sự họ không quan-tâm đến lẽ-thật của Đức Chúa Trời hoặc trách-nhiệm cá nhân của họ. Tất cả những gì họ muốn làm là họ cập nhật được tin tức này kịp lúc để họ có thể kiếm tiền! Họ lắng nghe diễn-giả của Đức Chúa Trời nói nhưng họ lại từ chối làm theo những gì Ngài bảo họ làm (Gi 1:22-25; Thi 78:36-37; IGi 3:18). Họ coi Ê-xê-chi-ên như là người mua vui cho họ biết hát những bài hát về tình yêu, chứ không phải là một người khích-lệ họ đang ra sức truyền đạt, chuyển tải tình yêu-thương của Đức Chúa Trời đến cho họ.
Vụ việc này có thể đã làm nản lòng Ê-xê-chi-ên, nhưng Đức Chúa Trời có ban thêm một sứ-điệp đức-tin và hy-vọng là: Ngày ấy sẽ đến khi sự ứng-nghiệm Lời tiên-tri của Đức Chúa Trời xảy ra thì những người dân vô tâm vô tình kia sẽ phải tin rằng quả nhiên đã có một nhà tiên-tri thật ở giữa vòng họ. Điều này muốn nói đến đặc quyền cá nhân (nghe Lời Chúa), trách-nhiệm cá nhân (làm theo Lời Ngài), và trách-nhiệm giải trình cá nhân (sẽ bị phán-xét bởi chính Lời mà họ đã nghe, (Gi 12:48).
Cơ-đốc nhân ngày nay tìm kiếm Lời Chúa một cách dễ dàng không chỉ tại các buổi nhóm họp ở hội thánh, mà còn ở các tài-liệu văn phẩm, ở trên mạng internet, trên đài phát thanh và đài truyền hình, qua các băng đĩa video và băng cassette, qua các đĩa CD, và như thế chúng ta sẽ phải trả lời rất nhiều khi chúng ta gặp Chúa. Điều quan-trọng tại Toà Án Xét Xử của Đấng Christ sẽ không phải ở vấn-đề chúng ta đã nghiên-cứu hoặc học hỏi Kinh Thánh nhiều bao nhiêu, mà là ở chỗ chúng ta có lòng kính-sợ Chúa và vâng-lời Ngài nhiều cỡ nào.
2. Tội-lỗi của các nhà lãnh đạo (Êxe 34:1-31)
Ê-xê-chi-ên đã từng phơi-bày tội-lỗi của các nhà lãnh đạo của dân-tộc (phân đoạn 22), nhưng giờ đây ông lại quay lại đề-tài này bởi vì nó có liên-can đến vận-mệnh tương lai của Y-sơ-ra-ên. Sứ-điệp này mặc dù đã được ứng-dụng vào tình thế hiện tại của Y-sơ-ra-ên trong thời Ê-xê-chi-ên, nhưng nó cũng còn được úng-dụng cho thời tương lai của dân-tộc nữa khi mà Đức Giê-hô-va thâu nhóm dân-sự bị tản lạc của Ngài lại trong xứ họ. Sứ-điệp này chắc chắn sẽ đem đến niềm hy-vọng cho những phu-tù khi họ nhận ra Đức Chúa Trời không hề lìa bỏ họ mà ngược lại Ngài luôn chăm-sóc họ như người chăn chiên chăm-sóc bầy chiên của mình vậy.
Khi Đức Chúa Trời nói về “bầy chiên”, tức là Ngài muốn ngụ ý đến dân Y-sơ-ra-ên (Êxe 34:31), “Chúng tôi là dân-sự Ngài, là bầy chiên của đồng cỏ Ngài” (Thi 100:3; Thi 77:20; Thi 78:52; Thi 80:1). Môi-se nhìn thấy Y-sơ-ra-ên như một bầy chiên (Dân 27:17; IVua 22:17), cả Giê-rê-mi cũng thấy như vậy (Giê 13:17), và Xa-cha-ri cũng thế (Xa 10:3). Chúa Giê-xu thì nói đến “những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên” (Mat 10:6; Mat 15:24).
Bởi vì Chúa Giê-xu tự-bảo chính Ngài là “Người Chăn Chiên Hiền Lành” và là “cửa của chuồng chiên” (Gi 10:7,11), hình ảnh bầy chiên này đã biến thành hình ảnh hội thánh (Công 20:28-29; IPhi 5:2-3). Trong tiếng Anh, từ “Pastor” (Mục-sư) xuất phát từ tiếng La-tinh có nghĩa là “người chăn chiên”.
Lợi dụng, bóc lột và đối-xử tồi tệ với bầy chiên (Êxe 34:1-10): Các vua và các quan chức trong bộ máy chính quyền đã được đề-cập đến ở đây là “những người chăn chiên” (IISa 7:7-8; Thi 78:70-71; Ês 56:10-11; Ês 63:11; Giê 23:9-11; Giê 25:18-19). Trách-nhiệm của họ là chăm sóc dân sự, bảo vệ họ, và xem thử họ cần gì thì đáp-ứng cho họ. Thế nhưng, các nhà lãnh đạo của vương quốc Giu-đa lại đối-xử tồi tệ và bóc lột lợi dụng nhân dân bởi vì họ chỉ biết nghĩ đến bản thân họ mà thôi. Họ bòn rút sữa chiên, ăn sữa đông (phó-mát làm từ sữa ) của chiên, hớt lông chiên làm thành áo choàng len, và còn giết mổ chiên để ăn thịt, trong khi đó họ lại chẳng chăm-sóc được bầy chiên và không đáp ứng được những gì chiên cần. Hễ khi nào các nhà lãnh đạo lấy đi thứ gì đó của dân chúng nhưng lại không ban lại cho họ thứ gì hết tức là các nhà lãnh đạo đó đã lợi dụng, bóc lột họ. Nhưng các nhà lãnh đạo chân-chính thì không hề lợi dụng bóc lột dân-sự thậm chí họ còn hy-sinh cho dân chúng nữa là đằng khác.
Chúa Giê-xu là Người Chăn Chiên mẫu mực, làm gương điển hình cho việc hy-sinh cả mạng sống Ngài cho bầy chiên của Ngài (Gi 10:10).
Các nhà lãnh đạo không những lợi dụng bóc lột bầy chiên mà họ còn đối-xử với chiên rất tồi tệ như là họ hay bỏ bê không quan-tâm đáp ứng những gì chiên cần. Bầy chiên luôn cần có sự chăm-sóc thường xuyên, còn các nhà lãnh đạo điều hành công việc chính sự quốc gia không phải vì cớ chiên mà chỉ vì lo cho lợi ích cá nhân của họ mà thôi.
Họ chẳng hề lo quan-tâm chăm-sóc chiên chút nào hết. Nếu tội tư lợi của các nhà lãnh đạo đã là xấu xa như vậy, thì tội bỏ bê không làm tròn phận-sự của họ lại càng tồi tệ biết bao.Họ không quan-tâm chăm-sóc những chiên bệnh và chiên bị thương, họ cũng chẳng lo tìm kiếm những chiên lạc mất để đem chúng về.
Họ chỉ biết cai-trị chiên bằng bạo lực và bằng những hành động tàn ác.
Ê-xê-chi-ên đã lên án họ 3 lần về việc họ để cho chiên bị tản lạc, để cho bầy chiên tan tác mỗi nơi một con vì không người chăn, chiên sẽ không được bảo vệ khiến dễ dàng bị thú dữ tấn công (Giê 50:6). Bởi vì các nhà lãnh đạo đã đưa ra và thực hiện những quyết định ích kỷ, thiếu khôn-ngoan, cho nên họ đã làm cho dân-tộc sụp đổ và bầy chiên thì bị tan tác khắp nơi.
• Sự cứu nguy bầy chiên (Êxe 34:11-22): Có còn niềm hy vọng nào cho dân-sự bị tản lạc của Đức Chúa Trời chăng? Vâng, vẫn còn, bởi vì Chúa sẽ đến giải cứu bầy chiên Ngài thoát khỏi những kẻ áp bức họ và thâu họ về với chính Ngài. Trong thời Ê-xê-chi-ên, Đức Chúa Trời đã đem dân Ngài trở về từ Ba-by-lôn, nhưng bức tranh này chắc chắn sẽ được nới rộng đường viền của nó ra hơn nữa bởi vì Chúa có nói về “nhiều quốc gia” (c.13). Ê-xê-chi-ên hứa rằng trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời sẽ thâu nhóm bầy chiên Ngài lại từ “mọi nơi mà chúng nó đã bị tan lạc” (c.12) và dẫn đưa chúng trở về quê hương xứ sở của chúng là nơi Ngài sẽ ở cùng Đấng Chăn Chiên của chúng (Mat 24:31).
Thật khó để ứng-dụng lời tiên-tri này cho sự trở về của dân sót sau cuộc lưu-đày ở Ba-by-lôn, và thậm chí còn khó hơn nhiều khi chúng ta “thuộc-linh hoá” nó và ứng-dụng nó vào hội thánh ngày nay. Ê-xê-chi-ên đang nói về sự đoàn tụ của Y-sơ-ra-ên trong tương lại theo nghĩa đen, một đề tài luôn được đề-cập thường xuyên trong sách Ê-xê-chi-ên này (Êxe 11:17; Êxe 20:34; 41-42; Êxe 28:25; Êxe 36:24; Êxe 37:21-25; Êxe 38:8). Lời-hứa về việc thâu nhóm này là một phần trong giao-ước của Đức Chúa Trời đã lập với dân Do-thái (Phuc 30:1-10), và Chúa là Đấng luôn luôn giữ lời-hứa Ngài (Ês 11:11-12; Giê 23:3-8; Mi 2:12; Mi 4:6-8). Sau khi Chúa thâu hiệp dân-sự Ngài lại, Ngài sẽ xem xét để biết chắc trong số họ không còn những “chiên mập” đã từng hành hại, bóc lột, hiếp đáp những chiên yếu, đã từng lấy sừng mình húc chúng dạt sang một bên rồi quậy đục nước uống của chúng, sau đó bước những bước đi nặng nề lang thang xuống nơi đồng cỏ của chiên.
Cụm từ “chiên mập (béo tốt) và mạnh” trong Êxe 34:16 muốn ám chỉ đến các nhà lãnh đạo đã thừa cơ trục lợi của nhân dân. Chớ hiểu “chiên đực và dê đực” (c.17) này giống như “chiên và dê” mà Kinh Thánh đã mô-tả một cách hình-tượng ở Mat 25:31-46, bởi vì trong thời Kinh Thánh, bởi vì đó là lối nói theo phong tục tập quán thông thường của người chăn chiên hễ nói đến bầy gia súc là nói về cả chiên lẫn dê.
• Sự bảo vệ bầy chiên (Êxe 34:23-31): Đây là lời tiên-tri nói rất rõ ràng về các biến-cố sẽ xảy ra trong tương lai, bởi vì số dân sót trở về đã không có được người lãnh đạo tôn-kính chăm-lo cho họ, cũng chẳng có “những cơn mưa phước hạnh” đổ xuống xứ họ. Tình hình kinh tế lúc ban đầu của họ rất khó khăn, mùa màng thất thu, những người dân nơi khác đến chiếm xứ họ lúc bây giờ thường hay chống đối, gây rối họ.
Nhưng khi Y-sơ-ra-ên được hiệp lại trong xứ vào thời kỳ sau rốt, thì Đấng Mê-si-a sẽ cai-trị họ và làm Vua Đấng Chăn Giữ họ. “Vua” trong (c.24) sẽ không phải là Vua Đa-vít được cải tử hoàn sinh trở lại trị-vì mà là Đức Chúa Giê-xu Christ là Đấng Y-sơ-ra-ên sẽ tiếp nhận và tin-cậy khi họ gặp được Ngài (Xa 12:9-13:1; Giê 23:5; Xa 30:8-10; Os 3:5). Ê-xê-chi-ên đề-cập đến “Đa-vít sẽ là vua” trong Êxe 37:24-25; Êxe 45:22; Êxe 46:4, và điều này muốn ám chỉ về Đấng Mê-si-a.
Nền Kinh Thánh nông nghiệp trong xứ của Y-sơ-ra-ên tùy thuộc vào việc Đức Chúa Trời cho mưa sớm hay muộn, và Ngài có hứa ban mưa cho dân-sự nếu họ có lòng tin vào Ngài và biết tôn-trọng giao-ước của Ngài (Lê 26:1-5; Phuc 28:9-14). Nhưng nếu họ bất-tuân với Ngài, thì các từng trời sẽ hóa như đồng, đất sẽ thành như sắt (Phuc 11:13-17; Phuc 28:23-24). Còn nếu dân chúng ăn-năn và tìm kiếm sự tha-thứ của Ngài, thì Ngài ắt sẽ ban mưa xuống chữa lành cho đất (Phuc 30:1-20; IISu 7:12-14).
Đức Giê-hô-va cũng hứa rằng dân-sự sẽ được an toàn trong xứ và sẽ không bị dân sống chung quanh đó chèn ép, áp bức. Ngoại trừ trong thời trị-vì của Đa-vít và Sa-lô-môn ra, còn lại thì dân Y-sơ-ra-ên thường xuyên bị các dân-tộc này đến dân-tộc khác liên miên tấn công, xâm lược và cướp bóc phá hoại, nhưng điều này sẽ chấm dứt khi Đấng Mê-si-a trị-vì họ.
Một “giao-ước hoà-bình” sẽ sẽ được thực hiện trên xứ họ (Êxe 34:25; Êxe 37:26), là giao-ước có lẽ ngụ ý về Giao-Ước Mới mà Giê-rê-mi đã hứa trong Giê 31:31-34. Luật-Pháp Đức Chúa Trời sẽ được khắc ghi vào lòng của dân-sự khiến tất cả họ thảy đều nhận biết Đức Chúa Trời và làm theo ý chỉ của Ngài.
Sự khan hiếm nỗi thống khổ cùng với sự hổ thẹn do bị bại trận ắt sẽ cướp đi của người Do-thái rất nhiều phước hạnh mà Đức Giê-hô-va đã sắm sẵn cho họ. Trong quá khứ, tội-lỗi họ đã buộc Chúa xây mặt Ngài nghịch lại họ; nhưng trong vương quốc tương lai, Ngài sẽ mỉm cười với họ và ở cùng họ. Ê-xê-chi-ên đã nhìn thấy vinh-quang Đức Chúa Trời lìa khỏi đền thờ (Êxe 11:22-23), nhưng ông cũng có thấy vinh-quang ấy của Ngài sẽ trở lại (Êxe 43:1-5). Tên của thành thánh sẽ là “Đức Giê-hô-va Shammah - có nghĩa “Đức Giê-hô-va ở đó” (Êxe 48:35).
3. Tội-lỗi của Ê-đôm (Êxe 35:1-15)
Đức Chúa Trời đã có thông báo trước sẽ có sự đoán-phạt sẽ giáng trên Ê-đôm qua Ê-sai (Ês 34:1-17; Ês 63:1-6), qua Giê-rê-mi (Giê 49:7-22), và qua Ê-xê-chi-ên (Êxe 25:12-14), nhưng giờ đây Ngài lại thông báo lần nữa kèm thêm một số chi-tiết.
Núi Sê-i-rơ là tên khác của Ê-đôm, một dân-tộc do Ê-sau một người anh sinh đôi với Gia-cốp sáng lập. “Ê-đôm” nghĩa là “đỏ” và cũng là tên để chế giễu Ê-sau (Sa 25:30). Ê-sau là người thế-gian không có những khát vọng thuộc-linh và đã bán quyền trưởng nam của mình cho Gia-cốp em trai mình. Ê-sau đã đánh nhau với em trai mình vốn là người có cùng một mẹ sinh ra với mình (c.21-26) và sanh lòng đố kỵ ganh ghét người em trai ấy của mình chỉ vì Đức Chúa Trời đã chọn Gia-cốp để ông được nhận lãnh các phước lành của giao-ước. Sự căm hận này đã duy trì từ đời này sang đời khác và người Ê-đôm cứ nuôi mãi lòng mình điều mà Đức Chúa Trời gọi là “lòng ghen ghét vô cùng” (c.5 Sa 25:15; Am 1:11-12). Lòng ghen ghét này chẳng khác nào lòng căm thù của “những cuộc chiến tranh dân-tộc” mà chúng ta đã thấy xảy ra trên thế giới ngày nay.
Một lần nữa, Đức Chúa Trời nhắc người Ê-đôm nhớ lại việc họ đã phạm-tội trọng phản lại những người anh em của mình khi họ hổ trợ quân Ba-by-lôn tấn công người Do-thái trong suốt cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem. Những gì mà ông tổ Ê-sau của họ đã thề sẽ làm trong thời ông, thì giờ đây họ đã thực hiện được trong thời họ khi họ đuổi giết những người bà con cùng chung máu mủ huyết thống với chính họ (Sa 47:41). Trong Êxe 35:6, từ “huyết” được dịch là “sự đổ máu” theo bản dịch KJV. Người Ê-đôm đã truy đuổi giết người Do-thái cho bằng được, do đó sự đổ máu cũng sẽ đuổi theo họ. Người Ê-đôm cứ nung nấu trong tâm lòng căm thù bất tận quyết chống đối Y-sơ-ra-ên đến cùng, vì thế đất nước Ê-đôm sẽ phải nhận lấy sự hoang vu đời-đời. Giờ đây Ê-đôm đã hoàn toàn biến mất khỏi thế-gian.
Đây có đúng là một sự trừng-phạt không? Vâng, đúng vậy, Ê-xê-chi-ên đã đưa ra lý-do tại sao có sự hủy diệt Ê-đôm vì đó là hành động của sự đoán-phạt công bình. Còn có thêm điều này nữa, các hậu duệ của Ê-sau rất tham lam, họ tuyên-bố rằng họ muốn chiếm xứ Giu-đa và Sa-ma-ri cho riêng họ, họ hoàn toàn không đếm xỉa gì đến đường lối ý muốn của Đức Chúa Trời. Chúa đã ban xứ Ca-na-an cho Áp-ra-ham và cho các hậu tự của người là Gia-cốp chứ không phải Ê-sau. Trong thời gian Y-sơ-ra-ên tiến vào xứ Ca-na-an, họ đã được cảnh-cáo không được dây dưa dính dáng vào bất cứ chuyện gì của người Ê-đôm bởi vì Đức Chúa Trời đã ban riêng xứ cho họ và họ sẽ không được thừa kế bất kỳ vùng đất nào thuộc Ca-na-an cả (Phuc 2:1-7). Thế nhưng người Ê-đôm lại muốn thay đổi kế hoạch và giao-ước của Chúa, đồng thời họ muốn chiếm đoạt xứ cho riêng họ. Khi người Ba-by-lôn xâm lược Giu-đa vào năm 606 TC., thì nghĩa là Đức Chúa Trời đã hoàn thành các mục đích của Ngài tại đó rồi (Êxe 35:10) và Ngài đã nhìn thấy những gì người Ê-đôm đã làm.
Chúa cũng trông thấy cả cơn giận của họ (c.11) và Ngài hứa sẽ báo ứng họ vì tất cả mọi quốc gia dân-tộc và mọi cá nhân rồi đây thảy đều sẽ phải gặt lấy những gì họ đã gieo ra. Ngài nghe cả những lời người Ê-đôm phỉ báng dân Do-thái anh em của họ, họ vui-mừng hả hê khi thấy xứ của Y-sơ-ra-ên bị quân xâm lược Ba-by-lôn vây hãm cướp phá. Nhưng thực ra là họ đang phỉ báng Đức Chúa Trời và lên mình khoát lác kiêu-ngạo như thể họ chắc chắn sẽ thoát khỏi sự đoán-phạt của Chúa vậy. Vì quá kiêu-căng ngạo-mạn nên người Ê-đôm đã lấy làm vui sướng khi Y-sơ-ra-ên sụp đổ; nhưng sẽ có ngày cả thế-gian này lấy làm vui-mừng hả dạ vì sự sụp đổ của Ê-đôm!
Đức Chúa Trời có lời hứa với người Do-thái rằng rồi sẽ có ngày họ không còn bị các dân-tộc khác giày xéo, hiếp đáp nữa (Êxe 34:28), và phân đoạn Kinh Thánh này giải thích lý-do tại sao: Đức Chúa Trời sẽ xử lý các kẻ thù của họ và Ngài sẽ loại bỏ các kẻ thù ấy khỏi thế gian này, “Hỡi núi Sê-i-rơ, mầy với cả Ê-đôm, tức cả xứ ấy, sẽ bị hoang vu” (Êxe 35:15 NIV).
11. TỪ SỰ PHỤC HỒI ĐẾN SỰ HIỆP LẠI (Êxe 36:1-37:28)
“Chúng ta hết hy-vọng rồi!”. Đó là điều các phu-tù Do-thái đang nói với nhau khi họ buồn bã vì mòn mỏi tuyệt vọng ở Ba-by-lôn (Êxe 37:11; Êxe 33:10), và theo cái nhìn của con người thì câu này thật là đúng. Nhưng nếu họ biết lắng nghe các tiên-tri của họ, thì ắt hẳn họ sẽ có hy-vọng nơi Đức Chúa Trời và trông-đợi được Ngài bảo vệ. Giê-rê-mi đã viết về họ rằng họ sẽ phải ở tại Ba-by-lôn 70 năm, và ý của Đức Chúa Trời là muốn dành cho họ sự an-toàn chứ không phải là ý xấu (Giê 29:10). Ê-xê-chi-ên đã ban-cho họ lời-hứa của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ thâu hiệp dân Ngài lại và đem họ trở về xứ của họ (Êxe 11:17; Êxe 20:34,41-42; Êxe 28:25).
