“For a people to boast in the glory of the past, and to deny the secret that made the past, is to perish”
G.Campbell Morgan [1].
Có...
...lẽ Giê-rê-mi được khoảng 20 tuổi khi Đức Chúa Trời gọi ông vào chức-vụ nói tiên-tri vào năm thứ 13 đời vua Giô-si-a (năm 626 T.C). Tại sao lúc đó Giê-rê-mi lại tỏ ra do dự khi được Chúa kêu-gọi? Có lẽ là bởi một vài lý-do mà tôi sẽ trình-bày sau đây:
1. Vì đó là một chức-vụ đòi hỏi nhiều nỗ lực (Giê 1:1)
Hinh-kia, cha của Giê-rê-mi là một thầy tế-lễ [2] Cũng như cha mình, Giê-rê-mi được kỳ-vọng sẽ hầu-việc Chúa trong đền thờ.
Giê-rê-mi có lẽ đã bước vào tuổi trưởng-thành khi được Chúa kêu-gọi vào chức-vụ nói tiên-tri cho Ngài.
Hầu-việc Chúa trong chức-vụ nói tiên-tri là một công việc đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn so với công việc của thầy tế-lễ nên chẳng có gì là ngạc nhiên khi Giê-rê-mi bày-tỏ sự lưỡng lự của mình. Nếu được chọn-lựa, tôi cũng sẽ chọn công việc của một thầy tế-lễ. Đó là vì chúng ta có thể biết trước công việc của một thầy tế-lễ, mọi điều đều được ghi trong quyển sách Luật-pháp.
Vì vậy, các thầy tế-lễ chỉ cần thực hiện theo những điều đã ghi sẵn trong sách.[3]
Nhiệm-vụ hàng ngày của các thầy tế-lễ gồm có: dâng của lễ, kiểm tra những người bị bệnh phung, đuổi những người không tinh sạch ra khỏi trại và cho phép những người đã sạch vào trại trở lại. Họ cũng phải thực hiện những buổi lễ, coi sóc đền thờ và giảng-dạy Luật-pháp. Vì vậy, cũng chẳng có gì là ngạc nhiên khi một vài thầy tế-lễ nói rằng: “ôi! việc khó nhọc là dường nào!” (Ma 1:13 NKJV)
Trái lại, công việc của một người nói tiên-tri lại hoàn toàn khác hẳn, bởi lẽ bạn không hề biết trước Đức Chúa Trời sẽ muốn bạn nói hay làm điều gì cho Ngài. Công việc của một thầy tế-lễ trước hết là bảo tồn truyền thống bằng cách gìn giữ và duy trì chức-vụ trong đền thánh.
Trong khi đó, nhiệm-vụ của một người nói tiên-tri là phải thay đổi hiện tại để đất nước sẽ có được tương lai tốt đẹp. Khi nhìn thấy dân-sự đi sai đường, nhà tiên-tri phải biết hướng họ trở lại con đường chính nghĩa.
Công việc của các thầy tế-lễ liên-quan đến hình thức bên ngoài chớ không chạm đến tấm-lòng của dân-sự (Hêb 10:1-18), chẳng hạn như việc quyết định sự tinh-sạch của một người hay dâng nhiều của lễ khác nhau. Trái lại, công việc của người nói tiên-tri lại chính là thay đổi tấm-lòng dân-sự. Có ít nhất 66 lần từ “tấm-lòng” được tìm thấy trong sách Giê-rê-mi vì ông là nhà tiên-tri của tấm-lòng.
Các thầy tế-lễ không giảng dạy nhiều trước dân-sự mà giảng tuần tự cho từng cá nhân. Trong khi đó, nhà tiên-tri phải thực hiện công việc mình trước cả dân-sự, và thường thì mọi người chẳng ai chịu lắng nghe thông-điệp của nhà tiên-tri.
Các thầy tế-lễ thường xuất thân từ một chi-phái đặc biệt, do đó, thường có thẩm quyền và được dân-sự kính-trọng. Trái lại, nhà tiên-tri có thể xuất thân từ bất kỳ chi-phái nào và phải minh-chứng được rằng người thật sự được Chúa kêu-gọi cách đặc biệt. Các thầy tế-lễ được chu-cấp từ những của lễ dâng của dân-sự nhưng người nói tiên-tri lại không có một nguồn thu nhập bảo-đảm nào.
Tiên-tri Giê-rê-mi có lẽ đã trãi qua nhiều thời kỳ dễ dàng hơn nếu ông phục-vụ trong chức-vụ thầy tế-lễ. Vì vậy, phản-ứng ban đầu của ông khi được kêu-gọi chẳng có gì là ngạc nhiên. Dâng của lễ là một chuyện nhưng rao-truyền lời Chúa cho một dân-sự cứng lòng lại là một chuyện khác hẳn. Khi đọc sách này, bạn sẽ bắt gặp một số hình ảnh trong chức-vụ của Giê-rê-mi bày-tỏ việc hầu-việc Chúa trong vị-trí một nhà tiên-tri trung-tín thật khó dường nào. Trong chức-vụ của mình, Giê-rê-mi đã phải thể hiện mình là:
Liệu có dễ dàng khi làm những công việc như vậy chăng?
2. Những thời kỳ khó khăn (Giê 1:2-3) (IIVua 21:1-25:30; IISu 33:1-36:25)
Tôi cho rằng trong công tác hầu-việc Chúa thì chẳng có một giai đoạn nào là dễ dàng cả. Thánh-sử cũng từng ghi nhận có những thời kỳ thật sự khó khăn cho chức-vụ thuộc-linh và tiên-tri Giê-rê-mi đã sống vào một trong những giai đoạn như thế. Hãy cùng điểm lại lịch-sử của nước Giu-đa khi đương thời tiên-tri Giê-rê-mi.
•Bạo nghịch thay vì vâng phục.
- Trước hết, Giê-rê-mi sinh ra trong thời kỳ vua Ma-na-se, vị vua độc ác nhất trong các vua từng cai-tri vương quốc Giu-đa (IIVua 21:1-18). Mặc dù là con trai của Ê-xê-chia [4] một vị vua kính-sợ Đức Chúa Trời, nhưng Ma-na-se lên ngôi khi mới 12 tuổi đã bị các quần thần vây quanh dẫn dụ họ (dân Giu-đa) theo đường lối thờ hình-tượng. Ma-na-se “quyến dụ làm ác hơn các dân-tộc mà Đức Chúa Trời tuyệt diệt” (c.9). Khi Ma-na-se qua đời, A-môn, con trai người lại tiếp tục những việc làm gian ác của cha mình.
Do đó, Giê-rê-mi lớn lên tại A-na-tốt [5] khi việc thờ hình-tượng lan tràn khắp nơi trong xứ Giu-đa. Trẻ con bị bắt buộc phải dâng của lễ cho các thần-tượng trong khi Luật Môi-se không được tôn-trọng và tuân-theo. Dường như không còn một hy-vọng nào cho cả dân-tộc. Ngay cả các thầy tế-lễ cũng không được tôn-trọng như trước.
•Cải cách thay vì ăn-năn.
Vào năm 639 TC, A-môn bị bọn tôi-tớ giết chết và Giô-si-a, con trai người được lập lên làm vua, trị-vì cho đến khi qua đời vào năm 609 TC. Giô-si-a lên ngôi khi còn rất trẻ nhưng nhờ có những quần thần kính-sợ Chúa như Hinh-kia phò giúp nên vua bắt đầu tìm kiếm Đức Chúa Trời.
Vào năm thứ 12 đời Giô-si-a, vua bắt đầu trừ diệt việc thờ hình-tượng khỏi xứ. Sáu năm sau đó, vua ra lệnh cho các thầy tế-lễ, các thợ sửa sang và lau dọn lại đền thờ. Cũng trong thời gian này, thầy tế-lễ Hinh-kia tìm được quyển sách Luật-pháp trong đền thờ và nhờ người đọc sách này cho vua nghe. Quyển sách này có thể bao gồm Ngũ kinh của Môi-se hoặc chỉ có một sách Phục-truyền Luật-lệ ký.
Khi được nghe đọc sách Luật-pháp của Đức Chúa Trời, nhà vua rất cảm-động. Người xé quần áo mình và phái quần thần đến nữ tiên-tri Hun-đa để nhận lãnh sứ-điệp của Đức Chúa Trời (IIVua 22:1-20), với nội dung là do dân-sự đã từ bỏ Đức Chúa Trời nên “sự đoán-phạt sẽ giáng xuống trên cả dân-tộc”. Tuy nhiên, chính bởi thái-độ ăn-năn của vua Giô-si-a nên sự đoán-phạt đã không xảy ra trong thời vua trị-vì.
Vua Giô-si-a không đợi đến khi việc sửa sang đền thờ hoàn tất mới kêu-gọi dân sự ăn-năn. Vua lập giao-ước với Đức Chúa Trời và dẫn dắt dân-sự từ bỏ việc thờ hình-tượng để quay trở về với Luật-pháp của Chúa. Nhưng đáng buồn thay, thái-độ ăn-năn của một số người lại chỉ là hình thức bên ngoài. Khác với nhà vua, họ không thật sự ăn-năn, thống hối. Tiên-tri Giê-rê-mi biết được điều này nên rao-truyền thông-điệp của Chúa: “Giu-đa cũng chẳng trở về cùng Ta hết lòng, chẳng qua là giả dối” (Giê 3:10)
Việc ấy khiến vua Giô-si-a bước vào thực hiện một cuộc cải cách trong cả nước nhưng chỉ ở hình thức chớ không ở tấm lòng. Các thần-tượng được cất đi, đền thờ được tu sửa lại và việc thờ-phượng Đức Giê-hô-va cũng được tái lập nhưng lòng dân-sự không thật sự quay lại cùng Chúa.
Chính trị thay nguyên-tắc đạo đức Chẳng bao lâu sau khi vua Giô-si-a bị giết trên chiến trận [6] và Giô-a-cha, con trai người lên ngôi, cả nước đều nhanh chóng quay lại việc thờ hình-tượng. Tuy nhiên, Pha-ra-ôn Nê-cô đã truất Giô-a-cha khỏi ngôi, đưa con trai người là Ê-li-a-kim lên làm vua và đổi tên thành Giê-hô-gia-kim. Về phần Giô-a-cha, người bị đày sang Ê-díp-tô và chết tại đó.
Giê-hô-gia-kim cũng không cai-trị tốt hơn cha mình và vẫn “làm đều gian ác tại trước mặt Đức Giê-hô-va, theo trọn gương các tổ-phụ mình đã làm” (IIVua 23:37). Người đánh thuế dân trong xứ rất nặng để cống nộp Nê-bu-nết-sa, vua Ba-by-lôn. Sau khi Giê-hô-gia-kim phản nghịch, vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt giam người và tước đoạt những khí dụng trong đền thờ của Đức Chúa Trời. (597 TC) cho Nê-bu-cát
Giê-hô-gia-kin, con trai của Giê-hô-gia-kim trị vì được 3 tháng; sau đó, Ma-tha-nia, chú người, con trai thứ 3 của Giô-si-a (ISu 3:15) được lập lên làm vua và đổi tên thành Sê-đê-kia. Sê-đê-kia là vị vua cuối cùng của Giu-đa, một vị vua nhu-nhược, dễ bị dao động và sợ các quần thần hơn là sợ Đức Chúa Trời (Giê 38:19) [7]. “Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va Đức chúa trời của người, không hạ mình xuống trước mặt Giê-rê-mi, là đấng tiên-tri vâng mạng Đức Giê-hô-va mà khuyên bảo người.” (IISu 36:12)
Sê-đê-kia vừa đến với tiên-tri Giê-rê-mi để tìm kiếm sự giúp đỡ nhưng đồng thời lại vừa cấu kết với các nước lân cận, lập mưu chống lại đế quốc Ba-by-lôn. Vua cũng cho phép các con mình ngược đãi, thậm chí bắt giam Giê-rê-mi mặc dù chính người vẫn bí-mật đến gặp nhà tiên-tri như thể người muốn tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời vậy.
Thật dễ dàng để các chính trị gia đưa ra lời mời các nhà lãnh đạo tôn-giáo cùng ngồi lại trong một cuộc hội đàm và thực hiện đúng theo những điều đã thỏa thuận. Ngày nay, những mối quan-hệ công khai tốt đẹp thường gây ấn-tượng với người khác rằng “tôn-giáo” thật quan-trọng. Thế nhưng, việc nói chuyện với một nhà truyền-giáo nổi tiếng không đồng nghĩa với việc bạn tự hạ mình xuống trước mặt Chúa.
Tiên-tri Giê-rê-mi giảng dạy, đưa ra những lời-hứa và những lời cảnh-báo của Chúa cho dân-sự trong 40 năm. Giê-rê-mi cũng đồng thời tận mắt chứng-kiến đền thờ Giê-ru-sa-lem yêu dấu bị phá hủy dưới tay vua Nê-bu-cát-nết-sa và dân thành bị bắt đày sang Ba-by-lôn.
Tiên-tri Giê-rê-mi thực hiện chức-vụ trong thời kỳ loạn lạc nhưng ông vẫn hết lòng trung-tín với Chúa.
Giê-rê-mi cũng bày-tỏ với dân-sự chính sách ngoại giao của những người cai-trị đều là vô ích và kêu nài họ quay trở lại tin-cậy Chúa hết lòng thay vì đặt lòng tin nơi các liên minh chính trị. Tiên-tri Giê-rê-mi là một trong những gương điển-hình trong Kinh Thánh về sự trung-tín và hành động dứt khoát khi phải đối diện với hiểm nguy cũng như sự bại hoại của đất nước.
3. Người đầy tớ nghi ngại (Giê 1:4-10)
Giê-rê-mi đã do dự khi xem xét công việc Chúa giao trước mắt và nhìn thấy những kẻ độc ác quanh ông. Nhìn biết sự yếu đuối trong chính bản thân mình, Giê-rê-mi lại càng chắc chắn rằng ông không phải là người thích hợp cho công việc này.
