...tháng Năm đến tháng Chín năm 1787, hội nghị Lập Hiến Hoa Kỳ đã diễn ra ở Phi-la-đen-phia để phát triển một hệ thống chính quyền cho quốc gia mới thành lập. Đến 28 tháng Sáu, tiến-trình này diễn ra quá chậm đến nỗi Benjamin Franklin đã đứng dậy và gọi điện cho George Washington, chủ tịch của hội nghị.
Trong cuộc nói chuyện, ông đã nói: “Thưa ngài, Tôi đã sống nhiều năm, và càng sống tôi càng được chứng-thực về một chân-lý, đó là: Đức Chúa Trời chi phối các vấn-đề của con người.” [1]
Sau đó ông đã đề-nghị họ mời một số tăng-lữ địa phương đến cuộc họp để hướng dẫn họ trong việc cầu-nguyện xin Đức Chúa Trời hướng dẫn. Đề-nghị này hẳn đã được thông qua ngoại trừ việc hội nghị đã không có ngân sách để trả cho những giáo-sĩ đã đến.
Dầu không phải là một tín-đồ công-khai xưng nhận Phúc-Âm, Franklin là một người đã tin một Đức Chúa Trời là vị Kiến Trúc Sư và Đấng Cai Quản hoàn vũ, một niềm tin phù hợp với lời-chứng của Thánh Kinh.
Áp-ra-ham đã gọi Đức Chúa Trời là “Đấng đoán-xét toàn thế-gian” (IIVua 19:15). Vào thời Đa-ni-ên, bằng phương cách khó khăn nhất Vua Nê-bu-cát-nết-sa đã học biết được rằng “Đấng Chí Cao cai-trị trong nước của loài người” (Đa 4:32).
Chương đầu tiên của sách Đa [2] đã cung-cấp những bằng-chứng rõ ràng về sự điều động của Đức Chúa Trời trong những vấn-đề của quốc gia lẫn của cá nhân.
1. Đức Chúa Trời cho Nê-bu-cát-nết-sa chiến thắng (Đa 1:1-2)
[3] Trong nhiều thập niên, các tiên-tri đã từng khuyến cáo những người cai-trị của Giu-đa rằng việc họ thờ thần-tượng, sống trái luật pháp, và bất-công với người nghèo khó sẽ đưa đất nước đến chỗ diệt vong. Các tiên-tri đã nhìn thấy những ngày sắp đến khi Đức Chúa Trời đem quân Ba-by-lôn đến hủy phá Giê-ru-sa-lem cùng đền thờ và bắt dân-sự lưu đày ở Ba-by-lôn.
Một thế kỷ trước khi thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ, tiên-tri Ê-sai đã rao-báo sứ-điệp này (Ês 13:21,39), và Mi-chê một người sống cùng thời với ông đã cùng ông chia-sẻ gánh nặng này (Mi 4:10). Tiên-tri Ha-ba-cúc đã không thể hiểu được làm sao Đức Chúa Trời có thể dùng dân Ba-by-lôn không kính-sợ Ngài để trừng phạt chính dân-sự của Ngài (Ha 1:1-17), và tiên-tri Giê-rê-mi đã sống để nhìn xem những lời tiên-tri này, cùng với những lời tiên-tri của chính mình, tất cả đều được ứng-nghiệm (Giê 20:25,27). Đức Chúa Trời thà để dân Ngài sống lưu đày cách hổ nhục trong một xứ sở tà-thần chứ không để họ sống như những kẻ ngoại giáo nơi Đất Thánh và làm ô uế danh Ngài.
Sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem giống như chiến thắng của các thần ngoại bang trên Đức Chúa Trời chân thật của Y-sơ-ra-ên. Nê-bu-cát-nết-sa đã đốt đền thờ của Đức Chúa Trời và thậm chí người đã lấy những khí dụng thánh và đem để chúng trong đền thờ của thần mình tại Ba-by-lôn. Sau đó, Bên-xát-sa đã dùng một số bình thánh trong số này để tôn-vinh những vị thần của mình trong một bữa tiệc ngoại giáo, nên Đức Chúa Trời đã trừng phạt ông (Đa 5:1-30).
Dù chúng ta quan-niệm thế nào về sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem, thì nó vẫn giống như một chiến thắng của các thần-tượng nhưng sự thực nó là chiến thắng của Đức Chúa Trời! Ngài đã giữ đúng giao-ước của mình với dân Y-sơ-ra-ên và Ngài làm thành những điều mình đã hứa.
Thực tế là Đức Chúa Trời đã từng dấy người Ba-by-lôn đánh bại Giu-đa cũng chính là Đức Chúa Trời sau đó đã dấy người Mê-đi và Ba-tư đến xâm chiếm Ba-by-lôn. Đức Chúa Trời cũng đã ra lệnh cho một người cai-trị thuộc ngoại giáo ra chiếu chỉ cho phép dân Giu-đa trở về quê hương và xây lại đền thờ của họ. Như nhà lãnh đạo truyền-giáo A. T. Pierson đã từng nói, “Lịch-sử l à câu chuyện của Ngài.” (History is His Story)
Đức Chúa Trời đã lập giao-ước với dân Y-sơ-ra-ên, và hứa rằng Ngài sẽ chăm-sóc họ và ban phước cho họ nếu họ vâng-theo luật-lệ của Ngài, nhưng nếu họ không vâng-theo, Ngài sẽ trừng-phạt họ và làm cho họ tản lạc giữa vòng dân ngoại (Lê 26:1-46; Phuc 27:1-30:20). Ngài muốn Y-sơ-ra-ên trở thành “một ngọn đèn cho dân ngoại” (Ês 42:6 NKJV) và bày-tỏ vinh-hiển của Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật; nhưng thay vì như vậy, dân Giu-đa đã trở nên giống như Dân Ngoại và thờ các tà-thần của họ.
Các vị vua và những người lãnh đạo dân chúng không có lòng tin kính, các tiên-tri giả và các thầy tế-lễ bất trung của đất nước đã làm cho đạo đức suy đồi, và cuối cùng khiến cho đất nước bị hủy diệt (Ca 4:13; Giê 23:9-16; IISu 6:14-21). Điều lạ là dân-sự của chính Đức Chúa Trời đã không vâng-theo Ngài, nhưng Nê-bu-cát-nết-sa và quân lính Ba-by-lôn theo ngoại giáo lại đã vâng-theo Ngài!
Đức Chúa Trời thật khôn-ngoan và đầy quyền-năng đến nỗi Ngài có thể cho phép con người có những chọn lựa cá nhân m à vẫn hoàn thành những mục đích của Ngài đối với thế giới. Khi con người không để Ngài cai-trị, Ngài sẽ thắng hơn, nhưng cuối cùng ý muốn của Ngài sẽ được thực hiện và danh Ngài được vinh-hiển.
Chúng ta thờ-phượng và phục-vụ một Đức Chúa Trời tối cao, Đấng không bao giờ bị bất ngờ. Dù hoàn cảnh của chúng ta như thế nào, chúng ta vẫn có thể nói một cách xác-quyết luôn luôn rằng, “A-lê-lu-gia . . . Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn Năng, đã cầm quyền cai-trị!” (Kh 19:6 NKJV)
2. Đức Chúa Trời bênh vực Đa-ni-ên và các bạn của ông (Đa 1:3-16)
Chính sách của nhà vua là huấn luyện những người giỏi nhất của các quốc gia bị chinh-phục để họ phục-vụ trong chính phủ của mình. Người có thể được lợi từ những hiểu biết của họ về dân-tộc chính mình và cũng đã dùng những khả năng của họ để cũng cố việc cai-trị của ông. Người Giu-đa bị trục xuất nhiều đợt đến Ba-by-lôn cả trước lẫn sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị sụp đổ, và dường như Đa-ni-ên và 3 bạn của ông đã bị bắt đi vào năm 605 lúc họ được khoảng mười lăm mười sáu tuổi. Tiên-tri Ê-xê-chi-ên bị đưa đến Ba-by-l ôn vào năm 597, và vào năm 586, đền thờ bị phá hủy.
• Một dân sót tận hiến (Đa 1:3-4a).
Thậm chí đọc lướt qua Kinh thánh Cựu-ước chúng ta cũng thấy được rằng đại đa số dân-sự Đức Chúa Trời không luôn đi theo Đức Giê-hô-va và giữ các điều răn của Ngài. Trong đất nước Do-thái vẫn luôn tồn tại một bộ phận “dân sót trung-tín” đã vượt qua thử thách và sự đoán-phạt để duy trì giao-ước của Đức Chúa Trời và tạo ra một khởi đầu mới. Tiên-tri Ê-sai đã đặt tên cho một trong các con trai mình là “Shear-jashub”, có nghĩa là “một dân sót sẽ trở lại”.
Nguyên-tắc tương tự cũng được áp-dụng cho hội thánh ngày nay, đó là không phải người nào tuyên-xưng đức-tin mình trong Chúa Jêsus-Christ đều thật sự là con cái của Đức Chúa Trời (Mat 7:21-23).
Trong sứ-điệp gởi cho 7 hội thánh thuộc vùng Tiểu Á, Chúa chúng ta luôn dùng một từ đặc biệt cho “những kẻ thắng”, những người trung-tín còn lại trong từng hội thánh đã tìm cách vâng-lời Đức Chúa Trời (Kh 2:7,11,17,24-28; Kh 3:4-5; Kh 12:21). Đa-ni-ên và 3 bạn của ông là một phần trong số dân sót trung-tín ở Ba-by-lôn, Đức Chúa Trời đã đặt họ ở đó để hoàn tất những mục đích của Ngài.
Những người trai trẻ này xuất chúng ở mọi phương diện, “những người thông-minh nhất và giỏi nhất”, được Đức Chúa Trời chuẩn bị để thực hiện một nhiệm-vụ chiến lược ở xa xứ. Họ là những người đẹp trai, mạnh khỏe, thông-minh và tài ba. [4].
Họ thuộc chi phái Giu-đa (Đa 1:6) và mang dòng dõi nhà vua (c.3) [5]. Xét về mọi khía cạnh, họ là những người Giu-đa giỏi nhất đã được cống nạp. Bởi vì Át-bê-na được gọi là “làm đầu các hoạn quan”, một số người kết luận rằng 4 chàng trai Giu-đa này đều làm hoạn quan; nhưng đó rất có thể là một kết luận sai lầm.
Ban đầu, từ “hoạn quan” (tiếng Hêb. là saris) đề-cập đến một tôi-tớ đã được thiến để có thể phục-vụ ở hậu cung; nhưng dần dần danh hiệu này được áp-dụng cho bất kỳ chức-vụ nào quan-trọng trong triều. Từ này được dùng cho Phô-ti-pha, và người này đã lập gia đình (Sa 37:36). Luật Do-thái cấm thiến (Phuc 23:1), nên khó thể nào tin được rằng cả 4 người nam Hê-bơ-rơ trung-tín này, là những người kịch liệt chống lại các tập tục của ng ười Ba-by-lôn lại chịu phó mình cho việc này.
• Một thử thách khó khăn (Đa 1:4b-7).
Được huấn luyện để làm quan trong triều đình là một vinh dự, nhưng đồng thời đó cũng là một thử thách; vì những chàng trai Hê-bơ-rơ tận hiến này hẳn phải buộc mình thích nghi với cách thức và suy nghĩ của người Ba-by-lôn.
Mục đích của “khoá huấn luyện” là biến người Giu-đa thành người Ba-by-lôn, và điều này không chỉ có nghĩa là có một quê hương mới, mà là cả một tên gọi mới, tập quán mới, suy nghĩ mới và ngôn ngữ mới. Trong 3 năm, những vị thầy người Ba-by-lôn của họ hẳn đã cố gắng “tẩy não” 4 chàng trai Do-thái này và dạy họ cách nghĩ và sống như người Ba-by-lôn.
Tên Đa-ni-ên có nghĩa là “Đức Chúa Trời là quan-xét tôi”, nhưng tên gọi này đã được đổi lại là Bên-tơ-xát-xe hay “Bên bảo vệ mạng sống người”. Ha-na-nia có nghĩa là “Đức Chúa Trời bày-tỏ ân-điển”, nhưng Sa-đơ-rắc tên mới của người có nghĩa là “mạng lệnh của A-ku” (thần mặt trăng). Mi-sa-ên có nghĩa là “Có ai như Đức Chúa Trời?” còn Mê-sác tên mới có nghĩa là “Có ai như là A-ku?” A-xa-ria có nghĩa là “Đức Chúa Trời là nguồn cứu giúp của tôi”, nhưng A-bết-Nê-gô lại có nghĩa là “Tôi-tớ của Nê-bô (Nê-gô)”. Danh của Đức Chúa Trời được thế chỗ bằng danh của các tà-thần của Ba-by-lôn; nhưng thử nghĩ những người vô-tín có thể làm gì khác hơn thế?
Học một ngôn ngữ mới và ngay cả việc nhận một cái tên mới không gây khó khăn lắm, nhưng việc áp dụng những tập tục trái ngược với Luật Môi-se lại là một vấn-đề lớn. Người Ba-by-lôn rất giỏi về xây dựng, tính toán, và phân tích quân sự, nhưng tôn-giáo của họ đã rơi vào chỗ mê-tín và hoang đường. Cũng giống như các sinh-viên Cơ-đốc trong các trường học thế tục ngày nay thường phải học về những vấn-đề duy vật trái với những gì họ tin, Đa-ni-ên và các bạn của ông đã phải học thông suốt lịch-sử và khoa-học của người Ba-by-lôn. Thực tế là trong kỳ thì cuối khóa, họ đã đánh bật tất cả các sinh-viên khác (c.20), và sau đó, Đức Chúa Trời đã cho họ cơ-hội để chứng-tỏ niềm tin của họ cao trọng hơn niềm tin của những người đã bắt họ làm phu-tù. Nhưng khi những gì họ được học đòi hỏi họ phải bất-tuân với luật thánh, họ đã ngưng lại.
Chắc chắn rằng thức ăn của vua là ngon nhất trong nước, thế nhưng tại sao 4 học viên người Hê-bơ-rơ này lại từ chối ăn những thức ăn đó? Bởi vì chúng làm ô uế họ và khiến họ trở nên ô uế về nghi lễ trước mặt Đức Chúa Trời của họ (c. 8). Đối với người Do-thái điều quan-trọng chính là họ chỉ ăn những con vật được Đức Chúa Trời cho phép và khi làm thịt những con vật đó huyết của chúng phải được loại bỏ hết, vì ăn huyết là điều bị nghiêm cấm (Lê 11:1-47; Lê 17:10-16). Nhưng còn hơn thế nữa, thức ăn của vua trước nhất đã được dâng lên cho các thần-tượng, vì thế những người Do-thái trung-tín sẽ không ăn những thức ăn bị ô uế như thế. Hội thánh đầu tiên cũng đã đối diện với vấn-đề này.
•Một cuộc thử-nghiệm được nhận thức rõ (Đa 1:8-16).
Bằng cách nào dân-sự Đức Chúa Trời có thể chống lại những áp lực mà có thể “đẩy” họ đến chỗ đồng hóa với thế-gian? Theo Rô 12:1-2, “người làm theo đời này” là người mà sự sống của chịu sự điều khiển của những áp lực từ bên ngoài, nhưng “người biến đổi” là người mà sự sống của họ chịu sự chi phối bởi quyền-năng từ bên trong. Đa-ni-ên và 3 bạn của ông là những người biến đổi: thay vì bị thay đổi, họ đã mang lại sự thay đổi! Đức Chúa Trời đã dùng họ để thay đổi suy nghĩ của những nhà cai-trị đầy quyền lực và làm cho danh Ngài được cả sáng trong một xứ sở ngoại giáo.
Bước đầu tiên khi họ giải quyết vấn-đề của mình và làm những người biến đổi là dâng mình hoàn toàn cho Đức Chúa Trời. Tấm-lòng của Đa-ni-ên - toàn bộ sự tồn tại của người - thuộc về Đức Chúa Trời, lòng các bạn của Đa-ni-ên cũng như vậy (Đa 1:8; Đa 12:1-2). “Khá giữa tấm-lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra” (Ch 4:23 NKJV).
Một tấm-lòng yêu mến Đức Chúa Trời, tin-cậy nơi Ngài, và dẫn đến vâng-phục Ngài thì không cảm thấy khó khi chọn-lựa điều phải và tin-cậy Đức Chúa Trời sẽ lo liệu hậu quả. Người ta thường nói rằng đức-tin không phải là tin mà bất kể chứng cứ - đó là mê-tín – mà là vâng-phục bất chấp hậu quả ra sao. Khi phải chọn giữa Lời Đức Chúa Trời và thức ăn của vua, họ đã chọn Lời Đức Chúa Trời (Thi 119:103; Phuc 8:3).
Bước thứ hai là cư xử tốt đẹp với những người đang nắm quyền. Bốn người này nhận biết rằng Át-bê-na đặt biệt thân thiện và tốt bụng đối với họ và hiểu được rằng đây là công việc của Đức Chúa Trời. (Giô-sép đã từng có kinh-nghiệm tương tự khi người ở trong tù. (Sa 39:1-40:23).
“Khi tánh hạnh của người nào đẹp lòng Đức Giê-hô-va, thì Ngài cũng khiến các thù nghịch người ở hòa thuận với người” (Ch 16:7 NKJV).
Thay vì trông mong viên quan thuộc Dân ngoại theo tà-thần vâng-theo Luật Môi-se và làm cho ông ta gặp rắc rối với nhà vua, Đa-ni-ên và các bạn ông đã có một cách giải quyết khôn-ngoan và xin cứ thử-nghiệm họ trong 10 ngày.
Xuyên suốt Kinh thánh, chúng ta sẽ bắt gặp những cho người đã phải bất-tuân cường quyền để vâng-theo Đức Chúa Trời, và trong từng trường hợp, họ đã có cách giải quyết khôn-ngoan và tế-nhị.
“Nếu có thể được thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người” (Rô 12:18 NIV).