Có một câu danh ngôn tiếng La-tinh nói thế này: “Nơi nào có sự sống nơi đó có hy-vọng”, nhưng câu này nói ngược lại cũng đúng: nơi nào có hy-vọng thì chúng ta sẽ tìm lý-do để sống ở đó. Nhà thần-học người Thụy-sĩ tên là Emil Brunner đã viết: “Khí ô-xy được dùng cho sự hô hấp thế nào thì niềm hy-vọng cũng có ý nghĩa đối với sự sống thế ấy”.
Trong các sứ-điệp trước của mình, Ê-xê-chi-ên đã nhìn lại và chứng-minh lại cho người ta thấy tội-lỗi của họ ra sao. Giờ đây, ông nhìn về phía trước và khích-lệ dân-sự bằng cách nói cho họ biết những điều Đức Chúa Trời sẽ làm cho Y-sơ-ra-ên trong tương lai. Những lời-hứa này được ban ra vào thời kỳ cuối của cuộc lưu-đày ở Ba-by-lôn và là sự tiên-liệu trước cho thời kỳ sau rốt. Người Do-thái sẽ được tập hợp lại trong xứ họ, là xứ sẽ được thanh tẩy và được phục-hồi, dân-tộc Y-sơ-ra-ên sẽ có đền thờ mới và có sự hiện diện của vinh-quang Đức Chúa Trời. Tương lai Y-sơ-ra-ên có thể được nói ngắn gọn bằng 4 chữ sau: phục-hồi, đổi-mới, hồi-sinh và hiệp-nhất.
1. Sự phục-hồi: Xứ được chữa lành (Êxe 36:1-15)
Đức Chúa Trời đã ban xứ của Y-sơ-ra-ên cho người Do-thái như là một phần của giao-ước Áp-ra-ham (Sa 12:1-3; Sa 13:14-18; Sa 15:7-21). Giao-ước đó đã xác lập quyền làm chủ xứ của họ, nhưng quyền sở hữu và sự được hưởng xứ sẽ tùy thuộc vào đức-tin và sự vâng-lời của họ đối với Chúa (Lê 26:1-46).
Đời sống mọi Cơ-đốc nhân hoàn toàn như nhau. Chúng ta được bước vào gia đình Đức Chúa Trời bởi đức-tin đặt nơi Chúa Giê-xu Christ (Gi 3:16; Êph 2:8-9), nhưng chúng ta có được gia đình Đức Chúa Trời là bởi chúng ta tin vào những lời-hứa của Ngài và làm theo ý muốn Ngài (IICôr 6:18-7:1). Con cái bất tuân thì bắt buộc phải bị sửa phạt (Hêb 12:1-31), và Đức Chúa Trời thường hay sửa phạt dân Y-sơ-ra-ên vì tội nổi loạn và bất-tuân của họ.
Ê-xê-chi-ên đã xây mặt mình hướng về Núi Sê-i-rơ, là hình ảnh tiêu-biểu cho xứ của Ê-đôm (Êxe 35:1-15), nhưng giờ đây ông cho biết “những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên” sẽ đại diện cho xứ của Y-sơ-ra-ên. Quân Ba-by-lôn đã tàn phá và cướp bóc Miền Đất Hứa, còn những dân-tộc lân bang (đặc biệt là Ê-đôm) thì lăm le ra sức chiếm đoạt xứ (Êxe 36:10). Thay vì giúp đỡ dân Do-thái, thì những ngư ời dân láng giềng này lại đi nhạo báng chế giễu họ và thậm chí còn giúp quân Ba-by-lôn tấn công cướp phá Giê-ru-sa-lem. Tại sao lại như thế? Tại vì những người dân láng giềng này vốn có mối thù truyền kiếp đối với người Do-thái nên họ chỉ mong sao sớm chiếm đoạt cho được xứ của Y-sơ-ra-ên, “Ê! Những gò cao đời xưa thuộc về chúng ta làm sản nghiệp!” (c.2).
Nhưng Đức Chúa Trời biết rõ kẻ thù đang muốn nói gì và sẽ làm gì, Ngài tuyên-bố rằng tại các quyết định của họ mà họ ắt sẽ phải nhận lãnh những hậu quả vô cùng khủng khiếp. Đó là lý-do tại sao bạn tìm thấy từ “do đó” được dùng đến 6 lần trong phần này (c.3-7,14).
-Thứ nhất, Ngọn lửa tình yêu ghen tuông của Đức Chúa Trời sẽ cháy bùng lên nghịch lại các kẻ thù của Y-sơ-ra-ên vì cái cách mà họ đã đối đãi với dân Ngài và xứ của Ngài (c.4-6 Lê 25:23). Thậm chí Ngài còn thề (Êxe 36:7) rằng các dân-tộc ấy sẽ bị báo trả cho cái cách mà họ đã đối xử với người Do-thái. Họ đã từng mắng nhiếc nhạo báng và chế giễu người Do-thái, nhưng giờ đây chính họ sẽ phải bị xấu hổ, nhục nhã.
Ê-xê-chi-ên mô-tả rằng trong tương lai xứ sẽ được chữa lành nó sẽ lại sanh sản ra nhiều bầy đàn gia súc đông đúc, sẽ cho nhiều mùa vụ tốt tươi thịnh vượng (c.8-9). Đây là một phần giao-ước của Đức Chúa Trời đã lập với Y-sơ-ra-ên (Lê 26:3-5). Xứ sẽ không những chỉ kết quả mà còn sẽ được bình yên, an-ninh (Êxe 36:10-12).
Sự phối hợp của chiến tranh, dịch lệ và nạn thú dữ đã làm cho dân số Do-thái giảm xuống (Êxe 6:1-8; Êxe 7:15; Êxe 12:16), nhưng Đức Chúa Trời có hứa rằng dân họ ắt sẽ nhiều vô số kể như bụi đất và như sao trên trời vậy (Sa 13:16; Sa 15:5). Nếu dân-tộc Y-sơ-ra-ên đã phải làm ứng-nghiệm những mục đích thánh của Đức Chúa Trời dành cho họ, thì chắc chắn cư-dân của họ rất là đông đúc.
Đức Chúa Trời đã buộc tội những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên vì nó đã lấy đi các con cái của người Do-thái (Êxe 36:12-14..NIV). Có lẽ điều này ngụ ý về một thực tế là có những đền miếu của người ngoại đặt ở trên các nơi cao, và có một số người Do-thái đã đem chính con cái mình đến đó làm sinh tế dâng lên tế cho các tà-thần thế tục. Nhưng những việc đó sẽ không còn nữa bởi vì cuộc lưu-đày ở Ba-by-lôn đã chữa lành bệnh thờ hình-tượng của người Do-thái, và trong vương quốc tương lai, chỉ có Đức Chúa Trời hằng sống chân-thật mới được thờ-phượng mà thôi. Trong Ê-xê-chi-ên 40-48, Ê-xê-chi-ên sẽ nói rõ hơn về sự phục-hồi xứ của Y-sơ-ra-ên khi Đấng Mê-si-a trị-vì trên ngai của Đa-vít tại Giê-ru-sa-lem.
Kể từ khi lập lại quốc gia Y-sơ-ra-ên vào năm 1948, tiến trình vĩ đại này đã được dân Do-thái thực hiện trong việc phục-hồi xứ. Có nhiều tác dụng phản ứng và sự tắm tưới tẩy rửa vết thương, những nơi bị hoang phế thì nay đang được biến đổi. Đây đúng là điều tuyệt diệu, thật không gì có thể so sánh được với những việc Đức Chúa Trời sẽ làm khi dân-sự Ngài từ các nước trên thế giới được thâu hiệp lại trong xứ họ, “Đồng vắng và đất khô hạn sẽ vui vẻ, nơi sa mạc sẽ mừng rỡ, và trổ hoa như bông hường. Nó trổ hoa nhiều và vui-mừng, cất tiếng hát hớn hở. Sự vinh-hiển của Li-ban cùng sự tốt đẹp của Cạt-mên và Sa-rôn sẽ được ban-cho nó. Chúng sẽ thấy sự vinh-hiển Đức Giê-hô-va, và sự tốt đẹp của Đức Chúa Trời chúng ta” (Ês 35:1-2 NLT).
2. Sự đổi mới: Dân-sự được thanh tẩy (Êxe 36:16-38)
Dân Do-thái quên rằng xứ này vốn thuộc về Đức Giê-hô-va, vì Ngài có phán: “Đất thuộc về Ta” (Lê 25:23). Quả thực, hết cả thế-gian này đều thuộc Đức Chúa Trời (Xu 19:5; Thi 24:1), và chúng ta không có quyền chiếm lấy những nguồn thiên nhiên mà Ngài đã chia-sẻ cho chúng ta.
Bản cáo-trạng của Đức Chúa Trời nghịch cùng dân-sự Ngài (Êxe 36:16-23): Y-sơ-ra-ên phạm 2 trọng tội, tội thứ nhất là làm ô uế xứ của Đức Chúa Trời (c.16-19). Mãi cho đến trước lúc người Ba-by-lôn càn quét khắp vương quốc Giu-đa, thì tội-lỗi của các nhà lãnh đạo và dân sự là đã làm ô uế nhơ bẩn nơi gọi là “xứ thánh. Khi dân-sự Đức Chúa Trời bất-tuân luật-pháp của Ngài và cư xử giống những dân ngoại sống chung quanh họ, họ đã làm ô nhơ xứ và phá vỡ giao-ước với Ngài (Lê 18:26-30).
Họ không chỉ thờ hình-tượng mà còn làm đổ huyết vô tội các con cái họ để làm sinh tế dâng cho tà-thần nữa, họ cũng làm đổ huyết khi họ kết án sai sự thật những người nghèo túng lúc xét xử họ tại tòa và khép họ vào tội chết. Cứ mỗi hành động bất-tuân là đã làm cho xứ ô uế hơn, cho đến khi Đức Chúa Trời quá tức giận vì sự nổi loạn của họ đến nỗi Ngài đã tống họ ra khỏi xứ, và Ngài đẩy họ đến Ba-by-lôn.
Trong thế giới hiện thời của chúng ta, chúng ta không biết có bao nhiêu xứ đã và đang bị làm ô uế bởi sự hủy diệt những con trẻ vô-tội, bởi những kẻ sát nhân đã giết hại người vô-tội, bao gồm cả trẻ em đang đi học và nói chung họ đã bất chấp cả luật-lệ của loài người lẫn luật-pháp của Đức Chúa Trời.
-Tội thứ hai của họ là họ đã xúc phạm danh Chúa trước mặt dân ngoại (Êxe 36:20-23): Khi họ làm ô uế xứ mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ để họ hưởng là đã quá đủ tồi tệ rồi, thế nhưng họ còn xúc phạm danh thánh Ngài nữa thay vì lấy lòng thành-kính làm-chứng cho danh Ngài ra giữa những xứ của dân ngoại mà Chúa đã đưa họ đến (c.20-23).
Họ bắt chước sống theo dân ngoại trong suốt thời gian quá lâu đến nỗi họ trở nên sống rất tự nhiên giữa vòng dân ngoại và càng ngày càng sống theo lối sống của dân ngoại. Trong suốt cuộc lưu-đày, chỉ còn đám dân sót tin cậy vào Đức Chúa Trời, nhưng nói chung, người Do-thái có xu hướng quên đi việc họ đã được Đức Chúa Trời kêu-gọi làm dân-sự của Ngài.
Chúng ta được biết có đến 5 lần trong đoạn sách này người Do-thái đã xúc phạm danh Đức Chúa Trời trước mặt dân ngoại là những dân mà người Do-thái được Chúa sai đến làm sự sáng để soi cho họ (Ês 42:6; Ês 49:6). Mặc dầu người Do-thái bất-tuân như vậy, Đức Chúa Trời vẫn ban cho họ cơ-h ội để họ giới thiệu cho dân ngoại biết về Đức Chúa Trời hằng sống chân-thật ra sao!
Người Do-thái đã tách khỏi đền thờ của họ mà giờ đây đã bị phá hủy, và họ không còn dính dáng đến những vật dụng cần thiết cho sự thờ-phượng của họ nữa, thế nhưng Đức Chúa Trời vẫn cứ ở cùng họ và Ngài có thể nhìn thấy tấm-lòng họ. Người Do-thái đã phỉ báng xúc phạm danh Chúa qua việc họ làm ô uế nơi thánh (Êxe 5:11; Êxe 22:26), nhưng Chúa hứa sẽ còn “một nơi thánh tạm” dành cho họ tại Ba-by-lôn (Êxe 11:16).
Ở Ba-by-lôn, họ đã phạm vào ngày Sa-bát (Êxe 22:8; Êxe 23:38), mặc dù họ biết rõ đó là ngày gì để họ có thể tìm đến Chúa và vâng-theo Ngài. Chỉ còn lại những người có Luật-Pháp Đức Chúa Trời và các tiên-tri suy gẫm Lời Chúa và ngợi-khen Ngài mà thôi. Người Do-thái thay vì làm cho danh Đức Chúa Trời được tôn thánh giữa vòng những người đời, thì đằng này họ lại xúc phạm danh Ngài qua việc họ không biệt riêng mình ra cho Chúa và không làm những chứng-nhân tin kính cho Ngài.
Thế còn hội thánh ngày nay có gì khác hơn? Chúng ta có đang sống cho Đấng Christ hết lòng khiến thế gian bất chợt chú ý đến và muốn nghe những gì chúng ta phải nói không?
Đức Chúa Trời hứa làm biến đổi dân-sự chỉ vì Ngài mong muốn được tôn-thánh và làm vinh-hiển danh vĩ đại của Ngài (Êxe 36:22). Trong thời kỳ chung kết đời này, Đức Chúa Trời sẽ thâu hiệp dân Ngài lại tại quê hương xứ sở của họ, mọi sự Ngài làm cho họ vì ân-điển và bởi lòng thương-xót của Ngài chứ không phải vì họ xứng đáng được như vậy.
Đức Chúa Trời ban cho họ xứ chẳng phải vì cớ sự công-bình của họ (Phuc 9:6), và Ngài sẽ phục-hồi xứ họ không phải vì bất cứ việc tốt nào họ đã làm. Đức Chúa Trời trong ân-điển Ngài đã ban-cho chúng ta những điều mà chúng ta chẳng đáng được ban, và trong ơn thương-xót của Ngài, Ngài sẽ không ban-cho chúng ta những điều mà đáng lý ra chúng ta phải nhận! Tất cả những gì chúng ta có trong Đấng Christ thì thảy đều đến từ ân-điển của Đức Chúa Trời (Êph 1:7; Êph 2:8-10) và đã được sắm sẵn để làm vinh-hiển Ngài (Êph 1:6,11,14).
Sự biến đổi của con dân Đức Chúa Trời (Êxe 36:24-38): Trong thời kỳ sau rốt, khi Đức Chúa Trời đem tuyển dân của Ngài trở về Đất Hứa (c.24), Ngài sẽ biến đổi đời sống tâm-linh của họ; vì vậy, cuối cùng, chỉ có dân-tộc đã được biến đổi mới có thể hưởng được xứ được biến đổi. Kinh-nghiệm, thuộc-linh được mô-tả trong phần này minh họa cho những gì sẽ xảy ra cho từng tội-nhân nào đã tin nhận Chúa Giê-xu Christ.
(1) Thứ nhất, Đức Chúa Trời sẽ thanh tẩy họ sạch khỏi tội-lỗi họ, và điều này được diễn-tả bằng từ “rưới, rảy” (c.25,29 Êxe 37:23). Theo Luật Môi-se, hễ người Do-thái nào bị ô uế [74] thì phải được tẩy uế trước khi người đó có thể trở lại trại quân và hội mạc theo quy định chung của cộng đồng.
Việc tẩy uế này được thực hiện bằng cách hoặc tắm trong dòng nước đang chảy hoặc được đem nước đã chuẩn bị sẵn cho sự tẩy uế rưới lên người (Lê 14:1-9; Dân 19:1-22; Dân 8:5-17; Hêb 10:22). Dĩ nhiên, nước không thể nào làm thay đổi được lòng người, nhưng việc tẩy uế này diễn tả cho sự tha-thứ bởi ân-điển dư dật mà chúng ta có được nhờ đức-tin. Đức Chúa Trời tha thứ cho những tội-nhân có đức-tin rằng vì họ mà Chúa Giê-xu Christ đã phải chết trên thập-tự giá (Êph 1:7). Khi Cơ-đốc nhân xưng nhận tội-lỗi mình ra với Chúa, họ sẽ được huyết của Đấng Christ thanh tẩy tội-lỗi cho (IGi 1:9).
(2) Thứ hai, Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ một tâm-thần mới (Êxe 36:26). Ê-xê-chi-ên đã có nói về sự thay đổi nội tâm này rồi (Êxe 11:18-20; Êxe 18:31), đây là hình thức biến đổi mà Chúa hằng mong mỏi Y-sơ-ra-ên kinh-nghiệm được trước khi họ bước vào Đất Hứa, “Ồ! Chớ chi dân nầy thường có một lòng kính-sợ ta, hằng giữ theo các điều răn ta như thế, để chúng nó và con cháu chúng nó được phước đời đời!” (Phuc 5:29 NKJV). Tiên-tri Giê-rê-mi cũng đã ban phát lời-hứa như Ê-xê-chi-ên đã ban phát: “Ta sẽ ban cho chúng nó tấm-lòng hay nhận biết ta là Đức Giê-hô-va. Chúng nó sẽ làm dân ta, và ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nữa” (Giê 24:7 NKJV). Giê-rê-mi nói về giao-ước mới mà Đức Chúa Trời đã lập với dân Do-thái, là giao-ước không được chép trên những bảng đá nhưng được ghi tạc vào tâm-trí họ (Giê 31:31-33; Giê 32:29; Ês 59:21; Hêb 8:8-13). Một “tấm-lòng bằng đá” là tấm-lòng cứng cỏi, không tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời và không nuôi dưỡng cho đời sống thuộc-linh tăng-trưởng (Êxe 2:4; Êxe 3:7 ).
(3) Thứ ba, Đức Chúa Trời sẽ ban Đức Thánh Linh ở giữa họ (Êxe 36:27). Đó là Thần Linh đã thực hiện các phép-lạ thánh này trong lòng những người tin nhận Chúa để được cứu-r ỗi. Ngài ban-cho chúng ta tấm-lòng mới và tâm-linh mới cùng sự khao khát mới để kính sợ Chúa và vâng-theo Ngài. Đức Thánh Linh được ban-cho chúng ta giống như dòng nước làm tươi mát mặt đất khô cằn nứt nẻ, và điều này sẽ sinh ra “bông trái của Đức Thánh Linh” trong đời sống chúng ta (Ês 44:3; Ga 5:22-23).
Sự ấn-chứng của Đức Thánh Linh trong lòng chứng minh rằng người ấy là con Đức Chúa Trời (Rô 8:9,14-17; Êph 1:13-14). Bởi vì bạn có Thần Linh của Đức Chúa Trời ở cùng, cho nên bạn sẽ có bản-tánh thánh của Đức Chúa Trời trong mình (IIPhi 1:1-4) và do đó bạn sẽ muốn làm theo ý chỉ thánh của Ngài. Chính bản tánh này sẽ tạo nên tư cách đạo đức. Chó thì biểu hiện giống chó bởi vì chúng có bản-tánh của chó, và con dân Chúa thì có hành vi cử chỉ giống Ngài bởi vì họ có bản-tánh của Ngài ở trong họ (IGi 3:9). Ê-xê-chi-ên sẽ lại bàn đến ân-tứ này của Đức Thánh Linh trong Êxe 37:14 và Êxe 39:29.
(4) Thứ tư, Đức Chúa Trời sẽ tái khẳng định họ là dân-sự của Ngài (Êxe 36:28). Có lẽ đây là sự phục-hồi giao-ước, vì con dân Chúa sẽ được sống trong xứ, Ngài sẽ làm Đức Chúa Trời họ và họ sẽ là dân-sự Ngài. Đây sẽ là một sự sắp đặt hoà hợp vĩnh viễn vì dân của Chúa sẽ không còn nổi loạn chống nghịch Ngài và không vâng theo ý chỉ của Ngài nữa.
(5) Thứ năm, Đức Chúa Trời sẽ làm cho xứ sinh nhiều hoa lợi trở nên thịnh vượng (c.29-30,33-35). Dưới giao-ước mà Đức Chúa Trời đã lập với Y-sơ-ra-ên trước lúc họ tiến vào xứ Ca-na-an, Ngài bằng lòng ban phước cho họ và đáp ứng các nhu-cầu của họ với điều kiện họ phải vâng-lời Ngài (Lê 26:1-13; Phuc 28:1-14).