Khi bước vào công tác hầu-việc Chúa, thường thì người ta luôn có một cảm giác rằng không ai có đầy đủ năng lực cho công việc Ngài cả. Sứ-đồ Phao-lô khi đang suy nghĩ về trách-nhiệm chức-vụ của mình đã hỏi rằng: “Ai xứng đáng cho những sự này?” (IICôr 2:16). Sau đó, cũng chính Phao-lô đã tự trả lời cho câu hỏi của ông: “không phải tự mình chúng tôi có tài năng mà nghĩ việc gì như bởi chính mình chúng tôi, nhưng tài năng của chúng tôi đến từ Đức Chúa Trời” (IICôr 3:5).
Khi Đức Chúa Trời kêu-gọi chúng ta, Ngài không bao giờ nhầm lẫn. Vì vậy, thái-độ do dự hay từ chối công việc của chúng ta chính là hành động bày-tỏ sự thiếu đức-tin. Nhận biết những giới hạn của bản thân là một việc nhưng dựa vào đó để nói rằng chính những yếu điểm này cản trở công việc Chúa lại là một việc hoàn toàn khác. Đây chính là thái-độ kiêu-ngạo thay vì là biểu-hiện của sự khiêm-nhường. [8]
Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Giê-rê-mi 3 lời xác-tín thật tuyệt vời:
•Được Đức Chúa Trời chọn lựa (c.4-5):
Một trong số các giáo-sư thần-học của tôi vẫn thường nói rằng: “Nếu bạn cố giải thích một sự kêu-gọi của Chúa, thì bạn sẽ bị mất-trí còn nếu bạn cố ngụy-biện nó, bạn sẽ mất linh-hồn mình.” Chúng ta được Đức Chúa Trời cứu, kêu-gọi và dùng trong công việc nhà Ngài không phải là do chúng ta xứng đáng được nhận lãnh điều đó.
Trái lại, ấy là do sự khôn-ngoan và ân-điển của Chúa mà Ngài chọn chúng ta. Tất cả đều là do ân-điển của Chúa. Sứ-đồ Phao-lô đã viết rằng: “Nhưng tôi nay là người thể nào là nhờ ơn của Đức Chúa Trời và ơn Ngài ban cho tôi cũng không phải là uổng vậy. Trái lại, tôi đã làm nhiều hơn các người khác, nhưng nào phải tôi, bèn là ơn Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi.” (ICôr 15:10)
Từng từ trong Giê 1:5 đều rất quan-trọng.
-Trước hết, Đức Chúa Trời biết Giê-rê-mi, [9] điều này đề-cập đến quyền lựa chọn tôi-tớ tối cao của Ngài. Đức Chúa Trời đã chọn Giê-rê-mi trước khi ông được hoài thai trong lòng mẹ.
-Kế đến, Đức Chúa Trời tạo nên Giê-rê-mi và cho ông hưởng những di truyền mà Chúa muốn ông có. Điều này cũng được Đa-vít thể hiện qua những dòng thơ trong Thi 139:13-16. Mặc dù Giê-rê-mi không thỏa lòng về những điều ông được hưởng (Giê 20:14-18) nhưng Đức Chúa Trời biết rõ công việc Ngài làm. Những gì chúng ta có chính là ân-tứ mà Đức Chúa Trời ban-cho và những gì chúng ta làm sẽ là món quà chúng ta dâng lên cho Chúa.
Đức Chúa Trời đã biệt riêng Giê-rê-mi ngay trước khi ông được sinh ra. Điều này có nghĩa là ông đã được Chúa chọn-lựa riêng ra cho Ngài, ngay cả trước khi ông nhận biết về Chúa cách cá nhân. Đức Chúa Trời cũng có cùng một cách như thế với sứ-đồ Phao-lô sau này (Ga 1:15).
Đức Chúa Trời cũng đã lập Giê-rê-mi làm tiên-tri cho Ngài. Mối quan-tâm ban đầu của Đức Chúa Trời là mọi dân-tộc trên đất đều được biết về sự cứu-rỗi của Chúa. Đó là lý-do vì sao Ngài gọi Áp-ra-ham (Sa 12:1-3) và biệt riêng dân-tộc Y-sơ-ra-ên ra làm cầu nối để đưa Lời Ngài và Con một Ngài vào thế-gian.
Nhà tiên-tri là phát-ngôn viên chính thức được lựa chọn của Đức Chúa Trời, là người bày-tỏ Lời Chúa cho dân-sự. Từ ngữ này trong tiếng Hê-bơ-rơ có lẽ xuất phát từ ngôn ngữ gốc A-rập, có nghĩa là “thông báo”. Chẳng hạn như, Môi-se nói với A-rôn và A-rôn là phát-ngôn viên (tiên-tri) của Môi-se trước mặt Pha-ra-ôn (Xu 7:1-2).
Nhà tiên-tri làm nhiều điều hơn là chỉ nói trước những việc ở tương lai bởi vì thông-điệp của họ còn đề-cập đến cả những điều dân-sự cần phải làm. Họ thật ra là những người phản ảnh hiện tại và tương lai hơn là người nói trước tương lai. Nhà tiên-tri chỉ-rõ tội-lỗi của dân-sự và kêu-gọi họ quay về với những điều họ đã hứa trong giao-ước với Chúa.
Là con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta được chính Chúa chọn lựa và biệt riêng ra cho Ngài (Êph 1:3-14; Rô 8:28-30). Chân-lý này giúp chúng ta có thêm năng lực khi đối diện với thế-gian tội-lỗi và luôn tìm cách hầu-việc Ngài. “Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta thì còn ai nghịch cùng chúng ta?” (Rô 8:31)
• Được Đức Chúa Trời hiện diện chở che (c.6-8): Đức Chúa Trời ban cho chàng trai trẻ Giê-rê-mi 3 mạng-lệnh “đi khắp nơi nào Ta sai ngươi đi, sẽ nói mọi điều ta truyền cho nói và đừng sợ vì cớ chúng nó”. Kế đó, Ngài ban thêm lời-hứa cho Giê-rê-mi “Ta sẽ ở với ngươi đặng giải cứu ngươi” (Giê 1:8). Đức Chúa Trời lặp lại lời hứa đó vào cuối lời kêu-gọi của Ngài “họ sẽ đánh nhau với ngươi, nhưng không thắng ngươi vì Ta ở cùng ngươi đặng giải cứu ngươi” (c.19)
Lưu ý đến điều kiện kèm theo của lời-hứa này, đó là: Giê-rê-mi phải đi đến những nơi mà Chúa sai ông đi và nói những điều mà Ngài muốn ông nói. Giê-rê-mi cũng phải tin vào lời-hứa Chúa dành cho ông qua sự bày-tỏ thái-độ không sợ hãi những người xung quanh. Chúng ta gọi Giê-rê-mi là “vị tiên-tri than khóc cho dân-sự” và quả thật ông là một người như thế.
Tuy vậy, ông cũng là một người rất can-đảm khi đối diện với nguy hiểm, thử thách và vẫn một lòng trung-tín với Chúa. Ông biết rằng Đức Chúa Trời vẫn luôn bên cạnh ông, cũng giống như việc chúng ta nhận biết Chúa hiện diện bên cạnh chúng ta vậy.
“Vì chính Đức Chúa Trời có phán rằng: Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu. [10] Như vậy, chúng ta hãy lấy lòng tin chắc mà nói rằng: Chúa giúp đỡ tôi, tôi không sợ chi hết. Người đời làm chi tôi được?” (Hêb 13:5-6).
•Được Đức Chúa Trời ban cho lời nói linh hiệu (c.9-10): Khi than trên bàn thờ của Đức Chúa Trời được đặt trên miệng của tiên-tri Ê-sai, ngay tức khắc, ông được thanh tẩy (Ês 6:5-7). Khi Đức Chúa Trời đặt tay Ngài trên môi miệng của tiên-tri Giê-rê-mi, ông liền nhận được năng-quyền. Và những lời Ngài đặt để trong môi miệng ông trở nên linh-nghiệm để thực hiện ý muốn của Chúa. Đức Chúa Trời không những ban cho tiên-tri Giê-rê-mi lời của Ngài mà Chúa còn hứa rằng sẽ “tỉnh thức, giữ” Lời Ngài cho đến khi những lời đó được thực hiện (Giê 1:12).
Lời của Đức Chúa Trời “tạo dựng” nên vũ trụ: “Các từng trời được làm nên bởi lời Đức Giê-hô-va, cả cơ-binh trời bởi hơi thở của miệng Ngài mà có…… Vì Ngài phán, thì việc liền có, Ngài biểu thì vật bèn đứng dậy” (Thi 33:6,9). Cả vũ-trụ đều “được nâng đỡ” bởi lời của Chúa: “Và (Đấng Christ) lấy lời có quyền-phép Ngài nâng đỡ muôn vật” (Hêb 1:3). Đức Chúa Trời cũng đã thực hiện mục đích của mình trên đất qua lời Ngài: “Vả, như mưa và tuyết xuống từ trên trời… nó” (Ês 55:10-11).
Ngày nay, tại nhiều Hội thánh, giờ thờ-phượng chỉ như là một hình thức giải trí và việc giảng dạy lời Chúa chỉ là việc đưa ra những lời khuyên. Chúng ta cần phải lắng nghe và vâng-theo lời sứ-đồ Phao-lô khiển trách Ti-mô-thê “hãy giảng đạo”(IITim 4:2).
Đức Thánh Linh là Thần lẽ-thật (Gi 16:13) và sẽ làm việc qua Lời của lẽ-thật (Thi 119:43; IITim 2:15). Tiên tri Giê-ê-mi không thực hiện ý muốn của Chúa trên đất bằng những lời diễn thuyết trau chuốt, chính sách ngoại giao khôn-ngoan hay bằng nghệ thuật khéo léo đánh vào tâm-lý người ta. Trái lại, ông đã nghe lời Chúa, giữ lấy trong lòng và dạn dĩ bày-tỏ những lời đó trước mặt dân-sư. Và ông để cho Chúa hoàn tất những việc còn lại.
Chức-vụ của tiên-tri Giê-rê-mi đầy những khó khăn. Ông phải phá bỏ trước khi dựng nên, và diệt trước khi trồng. Trong nhiều công việc, có những “cơ cấu” tổ chức không cần thiết nên cần bỏ đi vì chúng gây cản trở đến sự phát triển chung. Một vài “cây” đang lớn nhưng không kết quả cũng cần phải được bỏ đi. Đức Chúa Giê-xu phán rằng: “Cây nào mà Cha Ta trên trời không trồng thì phải nhổ đi” (Mat 15:13).
Bất cứ người nào nếu nhận thấy mình quá yếu đuối không đủ sức để hầu-việc Chúa thì người đó cần phải cân nhắc lại 3 điều sau đây:
-Trước hết, Chúa có kêu-gọi bạn không? Nếu có, Ngài sẽ ban thêm năng lực cho bạn.
-Kế đến, bạn có cậy đức-tin để vâng-theo mạng-lệnh của Chúa không? Nếu có, Ngài sẽ luôn hiện diện để bảo vệ bạn.
-Cuối cùng, bạn có rao-giảng Lời Chúa không? Nếu có, Ngài sẽ làm trọn mục đích của Ngài trên đất này dù thái-độ đáp-ứng của mọi người có ra sao chăng nữa. Tên gọi Giê-rê-mi có nghĩa là “Đức Chúa Trời nâng đỡ” và Ngài thật đã nâng-đỡ, chăm-sóc cho tôi-tớ Ngài cùng chức-vụ của người đến cùng.
“Chúa là thành-tín, sẽ làm cho anh em bền vững và giữ cho anh em khỏi ác giả.” (IITês 3:3)
4. Thông-điệp nguy hiểm (Giê 1:11-19)
Khi nghiên-cứu về các tiên-tri thời Cựu-ước, bạn sẽ nhận thấy 3 điểm luôn tồn tại trong thông-điệp của họ. Đó là:
(1) Tội-lỗi của quá-khứ: cả đất nước bất-tuân theo luật-pháp của Đức Chúa Trời;
(2) Trách-nhiệm hiện tại: mọi người phải ăn-năn hoặc sẽ bị Đức Chúa Trời đoán-phạt
(3) Hy-vọng cho tương lai: Chúa sẽ đến một ngày nào đó và lập nên nước Ngài.
Chúa không ban-cho Giê-rê-mi một sứ-điệp vui-mừng mà là sứ-điệp v ề sự đoán-phạt để ông rao-báo cho mọi người. Sứ-điệp này thật nguy hiểm đến nỗi bất cứ ai nghe đến cũng đều gọi Giê-rê-mi là kẻ phản bội. Ông bị hiểu lầm, bị hành hạ, bị bắt và không ít lần mạng sống ông bị đe dọa. Mặc dù cả dân-tộc đều không muốn nghe sự thật nhưng Giê-rê-mi vẫn bày-tỏ thật rõ ràng rằng họ đã khinh thường Chúa, bất-tuân Luật-pháp và chắc chắn họ sẽ phải chuốc lấy sự đoán-phạt cho mình.
Đức Chúa Trời ban-cho tiên-tri Giê-rê-mi 3 lời-hứa khi ông chuẩn bị bước vào chức-vụ đầy nguy hiểm. Hai trong 3 lời hứa đó được bày-tỏ qua các khải-tượng sau đây của Ngài :
-Cây hạnh: Lời của Đức Chúa Trời sẽ được làm trọn (c.11-12): Trong khu Thánh địa, cây hạnh thường ra hoa vào tháng giêng, báo hiệu mùa xuân đang đến. Tiếng Hê-bơ-rơ gọi “cây hạnh”, là “cây thức” tương đương với từ là saqed còn từ “tỉnh thức” là soqed. Chúa đã sử dụng lối chơi chữ như vậy nhằm đoan chắc với Giê-rê-mi rằng Ngài luôn tỉnh thức để giữ và làm trọn Lời Ngài.