Bên cạnh Đa-ni-ên và các bạn ông, chúng ta còn có gương của những bà góa Hê-bơ-rơ (Xu 1:1-22), các sứ-đồ (Công 4:1-37), và cả chính Chúa Giê-xu nữa (IPhi 2:13-25). Tất cả những người đó đã phải chống lại luật-lệ để vâng-lời Đức Chúa Trời, và Ngài đã cho họ thắng. Họ là những người hiền hòa, và không tìm cách làm cho người khác gặp rắc rối. Họ có một tâm-thần nhu-mì và yên lặng. Họ xem thử thách như một cơ-hội để bày-tỏ Đức Chúa Trời và làm vinh-hiển danh Ngài.
Bốn học viên người Do-thái này không đe dọa ai cả, không bày-tỏ sự kháng cự hay cố tìm cách để thiêu trụi một toà nhà. Đơn giản họ chỉ xuất sắc trong học tập, cư xử như những người tốt bụng, và đề-nghị Mên-xa thử họ trong 10 ngày bằng cách chỉ cho họ uống nước và ăn rau [6].
Cơ-đốc nhân không có quyền đòi hỏi người khác, đặc biệt là những người chưa được cứu, phiêu lưu nếu chính mình không thực hiện điều đó. Được Đức Chúa Trời hướng dẫn một cách vô thức, Mên-xa đã sẵn lòng chấp thuận đề-nghị của họ, và Đức Chúa Trời đã thực hiện những điều còn lại. Kết quả là 4 chàng trai Do-thái này có thân thể khỏe mạnh và dáng vẻ tốt tươi hơn tất cả các học-viên khác. Đây là minh-chứng sống động cho lời-hứa trong Mat 6:33 và nguyên-tắc được trình-bày trong Côl 4:5; ITês 4:12; IPhi 3:15.
Khi phải giải quyết những nan-đề về đời sống, chúng phải xin Đức Chúa Trời ban cho lòng can-đảm để đối diện với những nan-đề đó một cách khiêm-nhường và ngay thật, sự khôn-ngoan để hiểu được chúng, sức mạnh để làm những gì Ngài bảo chúng ta làm, và đức-tin để tin rằng Ngài sẽ lo những điều còn lại cho chúng ta.
Động-cơ của chúng ta phải là làm sáng danh Đức Chúa Trời, chứ không phải là tìm lối thoát. Câu hỏi quan-trọng không phải là “Làm sao tôi có thể thoát khỏi điều này?”, mà là “tôi có thể rút ra được gì từ nan-đề này?” Đức Chúa Trời đã dùng cuộc thử-nghiệm riêng tư này để giúp Đa-ni-ên và các bạn ông sẵn sàng cho những cuộc thử-nghiệm công khai mà họ sẽ phải đối diện trong những năm sau đó. Điều quý báu họ nhận được qua từng-trải này không phải là họ đã được giải cứu để không phải thỏa hiệp, như những gì tuyệt diệu đã diễn ra, nhưng là họ đã được phát triển về tính-cách. Không có gì thắc mắc khi Đức Chúa Trời gọi Đa-ni-ên là “kẻ được yêu nhiều” (Đa 9:23; Đa 19:1,19), vì ông rất giống Con Yêu Dấu của Ngài.
3. Đức Chúa Trời ban năng lực và thành công cho Đa-ni-ên và các bạn của ông (Đa 1:17-20)
Nếu bạn muốn kiếm sống, bạn phải trang bị; và nếu bạn muốn tạo lập cuộc sống, thì bạn cần phải học tập. Nhưng nếu bạn muốn hầu-việc Đức Chúa Trời, thì bạn phải có những ân-tứ thiên-thượng và sự vùa giúp của Đức Chúa Trời. Huấn luyện và giáo dục rất quan-trọng, nhưng chúng không thể thay thế được khả năng và sự khôn-ngoan mà chỉ Đức Chúa Trời mới có thể ban-cho.
• Sự ban phước đặc biệt của Đức Chúa Trời (Đa 1:17).
Bốn người trai trẻ này đã phải học tập và tự thích nghi, nhưng Đức Chúa Trời đã ban-cho họ khả năng để học biết điều quan-trọng, sự sáng suốt để hiểu được nó, và sự khôn-ngoan để biết làm cách nào áp dụng nó và liên-hệ nó với lẽ-thật của Đức Chúa Trời. Là sinh-viên, chúng ta cần xin Đức Chúa Trời ban-cho mình sự khôn-ngoan (Gia 1:5) và sau đó học tập chăm chỉ để có thể làm hết sức mình. “Đức-tin không có việc làm thì chết” (Gia 2:26), và lời cầu-nguyện tha thiết không thể thay thế được dự học tập hết lòng. Cả hai đều cần thiết.
Việc học mà những người trai trẻ này theo đuổi là gì? Chắc chắn họ đã được dạy về tôn-giáo của Ba-by-lôn cũng như hệ thống chiêm tinh vốn là nền-tảng cho cả tôn-giáo lẫn khoa học của họ. Những cố-vấn chính thức của nhà vua phải có khả năng giải nghĩa được chiêm bao và các điềm báo khác nhau, bởi vì hiểu được các thời kỳ và biết được tương lai là hai điều quan-trọng để nhà vua có được thành công. Những người trai trẻ này đã được dạy dỗ những điều mà chúng ta có thể gọi là “nền giáo dục thế tục” bị đắm chìm trong thói mê-tín của thời bấy giờ.
Nhưng dân-sự của Đức Chúa Trời có nên học “sự khôn-ngoan của đời này” khi họ đã có Lời được linh-cảm và vô-ngộ của Đức Chúa Trời hướng dẫn mình? Một số tín-đồ chân-thành nghĩ rằng “tất cả những sự giáo dục của đời này” đều mang tính chất tội-lỗi, trong khi đó những người khác, cũng là những người chân-thành, thì tin rằng dân-sự Đức Chúa Trời phải hiểu được cách nghĩ của đời này nhưng không để nó điều khiển mình.
Tertullian vị đại giáo-phụ của hội thánh (160-220) là một thí-dụ của nhóm thứ nhất, vì người đã hỏi rằng, “Athens có liên-hệ gì với Giê-ru-sa-lem? Giữa học thuật và hội thánh có sự tương hợp nào chăng?” [7]. Ông cũng đã viết rằng, “Vì vậy, có sự giống nhau nào giữa Cơ-đốc nhân và triết-gia? Giữa môn-đồ của Hy-lạp và của thiên-đàng? Giữa người mà mục tiêu của họ là danh vọng và người mà mục tiêu của họ là sự sống?” [8].
Mặc khác, Môi-se đã “được học tất cả sự khôn-ngoan của người Ê-díp-tô” (Công 7:22), và sứ-đồ Phao-lô đã đọc các tác-phẩm cổ và thậm chí đã trích dẫn chúng trong các thư tín của mình. Trong ICôr 15:33 ông đã trích dẫn lời của nhà thơ Hy-lạp Menander; trong Công 17:27,28, ông đã trích dẫn lời của Epimenides, Araaatus, và Cleamthes; và trong Tit 1:12, ông đã trích dẫn lời của Epimenides.
Trong IITim 4:13, ông đã yêu cầu Ti-mô-thê mang cho mình sách vở và những sách bằng giấy da, đây chắc hẳn là một số bản sao của Kinh thánh Cựu-ước và có thể là một số tác-phẩm của các tác-giả cổ điển. Vấn-đề ở đây là Phao-lô biết về các tác-phẩm cổ và đã tìm cách dùng những gì mình biết đế đưa người ta đến được với chân-lý của Lời Đức ChúaTrời.
Trong lá thư gởi cho một người bạn, Robert Murray M’Cheyne đã viết “Hãy cẩn thận về tiêu-chuẩn của các tác-phẩm cổ. Đúng vậy, chúng ta phải biết chúng; nhưng chỉ như nhà hóa học cầm thuốc độc để khám phá đặc tính của chúng, chứ không phải để máu họ bị nhiễm chúng” [9]
Do hiểu được cách nghĩ của người Ba-by-lôn, đặc biệt là những “người đồng-bóng, thuật-sĩ, thầy-bói và các nhà chiêm-tinh” của nhà vua (Đa 2:2 NIV), Đa-ni-ên và 3 bạn của ông đã dễ dàng hơn trong việc cho họ thấy sự khôn ngoan tối-thượng của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã cho Đa-ni-ên một ân đặc biệt để hiểu được các khải-tượng và chiêm bao.
Trong nữa phần đầu của sách này, Đa-ni-ên đã giải thích ý nghĩa của các khải-tượng và chiêm bao của người khác, nhưng ở nữa phần cuối, chính mình ông đã nhận được khải-tương từ Đức Chúa Trời.
• Sự kiểm tra của nhà vua (Đa 1:18-20).
Chúng ta không biết nhiều học-viên đã vượt qua khóa học cuối cùng của họ ra sao, nhưng có điều thú vị là chính Nê-bu-cát-nết-sa đã tự mình kiểm tra họ. Vì những người mới tốt nghiệp sẽ trở thành những người cố-vấn riêng cho mình, nên nhà vua muốn chắc chắn rằng mình đang có được người giỏi nhất.
Bằng các thêm vào nhóm quan-viên này những người mới có sự thông-minh xuất chúng, hẳn ông an tâm rằng mình đã có sẵn một nhóm cố-vấn giỏi nhất. Ông đã quen thuộc với những người cố-vấn trước đó và có lẽ là không mấy vui về tất cả những người này (Đa 2:5-13).
Phải chăng ông nghi ngờ rằng có một âm mưu nào đó trong cung? Như chúng thấy sau đó, việc 4 thanh niên Do-thái này được đưa thêm vào và được thăng chức đã khiến cho các quan trong triều ghen tức và họ đã tìm cách để hại Đa-ni-ên (chương 6). Là những người cao tuổi hơn, họ không bằng lòng với những người trẻ của mình; là người Ba-by-lôn, họ căm ghét đồng loại mình; và là những tôi-tớ có kinh-nghiệm, họ lại ghen tị với những người có năng lực và tri-thức.
“Thuật-sĩ” là những người liên-quan đến sự huyền bí, trong khi đó “đồng bóng’ là những người dùng bùa chú để đạt được những mục đích của mình. “Thầy bói” chuyên rải bùa mê, “chiêm tinh gia” thì nghiên-cứu sự chuyển động của các ngôi sao và những ảnh hưởng của chúng lên các sự-kiện, tìm cách đoán biết tương lai bằng nhiều phương pháp khác nhau. Dĩ nhiên, Luật Môi-se cấm tất cả những điều này (Phuc 18:9-13). Đa-ni-ên và các bạn của ông đã phải làm việc cùng với những người này, nhưng họ vẫn thanh-sạch và là một lời-chứng mạnh mẽ cho Đức Chúa Trời.
Từ “được yêu cầu” trong Đa 1:20 có ý nghĩa là “được kiểm tra và so sánh”. Nhà vua không chỉ hỏi những người vừa tốt nghiệp, mà người còn so sánh họ với nhau, và như vậy sẽ lấy ra được người xuất sắc nhất. Không thể biết được tại sao các sinh-viên Cơ-đốc trong các trường đại học ngày nay không có mặt trong số những sinh-viên giỏi nhất, những người dành được những phần thưởng cao nhất để làm vinh-hiển Đức Chúa Trời.
Tertullian nghĩ rằng “Giê-ru-sa-lem không liên quan gì đến “Athens”, nhưng nếu những người từ “Giê-ru-sa-lem” không làm-chứng cho những người chưa tin Chúa ở “Athens” thì làm thế nào những tội-nhân hư-mất này nghe được về Chúa Jêsus-Christ? Đi “khắp thế-gian” bao gồm việc đi vào các trường đại học chưa biết Chúa và làm cho ngọn đèn của mình chiếu rạng.
4. Đức Chúa Trời cho Đa-ni-ên sống lâu và phục-sự lâu dài (Đa 1:21)
Năm đầu tiên của triều đại Đa-ri-út là năm 539 TC, nhưng năm 537 TC năm thứ ba của triều vua này Đa-ni-ên vẫn còn sống (Đa 10:1). Nếu Đa-ni-ên được 15 tuổi vào năm 605 khi người bị đưa sang Ba-by-lôn, như vậy người được sinh ra vào năm 620, và hẳn lúc nhận những sự mặc-khải được ghi lại ở chương 10-12, ông đã được 83 tuổi.
Khi đọc lời tiên-tri của Giê-rê-mi (Đa 25:11; Đa 29:10), Đa-ni-ên hiểu rằng Đức Chúa Trời có kế hoạch đưa dân Y-sơ-ra-ên trở về quê hương của họ, xây lại đền thờ và thành phố (Đa 9:1-2) và người đã sống để thấy lời tiên-tri này được ứng-nghiệm! Sau đó không ai biết là ông sống được bao lâu, và chúng ta biết rằng điều đó không quan-trọng. Suốt quãng đời của mình, ông đã có cơ-hội để làm-chứng cho Nê-bu-cát-nết-sa, Đa-ri-út, Bên-xát-xa và Sy-ru, cũng như các thế-hệ quan chức trong triều. Ông là một tôi-tớ trung-tín, và có thể thưa với Chúa Giê-xu rằng, “Con đã tôn-vinh Ngài trên đất, làm xong công việc Ngài giao con làm” (Gi 17:4 NKJV).
Tuy nhiên, không phải mọi tôi-tớ trung-tín của Đức Chúa Trời đều được ban cho phước hạnh được sống lâu. Ê-tiên có thể vẫn còn thanh niên khi người chịu tử đạo (Công 7:1-60), và khi ở tuổi 60 Phao-lô đã bị giết ở Rô-ma. Robert Murray M’Cheyne nhà giảng-đạo tin-kính người Hà-lan đã qua đời khi chỉ còn 2 tháng nữa là đến tuổi 30, nhưng chức-vụ của ông vẫn khích-lệ chúng ta.
William Whiting Borden (“Borden của Yale”) đã qua đời ở Ai-cập khi người mới 25 tuổi, và David Brainerd, một nhà truyền-giáo cho người Hoa Kỳ bản xứ chỉ 29 tuổi lúc Đức Chúa Trời gọi ông.
“Vì thế xin dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi, hầu cho chúng tôi được lòng khôn-ngoan” (Thi 90:12).
Chúng ta thường tính năm, chứ không tính ngày của mình, nhưng mọi người đều phải sống từng ngày một, và chúng ta không biết khi nào thì ngày cuối cùng của mình đến.
Để hoàn tất kế hoạch mà Ngài đã lập cho dân-sự mình, Đức Chúa Trời đã hành động một cách chu đáo để đặt một số tôi-tớ của mình vào những vị-trí được tôn-trọng và có trách-nhiệm đặc biệt.
-Khi Đức Chúa Trời muốn bảo vệ gia đình Gia-cốp và tương lai của dân-tộc Y-sơ-ra-ên, thì Ngài đã đưa Giô-sép sang Ai-cập và khiến người trở thành người cai-trị thứ nhì của xứ sở này.
-Đức Chúa Trời đã dùng Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê ở Ba-tư, ở đây họ đã vạch trần một âm mưu chống lại dân Do-thái và đã cứu được dân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi sự huỷ diệt.
-Nê-hê-mi là người hầu rượu cho nhà vua ở Susa và ông đã được nhà vua hỗ trợ để xây dựng lại tường thành Giê-ru-sa-lem.
Tôi tự hỏi có phải những người giữ chức-vụ cao về chính trị đã từng giúp đỡ Phao-lô là những tín-đồ thật sự trong Chúa Jêsus-Christ ? (Công 19:30-31; Rô 16:23). Giả sử như họ không phải, thì Đức Chúa Trời đã đặt họ vào những chỗ cần thiết và làm cho họ có khả năng để hoàn tất ý định của Ngài.
Những sự-kiện được ghi lại ở chương này hẳn sẽ là một nguồn động viên lớn cho chúng ta khi chúng ta gặp thử thách và bị nản lòng; vì khi người ta không để cho Đức Chúa Trời cai-trị, thì Ngài tể-tri. Đức Chúa Trời vẫn ngự trên ngôi và sẽ không bao giờ lìa bỏ chúng ta.
Phải chăng kẻ thù đã hủy phá Thành Thánh và đền thờ thánh và bắt giữ dân-sự Đức Chúa Trời? Đừng lo, vì vẫn còn một dân sót tin kính thờ-phượng Đức Chúa Trời và phục-sự Ngài. Phải chăng kẻ thù sẽ nổ lực để làm ô uế số dân sót tin kính ấy? Đừng lo, vì Đức Chúa Trời sẽ hành động thay họ, và biệt riêng họ cho chính Ngài.
Các tín-đồ tin kính có được giữ ở những vị trí quyền lực không? Đừng lo, vì Đức Chúa Trời sẽ làm điều đó để họ được chuẩn bị và được chỉ định. Đức Chúa Trời có muốn truyền đạt lẽ thật tiên-tri của Ngài cho dân-sự không? Đừng lo, vì Đức Chúa Trời sẽ giữ những tôi-tớ Ngài được sống và tỉnh táo cho đến khi công việc của họ được hoàn tất.
Phải chăng bạn đang có nhiệm-vụ và băng khoăn không biết mình có thể giữ được nhiệm-vụ này bao lâu? Đừng lo, vì chính Đức Chúa Trời đã từng gọi bạn và trang bị cho bạn sẽ khiến bạn “tiếp tục” cho đến khi bạn hoàn thành những nhiệm-vụ mà Ngài đã giao phó cho bạn.
“Đấng đã gọi anh em là thành-tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (ITês 5:24 NKJV).
Mỗi tín-đồ có thể là một người bị biến đổi hay người biến đổi. Chúng ta hoặc bị rập khuôn với đời này hoặc chúng ta đang biến đổi những điều của đời này thành ra những gì Đức Chúa Trời đã yêu-cầu chúng ta. Không phải lúc nào những người làm nhiệm-vụ biến đổi cũng có cuộc sống dễ chịu, nhưng đó là một cuộc sống thú vị, và điều đó cho bạn thấy rõ rằng Đức Chúa Trời đang dùng bạn để tác động người khác.
2. ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA NHỮNG GIẤC CHIÊM BAO VÀ NHỮNG SỐ PHẬN (Đa 2:1-49)
Không khí trong cung vua đã thay đổi hoàn toàn khi chúng ta chuyển từ đoạn 1 sang đoạn 2. Chương 1 kết thúc ở sự thừa nhận và an-toàn, nhưng chương hai mở đầu bằng sự chống đối và nguy hiểm. Vì họ sở hữu hầu hết sức mạnh và uy quyền rất lớn, nên những kẻ chuyên quyền ở Phương Đông thường khét tiếng là thất thường và hay thay đổi, và ở đây Nê-bu-cát-nết-sa đã lộ-rõ khía cạnh này của tính cách mình. (Đa 3:19).
