Trong 3 năm Ê-sai làm người ta phải xấu hổ khi ông đi trên đường phố ăn mặc như một tù-nhân của chiến tranh, Giê-rê-mi thì mang ách trên vai. Tiên-tri Ê-xê-chi-ên hành động như một đứa trẻ, có lần ông dùng kiều tóc mình như hình ảnh minh họa cho sứ-điệp. Khi vợ ông đột ngột qua đời, Ê-xê-chi-ên biến sự khổ đau của mình thành bài-giảng cho dân chúng (1).
Tại sao họ lại làm những việc kỳ lạ như vậy?
“Những việc kỳ lạ đó” thật ra xuất phát từ lòng nhân-từ của họ. Dân-sự Đức Chúa Trời như bị điếc, không còn nghe được tiếng Đức Chúa Trời và không còn vâng-giữ giao-ước của Ngài. Đức Chúa Trời đã kêu-gọi những tôi-tớ đó làm những việc lạ thường đó là “những bài giảng sống” với hy-vọng rằng dân-sự sẽ tỉnh thức, và nghe điều họ nói. Chỉ như vậy đất nước mới thoát được sự sửa-trị và đoán-phạt của Đức Chúa Trời.
Nhưng không ai rao-giảng bằng một “bài” nhiều gian truân như Ô-sê. Ông được Đức Chúa Trời gọi kết hôn với người nữ gian dâm tên Gô-me. Người nữ này sinh cho ông 3 đứa con và ông không biết 2 đứa sau có chắc là con mình không. Sau đó Gô-me bỏ ông đến với người đàn ông khác và Ô-sê phải chịu trách-nhiệm chuộc vợ về.
Toàn bộ sự việc trên có ý nghĩa gì? Đó là bức tranh sinh động về việc làm của dân Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời của họ, họ đã ngoại tình đi thờ thần tượng, đã phạm-tội “ngoại-tình thuộc-linh.” Vì dân-sự của Đức Chúa Trời ngày nay cũng chịu sự cám-dỗ tương tự (Gi 4:4), nên chúng ta cần phải lưu tâm đến lời Ô-sê viết cho dân-sự ông.
Mỗi người trong câu chuyện này: Ô-sê, Gô-me và ba người con - đều dạy cho chúng ta những bài học thuộc-linh quan-trọng về Đức Chúa Trời, Đấng chịu đau khổ vì sự không vâng-phục của dân Y-sơ-ra-ên.
1. Các con: Đức Chúa Trời khoan dung (Os 1:1-11) (Os 1:1-2:1)
• Thời đại (Os 1:1). Ô-sê kể tên 4 vị vua của dân Giu-đa và chỉ một vị vua dân Y-sơ-ra-ên là Giê-rô-bô-am II. Dĩ nhiên, các vua dân Giu-đa thuộc triều đại của Đa-vít, triều đại duy nhất được Đức Chúa Trời chấp nhận (IVua 11:36; IVua 15:4). Các vị vua Y-sơ-ra-ên đều suy đồi, họ đi theo con đường lầm lạc của Giê-rô-bô-am II, vị vua đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên, họ không chịu ăn-năn trở về với Đức Chúa Trời (IIVua 13:6).
Sau khi Giê-rô-bô-am II băng hà, con ông là Xa-cha-ri lên ngôi trị vì được 6 tháng thì bị Sa-lum giết chết. Sa-lum sau khi nối nghiệp một tháng cũng bị giết. Mê-nê-hem trị vì 10 năm, sau đó Phê-ca-nia, con trai Mê-na-hem cai-trị được 2 năm rồi bị Phê-ca giết. Phê-ca cai-trị được 20 năm, và chịu chết bởi tay Ô-sê (con trai Ê-la).
Ô-sê trị vì 10 năm, ông là vị vua cuối cùng của Y-sơ-ra-ên. Trong suốt thời kỳ cai-trị tàn bạo của ông, đất nước bị người A-si-ri thâu tóm. Dân Do-thái bị trà trộn với người ngoại bang. Người A-si-ri tràn vào xứ, là nguyên nhân sinh ra một chủng-tộc tạp gọi là người Sa-ma-ri.
Làm sao có thể phụng-sự Đức Chúa Trời khi nạn giết người, thờ thần-tượng và những việc làm thiếu đạo đức tràn lan khắp xứ. Không ai còn quan tâm đến Lời của Đức Chúa Trời. Trên mọi sự đó Đức Chúa Trời phán cùng tiên-tri Ngài phải lập gia đình và sinh con đẻ cái!
• Hôn nhân (Os 1:2).
Ở đây chúng ta gặp phải một vấn-đề quan-trọng vì không phải học-giả Thánh Kinh nào cũng có cùng quan-điểm về người nữ mà Ô-sê lấy làm vợ. Hoặc Ô-sê cưới một người trinh trắng rồi sau đó cô ta trở nên gian-dâm, hoặc ông lấy một người gian-dâm và sinh con cho ông (2).
Trong Cựu-ước, tội tà-dâm là biểu-tượng của sự thờ thần-tượng và sự bất-trung với Đức Chúa Trời (Giê 2:1-3:25; Êxe 16:1-63; Giê 23:49). Vì từ buổi đầu dân Do-thái đã thờ thần-tượng (Gios 24:2-3,14), như vậy có thể Gô-me đã là một người gian dâm khi Ô-sê lấy nàng làm vợ, vì điều này biểu-hiện rõ nhất về mối tương-giao giữa dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời kêu-gọi dân Y-sơ-ra-ên trong khi họ đang thờ thần-tượng. Ngài “cưới” họ tại núi Si-nai, lúc đó dân sự chấp thuận giao-ước của Ngài (Xu 19:1-21:36) và sau đó Đức Chúa Trời rất đau buồn khi họ lìa bỏ Ngài mà thờ các thần khác trong xứ Ca-na-an. Cũng như Gô-me, ban đầu dân Y-sơ-ra-ên là người thờ thần-tượng, được Đức Giê-hô-va “cưới” về và cuối cùng quay lại thờ thần-tượng.