Chẳng khác nào một người chồng hoặc vợ phá vỡ lời giao-ước hôn-nhân, cả dân-tộc phạm-tội đã quay lưng lại với giao-ước họ đã lập với Chúa, bởi giờ đây, họ đã dành tron tình yêu và lòng trung-thành cho những hình tượng ngoại đạo. Nhưng giao-ước đó vẫn còn mãi bởi Chúa không hề quên. Ngài đã hứa chúc phước cho họ nếu họ vâng-lời và sửa phạt họ nếu họ bất tuân-theo lời giao-ước. Ngài cũng “tỉnh thức, giữ lời phán (Ngài) đặng làm trọn” (Giê 1:12). Chúa đã cho dân-sự biết điều này qua các tiên-tri trước đó nhưng cả những người cai-trị và dân-sự đều không lắng nghe. (IIVua 17:13-15)
-Nồi nước sôi: cơn giận của Đức Chúa Trời sẽ đến (c.13-16): Các nước ở khu vực phía Đông luôn có xung đột với nhau nhằm tranh giành quyền cai-trị. Đầu tiên, những nhà cầm quyền Do-thái chạy đến Ai-cập và sau đó là A-si-ri để cầu-xin sự giúp đỡ. Trong suốt thời gian ấy, họ đã không đặt lòng tin-cậy nơi Chúa và tìm kiếm sự giúp đỡ của Ngài.
Tuy nhiên, khải-tượng này cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời có quyền cai-trị trên mọi dân-tộc trên thế giới và Ngài vẫn có thể sử dụng các nước này để thực hiện kế-hoạch của Ngài. Đức Chúa Trời thậm chí đã chuẩn bị nước Ba-by-lôn ở phương Bắc [11] làm công cụ để sửa phạt dân Ngài. Việc Giu-đa chạy sang Ê-díp-tô xin sự giúp đỡ cũng trở nên vô ích vì nước này đã rơi vào tay vua Nê-bu-cát-nết-sa. (Giê 46:1-28)
Khi tiên-tri Giê-rê-mi khởi sự chức-vụ của mình, thì đất nước A-si-ri chớ không phải Ba-by-lôn là một đế quốc hùng mạnh ở khu vực Trung Đông. Vì vậy, chắc chắn là các nhà chính trị đã nghĩ rằng Giê-rê-mi thật ngu ngốc khi lo lắng về nạn xâm lược của đế quốc Ba-by-lôn ở phương Bắc.
Thế nhưng dân chúng ở Giu-đa đã được chứng kiến cảnh đế quốc A-si-ri bị đánh bại thế nào, Ê-díp -tô trở nên yếu ớt ra sao khi Ba-by-lôn trổi dậy giành lấy quyền cai-trị và lời báo trước của tiên-tri Giê-rê-mi được ứng-nghiệm. Thật vậy, ngôi của những người cai-trị Ba-by-lôn đã được đặt nơi cửa thành Giê-ru-sa-lem (Giê 39:1-3) và thành thánh này cuối cùng đã bị phá hủy.
Đức Chúa Trời chỉ ra cho dân-sự thấy rằng họ đã phạm-tội thờ hình-tượng (Giê 1:16), họ thờ những thần-tượng do tay mình làm ra và quay lưng lại với Đức Chúa Trời chân-thật. Với thái-độ đạo đức giả, dân Giu-đa vẫn duy trì việc thờ-phượng Chúa ở đền thờ nhưng thật tâm họ chỉ xem Ngài như là một trong những vị thần đòi hỏi sự tận hiến mà thôi.
Thậm chí một vài thần-tượng ngoại bang cũng được họ đem vào đền thờ! (Êxe 8:1-9:11). Các tiên-tri giả xuất hiện khắp nơi với những sứ-điệp bịa đặt, hời hợt và phổ biến vì họ hứa sẽ có sự bình-an mà không bao giờ đề-cập đến sự ăn-năn (Giê 5:12-13; Giê 8:11-12; Giê 14:13-22)
Khi cả dân-tộc xây khỏi sự thờ-phượng một Đức Chúa Trời chân-thật thì dân-sự bắt đầu bóc lột lẫn nhau và điều này đã xảy ra tại Giu-đa. Kẻ giàu hà hiếp người nghèo và các quan chức không còn bảo vệ quyền lợi của người bị hiếp đáp nữa (Giê 2:34-35; Giê 5:26-31; Giê 7:1-11). Tuy nhiên, những người cai-trị độc ác này vẫn vờ trung-tín đi đến đền thờ và tỏ-vẻ ta đây sùng-kính Đức Giê-hô-va! Tất cả những điều họ làm đã khiến cho đền thờ trở thành “hang trộm cướp” (Giê 7:11). Đây chính là tội mà Đức Chúa Trời sắp sửa đoán-phạt dân-sự.
-Thành quách, cây cột và bức tường: Đức Chúa Trời sẽ gìn giữ tôi-tớ của Ngài (Giê 1:17-19) Vào thời đó, người đàn ông phải thắt lưng để có thể chạy hay làm việc được dễ dàng (IVua 18:46; IIVua 4:29). Vì vậy, “hãy thắt lưng” (Giê 1:17) có nghĩa là “hãy sẵn sàng hành động!” hoặc chúng ta cũng c ó thể hiểu là “hãy thắt lưng lại! Xắn tay áo lên!”. Tương tự, “hãy bền chí như thể thắt lưng” có nghĩa là “hãy chuẩn bị hành động và có một thái-độ đúng đắn khi Chúa trở lại”.
Đức Chúa Trời lặp lại lời khuyến-cáo của Ngài rằng Giê-rê-mi không được sợ hãi những người sẽ chống lại ông vì Chúa luôn che chở ông (Giê 1:8). Bị những kẻ thù vây quanh, nhà tiên-tri phải trở nên một thành bền vững đến nỗi những kẻ thù nghịch ông không tài nào tấn công vào được. Khi bị cả vua, hoàng tử, các thầy tế-lễ và dân chúng chống lại, ông phải trở nên vững vàng như một tường thành bằng đồng. Lời Chúa hứa: “Ta ở cùng ngươi đặng giải cứu ngươi” là một lời-hứa đáng tin-cậy và trong cuộc chiến đấu tranh cho lẽ-thật, những ai được Chúa ở cùng sẽ luôn luôn mạnh sức, vững vàng.
Mặc cho những đòi hỏi của chức-vụ cũng như khó khăn của thời cuộc, Giê-rê-mi vẫn đáp-lại lời kêu-gọi của Chúa. Dù nhận biết rõ những khả năng giới hạn của bản thân, ông cũng nhận thức được rằng Đức Chúa Trời thật rất vĩ đại và Ngài có thể giúp ông làm tròn sứ-mạng của mình. Sứ-điệp Đức Chúa Trời ban cho ông là sứ-điệp vô cùng nguy hiểm cho ông nhưng Ngài sẽ luôn tỉnh thức để làm tròn lời Ngài và bảo vệ cho tôi-tớ trung-thành của Ngài.
Giê-rê-mi đã có một quyết định đúng cho mình mặc dù kết quả ông chỉ trở thành một trong những tiên-tri ít được biết đến nhất trong lịch-sử Do-thái. Theo chuẩn-mực của con người, chức-vụ của Giê-rê-mi là một sự thất bại nhưng với cái nhìn của Chúa, đó lại là một thành công lớn. Thật không dễ dàng chút nào khi phải đứng một mình, chống lại đám đông và đi ngược với những triết-lý và giá-trị của thời đại. Thế nhưng tiên-tri Giê-rê-mi đã sống một cuộc đời như thế trong suốt hơn 40 năm.
Trong chương cuối cùng của tác-phẩm “Walden”, nhà văn Henry David Thoreau đã nói: “Nếu một người đi sai nhịp với những người bạn đồng hành của mình, có lẽ là do anh ta đã nghe một tiếng trống khác. Vậy, hãy cứ để cho anh ta bước đi theo tiếng nhạc đó dù nhịp của nó có ra sao hoặc anh ta bước dạt ra xa tới đâu chăng nữa.” [12]
Chúa Giê-xu từng phán rằng: “Nếu ai muốn theo Ta thì phải liều mình, vác thập-tự gía mình mà theo Ta… Người nào được cả thiên-hạ mà mất linh-hồn mình thì có ích gì?” (Mat 16:24,26).
Với một câu hỏi quan-trọng như thế, bạn sẽ có quyết định như thế nào? Bạn sẽ theo đám đông hay sẵn sàng vác thập-tự giá?
2. NHÀ TIÊN-TRI GIẢNG DẠY (Giê 2:1-6:37)
“Mọi dân-tộc, cũng trên thế-gian này, như mỗi cá nhân đều phải chịu sự đoán-phạt.” Abraham Lincoln [13]
Tôi vẫn còn giữ trong thư viện của mình những bản thảo dàn ý của những bài giảng khi tôi mới bắt đầu chức-vụ vào năm 1950. Mỗi khi đọc lại những bản thảo đó, tôi tự thấy thật hổ thẹn, ăn-năn và ngạc nhiên tự hỏi vì sao mọi người lại có thể nghe những bài giảng như thế hay thậm chí còn trở lại để nghe thêm nữa.
Có một vị mục-sư từng-trải nọ từng nói rằng: “Khi mới bước vào chức-vụ, bạn sẽ không hiểu vì sao không có nhiều người hơn đến nghe bạn. Nhưng khi đã trưởng-thành hơn, bạn sẽ ngạc nhiên tự hỏi vì sao lại có người lại có thể chịu nghe bạn như thế.”
Tôi hoàn toàn tán thưởng ý-kiến này.
Tuy nhiên, chàng trai trẻ Giê-rê-mi lại bắt đầu chức-vụ của mình với những sứ-điệp chứa đầy sự thương-xót, nhưng rất quyết liệt, chắc chắn [14]. Giê-rê-mi đã dám đương đầu với tội-lỗi của dân-sự và kêu-gọi họ ăn-năn, quay trở lại với Đức Chúa Trời. Trong những sứ-điệp này luôn bao gồm 4 ý chính: sự phản nghịch, sự ăn-năn, sự công-bình và sự đoán-phạt.
1. Sự phản nghịch: Đức Chúa Trời nhìn thấy tội-lỗi của dân Ngài (Giê 2:1-37)
Tiên tri Giê-rê-mi có ân-tứ bày-tỏ lẽ-thật thần-học bằng ngôn ngữ tượng hình. Thật ra, phần lớn những bài giảng của ông có thể được đọc như thơ ca vậy [15]. Trong chương này, tiên-tri Giê-rê-mi đã vẽ ra 10 hình ảnh sau đây phô-bày tội-lỗi của dân-sự.
•Hình ảnh người vợ phản bội chồng (c.1-8):
Khi Chúa lập giao-ước với dân Ngài tại núi Si-nai (Xu 19:1-20:26), Chúa đã bước vào một mối quan-hệ yêu thương mà Ngài ví như quan-hệ vợ chồng với dân-sự Ngài. “Chúng nó đã phá giao-ước Ta, dầu rằng Ta làm chồng chúng nó” (Giê 31:32; Giê 3:14). Trong thời Cựu-ước, việc thờ hình-tượng của dân Y-sơ-ra-ên bị xem như tội ngoại-tình, tội tà-dâm (Ês 54:5; Os 2:16). Ban đầu khi mới lập giao-ước, dân Do-thái rất trung thành. [16] và kính mến Chúa.
Thế nhưng khi đã vào vùng đất-hứa, họ lại quay sang tương-thông với những hình tượng của các nước lân cận và sa vào việc thờ hình-tượng (Cac 1:1-3:31). Mặc dù, Đức Chúa Trời đã gìn giữ, đưa dẫn họ vượt qua đồng vắng an-toàn và ban cho họ sản-nghiệp tuyệt vời trong vùng đất Ca-na-an, nhưng rồi họ đã từ bỏ Ngài để chạy theo thờ-lạy những hình-tượng do con người tạo nên. Vậy, tình yêu chung thủy là tình yêu như thế nào?
•Những hồ nứt (c.9-13):
Nhà tiên-tri nói rằng “Hãy đi từ tây sang đông, ngươi sẽ chẳng thấy một dân-tộc nào thay đổi thần của mình”. Tuy nhiên, dân Y-sơ-ra-ên đã từ bỏ Chúa thật để thờ-lạy những thần giả dối. Điều này tương tự như việc từ bỏ một nguồn suối nước tinh-khiết tươi mát không hề cạn để tìm đến một hồ nước dơ bẩn bị nứt nẻ không chứa nước được.
Trong khu vực Thánh địa, nước rất quý và không ai làm một điều dại dột như thế. Do vậy, không có gì là ngạc nhiên khi Chúa phán rằng: “Hỡi các từng trời………rất tiêu điều” (Giê 2:12). Vế thứ nhì của câu Kinh Thánh này vốn có nghĩa đen là “hãy ghê tởm!”
• Kẻ đầy tớ bị cướp bóc (c.14-19): Đức Chúa Trời đã giải cứu dân Do-thái thoát khỏi Ai-cập và ban-cho họ sự tự-do trong vùng đất Ca-na-an nhưng giờ đây, dân tộc họ lại bị rơi vào cảnh mất tự-do vì tội thờ-lạy hình-tượng. Do chỉ lo liên minh với các nước ngoại bang lân cận là Ai-cập và A-si-ri thay vì đặt để lòng tin nơi Chúa, Giu-đa đã trở thành một nước chư hầu và bị cướp bóc, dân chúng bị bắt làm nô-lệ. Thay vì uống nước từ nguồn sông thánh-khiết tươi mát mà Chúa đã ban cho họ, giờ đây, dân Giu-đa đã phải uống nước dơ bẩn ở sông Nile và sông Euphrates. Memphis và Tahpanhes là 2 thành phố ở Ai-cập, còn Shihor là một nhánh của sông Nile.[17]
Câu 19 đã nêu lên một nguyên-tắc thật cơ-bản: Đức Chúa Trời đoán-phạt chúng ta bằng cách cho phép tội-lỗi của chính chúng ta đem lại những đau đớn và sự trừng-phạt cho đời sống của chính mình. “đó là những sự mà đường lối và việc làm của ngươi đã chuốc lấy cho ngươi, đó là sự gian ác ngươi! Thật, ấy là cay đắng!”