Tuy nhiên, vị anh hùng và là nhân vật chính trong đoạn 2 này không phải là Vua Nê-bu-cát-nết-sa mà là Giê-hô-va Đức Chúa Trời “Đấng tỏ-ra những sự sâu xa kín nhiệm” (c.22 NKJV). Khi đọc đoạn này, chúng ta chứng-kiến Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên điều khiển từng hoàn cảnh và hoàn thành những mục tiêu của Ngài ngay cả thông qua những người dân ngoại không tin Ngài và mê-tín.
1. Đức Chúa Trời khiến cho nhà vua lo lắng (Đa 2:1)
Đến năm cai-trị thứ hai của mình, Nê-bu-cát-nết-sa nhận ra những gánh nặng của vương quốc cũng như những hậu quả gây ảnh hưởng lớn do những quyết định của người tạo ra. Những băng khoăn này đã khiến cho ông mất ngủ (Tr 5:12) và tâm-trí ông không được ổn định vì ông lo lắng về tương lai của vương quốc mình (Đa 2:29). “Ba-by-lôn lớn” sẽ tồn tại được bao lâu? Ông sẽ cai-trị được bao lâu? Shakespeare nói đúng: “Người đội vương niệm chẳng thể nằm thoải mái được.”
Đức Giê-hô-va đã khiến Nê-bu-cát-nết-sa có một giấc chiêm bao sống động mà người không thể nào hiểu được, và điều này đã làm cho ông lo lắng. Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền đạt chân-lý cho một vị vua ngoại bang theo ngoại giáo là một bằng-chứng cho thấy ân-điển của Ngài.
Cụm từ “thấy những chiêm bao” có lẽ đã cho thấy rằng giấc mơ này lặp đi lặp lại. Đức Giê-hô-va đã từng cho một nhà cai-trị ngoại bang khác là Pha-ra-ôn thấy 2 chiêm bao (Sa 41:1-56), và Giô-sép đã giải nghĩa chúng; và Ngài cũng đã cho các nhà thông-thái đến tôn-thờ Chúa Giê-xu thấy một chiêm bao (Mat 2:12), họ cũng là những người ngoại bang.
Khi Đức Chúa Trời muốn ban sứ-điệp của Ngài cho dân ngoại, Ngài đã ban cho họ một tiên-tri Do-thái (Am 3:7) -chẳng hạn như Giô-na cho thành Ni-ni-ve hay A-mốt cho các lân bang (Am 1:1-2:16). Nhưng ở đây Đức Giê-hô-va đã truyền đạt trực tiếp cho một quốc vương ngoại bang không tin thờ Ngài. Trong sự khôn-ngoan của mình Đức Giê-hô-va đã dự định dùng Đa-ni-ên tôi-tớ của mình để miêu-tả và giải nghĩa gíâc chiêm bao. Bằng cách này, danh Đức Chúa Trời sẽ được vinh-hiển và Đa-ni-ên cùng ba bạn của ông hẳn sẽ được tôn-trọng và ban thưởng.
Phải chẳng Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục dùng chiêm bao để truyền đạt ý định của Ngài? R õ ràng Ngài sẽ làm như vậy nếu Ngài muốn, nhưng đây không phải là phương cách Ngài thường dùng. Ngày nay Đức Chúa Trời hướng dẫn con cái Ngài qua Đức Thánh Linh khi họ cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ngài, suy gẫm lời Ngài và trao đổi với những người lãnh đạo thuộc-linh của họ. Điều nguy hiểm là những giấc chiêm bao của chúng ta có thể không đến từ Chúa.
Tiềm-thức của con người có khả năng tạo ra chiêm bao, và Giê 23:25-32 cho thấy rằng các lực lượng tà linh có thể tạo ra những giấc chiêm bao vốn là những sự giả dối của Sa-tan chứ không phải lẽ-thật của Đức Chúa Trời. Thật nguy hiểm khi xem những giấc chiêm bao như những sứ-điệp của Đức Giê-hô-va.
2. Đức Chúa Trời làm cho “những người khôn-ngoan” bị hổ thẹn (Đa 2:2-13)
[10] Nhà vua đã làm điều mà bất kỳ nhà cai-trị thời xưa nào cũng làm, đó là ông đã triệu tập những người cố vấn đặc biệt để giúp ông hiểu ý nghĩa của giấc chiêm bao này, điều đã khiến ông mất ngủ và làm ông bất-an. Nhưng đây không phải là buổi chầu thường ngày, vì nhà vua không chỉ ra lệnh cho họ giải nghĩa giấc chiêm bao mà còn bảo họ phải kể lại giấc chiêm bao đó cho ông! Nếu họ không làm được cả hai việc đó, ông sẽ giết họ không thương-xót và biến nhà họ trở thành nhà xí công cộng và nơi đổ rác.
Dĩ nhiên, đây là một thách thức mới đối với họ và họ biết mình không thể nào thỏa mãn được điều này. Ở đây chúng ta được đối diện với một câu hỏi mà những người nghiên-cứu Kinh thánh thường không có câu trả lời giống nhau: Phải chăng Vua Nê-bu-cát-nết-sa đã quên những gì mình chiêm bao thấy, hay ông dùng cách này để thử những người cố-vấn của mình xem họ có đáng tin-cậy không? Tôi đồng tình với quan-điểm thứ hai, nhưng chúng ta hãy cùng xét cả 2 khía cạnh của vấn-đề này.
• Ông đã quên giấc chiêm bao.
Tôi thấy khó có thể tin rằng một giấc mơ sống động như vậy lại có thể ra khỏi tâm-trí của một nhà lãnh đạo vĩ đại như Nê-bu-cát-nết-sa, đặc biệt nếu giấc chiêm bao ấy không chỉ xảy ra một lần. Dĩ nhiên, chúng ta thường quên mất những gì mình đã nằm mơ, nhưng trong trường hợp này, Đức Chúa Trời đang tìm cách truyền đạt lẽ-thật của Ngài cho nhà vua.
Chắc chắn Đức Chúa Trời đã làm cho ông có giấc chiêm bao này cũng sẽ khiến ông nhớ được nó. Cuối cùng giấc chiêm bao này quá khích động đến nỗi khiến ông phải choàng tỉnh và tự hỏi không biết nó có nghĩa gì. Hơn nữa, nếu thật sự nhà vua đã quên giấc chiêm bao này, thì làm thể nào ông có thể xác-minh nó ngay cả khi những người cố-vấn này có thể tìm được câu trả lời đi nữa?
Bản KJV và bản Kinh thánh đã được hiệu đính dịch câu 5 và câu 8 là “điều đó đã ra khỏi ta”, có thể diễn giải là “giấc chiêm bao đã rời ta”. Điều này có thể là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy nhà vua kém trí nhớ. Nhưng bản NASB dịch cùng phân đoạn này là “mệnh-lệnh này là đã quyết”, còn bản NIV dịch nó là “đây là điều ta đã quyết định chắc chắn”. Điều được nói đến ở đây không phải là giấc chiêm bao mà là sắc lệnh đoán phạt của nhà vua. Nếu những người cố-vấn này không thể nói cho ông biết giấc chiêm bao đó và giải nghĩa nó, thì họ hẳn sẽ bị nhục mạ công khai và bị giết không thương-xót.
Nhà vua đang thử những người cố-vấn của mình. Tôi cho rằng Nê-bu-cát-nết-sa nhớ giấc chiêm bao của mình, suy nghĩ về nó và nhận ra rằng nó chứa đựng một sứ-điệp quan-trọng có liên quan đến mình và vương quốc của mình. Hẳn sự sợ hãi và thắc mắc đã xâm chiếm lòng ông khi ông nhìn thấy bức tượng lớn bằng sắt này bị một hòn đá kỳ lạ ra từ một ngọn núi làm vỡ ra từng mãnh. Đối với nhà vua, việc giải nghĩa giấc chiêm bao này quá quan-trọng đến nỗi không thể xem nó như một vấn-đề thông thường.
Ông muốn chắc chắn rằng “những người khôn-ngoan” của ông sẽ cho ông biết ý nghĩa thực sự của nó, vì giấc mơ này liên quan đến tương lai ông. Ông không muốn nghe “những lời giả dối bậy bạ” mà họ đã tạo ra để làm hài lòng mình (c.9, bản NIV). Ông muốn biết sự thật.
Có lẽ ông sực nhớ đến sự khác nhau của những người cố-vấn mà ông được thừa hưởng từ cha mình và 4 thanh niên Do-thái vừa tốt nghiệp đứng đầu khóa học (Đa 1:19-20). Ông đã từng thấy 4 chàng trai này giỏi hơn gấp 10 lần những người cố-vấn của ông và có một sự khôn-ngoan mà chưa từng có “người khôn-ngoan nào” bày-tỏ.
Có lẽ ông đã kết luận rằng “những người khôn-ngoan” của ông đã liên kết với nhau để lừa dối ông và cho rằng những lời giải nghĩa cũng như giải thích của họ hoàn toàn không có giá-trị. Nếu thật sự họ có khả n ăng giải nghĩa giấc chiên bao này, thì chắc hẳn họ cũng có khả năng kể cho ông nghe về nó! Đây là một thử-nghiệm về khả năng cũng như sự đáng tin-cậy của họ.
Dù cho phương pháp nào đúng, thì điều này vẫn rất thật: những người cố vấn này hết sức bẽ mặt vì họ không thể kể cho vua Nê-bu-cát-nết-sa về giấc chiêm bao. Đây là một dịp béo bở để họ nhận được sự giàu có uy tín và sự thăng chức, nhưng thực tế là họ đã trì hoãn thời giờ, điều này ngụ ý rằng họ đã không thể thỏa mãn được thách thức này.
Về bản-chất, đây vốn là một hoàn cảnh để Đa-ni-ên có thể tôn-cao Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật, Đấng duy nhất có thể đoán biết được tương lai (Ês 41:21-23). Bằng cách tạo ra một thử thách bất khả thi này, vô tình nhà vua đã đi theo kế hoạch của Đức Chúa Trời và mở đường cho Đa-ni-ên thực hiện điều mà những người cố-vấn không thể làm.
Vì biện hộ cho trường hợp của mình, nên “những người khôn-ngoan”này cố gắng dùng những lời tâng bốc và hợp lý, nhưng điều họ nói chỉ càng làm cho nhà vua tức giận hơn, đến nỗi cuối cùng ông đã ra một chỉ dụ là tất cả “những người khôn-ngoan” trong thành Ba-by-lôn phải bị giết.
Xuyên suốt lịch-sử trong Kinh thánh, chúng ta bắt gặp những cơ-hội Đức Chúa Trời vạch trần những kẻ ngu dại của thế-gian này và sự giả dối của Sa-tan.
Môi-se và A-rôn đã đánh bại các thuật-sĩ của Ba-by-lôn và các thần của Ai-cập (Xu 7:1-12:50), và trên núi Cạt-mên Ê-li đã vạch trần sự giả dối của việc thờ thần Ba-anh (IVua 18:1-46). Giê-rê-mi đã đối chất với tiên-tri giả Ha-na-nia và làm phơi-bày sự gian ác của người (Giê 28:1-16), và Phao-lô đã vạch trần sự lừa dối của Ba-Giê-xu (Công 13:1-12).
Nhưng chính Chúa Giê-xu bằng đời sống, sự dạy dỗ, và sự chết chuộc-tội của ngày đã tuyên-bố rằng với Đức Chúa Trời sự khôn-ngoan của đời này là “ngu dại” và điều đó bao gồm tất cả những sự huyễn hoặc và các tà-giáo của nó (ICôr 1:18 và những câu sau). Lời tuyên-bố của những người cố-vấn trong Đa 2:10 đã loại bỏ giá-trị của chiêm cùng các hình thức tiên-tri khác của con người! Những lời ra từ miệng họ đã lên án những việc làm của họ!
3. Đức Chúa Trời tiết lộ bí mật (Đa 2:14-23)
Chiếu chỉ của nhà vua phải được thi hành, do đó A-ri-ốc, quan coi đội bảo vệ nhà vua và người đứng đầu nhóm hành hình, đã tiến hành tập trung các “bác-sĩ” của nhà vua lại và giết họ đi. Sa-tan đã thua một trận nhưng bây giờ hẳn hắn cố tìm cách để tìm kiếm chiếm thắng trong thất bại bằng cách làm cho Đa-ni-ên và ba bạn của ông bị giết.
Kẻ Gian Ác đang sẵn sàng hy sinh tất cả các tiên-tri giả của mình trong thành Ba-by-lôn nếu hắn có thể tiêu diệt được bốn trong số các tôi-tớ trung-tín của Đức Chúa Trời. Tôi-tớ của Sa-tan có thể bị lợi dụng, nhưng Đức Giê-hô-va chăm-sóc dân-sự Ngài. Hãy xem Đức Giê-hô-va đã can thiệp và hoàn tất những mục đích của Ngài và chúc phước cho dân Ngài thể nào.
• Sự trì hoãn đặc biệt (Đa 2:14-16).
Khi A-ri-ốc đến để bắt Đa-ni-ên và ba bạn của người, họ đã sửng sốt khi nghe về chiếu chỉ của nhà vua. Vì là những người mới “tốt nghiệp” giữa vòng những người cố-vấn của nhà vua, nên họ đã không được mời đến buổi chầu đặc biệt bàn về giấc chiêm bao. Đa-ni-ên đã nói với A-ri-ốc “với sự khôn-ngoan và khéo léo” (bản NIV), như cách người đã từng nói với Át-bê-na và Mên-xa (Đa 1:9-14; Côl 4:5-6), và người đứng đầu nhóm hành hình đã giải thích vấn-đề này đã nghiêm-trọng như thế nào.
Khi làm như vậy và trì hoãn việc thi hành án, A-ri-ốc đang liều mạng sống của chính mình, nhưng các quan trong triều thì đã từng biết được rằng 4 người Do-thái này là đáng tin-cậy. Những hành động cùng lời lẽ tốt đẹp của họ trong suốt 3 năm họ được huấn luyện giờ đây đã giúp họ bảo vệ mạng sống mình.
A-ri-ốt đã cho Đa-ni-ên thời gian để diện kiến nhà vua, và hẳn nhà vua đã ngạc nhiên khi thấy ông. Rõ ràng lúc này cơn thịnh nộ của nhà vua đã nguôi và người đang sẵn sàng nhượng bộ. Cuối cùng, Đa-ni-ên vốn không có mặt trong buổi chầu trước đó, nên ông đã được ban cho một cơ-hội để thực hiện những yêu-cầu của nhà vua.
Rõ rằng Nê-bu-cát-nết-sa đã nhớ lại rằng 4 người Hê-bơ-rơ này vốn là những học-viên ngoại lệ và là những người xuất sắc trong số những người hiện có mạng sống đang bị đe dọa. Tại sao nhà vua lại giết 4 người cố-vấn giỏi nhất của mình chỉ vì sự kém cỏi của những người khác? Bằng đức-tin, Đa-ni-ên hứa sẽ cho vua biết về giấc mơ của mình và giải nghĩa nó, vì người biết Đức Giê-hô-va sẽ đáp lời cầu-xin.
• Lời cầu-nguyện bằng lòng tin (Đa 2:17-19).
Xuyên suốt sách này, Đa-ni-ên và các bạn của ông đã được mô-tả là những con người của đức-tin và sự cầu-nguyện (Đa 6:9). Họ ở xa quê hương, nhưng bởi đức-tin họ đã “hướng về” Giê-ru-sa-lem và đền thờ mà tuyên-bố lời hứa của IVua 8:44-45. Đức Chúa Trời của thiên đàng [11] hẳn đã nghe những lời cầu-nguyện của họ và đáp lời họ vì chính sự vinh-hiển của Ngài.
Từ “điều bí mật” (raz) được dùng 8 lần trong chương này và từ này tương đương với từ Hy-lạp mysterion (“điều huyền bí”), được dùng 28 lần trong Tân-ước. Nó có nghĩa là “một chân-lý bị dấu kín chỉ được tiết-lộ cho người đã được dạy dỗ”. Đức Chúa Trời đã dấu lẽ thật tiên-tri trong giấc mơ bà Ngài đã làm cho tôi-tớ của Ngài biết được cả giấc chiêm bao lẫn cách giải nghĩa nó và hiểu được những kế hoạch của Đức Chúa Trời trong tương lai.
“Người công-bình lấy lòng sốt sắng cầu-nguyện thật có linh-nghiệm nhiều” (Gia 5:16 NKJV). Lời ca ngợi đầy vui-mừng (Đa 2:20-23). Phản ứng đầu tiên của Đa-ni-ên là chúc ca tụng Đức Giê-hô-va vì đã nghe và đáp lời khẩn-nguyện của họ. Họ cầu -in được sự khôn-ngoan, Đức Chúa Trời đã ban-cho (Gia 1:5), và cánh tay quyền-năng của Ngài đã chặn đứng tiến trình hành quyết và cho 4 thanh niên này thì giờ cầu-nguyện. “Các bác-sĩ” ngoại giáo không thể hiểu được rằng sự hiện diện của người Hê-bơ-rơ ở Ba-by-lôn đã khiến cho họ được giải cứu. [12].
Đức Chúa Trời của thiên-đàng cũng là Đức Chúa Trời của lịch-sử, vì Ngài có thể lập và bỏ các thì đã được dành cho các vua và cho các quốc gia, đây chính là điều Nê-bu-cát-nết-sa đang lo lắng. Giấc chiêm bao này “mờ mịt” với nhà vua nhưng lại “sáng rõ” với Đa-ni-ên, không khác gì trụ mây ở giữa trại dân Y-sơ-ra-ên và người Ai-cập. (Xu 14:19-29).
Đa-ni-ên đã nhắc đến 3 bạn của ông trong bài ca-ngợi của mình (Đa 2:23), bởi vì họ đã cùng ông chia-sẻ gánh nặng cầu-nguyện. Sau đó ông hẳn đã chia-sẻ sự tôn-trọng cùng với họ và họ đã cùng ông giữ nhiệm-vụ cao nhất trong thành Ba-by-lôn mà ông đã được giao phó.