Nếu Ô-sê cưới người nữ trinh trắng và sau đó trở nên gian-dâm, thì câu “một người vợ gian-dâm” trong Os 1:2 phải là “một người vợ có khuynh hướng hư hỏng và về sau đã phạm tội gian-dâm” nhưng dường như rất gượng ép khi đọc lại như vậy. Nhưng Đức Chúa Trời có thể yêu cầu tôi-tớ Ngài cưới một người nữ ô uế không? Có thể lắm.
Chúng ta cũng có thể hỏi “Đức Chúa Trời có thể đã cho vợ của Ê-xê-chi-ên chết?”. Dù cưới một người ô dâm có lẽ không phải là cách làm an toàn nhất, nhưng những cuộc hôn nhân như vậy chỉ cấm đối với các thầy tế-lễ (Lê 21:7). Sanh-môn cưới Ra-háp, một gái điếm, sau đó trở thành bà cố của vua Đa-vít, và là tổ mẫu của Chúa Giê-xu Christ (Mat 1:4-5).
• Tên gọi (Os 1:3-9).
Như đối với hai con trai của Ê-sai (Ês 7:3; Ês 8:3) và nhiều người khác trong Kinh Thánh, ba người con của Gô-me đều được Đức Chúa Trời đặt cho những cái tên có ý nghĩa.
-Con đầu tiên là một con trai, được gọi là Gít-rê-ên (Os 1:4-5), có nghĩa “Đức Chúa Trời gieo”. Gít-rê-ên là một thành phố trong chi phái của Y-sác, gần núi Ghinh-bô-a, và thành phố này có liên-quan đến sự trừng-phạt dữ dội mà Giê-hu đã hành hình gia đình A-háp (IIVua 9:1-10:29; IVua 21:21-24; IIVua 9:6-10). Bởi quá khích, Giê-hu thanh-trừng vùng đất có dòng dõi xấu xa của A-háp, ông đã giết nhiều người hơn mức Đức Chúa Trời cho phép, bao gồm cả A-cha-xia, vua dân Giu-đa và 42 người họ hàng của vua (IIVua 9:27-10:14).
Qua việc con trai Ô-sê ra đời, Đức Chúa Trời loan báo rằng Ngài sẽ trả thù cho huyết vô tội đã đổ ra dưới tay Giê-hu, và sẽ kết thúc triều đại của Giê-hu trong nước Y-sơ-ra-ên. Điều này đã được ứng-nghiệm năm 752 TC, lúc đó Xa-cha-ri bị giết chết là cháu đời thứ tư của Giê-hu và là thời trị-vì cuối cùng của ông. Trong IIVua 10:30 Đức Chúa Trời cũng cảnh báo sự kết thúc của toàn bộ vương quốc Y-sơ-ra-ên, vì sự thất bại của quân đội nó, điều này đã xảy ra năm 724 TC.
-Người con gái thứ hai của Ô-sê có tên là Lô-ru-ha-ma (Os 1:6-7) có nghĩa “không thương-xót”. Đức Chúa Trời đã yêu-thương dân-sự Ngài, và bày-tỏ tình yêu thư ơng đó bằng nhiều cách, nhưng bấy giờ Ngài sẽ rút lại tình yêu-thương đó và không còn tỏ-lòng nhân-từ thương-xót đối với họ nữa. Có thể nói tình yêu của Đức Chúa Trời thực sự là một tình yêu không điều kiện, nhưng điều kiện là chúng ta phải vui nhận tình yêu đó và tùy thuộc vào đức-tin và sự vâng-lời của chúng ta. (Phuc 7:1-7; IICôr 6:14-7:1) Đức Chúa Trời cho phép dân A-si-ri đánh bại vương quốc phía bắc, nhưng Ngài gìn giữ vương quốc phía nam của dân Giu-đa khỏi tay kẻ xâm lược (Ês 36:1-37:38; IIVua 19:1-36).
-Lô-Am-mi (Os 1:8-9) là tên người con trai thứ ba của Ô-sê, tên này có nghĩa “không phải dân ta.” Đức Chúa Trời không chỉ không còn thương-xót dân-sự Ngài, nhưng còn từ bỏ giao ước Ngài đã lập với họ. Giống như người đàn ông ly-dị vợ mình và quay lưng bỏ mặc cô ấy, hay giống như một người cha từ bỏ đứa con ruột của mình (Xu 4:22; Os 11:1).
• Những tên gọi mới (Os 1:10-2:1).
Đây là lúc lòng thương-xót của Đức Chúa Trời lại đến trên dân Ngài, vì có một ngày Đức Chúa Trời sẽ thay đổi tên này (4). “Không phải dân ta” sẽ thành “dân ta”, “không được yêu thương” sẽ thành “con yêu dấu của ta.” Những tên gọi mới này phản ánh mối tương-giao mới của dân-sự với Đức Chúa Trời, vì tất cả họ sẽ là “con trai của Đức Chúa Trời hằng sống” (5). Giu-đa và Y-sơ-ra-ên sẽ hiệp thành một nước, sẽ chịu phục dưới một quan trưởng của Đức Chúa Trời, sự chia cắt trước đây hàng thế kỷ không còn nữa.
