...tháng Năm đến tháng Chín năm 1787, hội nghị Lập Hiến Hoa Kỳ đã diễn ra ở Phi-la-đen-phia để phát triển một hệ thống chính quyền cho quốc gia mới thành lập. Đến 28 tháng Sáu, tiến-trình này diễn ra quá chậm đến nỗi Benjamin Franklin đã đứng dậy và gọi điện cho George Washington, chủ tịch của hội nghị.
Trong cuộc nói chuyện, ông đã nói: “Thưa ngài, Tôi đã sống nhiều năm, và càng sống tôi càng được chứng-thực về một chân-lý, đó là: Đức Chúa Trời chi phối các vấn-đ ề của con người.” [1]
Sau đó ông đã đề-nghị họ mời một số tăng-lữ địa phương đến cuộc họp để hướng dẫn họ trong việc cầu-nguyện xin Đức Chúa Trời hướng dẫn. Đề-nghị này hẳn đã được thông qua ngoại trừ việc hội nghị đã không có ngân sách để trả cho những giáo-sĩ đã đến.
Dầu không phải là một tín-đồ công-khai xưng nhận Phúc-Âm, Franklin là một người đã tin một Đức Chúa Trời là vị Kiến Trúc Sư và Đấng Cai Quản hoàn vũ, một niềm tin phù hợp với lời-chứng của Thánh Kinh.
Áp-ra-ham đã gọi Đức Chúa Trời là “Đấng đoán-xét toàn thế-gian” (IIVua 19:15). Vào thời Đa-ni-ên, bằng phương cách khó khăn nhất Vua Nê-bu-cát-nết-sa đã học biết được rằng “Đấng Chí Cao cai-trị trong nước của loài người” (Đa 4:32).
Chương đầu tiên của sách Đa [2] đã cung-cấp những bằng-chứng rõ ràng về sự điều động của Đức Chúa Trời trong những vấn-đề của quốc gia lẫn của cá nhân.
1. Đức Chúa Trời cho Nê-bu-cát-nết-sa chiến thắng (Đa 1:1-2)
[3] Trong nhiều thập niên, các tiên-tri đã từng khuyến cáo những người cai-trị của Giu-đa rằng việc họ thờ thần-tượng, sống trái luật pháp, và bất-công với người nghèo khó sẽ đưa đất nước đến chỗ diệt vong. Các tiên-tri đã nhìn thấy những ngày sắp đến khi Đức Chúa Trời đem quân Ba-by-lôn đến hủy phá Giê-ru-sa-lem cùng đền thờ và bắt dân-sự lưu đày ở Ba-by-lôn.
Một thế kỷ trước khi thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ, tiên-tri Ê-sai đã rao-báo sứ-điệp này (Ês 13:21,39), và Mi-chê một người sống cùng thời với ông đã cùng ông chia-sẻ gánh nặng này (Mi 4:10). Tiên-tri Ha-ba-cúc đã không thể hiểu được làm sao Đức Chúa Trời có thể dùng dân Ba-by-lôn không kính-sợ Ngài để trừng phạt chính dân-sự của Ngài (Ha 1:1-17), và tiên-tri Giê-rê-mi đã sống để nhìn xem những lời tiên-tri này, cùng với những lời tiên-tri của chính mình, tất cả đều được ứng-nghiệm (Giê 20:25,27). Đức Chúa Trời thà để dân Ngài sống lưu đày cách hổ nhục trong một xứ sở tà-thần chứ không để họ sống như những kẻ ngoại giáo nơi Đất Thánh và làm ô uế danh Ngài.
Sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem giống như chiến thắng của các thần ngoại bang trên Đức Chúa Trời chân thật của Y-sơ-ra-ên. Nê-bu-cát-nết-sa đã đốt đền thờ của Đức Chúa Trời và thậm chí người đã lấy những khí dụng thánh và đem để chúng trong đền thờ của thần mình tại Ba-by-lôn. Sau đó, Bên-xát-sa đã dùng một số bình thánh trong số này để tôn-vinh những vị thần của mình trong một bữa tiệc ngoại giáo, nên Đức Chúa Trời đã trừng phạt ông (Đa 5:1-30).
