...tiên-tri A-mốt đến thế giới của chúng ta ngày nay, chắc ông cảm thấy như đang ở quê hương của mình: vì ông ta đã sống trong thời đại mà xã hội có nhiều biến động giống như thời đại của chúng ta.
Cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đều hòa bình với các nước xung quanh, có nghĩa là tài sản và sức lực của họ có thể được tận dụng triệt để cho sự phát triển đất nước không phải cho chiến tranh. Cả 2 nước đều rất thịnh vượng; các thành của họ được mở rộng nhanh chóng; và một tầng lớp mới gồm những thương gia giàu có đang ph át triển trong xã hội.
Hai nước đang chuyển mình từ xã hội nông nghiệp sang thương nghiệp và trải-nghiệm những ích lợi cũng như những vấn-đề đi đôi với sự thay đổi đó.
Tuy nhiên, dù họ có thành công về mặt vật chất, nhưng họ không xứng là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Họ đang kinh-nghiệm điều mà nhà thơ người Anh, Oliver Goldsmith đã viết năm Am 1770:
Ill fares the land, to hast’ning ill a prey,
Where wealth accumulate, and the men decay…
(Bệnh tật không làm con người xấu xa,
Nhưng nơi có của cải chất đống làm con người suy thoái…)
Cái xấu lan tràn trong tất cả các nước thời đó, các nước ngoại bang cũng như 2 nước Y-sơ-ra-ên và Giu-đa của người Do-thái; và A-mốt không ngại nêu đích danh chúng. Ông mở đầu sách bằng sự lên án tội-lỗi của sáu nước ngoại bang, và chắc chắn dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa hoan nghênh những lời của ông.
Không gì khiến dân Do-thái vui hơn khi nhìn thấy Đức Chúa Trời trừng phạt các nước xung quanh họ. Nhưng khi A-mốt lên án Giu-đa và Y-sơ-ra-ên, lại là một chuyện khác; và trong thời điểm đó, sự yêu mến của dân-sự dành cho ông bắt đầu có chiều hướng giảm sút.
1. Sự đoán-phạt trên các dân Ngoại bang (Am 1:1-14) (Am 1:1-2:3)
Đức Chúa Trời muốn các nước lưu tâm, nhưng họ không nghe Ngài. Bạn đừng nghĩ họ có thể nghe tiếng sư tử gầm thét hay tiếng sấm vang rền và biết rằng nguy hiểm gần ngay bên cạnh. Đức Chúa Trời đang phán (“gầm thét”) từ Giê-ru-sa-lem, vì sự đoán-phạt luôn bắt đầu từ nhà của Đức Giê-hô-va (IPhi 4:17).
Ngài giáng cơn hạn hán trên xứ đến nỗi vùng núi Cạt-mên từng màu mỡ giờ trở nên khô khan, nhưng điều đó không khiến dân-sự quỳ gối ăn-năn. Vì vậy Đức Chúa Trời kêu-gọi một người nông dân bình thường để rao-giảng cho dân-sự và cảnh-cáo họ.
“Khi sư tử gầm thét, thì ai mà chẳng sợ? Khi Chúa Giê-hô-va đã phán dạy, thì ai mà chẳng nói tiên-tri?” (Am 3:8).
Lần thứ 8 A-mốt sử dụng cụm từ “tội ác …. gấp ba bốn lần”, một thành ngữ của người Do-thái có nghĩa là “một con số không giới hạn mà cuối cùng đã đến chỗ kết thúc”. Đức Chúa Trời đã chịu đựng tội-nhân quá lâu (IIPhi 3:9), nhưng Ngài cho biết những việc họ làm và sự kiên-nhẫn của Ngài cuối cùng sẽ không còn nữa. Thử sự kiên-nhẫn của Đức Chúa Trời là thách thức Ngài; và khi bạn thách thức Ngài, bạn sẽ chuốc lấy sự trừng phạt.
• Sy-ri (Am 1:3-5).
Đa-mách là thủ đô của Sy-ri, một trong những kẻ thù truyền kiếp của dân Do-thái. A-mốt lên án Sy-ri vì họ đối xử tàn nhẫn với những người Y-sơ-ra-ên sống ở Ga-la-át, bờ đông sông Giô-đanh. Họ đã chà đạp những người Y-sơ-ra-ên như thể đạp lúa. Đức Chúa Trời đã mượn tay người Sy-ri trừng phạt Y-sơ-ra-ên (IIVua 10:32-33; IIVua 13:1-9), nhưng người Sy-ri đã đi quá xa.
Người nào bắt đầu lời cầu-nguyện của mình rằng: ”Lạy Chúa, chắc Ngài đã biết qua tờ báo sáng nay…” hẳn đang hiểu cách vụng về một lẽ-thật cao cả: Đức Chúa Trời biết các nước đối đãi với nhau thế nào và Ngài có cách đáp trả thích đáng.
Benjamin Franklin phát biểu trong Hội Nghị Lập Hiến rằng, “Tôi đã sống một thời gian dài, và càng sống lâu, tôi càng nhận ra những bằng-chứng thuyết phục hơn về lẽ-thật nầy - đó là Đức Chúa Trời kiểm soát mọi việc của con người.”
Câu, “Ta sẽ sai lửa đến” (Am 1:4,7,10,12,14; Am 2:2,5) có nghĩa là “Ta sẽ giáng hình phạt xuống”; vì lửa tượng-trưng cho sự thánh-khiết và sự trừng-phạt của Đức Chúa Trời (Phuc 4:11,24,36; Hêb 12:29). Thật vậy, Đức Giê-hô-va đã trừng-phạt Sy-ri: triều đại của vua Ha-xa-ên kết thúc; con trai ông là Bên-Ha-đát thất bại; Đa-mách không còn sức mạnh của nó (việc buôn bán diễn ra tại cổng thành, Am 1:5) và “nhà Ê-đen” (“sự vui-mừng, thiên-đường” bị đổ nát.
Vua Giô-sia đánh bại Bên-Ha-đát 3 lần (IIVua 13:25), nhưng cuối cùng chính dân A-si-ri đã chinh-phục Sy-ri và bắt họ đi lưu đày.
• Phi-li-tin (Am 1:6-8).
Ga-xa, Ách-đốt, Ách-kê-lôn, Gát và Ếch-rôn là năm thành chính của dân Phi-li-tin (Gios 13:5), và A-mốt đã lên án tất cả các thành đó vì tội kiếm tiền trên mạng sống của con người .
Họ đã tấn công các ngôi làng của người Do-thái và bắt dân chúng ở đó đem bán làm nô-lệ. Để càng gây tổn thương hơn, người Phi-li-tin đã bán những nô-lệ nầy sang nước thù địch của Y-sơ-ra-ên, nước Ê-đôm. Vì Ê-đôm là con cháu của Ê-sau, anh của Gia-cốp, đây chính là trường hợp em làm nô-lệ cho anh. (Đức Chúa Trời đôi điều nói với Ê-đôm trong Am 1:11-12).
Xuyên suốt lịch-sử của Y-sơ-ra-ên cổ xưa, tình trạng nô lệ có tồn tại, nhưng Luật-Pháp Môi-se có quy định rõ ràng về cách đối đãi với nô-lệ. Luật-lệ nầy cho phép có nô-lệ, đồng thời cũng bảo vệ người nô-lệ.
Tuy nhiên, bắt tù binh chiến tranh làm nô-lệ khác với bắt người vô-tội đem bán như loài gia súc. Chúa Giê-xu và cả các sứ-đồ không công-khai lên án tình-trạng nô-lệ, có nói rõ rằng tất cả mọi người đều là tội-nhân được Đức Chúa Trời yêu-thương và tất cả những người được cứu đều bình-đẳng với nhau trong Chúa Cứu Thế (Ga 3:26-29).
Phải mất nhiều thế kỷ ánh sáng của Phúc-Âm mới xua tan được sự tối tăm nầy và nhờ vậy, tình trạng nô-lệ không còn hợp pháp nữa, mặc dù ở một vài nơi trên thế giới người ta vẫn còn bị lạm dụng và bóc lột.
Sự đoán-phạt của Đức Chúa Trời giáng trên Phi-li-tin vào thời vua U-xia (IIVua 18:7-8) và kẻ xâm lược A-si-ri trong thời của Sa-gôn và dân Ba-by-lôn trong thời Nê-bu-cát-nết-xa. Chính những người chủ nô-lệ đã bị bắt lưu đày là trở thành những người nô-lệ.
• Ty-rơ (Am 1:9-10).
A-mốt chuyển hướng từ Đa-mách ở phía Đông Bắc sang các thành của Phi-li-tin ở phía Tây Nam, và lúc nầy ông nhắm thẳng hướng Bắc về phía Phi-ni-xi và thành phố chính của nó, Ty-rơ.