Ngày nay khi dân-sự Đức Chúa Trời đối diện với khủng hoảng, họ cần phải noi theo gương của Đa-ni-ên và các bạn ông và cầu-nguyện dâng trình nan-đề đó lên cho Đức Chúa Trời. Đức tin không chứa đựng mưu đố và đức-tin mang lại vinh-hiển cho Đức Chúa Trời. Đa-ni-ên và các bạn ông đã không đòi hưởng lợi về những gì đã xảy ra vì những điều đó là do Đức Chúa Trời làm. “Trong ngày gian truân hãy kêu-cầu cùng ta; Ta sẽ giải cứu ngươi và ngươi sẽ ngợi khen Ta” (Thi 50:15 NKJV).
A.W. Tozer đã nói rằng, “Bất cứ điều gì Đức Chúa Trời làm được thì đức-tin làm được và bất kỳ điều gì đức-tin làm được thì sự cầu-nguyện có thể làm được khi nó được dâng trình trong đức-tin. Vì vậy, một lời mời đến với sự cầu-nguyện là một lời mời đến với sự toàn-năng, vì cầu-nguyện thu hút sự chú ý của Đức Chúa Trời và khiến Ngài can dự vào những vấn-đề của con người”. [13].
4. Đức Chúa Trời bày-tỏ sự khôn-ngoan và quyền năng (Đa 2:24-45)
Một lần nữa chúng ta thấy được sự khôn-ngoan và khéo léo của Đa-ni-ên khi người đi liền đến nhà của A-ri-ốc và đề-nghị ông đừng tiêu diệt “các bác-sĩ” vì cớ Đức Chúa Trời đã tiết-lộ cho ông biết cả giấc chiêm bao lẫn cách giải nghĩa nó. Đa-ni-ên chưa từng nghe Bài Giảng Trên Núi, nhưng ông biết phải cư xử thế nào với kẻ thù mình và sẵn sàng giải cứu cho những cố-vấn ngoại giáo này.
Vì A-ri-ốc lo việc hành quyết, nên ông có thể ngưng lại tiến trình này và cứu mạng của tất cả những người làm cố-vấn cho nhà vua tại thành Ba-by-lôn. Đa-ni-ên đã đồng ý cho A-ri-ốc đưa mình vào diện kiến nhà vua hầu người có thể nhận được một số bổng lộc. Câu “Tôi đã tìm được một người” (c.25) không đúng với sự thật, bởi vì chính Đa-ni-ên là người đã đến tìm A-ri-ốc; nhưng Đa-ni-ên không phải là loại người quan tâm về việc ai sẽ được thưởng miễn là Đức Chúa Trời được vinh-hiển.
Để trả lời câu hỏi của nhà vua, Đa-ni-ên liền dâng mọi vinh-hiển cho Đức Chúa Trời của thiên-đàng, và qua điều này ông nhắc chúng ta nhớ đền Giô-sép khi người giải mộng cho Pha-ra-ôn (Sa 41:16).
Hẳn Nê-bu-cát-nết-sa đã kinh ngạc khi Đa-ni-ên nói với ông rằng người biết nhà vua đã lo lắng về tương lai của vương quốc mình trước khi người có giấc chiêm bao này. Giấc chiêm bao này là điều Đức Chúa Trời trả lời cho những lo-lắng của ông, vì Đức Chúa Trời đã kết cục tương lai của các vương quốc Dân ngoại và thể nào đỉnh điểm trong lịch-sử của Dân ngoại là sự xuất hiện của một vương quốc đời-đời.
Cụm từ “những ngày sau rốt” (thời kỳ sau rốt”) rất thường gặp trong Kinh thánh, bắt đầu ở Sa 49:1 và kết thúc ở IIPhi 3:3. Chúa chúng ta đã báo hiệu “thời kỳ sau rốt” bằng sự-chết, sự phục-sinh và sự thăng-thiên của Ngài (Hêb 1:2; IPhi 1:20), nên chúng ta hiện đang sống trong thời kỳ đó, lúc Đức Chúa Trời “đang tỏ-ra những điều kín-nhiệm”.
Đức Chúa Trời đã lên kế hoạch cho “những ngày sau rốt” của Y-sơ-ra-ên (Sa 49:1; Phuc 31:29; Đa 2:28), mà đỉnh điểm của nó là Đấng Mê-si-a sẽ trở lại thế-gian và được dân-sự Ngài đón nhận (Os 3:5; Mi 4:1; Gio 2:28-29). “Ngày sau rốt” đối với hội thánh bao gồm thời kỳ khó khăn (IITim 3:1), chịu sự gièm chê của nhiều người và có nhiều kẻ nổi lên nhạo báng và phủ nhận lẽ-thật (IIPhi 3:1 và những câu sau); thời kỳ này sẽ chấm dứt vào lúc Chúa Cứu Thế cất hội thánh của Ngài về thiên-đàng (ITês 4:13-18).
Hình ảnh vua Nê-bu-cát-nết-sa thấy trong chiêm bao mô-tả điều Chúa Giê-xu gọi là “thời kỳ của Dân ngoại” (Lu 21:24), một thời kỳ bắt đầu từ năm 605 TC, lúc thành Giê-ru-sa-lem bị Nê-bu-cát-nết-sa và quân đội Ba-by-lôn chiếm. Giai đoạn này sẽ kết thúc khi Đấng Christ trở lại để lập vương quốc Ngài (Lu 21:25-28)[14] Suốt “thời kỳ Dân ngoại” sẽ có 4 vương quốc nối tiếp nhau, mà đỉnh điểm là vương quốc thứ năm, vương quốc này sẽ phá hủy 4 vương quốc còn lại và tràn khắp đất. Vương quốc thứ năm này là vương quốc của Chúa Jêsus-Christ, Vua của các Vua và Chúa của các Chúa.
• Giấc chiêm bao (Đa 2:31-35).
Trước tiên, Đa-ni-ên kể cho vua nghe về những gì vua đã thấy trong chiêm bao, kế đến ông đã giải thích ý nghĩa của nó. Vua nhìn thấy một pho tượng lớn hình người, “pho tượng đó to lớn và rực rỡ lạ thường” (c.31 NIV), được kết cấu bằng 5 loại chất liệu: vàng, bạc, đồng, sắt và đất sét. Bất ngờ có một hòn đá xuất hiện và va vào chân của pho tượng làm cho pho tượng vỡ ta từng mãnh và trở nên giống như rơm rác bị gió thổi đi. Sau đó hòn đá này thành ra một hòn núi lớn và đầy khắp đất. Khi được nghe lời mô-tả chính xác này, nhà vua biết rằng Đa-ni-ên đang nói ra sự thật và những điều người nói hẳn là chân-lý. Chỉ Đức Chúa Trời của thiên-đàng Đấng đã ban giấc chiêm bao này mới có thể giúp tôi-tớ Ngài biết và giải nghĩa được giấc mơ.
Ý nghĩa của giấc chiêm bao (Đa 2:36-45) [15]
• Pho tượng lớn này đại diện cho 4 vương quốc của Dân ngoại:
(1) Chiếc đầu bằng vàng; Nê-bu-cát-nết-sa và vương quốc Ba-by-lôn (câu 37-38). Vương quốc này tồn tại từ năm 636 TC đến năm 539 TC. Giê-rê-mi đã gọi Ba-by-lôn là “chiếc cốc vàng trong tay Đức Giê-hô-va” (Giê 51:7).
(2) Ngực và cánh tay bằng bạc; Vương quốc Mê-đi-Ba-tư (539-330 TC). Đa-ri-út người MÊ-đi đã chinh phục Ba-by-lôn (Da 5:30-31).
(3) Bụng và vế bằng đồng; Vương quốc của người Hy-lạp (330-63TC). Alexander Đại đến đã thiết lập một đế chế có thể được xem là lớn nhất vào thời cổ đại. Ông qua đời vào năm 323 TC.
(4) Ống chân bằng sắt và bàn chân bằng sắt và đất sét; Đế quốc La-mã (63TC - 475 SC). Sắt tượng trưng cho sức mạnh, còn đất sét tượng-trưng cho sự yếu kém. La-mã mạnh về luật-pháp, tổ chức, và sức mạnh quân sự; nhưng đế quốc này đã chứa quá nhiều dân-tộc khác nhau và điều này đã tạo ra sự yếu kém. “Dân này sẽ sống lẫn lộn với nhau, song không thể hiệp nhất được” (Đa 2:43 NIV).
• Pho tượng này bị hủy phá; Chúa Jêsus-Christ là Hòn Đá, sẽ đến để xét-đoán các kẻ thù của Ngài và thiết lập vương quốc toàn cầu của Ngài.
Dầu cách giải thích này đơn giản nhưng nó truyền đạt một số sứ-điệp quan-trọng và sâu sắc.
-Thứ nhất, nó cho thấy rằng Đức Chúa Trời đang điều khiển lịch-sử. Ngài biết rõ tương lai vì Ngài lập ra tương lai. Điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ khiển trách những nhà lãnh đạo và các dân-tộc về những điều ác họ đã làm, nhưng có ý nghĩa là Ngài có thể tể-trị ngay cả trên sự gian ác của họ để hoàn tất những mục đích thánh của NGÀi.
Đức Chúa Trời của thiên-đàng đã ban cho Nê-bu-cát-nết-sa ngôi vị và khiến ông có thể đánh bại kẻ thù và mở mang vương quốc (c.37-38 Giê 27:1-21). Nhưng Đức Chúa Trời Đấng đã ban cho ông quyền thế cũng có thể lấy đi và Ngài đã làm (Giê 51:1-52:34). Nhà vua không biết triều đại của mình sẽ tồn tại được bao lâu, nhưng ông hiểu rằng một ngày nào đó nó cũng sẽ chấm dứt. Thực tế là Ba-by-lôn đã bị chinh-phục bởi một nước mà Đa-ni-ên gọi là “nước kém hơn” (Đa 2:39).
-Thứ hai, giấc chiêm bao này cho thấy rằng những toan tính của con người lụi tàn khi thời gian trôi qua. Pho tượng lớn và đáng sợ này không chỉ đã thay đổi từ đầu đến chân -từ vàng thành đất sét- nhưng nó còn thay đổi về sức mạnh, cuối cùng kết thúc ở bàn chân được làm bằng vàng trộn với đất sét.
Rõ là pho tượng này nặng ở phần đầu, vì trọng lượng nguyên tử của vàng gấp 10 lần của đất sét, và của bạc thì nặng gấp 5 lần của đất sét. Từ thời đại này sang thời đại khác, các dân-tộc và các vương quốc xuất hiện với sức mạnh và sự vững vàng, nhưng chúng luôn phải đối diện với nguy cơ sụp đổ và tan tành. Hình ảnh Nê-bu-cát-nết-sa nhìn thấy đã làm ông sững sờ vì sự chói sáng của vàng, sắt, đồng, nhưng nó lại đang đứng trên đôi bàn chân gồm sắt và đất sét.
Khi chúng ta kiểm-chứng lịch-sử, một mặt chúng ta thấy sự tăng-trưởng và cải thiện; nhưng khi đi sâu vào, chúng ta thấy tình-trạng sa sút và suy tàn. Thoreau đã nói rằng nước Mỹ “đã cải thiện để đạt đến những cứu cánh không được cải thiện” và cũng có thể nói như vậy về các nước đang phát triển. Chúng ta có thể nói chuyện dể dàng với con người ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, những chúng ta có điều gì đó quan-trọng để nói không? Chúng ta có thể di chuyển cách nhanh chóng từ nơi này sang nơi khác, nhưng chúng ta hầu như không có tiến bộ gì trong việc giải quyết các vấn-đề về chiến tranh, bạo lực, đói kém, và tự-do.
Trong khi chúng ta đang được an-ủi bằng những điều làm cho cuộc sống hiện đại trở nên thoải mái và thú vị hơn –nhà đẹp, xe hơi và máy bay, thuốc men hữu hiệu, các dụng cụ điện tử -thì chúng phải thừa nhận rằng mỗi một điều trong số này thường làm nảy sinh những vấn-đề mới cần được giải quyết.
-Chân-lý thứ ba đó là vào kỳ chung kết đời mọi vật sẽ khó gắn kết với nhau. Bàn chân của pho tượng này được làm bằng một hỗn hợp gồm sắt và đất sét. Sắt cứng và bền nhưng đất sét thì mềm và dễ vỡ vụn. Sắt trong pho tượng mang lại cho dáng vẻ bên ngoài của nó sức mạnh và sự chắc chắn nhưng đất sét thì ngược lại. Thực tế là đất sét đã cướp đi của sắt khả năng kết dính, vì bất kỳ chỗ nào sắt chạm phải đất sét thì tại chỗ đó có sự yếu kém.
Xã hội ngày này đang được duy trì bằng những hiệp ước có thể bị phá vỡ, những lời-hứa có thể bị phớt lờ và những truyền-thống có thể bị quên lãng, những tổ chức có thể giải tán và những công ty mang lại lợi nhận có thể bị phá sản - tất cả đều là sắt trộn với đất sét!
Con người cũng chỉ là đất sét, vì Đức Chúa Trời đã khiến con người ra từ bụi đất. Dầu mỗi con người đều được tạo ra theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, nhưng tội-lỗi cướp đi của chúng ta quyền cai-trị mà Ngài đã ban cho chúng ta (Sa 1:26). Chúng ta vừa là người sáng tạo vừa là kẻ hủy diệt, và dường như chúng ta thiên về sự hủy diệt lẫn nhau và thế giới mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta bằng lòng nhân-từ. Tâm điểm của mọi vấn-đề chính là vấn-đề ở tâm của con người đó là sự nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời.
Pho tượng này cho chúng ta thấy một chân-lý thứ tư: Chúa Jêsus-Christ sẽ trở lại, tiêu diệt kẻ thù, và thiết lập vương quốc của Ngài. Hòn đá là hình ảnh thường gặp của Đức Chúa Trời trong Kinh thánh, đặc biệt là của Đấng Mê-si-a, Chúa Jêsus-Christ Con Đức Chúa Trời (Thi 118:22; Ês 8:14; Ês 28:16; Mat 21:44; Công 4:11; ICôr 10:4; IPhi 2:4-8).
Cụm từ “không có tay” được dùng trong Kinh thánh muốn nói đến “không bởi sức của con người” và đề-cập đến một điều gì đó chỉ Đức Chúa Trời mới có thể làm được (Côl 2:11; Hêb 9:11,24). Dường như một ngày nào đó đế quốc La-mã sẽ trở lại và tồn tại cho đến khi tận-thế và đạt đến cực điểm bằng sự cai-trị của mười vua (Đa 2:44; Đa 7:24-27; Kh 17:3,12-18). Thế giới sẽ được giải cứu khỏi điều ác không phải bởi một tiến trình, mà là bởi một sự-kiện đột ngột, đó là sự trở lại của Chúa Jêsus-Christ theo lời-hứa.
Bất kỳ những gì còn lại của 4 vương quốc ngoại giáo này, được truyền từ vương quốc sang vương quốc kế tiếp, đều sẽ bị phá hủy và trở nên như rơm rạ. Khi ấy Chúa Cứu Thế sẽ thiết-lập vương quốc của Ngài và nó sẽ đầy khắp đất.
Khi chúng ta xem xét những chân-lý này, hẳn chúng ta phải phản ứng với thái-độ tin quyết một cách vui mừng, biết rằng Đức Chúa Trời đang điều khiển mọi sự và có một ngày Ngài sẽ cai-trị trên đất này. Mặc dù dân-sự Đức Chúa Trời nên làm tất cả những gì có thể để giảm bớt khổ sở và cho thế giới này được an-toàn hơn và hạnh phúc hơn, nhưng niềm hy-vọng của chúng ta không phải ở luật-pháp, các liên minh chính trị, hay những cuộc vận động đạo đức.
Niềm hy-vọng của chúng ta là ở Đức Chúa Trời. Tấm-lòng của con người cần được biến đổi nhờ ân-điển của Đức Chúa Trời, điều này có nghĩa là dân-sự Đức Chúa Trời phải làm chứng nhân cho đến các đầu cùng đất. Vương quốc duy nhất còn tồn tại đến đời-đời là vương quốc của Chúa Jêsus-Christ (Đa 2:44), và những người duy nhất được làm cư-dân của vương quốc đó l à những người đã tin-cậy Ngài và đã được tái sanh bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời (Gi 3:1-18).
Tất cả những điều này có ý nghĩa gì với Vua Nê-bu-cát-nết-sa khi người ngồi trên Ngai mình lắng nghe một chàng trai Do-thái trẻ tuổi giải thích về những điều kín-nhiệm của Đức Chúa Trời? Một mặt, sứ-điệp mà pho tượng này mang lại hẳn khiến ông phải khiêm-nhường. Ấy chẳng phải Nê-bu-cát-nết-sa đã chinh-phục được các dân-tộc và các nước, mà là chính Đức Chúa Trời Đấng đã khiến ông làm được điều này và đã ban cho ông quyền cai-trị. Đa-ni-ên đã nói, “Hỡi vua, vua là vua của các vua”.
Vì Chúa trên trời đã ban nước, quyền, sức mạnh, và sự vinh-hiển cho vua (Đa 2:37). Than ôi, vị vua vĩ đại này đã quên đi bài học này và một ngày nọ ông đã lên tiếng nói rằng “đây chẳng phải là Ba-by-lôn lớn mà ta đã dựng, bởi quyền cao cả ta, để làm đế đô ta, và làm sự vinh-hiển oai nghi của ta sao?” (Đa 4:30 NKJV). Đức Chúa Trời đã làm cho ông phải khiêm-nhường và khiến ông sống như thú vật cho đến khi ông học biết được rằng Đức Chúa Trời làm theo ý mình muốn (Đa 4:35) và chỉ mình Ngài đáng được sự vinh-hiển.
Qua việc tạo ra giấc chiêm bao và khiến Đa-ni-ên biết được giấc chiêm bao này và giải nghĩa nó, Đức Chúa Trời đã bày-tỏ sự khôn-ngoan và quyền-năng của Ngài. Đức Chúa Trời có sự khôn-ngoan để lập chương trình cho các thời đại và có quyền-năng để thực hiện những kế hoạch của Ngài. Vua Nê-bu-cát-nết-sa đã cai trị từ năm 605 Tc đến năm 562 TC, nhưng Chúa Jêsus-Christ sẽ cai-trị đời-đời, vương quốc của Ngài sẽ không bao giờ kết thúc.