Đọc đến những lời phán hứa này, bạn sẽ rất kinh ngạc ở điều người Do-thái đã từ bỏ đó là họ không thờ-phượng và hầu-việc Đức Chúa Trời nữa mà lại quay sang thờ hình-tượng. Nhưng khi Y-sơ-ra-ên bước vào vương quốc đã được hứa, thì Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho họ và khiến xứ họ trở nên giống như Vườn Ê-đen vậy (Êxe 36:35).
Xứ sẽ đem lại nhiều mùa màng bội thu và dân-sự sẽ được giàu có thịnh vượng nhờ bởi các ơn phước của Chúa. Thành phố sẽ được xây dựng lại và những sự đổ nát sẽ không còn nữa. Sẽ có một xứ tươi mới đẹp đẽ dánh cho dân-sự mới của Đức Chúa Trời. Sự đẹp đẽ và kết quả của xứ sẽ là bằng-chứng trình ra giữa các dân-tộc (c.36).
(6) Thứ sáu, dân-sự sẽ cảm thấy gớm ghiếc tội-lỗi của mình (Êxe 36:31-32). Khi có một số người nhớ lại tội-lỗi họ, họ lại thấy vui thích về chính họ trong hố sâu bẩn thỉu theo trí tưởng tượng của họ. Đây là bằng-chứng cho thấy họ chưa thực sự xét mình và chưa ăn-năn. Khi những con cái Chúa thật nhớ lại sự bất-tuân ý Ngài trong quá-khứ của mình, thì ắt hẳn họ sẽ tự cảm thấy xấu hổ và gớm ghét những tội-lỗi mà họ đã làm cho Chúa, cho chính bản thân họ và cho người khác, “Hỡi những kẻ yêu mến Đức Giê-hô-va, hãy ghét sự ác” (Thi 97:10 NKJV); “Hãy gớm sự dữ mà mến sự lành” (Rô 12:9). Một trong những bằng chứng cho thấy có sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong chúng ta là chúng ta sẽ rất nhạy cảm với tội-lỗi và có sự khao khát mãnh liệt từ bỏ tội-lỗi.
(7) Phước hạnh thứ bảy sẽ là được tương-giao với Chúa (Êxe 36:37-38). Như trong phân đoạn 34, Đức Chúa Trời mô tả dân sự Ngài giống như bầy chiên, và mọi người chăn chiên đều muốn bầy chiên mình ngày càng được gia tăng đông đúc. Dân số Do-thái bị suy giảm rất nhiều trong thời gian quân Ba-by-lôn xâm lược xứ, nhưng Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho dân-sự Ngài và khiến họ sinh sản và trở nên đông đúc vô số kể (Êxe 36:12-13). Bức tranh ở đây mô tả người ta đang đi đến Giê-ru-sa-lem để dự lễ Vượt Qua hằng năm, họ mang theo bên mình nhiều sinh tế bằng thú vật. Số thú vật ở Giê-ru-sa-lem sẽ được tăng lên vô số, và đó cũng là cách mà dân Do-thái sẽ gia tăng trong vương quốc của họ.
(8) Cuối cùng, như là kết quả của tất cả các phước hạnh, Đức Chúa Trời sẽ được vinh hiển. Y-sơ-ra-ên đã không làm vinh-hiển Đức Chúa Trời tại trong xứ hoặc tại đền thờ của họ, họ cũng chẳng làm vinh-hiển Ngài tại những quốc gia mà họ bị tản lạc đến ở đó. Nhưng ngày ấy sẽ đến là khi dân-sự Đức Chúa Trời sẽ làm vinh-hiển Ngài và vinh-quang Đức Chúa Trời sẽ trở lại trong xứ.
Mọi Cơ-đốc nhân đã được tái-sinh đều nhìn thấy có một sự so sánh ở đây với kinh-nghiệm cá nhân về đức-tin đặt nơi Đấng Christ của họ. Chúa đã rửa sạch tội-lỗi của chúng ta (ICôr 6:9-11), đã ban-cho chúng ta tấm-lòng mới và Đức Thánh Linh của Ngài ngự trong chúng ta. Vì điều này, chúng ta sẽ có sự gớm ghét thánh đối với tội-lỗi. Chúng ta có đặc ân đặc quyền được giao thông cùng Chúa và cầu-xin Ngài ban-cho chúng ta những nhu-cầu có cần cùng với khát vọng thực hiện ý chỉ của Ngài.
Đức Chúa Trời muốn khiến đời sống chúng ta được trở nên kết quả dư dật để chúng ta làm vinh-hiển danh Ngài. Chúa khiến chúng ta trở thành một phần trong giao-ước mới của Ngài (Hêh 8:10) để sự hiệp-nhất của chúng ta với Ngài qua Đấng Christ sẽ là vĩnh cửu và không bao giờ thay đổi. Ha-lê-lu-gia! Chúa Cứu Thế tuyệt diệu biết bao! [75]
3. Sự hồi sinh: Dân-tộc Được khai sáng tâm-linh (Êxe 37:1-14)
Ê-xê-chi-ên nói cho dân-sự biết Đức Chúa Trời có hứa phục-hồi xứ và phục-hưng dân của Ngài. Nhưng còn bản thân dân-tộc thì sao, một dân-tộc đã bị phân chia (Y-sơ-ra-ên và Giu-đa) lại không có vua và cũng chẳng còn đền thờ? Những người dân sót sẽ trở về xứ đã bị tàn phá và họ sẽ tái thiết đền thờ với thành phố, nhưng vào lúc đó Ê-xê-chi-ên đã không cho họ lời hứa nào về những phước hạnh. Không, tiên-tri Ê-xê-chi-ên đang nhìn xuống hành lang phía xa xa của thời gian hướng đến thời kỳ chung kết đời này là khi Chúa Giêxu cũng là Đấng Mê-si-a sẽ trở lại và triệu tập dân Ngài. Ê-xê-chi-ên bảo dân-sự rằng dân-tộc đã chết thì sẽ có một ngày ắt được sống lại, còn quốc gia đã bị phân chia chắc chắn rồi đây sẽ được hiệp lại thành một thể thống nhất! [76]
• Những hài cốt khô (Êxe 37:1-3): Ngay từ buổi ban đầu thi hành chức-vụ của mình, Ê-xê-chi-ên đã được Đức Thánh Linh cất ông lên đưa ông đi đến ngồi giữa vòng những phu-tù đang thất-vọng chán-nản bên bờ sông (Êxe 3:14-27). Sau đó, Đức Thánh Linh cho ông có sự hiện thấy một đồng trũng chất đầy những hài cốt khô đang nằm rải rác khắp mặt đất, xác tử thi của những bộ hài cốt khô này đã bị phân hủy hoặc bị thú đồng và lũ chim chuyên ăn xác thối xé rỉa ăn mất từ rất lâu. Những người này có lẽ chết do bị giết (Êxe 37:9), cũng có thể họ là những binh lính trong đạo quân Do-thái (c.10).
Thật là điều nhục nhã cho những thi thể của người Do-thái bị chết mà không được tắm rửa, khâm-liệm, chôn cất một cách đàng hoàng trong huyệt mả hoặc hầm mộ. Những thi thể này nằm lại trên chiến trường đã trở thành thức ăn cho lũ chim ăn xác chết và là mục tiêu phơi ra đó cho ánh nắng mặt trời chiếu vào thiêu đốt, tẩy cho trắng hếu.
Nhưng Đức Chúa Trời đã có lời cảnh-báo Y-sơ-ra-ên trong giao-ước mà Ngài đ ã lập với họ rằng tội-lỗi họ sẽ dẫn họ đến với sự nếm trải hổ thẹn nhục nhã giống y kiểu như vậy, “Đức Giê-hô-va sẽ khiến ngươi bị những kẻ thù nghịch mình đánh bại, Ngươi sẽ do một đường ra đánh chúng nó, rồi do bảy đường chạy trốn trước mặt chúng nó, ngươi sẽ bị xô đùa đây đó trong khắp các nước của thế gian. Thây ngươi sẽ làm đồ ăn cho chim trên trời và thú dưới đất, không ai đuổi chúng nó đi” (Phuc 28:25-26 NKJV). Giê-rê-mi cũng có giảng về sứ-điệp này tại Giê-ru-sa-lem: “Ta sẽ phó chúng nó trong tay kẻ thù, kẻ muốn hại mạng chúng nó, thây chúng nó sẽ làm đồ ăn cho loài chim trời và loài thú đất” (Giê 34:20 NKJV).
Đức Giê-hô-va bảo Ê-xê-chi-ên hãy đi dạo quanh giữa những hài cốt khô đó để ông có thể ước lượng con số khổng lồ của chúng là bao nhiêu và xem thử chúng khô ra sao. Là một thầy tế-lễ, Ê-xê-chi-ên không được tiếp xúc các xác chết để khỏi bị ô uế, nhưng đây chỉ là sự hiện thấy và xương cốt khô thì không gây độc hại gì.
Chắc chắn Ê-xê-chi-ên đã thắc mắc tự hỏi sao Chúa lại cho mình thấy khải-tượng này, nhưng câu hỏi của Chúa đã làm câu trả lời cho ông: “Những hài cốt này có thể sống chăng?”. Theo quan-điểm của con người thì câu trả lời này sẽ là không, còn theo cái nhìn thánh của Đức Chúa Trời thì không có việc gì lại không thể cả. Chính Đức Chúa Trời “là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, gọi những sự không có như có rồi” (Rô 4:17).
Ê-xê-chi-ên tin-cậy vào quyền-năng của Đức Chúa Trời nên ông đã không thắc mắc Ngài nữa. Điều này chứng tỏ Ê-xê-chi-ên tin chắc rằng Đức Chúa Trời biết rất rõ những việc Ngài sắp làm và Ngài có khả năng làm được những việc đó.
• Đội quân chết (Êxe 37:4-8): Ê-xê-chi-ên nói tiên-tri về các núi (Êxe 6:2; Êxe 36:1), về những cánh rừng (Êxe 20:47), và giờ đây ông được Chúa truyền-lệnh phải nói tiên-tri về các hài cốt khô của những người đã chết. Lời Đức Chúa Trời là “Lời sống và linh-nghiệm” (Hêb 4:12); nó không chỉ chứa đựng sự sống mà nó còn truyền tải sự sống (IPhi 1:23), “những Lời Ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống” (Gi 6:63 NKJV). Mạng lệnh của Đức Chúa Trời trong Êxe 37:4 có kèm theo lời phán hứa của Ngài trong câu 5 và câu 6. Ê-xê-chi-ên tin lời hứa này và ông làm theo m ạng lệnh đó, các hài cốt khô kia bèn “nhóm lại hiệp với nhau”.
Kế đó, các xương cốt được phủ thịt và da để những gì đang nằm trong đồng trũng kia trông giống y như một đạo quân đang ngủ vậy. Những thi thể này chỉ thiếu một thứ, đó là sự sống.
• Đội quân sống (Êxe 37:9-14): Đức Chúa Trời truyền-lệnh cho Ê-xê-chi-ên hãy nói tiên-tri về gió và Ngài phán bảo ông những điều ông phải nói. Trong tiếng Hê-bơ-rơ, từ “ruah” có nghĩa là gió, hơi thở, thần-linh, hoặc Đức Thánh Linh. Chúa Giê-xu đã dùng từ này khi Ngài trò chuyện trao đổi với Ni-cô-đem về việc gió thổi và về sự tái-sinh bởi Đức Thánh Linh (Gi 3:5-8).
Ở đây còn có sự ngụ ý về việc tạo dựng A-đam trong Sáng-thế ký đoạn 2.
Ở sự tạo dựng này, A-đam đã được nắn tạo hoàn chỉnh về phương diện vật lý, nhưng ông không có sự sống cho đến lúc Đức Chúa Trời hà hơi thở của Ngài vào trong ông (c.7). Khi Ê-xê-chi-ên nói ra Lời hằng sống của Đức Chúa Trời, thì hơi thở từ Ngài đi vào những xác chết kia thì họ liền sống lại và đứng lên trên chân của m ình.
Sau đó, Đức Chúa Trời giải thích cho đầy tớ Ngài biết ý nghĩa của sự hiện thấy đó. Những hài cốt khô của người đã chết tượng-trưng cho toàn bộ dân-tộc Do-thái, bao gồm cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, đó là một quốc gia đã bị phân chia và là một dân-tộc đã chết, giống như những hài cốt khô bị tẩy cho trắng hếu đang nằm phơi ra trên chiến trường.
Tình thế của Y-sơ-ra-ên dường như rất tuyệt vọng, nhưng “đối với Đức Chúa Trời mọi sự đều có thể” (Mat 19:26). Rồi ngày ấy sẽ đến là khi Lời hằng sống của Đức Chúa Trời cũng là mạng-lệnh được truyền-đi và kêu-gọi dân-sự Ngài ra khỏi “mồ mả” của họ, ra khỏi các quốc gia mà họ đã bị tản lạc đến đó trên khắp thế giới (Êxe 37:21; Giê 31:8; Mat 24:31). Con cái Y-sơ-ra-ên sẽ tụ họp lại với nhau, nhưng dân-tộc sẽ không có đời sống thuộc-linh cho đến chừng họ gặp được Đấng Mê-si-a, tin nơi Ngài, và nhận lãnh ân-tứ của Đức Thánh Linh ban cho sự sống (Êxe 39:29; Xa 12:9-13:1). Dân-tộc sẽ được sinh ra và được tái-sinh “trong một ngày” (Ês 46:7-9). [77]
Dĩ nhiên, có sự ứng-dụng thuộc-linh về sự hiện thấy này cho bất kỳ cá nhân hoặc cho các vị mục-sư truyền-đạo nào cần có đời sống mới từ Đức Chúa Trời. Thường thì dân-sự Đức Chúa Trời hay giống như đội quân đang đứng lên kia, thấy có vẻ đang sống nhưng thực sự là không có sự sống.
Vậy sự sống sẽ đến bằng cách nào? Bằng cách Đức Thánh Linh tuyên-ra Lời Đức Chúa Trời thật trung-thực chính xác. Charles Spurgeon đã nói: “Hội thánh đã bị sa sút suy vong, rồi đây chắc chắn nhất định sẽ được công việc rao-giảng Lời Chúa cùng với sự xuất hiện hơi thở của thiên-đàng từ các cơn gió bốn phương phục-hưng”.
Hết lần này đến lần khác, để đáp lại những lời cầu-xin của dân-sự Ngài, Đức Chúa Trời nhìn thấy Ngài cần phải ban-cho hội thánh và các đầy-tớ của Ngài “hơi thở sự sống” mới, và đó cũng chính là ơn phước mà chúng ta ngày nay cần phải thường xuyên cầu-nguyện nài xin.
4. Sự hiệp nhất: Thống nhất hai Vương quốc (Êxe 37:15-28)
-Dân-tộc Y-sơ-ra-ên là một dân-tộc hiệp-nhất mãi cho đến sau khi Sô-lô-môn băng hà. Những chính sách đầy tính kiêu-căng ngạo-mạn thiếu khôn-ngoan của con trai ông đã khiến cho đất nước phân tranh vào năm 931 TC., gồm có 10 chi phái hiệp lại với nhau hình thành Vương quốc Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc, cũng được gọi là Ép-ra-im và Sa-ma-ri; còn 2 chi phái Giu-đa và Bên-gia-min hình thành Vương quốc Giu-đa ở miền Nam.
-Vương quốc miền Bắc đã sớm bước vào sự thờ hình-tượng và bội đạo, vào năm 722 TC., họ đã bị quân A-si-ri bắt đi lưu đày. Còn Vương quốc Giu-đa thì có một số vị vua tin kính Chúa và họ đã duy trì được dòng dõi Đa-vít và công tác phục-vụ Chúa tại đền thờ. Tuy nhiên, về phần cuối lịch-sử chính trị của Y-sơ-ra-ên, có một vài vị vua hèn yếu nhu nhược trị-vì khiến dân-tộc đã sa vào tội thờ hình-tượng và vô-tín. Cuối cùng, Đức Chúa Trời đã đưa quân Ba-by-lôn sang trừng phạt dân sự Ngài. Y-sơ-ra-ên ngày nay đã có bộ máy nhà nước chính quyền, nhưng phần đông dân Do-thái đã bị tản lạc khắp nơi trên thế giới.
Đây là phần cuối cùng của “những bài giảng bằng hành động” của Ê-xê-chi-ên. Ông cầm 2 cây gậy, mỗi cây tượng-trưng cho một vương quốc sau khi quốc gia Do-thái phân chia. Ông gọi một cây là “Cho Giu-đa”, và cây kia là “Cho Giô-sép”.
Tương tự một người đang trình diễn trước khán-giả, Ê-xê-chi-ên tuyên-bố rằng 2 cây gậy này sẽ biến thành một trong tay ông cho mà xem – và quả nhiên là như vậy! Người ta tận mắt chứng-kiến được việc ông làm đó nhưng họ chả hiểu ý ông muốn nói gì. Ông liền giải thích rằng Đức Chúa Trời sẽ thâu hiệp dân-sự lại với nhau tại một nơi là xứ Y-sơ-ra-ên của chính họ. Ngài sẽ làm cho họ trở thành một quốc gia thống nhất, vâng theo một vua duy nhất, và (là điều quan-trọng nhất) thờ-phượng một Đức Chúa Trời duy nhất mà thôi. Sẽ không còn sự thờ hình-tượng và sự bất-tuân luật-pháp của Đức Chúa Trời nữa.
Nhưng điều gì sẽ duy trì được sự hiệp một của dân-sự đây? Đó là điều, Đức Chúa Trời sẽ tẩy-sạch tội-lỗi họ, làm mới lại đời sống tâm-linh trong họ để họ không còn tham vọng ganh đua, thù hận và đối địch lẫn nhau nữa. Lòng ghen ghét đố kỵ và sự thù địch ngày xưa sẽ tiêu tan đi (Ês 11:13), Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sẽ cùng nhau hạ mình xuống tìm kiếm Đức Chúa Trời (Giê 50:4; Os 11:1). Còn có một tác nhân khác nữa, vị vua duy nhất của họ sẽ là Đấng Mê-si-a, Ngài sẽ chăn giữ họ bằng tình yêu thương và lòng thương-xót. Ngài sẽ là “vua đời-đời” của họ (Êxe 37:25) và là Vua Bình An (Ês 9:6).
-Thứ ba, Đức Chúa Trời ra-lệnh và ban phước cho xứ nhiều đến nỗi khiến cả dân-tộc sẽ được hiệp một (Êxe 37:25). Điều này sẽ được giải thích rõ hơn trong phân đoạn 45. Quốc gia Y-sơ-ra-ên sẽ được “giao-ước hòa-bình” cai quản lãnh đạo (Êxe 37:26; Êxe 34:22-25), là “Giao-Ước Mới” mà Giê-rê-mi đã ký-thuật trong Giê 31:31-34. Nhưng trung tâm của sự hiệp-nhất dân-tộc sẽ là đền thờ mới (Êxe 37:26-28), nơi vinh-quang Đức Chúa Trời sẽ ngự đến.
Trong những ngày sống ở đồng vắng, Y-sơ-ra-ên có đền tạm để triệu tập nhóm hiệp mọi người ở các trại quân của Y-sơ-ra-ên lại làm một, mỗi chi phái được chỉ định một nơi đặc biệt để dựng trại cho mình. Đền thờ tại Giê-ru-sa-lem cũng có nguồn gốc từ sự triệu tập nhóm hiệp làm một này, cứ 3 năm một lần người ta phải đến Giê-ru-sa-lem dự lễ, và họ được phép các của tế-lễ lên cho Chúa tại đền thờ đó.
Trong phân đoạn 40-48, Ê-xê-chi-ên sẽ đi vào sự mô-tả chi tiết về đền thờ tương lai này và những phận sự của nó. Đức Chúa Trời gọi nó là “Đền tạm của Ta” (Êxe 37:27) bởi vì theo tiếng Hê-bơ-rơ thì từ cụm từ này có nghĩa là “nơi ngự”. [78] sự hiện diện của Đức Chúa Trời nơi dân-sự Ngài sẽ thánh hóa xứ, Đền thờ, và dân-tộc, đúng y như Ngài đã hứa trong giao-ước của Ngài (Lê 26:11-12) và “sự nhận biết vinh-quang Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp đất như nước đầy tràn biển” (Ha 2:14).
Cho dù là đối với con cái Y-sơ-ra-ên hay là đối với các vị thánh-đồ đi chăng nữa trong hội thánh ngày nay, thì Đức Chúa Trời cũng đều mong muốn dân-sự Ngài hiệp một, “Kìa, anh em ăn ở hòa thuận nhau thật tốt đẹp thay” (Thi 133:1). Phao-lô khuyên nài Cơ-đốc nhân trong hội thánh ở Cô-rinh-tô hãy hiệp-một lòng một ý với nhau (ICôr 1:10), ông cũng khích-lệ Cơ-đốc nhân người Ê-phê-sô hãy “dùng dây hòa-bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh” (Êph 4:3 NIV).