Trong thời trị-vì của Đa-vít và Sa-lô-môn, Y-sơ-ra-ên có quan-hệ thân mật với dân Ty-rơ (IVua 5:1). A-mốt gọi nó là “sự giao-ước anh em”, ngụ ý rằng mối quan-hệ ấy vượt hơn một sự kết-giao bình thường, nhưng là một mối tâm-giao thân mật. Dù dân-sự ở các nước không nhất trí với nhau về những tập tục tôn-giáo hoặc cơ cấu chính trị, nhưng họ vẫn có thể đối xử với nhau bằng tình người.
Nhưng Ty-rơ đã phạm cái tội mà các thành của Phi-li-tin đã phạm, họ đã bán người Do-thái sang Ê-đôm làm nô lệ (Am 1:6-8). Khi tiên-tri Ê-xê-chi-ên viết bài ai-ca về sự sụp đổ của thành Ty-rơ, ông có đề-cập tội ác nầy (Êxe 27:13). Nhưng tội của Ty-rơ còn nặng hơn của Phi-li-tin vì Ty-rơ đã vi phạm một giao-ước lâu đời đặt trên nền-tảng tình bạn và sự tôn-trọng giữa con người với nhau. Ty-rơ đã bán những người bạn của mình làm nô-lệ!
Sự đoán-phạt giáng xuống năm 332 T.C khi A-léc-xan-đơ Đại đế san bằng thành Ty-rơ và khiến nó trở thành chỗ để người ta phơi lưới (Êxe 26:5,14). ”Dù các cối xay của Đức Chúa Trời xay từ từ, nhưng chúng xay thật nát”.
Khi Rudyar Kipling xuất bàn tập thơ “Recessional” trong “Lễ Kỷ Niệm lần thứ 60” của Hoàng Hậu Victoria năm 1897, ông đã dùng Ty-rơ để cảnh cáo những người dân nào chống nghịch ý muốn của Đức Chúa Trời và ngược đãi những con người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời.
”Far-called our navies melt away
On dune and headland sinks the fire
Lo, all our pomp of yesterday
Are one with Nineveh and Tyre!
(Những chiến hạm xa xưa của chúng ta bị nhấn chìm mất dấu, và tất cả sự vinh-quang ngày hôm qua rồi sẽ giống như Ni-ni-ve và Ty-rơ!)”
• Ê-đôm (Am 1:11-12).
Dân Ê-đôm ấp-ủ mối thâm thù với dân Do-thái từ lâu, họ không quên sự tranh cạnh giữa Gia-cốp và Ê-sau từ trước khi hai anh em song sinh ấy ra đời (Sa 25:21-26). Trong ý muốn tối-thượng của Ngài, Đức Chúa Trời đã chọn người em là Gia-cốp để nhận lãnh những ơn huệ của quyền trưởng nam và Giao-ước với Áp-ra-ham (Ma 1:2-3; Rô 9:6-13).
Ê-sau đã khinh dể sản nghiệp thuộc-linh và sẵn sàng bán quyền trưởng nam cho Gia-cốp (Sa 25:29-34; Hêb 12:14-17); nhưng vì Gia-cốp bày mưu và giành của Ê-sau sự chúc phước của cha (Sa 27:1-46), Ê-sau đã thề sẽ giết chết Gia-cốp.
Về sau họ có giảng hòa, nhưng sự thù hằn không hề chấm dứt (Sa 33:1-17). Trong phạm vi của Kinh Thánh, chúng ta thấy lần cuối cùng hai anh em nầy gặp nhau là trong lễ tang, họ đã chôn cha của mình, nhưng không chôn theo đó sự cay đắng của họ với nhau (Sa 35:27-29).
Người Ê-đôm đã không cho người Do-thái, các anh em họ của mình, đi ngang qua xứ khi dân Do-thái hành quân đến Đất Hứa Ca-na-an (Dan 20:14-21). Vua Sau-lơ đàn áp đội quân Ê-đôm (ISa 14:47) và Đa-vít đã chinh-phục họ (IISa 8:14), nhưng trong thời Giô-ram, Ê-đôm đã nổi dậy chống nghịch Giu-đa và giành được tự do (IIVua 16:22).
A-mốt đã lên án dân Ê-đôm vì mối thù địch dai dẳng của họ đối với dân Do-thái, tiên-tri A-mốt mô-tả mối thù nầy là “cơn giận” và “thạnh nộ” (Am 1:11). Chúng ta không biết dân Ê-đôm đã cầm gươm đuổi theo dân Do-thái khi nào. Có thể sự-kiện đó xảy ra một trong nhiều lần các kẻ thù xâm lấn xứ.
Khi dân Ba-by-lôn tấn công và đánh chiếm Giê-ru-sa-lem, dân Ê-đôm đã tiếp tay cho kẻ thù nầy để trút giận (Ap 1:10-14; Thi 137:7). Chúng ta tưởng rằng anh em sẽ giúp nhau trong hoạn nạn, nhưng dân Ê-đôm đã “bỏ cả lòng thương-xót; (Am 1:11) và đã hành động như loài cầm th ú không phải là con người”. Câu “cơn giận nó cứ cắn xé” (Am 1:11) sử dụng động từ mô-tả con thú đang cắn xé con mồi (Thi 7:2 Sa 37:32).
Teman và Bozrah là những thành hùng mạnh nhưng ngày nay không còn tồn tại. Dân Ê-đôm đã “ở trong khe vầng đá” và “lót ổ giữa các ngôi sao” (Ap 1:3-4), và khoe khoang rằng các đồn lũy của họ không gì lay chuyển; nhưng Đức Giê-hô-va tiêu diệt nó hoàn toàn đến nỗi không còn lại dấu tích gì ngoài những đống đổ nát. Khi người La-mã tấn công Giê-ru-sa-lem năm 70 S.C, họ phá hủy tất cả những gì còn lại của dân-tộc Ê-đôm và nước Ê-đôm không còn nữa.
• Am-môn (Am 1:13-15).
Dân Am-môn và Mô-áp (Am 2:1-3) là con cháu của Lót từ sự mối quan-hệ loạn luân của ông với các con gái mình (Sa 19:30-38).
Họ là những dân độc ác, công khai thù nghịch với dân Do-thái (Phuc 23:3-6; ISa 11:2; Nêh 2:10-19; Giê 40:14; Giê 41:5-7). Để mở rộng lãnh thổ của mình, họ đã xâm chiếm Ga-la-át; không dừng lại ở việc tấn công những người nam, dân Am-môn còn giết hại phụ nữ và những trẻ em chưa kịp ra đời (IIVua 8:12; IIVua 15:16). Đối với dân Am-môn, đất đai quan-trọng hơn con người, kể cả những phụ nữ yếu đuối và trẻ em vô-tội. Sự tàn ác nầy thật gớm ghiếc đối với chúng ta, nhưng “chiến tranh ngày nay” có gì tốt đẹp hơn?
A-mốt loan báo rằng sự đoán-phạt sẽ như cơn bão dữ dội đổ trên dân Am-môn và thủ đô của nó (Rap-ba) sẽ bị phá huỷ. Điều nầy xảy ra khi quân A-si-ri kéo đến càn quét nó vào năm 734 T.C. Không chỉ A-mốt nói tiên-tri về sự phá hủy nầy, mà Ê-xê-chi-ên cũng nói (Êxe 25:1-7). Thần chính của dân Am-môn là thần Mô-lóc (Malcham, Milcom), có nghĩa là “vua, người cai-trị”. Am 1:15 có thể được dịch là “Mô-lóc…sẽ đi làm phu tù”, vì vậy cho thấy thần của họ không thể cứu được họ.
• Mô-áp (Am 2:1-3).
Sự thù địch giữa Mô-áp và Y-sơ-ra-ên bắt đầu từ rất lâu khi dân Mô-áp không cho dân Do-thái đi ngang qua đường cái của họ (Phuc 23:3-4 Cac 11:17). Vua Mô-áp cũng từng bắt chước Ba-la-am rủa sả Y-sơ-ra-ên (Dan 22:24), và sau đó các người nữ Mô-áp đã quyến rũ người nam Do-thái để rồi người Do-thái đã phạm-tội tà-dâm và thờ thần-tượng (Dân 25:1-18). Trong thời Các Quan-Xét, Y-sơ-ra-ên phải lệ thuộc dân Mô-áp trong 18 năm (Cac 3:12-30).
Tội của Mô-áp là gì? Khinh thường người chết và lòng trung thành. Chúng ta không biết hài cốt của vua nào bị đem ra làm nhục như vậy, nhưng việc làm của họ đã hạ thấp vua và dân-tộc Ê-đôm. Dân nước Mỹ sẽ cảm thấy thế nào nếu có ai đào thi hài của John F. Kennedy lên và sỉ nhục nó? Hay người Anh sẽ cảm thấy ra sao nếu thi thể của một người nổi tiếng trong Tu Viện Westminster bị lấy trộm và bị đem ra lăng mạ?