(Giê 4:18). “Sự gian ác các ngươi đã làm cho những sự ấy xa các ngươi; tội-lỗi các ngươi ngăn trở các ngươi được phước” (Giê 5:25). Hình phạt lớn nhất mà Chúa dùng để đoán-phạt những người bất-tuân chính là để mặc họ đi trong con đường mình và tự gặt lấy những hậu quả đau buồn của chính tội-lỗi mình.
Từ “sa ngã” có nghĩa đen là “quay lưng lại” và dùng để miêu-tả sự bội đạo nhiều lần của dân-sự [18]. Sách Các quan-xét tường thuật lại ít nhất 7 lần dân Y-sơ-ra-ên quay lưng lại với Chúa và bị Ngài đoán-phạt. Ngoài ra, còn có vô số những lần khác trong thời kỳ chế độ quân chủ của dân Y-sơ-ra-ên khi họ cố ý quay lưng lại với Chúa. Từ “sa ngã” không được dùng trong Tân-ước nhưng được miêu-tả bằng những hình ảnh tương tự: “mất ân-điển” (Ga 5:4), “bỏ lòng kính mến ban đầu” (Kh 2:4), “yêu thế-gian” (IGi 2:15-17; IITim 4:10) và “đi trong sự tối tăm” (IGi 1:5-10).
•Con vật bướng bỉnh (c.20): Tiên-tri Giê-rê-mi thường hay sử dụng những hình ảnh của các con vật để miêu-tả hành động của con người. Ở đây, Giê-rê-mi đã so sánh dân Do-thái với hình ảnh một con vật ương bướng không mang ách [19].
Một trong những cụm từ hay được lặp lại là “sự cứng cỏi của lòng ác mình” (Giê 3:17; Giê 7:24; Giê 9:14; Giê 11:8; Giê 13:10; Giê 16:12; Giê 18:12; Giê 23:17) [20] Con người vốn được tạo dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời nhưng khi họ từ chối vâng-lời Ngài, thì họ sẽ trở nên giống như con thú vậy. (Thi 32:9; Ch 7:21-23; Os 4:16)
•Cây nho xấu (c.21)
Dân Y-sơ-ra-ên được ví như một cây nho là một hình ảnh quen thuộc trong Cựu-ước (Ês 5:1-7; Thi 80:8-16; Êxe 17:1-10; Os 10:1-2). Đức Chúa Trời đã trồng dân Ngài trong vùng đất tươi tốt mà Ngài ban cho họ nhưng họ đã không ra trái công-bình như ý Ngài muốn.“Người mong rằng sẽ sanh trái nho nhưng nó lại sanh trái nho hoang” (Ês 5:2).
Do thờ-lạy những hình-tượng giả dối, họ đã trở nên giống như dân-tộc hư-mất lân cận. Những thần-tượng chết thì làm sao có thể sinh ra trái sống cho dân-tộc họ được?
•Một thân thể ô uế (c.22):
Không một việc làm tốt lành hay nghi thức tôn-giáo nào có thể tẩy-sạch tội-lỗi của dân-sự được vì nan-đề của dân-sự chính là tấm-lòng của họ. Dân-sự phạm-tội vì họ có tấm-lòng cứng cỏi, không chịu lắng nghe lời của tôi-tớ Đức Chúa Trời và không làm theo lời Ngài. Cuộc cải cách đất nước dưới thời Vua Giô-si-a chỉ là sự thay đổi về hình thức bên ngoài của vương quốc Giu-đa chớ không hề chạm đến tấm-lòng của dân-sự để họ có thể ăn-năn và xin Chúa tha-thứ .
Giê-rê-mi là nhà tiên-tri của tấm-lòng vì ông dùng từ ngữ này hơn 60 lần “Hỡi…được cứu” (Giê 4:14). “Lòng người ta…được?” (Giê 17:9). Đất nước Giu-đa cần phải quay trở về với Chúa bằng tất cả tấm-lòng mình; chỉ có như vậy Chúa mới có thể ban phước cho họ.
•Thú vật nơi sa mạc (c.22-25):
Mặc dù dân-sự phủ nhận việc họ bị ô uế, nhưng chính những hành động của họ đã chứng-minh điều ngược lại vì dường như họ sống nếp sống rất giống những thú vật: như lạc đà bị lạc đường đang tìm nguồn nước, như lừa cái chạy khắp nơi tìm bạn tình.
Khi dân Do-thái chạy theo nghững thần-tượng của các dân-tộc ngoại đạo, giày của họ bị rách nát và cổ họ bị cháy khô vì khát. Mọi việc đã tốt đẹp hơn biết bao nếu họ chịu uống nước thánh-sạch tươi mát trong dòng sông của Đức Chúa Trời!
Nhưng họ đã phó mình cho tội-lỗi nhiều đến nỗi họ không còn hy-vọng được cứu nữa. “Ấy là vô ích!” (Giê 2:25) chính là cớ của họ. “Thật vô vọng!” Họ nói như những kẻ nghiện rượu hoặc mê cờ bạc quá nặng không thể thay đổi thói quen được nữa; hoặc như kẻ bại ở ao Bê-tết-đa, bị bệnh quá lâu đến nỗi từ bỏ hi vọng được lành bệnh (Gi 5:9).
Tuy nhiên, Chúa Giê-xu lại luôn lưu-tâm đến những trường hợp vô-vọng “Ngài phá vỡ quyền lực của tội-lỗi, Ngài khiến kẻ tội-nhân được giải thoát”.[21]
•Tên trộm tự làm nhục mình (c.26-28):
Một tên trộm khi bị bắt quả tang vẫn có thể còn biện hộ rằng mình vô-tội nhưng những chứng-cớ vẫn còn đó cho mọi người có thể nhìn thấy. Bất cứ vị khách nào đến viếng thăm Giu-đa cũng có thể thấy điều Đức Chúa Trời đã thấy: dân-sự ngoảnh mặt khỏi Chúa để trò chuyện với những thần-tượng chết; nhưng khi gặp hoạn nạn, họ lại tuyệt vọng chạy đến cầu-xin Chúa giúp đỡ. Dân-sự thật đã bị bắt quả tang!
•Những con cái bất trị (c.29-35): Đức Chúa Trời đã nhiều lần đoán-phạt dân-sự vì tội-lỗi của họ nhưng dân-sự đã không chịu thay đổi con đường mình. Họ thậm chí còn oán trách cả Chúa! Ngài lên án họ nhưng thay vì xưng-tội và ăn-năn, dân-sự lại phàn nàn và quay lại buộc-tội Chúa! Dường như không một hình thức đoán-phạt nào của Chúa đem lại kết quả như mong muốn tốt đẹp cả. “Ngài đánh chúng nó…khứng trở lại” (Giê 5:3; Giê 7:28; Giê 17:23; Giê 32:33; Giê 35:13).
Đức Chúa Trời nhắc dân-sự nhớ về ơn phước dư dật Ngài đã ban-cho họ. Tuy nhiên, họ vẫn chống nghịch lại Chúa (Giê 2:29), quên Chúa (c.32) và dối Ngài (c.33-35) để nói rằng mình vô-tội. Một trong những chủ-đề chính của sách Phục-truyền Luật-lệ ký là nhắc dân-sự nhớ đến Chúa và những ơn phước Ngài ban-cho họ. Thế nhưng, dân-sự lại coi thường những phước lành đó và quay sang với những thần-tượng câm lặng.
Họ trở nên quá thành thạo với việc hành-dâm, thờ-lạy thần-tượng giả dối đến nỗi ngay cả phường đĩ điếm cũng học được nhiều điều mới từ bản thân họ! Họ hà hiếp và làm đổ vấy máu kẻ nghèo khó, ấy vậy họ vẫn cho mình là vô-tội (Am 2:6-8; Am 5:10-12)
Do đất nước lúc bấy giờ đang vui hưởng mọi sự hưng thịnh về kinh tế lẫn chính trị nên dân-sự cho rằng những ơn phước này của Chúa là bằng-chứng cho sự vô-tội của họ. Họ đã nhận thức được rằng Chúa vẫn có thể chúc phước cho kẻ gian ác (Thi 37:1-40; Thi 73:1-28; Mat 5:45) và những sự tốt lành đó hầu khiến họ ăn-năn (Rô 2:4-5; Lu 15:17-18)
•Tù nhân chiến tranh (c36-37):
Trong nỗ lực cố giữ hòa-bình với các nước lân cận, Giu-đa đã chạy đến cầu cạnh, nhờ vả hết Ai-cập đến A-si-ri (Giê 2:14-19) nhưng cả 2 nước này về sau đều khiến Giu-đa thất-vọng. Đây là hình ảnh miêu-tả trong câu Giê 37: dân-sự trong vị-trí tù binh chiến tranh đã bị trói tay đưa cao trên đầu và bị dẫn đi. Bất cứ điều gì chúng ta quyết định trái với ý muốn Chúa đều khiến chúng ta rơi vào cảnh mất tự-do bởi chỉ có duy nhất lẽ-thật mới giải thoát đuợc chúng ta mà thôi (Gi 8:32). Lực lượng quân đội của Ba-by-lôn cuối cùng đã chiếm được xứ, phá hủy thành Giê-ru-sa-lem và dân-sự bị bắt dẫn đi.
Liệu Giu-đa có cách nào thoát khỏi cơn thịnh nộ đang đến không? Vâng, có và đó cũng chính là nội dung chủ yếu trong thông-điệp tiếp theo của tiên-tri Giê-rê-mi.
2. Sự ăn-năn: Đức Chúa Trời van nài dân-sự quay trở lại cùng Ngài (Giê 2:1-37) (Giê 3:1-4:31)
Hai từ then chốt trong phần này là “trở lại” (Giê 3:1,7,12,22; Giê 4:1) và “bội nghịch” (Giê 3:6,8,11,12,14,22). Trong tiếng Hê-bơ-rơ, từ “bội nghịch” (“bất-trung”) thật ra cũng mang cùng một ý nghĩa với từ “thói xấu cũ”.
•Các hình ảnh (Giê 3:1-10; Giê 3:21-4:4).
Nhà tiên-tri lại tiếp tục dùng 4 hình ảnh sống động dưới đây để miêu-tả tình trạng thuộc-linh đáng buồn của vương quốc Giu-đa.
-Hình ảnh người vợ phản bội chồng (Giê 3:1-10).
Tiên tri Giê-rê-mi một lần nữa lại sử dụng hình ảnh so sánh ẩn-dụ về hôn-nhân mà ông đã dùng ở Giê 2:1-2,20 nhưng lần này ông đề-cập đến việc ly-dị. Theo Luật Môi-se, một người có thể ly-dị vợ nhưng không được phép lấy người đó làm vợ lại lần nữa (Phuc 24:1-4).
Đức Chúa Trời có quyền từ bỏ dân Ngài, không phải vì họ đã từ bỏ Ngài để tương thông với người “chồng” khác mà là vì họ đã hành dâm với nhiều người tình. Dân-sự đã lên những đồi cao và xây những miếu cho những thần-tượng ngoại bang. Hành động của họ còn tệ hơn cả phường đĩ điếm, là những người vốn chờ đợi khách làng chơi đến với mình. Nhưng Giu-đa lại còn tệ hơn, họ chạy theo nh ững thần-tượng giả dối và luôn tái phạm-tội ngoại-tình thuộc-linh với những thần này. [22]
Tuy nhiên, thay vì từ bỏ dân Ngài, Đức Chúa Trời vẫn kiên-nhẫn kêu-gọi họ trở lại làm vợ Ngài. Thật phước hạnh dường bao! Chúa thậm chí đã khiến xảy đến một cơn hạn hán trong vùng và dân-sự đã phải chạy đến kêu cầu Ngài giúp đỡ (Giê 3:4-5); thế nhưng họ vẫn không thật lòng ăn-năn về tội-lỗi mình.
Do mối quan-hệ lập trên giao-ước với Đức Chúa Trời mà dân Giu-đa gọi Ngài là “Chúa” và là “Đấng Dẫn Dắt” là những danh xưng mà những người phụ nữ Do-thái vẫn thường hay gọi chồng mình. Nhưng làm thế nào để Đức Chúa Trời có thể ban phước cho dân-sự theo như giao-ước một khi họ không còn vâng-giữ những luật-lệ trong giao-ước ấy nữa?
Khi đế quốc A-si-ri xâm chiếm vương quốc phía Bắc của Y-sơ-ra-ên vào năm 722 S.C , vương quốc Giu-đa ở phía Nam đã được chứng-kiến sự đoán-phạt của Chúa. Tuy nhiên, dân Giu-đa vẫn không chịu nhìn nhận bài học từ sự phá hủy Y-sơ-ra-ên và phủ nhận tội-lỗi của mình (c. 6-11).
Đức Chúa Trời đã “ly-dị” Y-sơ-ra-ên và bỏ sang một bên. Y-sơ-ra-ên trở thành một phần của đế quốc A-si-ri và vương quốc phía Bắc này đã không bao giờ được phục-hồi trở lại. Nhìn thấy sự đoán-phạt này, nhưng Giu-đa vẫn đi trong con đường tội-lỗi của mình như thể điều đó sẽ chẳng bao giờ xảy đến với họ.
Do-thái cao-ngạo này mà Giu-đa đã phạm-tội thậm chí còn nặng hơn cả Y-sơ-ra-ên. Giu-đa đáng lẽ đã bị “bỏ sang một bên” nhưng Đức Chúa Trời vẫn khoan dung mời gọi người vợ ngoại tình này quay về với Ngài.
Do vâng-phục nhà vua, dân-sự đã hợp tác với vua Giô-sia và tiến hành dẹp bỏ hình-tượng nhưng tất cả những gì họ làm chỉ là “giả dối” mà thôi (c.10). Đối với Đức Chúa Trời thì “miệng họ ở gần Ngài song lòng họ cách xa Ngài” (Giê 12:2; Êxe 33:31).