5. Đức Chúa Trời và các tôi-tớ của Ngài (Đa 2:46-49)
Là một người vô-tín, Nê-bu-cát-nết-sa quá bàng hoàng trước những gì Đa-ni-ên đang bày-tỏ đến mỗi ông xem Đa-ni-ên như một vị thần! Cornelius một viên quan La-mã cũng đã nhìn Phi-e-rơ giống như vậy (Công 10:25-26), và Phao-lô cùng Ba-na-ba cũng được dân thành Lít-tra xem như những vị thần (Công 14:8-18).
Là một người Do-thái tận hiến, hẳn Đa-ni-ên ghê tở tất cả những lời nịnh hót này, nhưng ông hiểu rằng khó có thể cãi lại lệnh của nhà vua. Để tỏ-lòng tôn-kính Đa-ni-ên, nhà vua đã thừa nhận rõ ràng rằng Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ thật vĩ đại hơn tất cả các thần khác. Nê-bu-cát-nết-sa chưa tiến được đến chỗ tin thờ Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật, nhưng đây đã một khởi đầu.
Những gì nhà vua phán và làm cũng đã được thông báo cho mọi người trong triều, đó là Đa-ni-ên cao-trọng hơn tất cả những cố vấn người Ba-by-lôn’ là những người đã không giải được giấc chiêm bao, chỉ mình ông là giải nghĩa được. Và rồi tất cả những gì Đa-ni-ên và ba bạn của ông làm đã cứu được mạng sống của những người này!
Nhà vua đã giữ lời và thăng chức cho Đa-ni-ên với nhiều sự vinh-hiển, như cách mà Pha-ra-ôn đã thăng chức cho Giô-sép tại Ai-cập (Sa 41:39-43). Ông đã lập Đa-ni-ên cai-quản tỉnh Ba-by-lôn và theo như đề-nghị của Đa-ni-ên, nhà vua cũng đã lập ba bạn của ông làm những người giúp đỡ ông trong chức-vụ này.
Họ được giao những chức-vụ khác nhau trong tỉnh trong khi Đa-ni-ên vẫn ở tại triều đình và chầu nơi của vua, một nơi thể hiện uy quyền lớn (Đa 2:49, bản NIV). Những gì ban đầu rất giống một thảm họa –bốn người tin kính Chúa bị giết - đã thành ra niềm hân hoan lớn; và Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên đã được vinh-hiển tột b ực.
3. ĐỨC-TIN VÀ THỬ THÁCH TRONG LỬA (Đa 3:1-30)
Ma quỷ luôn cám-dỗ chúng ta đánh mất đức-tin của mình, còn Đức Chúa Trời thử thách chúng ta để làm cho đức-tin chúng ta lớn mạnh, bởi vì một đức-tin không chịu thử thách thì không thể tin-cậy được. Trong những giờ phút thử thách, đức-tin giả thường tiêu tan, nhưng đức-tin thật thường châm rễ sâu hơn, tăng-trưởng và mang lại vinh-hiển cho Đức Chúa Trời.
Điều này giải thích tại sao Đức Chúa Trời cho phép việc ba người Hê-bơ-rơ chịu thử thách và sau đó bị ném vào lò lửa hừng. Sứ-đồ Phi-e-rơ hẳn đã r ất quen thuộc sách Đa-ni-ên, bởi vì ông đã dùng hình ảnh ẩn dụ về “lò lửa thử thách” khi khuyến cáo độc-giả của mình về những sự bắt bớ sắp xảy đến với hội thánh (IPhi 1:7; IPhi 4:12). [16]
Kinh-nghiệm của 3 người này giúp chúng ta kiểm chứng đức-tin của chính mình và xác định có phải chúng ta đang có được tin đích thực, có thể chịu thử-nghiệm và mang lại vinh-hiển cho Đức Chúa Trời.
1. Đức-tin thật gặp thách thức (Đa 3:1-12)
Chúng ta không biết được bao lâu kể từ đêm Nê-bu-cát-nết-sa nằm mộng về pho tượng bằng kim loại (Đa 2:1-49) cho đến cái ngày ông ra lệnh cho mọi người dân phải cúi lạy trước bức tượng bằng vàng mà ông làm ra. Một số nhà nghiên-cứu cho rằng sự-kiện được mô-tả trong Đa-ni-ên 3 phải xảy ra sau sự-kiện Đa-ni-ên và các ban ông được thăng chức 20 năm, vào khoảng thời gian thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá hoàn toàn (586TC).
•Tấm-lòng của nhà vua (Đa 3:1-3).
Khi Đa-ni-ên giải thích ý nghĩa của những phần kế tiếp nhau của pho tượng lớn này, ông cho biết Nê-bu-cát-nết-sa chính là cái đầu bằng vàng (Đa 2:38), và có lẽ đây là điều đã túc đẩy nhà vua làm một bức tượng bằng vàng. Không hài lòng khi chỉ là một cái đầu bằng vàng, ông và vương quốc của mình phải được tượng-trưng bằng cả một bức tượng bằng vàng.
Rõ ràng có sự kiêu-ngạo trong việc làm táo bạo này. Đa-ni-ên đã trình bày rõ rằng sẽ không có vương quốc nào còn lại, kể cả vương quốc của Nê-bu-cát-nết-sa vĩ đại. Nhà vua đầy lòng kiêu hãnh vì những gì mình chinh-phục được, nhưng bên cạnh sự kiêu hãnh đó là nỗi lo sợ và quan ngại cho chính mình và vương quốc rộng lớn của mình. Ông muốn biết chắc rằng dân-sự của ông trung-thành với ông và sẽ không có bạo loạn.
Vàng trong cả vương quốc của ông không đủ để làm được một bức tượng vững chắc chiều cao người chín phút và chiều ngang chín phút, nên có lẽ bức tượng này đã được bàng bằng gỗ và giát vàng (Ês 40:19; Ês 41:7; Giê 10:3-9). Nhưng hẳn người ta đã phải kinh sợ khi nhìn thấy hình-tượng bằng vàng này đang sừng sững tại đồng Đu-ra, một địa điểm có lẽ cách thành Ba-by-lôn 6 dặm. (“Du-ra” đơn giảm chỉ có nghĩa là “một nơi có tường bao bọc”, và ở Ba-by-lôn cổ có rất nhiều nơi mang tên gọi này).
Và trong khu vực này cũng có một lò lửa mà người ta thường bị ném vào đó nếu không quỳ lạy trước bức tượng và thừa nhận quyền tối-cao của vua Nê-bu-cát-nết-sa. Nê-bu-cát-nết-sa dự định hiệp nhất vương quốc của mình bằng tôn-giáo và sự kinh sợ. Người dân phải chọn lựa hoặc quỳ lạy trước bức tượng đó và thờ-phượng hoặc bị ném vào lò và bị thiêu chết.
Nhà vua đã phái các sứ-giả chính thức đi đến tất cả các tỉnh của đế quốc mình, ra lệnh cho các quan viên tập trung lại để dự lễ khánh thành bức tượng vàng vĩ đại này. Tám quan viên khác nhau đã được kể tên (Đa 3:2-3) và hẳn họ đại diện cho những người còn lại ở nhà. Các vương tử (phó vương) là những viên quan lớn nhất coi về hành chánh trong tỉnh, trong khi các quan trấn thủ có thể là những người hỗ trợ cho họ (hay là những viên tướng trong quân đội).
Công tước cai-quản những vùng nhỏ hơn trong tỉnh, và quan đề hình là những người tư-vấn cho họ. Thủ kho có trách-nhiệm như các thủ kho ngày nay, và nghị viên là những chuyên gia về luật-pháp. Quản đốc là những quan đề-hình và quan hành-chánh địa phương, quản đốc là những viên quan giữ những vai trò khác nhau trong tỉnh. Một cấp bật khác nhau đều có người đại diện và tất cả những người này đều phải có mặt.
Nhưng buổi lễ này hơn hẳn một cuộc họp về chính trị; nó là một buổi lễ về tôn-giáo, có âm nhạc, và nó đòi hỏi sự cam kết hoàn toàn từ phía người thờ lạy. [17]. Xin lưu ý là từ “thờ-lạy” được dùng ít nhất là mười một lần trong đoạn này. Nê-bu-cát-nết-sa đã khôn-ngoan khi sử dụng nhạc khí, bởi vì nó có thể lay động cảm xúc của con người và khiến ông dễ dàng có thể lôi kéo họ và khiến họ thuận-phục và vâng-theo mình.
Xuyên suốt lịch-sử, âm nhạc và bài ca đóng một vai trò quan trọng trong việc củng cố tinh thần dân-tộc, thúc dục chiến đấu và khiến con người có cảm hứng để hành động. Âm nhạc có sức mạnh để thu hút suy nghĩ và tình cảm của con người đến nỗi làm cho cho con người từ chỗ là những con người tự do trở thành những con rối khôn hơn không kém.
William Congreave một nhà thơ người Anh đã từng viết, “âm nhạc có sự lôi cuốn để làm dịu một tấm-lòng tức gi ận, nhưng âm nhạc cũng có sức mạnh để truyền sự tức giận vào tấm-lòng”. Âm nhạc có thể được sử dụng như một công-cụ tuyệt vời từ Đức Chúa Trời hay như một vũ khí hủy diệt từ Sa-tan.
•Tấm-lòng của dân-sự (Đa 3:4-7).
Sứ-giả của nhà vua không đề-nghị trưng cầu ý dân, Ông chỉ nói với dân chúng rằng vấn-đề sắp diễn ra đây là một vấn-đề sống còn. Trong tiếng nhạc, họ phải quỳ lạy trước bức tuợng hoặc họ phải chết. Nhưng đám đông mê-tín này đã quen thờ-phượng nhiều nam thần và nữ thần, nên đây là một mệnh lệnh dễ tuân theo, đặc biệt là khi xét đến những hậu quả của nó.
Sự khác nhau của người tín-đồ thật và người khôn tin không phải là ở sự hiện diện của đức tin, bởi vì ai cũng phải sống bằng lòng tin vào một điều gì đó. Sự khác nhau ở đây chính là đối tượng của đức-tin ấy. Đám đông đã tin lời của sứ-giả này và nhà vua, vì thế họ đã vâng lời. Còn 3 người Hê-bơ-rơ tin vào điều rằng của Đức Chúa Trời, nên họ đã không vâng-theo. Đám đông có một đức tin do nhẹ dạ, còn những người Do-thái này đã có đức-tin chắc chắn.
William James, nhà triết-học và tâm-lý học đã nói rằng, “đức-tin là một trong những động lực mà bởi đó con người sống”, và ông đã đúng. Con người đã hành động bằng đức-tin khi họ bước vào thang máy, gọi thức ăn ở hiệu ăn, lái xe trên đường cao tốc, và nói lời hôn ước. Các tín-đồ Cơ-đốc thường sống bằng đức-tin nơi Đức Chúa Trời hằng sống và những gì Ngài đã tiết lộ trong Lời của Ngài. Đám đông lớn gồm những người Ba-by-lôn, những người bị lưu đày, và những người đại diện từ các tỉnh đều tuân theo chiếu chỉ của nhà vua và làm theo điều mà những người khác đang làm. Họ quan-niệm rằng “rốt lại, tất cả chúng tôi phải sống!” Có hàng ngàn người Do-thái ở Ba-by-lôn, và họ được đại diện bởi Sa-dơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô. Nếu như họ lạy trước hình tượng, thì tất cả những người Do-thái sẽ noi theo!
Cuộc họp này của “những người thờ lạy” đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn cảnh ngộ của con người trong thế giới hiện nay, những người không biết đến Chúa Jêsus-Christ của chúng ta. Họ mù quáng bắt chước theo đám đông và xây dựng đời sống mình trên những điều sai lầm và vô ích. Chỉ quan tâm đến sự sống còn, họ đã làm hầu như bất kỳ điều gì để có thể thoát khỏi nguy hiểm và sự chết, thậm chí cả việc bán mình làm nô-lệ cho con người và cho những sự huyễn hoặc mà họ sáng lập ra. Đó chính là triết-lý của ma quỷ, “Lấy da đền da! Phàm vật chi một người có, tất sẽ trao thế cho mạng sống mình.” (Giop 2:4 NIV). Điều này hoàn toàn trái ngược với quan-điểm của người tín-đồ Cơ-đốc, là những người tin Gi 12:24-26.
•Tấm-lòng của 3 người Do-thái này (Đa 3:8-12).
Nhưng trong đám đông lớn này còn có 3 người đứng thẳng khi những người khác quỳ lạy. Đức-tin của họ đặt nơi Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật và nơi Lời mà Ngài đã phán cùng dân-tộc của họ. Vì biết được lịch-sử của người Do-thái nên họ tin chắc rằng Đức Giê-hô-va đang điều khiển nên họ không có gì phải sợ hãi.
Tiên-tri Ê-sai đã từng viết, “Đừng sợ, vì ta đã chuộc ngươi. Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta, Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng; khi ngươi lội qua sông, sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn lửa chẳng đốt ngươi” (Ês 43:1-2 NKJV).
Đức-tin có nghĩa là vâng-lời Đức Chúa Trời bất chấp những cản xúc trong bạn, những hoàn cảnh quanh bạn, hay những hậu quả trước mắt bạn.
Thật khó có thể tái dựng tính lô-gíc của sự-kiện này, nhưng dường như Vua Nê-bu-cát-nết-sa và các bác sĩ của ông (“những người Canh-đê”) không ở chung chỗ khi xem sự kiện này, và nhà vua không yêu cầu họ phải cùng tham gia thờ-lạy với đám đông. Họ có thể khẳng định lòng trung-thành của mình cách cá nhân và hẳn tham dự thờ-lạy với “đám người hỗn tạp” là điều sỉ nhục cho họ.
Từ khi ba người Hê-bơ-rơ giữ những chức-vụ trong tỉnh (Đa 2:49), họ phải có mặt tại đó; nhưng chúng ta không biết họ đứng ở chỗ nào. [18].
Rõ ràng vua Nê-bu-cát-nết-sa không thấy được họ nhưng những người Canh-đê này thì thấy họ; thực tế là những con người gian ác này rõ ràng đã theo dõi và chờ thời-cơ để buộc tội những người nước ngoài này, những được đã được thăng chức cao hơn tất cả những người Ba-by-lôn. Chúng ta không biết đây có phải là nhóm bác-sĩ đã từng run rẩy khi nghe Đa-ni-ên giải nghĩa giấc chiêm bao của nhà vua, mà nếu đúng, thì họ đã chóng quên rằng những “người nước ngoài” này đã từng cứu mạng sống họ.
Đức-tin thật không sợ hãi trước những sự đe doạ, áp lực của đám đông, ảnh hưởng của những nghi lễ mê tín. Đức tin thật vâng lời Đức Giê-hô-va và tin cậy Ngài sẽ dẫu cho hậu quả ra sao. Ba người Do-thái này biết luật-pháp của Đức Chúa Trời “Trước mặt Ta ngươi chớ có các thần khác . . . . Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó, và cùng đừng hầu việc chúng nó” (Xu 20:3-5 NKJV). Một khi Đức Chúa Trời đã phán về vấn-đề gì, thì vấn đề đó đã được thiết lập và không còn bàn luận hay cần phải dàn xếp gì cả. Chỉ cần quỳ lạy một lần trước bức tượng, thì họ dù họ có đưa ra lý-do gì để bào chữa thì điều đó cũng vẫn hủy hoại việc làm chứng-nhân của họ và phá vỡ mối thông-công của họ với Đức Chúa Trời.
Thì của động từ Hy-lạp trong Mat 4:9 đã cho thấy rằng Sa-tan đã đề nghị Chúa Giê-xu chỉ cần thờ-lạy mình một lần, và Đấng Cứu Chuộc đã khước từ. Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-Nê-gô hẳn đã không thờ lạy trước bức tượng này dù chỉ một lần bởi vì điều này có thể sẽ đưa họ đến chỗ phục-vụ cho những tà thần của vua Nê-bu-cát-nết-sa suốt quãng đời còn lại của họ.
2. Đức-tin thật xưng nhận Đức Giê-hô-va (Đa 3:13-18)
Một lần nữa chúng ta thấy nhà vua trong cơn giận dữ (c.13,19 Đa 2:12). Ông đã chinh phục nhiều thành phố và đất nước, nhưng ông lại không thể thắng hơn chính mình.
“Người chậm nóng giận thắng hơn người dõng sĩ; và ai cai-trị lòng mình thắng hơn kẻ chiếm lấy thành” (Ch 16:32 NIV).
Nhưng 3 viên quan người Hê-bơ-rơ thì điềm tĩnh và tỏ vẻ kính cẩn.
“Hãy thường thường sẵn sàn để trả lời mọi kẻ hỏi về sự trông-cậy trong anh em, song phải hiền hòa và kính sợ” (IPhi 3:15)
Nhà vua hẳn đã có sự tôn-trọng đặc biệt đối với những người này và việc họ đã làm trong vương quốc mình, bởi vì ông đã cho họ có thêm một cơ-hội để tuân theo những mạng-lệnh của ông. Có lẽ ông đã quên rằng ông đã từng gọi Đức Chúa Trời của họ là “Chúa của các chúa, Vua của các vua” (Đa 2:47 NKJV), bởi vì ông đã kiêu-ngạo hỏi rằng: “Rồi thần nào sẽ giải cứu các ngươi khỏi tay ta?” (Đa 3:15; Xu 5:2) Rõ ràng ông đã tự xưng mình là một vị thần! Chỉ trong một thời gian ngắn ông đã chịu khiêm-nhường và phải tuyên xưng rằng Đức Chúa Trời của người Hêbrơ là “Đức Chúa Trời Chí Cao” và không một ai được phép nhạo báng danh Ngài.