Trong xã hội ngày nay, người ta cũng tỏ-lòng kính-trọng những người đã chết, nhưng các dân-tộc phương Đông ngày xưa còn bảo vệ những người đã chết hơn nữa. Thấm nhuần những tập tục dị đoan của người ngoại giáo, họ chôn cất người chết thật cẩn thận để linh-hồn của người ấy tồn tại trong thế giới bên kia. Những người thân của người chết thường viết trên mộ những lời rủa sả để cảnh cáo những ai có ý định mở cửa mộ.
A-mốt công bố rằng vua Mô-áp và các quan chức đều phạm-tội và sẽ bị hủy diệt, cùng với các thành của nó7. Mô-áp bị quân A-si-ri chiếm, và đất của nó trở thành nhà của nhiều bộ-tộc du-mục. Nước Mô-áp không còn tồn tại. (Về những lời tiên-tri khác về sự diệt vong của Mô-áp, xem Ês 15:1-16:14; Giê 48:1-47; Êxe 25:8-11; So 2:8-11).
Trước khi chúng ta nghe sứ-điệp của Đức Chúa Trời dành cho Giu-đa và Y-sơ-ra-ên, chúng ta nên dừng lại một chút để suy gẫm những sứ-điệp dành cho 6 dân Ngoại mà chúng ta vừa nghiên-cứu. Đức Chúa Trời muốn các dân Ngoại bang nầy lắng nghe tiên-tri Do-thái nầy và lưu tâm đến lời của ông! Dù không sống dưới Luật-Pháp của Môi-se, nhưng các dân nầy phải có trách-nhiệm với Đức Chúa Trời vì những gì họ đã làm; và phải giải trình trước Ngài những việc ấy. Đức Chúa Trời nhìn xem những việc làm của các dân-tộc, và Ngài phán-xét họ cách thích đáng.
Tin tức từ khắp nơi trên thế giới ngay nay có thể tạo cho người ta ấn-tượng rằng các lãnh đạo gian ác và những nhóm người bạo động đang thoát khỏi những tội ác mình, nhưng Đức Chúa Trời vẫn trên ngai của Ngài và trừng phạt những kẻ làm ác đúng lúc theo ý định của Ngài. Chính Đức Chúa Trời đang điều khiển sự thăng trầm của các nước (Công 17:24-28), và sự đoán-phạt của Ngài luôn luôn công-bình.
-Am 2:1-3; xem giải nghĩa Am 1:2-14.
2. Sự đoán phạt nước Giu-đa (Am 2:4-5)
Trong sáu sứ-điệp của mình, A-mốt công bố về sự đoán phạt trên các nước xung quanh Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, bắt đầu là Sy-ri ở phía Tây Bắc và kết thúc là các nước phía Đông sông Giô-đanh như Am-môn, Mô-áp và Ê-đôm. (Những trang sau của quyển Kinh Thánh của bạn có thể có bản đồ của đất nước bị chia cắt). Khi dân Do-thái nghe được những lời công-bố về các dân ngoại bang, chắc chắn họ hài lòng lắm và muốn nghe thêm nhiều hơn nữa. Nhưng khi A-mốt nhắm vào Y-sơ-ra-ên và Giu-đa (xứ sở của chính ông), thái độ của họ thay đổi hoàn toàn.
Một tiên-tri Do-thái đã phân loại tuyển dân Đức Chúa Trời chung với “con chó” ngoại bang! Có thể dân Giu-đa sẽ tranh cãi rằng, “Chúng tôi biết mình không phải là một dân-tộc trọn-vẹn, nhưng ít nhất chúng tôi cũng thờ-phượng một Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống!”.
Đúng vậy, đền thờ đông nghẹt những người đến dâng của lễ, nhưng Giu-đa là nước sa đà vào thói thờ thần-tượng. “Những sự giả dối mà tổ phụ chúng nó đã theo, làm lầm lạc chúng nó” (Am 2:4).
Họ đang đi thơ thẩn như những con thú lạc đường như những người say rượu. Dân ngoại bang đã phạm-tội với lương-tâm v à phép-tắc trong tình anh em và tình người, nhưng dân Do-thái đã khinh dể và khước từ luật-pháp của Đức Chúa Trời, đã ban cho họ qua Môi-se. Tội của họ còn nặng hơn, vì đặc ân càng lớn luôn đi đôi với trách-nhiệm càng cao (Rô 2:17-3:9).
Đức Chúa Trời thường phạt dân-sự Ngài trong xứ của họ bằng cách cho phép các nước khác tấn công và đánh bại họ, nhưng giờ Ngài phạt họ ở ngoài xứ. Quân Ba-by-lôn sẽ phá huỷ Giê-ru-sa-lem và bắt hàng ngàn người sang Ba-by-lôn, ở đó họ sẽ sống giữa cộng động thờ thần-tượng trong 70 năm. Tuy nhiên, không giống sáu nước ngoại bang, theo lời A-mốt công-bố, Giu-đa sẽ không bị tận diệt nhưng được chừa lại. Trong ơn thương-xót của Ngài, Đức Chúa Trời sẽ cho dân sót trở về lập nước và xây lại đền thờ.
Một tín-đồ trong Hội thánh nói với mục-sự,
“Tôi không biết tại sao mục-sư hay nói về tội-lỗi của Cơ-đốc nhân. Dù thế nào thì tội-lỗi của Cơ-đốc nhân cũng khác với tội-lỗi của người chưa được cứu”.
“Đúng vậy, chúng nặng hơn!” Vị mục-sự đáp.
3. Sự đoán-phạt trên nước Y-sơ-ra-ên (Am 2:6-16)
Cả hai nước Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đang hòa-bình và thịnh vượng, và sự đoán-phạt của Chúa là điều xa vời trong suy nghĩ của họ. Nên nhớ, niềm tin của dân Do-thái đánh đồng sự thịnh vượng với ơn phước của Đức Chúa Trời; và bao lâu dân-sự được cuộc sống dễ chịu, họ chắc rằng Đức Chúa Trời đang đẹp lòng vì họ. Họ biết Luật-Pháp nói thế nào về tội-lỗi, nhưng họ phớt lờ những lời cảnh-cáo đó.
- Đầu tiên, A-mốt vạch trần hiện tại tội-lỗi của họ và nêu ra 3 tội rõ ràng nhất. Bắt đầu là tội bất-công mà Vương Quốc Phía Bắc đã phạm (Am 2:6-7a). Dưới sự che chắn của những quan-xét tham ô, người giàu mặc tình thưa kiện những người nghèo không thể trả nợ và bắt họ làm nô-lệ. Dù người nghèo không thể trả tiền cho một đôi dép, họ cũng được tha hoặc giúp đỡ. Nhưng họ bị chà đạp như bụi dưới đất. Tiếp theo chúng ta sẽ thấy tiên-tri A-mốt nói nhiều về sự quan tâm đến người nghèo (Am 4:1-13; Am 5:11; Am 8:6; Phuc 15:7-11; Xu 23:6-9; Ch 14:31; Ch 17:15).
- Tội thứ hai của họ là hành vi đồi bại (Am 2:7), cha và con cùng ăn ở với một con điếm! Đây có thề là “những gái điếm” trong tập tục thờ-phượng của một số dân ngoại. Như vậy có một tội kép ở đây, vừa đồi bại vừa thờ thần-tượng. Hoặc đứa con gái nầy là một đầy tớ hay một con điếm bình thường. Ta mong rằng những người cha ấy phải làm gương tốt cho con trai mình trong sự vâng-giữ Luật-Pháp Môi-se (Xu 22:28-29; Xu 23:17-18).
Có lẽ những gì được mô tả ở đây là một sự loạn luân, và dĩ nhiên là hành vi bị Môi-se ngăn cấm tuyệt đối (Lê 18:7-8,15; Lê 20:11-12). Không nói đến sự không vâng-phục, nó là tội chống nghịch với Đức Chúa Trời và làm ô danh thánh của Ngài.
- Tội thứ ba là công-khai thờ thần-tượng (Am 2:8). Người giàu lấy áo của con nợ làm vật thế chấp nhưng không trả lại cho họ trước khi mặt trời lặn như luật-pháp đã quy định (Xu 22:26-27; Phuc 24:10-14,17). Nhưng, người giàu nầy đã đến bàn thờ của các thần ngoại đạo, ở đó họ uống rượu say sưa và mua bán bằng tiền phạt mà họ thu từ người nghèo.
Rồi, trong lúc lơ mơ say đó, họ đã nằm ngủ gần các bàn thờ và trên áo xống của người khác, làm ô uế áo xống ấy và bất tuân luật-pháp. Những quan chức kiếm tiền bắng cách bóc lột dân chúng, và dùng của bất nghĩa ấy cho những hành vi tội-lỗi của mình.