Thậm chí ngày nay, khi các nhà lãnh đạo chính trị khoe rằng họ đã được tái-sinh đời sống, sẵn lòng thúc đẩy các hoạt động truyền-giảng Phúc-Âm thì việc đi nhà thờ và đọc Kinh Thánh của họ chỉ là những việc làm “vì để…“ mà thôi. Vậy, bạn sẽ căn-cứ vào cái gì để nhận biết những người này thật sự chân-thật đến mức nào? Đức-tin Cơ-đốc thật sẽ không bao giờ phổ biến và con đường dẫn đến sự sống vẫn là m ột con đường hẹp, ít người đi (Mat 7:13-23)
•Một bệnh nhân không khỏe mạnh (Giê 3:21-25). Trong Kinh Thánh, bệnh tật là một trong nhiều hình ảnh ẩn-dụ chỉ tội-lỗi (Giê 8:22; Giê 30:12; Ês 1:5-6; Mac 2:17; Thi 41:4). Như một căn bệnh lây lan khi nhiễm vào mạch máu, tội-lỗi cũng âm thầm lặng lẽ thấm vào “con người bên trong“ bắt đầu làm cho cơ thể suy yếu và bị hủy hoại dần.
Nó dần dần tác động lên toàn bộ các hệ thống của cả thể xác lẫn tinh thần con người chúng ta, gây ra trạng thái chán chường cũng như không còn đói khát về mặt thuộc-linh. Và nếu không được quan tâm đến, “căn bệnh tội-lỗi“ có thể dẫn đến những hậu quả thật khủng khiếp, đáng sợ. Khi chúng ta nghe nói đến những tín-hữu “đột nhiên“ rơi vào tội-lỗi, trong đa số các trường hợp là người ấy đã bị trượt dốc dần dấn trước đó.
Đức Chúa Trời sẵn sàng chữa lành không chỉ các triệu chứng của sự bội nghịch của dân-sự mà còn chính thái-độ bội nghịch nữa. Những tiên-tri giả chỉ giải quyết các triệu-chứng và tuyên-bố về sự bình-an giả dối vốn chỉ đem lại cho con người một lòng tin tưởng giả tạo (Giê 6:14; Giê 7:8; Giê 8:11). Nhưng một bác-sĩ chữa trị các căn bệnh của tâm-hồn thật-sự sẽ bày-tỏ lẽ-thật cũng như tìm các hướng tội-nhân đến sự chữa lành thuộc-linh thực sự vốn chỉ đến từ việc xưng-tội và ăn-năn thật.
Điều này nhắc tôi nhớ đến một câu chuyện tôi vẫn thường hay kể trong các bài giảng. Một tín-đồ tại một hội thánh nọ thường có thói quen kết thúc lời cầu-nguyện trước hội chúng với câu “lạy Chúa, xin cất lấy những mạng nhện trong lòng chúng con!”. Một tín-hữu khác thật sự lo-lắng với lời cầu-nguyện này, vì vậy một buổi tối nọ, sau khi nghe xong lời này, ông bèn đứng lên và cầu-nguyện thêm rằng “và lạy Chúa, khi Ngài đang ở trong mạng nhện đó, xin cũng hãy giết luôn con nhện”. Tiên-tri Giê-rê-mi đang cố gắng “giết con nhện” và chữa-trị cho bệnh nhân.
Dân Do-thái cho rằng sự giải cứu cho họ phải đến từ các thần-tượng họ thờ-lạy trên các nơi cao - các miếu trên cao. Thế nhưng, hy-vọng duy nhất cho họ chính là thái-độ ăn-năn và tin-cậy Chúa [23] vì những thần-tượng này không thể giải cứu họ. Thật sự, những thần-tượng này chẳng đem lại cho họ điều gì cả ngoài sự xấu hổ. Vậy mà, dân Do-thái lại đem những sản vật mà Đức Chúa Trời ban-cho họ dâng lên cho các thần-tượng đáng xấu hổ này!
-Cánh đồng chưa được cày xới (Giê 4:1-3): Nan-đề của dân sự chính là thái-độ không trung thực của họ. Họ có thể nói những lời lẽ hoàn toàn đúng nhưng họ không nói những điều đó xuất phát từ tấm-lòng mình. Họ có thể cầu-nguyện với Đức Chúa Trời chân-thật nhưng vẫn không từ bỏ các thần-tượng. Họ dễ dàng thốt lên rằng: “thật như Đức Chúa Trời Hằng sống” nhưng lại không nói rằng: “trong lẽ-thật và sự công-bình”.
Tấm-lòng họ chai cứng và đầy những gai góc như một mảnh ruộng bỏ hoang, không được cày xới. Tiên-tri Ô-sê đã sử dụng hình ảnh này để ví sách với dân-sự và Chúa Giê-xu cũng đã đề-cập đến trong ví-dụ người gieo giống (Mat13:1-9,18-23)
Một tấm-lòng chưa được tẩy sạch- chưa được cắt-bì (Giê 4:4): Những bé trai Do-thái thường được cắt-bì khi dược 8 ngày tuổi, được đặt tên và trở nên con cái của sự giao-ước (Sa 17:9-14; Lê 12:3; Lu 1:59). Mặc dù không có một phẫu thuật nào trên thân thể có thể thay đổi được tấm-lòng nhưng dân Do-thái vẫn luôn cho rằng nghi thức này là một hình thức bảo-đảm cho sự cứu-rỗi của họ (Mat 3:7-9; Công 15:1-5).
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời muốn tấm-lòng của dân-sự cũng Được “giải phẫu” và họ cần phải quăng đi những sự cứng cỏi, không vâng-lời của họ. “Vậy hãy trừ sự ô uế của lòng mình đi, chớ cứng cổ nữa” (Phuc 10:16; Phuc 30:6; Rô 2:28-29; Côl 2:11). Tai họ cũng cần được cắt-bì để có thể nghe được Lời Chúa.
Ngày nay, nhiều người dựa vào lễ báp-têm, Tiệc Thánh, lễ xác nhận hoặc những hình thức tôn-giáo khác để bảo-đảm cho sự cứu-rỗi của mình trong khi Đức Chúa Trời lại muốn chúng ta có một đức-tin chân-thành xuất phát từ tấm-lòng ăn-năn thật sự. Sự cứu-rỗi là sự ban-cho mà chúng ta được nhận lãnh bởi đức-tin chớ không phải là một phần thưởng do thái-độ sùng đạo của chúng ta.
-Những lời-hứa (Giê 3:11-13): Chúa thậm chí đã kêu-gọi dân Y-sơ-ra-ên đang bị tan lạc rải rác khắp nơi hãy quay trở về với Chúa. Lời mời gọi này nhắc chúng ta nhớ đến lời-hứa của Đức Chúa Trời trong Lê 26:40-45; Phuc 30:1-20; IIVua 8:46-53 vốn đảm-bảo với dân-sự rằng Đức Chúa Trời sẽ tha-thứ cho họ nếu họ ăn-năn. Trong Giê 3:14-19. [24]
Tiên-tri Giê-rê-mi dường như nhìn xa hơn đến thời kỳ mà cả vương quốc Giu-đa lẫn Y-sơ-ra-ên sẽ được sát nhập lại. Đất nước lúc đó sẽ được thanh-tẩy, trở nên hưng thịnh và Đức Chúa Trời cũng sẽ ban-cho dân-sự những người lãnh đạo tôn-giáo để chăm-sóc họ. Trong những ngày đen tối nhất của lịch-sử dân-tộc, dân Y-sơ-ra-ên luôn nghe các tiên-tri nói đến vương quốc sắp đến của đấng Mê-si-a và lời-hứa đó đã đem lại hy-vọng cho họ.
Dân-sự chắc hẳn đã rất sửng sốt khi nghe tiên-tri Giê-rê-mi nói rằng ngày đó sẽ đến khi hòm giao-ước không còn được tưởng đến hay nhớ đến nữa (c.16). Dân-sự vốn ưa tin-cậy vào hòm giao-ước, đền thờ, các nghi thức tôn-giáo, giao-ước. Nhưng những điều này chỉ là những dấu hiệu tạm thời để chỉ đến một điều khác có ý nghĩa thuộc-linh và giá-trị đời-đời.
Ngày đó sẽ đến khi dân Do-thái đã cắt-bì được đối-xử như những dân ngoại chưa cắt-bì (Giê 9:25-26), khi đền thờ không còn cần dùng nữa (Giê 7:1-15; Gi 4:20-24) và khi có một giao-ước mới sẽ có thể khiến nhiều tấm-lòng thay đổi (Giê 11:1-5; Giê 31:31-40).
Giống như Chúa Giê-xu, Giê-rê-mi cũng nhìn xa hơn những hình thức tôn-giáo bên ngoài và dạy bảo dân-sự rằng Đức Chúa Trời luôn mong tìm kiếm sự dâng hiến của từng tấm-lòng. Vì thế, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi cả 2 đều bị kết tội phản bội và bị bắt bớ chống đối lại “tôn-giáo thật” mà Chúa đã ban-cho dân Y-sơ-ra-ên.
-Sự đoán-phạt (Giê 4:5-18).
Tiên tri Giê-rê-mi nói đến việc đất nước sẽ bị đế quốc Ba-by-lôn ở phương Bắc xâm chiếm (Giê 1:14) như một con sư tử hung dữ (Giê 4:7) và như một trận gió lốc sa mạc hủy diệt mọi thứ (Giê 4:11-13). Sự đoán-phạt đáng sợ sẽ giáng xuống trên Giu-đa. Thế nhưng dân-sự vẫn chưa được chuẩn bị vì mọi người vẫn tin vào sứ-điệp về sự bình-an do các tiên-tri giả rao-báo (c.10 ) [25] “Điều đó không thể xảy ra tại đây” chính là khẩu hiệu của họ vì “xét cho cùng, chúng ta có đến thờ và có hòm giao-ước”
Chúa ra lệnh cho những người canh giữ thổi kèn và lên tiếng cảnh báo cho dân-sự chạy đến các tường thành để ẩn nấp. Điều đó sẽ cho họ thời gian để có thể quấn vải bố và ăn-năn cũng như tẩy rửa lòng mình bằng cách xưng ra những tội-lỗi của họ (c.14). Tuy nhiên, quân lính của đế quốc Ba-by-lôn sẽ đến nhanh chóng và hoàn tất công việc của mình (Êxê 38:16) “đó là những sự ……lòng ngươi” (Giê 4:18).
- Nỗi đau đớn (Giê 4:19-31). Được biết đến như là “nhà tiên-tri than khóc”, Giê-rê-mi đã bày-tỏ sự giận dữ mình khi nhìn thấy thảm kịch của dân-tộc có thể được thay đổi (Giê 4:19-21). Không một tiên-tri nào trong thời Cựu-ước lại bày-tỏ nỗi lòng đau thương như tiên-tri Giê-rê-mi cả (Giê 6:24; Giê 9:10; Giê 10:19-20). Khi rao-giảng trước dân-sự, tiên-tri Giê-r ê-mi rất thẳng thắn. Còn trong chốn riêng tư, ông lại bày-tỏ tấm-lòng tan vỡ với Chúa.
Đức Chúa Trời đã giải thích với tôi-tớ Ngài vì sao lại có sự đoán-phạt xảy đến. Dân-sự thật ngu muội, họ không biết đến Đức Chúa Trời; họ thật khờ khạo và thiếu sự khôn-ngoan (Giê 4:22). Nếu trong đời sống thánh-khiết, họ cũng thông thạo như khi phạm-tội, thì Đức Chúa Trời chắc đã ban phước thay vì đoán-phạt họ.
Với khải-tượng tiên-tri, Giê-rê-mi nhìn thấy những điều đế quốc Ba-by-lôn sẽ gây ra trong lãnh thổ của dân sự Chúa (c.23-29), khiến mọi vật trở nên hỗn độn như được miêu-tả trong Sa 1:2 [26] Bất cứ nơi nào tiên-tri Giê-rê-mi nhìn đến, ông cũng đều thấy sự đ ổ nát. Ngay cả núi non cũng bị rúng động! Chính nhờ vào lòng thương-xót của Đức Chúa Trời mà mọi vật ở đất nước Giu-đa không hoàn toàn bị tàn phá (Giê 4:27; Giê 5:10,18; Giê 30:11; Giê 46:28).
Nhưng thảm họa lớn nhất chính là thái-độ bất-trung của dân-sự, họ đã không ăn-năn và từ chối kêu-cầu sự giúp đỡ của Chúa (Gie 4:30-31). Giê-rê-mi miêu-tả họ như phường đĩ điếm ra sức liên minh với những dân-tộc khác để giúp đỡ họ ngăn chặn đế quốc Ba-by-lôn, nhưng những “người tình” của họ đã không đáp lời kêu-cầu của họ. Giu-đa đã tin-cậy các nước liên minh hơn là Đức Chúa Trời. Kết cuộc, phường đĩ điếm này sẽ trở nên giống như những người đàn bà đang sanh đẻ- vốn là một hình ảnh của sự đoán-phạt đau thương hay được dùng trong sách tiên-tri Giê-rê-mi (Giê 6:24 Giê 13:21; Giê 22:23; Giê 30:6; Giê 48:41; Giê 49:22,24; Giê 50:43). [27]
-Giê 3:1-25; xem giải nghĩa Giê 2:1-37.
-Giê 4:1-31; xem giải nghĩa Giê 2:1-37.
3. Sự công-bình: Đức Chúa Trời tìm kiếm những kẻ yêu mến Ngài (Giê 5:1-31)
Do dân-sự không chịu lắng nghe lời Chúa, nên Ngài đã phán bảo với tiên-tri Giê-rê-mi phải “diễn-tả” sứ-điệp của ông. Đây là hành động đầu tiên trong số ít nhất 10 “bài giảng qua hành động” được tìm thấy trong sách tiên-tri Giê-rê-mi [28]. Bên cạnh đó, nội dung của chương này liên-quan đến 4 tội-lỗi của dân thành Giê-ru-sa-lem.