Thay vì “Gít-rê-ên” là nơi của sự trừng phạt, của sự tàn sát, nó sẽ là nơi gieo giống. (Gít-rê-ên có nghĩa là Đức Chúa Trời gieo giống). Ở đó Đức Chúa Trời sẽ gieo rắc dân-sự Ngài trên đất của chính họ và khiến họ nên thịnh vượng. Ngày nay, dân Do-thái được sống rải rác khắp các nước ngoại bang (Xa 10:9), nhưng đến một ngày Đức Chúa Trời sẽ trồng họ lại trên đất mình và phục-hồi sự vinh-quang của họ. Khi Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham, dân Y-sơ-ra-ên sẽ đông như cát bãi biển (Sa 22:17).
Khi nào những lời-hứa đầy lòng thương-xót này sẽ ứng nghiệm cho dân Do-thái? Khi họ nhận biết Đấng Mê-si-a của họ lúc Ngài trở lại; họ tin-cậy Ngài, kinh-nghiệm sự thanh-tẩy của Ngài (Xa 12:10-13:1). Sau đó họ sẽ được vào nước của mình, và lời-hứa của các tiên-tri sẽ ứng-nghiệm (Ês 11:1-12:6; 32:1-20; Ês 35:1-10; Giê 30:1-31:40; Êxe 37:1-28; Am 9:11-15).
Ba người con của Ô-sê dạy chúng ta về lòng thương-xót của Đức Chúa Trời. Bây giờ chúng ta sẽ xem bài học về Gô-me dạy gì cho chúng ta.
Os 2:1; xem giải nghĩa Os 1:1-11
2. Gô-me: Đức Chúa Trời thánh-khiết (Os 2:2-13)
Trên hết Ô-sê là tiên-tri của lòng yêu-thương, nhưng không giống một số thầy thông giáo ngày nay, ông không hạ thấp sự thánh-khiết của Đức Chúa Trời. Chúng ta từng nghe rằng “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” (IGi 4:8,16), nhưng chúng ta cũng được nhắc nhở “Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm đâu” (Gi 1:5). Tình yêu-thương của Đức Chúa Trời là tình yêu thánh-khiết, thiêng-liêng, không phải là thứ tình yêu cảm xúc dẫn đến sự thiên-vị tội-nhân và bao che cho tội-lỗi.
Tiên-tri Ô-sê tập trung 3 tội-lỗi đặc biệt: thờ thần-tượng (ngoại-tình thuộc-linh), tội vô-ơn và đạo đức giả.
(1) Thờ thần-tượng (Os 2:2-5a). Đức Chúa Trời phán với các con của Ô-sê và bảo họ phải từ bỏ mẹ mình vì sự ngoại-tình của bà. Dân Y-sơ-ra-ên phạm-tội thờ các thần khác của các quốc gia thờ hình-tượng sống gần họ, nhất là thần Ba-anh của người Ca-na-an.
Mỗi khi có hạn hán hoặc đói kém trong xứ, người Do-thái lại quay sang cầu thần Ba-anh giúp đỡ, mà không kêu cầu Đức Chúa Trời (IVua 18:1-19:21). Sự thờ-phượng của dân ngoại có liên quan đến những nghi lễ, tập tục có tính xác thịt, và vì những nghi lễ này cả nam và nữ đều được coi là ngoại-tình trước mặt Chúa. Trong nghĩa đen cũng như nghĩa bóng, thì từ “thờ thần-tượng” có nghĩa là ngoại-tình (6).
Vì dân-sự có hành vi như kẻ ngoại tình, nên Đức Chúa Trời sẽ xử họ như xử kẻ ngoại tình và bêu xấu họ trước công chúng. Ngài không còn nhận dân-sự là vợ mình nữa, vì họ đã phá hủy hôn ước trang trọng với Ngài mà dan díu với thần-tượng khác. Theo luật-pháp người Hê-bơ-rơ, tội ngoại-tình phải chịu xử-tử, nhưng Đức Chúa Trời phán rằng Ngài sẽ trừng-phạt dân Y-sơ-ra-ên và không tiêu diệt họ (7).
Bất-trung với Đức Chúa Trời là tội-trọng, cũng giống như tội không chung thủy với vợ hoặc chồng mình. Một người đàn ông nói với vợ mình rằng anh ta chung thủy 90%, có nghĩa là anh ta không chung thủy chút nào. Khi dân Y-sơ-ra-ên bị cám-dỗ phạm-tội từ bỏ Đức Chúa Trời đi thờ thần-tượng, hội thánh bị cám-dỗ quay sang thế-gian này, không yêu kính Đức Chúa Trời và không hề muốn làm cho Ngài điều gì.
Chúng ta phải thật cẩn thận, không được yêu thế-gian (IGi 2:15-17), không nên làm bạn với thế-gian (Gia 4:4), không bị ô uế giữa thế-gian (Os 1:27), hoặc không được làm theo đời này (Rô 12:2). Mỗi tín-hữu Cơ-đốc và mỗi hội thánh ở địa phương phải luôn luôn trung-thành, chân-thật với Chúa Giê-xu Christ, là chú rể cho đến ngày Ngài trở lại đón cô dâu của Ngài về thiên-đàng dự tiệc cưới (IICôr 11:1-4; Êph 5:22-23; Kh 19:6-9).
(2) Sự vô-ơn (Os 2:5b-9).
Thay vì tạ ơn Đức Chúa Trời Chân Thần vì sự ban-cho đồ ăn, thức uống, quần áo của Ngài trên dân sự, dân-sự lại cảm-tạ các thần khác và dùng những ân-tứ của Đức Chúa Trời ban-cho để phục-vụ các thần khác. Thật vô ơn đối với Đức Chúa Trời! Ngài ban mưa trên đất (Phuc 11:8-17) nhưng dân Y-sơ-ra-ên dâng những hoa lợi cho thần Ba-anh, vị thần mưa.