Dù chúng ta quan-niệm thế nào về sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem, thì nó vẫn giống như một chiến thắng của các thần-tượng nhưng sự thực nó là chiến thắng của Đức Chúa Trời! Ngài đã giữ đúng giao-ước của mình với dân Y-sơ-ra-ên và Ngài làm thành những điều mình đã hứa.
Thực tế là Đức Chúa Trời đã từng dấy người Ba-by-lôn đánh bại Giu-đa cũng chính là Đức Chúa Trời sau đó đã dấy người Mê-đi và Ba-tư đến xâm chiếm Ba-by-lôn. Đức Chúa Trời cũng đã ra lệnh cho một người cai-trị thuộc ngoại giáo ra chiếu chỉ cho phép dân Giu-đa trở về quê hương và xây lại đền thờ của họ. Như nhà lãnh đạo truyền-giáo A. T. Pierson đã từng nói, “Lịch-sử là câu chuyện của Ngài.” (History is His Story)
Đức Chúa Trời đã lập giao-ước với dân Y-sơ-ra-ên, và hứa rằng Ngài sẽ chăm-sóc họ và ban phước cho họ nếu họ vâng-theo luật-lệ của Ngài, nhưng nếu họ không vâng-theo, Ngài sẽ trừng-phạt họ và làm cho họ tản lạc giữa vòng dân ngoại (Lê 26:1-46; Phuc 27:1-30:20). Ngài muốn Y-sơ-ra-ên trở thành “một ngọn đèn cho dân ngoại” (Ês 42:6 NKJV) và bày-tỏ vinh-hiển của Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật; nhưng thay vì như vậy, dân Giu-đa đã trở nên giống như Dân Ngoại và thờ các tà-thần của họ.
Các vị vua và những người lãnh đạo dân chúng không có lòng tin kính, các tiên-tri giả và các thầy tế-lễ bất trung của đất nước đã làm cho đạo đức suy đồi, và cuối cùng khiến cho đất nước bị hủy diệt (Ca 4:13; Giê 23:9-16; IISu 6:14-21). Điều lạ là dân-sự của chính Đức Chúa Trời đã không vâng-theo Ngài, nhưng Nê-bu-cát-nết-sa và quân lính Ba-by-lôn theo ngoại giáo lại đã vâng-theo Ngài!
Đức Chúa Trời thật khôn-ngoan và đầy quyền-năng đến nỗi Ngài có thể cho phép con người có những chọn lựa cá nhân mà vẫn hoàn thành những mục đích của Ngài đối với thế giới. Khi con người không để Ngài cai-trị, Ngài sẽ thắng hơn, nhưng cuối cùng ý muốn của Ngài sẽ được thực hiện và danh Ngài được vinh-hiển.
Chúng ta thờ-phượng và phục-vụ một Đức Chúa Trời tối cao, Đấng không bao giờ bị bất ngờ. Dù hoàn cảnh của chúng ta như thế nào, chúng ta vẫn có thể nói một cách xác-quyết luôn luôn rằng, “A-lê-lu-gia . . . Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn Năng, đã cầm quyền cai-trị!” (Kh 19:6 NKJV)
2. Đức Chúa Trời bênh vực Đa-ni-ên và các bạn của ông (Đa 1:3-16)
Chính sách của nhà vua là huấn luyện những người giỏi nhất của các quốc gia bị chinh-phục để họ phục-vụ trong chính phủ của mình. Người có thể được lợi từ những hiểu biết của họ về dân-tộc chính mình và cũng đã dùng những khả năng của họ để cũng cố việc cai-trị của ông. Người Giu-đa bị trục xuất nhiều đợt đến Ba-by-lôn cả trước lẫn sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị sụp đổ, và dường như Đa-ni-ên và 3 bạn của ông đã bị bắt đi vào năm 605 lúc họ được khoảng mười lăm mười sáu tuổi. Tiên-tri Ê-xê-chi-ên bị đưa đến Ba-by-lôn vào năm 597, và vào năm 586, đền th ờ bị phá hủy.
• Một dân sót tận hiến (Đa 1:3-4a).