(1). Một cuộc tìm kiếm:
Họ là những người không yêu mến Chúa (Giê 5:1-6): Đức Chúa Trời truyền cho Giê-rê-mi tiến hành một cuộc tìm kiếm trong khắp các thành của Giê-ru-sa-lem. Nếu tìm thấy một người công-bình, Chúa sẽ tha-thứ cho dân thành độc ác này và trì hoãn sự đoán-phạt. Nền-tảng cho “bài giảng hành động” này chính là việc Đức Chúa Trời đồng ý với Áp-ra-ham rằng Ngài sẽ không hủy diệt thành Sô-đôm nếu tìm được 10 người công bình trong thành (Sa 18:22-33). Cuộc trắc-nghiệm trong thành Giê-ru-sa-lem chính là liệu dân thành có sống trong lẽ-thật và sự công-bình không ?
Tiên tri Giê-rê-mi không tìm được người nào trong số những người nghèo khổ sống như vậy, nhưng ông tự cho rằng việc thiếu hiểu biết về tôn-giáo chính là lý-do của họ. Giê-rê-mi tiếp tục tìm kiếm trong số những người giàu có và những nhà lãnh đạo dân-tộc vốn là những người ông biết rằng họ rất hiểu biết về các điều răn của Đức Chúa Trời. Thế nhưng những người này lại cởi bỏ ách và quay lưng lại với Luật-pháp (Giê 5:5; Giê 2:20; Thi 2:1-3). Cuối cùng, Giê-rê-mi chẳng tìm một người nào được kể là công-bình và trung-tín cả.
Còn lại một điều mà Đức Chúa Trời có thể làm, đó là Ngài cho phép đạo quân xâm lược như những thú dữ chiếm lấy lãnh thổ, cướp bóc và tiêu diệt dân-sự (Giê 2:15; Giê 4:7). Hễ con vật nào tự bẻ ách và trốn khỏi chủ mình ắt sẽ chỉ gặp phải sư tử, sói, và báo mà thôi! Đó phải chăng là sự tự-do hay sao?
(2). Sự kết tội:
-Họ là những kẻ vô ơn (Giê 5:7-9): Đức Chúa Trời đặt ra 2 câu hỏi: “Ta tha-thứ các ngươi sao được?” (c.7) và “Ta sẽ chẳng thăm phạt về những sự đó hay sao?” (c.9) Đức Chúa Trời “đã khiến họ ăn no” (c.7) “chu-cấp cho họ mọi thứ cần dùng” nhưng dân-sự lại sử dụng những tặng vật Chúa ban-cho để phạm-tội và phục-vụ cho những thần-tượng của mình.
Đáng lẽ những ơn phước tốt lành của Chúa đã khiến họ phải ăn-năn (Rô 2:4) nhưng họ lại bày-tỏ thái-độ vô-ơn đối với những ơn phước ấy của Ngài (Os 2:4-13). Thay vì hành động như những người nam, người nữ được tạo dựng theo hình ảnh của Chúa, họ lại tr ở nên giống như những thú vật trong sa mạc (“chúng nó cũng như con ngựa mập”, “chạy lung”, Giê 5:8; Giê 2:24).
Các dân-tộc thờ hình-tượng trong khu vực Ca-na-an tiến hành những buổi thờ-phượng vô đạo đức không thể tin được. Trong suy nghĩ của mình, dân-sự cho rằng việc kết giao với các thần-tượng khác có thể bảo đảm cho vụ mùa của họ được kết quả.
Theo họ, Ba-anh là thần mưa, đem lại mưa cho đất. Vì vậy, khi Đức Chúa Trời ngăn mưa lại để cảnh cáo dân sự Ngài, họ lại quay sang các thần-tượng ngoại bang để cầu xin sự giúp đỡ.
Vua Giô-si-a đã tiến hành dẹp bỏ các đền thờ các thần ngoại bang, thế nhưng dân-sự vẫn tìm mọi cách khác để tiếp tục và làm thỏa mãn những tham muốn xấu xa mà họ đã nhen nhúm lên trong dân Giu-đa. Cũng giống như xã hội ngày nay, mọi người đều tôn-thờ tình dục và không nhận thấy điều sai trái trong những điều họ làm.
(3). Sự phá hủy:
-Họ là những kẻ bất trung (Giê 5:10-19): Đây chính là trọng tâm của vấn-đề: do dân-sự không tin vào Lời Chúa, nên họ đã quay lưng lại với Ngài và đi theo ý riêng của mình. “Chúng nó đã chối bỏ …….đói kém” (Giê 5:12). Họ chống lại Lời Chúa phán qua các tiên-tri và gọi những lời đó là “gió”. Hậu quả là Đức Chúa Trời phải dùng tới một sự đoán-phạt đến trên vườn nho của Ngài (Giê 5:10-11; Giê 2:21).
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời phán rằng Lời Ngài là ngọn lửa thiêu đốt dân-sự như củi vậy (Giê 5:14; Giê 23:29). Chú ý từ “ăn” trong Giê 5:17, đó chính là lời cảnh-báo rằng đạo quân Ba-by-lôn sẽ xâm chiếm lãnh thổ. Sự xâm chiếm này sẽ làm thành lời cảnh-cáo trong Phuc 28:49-52, là lời cảnh báo mà tất cả dân-sự đều biết. Dân Do-thái đã từ bỏ Đức Chúa Trời để thờ-phượng các thần ngoại bang ngay trong đất nước mình. Bây giờ, họ sẽ tạm thời bị Chúa quên đi và bị đạo quân xâm lược Ba-by-lôn dẫn đi thờ-phượng các thần-tượng chết nơi đất khách.
Thế nhưng, mở đầu và kết thúc của lời cảnh-báo này làm một lời-hứa Đức Chúa Trời sẽ không hủy diệt dân-tộc hoàn toàn (Giê 5:10,18; Giê 4:27; Giê 30:11; Giê 46:28) [29]. Ngay cả trong cơn giận dữ, Ngài vẫn có sự thương-xót (Ha 3:2). Các tiên-tri rao-truyền về sự đoán-phạt nhưng họ cũng nói rằng “số còn sót lại” sẽ không bị đoán-phạt. Tiên-tri Ê-sai đã nhiều lần lặp lại lời-hứa này (Ês 1:19; Ês 10:20-22; Ês 11:11,16; Ês 14:22; Ês 46:3), thậm chí còn nêu tên một trong những con trai của mình là “người sót lại được trở về” (Sê-a-gia-súp Ês 7:3). Tiên-tri Mi-chê cũng lặp lại lời hứa này (Mi 2:12; Mi 4:7; Mi 5:3,7-8; Mi 7:18).
Số người cón sót lại sẽ từ Ba-by-lôn trở về vùng đất Giu-đa sau thời gian bị bắt để lập lại đất nước, xây dựng lại đến thờ, duy trì lời-chứng và sửa soạn đón tiếp đấng Mê-si-a sắp đến. Đức Chúa Trời đã lập giao-ước với Áp-ra-ham rằng hậu-tự của ông trên khắp đất sẽ được chúc phước (Sa 12:1-3) và Ngài đã giữ trọn lời-hứa mình.
(4). Sự tuyên-cáo:
-Họ là những người không quan tâm (Giê 5:20-31): Tiên-tri Giê-rê-mi vốn dĩ là một người nhút nhát. Tuy nhiên, Chúa lại bảo ông phải tuyên-cáo thẳng thắn với nhà Gia-cốp họ là người như thế nào. Những hình ảnh miêu-tả của nhà tiên-tri đã khiến họ nổi giận và không khiến họ hết tự mãn.
Tiên-tri Giê-rê-mi miêu-tả họ là những người ngu dốt, mù lòa, không nghe và không biết kính-sợ Chúa. Họ là những kẻ cứng lòng và nổi loạn, không còn chịu hầu-việc Đức Chúa Trời nữa. Chúa ban mưa và mùa màng cho dân Ngài, nhưng họ lại không biết cảm-tạ Chúa.
Thay vì nhắc nhở nhau kính-sợ Chúa, họ lại bóc lột nhau như thợ săn săn tìm chim chóc vậy. Do vậy, kẻ giàu ngày càng giàu thêm và người nghèo ngày càng nghèo xác nghèo xơ. Các quan tòa cũng trở nên sa đọa. Tiên-tri thì chỉ đầy dẫy những kẻ giả dối, thầy tế-lễ cũng đồng một lòng với dân-sự: và mọi người tán thưởng những điều đã làm và lấy làm vui thỏa! “Dân ta đều lấy làm ưa thích” (Giê 5:31). Khi một dân-tộc đã trở nên sa đọa thì chẳng còn hy vọng gì cả cho quốc gia đó cả.
Tội-nhân thường nghĩ rằng họ sẽ bị phạt nhẹ với tội của mình nhưng Chúa hỏi họ rằng “khi đến cuối cùng, các ngươi sẽ làm thế nào?” (Giê 5:31). “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo của sự chết” (Ch 14:12)
4. Sự báo thù: Chúa sẽ giáng sự đoán-phạt (Giê 6:1-30)
Kết thúc bài giảng, tiên-tri Giê-rê-mi nhấn mạnh đến việc xâm chiếm của đế quốc Ba-by-lôn và sự tàn phá mà họ sẽ gây ra cho vương quốc Giu-đa. Trong giây phút quyết định đó, nhà tiên-tri nói trước cho dân-sự biết những điều Chúa sẽ làm.
a. Chúa tuyên chiến (c.1-5):
Đầu tiên, Đức Chúa Trời nói chuyện với dân Ngài và cảnh cáo họ về sự đoán-phạt sắp đến (c.1-3). Dân Do-thái có 3 cách để tiếp nhận tin tức chiến trận: từ những người canh gác trên tường thành (c.17), từ tiếng kèn hiệu (c.1; Dân 10:1-10) và từ ánh lửa hiệu đốt lên trên các nơi cao (Giê 6:1).
Do quê nhà của tiên-tri Giê-rê-mi ở A-na-tốt tại Bên-gia-min nên ông bắt đầu cảnh-báo cho những người lân cận chạy ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem. Thành Giê-ru-sa-lem được ví sánh như một “cô gái đẹp đẽ yểu điệu”, nhưng nó sẽ có kết cuộc như một “người đàn bà góa” (Ca 1:1) với sắc đẹp đã tàn phai (c.6) “những kẻ chăn” ngoại bang (quân lính) sẽ xâm chiếm những đồng cỏ xanh tươi và dựng lều của họ chỉ để giết chóc đàn gia súc.
Kế đến, Chúa phán với quân đội Ba-by-lôn qua những điều Ngài ra lệnh (Giê 6:4-5) và cùng chỉ dẫn chiến lược cho họ: đó là tấn công bất ngờ vào buổi trưa, là thời điểm nóng nhất trong ngày nên không ai có thể liệu trước được. Ngài cũng vạch kế-hoạch tiếp tục tấn công vào ban đêm khi các chiến binh đang nghỉ ngơi.
Từ ngữ “sửa soạn” có nghĩa là “nên thánh hoặc hiến dâng”; các chiến binh Ba-by-lôn xem trận chiến này như một cuộc thập-tự quân cho các thần của họ (Gio 3:9; Mi 3:5).
b. Chúa chỉ dẫn cuộc tấn công (c.6-15):
Đức Chúa Trời phán cho quân đội Ba-by-lôn biết những điều họ phải làm: đốn cây và đắp lũy quanh tường thành. Sau đó, Ngài cho họ biết vì sao phải làm như vậy. Giê-ru-sa-lem giống như một giếng nước chảy ra toàn nước dơ bẩn nên cả thành phải bị đoán-phạt. Nó cũng giống như một người đang hấp hối với một vết thương không thể chữa lành; vì vậy những điều này phải được tẩy-sạch. Cuối cùng Chúa chỉ cho họ biết cách thức phải làm thế nào: bằng cái nhìn bao quát và chính xác, người hái nho đi vào vườn nho và không để sót một trái nào (Giê 6:5,9).
Nhà tiên-tri than khóc vì ngay chính trong giờ phút quyết định đó, vẫn không ai chịu lắng nghe! (c.10). Không những tấm-lòng họ chưa được cắt-bì (Giê 4:4) mà tai họ cũng vậy (Công 7:51) nên họ không chịu nghe Lời Chúa. Đầy tức giận, Giê-rê-mi nói cho dân-sự biết cơn giận của Chúa sẽ giáng xuống tất cả mọi người: già, trẻ; đàn ông, đàn bà và ngay cả trẻ con. Những người cai-trị và những thấy tế-lễ cũng sẽ không thoát được; thật ra, họ chính là những người có tội n ặng nhất vì đã tạo cho dân-sự một sự an-lòng giả tạo khiến dân-sự đã không chịu ăn-năn về tội-lỗi mình (Giê 6:13-15; Giê 7:8; Giê 8:11) “ấy là vì cớ…thầy tế-lễ nó” (Ca 4:13). Chúa chắc chắn sẽ giáng sự đoán-phạt này.
c. Chúa tuyên-án (c.16-23):
Dân này có tội không? Có! Họ đáng bị đoán-phạt không? Có! Thật ra, Chúa kêu-gọi mọi dân ngoại và cả trái đất hãy chứng-kiến mọi điều Ngài đã làm cho dân Ngài để tránh sự đoán-phạt như vậy (Giê 6:18-19). Dân-sự đã không đi trong đường lối Ngài [30] Họ cũng không chịu lắng nghe các tiên-tri Ngài. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục thờ-lạy Chúa một cách giả dối! (Ês 1:11-14; Am 5:21; Mi 6:6-8).
Chúa đã chỉ cho họ con đường đúng để đi nhưng họ đã từ chối nên chẳng còn lối thoát nào cho họ cả. Quân đội Ba-by-lôn là một cản trở đáng sợ cho bất cứ ai tìm cách trốn thoát cơn giận của Chúa. Và dĩ nhiên con gái Si-ôn cũng không thể nào trốn thoát được.
d. Chúa miêu-tả những hậu quả (c.24-30):
Nhà tiên-tri miêu-tả phản ứng của dân-sự khi nghe tin tức; họ không bày-tỏ một điều gì khác ngoài thái-độ tức giận, sợ hãi và yếu đuối như một người đàn bà đang đẻ con (Giê 6:24-26). Cụm từ “Khắp nơi đều có sự kinh hãi” (c.25) được lặp lại nhiều lần trong các câu Giê 20:10; Giê 46:5; Giê 49:29. Đây cũng chính là tên gọi mà tiên-tri Giê-rê-mi đặt cho Pha-su-rơ, là quản đốc trong đền thờ.