Chính Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sức lực để tạo ra sản-nghiệp (Os 8:17-18) và hưởng ơn phước trong cuộc sống (ITim 6:17). Chúng ta phải tạ-ơn Ngài và nhận biết sự tốt lành của Ngài. Thật tội-lỗi khi lấy ân-tứ của Đức Chúa Trời ban cho đem thờ lạy thần khác!
Đức Chúa Trời có quyền từ bỏ dân-sự Ngài, nhưng Ngài chỉ sửa phạt họ. Dân-sự chạy theo thần khác, nhưng Đức Giê-hô-va chăn các nẻo đường họ và làm xáo trộn hoạch định của họ để họ gặp khó khăn trên đường. Ngài sẽ lấy lại ơn phước Ngài đã ban, và để dân sự tay trắng như lúc chào đời, căn cỗi như một sa mạc.
Trong Kinh Thánh chúng ta thấy rất nhiều lần dân-sự được nhắc nhở phải biết ơn Đức Chúa Trời. Chúng ta chú ý sẽ thấy ít nhất 15 chỗ trong Kinh Thánh dạy chúng ta phải “dâng lời tạ-ơn cho Đức Chúa Trời”; trong Thi 104:4 và Côl 3:16 đều nhắc nhở chúng ta về sự cảm-tạ. Cả Chúa Giê-xu và Phao-lô là tấm gương về sự thường xuyên tạ-ơn Đức Chúa Trời vì sự ban-cho của Ngài.
Bước đầu tiên nghịch cùng Đức Chúa Trời là không dâng lời cảm-tạ vì ơn thương-xót của Ngài (Rô 1:21). Đức Chúa Trời không cho phép chúng ta vui hưởng ân phước Ngài ban, lại quên đi Đấng ban-cho chúng ta, vì như vậy là đồng nghĩa với sự thờ hình-tượng.
(3) Đạo đức giả (Os 2:10-13).
Dân-sự vẫn vui-mừng tổ chức các ngày lễ của người Hê-bơ-rơ, nhưng lòng họ lại làm vinh-quang thần Ba-anh và các thần khác mà họ đang thờ-lạy. Bất hạnh thay, các anh chị em của họ ở đền thờ Giê-ru-sa-lem cũng phạm-tội như vậy (Ês 1:1-31). Thật dễ lắm khi dự phần hầu-việc và thờ-phượng Đức Chúa Trời mà lòng chúng ta thật đã xa cách Ngài (Mat 15:7-9).
Nhưng cuối cùng sự thật cũng được giải-bày vì Đức Chúa Trời sẽ xét-đoán dân sự Ngài và phơi-trần sự giả hình của họ. Ngài lấy lại ơn phước đã ban-cho họ và bỏ mặc họ đi theo ý riêng. Đức Chúa Trời là thánh-khiết, Ngài không để dân-sự của Ngài sống triền miên trong tội lỗi hoặc sống với những thần khác. Trong Kinh Thánh có đến 8 lần nhắc chúng ta “hãy nên thánh vì ta là thánh” và đúng như Ngài nói; Ngài là Đấng Thánh-Khiết.
3. Ô-sê: Đức Chúa Trời yêu-thương (Os 2:2-13) (Os 2:2-3:5)
Ba người con của Ô-sê dạy cho chúng ta về sự khoan-dung của Đức Chúa Trời, Gô-me dạy chúng ta về sự thánh-khiết của Ngài. Bây giờ Ô-sê dạy chúng ta bài học về tình yêu-thương của Đức Chúa Trời.
Kyle M.Yates từng viết: “Trong mọi thời đại Ô-sê luôn được xem là người có lòng yêu-thương vĩ đại nhất. Tình yêu-thương của ông lớn lao đến nỗi một hành vi xấu xa nhất không thể làm nó mờ đục đi…Gô-me làm lòng ông tan nát, nhưng qua bà, Ô-sê đã cho cả thế-gian biết một cách tường tận tấm-lòng của Cha Thiên Thượng, Đức Chúa Trời của tình yêu-thương” (8).
Tình yêu của Đức Chúa Trời đã hứa-ban cho dân-sự Ngài (Os 2:14-23). “Ta sẽ…” được lặp lại nhiều lần trong phân đoạn này khiến chúng ta tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã hoạch định một tương lai tươi đẹp cho dân Do-thái. Chúng ta hãy chú ý những lời-hứa của Đức Chúa Trời.
-Ngài bắt đầu bằng câu “Ta sẽ dẫn dụ” (c.14), Đức Chúa Trời không có ý ép buộc dân sự yêu-thương Ngài. Nhưng Ngài “dẫn dụ” (mời gọi) họ như một người yêu quyến rũ người mình yêu, tìm nắm tay nàng trong ngày ước hẹn. Thật vậy, Đức Chúa Trời dùng lời dịu dàng nói với dân-sự qua Kinh Thánh và qua những ơn phước dư dật Ngài ban cho họ trên đất.
Chỉ vì Ngài đã đưa dẫn nàng qua đồng vắng và “cưới” nàng tại núi Si-nai, nên Đức Chúa Trời sẽ gặp lại người yêu Ngài ở đồng vắng vào những ngày cuối cùng và cầm tay dắt nàng vào nước vinh-hiển của nàng.
-Lời-hứa thứ hai: “Ta sẽ ban” (c.15) vì Đức Chúa Trời bảo-đảm sự trở lại trong xứ họ và phục-hồi sự thịnh vượng của họ. Một lần nữa, Đức Chúa Trời thay đổi ý nghĩa của một tên gọi, lần này là “trũng A-cô”. Đối với dân Y-sơ-ra-ên, trũng A-cô là nơi A-can lấy cắp vật Đức Chúa Trời cấm đụng đến và dẫn đến sự bại trận nhục nhã cho quân đội Y-sơ-ra-ên (Gios 7:1-26), nhưng ký ức đó được xóa sạch khỏi tâm-trí họ. Trũng đó sẽ trở nên “cửa trông-cậy”, bởi đó dân Y-sơ-ra-ên sẽ bước vào một đời sống mới. Trải qua gian khó sẽ sinh ra lòng ca ngợi, như khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô và nhìn thấy kẻ thù mình bại trận trước mắt (Xu 14:1-15:27).