Hẳn 3 người này có thể thỏa hiệp với nhà vua và bảo vệ cho sự không vâng-lời của mình bằng cách biện-luận rằng, “những người khác cũng đang làm như vậy,” hay chức-vụ của chúng tôi đòi hỏi chúng tôi phải vâng lệnh,” hay “chúng tôi sẽ quỳ gối nhưng chúng tôi sẽ không phục”. Họ cũng có thể nói rằng, “Chúng tôi sẽ làm được nhiều điều tốt đẹp cho dân sự mình bằng cách làm những viên quan-trong triều của vua hơn là làm tro bụi trong lò lửa của nhà vua.” Nhưng đức-tin thật không tìm kiếm khe hở để tránh né, mà đơn giản là vâng lời Đức Chúa Trời và biết rằng Ngài sẽ làm điều tốt nhất. Đức tin căn cứ trên các điều răn và lời hứa-hơn là trên những thỏa thuận và lời giải thích.
Lúc kẻ thù hoạt động thường là lúc có được cơ-hội, đặc biệt là khi dân sự Đức Chúa Trời đang bị bắt bớ vì cớ đức-tin của mình. “và vì cớ ta, sẽ đứng trước mặt các quan tổng đốc và các vua, để làm chứng trước mặt họ” (Mac 13:9). Ba người Do-thái can đảm này không quan tâm đến chính mình, cũng không sợ hãi ngọn lửa của nhà vua. Điều họ quan tâm duy nhất là vâng-lời Đức Giê-hô-va và làm một nhân-chứng trung-tín cho tất cải những ai đag theo dõi và lắng nghe. Họ bày-tỏ thái-độ cung kính và họ chỉ nói ít và lời nói của họ được cân nhắc kỹ lưỡng.
“Không cần chi chúng tôi tâu lại cho vua” (Đa 3:16) có nghĩa là, “chúng tôi không biện hộ cho chính mình hay Đức Chúa Trời của mình, vì Đức Chúa Trời của chúng tôi sẽ biện hộ cho chính Ngài và chúng tôi” Họ đã không chút mảy may lo lắng! Hẳn dân sự Đức Chúa Trời thật kiêu ngạo khi nghĩ rằng họ phải biện hộ cho Đức Chúa Trời, bởi vì Đức Chúa Trời hoàn toàn có khả năng để biện hộ cho chính mình và che chở dân-sự của Ngài. Nhiệm-vụ của chúng ta là vâng-lời Đức Chúa Trời và tin-cậy Ngài, và Ngài sẽ làm những gì còn lại.
“Nầy, Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tôi; tôi sẽ tin cậy và không sợ hãi: vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va là sức mạnh của tôi, lời ca tụng của tôi; Ngài sẽ nên sự cứu rỗi tôi” (Ês 12:2).
Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-Nê-gô là những con người của đức-tin chứ không phải của sự giả định. Phải chăng họ đã khẳng định được rằng Đức Chúa Trời sẽ giải cứu họ, đó hẳn là một sự giả định, bởi vì họ thật sự không biết được ý chỉ của Đức Chúa Trời cho hoàn cảnh họ đang đối diện. Thay vì vậy, họ đã tuyên bố rằng Đức Chúa Trời có khả năng để giải cứu họ, nhưng ngay cả khi Ngài không làm điều đó thì họ vẫn không quỳ lạy trước bức tượng bằng vàng của nhà vua. Những người có một thứ giống như “đức-tin thương mại” thường phát biểu rằng, “Chúng tôi sẽ vâng-lời Đức Chúa Trời nếu Ngài ban thưởng cho chúng tôi vì đã làm những điều đó.” Một lần nữa, nó là triết-lý của ma quỷ về sự thờ-phượng: “Ví bằng ngươi sấp mình trước mặt ta mà thờ-lạy thì ta sẽ cho ngươi hết thảy mọi sự nầy” (Mat 4:9 NKJV; Giop 1:9-12).
Trong chức-vụ chăn bầy của mình, tôi nghe người ta hứa hẹn với Đức Chúa Trời hầu cho họ có thể “thuyết phục” Ngài chữa lành họ hay thay đổi hoàn cảnh của họ. Nhưng đó không phải là tin nơi Đức Chúa Trời, mà là mặc cả với Đức Chúa Trời. Đức-tin thật xưng nhận Đức Giê-hô-va và vâng-lời Ngài mặc cho hoàn cảnh như thế nào. Ngày những ngày đầu của họ ở Ba-by-lôn, Đa-ni-ên và 3 bạn của ông đã quyết định không để bị đồng hóa, và Đức Giê-hô-va đã giúp họ duy trì được sự xác quyết đó.
Hêb 11:1-40 đã liệt kê tên và việc làm của những người nam người nữ vĩ đại của đức-tin, trong đó có cả 3 người Do-thái này (Hêb 11:34), nhưng ở câu 36, tác-giả nói “có những kẻ khác” và sau đó liệt kê những người dường như đã phải chịu thiệt thòi vì cớ đức-tin của mình (c. 36-40).
Từ ngữ Hy-lạp có nghĩa là những người thuộc một trường hợp khác”, đó là, những người có đức-tin nhưng lại không thấy Đức Chúa Trời những làm phép-lạ mà Ngài đã từng làm cho những người được kể ở 35 câu đầu. Đức Chúa Trời luôn ban thưởng cho đức-tin nhưng không phải lúc nào Ngài cũng can thiệp và bày tỏ những phép-lạ đặc biệt.
Không phải mọi người cầu-xin đều được chữa lành, nhưng Đức Chúa Trời luôn ban sức mạnh để họ chịu được đau đớn và ban ân-điển để đối diện với cai chết mà không sợ hãi. Ba người Hê-bơ-rơ này tin rằng Đức Chúa Trời có thể giải cứu họ, nhưng nếu Ngài không làm điều đó thì họ vẫn tin-cậy Ngài. Đó là đức-tin mà đời sống chúng ta cần phải có. (Ha 3:17-19).
3. Đức-tin thật làm kẻ thù bối rối (Đa 3:19-25)
Sự tức giận của nhà vua một lần nữa đã thắng được ông -những con người kiêu-ngạo không thích có kẻ không chịu vâng-lời- và ông đã ra lệnh ném ba người Do-thái này vào lò lửa hừng. Ông đã rút lại những gì mình đã rộng lượng ban cho, nên họ phải gánh chịu những hậu quả. Trong khi trước đó, nhà vua từng rất thân thiện với họ và quan tâm đến việc cứu họ, thì giờ đây ông lại kiên quyết tiêu diệt họ. Cuối cùng thì những người cố-vấn trong triều cũng đã trút được sự thù hận của họ lên những người Do-thái bị lưu đày, những người đã tràn vào địa phận của họ và được giao những chức-vụ vốn thuộc về những người Canh-đê.
Lò này thường được dùng để nấu quặng. Đỉnh của nó có một miệng rộng, qua lối này chất đốt và những bình đầy quặng được đặt vào trong lửa, và ở đáy có một cánh cửa để lấy kim loại thành phẩm ra. Một lỗ ở tường lò có thể giúp người luyện kim kiểm tra tiến trình công việc của họ, và họ có thể dùng các ống bể thổi vào những cái lỗ ở tường để thúc lửa cháy mạnh hơn. Cái lò này đủ rộng để bón người đi lại trong đó. Đây chính là cái lò mà Nê-bu-cát-nết-sa đạ ném bốn người Do-thái trung-tín vào. Dường như cái chết là điều chắc chắn cho những người đã từ chối vâng lệnh vua này.
Sự giận dữ của nhà vua hẵn đã ảnh hưởng đến tâm-trí của ông, vì cách tốt nhất để hình phạt những người này không phải là làm cho nhiệt-độ lò tăng lên mà là hạ nó xuống. Một ngọn lửa nóng sẽ nhanh chóng giết chết họ và thiêu rụi họ, nhưng một nhiệt độ thấp sẽ khiến cho họ bị đau đớn kinh khiếp trước khi chết. Tuy nhiên, những điều này chẳng khác gì nhau vì họ không hề bị bị lửa chạm đến! Khi nhà vua nhìn vào lò lửa, ông thấy thọ vẫn sống, không bị trói, và c ó một người thứ tư đang ở cùng họ! Nhà vua nghĩ rằng đó là một thiên sứ, người trôg giốn như “một con trai của các thần” (c.25,28 NIV), nhưng người thứ tư trong lò lửa này là Chúa Jêsus-Christ với một trong những dung mạo của Ngài trong thời Cựu-ước trước khi nhập thể (Ês 43:2; Thi 91:9-12).
Họ đang bước đi như thể họ đang ở trong cung điện chứ không phải trong lò lửa! Những chiếc áo quần mà ba người ngày đã được mặc vào là những thứ duy nhất bị dính lửa. Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-Nê-gô thật đã có thể giải cứu họ!
Ba người này đã từ chối vâng lệnh nhà vua quỳ lạy trước hình-tượng, nhưng khi nhà vua truyền lệnh cho họ ra khỏi lò lửa, họ lập tức vâng-lời. Họ là những phép lạ đang tồn tại và họ muốn rằng mọi người biết được điều Đức Chúa Trời vĩ đại của họ đã làm. Không chỉ toàn bộ thân thể và đầu tóc của những người này không bị cháy xém, mà thậm chí cả áo quần của họ cũng không có mùi lửa cháy.
Các vị quan khác trong lễ khánh thành này đã chứng kiến điều kỳ diệu này (Đa 3:27) và rõ ràng họ đã kể lại điều này đi trở về nhà. Câu chuyện thật kỳ lạ! Các viên quan hẳn đã không dám bàn tán vào lúc đó, vì họ sợ làm nhà vua nổi giận. Nhưng vua Nê-bu-cát-nết-sa đã nói (câu 28)! Ông đã khẳng định: (1) quyền-năng của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, (2) sự hữu hiệu của đức-tin đặt nơi Ngài, và (3) sự tận hiến đặc biệt của 3 người Do-thái này, họ đã dâng thân thể của họ cho Đức Chúa Trời chân-thật chứ không phải cho tà thần của nhà vua (Rô 12:1-2).
Bằng một hành động bằng đức-tin, 3 người Do-thái này đã trở thành những nhân-chứng cho Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống cho toàn Đế quốc Ba-by-lôn!
4. Đức-tin thật xác-chứng lời-hứa (Đa 3:26-30)
Tại sao Đức Giê-hô-va lại đề-cập câu chuyện này trong Kinh thánh Cựu-ước? Nó cũng có cùng lý-do với việc Ngài đã gồm tóm những câu chuyện về “những từng-trải về đức-tin” của Áp-ra-ham, Môi-se, Giô-suê, Đa-vít, và các nhà tiên-tri: để khích-lệ dân-sự Đức Chúa Trời trong trận chiến của họ chống lại thế-gian, xác thịt và ma quỷ.
“Và mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy” (Rô 15:4 NKJV).
•Sự khích-lệ trong thời Đa-ni-ên.
Sự việc hẳn đã không tồi tệ cho dân Do-thái như họ đã phải chịu trong suốt khoảng thời gian 70 năm phu tù tại Ba-by-lôn. Xứ của họ bị tàn phá, đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem bị đổ nát, dân-sự hoặc bị tản lạc giữa vòng Dân ngoại hoặc ở trong vòng xiềng xích tại Ba-by-lôn. Hoàn cảnh lúc bấy giờ trông thật vô vọng. Các vị tiên tri đã tiên báo về ngày mà dân Do-thái trở về quê hương của họ và xây lại thành phố và đền thờ, nhưng trước mắt họ phải chịu đựng sỉ nhục và sự khốn khổ của cảnh lưu-đày.
Kinh-nghiệm của Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-Nê-gô hẳn đã khích lệ rất nhiều cho những người Do-thái trung tín và giúp cho những người Do-thái đang thỏa hiệp với kẻ thù nhận thức được tội-lỗi của họ. Ba người này đã gửi đến cho dân-sự của họ một sứ-điệp đầy tính thuyết phục: Giê-hô-va Đức Chúa Trời vẫn đang cai-trị trên ngôi, Ngài đã không bỏ rơi chúng ta, và có một ngày Ngài sẽ làm ứng-nghiệm những điều Ng ài hứa cùng dân-sự mình. Ngài đã hứa sẽ ở với họ trong lò lửa hoạn nạn nếu họ tin-cậy Ngài và vâng-theo ý chỉ của Ngài. Về sau, khi số dân sót này trở về quên hương, câu chuyện về lò lửa hừng hẳn sẽ giúp đỡ họ vượt qua những tháng năm khó khăn và bị trì hoãn.
Sự khích-lệ cho thời chúng ta. Nơi bạn và tôi sống có lẻ cuộc sống tương đối an toàn và thoải mái, nhưng ở những vùng khác trên thế giới, dân-sự Đức Chúa Trời đang phải trả một giá đắt để có thể làm-chứng và sống vượt trên thế-gian. Ngày qua ngày, họ lại nghe sứ-giả rao rằng, “Hãy quỳ lạy trước bức tượng! Mọi người đều đang làm điều đó!” Trong thư tín thứ nhất của mình, Phi-e-rơ đã khuyến cáo hội thánh rằng “thử thách như tửa hừng” sắp sửa diễn ra, và chắc chắn họ đã nhớ những gì đã xảy ra đối với 3 người Do-thái này trong thời vua Nê-bu-cát-nết-sa. Chúng ta được cho biết rằng trong thế kỷ hai mươi có nhiều người tuận-đạo vì cớ Chúa Cứu Thế hơn bất kỳ thế kỷ nào trước đó. Không phải tất cả tín-đồ đều phải liều mạng sống mình trong lò lửa, nhưng họ đã liều mạng sống để tìm cách làm-chứng cho Chúa Cứu Thế và thực hiện bằng tất cả sức lực của mình.
“Khá giữ trung-tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều-thiên của sự sống” (Kh 2:10 NKJV).
Khi chúng ta tiến dần về ngày tận thế, lò lửa hoạn nạn sẽ còn nóng hơn gấp nhiều lần và áp lực thỏa hiệp sẽ càng mạnh mẽ hơn. Dân-sự Đức Chúa Trời cần phải có nhiều ân-điển, lời cầu-nguyện, sự can-đảm, và đức-tin để đứng thẳng vì cớ Chúa Cứu Thế trong khi những người khác đang quỳ gối trước các thần-tượng của thế-gian này.
Sách Đa-ni-ên là một nguồn động viên lớn bởi vì nó nhắc chúng ta nhớ rằng Đức Chúa Trời che chở cho dân-sự Ngài và tôn-vinh họ khi họ sống đúng với Ngài. “Ai tôn-kính ta, ta sẽ làm cho được tôn-trọng” (ISa 2:30).
•Sự khích-lệ trong tương lai.
Các sự-kiện trong Đa-ni-ên đoạn 3 nhắc chúng at về những lời tiên-tri được tìm thấy trong sách Khải-huyền, đặc biệt là chương 13 và 14.
Một ngày nào đó, vị lãnh đạo thế giới giống như Nê-bu-cát-nết-sa (“Con Thú”) sẽ xuất hiện, người này sẽ cho dựng tượng của chính mình [19] và sẽ bắt buộc tất cả mọi người trên thế giới phải thờ-phượng mình. Những người vâng lệnh sẽ được ban cho một dấu đặc biệt trên tráng hoặc trên tay, và dấu này sẽ là hộ chiếu để họ được sống và làm việc. Còn những ai không chịu vâng-lời sẽ bị bắt bớ và nhiều người trong số này sẽ bị giết (Kh 13:4,7,12,15). Nhưng Đức Giê-hô-va sẽ giữ lại cho chính Ngài 144,000 người Do-thái mà Con Thú này không thể đụng đến, và họ sẽ vượt qua được thời kỳ đại nạn này để cai-trị trong vương quốc của Đấng Mê-si-a.
Khi nghiên-cứu thêm, chúng ta sẽ thấy rằng sách Đa-ni-ên có một nội dung đặc biệt về “thời kỳ cuối cùng” (Đa 12:4) và thấy rằng những lời tiên-tri của ông sẽ soi sáng và khích-lệ người tin Chúa sống trong những ngày cuối cùng khó khăn đó (Mat 24:15). Dù những người cai-trị của thế-gian này trở nên bạo ngược như thế nào đi nữa hay họ có đốt cho lò nóng đến đâu, Đức Chúa Trời cũng sẽ ở cùng dân-sự Ngài khi họ trong lò lửa, và cuối cùng sẽ đánh bại kẻ thù của họ và thiết lập vương quốc của Ngài.
4. HỌC BIẾT BẰNG PHƯƠNG CÁCH KHÓ KHĂN (Đa 4:1-37)
Trong Kinh thánh đây là một phân đoạn đáng lưu ý bởi vì nó là một tài liệu mang tính tự thuật chính thức, được vua Nê-bu-cát-nết-sa thực hiện và phân phát khắp vương quốc rộng lớn của người. [20]
Quả thật việc vua Nê-bu-cát-nết-sa thừa nhận công-khai tính kiên-ngạo của mình, tình trạng điên dại tạm thời cùng cách cư xử cục xúc của mình, sau đó ông dâng vinh-hiển cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên vì đã cho ông hồi-phục, là một điều hết sức đặc biệt. Ông đã khó khăn lắm mới học được một bài học quan-trọng cũng giống như con người ngày nay đang học điều đó cách khó khăn: “Sự kiêu-ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã” (Ch 16:18).
*Trong sự việc đặc biệt đầy kịch tính này có 5 hồi.
1. Bối rối: Giấc chiêm bao của nhà vua (Đa 4:4-18)
[21]. Một số nhà nghiên-cứu cho rằng 20 hoặc 30 năm đã trôi qua kể từ khi có câu chuyện lò lửa hừng được mô tả ở chương 3 cho đến khi có những sự-kiện trong chương này. Vào thời-điểm này, vua Nê-bu-cát-nết-sa đang tận hưởng sự yên-bình. Sau khi đã đánh bại tất cả những kẻ thù của mình, và hoàn tất nhiều công trình xây dựng đồ sộ, cuối cùng ông đã có thể nghỉ ngơi ở nhà và vui thú với những gì đã đạt được.
Nê-bu-cát-nết-sa nghĩ rằng ông là người đã xây dựng nên “Ba-by-lôn lớn” và đã kiến tạo nên hòa-bình và sự thịnh vượng của nó, nhưng chẳng bao lâu sau đó ông đã học biết được rằng tất cả những điều này đều bởi ý muốn của Đức Chúa Trời Chí Cao cho phép.