Thỉnh thoảng, những sự thử thách đem lại điều tốt cho dân-sự nhưng điều này đã không xảy ra trong thành Giê-ru-sa-lem. Khi Chúa thổi lửa lò nung, điều đó bày tỏ rằng dân-sự như bạc bị ném ra không làm chi được nữa. Không phải Ngài đang thanh-tẩy dân-sự mà đang đoán-phạt họ. Họ không được tinh chế nữa mà bị bỏ ra ngoài. Họ không đáng giá gì để dược giữ lại nữa.
“Tôi thật sự run sợ cho đất nước mình khi suy nghĩ rằng Chúa là công-bình và sự công-bình Ngài không thể yên lặng mãi được”.
Thomas Jefferson đã viết những lời này trong cuốn sách Notes on the State of Virginia (Nhật ký của bang Virginia) của mình cách nay hơn 2 thế kỷ và đây vẫn là một điều quan-trọng cho chúng ta suy nghĩ ngày hôm nay.
3. TIẾNG NÓI TRONG ĐỀN THỜ (Giê 7:1-10:25)
“Càng hiểu rõ về tổ-tiên, chúng ta càng thấy họ giống những người đương đại” Henry David Thoreau [31]
Giả sử vào thời của tiên-tri Giê-rê-mi sống, có một tờ báo trong thành Giê-ru-sa-lem thì ắt rằng những dòng đầu của những số báo liên tiếp nhau sẽ có nội dung như sau:
- Vua Giô-sia bị thương nơi chiến trường!
Vị vua dũng cảm được đưa về thành Giê-ru-sa-lem để chăm-sóc.
- Nhà vua băng hà!
Giô-a-cha lên ngôi kế vị cha.
- Ai-cập truất ngôi của Giô-a-cha
Nhà vua trị-vì chỉ được 3 tháng.
- Ê-li-a-kim là quan nhiếp chính mới.
Được Pha-ra-ôn đổi tên là “Giê-hô-gia-kim”
Đằng sau những tiêu-đề hư-cấu này là những biến-cố đau thương dẫn đến sự sụp đổ của vương quốc Giu-đa. Là người có lòng sốt sắng với công việc của Đức Chúa Trời, vua Giô-sia đã thực hiện một cuộc cải cách trong cả nước qua việc sửa sang lại đền thờ và dẹp bỏ mọi hình tượng ra khỏi lãnh thổ.
Nhưng vào năm 609 TC, nhà vua đã không chú ý đến lời cảnh cáo của Chúa và thiếu khôn-ngoan khi bước vào một cuộc chiến v ới Ai-cập, A-si-ri và Ba-by-lôn. Nhà vua bị thương nơi chiến trận gần trũng Mê-ghi-đô và được đem về Giê-ru-sa-lem và người qua đời tại đây (IISu 35:20-27). Dù bàng hoàng trước cái chết của vua, nhưng vương quốc Giu-đa vẫn không nhận biết việc mất vua mình là lời kêu-gọi của Chúa: cả dân-tộc hãy ăn-năn và thú nhận tội-lỗi mình.
Giô-a-cha, con trai của vua Giô-sia, lên ngôi được 3 tháng thì bị vua Ai-cập truất ngôi và đưa em trai người, Ê-li-a-kim lên thay thế.
E-li-a-kim được vua Ai-cập đặt tên là “Giê-hô-gia-kin” (Do vua Giô-si-a bị bại trận nên Giu-đa trở thành nước chư hần của Ai-cập). Trong suốt 11 năm trị-vì, Giê-hô-gia-kim lại dẫn dắt dất nước quay trở về với việc thờ hình-tượng. Mặc dù vua Giô-sia đã dẹp bỏ hình-tượng ra khỏi lãnh thổ nhưng nhà vua đã không thể cất việc thờ hình-tượng ra khỏi lòng của dân-sự.
Dân Do-thái không hoàn toàn bỏ công việc đền thờ; nhưng họ đã đem việc thờ các thần-tượng vào đền thờ và chỉ xem Đức Giê-hô-va như là một trong các thần họ thờ-phượng mà thôi. Nếu nhìn thấy một buổi thờ-phượng của họ, bạn sẽ nghĩ rằng những người này thật lòng tôn-thờ Đức Chúa Trời; thế nhưng, tấm-lòng họ lại thuộc về thần Ba-anh, Át-tạt-tê, Kê-mốt và các thần của các nước ngoại bang chung quanh. Giu-đa thờ Đức Giê-hô-va chỉ ở môi miệng còn tấm-lòng mình thì lại đem dâng cho các thần-tượng .
Dân Do-thái biết việc thờ hình-tượng là sai nhưng lại tự tin rằng họ không có việc gì phải sợ. Dẫu sao thì Chúa sẽ không bao giờ cho phép việc kinh khủng nào có thể xảy ra với thành có đền thánh của Ngài! Chẳng phải dân Giu-đa đã được nhận lãnh Luật-pháp Môi-se và chính họ là con cái của Áp-ra-ham, con cái của sự giao-ước đó sao? Họ chính là tuyển dân của Chúa! Với một di sản tôn-giáo như thế, họ tin chắc sẽ không có sự đoán-phạt nào có thể giáng xuống vương quốc họ được.
Tuy nhiên, Chúa lại có một cái nhìn khác hẳn về vấn-đề này. Ngài sai tiên-tri Giê-rê-mi lên đền thờ và rao giảng thông-điệp của Ngài cho những kẻ giả hình tụ tập ở đó. Trong bài giảng ấy, nhà tiên-tri đã can-đảm chỉ ra sự thờ-phượng giả dối của dân-sự (Giê 7:1-8:3), những tiên-tri giả của họ (Giê 8:4-22), sự tin tưởng sai lệch của dân-sự vào giao-ước mà họ đang bất-tuân theo (Giê 9:1-26) và những thần-tượng giả dối họ đang thờ phượng (Giê 10:1-25).
Nói một cách khác, tiên-tri Giê-rê-mi đã dạn dĩ đề-cập đến thái độ tội-lỗi của dân-sự đối với đền thờ, Luật-pháp, giao-ước và đối với chính Đức Chúa Trời. Đây không phải là một bài giảng thông thường. Trái lại, có thể phải trả giá bằng chính mạng sống của nhà tiên-tri.
1. Sự thờ-phượng giả dối: đền thờ (Giê 7:1-8:3)
Ba lần trong một năm, những người đàn ông Do-thái đều phải lên đền thờ tại Giê-ru-sa-lem để dự các kỳ lễ (Phuc 16:16) và có lẽ đây là một trong những dịp đó. Có lẽ đền thờ đã chật cứng người nhưng không mấy ai trong số đó là những người thật lòng thờ-phượng Chúa. Nhà tiên-tri đứng tại một cửa trong đền thờ và rao giảng cho mọi người khi họ đi vào. Ông đưa ra 4 bảng cáo-trạng của Đức Chúa Trời chống lại dân Giu-đa.
(1). “Việc thờ-phượng của họ chẳng có ích gì” (c.1-15):
Do tin vào những lời dối trá của các tiên-tri giả, dân-sự vẫn nghĩ rằng họ vẫn có thể sống trong tội-lỗi và đi đến đền thờ để thờ-phượng Chúa thánh-khiết. Theo Giê 7:6,9, họ đã phạm ít nhất 5 trong số 10 điều răn nhưng các tiên-tri giả trong thành Giê-ru-sa-lem lại bảo-đảm về những ơn phước và sự bảo vệ của Chúa giúp họ thoát khỏi sự tấn công của kẻ thù. Chắc chắn đây không phải là đức-tin mà chỉ là sự mê-tín mù quáng [32] nên tiên-tri Giê-rê-mi đã nhanh chóng xé toang ảo tưởng của dân-sự.
Chúa Giê-xu đã từng đề-cập đến câu 11 sau khi Ngài dọn dẹp đền thờ (Mat 21:13) “ổ trộm cướp” là nơi mà các tên trộm ẩn nấp sau khi phạm-tội. Vì vậy, tiên-tri Giê-rê-mi đã tuyên-bố rằng dân Do-thái đang sử dụng những nghi lễ trong đền thờ để che đậy tội-lỗi kín dấu của họ.
Thay vì khiến đền thờ nên thánh, dân-sự lại biến đền thờ trở nên bất-khiết! Một thế kỷ trước đó, tiên-tri Ê-sai cũng đã rao-giảng một thông-điệp giống như vậy (Ês 1:1-31) và khá lâu sau đó, sứ-đồ Phao-lô cũng đã viết lời cảnh-cáo tương tự cho các tín-hữu trong thời của ông (Êph 5:1-7; Phi 3:17-21). Thật vậy, Bất cứ một thuyết thần-học nào làm giảm nhẹ sự thánh-khiết của Chúa và dung dưỡng cho tội-lỗi đều là sai lệch.
Dân-sự cần ăn-năn không chỉ để tránh hậu quả khủng khiếp của tội-lỗi mình trong cách sống và trong sự thờ-phượng mà còn để tránh sự đoán-phạt chắc chắn sẽ đến (Giê 7:12-15). Giao-ước của Chúa với dân Do-thái bao gồm cả phước lành lẫn sự đoán-phạt. Họ sẽ nhận được phước lành khi vâng-lời và sẽ nhận lấy sự đoán-phạt khi chống nghịch (Phuc 11:26-30; Phuc 27:1-26 Gios 8:30-35). Mặc dù biết rõ điều này, dân Do-thái vẫn tiếp tục tội-lỗi của mình và bỏ qua lời cảnh-cáo của Chúa .
Dân-sự cũng không còn nhớ đến sự đoán-phạt của Chúa trong quá-khứ, gồm cả sự đoán-phạt của Ngài trong lều tạm khi còn ở tại Si-lô. Những con trai độc ác của Hê-li cho rằng nếu đem hòm giao-ước đến chiến trường thì dân-sự sẽ chiến thắng dân Phi-li-tin, nhưng rồi họ đều bị bắt và đã để cho quân địch chiếm lấy hòm giao-ước. Sau đó, Chúa đã viết dòng chữ “Y-ca-bốt” , tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “sự vinh-hiển đã lìa khỏi” lên đền tạm (ISa 4-6; Gios 4:21-22). Thật vậy, Chúa có thể gìn giữ đền thờ thánh của Ngài nếu Ngài muốn nhưng đền thờ của Ngài ở Giê-ru-sa-lem không còn thánh-khiết nữa. Nơi đó đã thành hang trộm cướp! Thà không có đền thánh còn hơn là có nhưng lại để những kẻ giả hình coi thường nhà Chúa .
(2). “Lời cầu thay của ngươi cho dân này cũng chẳng ích gì” (c.16-20):
Có ít nhất 3 lần Chúa không cho tiên-tri Giê-rê-mi cầu thay cho dân-sự (Giê 7:16; Giê 11:4; Giê 14:11). Đây thật là một cáo-trạng chống lại dân-sự. Chúa đã cho phép Áp-ra-ham cầu thay cho đám dân độc ác tại thành Sô-đôm (Sa 18:23-33) và Ngài cũng lắng nghe khi Môi-se van nài xin tha cho dân Y-sơ-ra-ên phạm-tội (Xu 32:1-33:23; Dan 14:1-45). Thế nhưng Chúa lại không cho phép Giê-rê-mi khẩn xin cho vương quốc Giu-đa. Dân sự đã đi quá xa trong tội-lỗi mình và tất cả những gì còn lại cho họ chỉ là sự đoán-phạt (IGi 5:16; ICôr 11:30).
Khi một dân-tộc suy tàn, nó thường bắt đầu từ gia đình và Chúa nhìn thấy mọi gia đình tại thành Giê-ru-sa-lem đều cùng nhau thờ-lạy các thần-tượng (Giê 7:17-19). Giá như mọi cha mẹ đều dạy dỗ con cái mình học theo Đức Chúa Trời và thờ-phượng Ngài! Tuy nhiên, dân Do-thái lại thờ-lạy “nữ vương trên trời”, vốn là tên gọi của thần Ishtar- nữ thần tình yêu và sinh sản của dân Ba-by-lôn với những hình thức khiêu-dâm tồi tệ (Giê 44:17-19,25).
Chính việc thờ-lạy tội-lỗi này đã làm buồn lòng Chúa, nhưng thực sự dân-sự đã xúc phạm chính mình hơn là làm đau lòng Đức Chúa Trời. Sự vô đạo đức của dân ngoại bang Ba-by-lôn đã có một ảnh hưởng xấu lên các con trẻ của dân Y-sơ-ra-ên và Chúa sẽ giáng sự đoán-phạt lên cả đất, thành phố, đền thờ và cả con người của toàn dân-sự. Giu-đa đã đổi lấy những gì thuộc về vĩnh cữu để lấy những cái tạm thời và đó là một cuộc trao đổi thiếu khôn-ngoan.
(3). “Những của lễ của họ cũng chẵng giúp ích gì” (c.21-26):
Thoáng đọc đoạn sách này, độc-giả có lẽ sẽ nghĩ rằng Chúa lên tiếng chỉ trích hệ-thống thờ-phựơng mà Chúa đã ban cho dân-sự mình trong Xuất Ê-díp-tô-ký và Lê-vi-ký nhưng thật ra không phải vậy. Với vẻ châm biếm, Giê-rê-mi đã nhắc dân-sự nhớ rằng vô số của lễ họ đã dâng cho Chúa sẽ chẳng có ý nghĩa gì vì lòng họ bất-tín với Chúa.