Thỉnh thoảng, hãy dành thì giờ cầu-nguyện và kiên nhẫn duy trì sự hiệp-một của dân-sự Đức Chúa Trời, nhưng quan trọng ở chỗ là chính chúng ta phải hiệp-một. Chúa Giê-xu đã cầu-xin cho dân-sự Ngài ai nấy đều sẽ hiệp-một và bày-tỏ ra cho thế-gian hư-mất thấy được đang có sự hiệp-một sống động giữa Đấng Christ và hội thánh Ngài, giữa Cơ-đốc nhân và các hội thánh địa phương (Gi 17:20-23).
Một hội thánh bị phân-rẽ ắt sẽ không thể nào mạnh mẽ được và chắc chắn hội thánh ấy sẽ không làm-chứng t ốt cho ân-điển và vinh-hiển của Đức Chúa Trời. Dân-sự Chúa ngày nay đang cần có cơn gió Thánh Linh tươi mát để đem lại sự sống mới từ Đức Chúa Trời và tình yêu mới cho chúng ta.
12. ĐỨC CHÚA TRỜI BẢO VỆ DÂN-SỰ NGÀI (Êxe 38:1-39:29)
Nhiều học-giả Kinh Thánh xem phần này của Ê-xê-chi-ên thuộc loại những sứ-điệp tiên-tri khó hiểu nhất trong Kinh Thánh và họ hoàn toàn không đồng ý với các cách dịch. Một số thì nhận diện cuộc xâm lược này chính là Trận Chiến Ha-ma-ghê-đôn (Armageddon) như đã được mô-tả trong Kh 16:13-16 và trong Kh 19:11-21, nhưng những sự tương phản trái ngược giữa 2 sự-kiện này thì thật quá rõ ràng. [79]
Các học-giả còn lại thì xem Ê-xê-chi-ên 38-39 như là sự mô tả một “trận chiến lý tưởng” rằng người Do-thái đang sống kiếp lưu-đày kia tin chắc quyền-năng của Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ dân-sự Ngài. Trong khi có sự tin chắc như vậy thì phương pháp tiếp cận này lại không cắt nghĩa được những chi-tiết đã được ký thuật trong 2 phân đoạn Kinh Thánh này. Chúng ta sẽ tiếp cận với những phân đoạn này và phải công nhận rằng như thể chúng mô tả những biến-cố đang xảy ra hiện thời vậy.
Sự tham khảo về “dân Gót (Gog) và dân Ma-gốc (Gogog)”trong Kh 20:7-9 đã dẫn một số sinh-viên đến nơi sẽ xảy ra chiến trận này sau 1000 năm bình-an (thiên hy niên - millennium), nhưng cách dịch này lại chứa đựng một số vấn-đề. Đội quân được mô-tả trong câu 8 sẽ đến từ khắp bốn phương trên đất, trong khi đội quân của dân Gót sẽ bao gồm những nam đinh của sáu quốc gia và chúng sẽ bắt đầu xâm lược từ phương bắc.
Hơn nữa, nếu lửa từ trời giáng xuống thiêu nuốt đội quân này như đã được đề-cập trong câu 8, thì lý do tại sao người ta lại cần phải bỏ ra 7 tháng để chôn cất các thi thể và phải mất 7 năm để đốt hủy các khí giới? Những từ “ Gót và Ma-gốc” có lẽ được dùng để liên-hệ đến 2 biến-cố đã được nói tiên-tri n ày nhưng chúng không phải là một.
Cả Ê-xê-chi-ên lẫn Giăng đều mô-tả những cuộc tấn công nhắm vào Giê-ru-sa-lem và dân Do-thái, trong cả 2 biến-cố này, Đức Chúa Trời đều đã giải cứu dân-sự Ngài bằng phép-lạ.
• Viễn cảnh gợi ý, để bắt đầu khảo sát Êxe 38:1-39:29, chúng ta nên ôn lại “tình huống tiên-tri” trước khi xem xét cuộc xâm lược Đất Thánh này. Từ sự trình-bày quan-điểm của chúng ta, sự-kiện căng thẳng kế tiếp có thể sẽ xảy ra bất kỳ lúc nào (ITês 4:13-18). Đức Chúa Giê-xu Christ sẽ xuất hiện trong không trung và kêu-gọi dân-sự Ngài đến cùng Ngài tại thiên-đàng.
Theo (Đa 9:24-27) [80] thì dân-tộc Y-sơ-ra-ên ắt sẽ lập hiệp ước với kẻ lãnh đạo liên minh châu Âu gồm 10 nước đến bảo vệ họ 7 năm để họ có thể xây dựng lại đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Chúng ta không biết được kể từ lúc hội thánh có sự yên ổn cho đến khi ký kết hiệp-ước này sẽ mất bao nhiêu lâu. Dấu của giao-ước chính là quá trình khởi sự cho thời kỳ Đại Nạn 7 năm được mô-tả trong Mat 24:1-28 và trong Kh 6:1-9:21.
Sau ba năm rưỡi, kẽ lãnh đạo người Châu Âu này sẽ lộ nguyên hình là kẻ thù của Chúa Giê-xu (Antichrist). Hắn sẽ phá vỡ hiệp-ước với Y-sơ-ra-ên, tự dựng lên ảnh tượng của chính hắn trong đền thờ của người Do-thái, đồng thời hắn cố ra sức ép buộc thế-gian thờ-lạy hắn và đầu phục hắn (Đa 9:27; IITês 2:1-12; Mat 4:15; Kh 13:1-17).
Trong suốt ba năm rưỡi của thời kỳ Đại Nạn, thế-gian sẽ nếm-trải được “cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời”, và đỉnh điểm của thời kỳ này là Đấng Christ trở lại thế gian để đánh bại Sa-tan với Antichrist và thiết lập vương quốc của Ngài. Đó là lúc Trận Chiến Ha-ma-ghê-đôn bùng nổ.
Nếu đây đúng là chuỗi những sự-kiện đã được tiên-tri, thì sau đó trong suốt nửa thời kỳ đầu của Cơn Đại Nạn, Y-sơ-ra-ên sẽ ở trong xứ mình và được kẻ lãnh đạo về chính trị mạnh nhất trên thế giới bảo vệ. Đó là thời kỳ bình-an và an ninh vì lúc đó sẽ không có nước nào đe dọa chinh chiến với họ (Êxe 38:8,11,14).
Vì chúng ta không biết từ lúc hội thánh có sự yên ổn đến khi ký kết hiệp-ước kia là bao nhiêu lâu, có thể rằng dân Do-thái và kẻ lãnh đạo người Châu Âu đầy quyền lực này sẽ sớm thực hiện xong cuộc đàm phán của họ sau khi các vị thánh-đồ bị bắt đem ra.
Chúng ta không biết Y-sơ-ra-ên sẽ xây lại đền thờ kéo dài trong bao lâu, nhưng chắc chắn công việc này sẽ được hoàn thành vào khoảng giữa của thời kỳ 7 năm Đại Nạn. Đó là khi kẻ lãnh đạo người Châu Âu đầy quyền lực kia hủy hiệp-ước, tự lộ nguyên hình hắn ra là một kẻ đầy tội-lỗi, hắn sẽ tự dựng lên ảnh tượng của chính hắn rồi để trong đền thờ.
Với viễn cảnh gợi ý này trong đầu, có lẽ chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về cuộc xâm lược đã được mô-tả trong 2 phân đoạn Kinh Thánh này.
1. Trước cuộc xâm lược (Êxe 38:1-13)
Viên chỉ huy đội quân này tên là Gót, cũng là kẻ thống trị “Ma-gốc”, có nghĩa là “xứ của Gót”. Xứ này tọa lạc giữa Biển Đen và Biển Caspian. Danh hiệu “tướng” có thể được dịch là “vua của Rô-sơ”, là một nơi không được định danh trên bản đồ trong thời thế giới cổ đại.
Nhưng nếu cụm từ “vua của Rô-sơ” là sự dịch đúng thì kẻ này sẽ cầm quyền thống trị trên Rô-sơ (Rosh), Mê-siếc (Meshech) và Tu-banh (Tubal).
Hai nước sau tọa lạc ở phía đông Tiểu Á cùng với Gô-me và Bết Tô-ga-ma. [81] Các liên minh của vua Gót gồm có Phe-rơ-sơ (Persia tức Iran), Cút (Cush tức Ê-ti-ô-pi cổ đại), Phút (Put tức Libya), Gô-me (Gomer) và Bết Tô-ga-ma (Beth togarmah), cả hai nước đều nằm gần Biển Đen.
Vì trừ Phút, Cút và Phe-rơ-sơ ra, còn lại tất cả các nước này đều nằm ở phía bắc Y-sơ-ra-ên, cho nên thật cám-dỗ họ khi họ nhìn ra Rô-sơ với nước Nga (Russia) và do đó Mê-siếc với thủ đô Mát-xcơ-va (Moscow) và Tu-banh với Tobolsk, cả 2 thành phố này đều thuộc nước Nga; nhưng chắc hẳn chúng ta phải trải qua thời kỳ khắc nghiệt để bênh vực cho những vấn-đề thuộc ngôn ngữ học này. Điều này không loại trừ sự có mặt của nước Nga hiện đại, vì nó nằm ở phía bắc (c. 6 15 Êxe 39:2), nhưng nó cũng không đòi hỏi nó như vậy.
Tiên-tri Ê-xê-chi-ên khích-lệ những thính-giả (và cả những bạn đọc) của ông bằng cách nói cho họ nghe liền phần kết của câu chuyện ngay cả tr ước khi ông bắt đầu câu chuyện ấy: rằng Đức Chúa Trời sẽ đánh bại đội quân liên minh khổng lồ này và giải cứu dân Y-sơ-ra-ên của Ngài ngay trong xứ họ (Êxe 38:3-4a). Cuộc xâm lược này sẽ không xảy đến cho đến chừng “Sau nhiều ngày, ngươi sẽ lãnh mạng ra đi, trong những năm sau rốt” (c.8), đến lúc đó Y-sơ-ra-ên sẽ vui hưởng sự bình-an và được an-ninh dưới dưới sự bảo vệ của kẻ lãnh đạo về chính trị là người đã ký kết hiệp-ước. Vua Gót và các đồng minh của hắn sẽ nghĩ Y-sơ-ra-ên là tấm bia để họ dễ dàng nhắm tới, nhưng họ đã quên sự bảo vệ của Đức Chúa Trời đối với Gia-cốp.
Điều này đưa đến vấn-đề thật khó hiểu là: Tại sao Gót và tất cả các nước liên minh của hắn đều lại muốn tấn công Y-sơ-ra-ên, trong khi họ biết rằng khối liên minh Châu Âu gồm 10 nước hùng mạnh đã từng hứa bảo vệ người Do-thái hiện đang bơ vơ không ai giúp đỡ?
Mục tiêu rõ ràng này được đề-cập đến trong câu 12-13 là phải đoạt lấy sự giàu có trong xứ của Y-sơ-ra-ên, là mục tiêu mà các quốc gia khác cũng đều muốn như vậy. Nhưng nếu viễn cảnh gợi ý kia của chúng ta là đúng, thì có lẽ những quốc gia này cũng muốn ngăn cản việc xây dựng lại đền thờ của người Do-thái.
Các dân-tộc có tên ở đây được nhận diện là những người theo đạo Hồi (Islam), và chắc hẳn họ rất muốn bảo vệ “ Mái Vòm Đá”, một công trình kỷ niệm của tín-đồ Hồi-giáo sùng đạo [82] đã xây lên sừng sững trong khuôn viên đền thờ suốt nhiều thế kỷ qua. [83]
Bất cứ điều gì mà vua Gót cho rằng đều có thể, thì nó đã được chứng-minh chính Đức Chúa Trời là Đấng đã đem đội quân này ra khỏi bờ cõi của chúng (c.4, NASB, c.16-17). Vua Gót tưởng hắn đã thực hiện được toàn bộ mưu đồ này (c.10-11), nhưng Đức Chúa Trời là Đấng xử lý việc này. Liên minh phương bắc đã kéo vào xứ của Y-sơ-ra-ên với niềm tin chiến thắng, thế nhưng họ thực sự đang dấn bước vào trong một cái khung bẫy rập.
2. Trong thời gian xảy ra cuộc xâm lược (Êxe 38:1-13) (Êxe 38:14-39:8)
Những kẻ thù thường hay tấn công Y-sơ-ra-ên từ hướng bắc gồm có A-si-ri, Ba-by-lôn, và Hê-tít. Vua Gót và đám quan binh của hắn sẽ lao xuốt đột kích từ phương bắc, “như một đám mây che phủ đất”, chúng hoàn toàn không hay biết rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra- ên đã sắm sẵn sự hủy diệt này của họ.
Những quyết định đưa đến lý-do chiến tranh của Ma-gốc sẽ khớp với ý chỉ của Đức Chúa Trời là Đấng lập kế hoạch cho cuộc xâm lược này vì cớ các mục đích của Ngài. [84] Đức Chúa Trời tuyệt nhiên không xen vào quyền tự-do suy nghĩ và quyền tự-do quyết định của họ, nhưng Ngài đã bác bỏ những quyết định của Gót vì cớ các mục đích của chính Ngài, giống như Ngài đã làm đối với Ba-by-lôn (Êxe 21:18-24), “Người ta bẻ thăm trong vạt áo”
“Song sự nhứt định do nơi Đức Giê-hô-va mà đến” (Ch 16:33 NKJV); “Lòng của vua ở trong tay Đức Giê-hô-va khác nào dòng nước chảy”
“Ngài làm nghiêng lệch nó bề nào tùy ý Ngài muốn” (Ch 21:1 NKJV).
Kẻ thống lĩnh liên minh châu Âu nghĩ gì khi cuộc chiến tranh không được tuyên-bố công-khai này bắt đầu? Chắc chắn một kẻ khôn-ngoan mưu mẹo như hắn ta ắt đã biết rõ rằng những quốc gia này đang sẵn sàng hành động. [85]
Ngay sau khi ký kết hiệp-ước 7 năm với Y-sơ-ra-ên, hắn đã phải ra tay bảo vệ họ; thế nhưng hắn lại muốn lợi dụng cơ hội tốt nhất của cuộc khủng hoảng này để xúc tiến, đẩy mạnh chương trìng riênh của hắn. Cuối cùng, hắn đồng ý bảo vệ Y-sơ-ra-ên để đến một ngày nào đó hắn có thể dùng đền thờ của họ vào những mục đích xấu xa của chính hắn. Có lẽ đã dùng Gót và các nước liên minh với Gót đẩy mạnh cái ngày mà hắn dự định sẽ trở thành kẻ độc tài chuyên quyền cai-trị cả thế giới.
Nhưng trước khi tên thống lĩnh người châu Âu này chọn thời gian để hành động, thì Đức Chúa Trời sẽ xen cơn thịnh nộ ghen tuông của Ngài vào quét sạch các đội quân xâm lược ấy đi! Trước hết, Ngài sẽ gây ra cơn động đất kinh hoàng làm rung chuyển cả trái đất (Êxe 38:19-20). Dường như cơn động đất này không giống như bất kỳ những cơn động đất nào đã được đề-cập trong sách Khải-huyền (Kh 6:12; Kh 8:5; Kh 11:13,19; Kh 16:18), nhưng tại một vài nơi trên dương-gian này sẽ bị hủy hoại rất khủng khiếp.
Sự rúng động xứ của Y-sơ-ra-ên sẽ quăng đội quân xâm lược vào trong tình trạng rối loạn, khủng hoảng khiếp hãi và bọn chúng sẽ tàn sát lẫn nhau. Kế đó, Đức Chúa Trời sẽ khiến mưa dầm, mưa đá, lửa và diêm sinh (lưu huỳnh) như một tai vạ từ trời đổ xuống trên đội quân này, và điều đó sẽ đánh tan cuộc xâm lược, việc có quá nhiều kẻ đã phải bỏ mạng tại đó khiến người ta phải mất 7 tháng trời ròng rã để chôn cất tất cả bọn chúng (Êxe 39:12).
Nội dung trong phân đoạn 38 tập trung mô-tả sự bại trận của đạo quân, nhưng trong Êxe 39:1-8 thì lại đề cập đến sự thất bại của tên tướng chỉ huy đội quân ấy, là vua Gót của Ma-gốc. Trong bản Kinh Thánh nhuận chánh (Authorized Version), thì Êxe 39:2 có thêm nội dung nhấn mạnh rằng có đến một phần sáu số binh lính của đội quân xâm lược này làm quân dự bị và bị cho về quê một cách nhục nhã, bẻ mặt.
Tuy nhiên, câu 2 đó còn khẳng định rằng chính Đức Chúa Trời sẽ đem vua Gót vào trong xứ và Ngài cho phép hắn tấn công dân Y-sơ-ra-ên rất quyết liệt, “Ta sẽ quay ngươi lại. Ta sẽ dẫn ngươi đi, và khiến ngươi đến từ phía cực bắc, và đem ngươi lên trên các núi của Y-sơ-ra-ên” (Êxe 39:2 AMP).
Đức Chúa Trời không những chỉ đạo viên tướng thống lĩnh đội quân, mà Ngài còn tước bỏ khí giới của hắn để hắn bị cô lập bơ vơ trước kẻ thù mình (c.3). Thay vì tàn sát người Do-thái, binh lính của hắn lại quay sang tự giết hại lẫn nhau và trở thành thức ăn cho lũ chim ăn xác chết và các thú đồng. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ không dừng sự đoán-phạt của Ngài giáng trên những kẻ thù đến xâm lược Y-sơ-ra-ên; Ngài cũng sẽ giáng cơn đoán phạt bằng lửa trên xứ của Ma-gốc! (c.6).
Trong câu 23, Đức Chúa Trời đưa ra 3 lý-do khiến Ngài đưa Gót cùng quân đội của hắn đến Y-sơ-ra-ên và sau đó đánh bại họ một cách quá đột ngột.
-Thứ nhất, chiến thắng này sẽ bày-tỏ sự vĩ đại cả thể của Đức Giê-hô-va khi Ngài muốn thể hiện quyền năng của Ngài ra trước các dân các nước (c.23). Không có chứng-cớ nào cho thấy các lực lượng Y-sơ-ra-ên đã từng đương đầu với đội quân xâm lược này. Đức Chúa Trời đã can thiệp vào và Ngài sử dụng những vũ khí nói chung trên thế-gian chẳng ai có khả năng dùng được – đó là mưa dầm, mưa đá, lửa và diêm sinh đổ xuống từ trời! Thực tế, đội quân xâm lược kia sẽ nằm ngoài vòng tiêu diệt này của Chúa nhưng chúng đã tự huỷ diệt chính mình!
-Thứ hai, chiến thắng này cũng sẽ phô-bày sự thánh-khiết của Chúa ra khi Ngài trừng phạt tội-lỗi của kẻ chỉ huy đến từ Ma-gốc kia và Ngài sẽ xử lý sự thù hận cũa hắn đối với người Do-thái. Sự giàu có thịnh vượng của Đất Hứa thuộc về Đức Giê-hô-va, và Ngài đã ban chúng cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, các dân-tộc khác không có quyền chiếm đoạt chúng. [86]
-Thứ ba, chiến thắng này sẽ khiến cho các dân ngoại biết đến Đức Giê-hô-va, và thế gian sẽ thấy rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thần.
Nhưng có lẽ lý-do quan-trọng nhất được đưa ra trong Êxe 39:7 là Y-sơ-ra-ên sẽ nhìn biết được sự thánh-khiết của Đức Chúa Trời và họ sẽ nhận ra tội-lỗi của chính mình. Trong thời gian họ bị tản lạc đến các nước khác, dân Do-thái đã làm ô danh Chúa (Êxe 36:19-23).
Giờ đây Đức Chúa Trời đã thâu hiệp họ về trong chính xứ của họ, thế nhưng họ vẫn chưa thực sự trở lại đạo; mặt khác, họ cần phải thừa nhận sự thánh-khiết và sự vĩ đại của Ngài. Họ vẫn chưa thực hiện được điều này cho đến chừng họ gặp Đấng Mê-si-a là Đấng sẽ gánh tội-lỗi thay cho họ, họ sẽ đặt lòng tin-cậy nơi Chúa Giê-xu Christ và dân-tộc họ sẽ được phục-hưng (Êxe 37:25-38).
Nhưng chi ến thắng vĩ đại này sẽ mới chỉ là bắt đầu kinh-nghiệm thuộc-linh của họ với Chúa. Cả Y-sơ-ra-ên và các dân tộc kia sẽ biết Giê-hô-va chính là Đức Chúa Trời, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên. Trong thời kỳ Đại Nạn đầy gian nan, lẽ nào dân Do-thái lại không nhớ chiến thắng vĩ đại của Đức Chúa Trời trên những kẻ xâm lược kia? Chiến thắng ấy không khích-lệ đức-tin họ sao? Có dân ngoại nào nhớ lại chiến thắng của Chúa nên đã trở lại cùng Ngài không?