- Sau khi mô-tả hiện tại tội-lỗi của họ,
A-mốt nhắc họ nhớ quá-khứ vinh-quang (Am 2:9-12). Đức Chúa Trời đã dẫn dân-sự Ngài ra khỏi Ai-cập (câu 10a), chăm sóc họ trong đồng vắng (c.10b), và tiêu diệt các nước để dân Do-thái có thề giành được sản nghiệp mình trong Ca-na-an (c.9,10). Ngài đã ban cho họ Lời Ngài qua các tiên-tri được chọn (câu 11a), và dấy lên những người tận tụy như người Na-xi-rê (Dân 6:1-27) để làm gương về sự tận-hiến cho Đức Chúa Trời.
Quá khứ của họ thật vinh-quang! Nhưng thay vì khiêm-nhường trước những ơn lành đó, dân-sự đã chống nghịch Đức Chúa Trời, khước từ những sứ-điệp của các tiên-tri và bắt những người Na-xi-rê vi phạm lời thề thiêng-liêng của họ. Dân Do-thái không ham thích Lời Đức Chúa Trời cũng không sống tin-kính Chúa để làm gương.
A-mốt kết thúc sứ-điệp nầy với lời công-bố về một tương lai kinh khủng của họ (Am 2:13-16). Y-sơ-ra-ên sẽ bị chèn ép vì tội-lỗi của họ như xe bò chở nặng đè nát bất cứ gì nó đi qua. Sự đoán-phạt sẽ giáng xuống, và không ai có thể trốn thoát. Kẻ nhanh nhẹn không thể chạy thoát; kẻ mạnh không thể bảo vệ chính mình; quân đội sẽ yếu hèn như kẻ bị tước vũ khí; và cả những người cỡi ngựa cũng không thể chạy trốn. Những binh lính gan dạ nhất sẽ tháo chạy tứ tung bỏ lại vũ khí và áo xống mình. Thật vậy, quân A-si-ri sẽ xâm chiếm Y-sơ-ra-ên (720 T.C) và nước ấy không còn nữa.
A-mốt nhìn xung quanh bằng đôi mắt của một tiên-tri được ơn, và ông loan báo những việc Đức Chúa Trời sẽ làm trên sáu nước ngoại bang và 2 nước Giu-đa và Y-sơ-ra-ên. Sư tử gầm thét! Tiếp theo, tiên-tri A-mốt sẽ nhìn vào à phơi bày sự thối nát trong lòng của người Do-thái bằng cách giải thích 4 sự kêu gọi thánh.
Nhưng trước khi chúng ta xét qua 4 sự kêu-gọi nầy, chúng ta cần dừng lại để xét chính mình, chúng ta có thật kính-sợ Đức Chúa Trời và vâng-theo ý muốn Ngài hay chưa. Chỉ bởi chúng ta hưởng được yên-bình và thịnh vượng, thì không có nghĩa là Đức Chúa Trời đang đẹp lòng vì chúng ta. Vì lẽ đó, sự tốt lành của Đức Chúa Trời phải khiến chúng ta ăn-năn, như đứa con hoang đàng quay về cùng cha mình (Lu 15:17; Rô 2:4)
“Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán.Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình. Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!” (Hêb 10:30-31).
Tuy vậy, chúng ta có thể bám chặt vào những lời-hứa trong IISu 7:14 và IGi 1:9 và kinh-nghiệm sự tha-thứ của Đức Chúa Trời.
2. LẮNG NGHE CHÚA PHÁN (Am 3:1-15)
A-mốt bắt đầu nhắm vào dân-sự, và ông tiếp tục rao ra 3 sứ-điệp khác, mỗi sứ-điệp được mở đầu câu kêu-gọi “Hãy nghe lời nầy” (Am 3:1; Am 4:1; Am 5:1). A-mốt sử dụng câu nầy để nhắc họ nhớ rằng họ không chỉ đang nghe một con người bình thường diễn thuyết; họ đang nghe một tiên-tri rao báo lời hằng sống của Đức Chúa Trời.
Thật phước hạnh biết bao khi có Đức Chúa Trời phán với chúng ta, nhưng đó cũng là một trách-nhiệm lớn dành cho chúng ta. Nếu chúng ta không mở-lòng mình để nghe Lời Chúa và vâng-phục Ngài, chúng ta đang có nguy cơ cứng-lòng và gánh chịu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng, như lúc nổi loạn” (Hêb 3:7-8; Thi 95:7-11)
- Sứ-điệp thứ nhất (Am 3:1-15) là một lời giải thích, trong đó A-mốt diễn giải 4 sự kêu gọi thánh và công-bố sự đoán-phạt trên Y-sơ-ra-ên là điều chắc chắn.
- Sứ-điệp thứ hai (Am 4:1-13) tập trung vào sự kết tội, trong đó tiên-tri vạch trần những tội-lỗi của Y-sơ-ra-ên.
- Sứ-điệp cuối cùng (Am 5:1-6:14) là lời than khóc khi tiên-tri cảm được nỗi thống khổ trong ngày đất nước bị diệt vong.
Trong s ứ-điệp thứ nhất của mình, A-mốt giải thích ý nghĩa của 4 sự kêu gọi thánh.
1. Đức Chúa Trời kêu gọi Y-sơ-ra-ên (Am 3:1-2)
Sứ-điệp nầy được rao ra cho “cả họ hàng”, tức là cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa; vì cả hai nước nầy đều phạm-tội không vâng-giữ Luật-Pháp thánh-khiết của Đức Chúa Trời. A-mốt nhắc rằng họ được kêu-gọi làm dân-sự của Đức Chúa Trời, nhưng họ đã dễ dàng khinh lời và quên lãng sự kêu-gọi đó.
Sự kêu-gọi mà Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên thuộc loại nào? Bắt đầu là sự kêu-gọi bởi ân-điển vì Đức Chúa Trời đã chọn họ mà không chọn dân nào khác để nhận lãnh những ân-tứ đặc biệt của Ngài.
“Vì ngươi là một dân-thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; Ngài đã chọn ngươi trong muôn dân trên mặt đất, đặng làm một dân thuộc riêng về Ngài. Đức Giê-hô-va tríu mến và chọn lấy các ngươi, chẳng phải vì các ngươi đông hơn mọi dân khác đâu; thật số các ngươi là ít hơn những dân khác. Nhưng ấy vì Đức Giê-hô-va thương-yêu các ngươi, và giữ lời thề m à Ngài đã lập cùng tổ-phụ các ngươi” (Phuc 7:6-8; Phuc 19:1-5).
Nguyên-tắc về sự chọn lựa đặc biệt nầy cũng áp-dụng cho Hội thánh. Chúa Giê-xu phán, “Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn ta, bèn là ta đã chọn và lập các ngươi” (Gi 15:16), và Phao-lô nhắc Hội thánh Cô-rinh-tô rằng: “(những người được gọi)… không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng” (ICôr 1:26,29). Đức Chúa Trời chọn chúng ta trong Chúa Cứu Thế trước khi sáng lập nên thế-gian nầy (Êph 1:4), và đó đơn thuần là hành động của ân-điển.
Sự kêu-gọi của Đức Chúa Trời cũng là sự kêu-gọi có hiệu lực (Am 3:1), vì Đức Giê-hô-va bày tỏ quyền-năng lớn lạ của Ngài khi giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô-lệ của Ai-cập. Huyết của chiên con đã bảo vệ dân Do-thái khỏi sự chết, và họ được đem qua Biển Đỏ, cách biệt khỏi Ai-cập đời-đời.
Cơ-đốc nhân ngày nay được cứu bởi huyết quý báu của Chúa Cứu Thế (IPhi 1:18-19; IPhi 2:24) và tách biệt khỏi thế-gian vì sự cứu-rỗi vĩ đại của Ngài (Êph 1:19-23).
- Thứ ba, sự kệu-gọi dành cho họ là sự kêu-gọi độc nhất (Am 3:2). “Ta đã biết chỉ một mình các ngươi trong mọi họ hàng trên đất”. Từ “biết”mô-tả mối liên-hệ thân mật, như mối liên-hệ giữa chồng và vợ mình (Sa 4:1). “Biết” có nghĩa là “chọn” (Sa 18:19; Gie 1:5; Gie 2:2-3), Phao-lô đã áp-dụng thuật ngữ nầy cho các Cơ-đốc nhân (Rô 8:29). Vì họ là dân-tộc biệt riêng cho Đức Giê-hô-va, nên Ngài làm cho họ những điều mà Ngài không bao giờ làm cho các nước khác (Rô 9:4-5).
- Cuối cùng, đó là sự kêu gọi có liên quan đến trách-nhiệm (Am 3:2). Vì Ngài đã chọn họ, kêu gọi họ, và ban phước cho họ, dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa phải có trách-nhiệm yêu mến và vâng-phục Ngài. Nếu họ không như vậy, Đức Chúa Trời có trách-nhiệm sửa phạt họ trong tình yêu-thương và đem họ trở về bên Ngài.