Thậm chí đọc lướt qua Kinh thánh Cựu-ước chúng ta cũng thấy được rằng đại đa số dân-sự Đức Chúa Trời không luôn đi theo Đức Giê-hô-va và giữ các điều răn của Ngài. Trong đất nước Do-thái vẫn luôn tồn tại một bộ phận “dân sót trung-tín” đã vượt qua thử thách và sự đoán-phạt để duy trì giao-ước của Đức Chúa Trời và tạo ra một khởi đầu mới. Tiên-tri Ê-sai đã đặt tên cho một trong các con trai mình là “Shear-jashub”, có nghĩa là “một dân sót sẽ trở lại”.
Nguyên-tắc tương tự cũng được áp-dụng cho hội thánh ngày nay, đó là không phải người nào tuyên-xưng đức-tin mình trong Chúa Jêsus-Christ đều thật sự là con cái của Đức Chúa Trời (Mat 7:21-23).
Trong sứ-điệp gởi cho 7 hội thánh thuộc vùng Tiểu Á, Chúa chúng ta luôn dùng một từ đặc biệt cho “những kẻ thắng”, những người trung-tín còn lại trong từng hội thánh đã tìm cách vâng-lời Đức Chúa Trời (Kh 2:7,11,17,24-28; Kh 3:4-5; Kh 12:21). Đa-ni-ên và 3 bạn của ông là một phần trong số dân sót trung-tín ở Ba-by-lôn, Đức Chúa Trời đã đặt họ ở đó để hoàn tất những mục đích của Ngài.
Những người trai trẻ này xuất chúng ở mọi phương diện, “những người thông-minh nhất và giỏi nhất”, được Đức Chúa Trời chuẩn bị để thực hiện một nhiệm-vụ chiến lược ở xa xứ. Họ là những người đẹp trai, mạnh khỏe, thông-minh và tài ba. [4].
Họ thuộc chi phái Giu-đa (Đa 1:6) và mang dòng dõi nhà vua (c.3) [5]. Xét về mọi khía cạnh, họ là những người Giu-đa giỏi nhất đã được cống nạp. Bởi vì Át-bê-na được gọi là “làm đầu các hoạn quan”, một số người kết luận rằng 4 chàng trai Giu-đa này đều làm hoạn quan; nhưng đó rất có thể là một kết luận sai lầm.
Ban đầu, từ “hoạn quan” (tiếng Hêb. là saris) đề-cập đến một tôi-tớ đã được thiến để có thể phục-vụ ở hậu cung; nhưng dần dần danh hiệu này được áp-dụng cho bất kỳ chức-vụ nào quan-trọng trong triều. Từ này được dùng cho Phô-ti-pha, và người này đã lập gia đình (Sa 37:36). Luật Do-thái cấm thiến (Phuc 23:1), nên khó thể nào tin được rằng cả 4 người nam Hê-bơ-rơ trung-tín này, là những người kịch liệt chống lại các tập tục của người Ba-by-lôn lại chịu phó mình cho việc này.
• Một thử thách khó khăn (Đa 1:4b-7).
Được huấn luyện để làm quan trong triều đình là một vinh dự, nhưng đồng thời đó cũng là một thử thách; vì những chàng trai Hê-bơ-rơ tận hiến này hẳn phải buộc mình thích nghi với cách thức và suy nghĩ của người Ba-by-lôn.
Mục đích của “khoá huấn luyện” là biến người Giu-đa thành người Ba-by-lôn, và điều này không chỉ có nghĩa là có một quê hương mới, mà là cả một tên gọi mới, tập quán mới, suy nghĩ mới và ngôn ngữ mới. Trong 3 năm, những vị thầy người Ba-by-lôn của họ hẳn đã cố gắng “tẩy não” 4 chàng trai Do-thái này và dạy họ cách nghĩ và sống như người Ba-by-lôn.