Chúng ta được khuyến khích hãy xem xét kẻ lãnh tụ ở Châu Âu nọ đã phản ứng lại những chuỗi sự-kiện đáng nhớ này ra sao. Hắn vừa hứa sẽ bảo vệ Y-sơ-ra-ên thì liên minh các nước đã xâm lược Pa-lét-tin và hắn ta chẳng thể làm được gì trong vụ việc này. Có lẽ hắn bảo rằng “các lực lượng tự nhiên” đều phải ở dưới sự kiểm soát của hắn! Ít nhất người Do-thái cũng có thể xây được đền thờ của họ mà không bị các nước lâng bang can thiệp vào. Đức Chúa Trời sẽ cho Antichrist những gì nó muốn, nhưng đến kỳ cuối cùng, tất cả rồi sẽ cùng nhau đi đến sự hủy diệt với nó mà thôi.
-Êxe 38:14-23; xem giải nghĩa Êxe 38:1-13.
-Êxe 39:1-8; xem giải nghĩa Êxe 38:1-13.
3. Sau cuộc xâm lược (Êxe 39:9-29)
Sự hủy diệt bất ngờ của đạo quân đông đảo này sẽ để lại đằng sau chúng các xác chết vô số kể cùng với hàng đống khổng lồ những khí giới và quân trang. Chúng ta không được cho biết có bao nhiêu thiệt hại khác do trận cuồng phong này mà Đức Chúa Trời đã sai đến gây ra, nhưng rõ ràng rằng xứ cần phải được tẩy uế.
• Việc thanh tẩy xứ (Êxe 39:9-16): Mọi người từ các thành phố của Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra thu lượm và đốt các khí giới cùng những quân trang do đội quân bại trận của Gót bỏ lại. Những quân trang quân dụng và vũ khí thời cổ đại được liệt kê ra ở đây gồm có khiên cầm tay, khiên che chắn cơ thể (cái mộc, thuẩn), cung tên, gậy gộc giáo mác.
Không có những vũ khí như của quân đội hiện đại, nhưng Ê-xê-chi-ên đã dùng thứ ngôn ngữ mà người ta có thể hiểu được. [87] Giả sử ông đã viết về nh ững chiếc phi cơ phản lực và hỏa tiễn, thì chắc chắn ông là người truyền-tin kém hiểu biết. Số quân trang khí giới mà người gom lại rất nhiều và chúng không còn sử dụng được nữa nên họ đem dùng chúng vào việc làm nhiên liệu chất đốt trong 7 năm.
Nhưng giả sử những quân dụng, vũ khí này thực sự được làm bằng gỗ, vậy thì chúng sẽ được tồn tại trong bao lâu? Có phải nhiều người đã có thể dùng việc đốt cung tên, gậy gộc giáo mác và khiên thuẩn để làm nóng gia đình, làm nóng nhà máy, công ty xí nghiệp là những cơ sở làm ăn của họ trong suốt 7 năm không? Và có phải dân Y-sơ-ra-ên trong tương lai sẽ đốt nóng nhà cửa mình bằng những lò sưởi và những bếp lò đun bằng củi chăng?
Các binh lính đã tử trận chắc đã không cố tình làm ô uế hết những quân trang quân dụng này chứ? Việc đốt những đồ đạc khí giới đơn giản chỉ nói lên ý nghĩa rằng người Do-thái đã không giữ chúng lại để sử dụng chúng cho chính họ và họ đã thiêu hủy chúng để không ai có thể dùng chúng nữa. Gót và đạo binh của hắn đã đến để tàn diệt Y-sơ-ra-ên, có ngờ đâu giờ đây Y-sơ-ra-ên đã tiêu diệt chúng!
Tuy nhiên, xứ cũng phải được dọn sạch sẽ những thây người chết. Thực tế, người Do-thái đã tỏ ra tử tế đối kẻ thù mình qua việc họ đã chôn cất các tử thi ấy. Dĩ nhiên, các xác chết nằm phơi mình ra đó đã làm ô uế xứ, vì vậy cần phải dọn sạch chúng càng sớm càng tốt; nhưng sẽ phải mất 7 tháng mới có thể làm xong công việc này. Và thậm chí, sau đó còn có một toán công nhân làm công việc đặc biệt là sẽ tiếp tục đi tuần, tìm kiếm các thi thể, xương cốt còn sót đã bị vùi lấp ở đâu đó.
Thành phố lúc bấy giờ thật đúng với tên gọi là Đảng (Hamonah) (“đảng” ở đây là nói về “ đảng” lính đã bị giết) sẽ được lập ra như một tổ chức cơ quan đầu não chỉ huy chiến dịch hành quân càn quét. Dân-tộc Y-sơ-ra-ên sẽ nhớ mãi ngày giải phóng trọng đại này và có lẽ việc ấy đã tạo nên một ngày lễ định kỳ hàng năm của họ là ngày Đức Giê-hô-va được vinh-hiển (c.13, NIV).
Nghĩa trang dành cho đảng lính bị chết đông vô số kể này nằm ở đâu? Tại những phần mộ nằm trong xứ Y-sơ-ra-ên và tại những chỗ có người ta đi qua đi lại (c.11). Trong thực tế, vì có quá nhiều xác chết nên việc tiến hành chôn cất chúng sẽ gây ra tình trạng tắc nghẽn giao thông. [88] Một số sinh-viên cho rằng nơi chôn cất đó chắc nằm ở phía đông Biển Chết trong khu vực được biết đến là “Đồng Trũng của Khách Bộ Hành”. Tên mới của nó là “Đồng Trũng của Đảng Gót”.
• Lời mời dự tiệc (Êxe 39:17-20): Không có một thi hài nào được người ta chôn ngay, vì vậy, các thú đồng và lũ chim ó chuyên ăn xác chết sẽ rất vui sướng về một bữa tiệc thịnh soạn mà Đức Chúa Trời đã mời chúng đến dự. (Về những xương cốt còn bỏ lại thì sẽ được đem chôn, xem c.15).
Sự mời mọc đến dự tiệc là hình ảnh quen thuộc mà Kinh Thánh hay dùng để ám-chỉ về sự đoán-phạt của Đức Chúa Trời và về chiến thắng của Ngài trên các kẻ thù Ngài. Ê-sai dùng hìng ảnh này khi nói đến chiến thắng của Đức Chúa Trời trên Ê-đôm (Ês 34:6), Giê-rê-mi dùng khi đề-cập đến chiến thắng của Ngài trên Ê-díp-tô Giê 46:10), và Sô-phô-ni đã dùng nói về sự xét-xử của Chúa đối với Giu-đa (So 1:7-8). Sẽ có một lời mời tương tự như vậy được đưa ra sau Trận Đại Chiến Ha-ma-ghê-đôn (Kh 19:17-21). Gót và các đồng minh của hắn đại bại hết sức nhục nhã đến nỗi Đức Chúa Trời đã đề-cập đến bọn quan trưởng của chúng như là “những chiên đực, chiên con, dê đực, bò đực mập”! Lúc tiến vào Y-sơ-ra-ên họ là những tên lính vô cùng kiêu-căng ngạo-mạn, nhưng giờ thì họ đã bị chôn như những thú vật chết. Sự vĩ đại của loài người quả thật rất phù du.
• Sự thương-xót của Đức Chúa Trời (Êxe 39:21-29): Đức Chúa Trời đã tiêu diệt quân xâm lược không chỉ vì để bảo vệ dân-sự Ngài mà còn để sự vinh-hiển Ngài ra trước dân ngoại. Phép-lạ này còn là điều dùng để nhắc nhở người Do-thái, họ vừa được trở về xứ mình (c. 27-28), rằng Đức Giê-hô-va là Chúa duy nhất của họ. Sự-kiện dân Do-thái xây lại đền thờ của họ là bằng chứng cho thấy họ luôn có niềm tin tôn-giáo rất bền bỉ, nhưng đó không phải là niềm tin để được cứu-rỗi nơi Đấng Mê-si-a, là Đức Chúa Giê-xu Christ. Kinh-nghiệm được giải cứu này sẽ nhắc nhở họ nhớ lại ông bà tổ-tiên họ cũng từng được Đức Giê-hô-va nhiều lần giải cứu bằng phép-lạ như đã được ký thuật trong Kinh Thánh Cựu-ước của họ.
Nhưng chiến thắng trên Gót và bè đảng của hắn ắt sẽ nói cho dân ngoại biết điều gì đó về Y-sơ-ra-ên (c. 23-24), rằng dân Do-thái quả đúng là tuyển dân của Đức Chúa Trời đã bị Ngài sửa phạt trong quá-khứ nhưng giờ đây Ngài sẽ lập họ thành một vương quốc theo dự định của Ngài. Ngày ấy sẽ đến khi dân-tộc phản nghịch này được Chúa thanh tẩy tội-lỗi ô uế và được Ngài tha-thứ, thì Ngài sẽ đổ Thần Linh Ngài trên họ. Điều đó sẽ xảy ra khi họ gặp được Đấng Mê-si-a, ăn-năn tội mình và tin nhận Ngài để được Ngài cứu-rỗi.
Các dân ngoại và dân-tộc Y-sơ-ra-ên sẽ phải nếm-trải sự khốn nạn, khổ não khủng khiếp trong suốt 7 năm của thời kỳ Đại Nạn. Nhưng Đức Chúa Trời bởi lòng thương-xót của Ngài, Ngài sẽ đóng ấn cho 144.000 người Do-thái là số người sẽ được Ngài tập trung lại lập thành vương quốc như Ngài đã hứa, và cũng sẽ có vô số dân ngoại đông đến mức không ai đếm xuể được cứu để cùng được dự phần vào vương quốc ấy (Kh 7:1-17). Đền thờ được dân Do-thái xây lại lần cuối cùng sẽ bị Antichrist làm cho ô uế và cuối cùng chúng sẽ hủy diệt luôn. Nhưng Đức Chúa Trời có hứa với dân sự Ngài về một quê hương mới và đền thờ mới, và Ê-xê-chi-ên sẽ mô-tả những sự này cho chúng ta thấy ở những phân đoạn Kinh Thánh cuối trong sách của ông.
13. VINH QUANG NƠI ĐỀN THỜ (Êxe 40:1-48:35)
Ê-xê-chi-ên vừa mô-tả xong sự trở về xứ của dân Do-thái, công việc thanh tẩy dân-tộc, và sự phục-hồi xứ để được trở nên kết quả và an-ổn. Nhưng để cho bức tranh này được đầy đủ trọn-vẹn, ông cần cho sự bảo đảm rằng đền thờ yêu quý của họ và những công việc của nó phải được phục-hưng trở lại, vì sự hiện diện của vinh-quang Đức Chúa Trời đã phân-rẽ Y-sơ-ra-ên ra khỏi tất cả các dân các nước (Rô 9:4).
Trong 9 phân đoạn sau cùng này của sách Ê-xê-chi-ên, nhà tiên tri sẽ mô-tả chi tiết đền thờ mới và những bộ phận phòng ốc của nó, những ranh giới bờ cõi giữa các chi phái trong xứ, và sự trở lại của vinh-quang Đức Giê-hô-va trên Y-sơ-ra-ên.
1. Sự mô-tả chi tiết đền thờ mới (Êxe 40:1-49)
Qua nhiều thế kỷ, nhiều sinh-viên trường Kinh Thánh tin kính và có kiến thức thần-học sâu rộng, cả người Do-thái lẫn Cơ-đốc nhân, đều nổ lực giải thích về sự hiện thấy được mô-tả trong những phân đoạn Kinh Thánh này, thế nhưng họ đã không có được sự nhất trí thỏa đáng. Từ những sự nghiên-cứu Kinh Thánh đã đưa ra ít nhất 4 quan-điểm, và cả 4 quan-điểm này vừa chứa đựng những mặt mạnh đầy sức thuyết phục lẫn những mặt yếu đầy khiếm khuyết.
Ê-xê-chi-ên mô-tả “sự thờ-phượng lý tưởng” của dân-sự Đức Chúa Trời: Loại trừ ý tưởng sẽ có một đền thờ theo nghĩa đen được xây lên trong Y-sơ-ra-ên, thì quan-điểm này sẽ thuộc-linh hóa sự hiện thấy mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ê-xê-chi-ên và có thể ứng-dụng nó vào hội thánh ngày nay được.
Đền th ờ tượng-trưng cho sự hiện diện của vinh quang Đức Chúa Trời giữa vòng dân-sự, và các cổng thì ngụ ý về những cơ-hội được mở ra cho dân-sự đến gần Chúa. Sông ra từ đền thờ nói lên nguồn phước hạnh của Đức Chúa Trời tuôn chảy từ hội thánh Chúa đến với thế-gian, sông càng lúc càng sâu hơn chảy quanh hoang mạc rồi dẫn vào một khu vườn.
Có sự tranh luận về quan-điểm này cho rằng đó là ý nói công việc của Đấng Christ đã hoàn thành và là mục đích của giao-ước cũ. Vì đã có sự chết, sự sống lại của Đấng Christ và vì chức-vụ hiện tại của Ngài là thầy Tế-Lễ thượng Phẩm của chúng ta, chúng ta sẽ không còn cần đến những đền thờ, các thầy tế-lễ và những sinh tế ở thế-gian nữa. Giao-ước mới của ân-điển đã thay thế cho giao-ước cũ của luật-pháp, và nếu quay lại với giao-ước cũ thì có nghĩa là chúng ta không chấp nhận những thông-điệp trong thư tín gởi cho tín-hữu Ga-la-ti và tín-hữu Hê-bơ-rơ.
Sự lý giải này lần đầu tiên đã được trình-bày bởi những sinh-viên của trường chuyên tìm hiểu nghiên-cứu về một ngàn năm bình-an là những người đã thuộc-linh hóa các lời phán hứa của giao-ước cũ dành cho Y-sơ-ra-ên. Họ cho rằng tương lai Y-sơ-ra-ên sẽ không còn là một dân-tộc nữa, kể cả việc lập thiết lập vương quốc theo thế tục trên đất này! [89]
Nhưng phương pháp tiếp cận này lại có lắm vấn-đề, không hề có sự trình-bày nào về quá nhiều chi-tiết trong các phân đoạn Kinh Thánh này. Nếu Đức Chúa Trời muốn Ê-xê-chi-ên chỉ đơn giản mô-tả “sự thờ-phượng lý tưởng” cho hội thánh ngày nay thấy, thì Ngài đã không phải ban cho chúng ta những số đo các bức tường, các cổng, hành lang và các phòng ốc.
Việc dùng ngôn ngữ hình tượng về đền thờ của Ê-xê-chi-ên không phải là vấn-đề khó hiểu đối với chúng ta bởi vì ông là một thầy tế-lễ và dân Do-thái hiểu được loại ngôn ngữ này; nhưng tại sao tất cả lại phải quá cụ-thể chi-tiết như vậy? Liệu chúng ta có quan-tâm để ý đến chúng hoặc tìm hiểu và ứng-dụng chúng không? Nếu vậy, chúng có ý nghĩa gì đối với sự thờ-phượng thuộc-linh hiện nay? Hơn nữa, tại sao Ê-xê-chi-ên lại bỏ sót quá nhiều nhân tố quan-trọng cần có trong phần thờ phượng của Kinh Thánh Cựu-ước? Đền Thờ của Ê-xê-chi-ên không có hòm giao-ước, bàn thờ xông hương bằng vàng, các chân đèn, bàn để bánh trần thiết, bức màn, hoặc thầy tế-lễ thượng phẩm.
Ông chỉ nêu lên 3 trong số 5 loại sinh tế do người thuộc dòng Lê-vi cử hành lễ dâng lên, và hai trong số bảy kỳ lễ tổ chức hằng năm của người Do-thái, không có lời giải thích gì về những sự bỏ sót này cả. (Tôi sẽ nói rõ hơn về vấn-đề giao-ước cũ trong chương này).
Khi chúng ta bắt đầu thuộc-linh hóa Kinh Thánh Cựu-ước, mỗi người giải thích sẽ cho rằng điều đó là đúng theo cái nhìn của mình và các kết quả đều gây khó hiểu. Chúng ta không thể phủ nhận rằng Đền Thờ được dùng như làm hình ảnh ngụ ý cho cả hội thánh phổ thông (Êph 2:19-22) lẫn hội thánh địa phương (ICôr 3:9-22), nhưng những khía-cạnh đồng dạng của hình ảnh này không phải là bằng chứng đảm bảo cho những gì Kinh Thánh nói về đền thờ của người Do-thái ắt sẽ được áp dụng cho hội thánh ngày nay.
Ý tưởng về con sông ra từ nơi thánh vẽ lên nguồn phước hạnh của Phúc-Âm (hoặc của hội thánh Chúa) ban cho toàn cầu là điều hơi khó chấp nhận được trên phương diện lịch-sử hội thánh. Thay vì dòng sông thánh-khiết chứa đầy phước hạnh từ hội thánh Chúa chảy ra thế-gian, thì hình như rằng đang có một dòng sông đầy tội-lỗi dơ dáy bẩn thỉu đang từ thế gian chảy vào hội thánh Ngài!
Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận “rất thuộc-linh” này đã nhấn mạnh một điểm rất quan trọng. Dân Do-thái đã làm ô uế đền thờ của họ và vinh-quang Đức Chúa Trời đã lìa khỏi đó, Y-sơ-ra-ên cần trở lại sự thờ-phượng thánh và từ bỏ lề thói hoạt động tôn-giáo rỗng tuếch của mình. Thực tế, có một bài học mà Hội Thánh ngày nay cần phải chỉnh sửa lại. Có quá nhiều hình thức gọi là sự thờ-phượng nhưng thực ra đó chỉ là để biểu dương hoạt động tôn-giáo mà con người là trung tâm của sự thờ-phượng đó khiến người ta không đem lại vinh-hiển cho Đức Chúa Trời.
Ê-xê-chi-ên đưa ra kế hoạch cho đền thờ trong thời kỳ hậu lưu-đày: Nếu điều này đúng, thì số dân Do-thái sót đã không hề biết khi nào họ sẽ được hồi hương, bởi vì họ đã xây lại đền thờ theo kế hoạch Môi-se đưa ra trong Xuất Ê-díp-tô ký. Những bậc trưởng-lão nhóm lại đã khóc, họ khóc không phải vì đền thờ xây lại này không giống như sự hiện thấy của Ê-xê-chi-ên mà là vì nó chẳng giống chút nào đền thờ đẹp đẽ uy nghi mà Sa-lô-môn từng xây (Êxe 3:10-13).
Có lẽ sự hiện thấy về đền thờ mới này chắc đã khích-lệ dân Do-thái sót rất nhiều trong công việc khó khăn của họ, nhưng đó không phải là lý-do khiến Đức Chúa Trời ban cho Ê-xê-chi-ên sự hiện thấy vinh-hiển này. Dân Do-thái sót có Giô-suê là thầy tế-lễ thượng-phẩm ở với họ, nhưng Ê-xê-chi-ên chẳng nói gì đến thầy tế-lễ thượng-phẩm cả, và không có chỗ nào ký-thuật rằng vinh-quang Đức Chúa Trời phủ đầy đền thờ xây lại này. Sự lý giải về “Đền Thờ xây lại” của bản văn Kinh Thánh đây thực sự đã không đủ sức thuyết phục.
Sự hiện thấy của Ê-xê-chi-ên là sự liệu trước cho sự hiện thấy của Giăng trong Khải-huyền, Êxe 21: Đúng vậy, có một số điều tương tự. Cả 2 người đều được đưa lên trên núi cao (Êxe 40:2) và cả 2 đều thấy được thành thánh vinh-hiển của Đức Chúa Trời. Trong cả 2 sự hiện thấy, đều có một người đi đo thành (c.15-17), và cả hai đều mô-tả sông nước sự sống (Kh 22:1).
Ê-xê-chi-ên và Giăng đều cùng nhấn mạnh việc cần phải rũ bỏ tống khứ sự ô uế ra khỏi thành (Kh 21:27). Tuy nhiên, sự hiện thấy của Giăng không hề nói gì về sự thờ-phượng cả; thực tế, ông khẳng định rõ ràng rằng sẽ không có đền thờ trong thành ông mô-tả (c.22). Đền thờ của Ê-xê-chi-ên thiết kế hình vuông và được xây dựng bằng những chất liệu bình thường (bằng đá là thứ có rất nhiều ở Y-sơ-ra-ên), trong khi thành của Giăng thì hình như có hình khối lập phương (c.16), được tạo dựng bằng nhiều thứ kim loại và ngọc quý. Thành phố trên trời sẽ chứa đựng mọi Cơ-đốc nhân của toàn thế giới (c.24-27), trong khi đền thờ của Ê-xê-chi-ên thì nhấn mạnh chỉ dành cho người Do-thái, kể cả các sinh tế làm của lễ dâng cũng chỉ thuộc về dòng Lê-vi mà thôi. [90]
Nó không bao gồm những người ngoại đã tin Chúa, nó nhấn mạnh đến người thờ-phượng duy chỉ có dân Do-thái mà thôi. Không có vẻ gì là khi Đức Chúa Trời ban cho Giăng sự hiện thấy này trong trí ông thì Ngài đã bày-tỏ cho Ê-xê-chi-ên thấy về đền thờ như vậy.
Ê-xê-chi-ên mô-tả về một đền thờ sẽ được sử dụng trong suốt thời trị-vì 1000 năm của Đấng Christ: Sự giải thích này giúp chúng ta hiểu được những phần Kinh Thánh tiên-tri về mặt giá-trị hình thức chứ nó không phải cố tình thuộc-linh hóa chúng.