Thuyết về sự chọn-lựa thánh không phải là sự biện minh cho tội-lỗi; đúng hơn nó là động lực để sống một đời sống thánh-khiết. Chúng ta phải khiêm-nhường trước ân-điển của Ngài và kinh ngạc trước tình yêu-thương của Ngài (IGi 3:1-2) đến nỗi lòng chúng ta không muốn làm gì khác hơn là thờ-phượng và hầu-việc Ngài.
Đặc ân luôn kèm theo nó trách-nhiệm (Êph 1:3-5; Gi 15:16; IPhi 2:4-5:9). “Vì ai đã được ban cho nhiều, thì sẽ bị đòi lại nhiều; và ai đã được giao cho nhiều, thì sẽ bị đòi lại nhiều hơn” (Lu 12:48).
Là dân được chọn của Đức Chúa Trời, chúng ta phải sống xứng đáng với sự kêu-gọi đó (Êph 4:1) và không làm theo những tập tục của thế-gian chưa được cứu (c.7). Điều nầy có nghĩa là sống trong tình yêu-thương (Êph 5:2), trong sự khôn-ngoan (c.15) và trong Thánh Linh (c.18). Làm điều gì không xứng đáng là sống không xứng đáng với sự kêu-gọi cao cả và những đặc ân mà chúng ta có được khi làm con cái của Đức Chúa Trời.
2. Đức Chúa Trời kêu-gọi A-mốt (Am 3:3-8)
Trong thời điểm nầy, dân chúng có thể nói với nhau, “Người nông dân thô kệch kia là ai mà ông ta rao-giảng cho chúng ta và xưng là tiên-tri của Đức Chúa Trời? Ông ta nghĩ mình có quyền hạn gì chứ?” A-mốt còn dám tự động đến đền thờ nhỏ của vua tại Bê-tên, và trong lần đó thầy tế-lễ của vua Giê-rô-bô-am đã bảo A-mốt trở về Giu-đa mà rao-giảng (Am 7:10-16).
Chắc chắn khi D.L.Moody bắt đầu rao-giảng, một số người đã nói, “Người bàn giày vô học kia có thể nói cái gì với chúng ta?” và khi Billy Sunday bắt đầu tổ-chức những chiến dịch truyền-giảng Phúc-Âm, rất có thể đám đông tín-đồ giả hình đã hỏi, “Ông cựu cầu thủ bóng rổ nầy có thể dạy điều gì cho chúng ta?”.
Nhưng Đức Chúa Trời sử dụng Moody và Sunday, không phải dù tình trạng hèn mọn của họ nhưng vì sự hèn mọn của họ; vì Ngài thích bỏ qua “kẻ khôn-ngoan, người sáng dạ” và chia-sẻ quyền-năng Ngài với “trẻ nhỏ” (Lu 10:21)
A-mốt đáp lại lời chế giễu của họ bằng những lý-lẽ đi từ kết quả đến nguyên nhân. Nếu hai người muốn đi chung với nhau, họ phải định ngày giờ và nơi chốn gặp nhau (Am 3:3). Nếu sư tử gầm thét, vì nó bắt mồi (c.4). Nếu bẫy sập, thì con chim bị mắc vào đó (c.5); và nếu dân trong thành kinh sợ, chính là vì kèn đã trổi tiếng để cảnh-báo mối nguy hiểm (c.6). Có nhiều biến-cố hiển nhiên trong đời sống mà bất kỳ người nào cũng nhận ra.
Và đây là sự công-kích cuối cùng: Nếu người nông dân quê mùa chưa qua trường lớp nầy đang rao-giảng Lời Đức Chúa Trời, có nghĩa là Đức Chúa Trời đã kêu-gọi ông. Đây không phải là năng khiếu mà A-mốt chọn-lựa cho mình; chính Đức Chúa Trời chọn ông cho công việc đó. Ông đã nói, “Ta không phải là đấng tiên-tri, cũng không phải con đấng tiên-tri; nhưng ta là một kẻ chăn, sửa soạn những cây vả rừng. Đức Giê-hô-va đã bắt lấy ta từ sau bầy, và Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đi nói tiên-tri cho dân Y-sơ-ra-ên ta” (Am 7:14-15).
Khi một tiên-tri công-bố Lời của Đức Chúa Trời, đó là vì Ngài sắp sửa làm một điều gì đó quan-trọng và muốn cảnh cáo dân-sự Ngài (Am 3:7).
Nhìn lại những hình ảnh A-mốt sử dụng trong câu 3-6, bạn sẽ thấy được loại công việc mà Đức Chúa Trời kêu gọi A-mốt làm. Vì chúng ta đang bước đi với Đức Chúa Trời, ông biết những tâm-tư của Ngài. “Đức Giê-hô-va kết bạn thiết cùng người kính-sợ Ngài, tỏ-cho người ấy biết giao-ước của Ngài” (Thi 25:14).
• Sư tử đang gầm thét.
“Khi sư tử gầm thét, thì ai mà chẳng sợ? Khi Chúa Giê-hô-va đã phán dạy, thì ai m à chẳng nói tiên-tri?” (Am 3:8). Đức Chúa Trời sắp sửa làm cho bẩy sập xuống: Y-sơ-ra-ên sẽ bị quân A-si-ri càn quét, và Giu-đa sẽ bị lưu đày sang Ba-by-lôn. A-mốt đang thổi kèn cảnh-báo và chuẩn bị dân-sự cho sự đoán-phạt sắp xảy đến.
A-mốt nêu rõ quan-điểm của mình. Không phải ngẫu nhiên mà ông đi công-bố sứ-điệp của Đức Chúa Trời, nhưng vì Ngài đã kêu-gọi ông. Và không phải ngẫu nhiên Y-sơ-ra-ên và Giu-đa gánh chịu sự đoán-phạt, nhưng vì họ đã phạm-tội cùng Đức Chúa Trời. Vì trước mỗi hậu quả đều có một nguyên nhân.
Điều gì khiến A-mốt rao giảng Lời Đức Chúa Trời? Chính vì sự kêu-gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống ông.
Lịch-sử Kinh Thánh và lịch-sử Hội thánh đều chứng-minh Đức Chúa Trời có thể sử dụng nhiều người khác nhau để chăn dắt dân-sự Ngài. Ngài đã sử dụng người có học như Môi-se, một người chăn khiêm-nhường như Đa-vít, một thầy tế-lễ như Giê-rê-mi, và những người đánh cá bình thường như Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng, rồi đến Charles Finney và C.I. Scofield từng theo học ngành luật, John Buynan là thợ sửa ấm chén, xoong nồi, và D.Martyn Lloyd-Jones là một thầy thuốc. Ngoài ra còn có những người nữ được Đức Chúa Trời đại dụng -Catherine Booth, người sáng lập hội Salvation Army; Amy Carmichael, người giải thoát cho những trẻ em bị ngược đãi; Lina Sandell, Fanny Crosby, và Avis B.Christiansen, những tác-giả của các bài thánh ca hay - và bạn có thể thấy Đức Chúa Trời kêu-gọi, trang bị, và sử dụng tất cả những ai đầu-phục Ngài và để Ngài hành động theo ý muốn của Ngài.
A-mốt là một sự khích-lệ cho những tín-đồ nào cảm thấy mình không xứng đáng để hầu-việc Đức Chúa Trời. Ông là một thường dân, không được đào tạo trong trường của các tiên-tri. Ông học biết lẽ-thật thuộc-linh khi ông tương-giao với Đức Chúa Trời trong những lúc chăn bầy và trồng cây. Ông tự học?Đúng vậy, nhưng chinh Đức Chúa Trời là giáo-sư của ông; và ông sẵn sàng chia-sẻ với người khác những gì Đức Chúa Trời phán với ông.
Robert Murray M’Cheyne đã viết, “Thậm chí giống như Chúa Giê-xu cũng không phải là ta-lâng lớn nhất mà Đức Chúa Trời ban Chúa cho”.
Điều nầy không có nghĩa là hạ thấp tầm quan-trọng của tài năng và học thức, nhưng nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ bỏ qua sự kêu-gọi của Đức Chúa Trời và quên bước đi trong sự tương-giao với Ngài. Chúa Giê-xu phán, “Vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Gi 15:5).
3. Đức Chúa Trời kêu-gọi các chứng-nhân (Am 3:9-10)
Trong thời của mình, tiên-tri Ê-sai đã kêu-gọi các từng trời và đất làm-chứng nghịch cùng Giu-đa (Ês 1:2; Phuc 30:19; Phuc 31:28) và A-mốt kêu-gọi các dân ngoại bang làm-chứng nghịch cùng Vương Quốc Phía Bắc Y-sơ-ra-ên với thủ đô của nó là Sa-ma-ri. Tội-lỗi của Y-sơ-ra-ên lớn đến nỗi làm các nước ngoại bang phải kinh hoàng; vì Y-sơ-ra-ên đang phạm-tội với nguồn của sự sáng (ICôr 5:1).