Một lần nữa bởi ân-điển của mình, Đức Chúa Trời đã dùng một giấc chiêm bao để truyền đạt một sứ-điệp quan-trọng cho vua Nê-bu-cát-nết-sa. Trong giấc chiêm bao (Đa 2:1-49) đầu tiên của mình, nhà vua đã thấy một pho tượng lớn bằng kim loại, mà trong đó ông chính là cái đầu bằng vàng, nhưng trong giấc chiêm bao này, ông nhìn thấy một cây lớn sum xuê [22] trên đó một bầy thú và chim trời đang ăn và làm tổ. Ông nghe tiếng một thiên-sứ truyền rằng cái cây đó phải bị đốn ngã, cành lá nó bị cắt bỏ, trái của nó rơi vung vãi và gốc nó bị quấn quanh bằng sắt và đồng. Sau đó có lệnh từ một thiên-sứ truyền rằng một ai đó sẽ phải sống như một con thú trong “bảy lần” và sau đó được hồi-phục.
Sau giấc chiêm bao thứ nhất- về pho tượng lớn- vua Nê-bu-cát-nết-sa bị bối rối (Đa 2:3), nhưng sau giấc chiêm bao thứ hai này, ông đã hoảng sợ (Đa 4:5 NIV). Ông đã triệu tập những người thông-thái của mình và yêu cầu họ giải nghĩa giấc chiêm bao này, nhưng họ không thể giải được, nên ông đã cho gọi Đa-ni-ên. Sau khi biết được về giấc chiêm bao thứ nhất, lúc những người thông-thái đã thất bại quá thảm hại, chắc hẳn bạn sẽ nghĩ rằng vua Nê-bu-cát-nết-sa sẽ phớt lờ với các bác sĩ của mình mà cho gọi Đa-ni-ên ngay.Nhưng dường như trong phần thuật lại của cả hai giấc chiêm bao này, Đa-ni-ên không ở chung chỗ với những người thông thái này, dù là ông là “người xuất sắc nhất trong các thuật sĩ” (c.9). Đức Giê-hô-va muốn nhắc chúng ta nhớ rằng sự khôn-ngoan của thế-gian này không mang lại ích lợi và chỉ Ngài mới có thể ban cho một sự hiểu biết đích thực về tương lai.
Nê-bu-cát-nết-sa đã từng đổi tên Đa-ni-ên thành Bên-tơ-xát-sa, tên này có nghĩa là “Bên bảo vệ sự sống của người” (c.8,19 Da 1:7). Bên (Maduk) là một trong những vị thần mà nhà vua tôn-kính. Thực tế là nhà vua đã dùng cả tên Hêbrơ và tên mới của Đa-ni-ên trong tài liệu này, điều này cho thấy trải qua nhiều năm nhà vua đã trở nên quý mến Đa-ni-ên và không còn cư xử với ông như một kẻ bị lưu đày ngày nào. Nhà vua nhận ra rằng “linh của các thần” ở trong Đa-ni-ên và đã ban cho người sự khôn-ngoan và sự hiểu biết đặc biệt. [23]
Nhà vua đã mô-tả giấc chiêm bao của mình cho Đa-ni-ên: sự to lớn của cái cây (lưu ý sự lặp lại của chữ “mọi” trong những câu 11-12), những lời gây hoảng sợ của thiên-sứ, việc một người bị đổi thành ra một con thú, và lời khẳng định của vị thiên-sứ rằng tất cả những điều này là bởi lệnh của Đức Chúa Trời Chí Cao. Giấc chiêm bao được ban cho để dạy về một bài học quan-trọng: “Đấng Rất Cao cai-trị trong nước của loài người; ngài muốm ban cho ai tùy ý, và lập kẻ rất hèn hạ trong loài người lên đó” (c.17, bản NIV).
Đức Chúa Trời nhìn thấy sự kiêu-ngạo trong lòng của Nê-bu-cát-nết-sa và sắp sửa xử lý điều đó. Nhà vua có thể ra những chiếu chỉ (Đa 2:13,15; Đa 3:10,29; Đa 6:7-10,12-13,15,26), nhưng đây là những mạng-lệnh đến từ ngai của thiên-đàng cai-trị các sự-kiện trên đất (Đa 4:17,24; Đa 9:24-27).
“Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai-trị trên muôn vật” (Thi 103:19 NIV).
2. Giải nghĩa: Mối nguy hiểm của nhà vua (Đa 4:19-26)
Sau khi nghe mô tả về giấc chiêm bao, Đa-ni-ên sững sờ bối rối, và nhà vua có thể thấy được tình trạng túng túng trên gương mặt của anh ta. [24] Những suy nghĩ của Đa-ni-ên bị rối rắm vì ông nhìn thấy điều sắp diễn ra cho một quốc vương thành công. Ông đã tế nhị chuẩn bị cho nhà vua tinh thần để đón tin xấu bằng cách nói rằng ông ước gì giấc chiêm bao này nói về những kẻ thù của nhà vua chứ không phải nhà vua. (IISa 18:32) Chúng ta có ấn-tượng rằng Đa-ni-ên đã đặc biệt quan tâm đến vị quốc vương này, và vì họ đã cùng nhau lo lắng cho những vấn-đề của Ba-by-lôn, nên ông đã tìm cách để giới thiệu Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật cho nhà vua.
Trước đó nhiều năm, Đa-ni-ên đã tuyên-bố với Nê-bu-cát-nết-sa rằng, “Vua là cái đầu bằng vàng này” (Đa 2:38 NKJV); và bây giờ ông lạy tuyên bố, “Hỡi vua, ấy là chính mình vua” (Đa 4:22 NKJV). Trong Kinh thánh, cây cối thường được dùng để tượng trưng cho quyền thế chính trị, chẳng hạn như vua chúa, các quốc gia, các đế quốc (Exe 17:31; Os 14; Xa 11:1-2; Lu 23:31). Với sự vua giúp của Đấng Chú cao và bởi mạng lệnh của Ngài, Nê-bu-cát-nết-sa đã xây dựng được một đế quốc rộng lớn làm nơi cư-ngụ cho nhiều quốc gia và nhiều dân-tộc. Ông đã cai-trị một vương quốc vĩ đại, một vương quốc hùng mạnh, và là một vương quốc mà “quyền thế của vua đã đến đầu cùng đất” (Đa 4:22).
Nhưng nhà vua cho rằng mình đã lập nên những công trạng này và ông đang ở trong tình trạng hết sức nguy hiểm bởi vì lòng ông ngày càng trở nên kiêu-ngạo. Nhà vua đã học biết từ giấc chiêm bao rằng Đức Chúa Trời Chí Cao cai-trị trong vương quốc của loài người và không một ngôi vị nào ở trần gian này được vững chắc.
Một ngày nào đó vương quốc Ba-by-lôn sẽ chấm dứt và Đức Chúa Trời sẽ dấy lên một vương quốc khác thế chỗ nó. Trong tình tiết của câu chuyện lò lửa hừng, Nê-bu-cát-nết-sa đã chứng kiến một phép lạ bảo vệ ba người Hê-bơ-rơ trung-tín, và ông đã ra sắc lệnh rằng không một ai được nói xấu Đức Chúa Trời vĩ đại của họ (Đa 3:29). Nhưng giờ đây Nê-bu-cát-nết-sa sắp phải đối diện Đức Chúa Trời Chí Cao này và nhận sự kỷ luật nghiêm khắc của chính Ngài.
Hình ảnh cái cây bị đốn và bị chặt nhánh tượng-trưng cho việc vua Nê-bu-cát-nết-sa bị sỉ nhục và bị truất khỏi ngôi, nhưng gốc cây còn lại là một lời-hứa rằng một ngày nào đó ông sẽ được trở lại cai-trị. [25] Hình ảnh gốc cây bị cột ngụ ý rằng ông được Đức Chúa Trời chú ý và được Ngài bảo vệ cho đến khi những mục đích Ngài thực hiện nơi ông được hoàn tất. Những năm sau đó, hẳn Đa-ni-ên đã kể cho Bên-xát-sa cháu của Nê-bu-cát-nết-sa rằng ông của người đã từng sống với lừa rừng (Đa 5:21). [26]
Bài học lớn mà Đức Chúa Trời muốn nhà vua học- và chúng ta phải học ngày hôm nay- chính là chỉ Đức Chúa Trời là Đấng cai-trị và sẽ không cho phép con người hay chết chiếm đoạt quyền cai-trị của Ngài hay kể những việc Ngài đã làm là do công trạng của của họ. Chúng ta chỉ là loài thọ tạo, nhưng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa; chúng ta chỉ là tôi-tớ, còn Ngài là Vua của Các Vua. Khi một người nào đó không chịu phục tùng Đức Chúa Trời như một loài thọ tạo được dựng theo hình ảnh của Ngài, thì họ đang ở trong nguy cơ bị hạ xuống mức loài vật.
Điều đáng lưu ý là Đức Chúa Trời đã dùng loài vật khi Ngài muốn mô-tả những vương quốc vĩ đại trong lịch sử (Đa 7:1-28), và kẻ cuối cùng có quyền hành tuyệt đối của thế-gian này được gọi là “con thú” (Kh 11:7; Kh 13:1 và những câu sau Kh 14:9,11 v..v..)
Mỗi con người được dựng nên theo ảnh tương của Đức Chúa Trời, nhưng khi họ loại bỏ Đức Chúa Trời ra khỏi cuộc sống của mình và chống lại ý muốn của Ngài, họ có thể đã tự làm cho mình ngang hàng với thú vật. Vua Đa-vít khuyến cáo rằng, “chớ như con ngựa và con la”, ông là người đã từng phạm-tội vì đã hành động như cả hai loài này (Thi 32:9 NKJV).
Như một chú ngựa bất kham, ông đã lao vào tội lỗi lúc phạm tội tà dâm với Bát-sê-ba, và sau đó như một con la cứng đầu, ông trì hoãn việc xưng ra tội-lỗi mình và ăn năn (IISa 11:1-12:31). Khi Chúa Cứu Thế chặng Sau-lơ người Tạt-sơ trên đườig Đa-mách, ông đã so sánh thầy dạy luật đạo đức giả với một con bò cứng đầu khi người nói, “kháng cự lại loài dê thật khó cho ngươi thay” (Công 9:5 NKJV).
3. Lời khuyên bảo: Quyết định của nhà vua (Đa 4:27)
Đa-ni-ên kết thúc phần giải thích tiên-tri này bằng lời khuyên để vâng-theo và khuyến dục nhà vua hãy từ bỏ tội-lỗi mình và hãy hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời (c. 27). Không như một số nhà giảng-đạo khác, Đa-ni-ên không tách rời lẽ thật với trách-nhiệm.
Có một từ “vậy nên” trong sứ-điệp của ông. Tôi đã tham dự nhiều hội nghị về các sách tiên-tri và nghe được cách giải nghĩa và một số lời suy đoán, nhưng không thường được nghe về những ứng dụng thực tế và mang tính cá nhân.
Một số diễn-giả đã nói nhiều về những điều mà Đức Chúa Trời có thể sẽ làm trong tương lai, nhưng họ lại nói rất ít về những gì Ngài mong muốn nơi dân-sự Ngài trong hiện tại. Sự hiểu biết về kế hoạch của Đức Chúa Trời thường nấy trên người nghe trách-nhiệm làm theo ý muốn của Ngài. Nghe và hiểu lời Đức Chúa Trời nhưng không làm theo tức là lừa dối chính mình bằng suy nghĩ mình đã trưởng-thành về thuộc-linh, trong khi thực tế là chúng ta đã thối lui (Gia 1:22-27).
William Culbertson, chủ tịch viện Kinh thánh Moody, đã nói rằng, “chúng ta có thể nói một cách hết sức liếng thoắn về sự trở lại của Chúa chúng ta và việc Chúa Cứu Thế ngồi phán-xét,”. Bạn không thể hiểu được lẽ thật của giáo-lý về sự trở lại của Chúa Jêsus-Christ cho đến khi giáo-lý đo dằm thắm bạn và ảnh hưởng đến lối sống của bạn như Kinh thánh đã nói”. [27]. Lời nhắc nhở của Phi-e-rơ trong IIPhi 3:11-18 đã giải thích cách các Cơ-đốc nhân cư xử khi họ thật sự tin Đức Giê-hô-va sẽ trở lại.
Vào thời xưa, vị quân vương của Phương Đông đã thi hành thẩm quyền tối-cao và là người có quyền sinh sát. Đa-ni-ên biết rằng nhà vua có tính bạo lực (Đa 2:12; Đa 3:19) và biết rằng mình đang bước trên một con đường nguy hiểm vì ông đã chỉ tỏ cho nhà vua những tội-lỗi của người; nhưng một tiên-tri trung-tín thì phải tuyên-bố Lời của Đức Chúa Trời và giao hậu quả cho Đức Chúa Trời.
Môi-se đã học được điều đó trong triều đình Pha-ra-ôn, và Na-than cũng đã học được trong triều đình của Đa-vít khi ông nói với nhà vua rằng: “Vua chính là người đó!” (IISa 12:7 NKJV)
Ê-li đã dạn dĩ đối diện với vị vua gian ác A-háp và Hoàng hậu Giê-sa-bên (IVua 18:17 và những câu sau), Ê-sai đã quở trách Ê-xê-chai (Ês 39:1-8) và Giăng Báp-tít đã đề nghị Vua Hê-rốt chấm dứt mối quan-hệ tội-lỗi với Hê-rô-đia (Mac 6:14-29). Các nhà giảng đạo sửa đổi sứ-điệp của họ để làm hài lòng người nghe sẽ không bao giờ hưởng được phước hạnh của Đức Chúa Trời.
Không giống với những nhà cai-trị Do-thái, là những người có nhiệm-vụ phải đến gần với dân-sự của mình và phục-vụ họ với tư cách là những người chăn, các vị vua phương Đông đã sống cách biệt trong sự sang trọng và chỉ nghe những lời suôi tai. Là một người giữ chức-vụ cao trong xứ, Đa-ni-ên biết được rằng Nê-bu-cát-nết-sa đã không quan tâm đến người nghèo khó hay tỏ-lòng thương-xót đến những người đang gặp khó khăn. Đa-ni-ên cũng biết rằng có bao nhiêu lần trong Luật Môi-se Đức Giê-hô-va đã nói chính mình là Đấng chăm-sóc và bảo vệ cho kẻ nghèo, người khách lạ, và những người bị hà hiếp. Có lẽ vua Nê-bu-cát-nết-sa đã từng đục khoét của dân-sự để theo đuổi những kế hoạch xây dựng các dinh thự rộng lớn của mình, và tiền của đáng lý để giúp đỡ cho người nghèo thì lại được dùng để đáp-ứng cho những tham muốn ích kỷ của vị vua kiêu-ngạo này. “Vua nào theo sự chân-thật mà xét-đoán kẻ nghèo khổ, ngôi người sẽ được vững bền đời-đời” (Ch 29:14 NIV), còn Nê-bu-cát-nết-sa thì sắp sửa đánh mất ngôi vị của mình.
Đa-ni-ên đang kêu-gọi ăn-năn. Ông muốn nhà vua thay đổi suy nghĩ của mình, thừa nhận tội-lỗi mình và từ bỏ chúng, và đặt đức-tin nơi Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật, Đức Chúa Trời Chí Cao của dân Hê-bơ-rơ. Nê-bu-cát-nết-sa biết Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên đủ để biết những điều Đa-ni-ên đang nói là sự-thật, nhưng ông đã không thực hiện theo. [28] Nhà vua đang bỏ qua cơ-hội tốt để làm lại một khởi đầu mới và phục tùng ý muốn của Đức Chúa Trời Chí Cao. Ông đã có quyết định sai lầm.
4. Hổ thẹn: Nhà vua bị kỷ luật (Đa 4:28-33)
“Hết thảy những sự đó đều đến cho vua Nê-bu-cát-nết-sa” (c.28), bởi vì không bao giờ Lời của Đức Chúa Trời không làm trọn được những mục đích của nó. [29] Đức Chúa Trời đã nhân từ ban cho nhà vua trọn một năm hầu để ông lưu tâm đến sự khuyến-cáo của Ngài mà ăn năn tội-lỗi mình, nhưng nhà vua đã không chịu phục tùng. Sự kiêu-ngạo đã chiếm hữu lòng ông đến nỗi ông không thể đầu-phục Đức Chúa Trời Chí Cao.
“Bởi chẳng thi hành ngay án phạt những việc ác, nên lòng con loài người chuyên làm đều ác” (Tr 8:11 NKJV).
Trong thời của Nô-ê, Đức Chúa Trời đã kiên-nhẫn cho đợi và ban cho cư-dân trên đất 120 năm để từ bỏ tội-lỗi mình, nhưng họ đã khước từ (IPhi 3:20; Sa 6:3). Ngài đã ban cho thành Giê-ru-sa-lem hầu như 40 năm ân-điển sau khi các lãnh tụ tôn-giáo đóng đinh Đấng Cứu Thế của họ, và sau đó người La-mã đã đến và hủy phá thành cùng đền thờ. Hãy thử nghĩ Ngài đã dai dẳng chịu đựng thế giới tội-lỗi hiện tại này như thế nào! (IIPhi 3:9).
Có lẽ Nê-bu-cát-nết-sa đang bước đi trên nóc nhà rộng lớn của cung điện mình, nhìn ngắm khắp thành phố lớn khi ông thốt lên những lời tai họa được ghi lại trong Đa 4:30. [30] Có một điều chắc chắn là: ông đang bước đi trong sự kiêu ngạo (c.37), và kiêu-ngạo là một trong những tội-lỗi mà Đức Chúa Trời gớm ghét (Ch 6:16 và những câu sau).
“Khi sự kiêu-ngạo đến, sỉ nhục cũng đến nữa; nhưng sự khôn-ngoan vẫn ở với người khiêm-nhượng” (Ch 11:2 NKJV).
“Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu-ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm-nhường” (Gia 4:6 NKJV; Ch 3:34; IPhi 5:5).
Chính sự kiêu-ngạo đã biến thiên-sứ Lucifer thành ma quỷ (Ês 14:12-15), và chính sự kiêu-ngạo đã đưa đến sự sa ngã của Vua Ô-xia (IISu 26:16-21).
Một tiếng nói uy nghiêm từ trời đã ngăn những dòng tư tưởng tự cao tự đại của nhà vua và tuyên-bố rằng: thời gian quản chế đã mãn và sự hình phạt sắp được giáng xuống. Chúng ta không thể nào biết được khi nào tiếng của Đức Chúa Trời phán hay tay của Ngài chạm đến đời sống của chúng ta.