Ê-xê-chi-ên mô-tả mẫu mã của đền thờ theo nghĩa đen là nơi sẽ trở thành trung-tâm thờ-phượng trong suốt thời kỳ của vương quốc Đấng Christ, một sự thờ-phượng có nền-tảng dựa trên các thứ tự nghi-thức do dòng Lê-vi đảm-nhiệm mà Luật Pháp Môi-se đã quy định.
Theo Êxe 43:6-12, thì Chúa đã chỉ dẫn rất chi tiết nhằm tập trung sự chú ý của dân Do-thái hướng đến sự thánh-khiết của Ngài và đưa họ đến sự ăn-năn. Đức Chúa Trời muốn họ hết lòng tôn quý đền thờ của Ngài chứ đừng đối với nó giống như đối với bất kỳ mọi công trình xây dựng khác của những người dân láng giềng, và đặc biệt Ngài muốn họ từ bò sự thờ hình-tượng.
Đối với vấn-đề chỗ thờ-phượng hiện nay, Y-sơ-ra-ên có đến 4 nơi thánh khác nhau: Đền tạm của Môi-se xây, Đền thờ của Sa-lô-môn xây, Đền thờ được xây lại sau Cuộc Lưu Đày, và đền thờ của Hê-rốt xây trong thời Chúa Giê-xu. Vinh-quang Đức Chúa Trời đã lìa khòi đền tạm (ISa 4:19-22) và trở lại trong đền thờ của Sa-lô-môn. Trước khi đền thờ bị quân Ba-by-lôn phá hủy, Ê-xê-chi-ên nhìn thấy vinh-quang Đức Chúa Trời lìa khỏi đền thờ (Êxe 9:3; Êxe 10:4; Êxe 11:22-23). Không có chứng-cớ nào cho biết vinh-quang Đức Chúa Trời đã từng ngự đến trong đền thờ được xây sửa lại hay trong đền thờ của Hê-rốt xây.
Con của Đức Chúa Trời đã thi-hành chức-vụ mình tại trong đền thờ của Hê-rốt xây và ở một góc độ nào đó thì việc ấy đã đem lại sự vinh-hiển cho Đức Chúa Trời (Gi 1:14; Ha 2:7). Nhưng Chúa Giê-xu đã rời khỏi đền thờ đó giống như cách vinh-quang Đức Chúa Trời đã từng lìa khỏi đền thờ của Sa-lô-môn xây: Ngài đi lên núi Ô-li-ve (Êxe 11:22-23; Mat 23:38; Mat 24:3).
Khi Chúa Giê-xu trở lại, Ngài sẽ đem vinh-quang đến với đền thờ suốt thời gian 1000 năm, Ngài sẽ đến từ núi Ô-li-ve (Êxe 43:1-5; Công 1:9-12; Xa 14:4). Dân Do-thái hiện giờ không có đền thờ bởi vì ngôi đền thờ do Hê-rốt xây đã bị người La-mã hủy diệt vào năm 70 SC.
Tương lai Y-sơ-ra-ên có 2 đền thờ: đó là đền thờ trong thời kỳ Đại Nạn sẽ bị Antichrist chiếm đóng kiểm soát (Đa 9:24,26-27; Mat 24:15; IITês 2:1-4; Kh 11:1; Kh 15:5), và đền thờ ở thời kỳ thiên hy niên mà Ê-xê-chi-ên đã mô-tả trong những phân đoạn Kinh Thánh này. Nhưng Ê-xê-chi-ên không phải là tiên-tri duy nhất bảo rằng sẽ có một đền thờ thánh trong suốt thời đại Nước Trời. Bạn hãy tìm một đền thờ thuộc thời đại vương quốc và sự thờ-phượng trong thời đại ấy ở sách: (Ês 2:1-5; Ês 60:7,13; Giê 33:18; Gio 3:18; Mi 4:2; Ag 2:7-9; Xa 6:12-15; Xa 14:16,20-21). Êxe 37:24-28 ký thuật lời Đức Chúa Trời hứa với dân-sự Ngài rằng Ngài sẽ đặt nơi thánh của Ngài giữa vòng họ: “Đền tạm ta sẽ ở giữa chúng nó, ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta” (c.27 NKJV).
Đức Chúa Trời ban kế hoạch xây đền tạm cho Môi-se, là một nhà tiên-tri (Xu 25:8-9:40), và Ngài cũng đã ban cho Đa-vít vốn là một vị vua, kế hoạch xây đền thờ và sau này do Sa-lô-môn xây (ISu 28:11-19). Giờ đây, Ngài tiết-lộ cho Ê-xê-chi-ên là một thầy tế-lễ và cũng là nhà tiên-tri biết kế hoạch xây đền thờ thiên hy niên vinh-hiển. Các kế hoạch này có liên quan trực tiếp đến những người mà Ê-xê-chi-ên đang thi hành chức vụ mình đối với họ, là dân Do-thái nản lòng tuyệt vọng vì bị cuộc vây hãm của quân Ba-by-lôn cướp đi xứ, thành thánh, Đền thờ, và nhiều người thân yêu của họ. Trong những phân đoạn Kinh Thánh tiên-tri này của Ê-xê-chi-ên, ông bào-đảm rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ các lời-hứa theo giao-ước Ngài và sẽ có ngày Ngài trở lại ở cùng với tuyển dân của Ngài.
Khi chúng ta nghiên-cứu học hỏi những phân đoạn sách khó hiểu này, chúng ta sẽ khám phá ra được lý-do tại sao việc lý giải về sự hiện thấy này theo nghĩa đen đã đưa đến cho chúng ta sự hiểu biết tận tường và sự ứng-dụng Lời mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ê-xê-chi-ên cách tốt nhất.
2. Kế hoạch về ngôi đền thờ mới (ISu 40:1-49) (Êxe 40:1-46:24)
Vào ngày 28, tháng Tư, năm 573 TC. nhằm ngày đầu tiên của Lễ Vượt qua – Đức Chúa Trời đã ban cho Ê-xê-chi-ên sự hiện thấy được ký thuật trong phân đoạn 40-48. Dân Do-thái lúc bấy giờ đang làm phu-tù tại Ba-by-lôn được 25 năm, và Lễ Vượt Qua chỉ còn nhắc họ nhớ đến việc họ đã từng được giải cứu khỏi Ai-cập mà thôi. Đối với Y-sơ-ra-ên, Lễ Vượt Qua cũng chính là sự bắt đầu cho các kỳ lễ trong đạo của cả năm (Xu 12:2), và Đức Giê-hô-va chọn ngày trọng thể đặc biệt này để nói cho đầy tớ Ngài biết về vinh-quang mà Y-sơ-ra-ên sẽ có được khi Đấng Mê-si-a thiết lập vương quốc Ngài.
Trong một khải-tượng nọ, Ê-xê-chi-ên đến thăm xứ của Y-sơ-ra-ên, nhưng lần này không giống như “những lần thăm viếng” trước đó, ông không thấy dân sự phạm tội, không thấy xứ bị tàn phá và cũng chẳng thấy đền thờ bị ô uế. Lần này, ông thấy một xứ mới và đền thờ mới đầy vinh-quang. Tương tự như Môi-se tại trên núi đã nhận được kế hoạch xây dựng Đền Tạm, thì giờ đây Ê-xê-chi-ên cũng vậy, tại trên một hòn núi cao, ông đã nhận được kế hoạch xây Đền Thờ. Môi-se không được phép đi vào Đất Hứa, nhưng từ trên núi ông đã nhìn thấy nó (Phuc 34:1-4), và cũng từ một hòn núi cao Ê-xê-chi-ên đã nhìn thấy xứ cùng những sự phân chia bờ cõi của nó.
Có điều không chắc rằng đền thờ mới sẽ tọa lạc tại bất cứ nơi nào đó chứ chưa hẳn là tại núi Si-ôn, nhưng những người phê bình việc lý giải sự hiện thấy này theo nghĩa đen đã chỉ ra rằng Si-ôn không phải thực sự là một “ngọn núi rất cao”.
Tuy nhiên, có lẽ họ đang có cái nhìn tổng quát những thay đổi về địa hình địa lý sẽ xảy ra trong xứ của Y-sơ-ra-ên khi Chúa trở lại giải cứu dân-sự Ngài và thiết lập vương quốc của Ngài (Xa 14:4,10). Đức Chúa Trời có hứa rằng dân Do-thái sẽ thờ-phượng và hầu-việc Ngài tại trên núi cao (Êxe 20:40), Đấng Mê-si-a sẽ cai trị từ núi ấy (Êxe 17:22-23), và Ngài sẽ giữ lời phán hứa đó. Cả Ê-sai lẫn Mi-chê đều có đề-cập đến núi cao ấy (Ês 2:1-2; Mi 4:1). Si-ôn sẽ không chỉ là một nơi cao theo quy luật tự nhiên mà nó còn sẽ trở là trung tâm thờ-phượng Đức Giê-hô-va cho cả toàn thế giới.
Trong sự hiện thấy của mình, Ê-xê-chi-ên thấy có một người màu sắc giống như đồng, có thể là thiên-sứ viếng thăm, người đang đứng ngay bên ngoài cửa đông đền thờ. Người cầm trong tay một sợi dây thừng bện bằng vải lanh và một cái cần (cây sào), đó là những dụng cụ dùng để đo kích thước, sợi dây thừng dùng đo chiều dài (Êxe 47:3), còn cây sào thì dùng đo những kích thước ngắn hơn. Cây sào có lẽ dài chừng 10 feet (Êxe 40:5) (-tức bằng khoảng 3 mét-). [91] Việc đo nhà cửa đất đai là dấu hiệu tượng-trưng cho sự tuyên-bố tài sản đó là của chính bạn.
Trong những năm này khi người Do-thái còn sót đang cố gắng xây lại đền thờ của họ, thì tiên-tri xa-cha-ri có nhìn thấy một người đi đo đền thờ ấy, và đây là dấu hiệu biểu hiện rằng sẽ có ngày đền thờ và thành được phục-hưng (Xa 2:1-13). Đức Chúa Trời phán truyền cho sứ-đồ Giăng hãy đo đền thờ tại Giê-ru-sa-lem trước khi nó bị các dân ngoại giày xéo (Kh 11:1-19).
Đây là chứng-cớ cho thấy dù có xảy ra chuyện gì đi nữa thì cũng hề gì, bởi vì Giê-ru-sa-lem và đền thờ đều luôn thuộc về Đức Chúa Trời, rồi đây trong tương lai chúng sẽ được phục-hồi và được thánh hóa.
Thế rồi, người mà Ê-xê-chi-ên đã thấy trong khải-tượng kia liền hướng dẫn ông đi quanh khu vực hành lang có tường bao quanh của đền thờ, bắt đầu từ cửa đông và sau khi đi giáp vòng thì quay về lại chỗ xuất phát đó. Nhưng trước khi họ bước lên 7 bậc tam cấp xuyên qua cửa đông để đi vào hành lang ngoài, người hướng dẫn đó đã cho ông một số lời-khuyên nghiêm túc (Êxe 40:4).
Ê-xê-chi-ên chú ý quan sát thật kỹ những gì ông thấy và nghe bởi vì ông sẽ phải thuật lại tất cả mọi điều mà ông học hỏi được cho các phu-tù đang ở Ba-by-lôn biết. Dĩ nhiên, qua sách của mình, ông đã thuật lại cho nhiều thế-hệ của dân-sự nghe những gì ông tiếp thu được từ Đức Chúa Trời trong lần đi tham quan Đền Thờ này. Điều này có nghĩa là những biến cố được ký thuật trong các phân đoạn này đã chứa đựng nhiều lẽ thật mà dân Do-thái trong thời Ê-xê-chi-ên cần phải biết đến và tin.
Nếu chúng ta hiểu được được kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho tương lai là gì thì chúng ta sẽ th ấy rằng cả dân Do-thái lẫn người ngoại giáo ngày nay cũng đều vẫn rất cần những lẽ-thật này. Nếu tất cả những gì Đức Chúa Trời muốn làm đã gây ấn-tượng với Ê-xê-chi-ên là “sự thờ-phượng thuộc-linh”, thì vị thiên-sứ kia chắc hẳn đã nói cho ông biết cả rồi.
• Hành lang ngoài (Êxe 40:5-27): Toàn bộ khu vực thiêng-liêng này rộng 875 bộ vuông (còn gọi là phút (feet), 1 bộ = o,3048m), gồm một bức tường có chiều cao 10 bộ, chiều rộng 10 bộ (c.5). Riêng khu vực đền thờ nằm ở phía tây có hàng rào bao quanh, tính từ các bức tường vào cách 175 bộ, phần lưng của nó giáp ranh với khu vực thiêng-liêng.
Phía sau đền thờ có hai phòng bếp là nơi dùng để chuẩn bị những bữa ăn tế lễ, có kèm theo một phòng thứ ba nữa nhưng mục đích sử dụng nó đã không được bàn đến ở đây. Tại mỗi góc tường có một phòng bếp, tại điểm trung tâm của 3 bức tường phía đông phía bắc và phía nam có một cái cổng, và tại mỗi phía của 3 cổng này, về phía phải bên trong các bức tường có 5 phòng đặc biệt dành cho người đến thờ-phượng, có tổng cộng tất cả là 30 phòng.
Chúng được sử dụng cho các bữa ăn thông-công và ăn b ữa là các vật sinh tế. Khi bạn dạo bộ xuyên qua bất kỳ một cổng nào trong 3 lối cổng thuộc khu vực hành lang ngoài này, thì đồng thời bạn đã đi ngang qua 6 phòng là các trạm gác của các nhân viên bảo vệ đền thờ, mỗi một trạm có diện tích 10 bộ vuông và được trang trí với những hình cây kè.
Khu vực hành lang ngoài diện tích gần 400.000 bộ vuông, nhưng nó sẽ không có phần tiền sảnh như của người ngoại với bức tường ngăn cách thật quá đáng (Êph 2:14) [92] , và nó cũng không có phần sân phân biệt dành cho phụ nữ. Trong đền thờ thiên hy niên, mong muốn của Đức Chúa Trời chúng ta ắt được thực hiện, rằng, nhà Ngài sẽ là nhà cầu-nguyện dành cho cả người nam lẫn người nữ của tất cả mọi dân mọi nước (Mat 11:17; Ês 56:7; Giê 7:11). Diện tích của hành lang ngoài và việc có quá nhiều phòng ốc như vậy gơi ý rằng khu vực này sẽ là nơi dành cho sự thờ-phượng, nơi người ta có thể gặp gỡ nhau và cùng nhau dự bữa ăn các sinh tế thông-công với nhau.
• Hành lang trong (Êxe 40:28-47; Êxe 43:13-17): Sau khi đi thẳng từ bất cứ cổng nào trong số 3 cổng ở phần tường ngoài để vượt qua khu vực hành lang ngoài, bạn s ẽ đi đến một trong 3 cổng dẫn vào khu vực hành lang trong. Có 8 bậc tam cấp dẫn bạn đi xuyên qua cổng (Êxe 40:31), ngang qua các phòng của những người bảo vệ, và đi vào hành lang trong. Các bức tường có những cổng trong này chứa bên trong là các phòng nhỏ dành cho các thầy tế-lễ và chỗ dành cho công việc chuẩn bị dâng các sinh tế. Hành lang trong rộng 175 bộ vuông và bàn thờ để dâng sinh tế được đặt ở chính giữa hành lang (Êxe 43:13-17).
Bàn thờ bằng đồng trong đền tạm của Kinh Thánh Cựu-ước là một ‘cái thùng” được làm bằng gỗ cây keo có bọc đồng bên ngoài. Nó có diện tích bề mặt đáy 7,5 bộ vuông và cao 4,5 bộ. Tính từ đỉnh thùng xuống khoảng 2,5 bộ thì có một vĩ lưới sắt gác ngang qua để đặt các con sinh đã bị giết nằm lên đó và bên dưới đốt lửa thiêu. Bàn thờ như vậy trong đền thờ của Sa-lô-môn có diện tích mặt đáy 30 bộ vuông và cao 15 bộ với tất cả 4 phía đều có các bậc tam cấp (IISu 4:1; IVua 8:64) [93].
Bàn thờ này trong đền thờ thiên hy niên sẽ có chiều cao khoảng 20 bộ với một cầu thang gác đặt ở phía đông. Bàn thờ sẽ được xếp thành tầng, tầng trệt diện tích 31,5 bộ vuông, tầng kế tiếp 28 bộ vuông, tầng thứ ba 24,5 bộ vuông và tầng trên cùng (tầng có đặt “lò thiêu của bàn thờ”) 21 bộ vuông.
• Nơi tôn nghiêm (Êxe 40:48-43:12): Tương tự như hành lang trong là nơi sẽ đặt bàn thờ, khu vực gọi là nơi thánh rộng 175 bộ vuông. Một vòm cổng dẫn tới nơi thánh được dựng những cây trụ trang trí hết sức công phu tại mỗi phía của cửa vào. Điều này nhắc chúng ta nhớ đến hai cây trụ lớn ở trong đền thờ do Sa-lô-môn xây đứng trước lối đi dẫn vào nơi thánh (IVua 7:15-22).
Vị thiên-sứ hướng dẫn kia chỉ cho Ê-xê-chi-ên thấy có nhiều phòng ốc khác nhau nằm san sát kế nhau ở khu vực hành lang trong và theo quy định của đền thờ, thì tất cả các phòng nầy đều được biệt riêng ra cho các thầy tế-lễ nào đang thi hành chức-vụ của mình trong đền thờ (Êxe 41:5-42:20).
Không thấy nói gì về bức màn ngăn giữa nơi thánh và nơi chí thánh cả, nhưng khi Đấng Mê-si-a đến ở cùng với dân-sự Ngài mãi mãi thì bức màn này sẽ không còn cần thiết nữa. Ngài muốn bày-tỏ ra tất cả vinh-quang Ngài. Ở đây cũng không thấy đề-cập đến hòm giao-ước hoặc nắp thi ân là cái mà huyết đã được làm đổ ra trên đó trong Ngày Đại Lễ Chuộc Tội. Có sự đề-cập đến bàn thờ hoặc cái bàn bình thường làm bằng gỗ được đặt đứng ở phía trước lối dẫn vào nơi chí thánh (Êxe 41:21-22). Được làm hoàn toàn bằng gỗ, bàn thờ cao 5,5 bộ và có diện tích 3,5 bộ vuông. Không được đem thứ gì để lên đốt trên bàn thờ này cả, vì thế có lẽ nó sẽ được dùng để bánh trần thiết như bàn đã được dùng trong đền tạm và trong đền thờ trước đây.
Trong đền thờ thiên hy niên, không thấy nói đến bàn thờ xông hương bọc bằng đồng hay những chân đèn có bảy thếp đèn bằng đồng. Bàn thờ xông hương tượng trưng cho những lời cầu-nguyện của dân-sự Đức Chúa Trời dâng lên Ngài (Thi 141:2; Kh 8:3), nhưng đến khi Chúa hiện diện với họ luôn thì sẽ không còn cần đến sự tượng-trưng cho lời cầu-nguyện như vậy nữa. Còn chân đèn thì tượng-trưng cho ánh sáng lẽ-thật của Đức Chúa Trời soi sáng khắp quốc gia Y-sơ-ra-ên, là vinh-quang Đức Chúa Trời Sê-ki-na (Shekinah) đã hiện diện trong Đền Thờ của Ngài.
Ê-xê-chi-ên từng chứng-kiến vinh-quang Chúa lìa khỏi đền thờ, nhưng giờ đây ông nhìn thấy vinh-quang Ngài trở lại (Êxe 43:1-12). Vị hướng dẫn viên của ông dẫn ông quay về cổng phía đông ở hành lang ngoài, và khi Ê-xê-chi-ên nhìn ra, ông liền thấy vinh-quang ấy từ phía đông đang đến gần đền thờ. Đồng thời, còn có tiếng của Chúa vang lên “giống như tiếng nước lớn” (c.2 Êxe 1:24; Kh 1:15; Kh 14:2; Kh 19:6). Kế đó, đền thờ được phủ đầy vinh-quang Đức Chúa Trời, và Đức Thánh Linh đưa Ê-xê-chi-ên trở về lại bên trong của hành lang trong. Khi Môi-se làm lễ khánh thành Đền Tạm (Xu 40:1-38), và Sa-lô-môn khánh thành Đền Thờ (IISu 5:11-14), vinh quang Đức Chúa Trời đã đến ngự vào trong, điều này chứng-tỏ Chúa đã chấp nhận sự thờ-phượng của họ và hài lòng về công việc họ.
Trong cả đền tạm lẫn đền thờ, vinh-quang Đức Chúa Trời đều được “tôn-cao” trên nắp thi ân ở nơi chí thánh (Xu 25:22; Thi 80:1; Thi 99:1), nhưng còn đền thờ thiên hy niên sẽ không có hòm giao-ước và cũng không có nắp thi ân. Tuy nhiên, đền thờ vẫn sẽ là ngai của Đức Chúa Trời (Êxe 43:6-7) và Đấng Mê-si-a sẽ trị-vì với cương vị vừa là Vua vừa là Thầy Tế-Lễ (Xa 6:9-13). Hiện nay, Đức Chúa Giê-xu Christ đã được tôn-cao trên thiên-đàng là “thầy tế-lễ thượng phẩm đời-đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc” của chúng ta (Hêb 6:20; Thi 110:1). Chính vua Mên-chi-xê-đéc cũng là thầy tế-lễ đã gặp Áp-ra-ham sau cuộc chiến các vua và đã ban cho Áp-ra-ham bánh với rượu (Sa 14:17-24), ý nghĩa thuộc linh của sự-kiện này đã được giải thích trong Hê-bơ-rơ đoạn 7.