Tên Đa-ni-ên có nghĩa là “Đức Chúa Trời là quan-xét tôi”, nhưng tên gọi này đã được đổi lại là Bên-tơ-xát-xe hay “Bên bảo vệ mạng sống người”. Ha-na-nia có nghĩa là “Đức Chúa Trời bày-tỏ ân-điển”, nhưng Sa-đơ-rắc tên mới của người có nghĩa là “mạng lệnh của A-ku” (thần mặt trăng). Mi-sa-ên có nghĩa là “Có ai như Đức Chúa Trời?” còn Mê-sác tên mới có nghĩa là “Có ai như là A-ku?” A-xa-ria có nghĩa là “Đức Chúa Trời là nguồn cứu giúp của tôi”, nhưng A-bết-Nê-gô lại có nghĩa là “Tôi-tớ của Nê-bô (Nê-gô)”. Danh của Đức Chúa Trời được thế chỗ bằng danh của các tà-thần của Ba-by-lôn; nhưng thử nghĩ những người vô-tín có thể làm gì khác hơn thế?
Học một ngôn ngữ mới và ngay cả việc nhận một cái tên mới không gây khó khăn lắm, nhưng việc áp dụng những tập tục trái ngược với Luật Môi-se lại là một vấn-đề lớn. Người Ba-by-lôn rất giỏi về xây dựng, tính toán, và phân tích quân sự, nhưng tôn-giáo của họ đã rơi vào chỗ mê-tín và hoang đường. Cũng giống như các sinh-viên Cơ-đốc trong các trường học thế tục ngày nay thường phải học về những vấn-đề duy vật trái với những gì họ tin, Đa-ni-ên và các bạn của ông đã phải học thông suốt lịch-sử và khoa-học của người Ba-by-lôn. Thực tế là trong kỳ thì cuối khóa, họ đã đánh bật tất cả các sinh-viên khác (c.20), và sau đó, Đức Chúa Trời đã cho họ cơ-hội để chứng-tỏ niềm tin của họ cao trọng hơn niềm tin của những người đã bắt họ làm phu-tù. Nhưng khi những gì họ được học đòi hỏi họ phải bất-tuân với luật thánh, họ đã ngưng lại.
Chắc chắn rằng thức ăn của vua là ngon nhất trong nước, thế nhưng tại sao 4 học viên người Hê-bơ-rơ này lại từ chối ăn những thức ăn đó? Bởi vì chúng làm ô uế họ và khiến họ trở nên ô uế về nghi lễ trước mặt Đức Chúa Trời của họ (c. 8). Đối với người Do-thái điều quan-trọng chính là họ chỉ ăn những con vật được Đức Chúa Trời cho phép và khi làm thịt những con vật đó huyết của chúng phải được loại bỏ hết, vì ăn huyết là điều bị nghiêm cấm (Lê 11:1-47; Lê 17:10-16). Nhưng còn hơn thế nữa, thức ăn của vua trước nhất đã được dâng lên cho các thần-tượng, vì thế những người Do-thái trung-tín sẽ không ăn những thức ăn bị ô uế như thế. Hội thánh đầu tiên cũng đã đối diện với vấn-đề này.
•Một cuộc thử-nghiệm được nhận thức rõ (Đa 1:8-16).
Bằng cách nào dân-sự Đức Chúa Trời có thể chống lại những áp lực mà có thể “đẩy” họ đến chỗ đồng hóa với thế-gian? Theo Rô 12:1-2, “người làm theo đời này” là người mà sự sống của chịu sự điều khiển của những áp lực từ bên ngoài, nhưng “người biến đổi” là người mà sự sống của họ chịu sự chi phối bởi quyền-năng từ bên trong. Đa-ni-ên và 3 bạn của ông là những người biến đổi: thay vì bị thay đổi, họ đã mang lại sự thay đổi! Đức Chúa Trời đã dùng họ để thay đổi suy nghĩ của những nhà cai-trị đầy quyền lực và làm cho danh Ngài được cả sáng trong một xứ sở ngoại giáo.
Bước đầu tiên khi họ giải quyết vấn-đề của mình và làm những người biến đổi là dâng mình hoàn toàn cho Đức Chúa Trời. Tấm-lòng của Đa-ni-ên - toàn bộ sự tồn tại của người - thuộc về Đức Chúa Trời, lòng các bạn của Đa-ni-ên cũng như vậy (Đa 1:8; Đa 12:1-2). “Khá giữa tấm-lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra” (Ch 4:23 NKJV).