“Trong dân ta, những kẻ nào tìm kiếm ta sẽ được đồng Sa-rôn dùng làm chỗ chăn chiên, nơi trũng A-cô dùng làm đồng cỏ thả bò” (Ês 65:10). Đây là một phiên bản Cựu-ước của Rô 8:28, vì chỉ Đức Chúa Trời có thể lấy sự thất bại, nhục nhã làm cho nó trở nên chiến thắng và vinh hiển.
-Lời-hứa thứ ba của Đức Chúa Trời là: “Ta sẽ cất khỏi” (Os 2:16-17), Đức Chúa Trời báo trước sự kết thúc việc thờ thần tượng giữa dân-sự Ngài. Họ sẽ có một từ mới, và Ba-anh sẽ không bao giờ được nhắc đến nữa. Theo tiếng Hê-bơ-rơ “Ishi” có nghĩa “chồng tôi” và “Baali” nghĩa “chủ tôi.”
Cả hai từ đó được các người vợ Hê-bơ-rơ dùng gọi chồng mình, nhưng trong nước tương lai, mỗi người Do-thái đều sẽ gọi Đức Chúa Trời là “chồng tôi” vì mối tương-giao hôn-ước thiêng-liêng sẽ được khôi-phục. Dân Y-sơ-ra-ên không còn tự làm mình gian-dâm trước thần-tượng nữa, nhưng sẽ yêu-thương, phụng-sự Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống.
-Lời-hứa thứ tư của Đức Chúa Trời: “Ta sẽ cưới” (c.18-20). Đức Chúa Trời dẫn dụ dân Y-sơ-ra-ên và kết quả họ chấp nhận Ngài, bước vào mối tương giao đời đời với Ngài. Giao-ước mới này sẽ gồm sự sáng tạo được lặp lại (Sa 9:1-10; Rô 8:18-22) và sự hòa-bình giữa các nước. Trong số các “ơn phước trong ngày cưới” sẽ là những phước hạnh như sự ngay thẳng, công-bình, yêu-thương, nhân-từ và trung-thực…, những điều mà dân Y-sơ-ra-ên bị mất đi trong suốt những năm xa cách chồng mình, Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
-Lời-hứa thứ năm là: “Ta sẽ trả lời” (Os 2:21-22). Hai câu Kinh Thánh này mô-tả cuộc trò chuyện từ các từng trời giữa Đức Chúa Trời nói cùng dân sự dưới đất; Đức Chúa Trời đến từng trời và đất lần lượt được trả lời (?), đổ ơn phước xuống cho dân-sự Ngài. Các từng trời ban mưa xuống, đất sinh bông trái và Đức Chúa Trời ban phước lành dư dật của Ngài cho dân-sự trên đất. Chính là bức tranh vè một vũ trụ được tái thiết, ở đó tội-lỗi và sự chết không còn cai-trị nữa (Rô 5:12-21).
-Lời-hứa cuối cùng trong đoạn này: “Ta sẽ gieo” (Os 2:23). Từ Gít-rê-ên có nghĩa “Đức Chúa Trời gieo giống”. Hình ảnh này chỉ sự gieo rắc dân-sự của Đức Chúa Trời trên đất như một nông dân gieo hạt giống. Ngài nói với họ “ngươi là dân ta”. Họ sẽ đáp lại rằng “Ngài là Đức Chúa Trời tôi”. Điều này liên-hệ lại với những tên gọi của các con Ô-sê đã được Đức Chúa Trời thay đổi trong ơn nhân-từ thương-xót của Ngài.
Tình yêu của Đức Chúa Trời được khắc họa (Os 3:1-5). Đây là “một bài giảng sống” khác khi Ô-sê nhận lại người vợ tội-lỗi và đem nàng về nhà mình. Gô-me lìa bỏ Ô-sê, đến sống với nhân-tình; đây là hình ảnh dân-sự đối xử với Đức Chúa Trời. Ô-sê phải mua vợ mình về với giá 15 miếng bạc (bằng nửa giá mua một nô-lệ) và khoảng 10 giạ lúa mạch. Đây không phải là một giá cao, nhưng Gô-me vì phạm-tội đã tự hạ thấp giá-trị của chính mình. Chúng ta cần nhớ rằng Đức Chúa Trời đã mua chuộc chúng ta bằng một giá rất cao, bởi huyết quý giá của Con Một Ngài (IPhi 1:18-19).
Os 3:3 cho thấy Ô-sê không nối lại mối tương-giao với Gô-me ngay, song ông đợi một thời gian để chắc rằng nàng thực sự chân-thành với mình. Cũng có thể để ông biết chắc nàng không mang thai với người đàn ông khác. Nhưng sự-kiện này có liên quan đến một thông-điệp thuộc-linh: Dân Y-sơ-ra-ên ngày nay, dù được Đấng Mê-si-a mua chuộc (Gi 11:47-52; Ês 53:8) nhưng vẫn chưa quay về với Đức Chúa Trời.
Ngày nay dân Y-sơ-ra-ên không có vua vì họ khước từ Vua của mình, nên họ cũng không có nước. “Chúng tôi không muốn người này cai-trị chúng tôi” (Lu 19:14). “Chúng tôi không có vua khác, chỉ Sê-sa mà thôi” (Gi 19:15). Họ không có vua vì không có triều đại nào đang cai-trị dân Y-sơ-ra-ên. Tất cả những tư-liệu về dân Y-sơ-ra-ên bị thiêu hủy khi người Rô-ma chiếm thành Giê-ru-sa-lem năm 70 SC, và không ai còn biết mình thuộc chi phái nào.