Trong lịch-sử Do-thái, các tiên-tri, thầy tế-lễ và các vua đều được xức dầu cho chức-vụ của họ, nhưng mỗi chức vụ đều mang tính chất riêng. Các thầy tế-lễ như Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên và Giăng Báp-tít đã được Chúa kêu gọi làm tiên-tri, chứ không hề có thầy tế-lễ nào tự nhiên dám phong cho mình chức-vụ tiên-tri cả. Có một vị vua đ ã cố tình làm công việc của một thầy tế-lễ, hậu quả đã phải hối hận vì bị Chúa phạt nên phải mắc bịnh phung (IISu 26:16-23).
Sự hiện diện của vinh-quang Đức Chúa Trời và sự ngự-trị của Ngài sẽ thánh hóa đền thờ, là nơi dân-sự Chúa sẽ đến gần với lòng kính-sợ và không xem nơi đó giống như bất kỳ những ngôi nhà bình thường nào khác, họ cũng sẽ không tái phạm những tội-lỗi gian ác của họ là thờ hình-tượng làm ô uế đền thờ như trước đây nữa. Đức Chúa Trời phán với Ê-xê-chi-ên và bảo ông hãy thuật lại cho dân Do-thái biết những gì ông đã thấy và nghe để họ hổ thẹn về những tội-lỗi trong quá-khứ của mình và họ sẽ xây bỏ chúng. Ê-xê-chi-ên phải mô-tả thật chi-tiết về sự vinh-quang bao phủ đền thờ và ông sẽ ghi lại chúng để dân-sự nhận lãnh sứ-điệp ấy và khát khao làm theo lời Chúa.
Bạn sẽ tìm thấy lời khuyên răn tương tự trong Êxe 44:4-8 khi Ê-xê-chi-ên đứng tại cổng bắc. Phân đoạn Kinh Thánh này nhắc nhở chúng ta rằng nếu dân-sự thường xuyên đến thăm “những nơi thánh” thì họ ắt sẽ được hoá thành “dân thánh”. Những người dân Do-thái sót trở về xứ mình xây lại đền thờ rất cần có sứ-điệp này trong lòng, và chúng ta ngày nay cũng vậy.
• Bàn thờ và các sinh tế (Êxe 43:13-27; Êxe 45:13-46:24):
Chúng ta vừa tiếp xúc đề-cập đến bàn thờ bằng đồng và bây giờ chúng ta hãy xem xét vấn-đề các sinh tế rất phức tạp, khó hiểu. Đức Chúa Trời chỉ dẫn các thầy tế-lễ cách thức cần phải dâng các của lễ trên bàn thờ như thế nào trong suốt tuần lễ hiến tế (Êxe 43:18-27) khi khánh thành bàn thờ. Trong lễ khánh thành đền tạm (Xu 40:29) và đền thờ của Sa-lô-môn (IISu 7:1-10), các sinh tế được dâng lên và huyết con sinh đổ ra dính trên bàn thờ.
Khi đem vấn-đề đền thờ thiên hy niên ra thảo-luận, có một câu hỏi thường xuyên được người nêu lên: “Chúa Giê-xu đã chết vì cớ tội-lỗi của cả nhân-loại, để làm trọn luật-pháp và đem lại giao-ước mới, vậy thì lý-do tại sao những người Do-thái đã tin Chúa lại muốn quay về với giao-ước cũ?” Họ cần gì phải trở lại với các sinh tế bằng con sinh khi Chúa Giê-xu đã làm một sinh tế trọn-vẹn đầy đủ thay cho tất cả suốt mọi thời đại rồi? Đây là một trong những vấn-đề gây tranh cãi căng thẳng của một số sinh-viên không đồng ý giải thích Êxe 40:1-48:35 theo nghĩa đen. Nhưng nếu chúng ta hiểu được vai trò của các sinh tế dưới giao-ước cũ, thì điều ấy sẽ giúp chúng ta thấy được ý nghĩa của chúng trong đền thờ thiên hy niên này.
Các sinh tế về các của lễ được đề-cập trong phần sách này của Ê-xê-chi-ên là: của lễ thiêu (Êxe 40:38-39,42; Êxe 43:18,24,27; Êxe 44:11; Êxe 45:15,17,23,25; Êxe 46:2,4,12,13,15) của lễ chuộc sự mắc lỗi hoặc lầm lỗi (Êxe 40:39; Êxe 42:13; Êxe 44:29; Êxe 46:20); của lễ chuộc tội (Êxe 40:39; Êxe 42:13; Êxe 43:19,21,22,25; Êxe 44:27,29; Êxe 45:17,19,22,23,25; Êxe 46:20); của lễ thù ân (Êxe 43:27; Êxe 45:15,17; Êxe 46:2,12) của lễ chay (Êxe 42:13; Êxe 44:29; Êxe 45:15,17,24,25; Êxe 46:5,7,11,14,15,20) và của lễ quán (Êxe 45:17). [94]
Đối với những quy định về các của lễ này theo Môi-se, xin tham khảo sách Lê-vi từ đoạn 1-7.
Của lễ thiêu được bảo phải dâng hoàn toàn cho Đức Chúa Trời, “hết mọi phần xông nơi bàn thờ” (Lê 1:9; Rô 12:1-2). Của lễ chuộc-tội (Lê 4:6; Lê 21:30) và của lễ chuộc sự mắc lỗi (Lê 5:1-19; Lê 7:1-10) giải quyết vấn-đề chuộc-tội cho người phạm-tội chống nghịch Chúa và gây tội ác đối với người khác. Của l ễ chuộc-tội này phải do chính người phạm-tội bởi thiếu hiểu biết mang đến dâng, vì không có của lễ nào có thể xóa bôi được tội-lỗi gian ác mà người ta cố tình gây ra (Dân 15:30-36; Thi 51:1,11,16-17).
Của lễ chuộc sự mắc lỗi giải quyết vấn-đề chuộc-lỗi cho người mắc lỗi bằng một vài hình thức bồi thường cho người bị hại. Giá phải trả là phải hoàn số tài sản tài vật của nạn-nhân lại cho họ cộng thêm 20 % giá-trị của số tài sản đó. Tội-lỗi không phải là thứ rẻ tiền và Đức Chúa Trời cũng không thể dành sự tha-thứ cho nó được!
• Của lễ thù ân (Lê 3:1-17; Lê 7:11-38) quy định được dâng cho Đức Chúa Trời để biểu-lộ sự cảm-tạ và ngợi-khen hoặc có lẽ đó như là sự tận hiến hoàn toàn vì một lời hứa nguyện đặc biệt nào đó với Đức Chúa Trời. Một phần bữa ăn sinh tế được đem phân phát cho người đến thờ-phượng, những người đó có thể đem nấu chín chúng rồi dùng làm bữa chung vui với gia đình, bạn bè. Ngoại trừ cho đám cưới và cho những dịp đặc biệt nào đó, người ít khi giết mổ súc vật của họ để làm tiệc thết đãi.
Thịt là thực phẩm đắt tiền chỉ dành cho những dịp đặc biệt, do đó khi dân-sự Chúa dâng các của lễ là dịp để họ thờ-phượng Ngài và thưởng thức các sinh tế. Của lễ chay cần có các bó lúa, hạt đã rang chín, bột mịn, và nhiều loại bánh nướng khác nhau. Đó là của lễ cho chúng ta sự nhận biết Đức Chúa Trời chính là nguồn lương thực bảo-đảm cho sự sống (ISu 29:10-14). Của lễ quán có một phần là rượu được đổ ra cùng với sinh tế khác. Nó tượng-trưng cho đời sống được dốc đổ hoàn toàn cho Đức Chúa Trời (Phi 2:17).
Tất cả những của lễ này ở góc độ nào đó đã chỉ về Đấng Christ và sinh tế là chính mạng sống của Ngài hy-sinh vì cớ tội-lỗi chúng ta (Hêb 10:1-18). Đức Chúa Trời đã tha thứ tội cho những ai thờ-phượng Ngài với điều kiện họ phải mang sinh tế làm của lễ đến dâng cho Ngài bằng đức-tin và sự tin-cậy đặt nơi Ngài, bởi vì huyết con sinh thì chẳng bao giờ có thể cất đi được những sự vi phạm tội-lỗi của loài người (c.4).
Sự tha-thứ của Đức Chúa Trời đã được tuyên-bố (Lê 4:20,26,31,35; Lê 5:10,13,16,18; Lê 6:7), nhưng chỉ có duy nhất nhờ vào công tác của Đức Chúa Giê-xu Christ đã làm được mô-tả như là một sinh tế vậy. Người tin Chúa dưới thời Kinh Thánh Cựu-ước họ được tha-tội không phải vì mấy con sinh đã chết mà là vì lý-do họ đã đặt đức-tin mình nơi Đức Chúa Trời (Hêb 11:1-40; Thi 51:16-17; Ha 2:4).
Vì vậy, việc dùng các sinh tế là những con sinh trong Đền Thờ thiên hy niên sẽ không còn nữa vì công việc đã hoàn thành của Đấng Christ đã hoàn toàn thay thế cho những sinh tế về các của lễ đã được dâng trước khi Chúa chết. Hình như các sinh tế sẽ được dâng với ý nghĩa chỉ để kỷ niệm và như là những sự bày-tỏ của lòng kính mến và tinh thần tận hiến cho Đức Chúa Trời (Ês 56:5-7:67). Chúng cũng sẽ đem dân-sự đến với nhau để cùng nhau thông-công và cùng dự các kỳ lễ với nhau thật vui vẻ để làm vinh-hiển Chúa.
Đền Thờ sẽ là nơi để học hỏi cho cả người Do-thái lẫn cho người ngoại (Ês 2:1-3), và chắc chắn người đến thờ phượng Chúa sẽ học được luật-pháp Cựu-ước và hiểu biết về Chúa Giê-xu rõ hơn. Người ta sẽ học về Kinh Thánh Tân-ước đồng thời sẽ thấy được ý nghĩa sâu sắc hơn của các sinh tế và các kỳ lễ hội. “Kinh Thánh” duy nhất mà hội thánh nguyên thủy có chính là Kinh Thánh Cựu-ước, và tín-đồ Cơ-đốc thời ấy có thể dẫn các tội-nhân đến tin nhận Đấng Christ mà không cần đến Gi 3:16 hoặc “Đường đến La-mã”.
Trong số 7 kỳ lễ mà dân Do-thái đã tổ chức kỷ niệm (Lê 23:1-44), thì giờ đây hình như chỉ có Lễ Vượt Qua (Êxe 45:21-24) và Lễ Lều Tạm (c. 25 Xa 14:16-19) sẽ còn được cử hành trong Thời Đại Nước Trời. Lễ Vượt Qua nói về Chiên Con của Đức Chúa Trời và sự giải phóng dân Do-thái thoát khỏi ách nô-lệ ở Ai-cập, còn Lễ Lều Tạm là ngày lễ hội kỷ niệm sự thu hoạch mùa màng đầy niềm vui, biểu hiện cho thấy trước về quang cảnh của vương quốc hầu đến và nhắc nhở dân Do-thái nhớ về cuộc hành trình trong đồng vắng của mình. [95] Êxe 44:24 cho thấy rằng Lễ Sa-bát hằng tuần sẽ vẫn được cử hành.
Còn Thánh Lễ Tiệc Thánh cũng sẽ được tổ chức trong Kỷ Nguyên Nước Trời đúng không? Lời Chúa Giê-xu sau khi Ngài thiết lập Tiệc Thánh dường như cho thấy đúng là như vậy, “trong nước của Cha Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở ta” (Mat 26:29; NASB Mac 13:25; Lu 22:18).
Nếu các vị thánh-đồ trong hội thánh có thể nhớ đến Đấng Christ qua việc bẻ bánh và uống chén, vậy tại sao Cơ-đốc nhân Do-thái lại không thể nhớ đến Ngài qua việc đem dâng các sinh tế? Vậy cả 2 cách tưởng niệm này đều không có giá-trị chuộc-tội nào cả.
• Các thầy tế-lễ (Êxe 40:44-49; Êxe 42:1-14; Êxe 43:19-27; Êxe 44:9-31): Đức Chúa Trời đã mong muốn toàn thể quốc gia Y-sơ-ra-ên sẽ trở thành “một nước thầy tế-lễ” (Xu 19:6), nhưng điều này chưa từng được ứng nghiệm. Cơ-đốc nhân ngày nay được đảm-nhiệm “chức thầy tế-lễ thánh” và “chức thầy tế-lễ hoàng gia thiên-thượng” (IPhi 2:5,9) nhờ bởi Đức Chúa Giê-xu Christ là thầy Tế-Lễ Thượng Phẩm của họ.
Trong đền thờ của 1000 năm bình-an, các thầy tế-lễ và người Lê-vi sẽ thi hành chức-vụ mình trước dân-sự và trước Chúa. Sẽ có nhiều người hát xướng (Êxe 40:44) để dâng lên “sinh tế là sự ngợi-khen cảm-tạ” tương tự như các thầy tế-lễ dâng lên các sinh tế về những của lễ do dân-sự đem đến. Thầy tế-lễ thượng phẩm không thấy được đề-cập đến bởi vì Chúa Giê-xu Christ là Nhà Vua cũng là Thầy Tế-Lễ, đang ngự trên ngôi và đang trị-vì từ đền thờ.
Chúng ta được cho biết ba lần rằng con cháu của Xa-đốc sẽ làm các thầy tế lễ (c.46 Êxe 43:19; Êxe 44:15). Xa-đốc có bà con với A-rôn qua Ê-lê-a-sa là con trai thứ ba của A-rôn (ISu 6:1-8,50-53) và cùng với A-bia-tha phục vụ trong thời trị-vì của Đa-vít (IISa 8:17; ISu 15:11). Tuy nhiên, A-bia-tha đã rời bỏ Đa-vít và gia nhập phe đảng tôn A-đô-ni-gia lên đòi kế thừa ngôi vị vua của Đa-vít (IVua 1:1-53), việc này đã khiến A-bia-tha cùng con cháu hậu duệ ông phải trả giá là không còn được giữ chức thầy tế-lễ nữa (IVua 2:26-27). Vụ việc này đã làm ứng-nghiệm lời tiên-tri đã được ban cho liên-quan đến Ê-li thầy tế-lễ thượng-phẩm và các con trai độc ác của người (ISa 2:27-36). Tên Xa-đốc có nghĩa là “công-bình” và trong sách của mình, Ê-xê-chi-ên nhấn mạnh nó còn có nghĩa là sự biệt riêng và sự thánh-khiết.
Chúng ta vừa thấy rằng có những căn phòng đặc biệt trong Đền Thờ được biệt riêng ra dành cho các thầy tế-lễ (Êxe 40:44-46; Êxe 42:1-14). Có một số phòng để ở trong khi có những phòng khác sẽ được dùng cho các sinh hoạt hằng ngày như dùng để thay áo choàng ngoài, dùng cho việc chuẩn bị các sinh tế, và nấu nướng cho các bữa ăn (c.13-14). Khi đền thờ được khánh thành, các thầy tế-lễ sẽ dâng những của lễ (Êxe 43:18-27), tương tự như các thầy tế-lễ đã thực hiện lúc đền tạm và đền thờ trước đây được khánh thành (Dân 7:2; IISu 7:1-11).
Đức Chúa Trời sẽ cho biết rất chi-tiết về cách sử dụng nơi thánh (Êxe 44:5-9). Ngài cảnh cáo các thầy tế-lễ trong tương lai rằng họ bắt buộc phải dạy cho dân-sự biết phân biệt giữa vấn-đề thánh-khiết và bất-khiết (c.23 Êxe 22:26) và không được để cho người ngoài không có phận sự vào làm ô uế đền thờ. Có rất nhiều quy định theo luật Môi-se đối với các thầy tế-lễ được tóm tắt trong Êxe 44:10-31. Người Lê-vi sẽ bị sửa phạt bởi vì trong quá-khứ họ đã không bênh vực cho những điều đúng và thánh trong những năm tháng trước cuộc lưu-đày. Họ sẽ được phép giết con sinh, hỗ trợ giúp đỡ người đến thờ-phượng, làm nhân viên gác cổng, và phụ giúp công việc có cần trong đền thờ, nhưng họ sẽ không còn đặc quyền làm chức thầy tế-lễ nữa. [96] Các thầy tế-lễ sẽ được phép dâng các của lễ và được đến gần bàn (Êxe 44:16), là bàn thờ hoặc bàn đứng trước nơi chí thánh (Êxe 41:22).
Đức Chúa Trời cũng sẽ chỉ bảo rất cụ thể về hành vi tư cách đạo đức cần có của các thầy tế-lễ (Êxe 44:17-31). Ngài chỉ dạy họ phải ăn mặc như thế nào (c.17-19), phải để đầu tóc ra sao (c.20), không được phép uống rượu trong khi thi hành chức-vụ (c.21), không được lập gia đình với người đã bị bỏ hoặc bị góa (c.22), luôn luôn lúc nào cũng phải chỉ dạy người ta phân biệt giữa điều thán- sạch và điều uế tục (c.23), không được đến gần thây người chết kể cả người chết đó có bà con với họ (c.25-27) [97]. Họ sẽ làm công việc xét-xử theo luật-lệ Chúa và tuân giữ luật-lệ Ngài (c.24). Tương tự các thầy tế-lễ trong thời Cựu-ước, vương quốc các thầy tế-lễ này sẽ không có quyền thừa kế đất nhưng sẽ có Đức Chúa Trời là gia nghiệp của họ và họ có thể sống nhờ vào những sinh tế về các của lễ được dâng trong Đền Thờ (c.28-31 Dân 18:20; Phuc 18:1-2; Gios 13:33).
Êxe 41:1-26; xem giải nghĩa Êxe 40:1-49.
Êxe 42:1-20; xem giải nghĩa Êxe 40:1-49.
Êxe 43:1-27; xem giải nghĩa Êxe 40:1-49.
Êxe 44:1-31; xem giải nghĩa Êxe 40:1-49.
3. Công tác hậu cần của đền thờ mới (Êxe 45:1-25) (Êxe 45:1-48:35)
Những phân đoạn cuối chứa đựng lời tiên-tri của Ê-xê-chi-ên nói cụ-thể về vấn-đề phân chia xứ Y-sơ-ra-ên trong Kỷ Nguyên Nước Trời ra sao, sẽ dành một phần cho Đức Chúa Trời, phần nữa chia dành cho vua, còn lại thì phân chia cho 12 chi phái mỗi chi phái một phần. Sau cuộc chinh phục Ca-na-an, sự phân chia Đất Hứa lần thứ nhất được thực hiện bởi Giô-suê, thầy tế-lễ thượng phẩm Ê-lê-a-sa và các tộc-trưởng của 12 chi phái, họ cùng nhau bắt thăm trước mặt Đức Chúa Trời để định ranh giới cho từng khu vực (Dân 26:52-56; Dân 34:16-29; Gios 13:1-22:34). Trong thời trị-vì cùa mình, vua Sa-lô-môn đã chia xứ thành 12 “địa-hạt hoàng gia”, và đòi hỏi mỗi địa-hạt cứ mỗi năm phải tiến cống một tháng lương thực cho vua và cho cả gia đình nhà vua (IVua 4:7-19), nhưng các ranh giới trên thực tế không có thay đổi gì.
Tuy nhiên, kế hoạch này đã không được dân-sự hưởng ứng (IVua 12:1-19). [98]
• Phần được chia của Đức Chúa Trời (Êxe 45:1-6; Êxe 48:8-9): Nằm giữa 2 vùng được chia cho Giu-đa và Bên-gia-min sẽ có một phần dành cho Đức Chúa Trời và các vua. Phần đất của Chúa sẽ có mỗi cạnh vuông chừng 8,3 dặm, xấp xỉ khoảng chừng 55 dặm vuông?. Khu vực này sẽ được chia theo chiều ngang thành 3 phần nhỏ, mỗi phần có chiều dài 8.3 dặm. Phần trên cùng (chiều ngang 3,3 dặm ) sẽ là nơi thánh cho Đền Thờ và cho các thầy tế-lễ. Các thầy tế-lễ sẽ không được quyền sở hữu đất cho riêng mình nhưng được phép sống ở đó gần nơi thánh (Êxe 44:28).
Tương tự các thầy tế-lễ thời Cựu-ước, Đức Chúa Trời sẽ là gia nghiệp thừa kế của họ (Dân 18:20; Phuc 10:9; Gios 13:14,33). Khu vực trung tâm sẽ có cùng diện tích với phần trên cùng kia và nó sẽ thuộc về người Lê-vi. Theo sự bố trí ngày trước, người Lê-vi được phép sở hữu đất nhưng họ đã bị đi tản lạc trong khắp xứ Y-sơ-ra-ên vì vậy họ có thể thực hiện công-vụ của họ đối với cả dân-sự (Gios 21:1-45). Sa 49:5-7; Sa 34:25-31 gợi ý rằng sự bị tản lạc này cũng là một hình thức của sự sửa-phạt.