Thật đau buồn và nhục nhã khi thế-gian chưa được cứu lại có thể kể tội các Cơ-đốc nhân. Điều nầy đã xảy ra 2 lần với Áp-ra-ham khi ông nói dối với các vua ngoại bang về Sa-ra, vợ mình (Sa 12:10-20; Sa 20:1). Sam-sôn bị xấu hổ trước dân Phi-li-tin (Cac 16:1-31), và “tội tà-dâm” của Đa-vít với Bát-sê-ba “đã gây dịp cho những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va nói phạm đến Ngài” (IISa 12:14).
Cuối thập niên 1980, những tai tiếng trong giới mục-sư đã để lại một vết nhơ cho Hội thánh; và hễ khi nào một đầy-tớ nổi tiếng của Đức Chúa Trời sa ngã, tin tức truyền thông dường như thích nói mỗi chuyện đó.
A-mốt kêu-gọi dân Phi-li-tin (“Ách-đốt”, Am 1:8) và dân Ai-cập làm chứng về những việc đang xảy ra tại Sa-ma-ri (c.9). Các lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên không chú tâm vâng-phục Luật-Pháp Đức Chúa Trời và giúp đỡ người nghèo khó.
Nhưng, họ chuyên lo bóc lột người nghèo và tìm cách trục lợi càng nhiều càng tốt. Họ xây nhà cao cửa rộng, trang bị trong đó những tiện nghị đắc tiền, và sống xa hoa trong khi người nghèo trong xứ đang khốn khổ (Am 3:15; Am 4:1; Am 5:11; Am 6:4-6).
Luật-Pháp Môi-se có quy định rõ rằng đất nước phài có bổn phận chăm-lo cho người quá bụa và trẻ mồ-côi, người nghèo và khách lạ (Xu 22:25-27; Xu 23:11; Lê 19:9-15; Lê 25:6,25-30; Phuc 14:28-29; Phuc 15:12-13; Phuc 16:11-14).
A-mốt không phải là một tiên-tri người Do-thái duy nhất lên án người giàu bóc lột người nghèo và bỏ mặc người thiếu thốn, vì bạn sẽ thấy những sứ-điệp tương tự trong Ê-sai (Ês 1:23; Ês 10:1-2), Ê-xê-chi-ên (đoạn 34), Mi-chê (Mi 2:1-2) và Ma-la-chi (Ma 3:5).
Thật là một sự tố cáo mạnh mẽ: “Chúng nó không biết làm sự ngay thẳng” (Am 3:10). Họ bị trói buộc trong sự tham lam và thờ thần-tượng đến nỗi họ không còn biết điều gì là phải lẽ. Giống như nhiều người ngày nay, họ mê làm giàu. Họ không quan-tâm người xung quanh đang túng thiếu thế nào, miễn là họ được giàu có. Vì vậy, trong xứ không thể có sự yên-nghỉ, vì lòng tham thật vô đáy, bao nhiêu của cải cũng không làm thoả mãn lòng ham muốn ấy. Một câu châm-ngôn Trung Quốc nói rằng: “Lấy của cải để làm thỏa mãn lòng tham giống như lấy rơm mà dập lửa”.
Tồi tệ hơn sự tham-lam là tính kiêu-căng của họ. Họ sống trong những thành luỹ nên họ và tài sản của họ được an toàn. Giống người nông dân trong một thí dụ của Chúa Giê-xu (Lu 12:13-21), họ nghĩ mình an ninh, nhưng rồi họ nhận ra của cải không thể ngăn được sự chết. Thái-độ của hội thánh Lao-đi-xê rất thường thấy trong vòng con cái Chúa ngày nay: “Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa” (Kh 3:17).
4. Đức Chúa Trời gọi sự đoán-phạt (Am 3:11-15)
A-mốt loan-báo rằng nước Y-sơ-ra-ên sẽ ngã trước một kẻ thù và thành lớn Sa-ma-ri sẽ bị chiếm đoạt. Chuyện nầy đã xảy ra năm 722 T.C. Khi quân A-si-ri xâm chiếm Y-sơ-ra-ên. dân Y-sơ-ra-ên đã cướp bóc của nhau, nhưng giờ một dân Ngoại bang cướp bóc của họ. Chúng ta sẽ gặt những g ì mình đã gieo.
Để minh họa những việc sẽ xảy ra cho Y-sơ-ra-ên, A-mốt mượn hình ảnh mà ông kinh-nghiệm được khi còn là một người chăn. Theo Xu 22:10-13, nếu con sư tử bắt được con chiên và cắn xé nó ra từng miếng, người chăn phải đem những dấu vết còn lại của con chiên đó để chứng-minh rằng nó thật đã chết (Sa 31:39). Làm như vậy để chủ của bầy chiên ấy tin người chăn chiên không ăn trộm chiên và nói dối với ông. Trong khi A-si-ri càn quét Y-sơ-ra-ên, chỉ một số ít người còn sót lại ở đó. Sư tử sắp gầm thét! (Am 1:2; Am 3:8)
Theo IIVua 17:5, quân A-si-ri đã giết một số người Y-sơ-ra-ên, bắt nhiều người đi, và sau đó đem những tù binh từ các nước khác vào xứ, như vậy hình thành một dân bao gồm nhiều chủng-tộc và tôn-giáo khác nhau. Những người Do-thái còn sống sót trong 10 chi phái của Vương Quốc Phía Bắc đã kết hôn với những người không phải là người Do-thái, và kết quả là sự ra đời của một dân mà chúng ta biết là dân Sa-ma-ri.
Dân Do-thái “chính thống” không thừa nhận “chủng tộc lai” nầy (Gi 4:9) nên người Sa-ma-ri đã lập đền thờ và chức tế-lễ riêng cho mình và tạo thành một tôn-giáo riêng, mà không được Đức Chúa Trời chấp nhận (c.19-24).
A-mốt nói rõ rằng sự xâm chiếm của quân A-si-ri là công việc bởi tay Đức Chúa Trời, vì Ngài trừng phạt Y-sơ-ra-ên vì tội-lỗi của họ (Am 3:14). Tại sao? Vì sự xa hoa ích kỷ của họ và sự thờ thần-tượng cách ngang nhiên của họ. Những người từng được ngủ trên những chiếc giường bằng ngà trong những lâu đài sang trọng sẽ bị bắt lưu đày như những tù binh chiến tranh. Những người giàu từng có cả nhà cho mùa Hè và nhà cho mùa Đông sẽ không có nhà mà ở.
Khi nước Do-thái bị phân chia sau khi Sa-lô-môn băng hà (IVua 12:1-33). Vua Giê-rô-bô-am của Y-sơ-ra-ên không muốn dân của ông đến Giê-ru-sa-lem để thờ-phượng, vì ông sợ họ đến Giu-đa và không bao giờ về lại Y-sơ-ra-ên. Nên ông đã lập những đền miếu với tượng bò con vàng tại Đan và Bê-tên, lập các thầy tế-lễ cho riêng ông, và khuyến-khích dân chúng thờ-phượng tai Y-sơ-ra-ên. Làm trái Luật-Pháp Môi-se, vua còn cho phép dân chúng đến các đền miếu tại địa phương, ở đó họ tự tiện thờ thần nào họ thích.
A-mốt loan báo rằng Đức Giê-hô-va sẽ phá hủy nơi thánh của vua tại Bê-tên (IVua 7:13), điều nầy cho thấy hệ-thống tôn-giáo do con người lập ra ở Y-sơ-ra-ên sẽ bị phá đổ. Không ai còn có thể nắm các sừng bàn thờ để được bảo vệ (IVua 1:50-53), vì các sừng ấy sẽ bị cất đi.
Trong khoảng 2 thế kỷ, trong sự ki ên-nhẫn của Ngài, Đức Chúa Trời đã chịu đựng dân Y-sơ-ra-ên khi họ thờ các thần-tượng của kẻ thù, nhưng giờ sự chịu đựng ấy chấm hết. Thay vì xây về Đức Chúa Trời, dân sót trong xứ đã lập ra những tôn-giáo khác mà Đức Chúa Trời cũng sẽ không thừa nhận. Cho đến thời Chúa Cứu Thế (Gi 4:1-54) và Hội thánh các sứ-đồ (Công 8:1-40) sự chia cắt giữa Giu-đa và Y-sơ-ra-ên (Sa-ma-ri) mới được hàn gắn.
Giống như Y-sơ-ra-ên ngày xưa, các nước ngày nay đánh giá mình bằng sự giàu có, và “Tổng Sản Lượng Quốc Gia” trở thành chỉ số của sự an-ninh và thành công. Người giàu càng giàu hơn và người nghèo càng nghèo thêm khi họ thờ-lạy tượng bò con vàng, thần của tiền bạc, và bóc lột lẫn nhau. Nhưng không cần lâu để Đức Chúa Trời quét sạch các thần-tượng ấy và những của cải hư-không đang cai-trị đời sống dân-sự. Ngài nghe tiếng than khóc cùa người nghèo khổ và sẽ trừng phạt kẻ phạm-tội (Thi 10:14; Thi 69:33; Thi 82:3).