Người Y-sơ-ra-ên không dâng của lễ vì họ không có đền thờ, bàn thờ hoặc thầy tế-lễ. Họ không có hình các thần trên cột trụ, và thê-ra-phim, vì sự thờ thần-tượng đã bài trừ sạch nền văn hóa của họ trong suốt thời kỳ bị người Ba-by-lôn cai-trị. (Họ giống như dân ngoại bang, thờ nhiều thần-tượng). Họ thiếu ê-phót (Xu 28:1-14) vì họ không có thầy tế-lễ thượng-phẩm. Thầy tế-lễ thượng-phẩm duy nhất mà Đức Chúa Trời sẽ thừa nhận làm người trung-gian là Con Ngài trên trời.
Nhưng có một “kỳ sau”! Dân Y-sơ-ra-ên không ở một mình, vì họ sẽ nhận biết Đấng Mê-si-a, sẽ ăn-năn tội-lỗi và nói “Ngài là Đức Chúa Trời tôi!”. Họ sẽ bước vào mối tương-giao tràn đầy ơn phước với Đức Chúa Trời, được nghe Ngài nói, “ngươi là dân ta! ”. Điều này sẽ xảy đến vào “những ngày sau rốt”, lúc đó Đấng Mê-si-a sẽ ngồi vào ngai của Đa-vít và xét xử cách công-bình (Mat 19:28; Lu 1:32-33).
Từ chính là “trở lại” (Os 3:5), từ này được dùng 22 lần trong sách tiên-tri của Ô-sê. Khi dân Y-sơ-ra-ên ăn-năn và trở lại cùng Đức Chúa Trời, sau đó Đức Chúa Trời sẽ lại ban ơn trên dân này (Os 2:7-8). Đức Chúa Trời đã trở về nơi của Ngài và bỏ mặc dân-sự (Os 5:15), cho đến khi dân-sự tìm kiếm Ngài mà nói rằng “Hãy đến, chúng ta hãy trở về cùng Đức Giê-hô-va” (Os 6:1).
Đây là sứ-điệp của Ô-sê: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi…Các ngươi khá lấy lời nói trở lại cùng Đức Giê-hô-va, khá thưa cùng Ngài rằng xin cất mọi sự gian ác đi, và nhậm sự tốt lành” (Os 14:1-2).
Lời cầu-nguyện đó rất có ích cho tất cả tội-nhân: Cả người Do-thái lẫn ngoại bang.
Đức Chúa Trời khoan-dung: Cho dù chúng ta sinh ra với “tên gọi” thế nào, thì Đức Chúa Trời cũng có thể thay đổi nó, và ban cho chúng ta một sự bắt đầu mới. Thậm chí “trũng của sự trừng phạt” có thể trở nên “cửa trông-cậy.”
Đức Chúa Trời thánh-khiết: và Ngài phải xét-xử tội-lỗi. Bản chất của sự thờ thần-tượng là hưởng ân phước nhưng không làm vinh-hiển Đấng Ban Cho. Sống vì thế-gian này tức làm buồn lòng Đức Chúa Trời và phạm-tội “ngoại-tình thuộc-linh.”
Đức Chúa Trời yêu thương: và hứa sẽ tha-thứ, phục-hồi địa-vị tất cả những ai ăn-năn trở về cùng Ngài. Ngài hứa-ban ơn, chúc phước cho tất cả những người tin-cậy Ngài.
Os 2:14-23; xem giải nghĩa Os 2:2-13.
Os 3:1-5; xem giải nghĩa Os 2:2-13.
2. TA SẼ LÀM GÌ CÁC NGƯƠI? (Os 4:1-10:15)
“Quả thật tôi lấy làm sợ hãi cho đất nước mình khi nghĩ rằng Đức Chúa Trời là Đấng công-bình.”
Thomas Jefferson viết những lời này về nước Mỹ, và như tiên tri Ô-sê nhìn nhận đất nước Y-sơ-ra-ên – ông chắc sẽ đồng ý. Từ kinh-nghiệm cay đắng với vợ mình, Ô-sê biết rằng tội-lỗi không những làm Đức Chúa Trời đau lòng mà còn xúc phạm đến sự thánh-khiết của Ngài, vì “sự công-bình và chánh trực là nền của ngôi Chúa” (Thi 89:14).
Đức Chúa Trời muốn tha thứ tội-lỗi cho dân-sự và khôi-phục mối tương-giao giữa Ngài với họ, nhưng dân-sự chưa sẵn lòng. Họ không những không ăn-năn, mà còn không nhận mình đã phạm-tội! Nên Đức Chúa Trời tiến hành xét xử và đem họ ra trước vành móng ngựa. Đó là nguyên-tắc thuộc-linh cơ-bản cho đến khi con người kinh-nghiệm sự kết án vì tội-lỗi, họ mới có thể vui hưởng vinh-quang của sự biến đổi tấm-lòng mình.
1. Đức Chúa Trời lập tòa án xét-xử (Os 4:1-19) (Os 4:1-5:15)
Như Ô-sê trải-nghiệm sự bất hòa với vợ mình, thì Đức Chúa Trời cũng bất hòa với người vợ tội-lỗi của Ngài là dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng nó không phải là sự bất hòa mang tính cá nhân, nó là sự tranh cãi nghiêm túc. “Đức Giê-hô-va có sự kiện cáo với dân này” (Os 4:1).
Hình ảnh Đức Chúa Trời đem loài người và các nước ra xét xử trước tòa án của Ngài rất quen thuộc trong Kinh Thánh (Ês 1:13; Giê 2:9,29; Giê 25:31; Mi 6:2; Rô 3:19). “Hỡi quan xét thế-gian, hãy chổi dậy. Báo trả xứng đáng cho kẻ kiêu ngạo” (Thi 94:2).