Phần đất dưới (chiều ngang 1,75 dặm) sẽ được chỉ định để “lập thành phố” cùng với phần đất trống xung quanh nó. Thành phố này được đề-cập đến lần thứ nhất trong Êxe 40:2 và có lẽ đó là Giê-ru-sa-lem với cái tên mới là “Đức Giê-hô-va Shammah –Đức Giê-hô-va ở đó” (Êxe 48:35). Khu vực được chỉ định làm thành phố này sẽ thuộc về toàn bộ nhà Y-sơ-ra-ên (Êxe 45:6) và nó sẽ nằm chính giữa, kế tiếp phía dưới nó còn một dải đất nữa. “Những khu đất công cộng” nằm ở một trong hai phía của phần đất dưới đó sẽ được để dành sẵn cho tất cả mọi người Y-sơ-ra-ên (Êxe 48:15) và sẽ được sử dụng vào công việc trồng trọt phát triển lương thực để nuôi sống cư-dân thành phố. Dường như ở đây có sự gợi ý rằng có một “ban quản lý” nhân dân của 12 chi phái sẽ lãnh đạo điều hành xứ này để “chính quyền” thành phố có thể chuyên lo điều hành các công-tác dân-sự và lo việc tiếp đón hướng dẫn khách tham quan đến thờ-phượng tại đền thờ.
• Phần đất được chia cho vua (Êxe 45:7-46:18 44:1-3; Êxe 48:21-22): Không có lời giải thích đó là người nào, Ê-xê-chi-ên chỉ giới thiệu là “vua” mà thôi trong Êxe 44:1-3 và ông đề-cập đến vị vua đó ít nhất 16 lần trong phần còn lại của sách. Chúng ta không nên nhầm lẫn người này với “Đa-vít, tôi-tớ ta, sẽ làm vua giữa chúng nó” (Êxe 34:24; Êxe 37:24-25) là người mà có một số người cho là Đấng Mê-si-a, Đấng sẽ kế tự ngôi vua Đa-vít (Lu 1:30-32); vậy không nên nhầm người với Đấng Mê-si-a. Vị vua này sẽ là một người đã có gia đình, có nhiều con trai có thể thừa kế đất của vua (Êxe 46:16-18), là vùng đất tọa lạc tại một trong hai phía của khu vực đất thánh nằm chính giữa.
Không có chỗ nào cho thấy vua được nhận diện là một thành-viên thuộc gia đình hoàng gia cả, hay là một thầy tế-lễ hoặc là người Lê-vi. Thậm chí, chúng ta cũng không được cho biết vua xuất thân từ chi phái nào. Có vẻ như vua sẽ là một nhà cầm quyền về dân-sự, giữ vai trò phó nhiếp chính dưới quyền của Đấng Mê-si-a, và nhiệm-vụ cao cả của vua sẽ lo các công việc của đạo.
Vua sẽ dâng các của lễ vì chính mình (Êxe 44:3; Êxe 45:22) [99] là việc mà Đấng Mê-si-a sẽ không cần phải làm và vua sẽ nhận các lễ vật mà người ta đã dùng vào việc thờ phượng Đức Giê-hô-va (Êxe 45:13-16). Vua sẽ lo sắm sửa dâng các của lễ vào những kỳ l ễ đặc biệt (c.17-25), kể cả sự dâng của lễ trong nơi thánh, vào những ngày Sa-bát, Lễ Vượt qua, Lễ Đền Tạm, và vào những kỳ trăng mới.
Vào dịp ngày Sa-bát và vào ngày trăng mới, vua sẽ trình các của lễ ra trước những người được phép đến thờ phượng (Êxe 46:1-8). Cửa phía đông dẫn vào hành lang trong sẽ bị đóng suốt những ngày trong tuần, nhưng nó sẽ được mở cho vua vào ngày Sa-bát và vào ngày trăng mới, hoặc vào bất kỳ lúc nào vua muốn vào dâng của lễ lạc hiến và lễ thù ân (c.12). Vua sẽ được phép đi đến tận cửa đông nhưng không đến chỗ bàn thờ ở trong hành lang trong. Vua sẽ dâng các của lễ rồi sau đó vua rời khỏi nơi thánh theo lối lúc vua đi vào. Khi dân sự vào đi vào thờ phượng trong những ngày lễ đặc biệt, họ phải đi ra lối cửa đối diện với lối cửa họ đã đi vào (c.9). Vua sẽ tách mình riêng ra khỏi dân-sự vào những ngày lễ đó nhưng phải là một phần tử hòa vào cùng đám đông ấy (c.10). Vua phải lo sắm sửa các sinh tế về của lễ thiêu và dâng chúng trên bàn thờ hằng ngày, y như chúng vẫn thường được dâng trong đền tạm và đền thờ thời trước (Xu 29:42; Dân 28:6).
Lễ hội Năm Hân Hỉ sẽ được cử hành trong Kỷ Nguyên Nước Trời Êxe 48:16-18. Cứ đến năm thứ 50 thì đất sẽ không được canh tác, nô-lệ được trả tự-do, tài sản đất đai được hoàn lại cho nguyên chủ (Lê 25:1-55). Trong suốt 1.000 năm bình-an do Đấng Christ trị-vì, thì đó sẽ là thời gian cho 20 kỳ lễ hội như vậy. Êxe đưa ra quan-điểm đặc biệt rằng trong Kỷ Nguyên Nước Trời, vị vua kia sẽ không còn áp bức nhân dân nữa và cũng sẽ không tịch thu sung công đất đai của họ như các nhà cầm quyền đã làm trong trong những thời trước của vương quốc Giu-đa. Dân Y-sơ-ra-ên đã không tuân giữ những luật-pháp Chúa có liên-quan đến Năm Sa-bát và Năm Hân Hỉ, do đó Đức Chúa Trời đã phải tống họ ra khỏi xứ đi lưu-đày để đất của họ được vui thích nghỉ ngơi vì nó cần được như vậy (IISu 36:14-21; Lê 26:14-46; Giê 25:9-12; Giê 27:6-8; Giê 29:10).
• Sông nước sự sống (Êxe 47:1-12): Sau khi nhìn thấy các phòng bếp trong đền thờ, Ê-xê-chi-ên chú ý đến một nước chảy ra từ nơi chí thánh, chảy ngang bàn thờ về phía nam. Vị hướng dẫn viên nọ dẫn ông đi ra ngoài theo lối cửa bắc (vì cửa đông đã bị đóng ) và đi bọc quanh đền thờ đến cửa đông là nơi ông trông thấy dòng nước chảy ra từ bên dưới tòa nhà về phía nam của cửa (Thi 36:8; Thi 46:4).
Vị hướng dẫn viên đo chiều sâu của dòng nước 4 lần và con sông trở nên quá sâu đến nỗi bạn có thể bơi lội được trong đó.
Ê-xê-chi-ên biết rằng sông ấy chảy về Biển Chết là nơi nó sẽ đem đến sự sống mới cho mọi vật đã bị bỏ quên trước đó. Dòng nước từ đền thờ sẽ biến cải Biển Chết cùng các con sông khác, những sinh vật sống trong nước sẽ được sống động sinh sôi nảy nở vô số kể ở bất cứ chỗ nào sông nước ấy chảy đến. Cây cối trên hai bên bờ sông sẽ ra nhiều trái có thể làm thức ăn được, còn lá cây thì được dùng làm thuốc chữa bịnh. Sự sống ra từ đền thờ của Đức Chúa Trời, chứ không phải ra từ bất kỳ đền đài nào hay từ tòa cao ốc nào của chính phủ loài người!
Giê-ru-sa-lem là thành thánh vĩ đại duy nhất của thế giới cổ đại nhưng nó đã không nằm gần con sông nào cả, là con sông nằm ở phía đông có nước nước dự trữ nhiều đảm bảo cung-ứng đầy đủ cho sự sống và bảo vệ sự sống.
Trong Kỷ Nguyên Nước Trời, Giê-ru-sa-lem sẽ có một dòng sông mà chưa hề có quốc gia nào có được như thế. Nhưng đây là con sông thực sự theo nghĩa đen hoặc đó chỉ là hình ảnh tượng trưng biểu-hiện về quyền-năng ban-cho sự sống của Đức Chúa Trời? Có lẽ là cả hai.
Gio 3:18; Xa 13:1; Xa 14:8-9 đều đề-cập đến dòng sông này hoàn toàn theo nghĩa đen, vì sông nước ấy vừa minh họa vừa thực hiện công việc ban cho sự sống của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu đã nhìn thấy con sông như thế là biểu-tượng của Đức Thánh Linh (Gi 7:37-39), và sứ-đồ Giăng cũng thấy hình ảnh con sông tương tự trong thành phố trên trời của Đức Chúa Trời (Kh 22:1-2). Từng có một con sông đóng vai trò quan trọng trong vườn Ê-đen thuở nào (Sa 2:10-14).
• Những phần đất được chia cho các chi phái (Êxe 47:13-48:7,23-29): Trong vương quốc thiên hy niên, ranh giới bờ cõi đất giữa các chi phái hoàn toàn khác với những ranh giới như họ đã có trước khi A-si-ri đánh bại Y-sơ-ra-ên và Ba-by-lôn đánh bại Giu-đa. Bờ cõi của xứ (Êxe 47:13-23) sẽ giống như điều Môi-se đã mô-tả trong Dân-số ký 34, nhưng mỗi phần đất được chia cho từng chi phái sẽ cắt thẳng ngang qua xứ.
Từ bắc chí nam, các chi phái sẽ là Đan, A-se, Nép-ta-li, Ma-na-se, Ép-ra-im, Ru-bên, và Giu-đa. Kế tiếp là vùng được phân chia cho Đức Chúa Trời, cho vua, cho thành phố; và khu vực kế tiếp nữa là của các chi phái gồm có Bên-gia-min, Si-mê-ôn, I-sa-ca, Sa-bu-lôn, Gát.
Có vẻ như là tất cả các chi phái sẽ có quyền sử dụng Biển Địa Trung Hải ngoại trừ Sa-bu-lôn và Gát. Giu-đa, chi phái hoàng gia (Sa 49:10) sẽ được ở sát cạnh khu vực đền thờ là nơi từ đó Chúa Giê-xu sẽ trị-vì. Hậu duệ của các chi phái kể từ các con trai được sinh ra bởi hai người hầu gái của vợ Gia-cốp là Bi-la và Xinh-ba gồm có Đan, A-se, Nép-ta-li, Gát đều ở phía cực bắc và cực nam. Chúng ta không được nói cho biết mỗi chi phái được chia cho bao nhiêu đất, nhưng chỉ biết được nơi họ sẽ ở. Sẽ có sự hòa-bình giữa vòng các chi phái khi họ cùng đầu-phục vương quyền của Đấng Mê-si-a, là Đức Chúa Giê-xu Christ.
• Phần đất dành cho thành phố (Êxe 48:30-35): Đây sẽ là “Giê-ru-sa-lem của vương quốc”, một thành phố mới dành cho dân-tộc mới của kỷ nguyên mới. Các cửa thành Giê-ru-sa-lem luôn có ý nghĩa quan trọng (Nêh 3:1-32 Thi 48:1-14 Thi 87:2 Thi 122:2), nhưng giờ đây thành sẽ có 12 cửa, mỗi cửa mang tên từng con trai của Gia-cốp. Thay vì “Ép-ra-im” và “Ma-na-se” (hai cửa), thì sẽ là “Giô-sép” (một cửa), và Lê-vi sẽ có một cửa. Bất kỳ người ngoại nào khi đến thành để tìm hiểu về Đức Chúa Trời sẽ phải đi vào thành qua một trong số những cửa này và được nhắc nhở rằng “sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến” (Gi 4:22). Thành sẽ có kích thước mỗi cạnh vuông dài khoảng 1.6 dặm. Những cửa này, đương nhiên, sẽ luôn nhắc chúng ta nhớ về các cửa dẫn đến thành thánh mà Giăng đã mô tả trong Kh 22:10-13,21.
Nhưng điều quan-trọng nhất về thành mới này chính là sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa vòng dân-sự đã hiệp-nhất của Ngài (Êxe 35:10). Tên mới của thành sẽ là Giê-hô-va Sa-ma - “Đức Giê-hô-va ở đó”-.
Đây là một trong 7 danh xưng kép của Đức Giê-hô-va được tìm thấy trong Kinh Thánh Cựu-ước, gồm: Giê-hô-va Di-rê - “Đức Chúa Trời sẽ có sắm sẵn” (Sa 22:13-14); Giê-hô-va Ra-pha - “Đức Giê-hô-va Đấng chữa bịnh cho ngươi” (Xu 15:26); Giê-hô-va Sa-lôm - “Đức Giê-hô-va là sự bình-an của chúng ta” (Cac 6:24); Giê-hô-va Tsidkenu - “Đức Giê-hô-va là sự công-bình chúng ta” (Giê 23:6); Giê-hô-va Sa-ma - “Đức Giê-hô-va ở đó” (Êxe 48:35); Giê-hô-va Nissi - “Đức Giê-hô-va cờ xí của tôi” (Xu 17:8-15); và Giê-hô-va Ra’ah - “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi” (Thi 23:1).
4. Ý nghĩa của đền thờ mới (Êxe 45:1-25)
Trong việc xem xét tất cả những thông tin mà Ê-xê-chi-ên đã ký-thuật cho chúng ta, chúng ta phải cẩn thận đừng bỏ sót những thông-điệp chính yếu giữa những chi-tiết quan-trọng này. Trên một phương diện nào đó thì sứ-điệp của toàn bộ sách Ê-xê-chi-ên đã gói gọn trong nội dung thể hiện ở phân đoạn 40-48.
Các bài học thuộc-linh của sách vẫn tràn đầy ý nghĩa đối với chúng ta ngày nay như đối với Y-sơ-ra-ên trong thời Ê-xê-chi-ên vậy, và chúng ta cũng luôn có ý nghĩa vô cùng đối với dân Do-thái trong thời Đấng Mê-si-a.
• Sự phân cách khỏi tội-lỗi: Ê-xê-chi-ên là một thầy tế-lễ và cũng là một tiên-tri, trách-nhiệm của các tiên-tri là phải dạy cho dân-sự biết phân biệt điều chi là thánh với điều chi là tục, vật gì sạch và vật gì không sạch (Lê 10:10-11; Êxe 44:23). Y-sơ-ra-ên đã bị sa vào tội-lỗi bởi vì họ bôi xoá mất những lằn ranh phân biệt này và trở nên giống các dân ngoại sống xung quanh họ. Đền Thờ ở Giê-ru-sa-lem, có các hành lang và những phòng ốc đặc biệt luôn nhắc nhở dân-sự nhớ rằng Đức Chúa Trời đã đặt một sự ngăn cách phân biệt giữa nơi thánh và nơi ô tục. Vì dân-sự là những người hay “gọi dữ là lành, gọi lành là dữ, lấy tối làm sáng, lấy sáng làm tối” (Ês 5:20) đã làm trái nguyên-tắc cơ-bản của nếp sống thánh-khiết (Êxe 40:5; Êxe 42:14-20; Êxe 43:7).
• Sự thờ-phượng: Đền thờ là nơi để thờ-phượng, nhưng tấm-lòng của người thờ-phượng còn quan-trọng hơn nhiều so với những lễ vật của người đem đến trong buổi lễ. Dân Do-thái ở vương quốc Giu-đa phía Nam đã làm ô uế đền thờ thánh của Đức Chúa Trời và còn dám thờ-lạy Đức Giê-hô-va chung với nhiều hình-tượng của các dân-tộc sống xung quanh họ! Dân-sự Đức Chúa Trời không quyết định được họ sẽ phải thờ-phượng Đức Giê-hô-va như thế nào; chỉ cần họ đơn sơ làm theo những gì Ngài phán bảo họ làm trong Lời Ngài là được rồi.
• Sự ứng-nghiệm: Một trong những mục đích của vương quốc thiên hy niên là Đức Chúa Trời sẽ làm ứng-nghiệm các lời ph án hứa của Ngài đối với dân-sự Ngài, những lời-hứa mà Ngài không thể hoàn thành bởi sự nổi loạn và vô-tín của họ. Trong ân-điển và sự thương-xót, Đức Chúa Trời đã ban cho Y-sơ-ra-ên một xứ đẹp đẽ, ban cho luật-pháp đầy đủ trọn-vẹn và một Cứu Chúa vinh-hiển.
Nhưng họ đã làm ô uế xứ bằng những tội ác khủng khiếp của họ; họ không tuân giữ luật-pháp qua việc họ bắt chước tập tành sống theo lối sống của người ngoại; họ đã xúc phạm Đức Chúa Trời bằng cách chống lại việc Ngài kêu gọi họ ăn-năn. Nhưng trong vương quốc này, Y-sơ-ra-ên sẽ tin-cậy Đức Chúa Trời, vâng-theo lời Ngài, thờ-phượng Ngài trong đền thờ của Ngài mà đáng lý ra trước đây họ phải thực hiện như vậy, họ sẽ làm đẹp lòng Chúa là Đấng sẽ cai-trị từ ngôi Đa-vít.
Còn có một sự ứng-nghiệm nữa, vì Thời Đại Nước Trời sẽ “gói lại” tất cả những thời đại trước qua sự mặc-khải của Đức Chúa Trời về chính Ngài và qua các mục đích của Ngài. Xứ sẽ giống như Vườn Ê-đen (Êxe 36:35), có đầy đủ sông nước sự sống và có nhiều cây sự sống mọc ở đó.
Những lời-hứa của Chúa đã lập với Áp-ra-ham sẽ được thực hiện và con cháu hậu tự của ông sẽ sở hữu và hưởng được xứ của họ. Luật-pháp M ôi-se sẽ được người ta vâng-giữ bằng cả tấm-lòng, Đức Chúa Trời sẽ được tôn-thờ và được vinh-hiển. Đấng Mê-si-a mà dân Do-thái đã khước từ lúc Ngài vào đời lần thứ nhất rồi đây sẽ được họ tiếp nhận và tôn-trọng, Ngài sẽ cai-trị trên họ (Êxe 43:6-7). Đức Chúa Trời sẽ làm thành mọi lời-hứa về vương quốc như chúng ta tìm thấy trong những trang sách của nhà tiên-tri này! [100]
Vinh-quang Đức Chúa Trời và danh xưng của Ngài: Nếu sách Ê-xê-chi-ên dạy chúng ta về tất cả mọi điều, thì hiển nhiên nó cũng dạy chúng ta phải biết tôn-kính danh Chúa và hãy ca tụng vinh-quang Chúa. Vinh-quang Đức Chúa Trời lìa khỏi Y-sơ-ra-ên bởi vì họ đã làm ô uế Đền Thờ. Vinh-quang ấy của Ngài đã trở lại trong Đền Thờ mới bởi vì giờ nó đã được thánh-sạch và là nơi để Chúa có thể ngự vào, “Chúng nó sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va!” là câu được tìm thấy ít nhất là 60 lần trong sách Ê-xê-chi-ên. Mặc dù vinh-quang Đức Chúa Trời không ngự trong các ngôi nhà thờ đồ sộ của chúng ta, nhưng Ngài vẫn có thể được làm vinh-hiển hoặc không là bởi những việc chúng ta làm trong các ngôi nhà thờ mà chúng ta đã biệt riêng ra để dâng lên cho Ngài. Là dân-sự Đức Chúa Trời, chúng ta hãy kính-sợ và tôn-quý danh Ngài.
Sự trị-vì của Đức Chúa Trời: Sự hiện thấy lần thứ nhất mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ê-xê-chi-ên có nội dung nói về ngai vinh-hiển của Ngài, là ngai đã di chuyển tới lui rất lẹ làng để các tạo vật sống là những thiên-binh thiên-sứ có thể thực hiện hoàn tất các mục đích của Ngài trên đất này.
Ngày nay, Hội thánh của Chúa Giê-xu Christ còn lại trong thế-gian không chỉ có cầu-nguyện: “xin ý Cha được nên ở đất như trời!” mà còn giúp hoàn thành lời cầu-nguyện ấy nữa trong quyền-năng của Đức Thánh Linh. Đức Chúa Trời vẫn hằng ngự trên ngôi Ngài và Chúa Giê-xu Christ vẫn luôn có “hết thảy quyền-phép ở trên trời và dưới đất” (Mat 28:18). Vậy chúng ta có cần cầu-xin gì nữa không?
-Êxe 46:1-24; xem giải nghĩa Êxe 45:1-25.
-Êxe 47:1-23; xem giải nghĩa Êxe 45:1-25.
-Êxe 48:1-35; xem giải nghĩa Êxe 45:1-25.
- SƠ ĐỒ Đền Thờ Thiên Hy Niên trang 187 (thiếu)
- BẢN ĐỒ SỰ PHÂN CHIA XỨ TRONG THỜI KỲ MỘT NGÀN NĂM BÌNH AN trang 197 (thiếu)
bottom of page