Dù đó là tiếng đã gọi Môi-se tại Ma-đi-an (Xu 3:1-22), việc phái Ghi-đê-ôn lãnh đạo đội quân (Cac 6:1-40), cơ-hội để Đa-vít giết người khổng lồ (ISa 17:1-58), những lời kêu-gọi 4 ngư-phủ từ bỏ mọi sự để theo Chúa Cứu Thế (Mat 4:18-22), hay là lời khuyến cáo sự sống sắp đến hồi kết thúc (Lu 12:16-21), thì Đức Chúa Trời vẫn có toàn quyền can thiệp vào đời sống của chúng ta và phán với chúng ta. Những điều nhà vua biết được qua lời Đa-ni-ên giải nghĩa giấc chiêm bao, giờ đây ông được nghe phán xuống từ trời!
“Loài người chẳng hiểu biết thời thế của mình” (Tr 9:12).
Đức Chúa Trời kiên nhẫn chịu đựng tội-nhân, những khi đến thời-điểm Ngài hành động, thì không có sự trì hoãn. Khi Nê-bu-cát-nết-sa còn đang nói thì mọi việc đã bắt đầu thay đổi. Lòng ông đã trở nên như lòng của thú vật (Đa 4:16) và từ hoàng cung ông đã bị đuổi ra sống nơi đồng hoang với loài thú.
Từ khi con người này có lòng hung ác như thú vật, nên Đức Chúa Trời đã để cho bản-chất thú vật của ông được bộc lộ tự-do. Có thể là Đa-ni-ên và các đại quan khác đã cai quản triều chính trong khoảng thời gian nhà vua chịu 7 năm kỷ luật, cho nên khi nhà vua trở lại cai-trị, ông thấy mọi việc đều rất tốt đẹp.
Chính điều này là một bằng-chứng sống động cho Nê-bu-cát-nết-sa về ân-điển của Đức Chúa Trời và sự trung-thành của Đa-ni-ên. Phần ký thuật này không tiết lộ số dân thường đã biết được sự đoán-phạt này. Người ta cho rằng các quan trong triều đã nhốt nhà vua trong ngự hoa viên và không để công chúng nhìn thấy, nhưng Đa 5:21 cho biết rằng ông bị tẩy chay khỏi loài người và phải sống với loài lừa rừng. Lòng và tâm-trí ông, thậm chí thân thể ông, đã trở nên như loài thú trong 7 năm. [31]
Hẳn Đức Chúa Trời có thể hủy diệt cả nhà vua và vương quốc của ông, nhưng Ngài vẫn còn những mục đích cầp phải làm trọn cho dân-sự Ngài và cho Đa-ni-ên tiên-tri của Ngài. Hơn nữa, Đức Chúa Trời muốn nhà vua nói cho toàn đế quốc biết điều Ngài đã làm cho ông để danh Ngài được vinh-hiển giữa các nước. Làm một ngọn đèn giữa Dân ngoại là đặc quyền mà cũng là trách-nhiệm của dân Y-sơ-ra-ên (Ês 42:6; Ês 49:6), nhưng họ đã thất bại cách thảm thương và bắt đầu tập theo sự tối tăm của các dân-tộc ngoại bang. Vì thế, Đức Chúa Trời đã dùng một vị vua ngoại bang để làm vinh-hiển danh Ngài!
5. Phục-hồi: Nhà vua được giải cứu (Đa 4:1-3,34-37)
Phần tự thuật lại được thực hiện trở lại ở câu 34, vì khi bảy năm này đã kết thúc, như điều Đức Chúa Trời đã hứa, Nê-bu-cát-nết-sa đưọơc giải cứu khỏi hoạn nạn, được phục hổi trí-khôn và đời sống bình thường của con người. Lúc bấy giờ nhà vua mới bắt đầu hướng về Đức Chúa Trời, với cả đức-tin và sự đầu-phục.
“Tôi ngước mắt lên hướng cùng Ngài, hỡi Đấng ngự trên các từng trời” (Thi 23:1 NIV).
“Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem Ta và được cứu!” (Ês 45:22).
Một số nhà nghiên-cứu tin rằng Nê-bu-cát-nết-sa đã trải qua một sự biến đổi về thuộc-linh, và lời-chứng của ông trong những phân đoạn này dường như đã ủng hộ điều đó. Chúng ta không có ý kiến gì về điều nhà vua đã học được về Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên qua Đa-ni-ên trải nhiều năm liền, nhưng giờ đây hạt giống đã cho quả.
Điều nhà vua làm trước tiên đó là ngợi-khen Đức Giê-hô-va (Đa 4:34-35). Đây hẳn là một bản tóm tắt súc tích về thần-học của Kinh thánh, và ở đây sự thờ-phượng được bày-tỏ lý thú làm sao! Thần-học và lời khen-ngợi tùy thuộc vào nhau (Rô 11:33-36), vì những kinh-nghiệm thuộc-linh không đặt nền-tảng trên lẽ-thật chỉ là sự mê-tín. Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ là Đức Chúa Trời Chí Cao. Vương quốc của Nê-bu-cát-nết-sa giới hạn, nhưng vương quốc của Đức Chúa Trời bao gồm mọi vật ở thiên-đàng và trần gian. Một ngày nào đó Ba-by-lôn sẽ sụp đổ và nhường chỗ cho đế quốc khác, nhưng vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại mãi mãi. Không điều gì có thể hủy phá vương quốc của Ngài hoặc làm thất bại những mục đích của Ngài.
Nhiều năm trước đó, nhà vua đã cho mình là một nhân vật vĩ đại và vương quốc của mình là một vương quốc lớn, nhưng giờ đây ông đã có quan-điểm khác. “Hết thảy dân-cư trên đất đều cầm như là không có” (Đa 4:35a) và hẳn bao gồm cả nhà vua nữa! Có lẽ Đa-ni-ên đã trưng dẫn cho nhà vua lời của tiên-tri Ê-sai: “Kìa, các dân-tộc khác nào một giọt nước nhỏ trong thùng, và kể như là một mày bụi rơi trên cân . . . . Ấy là Đấng ngự trên vòng trái đất này, các dân-cư trên đất như cào cào vậy” (Ês 40:15,22).
Nhà vua thừa nhận quyền tối-cao của Đức Chúa Trời (Đa 4:35b), đó là bài học quan-trọng mà Đức Chúa Trời muốn ông học qua từng-trải khó khăn này (c.17,25,32). Thật tồi tệ khi giáo-lý tuyệt vời này của Kinh thánh đã bị những người nghiên-cứu Kinh thánh không chuyên phỉ báng và giải nghĩa sai, bởi vì sự hiểu biết về quyền tối-cao của Đức Chúa Trời sẽ giúp cho người tin Chúa có sự xác-quyết, sức mạnh, sự an-lòng, và sự tận hiến mà làm sản sinh ra đức-tin và sự tự-do.
Kinh thánh dạy cả về quyền tối-cao của Đức Chúa Trời và bổn-phận của con người, và khi bạn chấp nhận cả hai điều này, thì không hề có sự bất đồng hay xung đột. Không có con người nào tự-do bằng người tín-đồ đã đầu phục ý muốn tối-cao của Đức Chúa Trời. Phớt lờ quyền tối cao của Đức Chúa Trời tức là tôn-cao trách-nhiệm của con người và khiến con người trở thành cứu chúa của chính mình, nhưng khước từ trách-nhiệm tức là biến con người trở thành một cỗ máy không có trách-nhiệm giải-trình. Kinh thánh đã cung-cấp một sự cân-bằng tuyệt vời vừa tôn-vinh Đức Chúa Trời đồng thời có thể giúp cho dân-sự của Ngài sống vui-mừng và đắc thắng dù hoàn cảnh có ra sao (Công 4:23-31; Rô 8:31-39).
Bởi vì Đức Chúa Trời là tối cao, nên Ngài có thể làm điều Ngài lấy làm hài lòng và không ai có thể ngăn cản hoặc yêu-cầu Ngài giải thích (Rô 9:14-23). Lòng của tội-nhân nổi loạn với chính ý tưởng của một Đức Chúa Trời tối cao, vì lòng con người muốnđược “tự-do” khỏi mọi sự kiểm soát.
Tội-nhân thường nghĩ rằng họ đang “tự-do” và không nhận thức được rằng họ đang chịu sự trói buộc của bản-chất sa ngã của mình và của quyền lực của Sa-tan và thế-gian này. Charles Spurgeon đã rất cân nhắc trong thuyết thần-học của mình, và ông đã nói rằng:
“Hầu hết con người đều bất hòa với sự tối-cao của Đức Chúa Trời.”
Nhưng hãy lưu ý, điều mà bạn thường phàn nàn với Đức Chúa Trời chính là điều bản thân bạn yêu chuộng. Ai cũng thích cảm giác mình có quyền làm theo ý riêng. Tất cả chúng ta đều thích làm những vị quốc vương nhỏ bé. Ôi, ước gì có một tâm-thần luôn thuận-phục trước quyền tối-cao của Đức Chúa Trời. [32].
Đức Chúa Trời Chí Cao quá khôn-ngoan và quyền-năng đến nỗi Ngài có thể ra lệnh cho tạo vật của Ngài được tự-do quyết định và thậm chí bất-tuân ý chỉ Ngài đã phán ra, và rồi Ngài vẫn có thể hoàn tất những mục đích thánh của Ngài trên thế-gian này. “Được tự-do là ước muốn của con người bởi vì Đức Chúa Trời nắm quyền tối-cao,” đây là lời của A.W. Tozer, ông không phải là một người thuộc trường phái của Ca-vin đã quy đạo. “Một Đức Chúa Trời ít quyền-năng hơn không thể ban sự tự-do về đạo đức cho tạo vật của Ngài. Hẳn Ngài sẽ e ngại khi làm như vậy” [33]
Đầu phục quyền tối-cao của Đức Chúa Trời không hề làm Nê-bu-cát-nết-sa thiết mất bất kỳ điều gì của con người; thực tế là sự cưng nhận này đã biến đổi ông từ đời sống như thú vật thành đời sống như một con người!
Cuối cùng, Nê-bu-cát-nết-sa đã rao ra cho mọi dân những lời chứng đầy vui-mừng về ân-điển diệu kỳ của Đức Chúa Trời (Đa 4:1-3). Khi nói về những từng-trải chính thức của mình, ở phần mở đầu nhà vua đã ca tụng sự dấu-lạ quyền-năng của Ngài và vương quốc đời-đời của Ngài, và ông đã dạn dĩ tuyên-bố rằng Đức Chúa Trời đã làm những dấu-lạ và sự lạ lớn lao đối cùng ông.
Thật khác biết bao với những gì Pha-ra-ôn đã phản ứng trước những điều Đức Chúa Trời đã làm ra ở Ai-cập! Thay vì vâng-theo lời của Đức Chúa Trời đã được Môi-se truyền lại, pha-ra-ôn nhìn xem quyền-năng của Đức Chúa Trời bày-tỏ qua những nạn dịch và vận tiếp tục chống cự Đức Chúa Trời.
Ông đã kiêu-ngạo tuyên-bố, “Giê-hô-va là ai mà trẫm phải vâng-lời người, để cho dân Y-sơ-ra-ên đi? Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết; cũng chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi nữa” (Xu 5:2).
Kết quả sự chống đối của ông là đất nước của ông bị tàn phá, hàng ngàn người phải chết, và dân Y-sơ-ra-ên vẫn được giải cứu bởi năng-quyền của Ngài! Khi con người không để cho Đức Chúa Trời cai trị, thì Ngài tể trị và làm trọn những mục đích thánh của Ngài vì vinh-hiển của Ngài.
Kết quả của kinh-nghiệm “biến đổi” này ra sao? Đức Chúa Trời không chỉ phục-hồi lý-trí của nhà vua và loại bỏ lòng và tâm-trí của loài thú khỏi ông, mà Ngài còn phục-hồi cho nhà vui sự tôn-trọng và sự huy hoàng và ban ngôi nước lại cho ông! Ông đã làm-chứng rằng ông “càng được quyền thế hơn trước đây” (Đa 4:36). Nơi nào tội-lỗi đã gia thêm, thì ân-điển lại càng dư dật hơn nữa (Rô 5:20). Thay vì khoe khoang về những thành tựu của mình, Nê-bu-cát-nết-sa đã nói rằng, “Bây giờ, ta, Nê-bu-cát-nết-sa, ngợi-khen, tôn-vinh và làm cả sáng Vua trên trời” (Đa 4:37).
Ông đã kết thúc phần trình-bày trịnh trọng của mình bằng một lời khuyến-cáo dựa trên những bài học mà Đức Giê-hô-va đã dạy ông: “Kẻ nào bước đi kiêu-ngạo, ngài có thể hạ nó xuống” (c.37). Thế giới ngày nay không cho kiêu-ngạo là một tội-lỗi xấu xa và nguy hiểm, mà thay vào đó còn vận dụng những lời xu nịnh và phóng đại, cũng như đề-cao lời lẽ cũng như công việc của “những con người thành công” của thời đại.
Một số người trong số này đã đánh mất phẩm chất đạo đức, nhưng khi nào họ còn thành công, họ vẫn nhận được sự chú ý đông đảo qua phương tiện thông tin đại chúng. Sẽ có một ngày Đức Giê-hô-va đến trong sự đoán-xét, và Ngài đã hứa rằng, “Ta sẽ phạt thế gian vì sự độc ác nó, phạt kẻ dữ vì tội-lỗi chúng nó, làm cho kẻ kiêu hết kiêu, hạ sự tự cao của kẻ bại ngược” (Ês 13:11).
Cứu Chúa của chúng ta đã phán những lời sau cùng rằng, “Kẻ nào tôn mình lên thì sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên” (Mat 23:12).
5. BỊ ĐẾM, BỊ CÂN, VÀ BỊ LOẠI (Đa 5:1-31)
Nhiều người chỉ biết một ít hay hầu như không biết gì về người Ba-by-lôn, bữa tiệc của Bê-xát-sa, hay những lời tiên tri của Đa-ni-ên thường dùng cụm từ “viết tay lên tường”. Cụm từ trên có nguồn gốc từ đoạn này (c. 5) và thông báo về sự đoán-phạt đã định. Bên-xát-sa, những người vợ và các cung nữ của ông, và một ngàn vị khách tiếng tăm đang dự tiệc thì bên ngoài cổng thành quân đội của người Mê-đi và Ba-tư đang đợi, sẵn sàng xông vào.
Thành Ba-by-lôn khoe khoang rằng không ai có thể đánh chiếm được nó, và rằng nó có đủ lương thực dự trữ để nuôi sống dân thành trong hai mươi năm. Nhưng Đức Giê-hô-va phán rằng thì giờ của Ba-by-lôn đã điểm. “Đức Giê-hô-va làm bại mưu các nước; Khiến những tư tưởng của các dân-tộc ra hư-không; Mưu của Đức Giê-hô-va được vững lập đời-đời, ý tưởng của lòng Ngài còn đời này sang đời kia” (Thi 33:10-11). Dù có thế nào, ý định của Đức Chúa Trời vẫn sẽ được thực hiện.
Chúng ta sẽ nhìn xem những người có liên-quan trong câu chuyện này để biết họ liên-quan ra sao đến chương trình của Đức Chúa Trời.
1. Bên-xát-sa (Đa 5:1-4)
Vua Nê-bu-cát-nết-sa vĩ đại đã qua đời vào năm 562 TC và con trai ông là Evil-Mê-rô-đác đã lên kế vị, người này chỉ cai-trị được trong hai năm. Anh rể của ông là Neriglissar đã giết ông vào năm 560, đoạt ngôi vua, và cai-trị được bốn năm. Sau đó một kẻ cai-trị bù nhìn yếu đuối (Labashi-Marduk) đã nắm quyền cai-trị trong hai tháng, và cuối cùng Nabonidus đã trở thành vua và cai trị từ năm 556 đến năm 539, Các sử-gia cho rằng Nabonidus đã kết hôn với con gái của Nê-bu-cát-nết-sa và là cha của Bên-xát-sa. Nabonidus đã cai-trị Đế quốc Ba-by-lôn, còn Bên-xát-sa, con trai ông thì nhiếp chính và cai-trị thành Ba-by-lôn. [34].
•Sự vui thú (Đa 5:1).
Các bạo chúa Đông Phương thường rất thích với mở những yến tiệc và phô trưng sự giàu có và sa hoa của họ (Et 1:1-22). Các nhà khảo cổ đã cho chúng ta biết rằng trong thành Ba-by-lôn có những phòng lớn thích hợp cho việc tổ chức những dịp lớn như vầy hoặc lớn hơn.Bữa tiệc này là hình ảnh thu nhỏ của hệ thống thế gian và nó tập trung vào “sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời” (IGi 2:16). “Chúng ta sẽ ăn gì?” và “Chúng ta sẽ uống gì?” là những câu hỏi mà hầu hết con người đều muốn được giải đáp khi họ sống trên đời (Mat 6:25-34), và họ sẵn sàng đi theo bất ký người nào tiếp đãi họ và làm thỏa mãn những ham muốn của họ. Tại sao phải lo-lắng về kẻ thù khi bạn được bảo vệ và được ăn uống thịnh soạn?
Bên-xát-sa biết rằng quân đội của người Mê-đi và người Ba-tư đã đóng trại bên ngoài thành phố, nhưng ông đã phớt lờ trước những nguy hiểm mà họ tạo ra. Xét cho cùng, thành này được bao quanh bởi một hệ thống tường thành phức tạp, có một số bức cao hơm 300 phút (1 phút =0,348m), và trên tường thành này có nhiều tháp bảo vệ.
Có kẻ thù nào vượt qua được những cánh cỗng kiên cố bằng đồng? Phải chăng đã không có đủ nước cho dân chúng từ sông Ơ-phơ-rát, con sông đã chảy ngang qua thành phố từ bắc đến nam? Phải chăng trong thành không có đủ lương thực dự trữ? Nếu như có một người đã tự hào về những thành quả của mình và tin vào bản thân mình, thỉ người đó chính là Bên-xát-sa. Nhưng đó là một sự tin tưởng sai lầm, giống với điều sẽ xảy ra với con người của thế giới này trước khi Đức Chúa Trời tuyên-bố chiến tranh.