Một tấm-lòng yêu mến Đức Chúa Trời, tin-cậy nơi Ngài, và dẫn đến vâng-phục Ngài thì không cảm thấy khó khi chọn-lựa điều phải và tin-cậy Đức Chúa Trời sẽ lo liệu hậu quả. Người ta thường nói rằng đức-tin không phải là tin mà bất kể chứng cứ - đó là mê-tín – mà là vâng-phục bất chấp hậu quả ra sao. Khi phải chọn giữa Lời Đức Chúa Trời và thức ăn của vua, họ đã chọn Lời Đức Chúa Trời (Thi 119:103; Phuc 8:3).
Bước thứ hai là cư xử tốt đẹp với những người đang nắm quyền. Bốn người này nhận biết rằng Át-bê-na đặt biệt thân thiện và tốt bụng đối với họ và hiểu được rằng đây là công việc của Đức Chúa Trời. (Giô-sép đã từng có kinh-nghiệm tương tự khi người ở trong tù. (Sa 39:1-40:23).
“Khi tánh hạnh của người nào đẹp lòng Đức Giê-hô-va, thì Ngài cũng khiến các thù nghịch người ở hòa thuận với người” (Ch 16:7 NKJV).
Thay vì trông mong viên quan thuộc Dân ngoại theo tà-thần vâng-theo Luật Môi-se và làm cho ông ta gặp rắc rối với nhà vua, Đa-ni-ên và các bạn ông đã có một cách giải quyết khôn-ngoan và xin cứ thử-nghiệm họ trong 10 ngày.
Xuyên suốt Kinh thánh, chúng ta sẽ bắt gặp những cho người đã phải bất-tuân cường quyền để vâng-theo Đức Chúa Trời, và trong từng trường hợp, họ đã có cách giải quyết khôn-ngoan và tế-nhị.
“Nếu có thể được thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người” (Rô 12:18 NIV).
Bên cạnh Đa-ni-ên và các bạn ông, chúng ta còn có gương của những bà góa Hê-bơ-rơ (Xu 1:1-22), các sứ-đồ (Công 4:1-37), và cả chính Chúa Giê-xu nữa (IPhi 2:13-25). Tất cả những người đó đã phải chống lại luật-lệ để vâng-lời Đức Chúa Trời, và Ngài đã cho họ thắng. Họ là những người hiền hòa, và không tìm cách làm cho người khác gặp rắc rối. Họ có một tâm-thần nhu-mì và yên lặng. Họ xem thử thách như một cơ-hội để bày-tỏ Đức Chúa Trời và làm vinh-hiển danh Ngài.
Bốn học viên người Do-thái này không đe dọa ai cả, không bày-tỏ sự kháng cự hay cố tìm cách để thiêu trụi một toà nhà. Đơn giản họ chỉ xuất sắc trong học tập, cư xử như những người tốt bụng, và đề-nghị Mên-xa thử họ trong 10 ngày bằng cách chỉ cho họ uống nước và ăn rau [6].
Cơ-đốc nhân không có quyền đòi hỏi người khác, đặc biệt là những người chưa được cứu, phiêu lưu nếu chính mình không thực hiện điều đó. Được Đức Chúa Trời hướng dẫn một cách vô thức, Mên-xa đã sẵn lòng chấp thuận đề-nghị của họ, và Đức Chúa Trời đã thực hiện những điều còn lại. Kết quả là 4 chàng trai Do-thái này có thân thể khỏe mạnh và dáng vẻ tốt tươi hơn tất cả các học-viên khác. Đây là minh-chứng sống động cho lời-hứa trong Mat 6:33 và nguyên-tắc được trình-bày trong Côl 4:5; ITês 4:12; IPhi 3:15.
Khi phải giải quyết những nan-đề về đời sống, chúng phải xin Đức Chúa Trời ban cho lòng can-đảm để đối diện với những nan-đề đó một cách khiêm-nhường và ngay thật, sự khôn-ngoan để hiểu được chúng, sức mạnh để làm những gì Ngài bảo chúng ta làm, và đức-tin để tin rằng Ngài sẽ lo những điều còn lại cho chúng ta.
Động-cơ của chúng ta phải là làm sáng danh Đức Chúa Trời, chứ không phải là tìm lối thoát. Câu hỏi quan-trọng không phải là