Chưa kết thúc ở đây, A-mốt còn rao ra 2 sứ-điệp khác.
3. NHỮNG TỘI-LỖI TRONG NGƯỜI CÓ ĐỊA-VỊ (Am 4:1-13)
Tôi cùng một mục-sư, bạn tôi, đến nghe một diễn-giả nổi tiếng đang đến thăm nước Mỹ. Sứ-điệp của ông ta thật hùng hồn khi kể ra những tội-lỗi mà theo ông ta chúng đang hủy hoại đất nước của chúng tôi.
Khi chúng tôi lái xe về nhà, bạn tôi nói, “Tôi phải thừa nhận diễn-giả hôm nay rao-giảng một sứ-điệp lớn, và nó đánh động lòng tôi. Nhưng tôi không thích những vị khách từ những nước khác đến đây vạch trần tội-lỗi của người Mỹ. Có thể lắm tội-lỗi ở đất nước của họ còn nhiều hơn ở đất nước chúng ta”.
Tôi không đồng ý với anh bạn ấy. Xét cho cùng, Đức Chúa Trời có toàn quyền sử dụng bất kỳ ai để rao ra bất kỳ sứ-điệp gì ở bất cứ nơi nào mà Ngài muốn. Nhưng tôi tin chắc rằng dân Y-sơ-ra-ên lúc ấy đã có cảm giác y như anh bạn của tôi khi họ nghe A-mốt, một người Giu-đa, t ố cáo những tội-lỗi đang hủy hoại Y-sơ-ra-ên. Thật không bất ngờ khi thầy tế-lễ A-ma-xia bào ông về Giu-đa mà rao-giảng! (Am 7:12-13)
Trong sứ-điệp thứ hai, tiên-tri A-mốt kể ra 3 tội cụ-thể đang làm Đức Chúa Trời buồn lòng và đang hủy hoại Y-sơ-ra-ên: sự xa xỉ (Am 4:1-3), giả hình (c.4-5), và cứng-lòng (c.6-13). Họ đả có những giá-trị sai lệch, “sự phục-hồi” tôn-giáo của họ là giả tạo; và họ không chịu nghe những lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời dành cho họ.
1. Sự xa xỉ (Am 4:1-3)
“Hầu hết những người sống xa hoa và những người có thể gọi là sống thoải mái không chỉ thiếu trách-nhiệm mà còn là những chướng ngại cho sự phát triển của nhân loại”, Henry David Thoreau viết trong quyển Walden và bạn của ông Ralph Waldo Emerson đã viết trong một tạp chí của ông, “Sự chi tiêu của chúng ta chủ yếu là để cho phù hợp. Chính vì miếng ăn mà tất cả chúng ta mắc nợ”. Ngày nay chúng ta có khuynh hướng “Theo kịp Joneses”.
Chúng ta cùng tìm câu trả lời cho một số câu hỏi về sự xa xỉ.
• Xa xỉ là gì?.
Từ “luxury” (sự xa xỉ) có nguồn gốc từ tiếng la-tinh có nghĩa là “thừa mứa”. Nguyên gốc nó chỉ về cây cối mọc nhiều, nhưng về sau nó chỉ về những người có nhiều tiền của, thời gian, sự tiện nghi, mà họ sử dụng cho mình trong cuộc sống không có mục đích của họ. Hễ khi nào bạn đề nghị được “phục-vụ hạng sang”, thì chính là từ La-tinh nầy: phục-vụ vượt trên và ngoài những gì bạn thật sự cần.
Giàu hay có đời sống dễ chịu không phải là tội; nếu đó là ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho bạn. Áp-ra-ham và Đa-vít là những người rất giàu có. Nhưng họ dùng những gì mình có để làm vinh-hiển Đức Chúa Trời. Trong cái nhìn của những người ờ Thế Giới Thứ Ba, hầu hết dân Tây Phương, kể cả người nghèo ở đó, đều là những người rất giàu.
Những gì các nước Tây Phương xem là nhu-cầu lại là xa xỉ đối với các nước khác: những tiên nghi như máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, xe hơi, bảo hiểm y-tế, điện thoại và rất nhiều những thiết bị điện cần thiết khác.
Xa xỉ không có nghĩa là có nhiều của cải.
Sống xa xỉ là sử dụng của cải của mình chỉ cho bản thân mà quên đi nhu-cầu của người khác. Có nghĩa là vô trách-nhiệm trong cách chúng ta sử dụng của cải, phung phí nó vào những thú vui vô bổ thay vì dùng nó vì sự ích lợi của người khác và làm vinh-hiển Đức Chúa Trời.
Một tấm bảng trong cửa hàng vải có ghi, “Nếu bạn phải hỏi giá những mặt hàng của chúng tôi, bạn không thể có chúng”. Người sống xa xỉ thường không quan tâm đến giá cả. Họ không cần biết mình phải trả bao nhiêu, miễn là có được thứ mình muốn.
• Ai đang mắc tội nầy?
“Hỡi những bò cái của Ba-san, hãy nghe” (c.1). A-mốt đang nói đến những bà vợ của các quan chức trong xứ, họ giàu có nhờ cướp bóc của người khác. Những bà vợ nầy suốt ngày chỉ biết dạo quanh phố phường, uống rượu và sai bảo chồng. Ngày nay diễn-giả nào dám gọi những người đàn bà như vậy là “bò cái” chắc phải sớm đi tìm một Hội thánh khác.
Tại sao người nông dân A-mốt sử dụng hình ảnh nầy? Không phải vì những người đàn bà ấy mập quá khổ và trông giống như con bò, nhưng vì những tội-lỗi của họ đang vỗ béo họ để chờ đến ngày giết thịt. Họ và cả chồng của họ đều sống xa hoa trong khi người nghèo trong xứ phải đói khổ vì bị họ bóc lột và cướp tiền, cướp đất.
• Điều gì sẽ xảy ra với họ?
Những người nông dân thuờng làm gì với con vật đã được vỗ béo? Họ sẽ dẫn chúng ra ngoài mà giết thịt. A-mốt mô-tả chuyện sẻ xảy ra khi quân A-si-ri xâm chiếm Y-sơ-ra-ên, những người đàn bà sẽ bị bắt đi và bị đối xử như những con vật. A-si-ri có thông-lệ đeo khoen vào mũi hoặc môi dưới của những tù binh, buộc dây vào đó và dẫn đi, hoặc đến nơi lưu đày hoặc đem xử tử. Kẻ thù sẽ đối xử như vậy với những người mệnh phụ giàu có mà A-mốt đang nói đến trong sứ-điệp của mình.3
Nhưng lưu ý con cháu của họ cũng sẽ bị trừng phạt (c.2). Những người đàn bà giàu có nầy chắc chắn mong muốn “điều tốt nhất” cho con cái mình, nhưng vì những ưu tiên ích kỷ của họ và gương xấu của họ, họ đã để lại con cái mình điều tệ hại nhất. Con cái họ có mọi thứ nhưng không có Đức Chúa Trời; nên chúng cũng sẽ như những con vật bị dẫn đến hàng làm thịt. Thế hệ trẻ giàu có trong Y-sơ-ra-ên có tiền đề mua được tất cả, nhưng có những thứ họ không thể mua bằng tiền, là những thứ thuộc về Đức Chúa Trời mà làm cho cuộc sống có giá-trị.
Có lần tôi đến dự một bữa tiệc ờ Dearborn, Michigan, tôi ngồi gần một quý ông giàu có và danh tiếng trong thương trường quốc tế. Trong cuộc trò chuyện của chúng tôi, tôi phát hiện mình có một thông tin về vị diễn-giả quá cố mà ông ta ngưỡng mộ, và tôi đề nghị sẽ gởi những thông tin đó cho ông ta. Khi tôi hỏi địa chỉ của ông ta, tôi nghĩ ông ta sẽ đưa cho tôi một danh thiếp bóng lọng, thơm phức. Nhưng ông đã đưa cho tôi một mãnh giấy xé vội từ phong thư cũ! Rồi tôi được biết ông và vợ sống rất giản dị dù rất giàu. Thật không ngạc nhiên khi họ dâng rất rời rộng cho các tổ-chức Cơ-đốc và các cơ quan từ thiện.
Andrew Carnegie, một nhà kiệt suất trong ngành công nghiệp, có nói, “Giàu có là một trách-nhiệm mà trong đó người sở hữu nó ký hợp đồng trọn đời vì sự tốt đẹp cho cộng đồng với người quản-lý”.