Các quan-xét đọc bản cáo trạng khi đứng trước Đức Chúa Trời.
• Toàn thể đất nước (Os 4:1b-3).
Nền tảng của sự đoán phạt là luật thánh-khiết của Đức Chúa Trời, là giao-ước Đức Chúa Trời đã lập với dân Y-sơ-ra-ên trên núi Si-nai. Họ đã hứa “chúng tôi xin làm mọi việc Đức Giê-hô-va đã phán dặn” (Xu 19:8), nhưng họ sớm thất hứa với Ngài. Giống như Gô-me đã bội hôn ước, đến chung sống với người đàn ông khác, thì dân Y-sơ-ra-ên cũng bội-ước với Đức Chúa Trời và quay sang thờ lạy thần của dân ngoại. Trên đất không còn trung nghĩa và không có tình yêu đối với Đức Chúa Trời nữa.
Khi loài người chối bỏ giao-ước của Đức Chúa Trời, họ bắt đầu lợi dụng lẫn nhau, vì mười điều răn có nhắc đến mối tương quan với người lân cận cũng như đối với Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta yêu Đức Chúa Trời, chúng ta cũng sẽ yêu kẻ lân cận mình (Mat 22:34-40; Rô 13:8-10).
Nhưng trên đất không có lòng nhân-từ thương xót, không có lòng yêu-thương đối với người lân cận, không lòng trắc ẩn đối với người nghèo khó. Nhân-loại dối trá với Đức Chúa Trời, bội nghịch lẫn nhau.
Tội-lỗi chính là thiếu sự thông biết, “không nhận biết Đức Chúa Trời trên đất”, “dân ta bị diệt vì thiếu sự thông biết” (Os 4:6) (1). Điều này có nghĩa rộng hơn chỉ nhận biết Đức Chúa Trời, nó ám chỉ sự nhận biết Ngài cách cá nhân. Từ ngữ Hê-bơ-rơ mô tả mối tương-giao mật thiết nhất của chồng với vợ mình (Sa 4:1; Sa 19:8). Biết Đức Chúa Trời là phải có mối tương-giao cá nhân với Ngài thông qua niềm tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu (Gi 17:3).
Quan-xét nhấn mạnh mười điều răn (Xu 20:1-17) và nhắc dân-sự rằng họ sẽ vi phạm luật-pháp của Đức Chúa Trời nếu họ nguyền rủa, nói dối, giết người, trộm cắp và phạm-tội tà-dâm. Nếu họ phạm-tội sẽ dẫn đến kết quả chính họ, xứ sở của họ, thậm chí đến gia súc sẽ chịu khổ đau. Lời-hứa trong giao-ước của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ ban ơn trên đất nếu dân-sự vâng-lời Ngài, nhưng Đức Chúa Trời sẽ trừng-phạt xứ sở họ, nếu họ bất-tuân điều răn Ngài (Lê 26:1-46; Phuc 27:1-28:68).
Đất thuộc về Đức Chúa Trời (Lê 25:38) và tội-lỗi của loài người làm đất bị ô uế (Lê 18:25-28; Lê 26:32-33). Những thiên-tai như hạn hán, đói kém và sự tàn phá của chiến tranh đôi lúc được Đức Chúa Trời giáng xuống để sửa phạt dân-sự Ngài. Dù ban ơn hay xét-đoán dân-sự, Đức Chúa Trời vẫn luôn giữ lời giao-ước của Ngài với họ (2).
• Các thầy tế-lễ (Os 4:4-14).
Khi Giê-rô-bô-am đệ I thiết lập hệ-thống tôn-giáo riêng của mình ở Y-sơ-ra-ên, nhiều thầy tế-lễ trung thành đã bỏ sang Giu-đa, nên vua tự chọn lựa và đề-cử các thầy tế-lễ (IISu 11:13-15). Điều chắc chắn, các thầy tế lễ giả mạo này không hề biết Đức Chúa Trời và luật pháp của Ngài. Điều họ quan tâm chính là có một việc làm nhàn hạ, nhưng cho họ đồ ăn, quần áo, niềm vui, và nhất là cơ-hội sống đời gian-dâm. Ô-sê đã nói cùng những thầy tế-lễ xấu xa đó “Đừng trách dân-sự vì điều đã xảy ra, vì họ chỉ theo gương xấu của các ngươi!”
Khi bạn vâng theo Lời Chúa, bạn sẽ bước đi trong nơi sáng láng và không bị vấp ngã (Ch 3:21-26; Ch 4:14-19); nhưng khi bạn khước từ Lời Ngài, bạn sẽ đi trong nơi tối tăm và không thể tìm được con đường mình (Ês 8:20). Các lãnh đạo thuộc trần-gian và không hiểu biết sẽ làm cho dân-sự không hiểu biết và đời sống họ thuộc về trần-gian, và điều này dẫn đến sự tiêu diệt giáng trên đất.
Từ “mẹ ngươi” trong Os 4:5 chỉ đất nước Y-sơ-ra-ên (Os 2:2,5). Các lãnh đạo thuộc-linh đi theo hướng nào, thì hội thánh đi theo như vậy, hội thánh theo đường nào thì đạo đức của dân-sự theo đường đó, và phẩm chất đạo đức ra sao thì đất nước cũng như vậy. Dân-sự của Đức Chúa Trời là muối và ánh sáng trong xã hội (Mat 5:13-16), và khi họ hư-mất thì xã hội cũng hư-mất.
Đức Chúa Trời không chấp nhận thứ tôn-giáo (3) do con người lập ra, và cảnh báo các thầy tế-lễ rằng công việc nhẹ nhàng của họ sẽ sớm kết thúc trong thảm họa. Thay vì tìm biết ý muốn của Đức Chúa Trời, dân-sự cầu hỏi các thần-khác (4). Con người càng phạm-tội, các thầy tế-lễ càng hưởng nhiều đồ ăn thức uống. Con người càng xây dựng những chốn thiêng-liêng, họ và các thầy tế-lễ càng buông thả trong dục-vọng khi họ tham dự những nghi lễ.
Nhưng những nghi lễ này không đạt được điều gì, vì Đức Chúa Trời có thể làm cho dân-số và sản nghiệp của họ giảm đi thay vì sinh sản thêm nhiều. Hơn nữa, các con gái và con dâu của những thầy tế-lễ sẽ trở thành gái điếm và phạm-tội tà-dâm (5). Tội-lỗi của họ khiến cho gia đình họ và xứ sở họ chịu xét-đoán.
• Những người xem trong sân tòa (Os 4:15-19).
Bấy giờ tiên-tri nói đến dân-sự ở vương quốc phía nam của Giu-đa, họ đang cẩn thận quan sát những biến-cố ở Y-sơ-ra-ên. Lời cảnh-báo của Ô-sê viết rất rõ ràng: Đừng can dự vào những việc làm của dân Y-sơ-ra-ên vì họ chắc sẽ bị diệt vong! “Ép-ra-im sa mê thần-tượng, hãy để mặc nó” (c.17).
Dân Giu-đa được phán dặn chỉ thờ-phượng ở Y-sơ-ra-ên và không đi đến những nơi thần-linh ở Y-sơ-ra-ên, hoặc đến Ghinh ganh (6) và Bết-A-ven (Ô-sê gọi Bê-tên là Bết-A-ven có nghĩa là “nhà của sự xấu xa, lừa dối”, Bê-tên có nghĩa là “nhà của Đức Chúa Trời”). Dân Y-sơ-ra-ên giống như bò cái tơ bất-trị, không phải con cừu non ngoan ngoãn, và cơn lốc đoán-phạt của Đức Chúa Trời sẽ quét sạch nước đó.
• Các thầy tế-lễ, quan-trưởng và dân-sự (Os 5:1-7).
Đây là bảng tổng kết những chứng-cứ mà quan-xét trình lên. Ông kết án các lãnh đạo vì đã gài bẫy những người vô-tội và lợi dụng họ.Trên đất không còn sự công-bình. Họ đắm chìm trong tội-lỗi và mất năng lực để ăn-năn và trở về cùng Đức Chúa Trời, vì tội-lỗi họ đã làm họ tê liệt.
Nguyên nhân đó là gì? Họ không nhận biết Đức Chúa Trời (Os 5:4; Os 6:3) và sự kiêu-ngạo của họ chỉ làm họ vấp ngã (Os 5:5; Ch 16:18). Cho dù họ có đến với Đức Chúa Trời và dâng của lễ cho Ngài cả đàn chiên, Đức Chúa Trời cũng sẽ không gặp mặt họ, vì Ngài đã rời bỏ họ. Ngài đã khước từ những đứa con không hợp pháp của họ (7), và những bữa yến tiệc hàng tháng của họ sẽ sớm thành ra tang tóc.
• Sự tuyên-án được công-bố (Os 5:8-15).
Chỉ có một sự tuyên-án duy nhất: “có tội”. Ngày phán-xét đang đến gần khi các thành phố của Y-sơ-ra-ên bị thất bại dưới quân xâm lược A-si-ri, và những dân-cư bị bắt. “Ép-ra-im sẽ nên hoang vu trong ngày quở trách” (Os 5:9) (8). Sự mục nát bên trong đất nước giống như sự tàn phá ngầm từ từ do mối mọt gây ra (câu 12), nhưng dân A-si-ri đến thình lình như sư tử tấn công (câu 14). Vừa không thể tránh được vừa bị tiêu hủy.
Y-sơ-ra-ên và Giu-đa là những quốc gia yếu đuối, bệnh hoạn (Ês 1:5-6; Giê 30:12-13) nhưng thay vì cầu-xin sự chữa lành của Đức Chúa Trời, cả hai nước đều quay sang cầu-viện vua A-si-ri giúp đỡ (Os 5:13) (9). Họ đáng lẽ ra nên cầu-nguyện và ăn-năn thật lòng, nhưng họ lại tin-cậy vào chính trị và những hiệp-ước không có ích lợi gì. Tất cả những gì Đức Chúa Trời có thể làm là lìa bỏ họ và chờ đợi ngày dân-sự tìm kiếm mặt Ngài bằng đức-tin và sự hạ mình.
-Os 5:1-15; xem giải nghĩa Os 4:1-19.
2. Đức Chúa Trời từ chối lời yêu cầu (Os 6:1-11) (Os 6:1-7:16)
Tỏ-ra ăn-năn, tiếc nuối vì việc đã phạm và cầu-xin một cơ-hội khác là điều không bình thường đối với bị cáo trong vụ xét xử, chỉ có dân Y-sơ-ra-ên đã làm điều đó, nhưng Đức Chúa Trời biết trước luận điệu đạo đức giả của họ và không chỉ nhận ra sự lừa dối của họ mà cả cung cách tội-lỗi mà họ đã đối xử với Đức Chúa Trời mình.
• Sự ăn-năn giả tạo của dân-sự (Os 6:1-3).
Khi đọc những lời này, chắc hẳn bạn có cảm-tưởng dân -ự rất thành thật ăn-năn và tìm kiếm Đức Chúa Trời, nhưng khi đọc đến những lời Đức Chúa Trời phán, bạn sẽ nhận ra “sự xưng-tội” của họ thực sự nông cạn thể nào.