Phao-lô viết, “Hãy răn bảo kẻ giàu ở thế-gian nầy đừng kiêu-ngạo và đừng để lòng trông-cậy nơi của cải không chắc chắn, nhưng hãy để lòng trông-cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng. Hãy răn bảo họ làm điều lành, làm nhiều việc phước đức, kíp ban phát và phân chia của mình có, vậy thì dồn chứa về ngày sau một cái nền tốt và bền vững cho mình, để được cầm lấy sự sống thật” (ITim 6:16-19). Phao-lô cũng trích lời Chúa Giê-xu, “Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh”
2. Sự giả hình (Am 4:4-5)
Tiên-tri sử dụng “lối châm biếm” khi ông nói những lời nầy, vì sau đó ông đã dạy cho họ đều ngược lại (Am 5:5). Tương tự như một mục-sư ngày nay nói với hội thánh mình, “Hãy đi đến nhà thờ, nhưng bởi sự có mặt ở đó, bạn chỉ đang phạm tội thêm. Hãy đi và tham dự những trại Thánh Kinh hè, nhưng làm như vậy, bạn sẽ mắc tội hơn. Lòng bạn không nghiêm túc muốn học biết Đức Chúa Trời hay làm theo ý muốn Ngài. Vì đó chỉ là tham gia một cuộc chơi. Vì đó chỉ là một thông lệ, nên bạn m ới làm”.
• Bê-tên là một nơi đặc biệt đối với dân Do-thái vì nó có liên-quan đến Áp-ra-ham (Sa 12:8 Sa 13:3) và Gia-cốp (Sa 28:10-22; Sa 35:1-7). Có một thời gian, hòm giao-ước được đặt tại Bê-tên (Cac 20:18-28), nhưng trong thời A-mốt nó là “nơi thánh của vua”, nơi ấy thầy tế lễ A-ma-xia phục-vụ (Am 7:10 và tiếp theo). Ghinh-ganh cũng quan-trọng với Y-sơ-ra-ên vì đó là nơi Giô-suê và dân-sự đóng trại khi họ mới đặt chân vào Đất Hứa (Gios 4:19-20; Gios 5:2-9).
• Ghinh-ganh cũng là nơi Sau-lơ được lập làm vua Y-sơ-ra-ên (ISa 11:15). Đáng tiếc là cả hai nơi nầy đều đã trở thành chỗ để thờ các thần ngoại đạo trong khi phải được biệt riêng để thờ-phượng Đức Chúa Trời.
Thoạt nhìn, Y-sơ-ra-ên có vẻ đang trải-nghiệm sự phấn hưng tôn-giáo.
Rất đông người kéo đến “những nơi thánh” (Am 5:5), đem dâng của lễ và phần mười (Am 4:4; Am 5:21-22) và còn hát những bài ca-ngợi khen Đức Chúa Trời (c.23; Am 6:5; Am 8:3,10). Họ dâng của lễ thường xuyên hơn những gì luật-pháp yêu-cầu nh ư thể chứng-minh tấm-lòng tin kính của họ. Nhưng những của lễ và bài ca của họ không làm Đức Chúa Trời động lòng, vì Ngài nhìn thấy trong tấm-lòng của họ có gì; và tội-lỗi trong lòng họ làm cho của lễ của họ không được chấp nhận.
Trước hết, những của lễ của họ không thánh sạch, như dâng men trên bàn thờ, điều Đức Chúa Trời cấm kỵ (Lê 2:11; Lê 6:17). Đức Chúa Trời không muốn những của lễ bò đực và dê; Ngài muốn sự vâng-lời từ tấm-lòng (ISa 15:22-23; Thi 50:8-9; Thi 5:16-17; Ês 1:11-17; Os 6:6; Mi 6:6-8; Mac 12:28-34).
Hơn nữa, họ rất tự hào về những gì mình đang làm và tin rằng người ta biết họ rộng rãi với Đức Chúa Trời như thế nào. Họ khoe khoang về những của dâng rời rộng mà họ tự nguyện dâng; và họ khoe với nhau về những của lễ của họ. Không phải Đức Chúa Trời nhận được sự vinh-hiển! (Mat 6:1-4).
Họ giống nhiều người ngày nay; họ rời rộng dâng hiến để được công nhận trong nhà thờ và trên cả những tập san của giáo-hội. Nếu không được như vậy, họ không dâng nữa.
Dân Y-sơ-ra-ên thích đến tham dự các buổi nhóm tôn-giáo, nhưng họ không yêu mến Đức Chúa Trời mà họ phải thờ phượng. Đi đến Bê-tên hay Ghinh-ganh là một việc làm quen thuộc trong thời đó, và muốn hùa theo số đông. Không hề có sự xưng tội, không hề có sự tan vỡ trước Chúa, nhưng chỉ là một sự-kiện tôn-giáo làm vui lòng người tham dự. Toàn bộ hệ thống đã hư hoại; dân sự đang phạm-tội khi họ nghĩ rằng mình đang hầu-việc Đức Chúa Trời.
Có một ứng dụng rõ ràng cho Hội thánh ngày nay. Chúng ta rất dễ tham gia những buổi thờ-phượng vui vẻ cùng với nhiều người, nhiệt tình ca ngợi Chúa, và bỏ tiền vào hộp tiền dâng, nhưng chúng ta không thay đổi từ trong tấm-lòng mình.
Sự thử-nghiệm của từng-trải thuộc-linh không phải là “Tôi có thấy thoái mái không?” hay “Hội thánh chúng ta có đông người và có giờ thờ-phượng tốt không?”. Thách thức thật sự phải là, “Tôi có ngày càng biết Chúa nhiều hơn không vàtôi có ngày càng giống Chúa Cứu Thế Giê-xu không?”
Dân chúng trong thời A-mốt không trở về nhà với quyết tâm giúp đỡ người nghèo, nuôi kẻ đói khát, và chăm sóc cho người quá bụa và trẻ mồ côi. Họ trở về nhà với tấm lòng ích kỷ y như lúc họ ra khỏi nhà, vì “sự thờ-phượng của họ” chỉ là một nghi-lễ sáo rỗng (Ês 1:11-17). “Sự phấn hưng” tôn-giáo mà không làm thay đổi những trật tự ưu tiên của Cơ-đốc nhân và không giúp giải quyết những vấn-đề trong xã hội thì không phải là “sự phấn hưng” gì cả.
Lưu ý rằng A-mốt có đề-cập đến âm nhạc, vì đó là một phần quan-trọng trong sự thờ-phượng của Hội thánh. Tuy nhiên, thứ mà người Do-thái cho là âm nhạc tốt đẹp, thì Đức Chúa Trời xem chúng là “tiếng ồn” (Am 5:23). Ngày nay người ta sẽ bỏ ra nhiều tiền để mua vé xem những buổi “hoà nhạc Cơ-đốc”, nhưng họ không chịu đến những buổi học Kinh Thánh miễn phí tại nhà thờ của mình. Âm nhạc Cơ-đốc là một ngành kinh doanh có lợi trong thời đại hiện nay, nhưng chúng ta ngẫm nghĩ xem nó thật sự đem lại vinh-hiển cho Đức Chúa Trời bao nhiêu. Thứ mà chúng ta cho là âm nhạc có thể không là gì ngoài sự ồn ào đối với Đức Chúa Trời.
Dù chúng ta nhìn vào bối cảnh tôn-giáo rộng lớn hơn hay nhìn vào những buổi nhóm trong Hội thánh địa phương của chúng ta, thì chúng ta phải có nhận thức thuộc-linh rõ ràng để phân biệt đâu là lúa mì và đâu là rơm rạ. Chúng ta cần quan-tâm “sự cầu-nguyện trong buổi nhóm nầy nằm ở đâu? Đức Chúa Trời có đang được vinh-hiển không? Có sự tan vỡ trước mặt Ngài không? Sau buổi nhóm kết quả có còn đọng lại, hay nó qua đi và sự nhiệt tình lắng xuống? Chúng ta có ngập chìm trong sự thánh-khiết và vinh-hiển của Đức Chúa Trời, hay chúng ta chỉ hết lời khen-ngợi diễn giả, ban hát, ..?”
Dù làm bất cứ việc gì cho Chúa: rao-giảng Phúc-Âm, truyền-giáo khắp thế-gian, chăm-lo cho người nghèo, phục-vụ mọi việc trong Hội thánh, quan-tâm đến công việc xã hội …, thì tất cả phải xuất phát từ sự thờ-phượng. Nếu nguồn gốc là sự thờ-phượng bị ô uế, thì tất cả công-tác của Hội thánh đều bị ô uế.
Giống như dân Do-thái trong thời A-mốt, chúng ta chỉ đi đến Bê-tên và phạm-tội! . Vì vậy, dân-sự của Đức Chúa Trời phải xét lại lòng mình và chắc chắn rằng động-cơ của họ là đúng đắn và mọi việc họ làm trong giờ nhóm đều vì sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời.
A-mốt đã đối diện với hai trong số ba tội-lỗi mà Đức Chúa Trời bảo ông lên án sự “xa xỉ”, sự “giả hình”; và ông đương đầu với tội thứ ba, sự “cứng lòng”. Dân-sự của Đức Chúa Trời là dân phản nghịch và cứng lòng, họ thường không vâng-lời Chúa.