Chúa muốn sự vâng-lời chớ không phải của lễ (ISa 15:22), Ngài muốn sự thương-xót chớ không phải là những nghi lễ tôn-giáo (Os 6:6). Tiên-tri Mi-chê đã hỏi rằng: “Đức Giê-hô-va có thích ……dầu sao?” (Mi 6:7). Sau đó, ông cũng đã tìm được câu hỏi cho chính mình “Hỡi người….Đức Chúa Trời ngươi sao?” (c.8, xem Mat 22:34-40).
Giao-ước của Chúa đối với dân Y-sơ-ra-ên tại núi Si-nai khẳng định sự bày-tỏ ân-điển của Ngài dành cho dân-sự và sự vâng-phục của họ đối với Chúa (Xu 19:1-8). Đức Giê-hô-va đã cưới một người vợ chớ không phải mua một người nô-lệ. Khi Môi-se trong Phục-truyền Luật-Lệ ký ban Luật-pháp cho một thế-hệ mới, ông nhấn mạnh đến tình yêu của Đức Chúa Trời và việc dân-sự phải vâng-phục Ngài từ tấm-lòng mình (Phuc 6:1-15; Phuc 10:12-22; Phuc 11:1; Phuc 13:22). Nếu thay thế tấm-lòng bên trong bằng nghi lễ bên ngoài sẽ khiến cho những của lễ trở nên vô nghĩa và làm mất đi những ơn phước tín-hữu ngày hôm nay. Chúng ta thật dễ dàng bận rộn cho công việc của Đức Chúa Trời mà từ bỏ tình yêu ban đầu dành cho Ngài! (Kh 2:4)
(4). “Kỷ luật và sự dạy dỗ của ta cũng chẳng đem lại ích gì” (Giê 7:27-8:3):
•“Nầy là dân ….sự dạy dỗ ”(Giê 7:28).
Hễ Đức Chúa Trời yêu ai thì Ngài sửa-phạt người đó (Ch 3:11-12; Hêb 12:5-13). Nếu chúng ta nhận biết Chúa và thật sự yêu Ngài thì sự sửa-phạt của Chúa sẽ đem chúng ta trở lại với Chúa trong sự ăn-năn, vâng-lời. Nhưng Chúa lại phán bảo tiên-tri Giê-rê-mi hãy than khóc cho dân-tộc hư-mất này vì họ không chịu ăn-năn. “Tô-phết”, tiếng A-ram có nghĩa là “lò sưởi”.
Từ này đọc giống như từ có nghĩa là “điều đáng hổ thẹn” trong tiếng Hê-bơ-rơ. Tô-phết là một địa-điểm trong Trũng Các Con Trai Của Hi-nôm, là nơi mọi người dâng con cái mình cho các thần-tượng bằng cách ném chúng vào lửa (Ês 30:33). Vua Giô-sia đã biến nơi này thành một nơi rác rến (IIVua 23:10).
Thế nhưng sau khi vua băng hà, nghi lễ ngoại bang kinh khủng này lại được tái lập. Từ ngữ “gehenna” trong tiếng Hy-lạp có nghĩa là “địa-ngục” xuất phát từ từ ngữ “ge'hinnim” trong tiếng Hê-bơ-rơ, có nghĩa là “trũng Hi-nôm” địa-ngục là nơi rác rến, nơi các tội nhân chống lại Chúa phải chịu đựng của ma quỷ và quỷ sứ của nó đời-đời (Mat 25:41).
Tiên-tri Giê-rê-mi rao báo rằng sẽ có một ngày, trũng Hi-nôm sẽ là một nghĩa-địa quá chật hẹp cho tất cả mọi người chết sau cuộc tấn công của đế quốc Ba-by-lôn. Các binh lính sẽ cướp lấy các mộ phần và xương cốt của những người đứng đầu dân-sự, các vua chúa sẽ bị đem ra nhạo báng trên các bàn thờ như những của lễ cho những thần-tượng họ thờ-lạy.
“Gehhena” sẽ một lần nữa là một nơi rác rến và hài cốt của dân thành Giê-ru-sa-lem sẽ là những rác rến! “Người ta….trên mặt đất” (Giê 8:2) [33] Những người còn sống sót sẽ bị bắt về Ba-by-lôn và đất đai sẽ bị bỏ hoang.
-Giê 8:1-3; xem giải nghĩa Giê 7:1-34.
2. Các tiên-tri giả: Luật-pháp (Giê 8:4-22)
Sau khi phá tan ảo tưởng tầm thường của dân-sự về đền thờ, tiên-tri Giê-rê-mi tiếp tục phơi-bày bản-chất các tiên-tri giả, vốn là những người liên tục chống đối lại chức-vụ của ông và dẫn dắt dân-sự đi sai đường. Ông nêu ra một số câu hỏi nhưng trọng tâm vẫn cứ xoay quanh vấn-đề: “Tại sao dân-sự không quay trở lại với Chúa?”. Để trả lời câu hỏi này, tiên-tri Giê-rê-mi đã đưa ra 3 khía-cạnh trong thái-độ bướng bỉnh của dân-sự không chịu vâng-lời Chúa.
a. Thái-độ chối bỏ của dân-sự thật phi lý (c.4-7):
Giê-rê-mi đã sử dụng những điều tương tự như cuộc sống con người và thiên nhiên để minh họa cho điều ông rao-giảng. Khi con người lỡ bị ngã, họ sẽ gượng đứng lên lại. Đó là điều hợp lý. Nếu con người đi sai đường, họ sẽ bước trở lui và đi con đường đúng. Kết luận: nếu con người có đủ khôn-ngoan trong những vấn-đề bình thường hàng ngày, tại sao họ lại thiếu khôn-ngoan trong những vấn-đề thuộc cõi đời-đời, đặc biệt là khi hậu quả trở nên bi đát hơn?
Dân-sự như những con ngựa chạy vào chiến trường mà không biết gì đến những hiểm nguy ở đó. Ngựa được huấn luyện để vâng-lời và có thể không biết thêm gì cả nhưng con người vốn được tạo dựng theo hình ảnh của Chúa nên phải biết được họ đang đi đâu. Quả thật, những người dân Giu-đa thật chẳng thông-minh bằng chim chóc! (Ês 1:3)
Chúa ban cho loài chim một bản năng để nhận biết các mùa và thời-điểm chúng cần bay đi nơi khác cư-trú. Nhưng Ngài còn ban cho con người nhiều hơn thế nữa: phần linh ở bên trong để có thể nghe thấy tiếng Chúa và hiểu biết Luật-pháp Ngài. Được tạo dựng theo hình ảnh của Chúa, con người cần phải vâng-theo chỉ dẫn thần-linh tương tự như chim chóc làm theo bản năng tự nhiên vậy.
b. Việc chối bỏ của dân-sự bắt đầu từ việc phỉnh gạt (c.8-12):
“Chúng nó đã chối bỏ …thể nào?” (Giê 8:9).
Do dân-sự khoe khoang rằng họ có đền thờ, họ cũng khoe rằng họ có Luật-pháp của Chúa (c.8), thế nhưng việc gìn giữ Thánh Kinh không giống như việc sống theo điều Thánh Kinh dạy. Mặc dù Kinh Thánh vẫn được bán chạy nhất, việc Kinh Thánh phổ biến không ngăn cản xã hội phương Tây suy đồi dần về mặt đạo đức và mặt thuộc-linh. Dường như chẳng có một liên-hệ nào giữa những điều họ nói rằng họ tin và những gì họ làm.
Những tiên-tri giả, nguời được cho là nói và viết trong Danh của Đức Chúa Trời, đã dối gạt cả vương quốc Giu-đa. Họ là những người có đời sống không thuộc về Chúa, họ chỉ là những người tham lam và không có phương thuốc hữu hiệu cho các vấn-đề của dân-sự. Chúc-vụ của họ phổ biến là do họ chỉ tập trung vào bấtcứ những gì hời hợt, những tin tức tốt đẹp mà dân-sự muốn nghe (Giê 5:12; Giê 14:13-15; Giê 27:8-9; Giê 28:1-17). Giê-rê-mi miêu-tả những người này như những thầy thuốc giả hiệu (Giê 6:14; Giê 8:11), như một cơn gió (Giê 5:13), người phân phát trấu (Giê 23:28), những kẻ chăn bầy ích kỷ, không thương-xót (Giê 23:1-4) và những người nhiễm bệnh đang lây lan bệnh tật (Giê 23:15). Chúa không sai gọi những người được gọi là tiên-tri này (Giê 14:14; Giê 23:18,21; Giê 29:9,31) và thực chất họ cũng chẳng nhận được sứ-điệp nào từ nơi Chúa (Giê 23:15-18).
Những gì xảy đến cho dân Chúa phụ thuộc vào người dẫn dắt họ rất nhiều. Người dẫn dắt bị thế-gian lôi cuốn thì chắc chắn họ cũng sẽ đưa dắt dân-sự đam-mê theo thế-gian như họ mà thôi. Còn khi bạn chấp nhận đi theo những người dẫn dắt tin-kính thì bạn phải trả một giá đắt. Sống theo hiện tại và hùa theo đám đông là một điều thật dễ. Tiên-tri Giê-rê-mi có rất ít bạn hữu và môn-đồ vì sứ-điệp của ông không phổ biến.
c. Thái độ chối bỏ của dân sự sẽ dẫn đến sự hư mất (c.13-22):
Những câu Kinh Thánh này bao gồm 3 tiếng nói: tiếng xét-đoán của Chúa, tiếng kêu tuyệt vọng của dân-sự và tiếng kêu tức giận của nhà tiên-tri khi ông nhìn thấy sự hoang tàn của một đất nước vốn hùng mạnh một thời. Chúa phán rằng đồng cỏ sẽ bị tiêu diệt (c.13,17), các thành sẽ bị tàn phá (c.17) và dân-sự hoặc bị giết chết hoặc bị bắt làm phu-tù (c.19). Điều này cũng giống như mật đắng (Giê 8:14; Giê 9:15; Giê 23:15), trải qua một trận động đất (Giê 8:16), bị rắn độc cắn (c.17) hoặc như bị bể nát vậy (c.21).
Dân-sự đã phản ứng ra sao? Thay vì quay sang Đức Chúa Trời, dân-sự lại trốn chạy trong các thành! (c.14). Họ than khóc trong tuyệt-vọng rằng “Đức Chúa Trời ở đâu? Tại sao Ngài để cho điều này xảy ra?” (c.19).
Nhưng những điều đó đã xảy ra vì họ không vâng-lời và bất-tín với giao-ước họ đã lập với Đức Chúa Trời. Hoàn cảnh của họ thật vô-vọng và không ai có thể giải thoát họ được cả. Câu 20 chính là một câu châm-ngôn họ đã trích dẫn “Mùa gặt đã qua… cứu-rỗi”. Họ đã bỏ lỡ cơ-hội Chúa cho họ và cơ-hội đó sẽ không bao giở trở lại nữa.
Do tiên-tri Giê-rê-mi là một người chăn bầy trung-tín nên ông cũng đau cùng một nỗi đau với dân-sự: lòng ông mệt mỏi (c.18) và than khóc thảm thiết khi ông nhận thấy một gánh nặng sẽ giáng xuống dân-tộc. “Con gái dân ta…bắt lấy” (c21). Các tiên-tri giả đã định bệnh sai và kê đơn thuốc không đúng nên vết thương của dân-sự vẫn còn đó, bị chảy máu và bị lây nhiễm. “Hãy theo luật-pháp…cho nó” (Ês 8:20).
3. Sự tín nhiệm sai: Giao-ước (Giê 9:1-26)
Do-thái là dân-tộc duy nhất trong lịch-sử mà Chúa đã đưa vào một mối quan-hệ có giao-ước (Sa 12:1-3). Là con cháu của Áp-ra-ham, được nhìn nhận qua phép cắt-bì (Sa 17:1-27), họ thật sự là “tuyển dân” thuộc riêng về Đức Chúa Trời (Xu 19:4-6).
Bi kịch là ở chỗ họ tin vào giao-ước và các nghi-lễ sẽ khiến họ được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời. Họ cho rằng họ không cần phải ăn-năn hay tin -ính; tất cả những điều đó là dành cho dân ngoại “chưa cắt-bì”. Giăng Báp-tít đã phải đối diện với điều này trong chức-vụ của mình (Mat 3:7-10) cũng giống như Chúa Giê-xu (Mat 8:33) và Phao-lô (Rô 2:1-4:25). Tiên-tri Giê-rê-mi phải giải quyết thái-độ kiêu-ngạo của dân-sự khi chỉ rõ cho họ thấy 3 lẽ-thật dưới đây:
a. Làm dân tuyển của Chúa theo giao-ước không phải là một cớ cho họ phạm-tội (c.1-16):
Cũng giống như Chúa Giê-xu (Lu 19:41) và Phao-lô (Rô 9:1-5), tiên-tri Giê-rê-mi đã than khóc cho tình trạng thuộc-linh đáng buồn của dân-sự, và đây là lý-do vì sao ông được mọi người biết đến là “nhà tiên-tri than khóc cho dân-tộc mình” (Giê 9:18; Giê 10:19; Giê 13:17; Giê 14:17; Ca 1:16; Ca 2:11,18; Ca 3:48). Ngày nay, tìm thấy những giọt nước mắt của những tấm-lòng tan vỡ vì ăn-năn trên tòa giảng hay trên các băng ghế nhà thờ quả là một việc khó vì dường như mọi người thường quan-tâm đến sự vui-mừng.
Thay vì có các giáo-sĩ hay những sứ giả phục hưng, trong nhà thờ ngày nay dường như chỉ có “các diễn viên hài tôn-giáo”, là những người có vẻ như chưa hề đọc Gia 4:9-10 bao giờ “hãy cảm biết ….anh em lên”. Vance Havner hoàn toàn đúng khi nói rằng: “Trong lịch-sử loài người chưa bao giờ lại có nhiều thú vui tầm thường như hiện nay” [34]
Có lẽ tiên-tri Giê-rê-mi đã muốn trốn khỏi mọi người để đến một nơi an bình nào đó (Thi 55:6) nhưng ông nhận biết được rằng ông phải ở lại và rao-giảng Lời Chúa (Giê 40:6. Lòng ông than khóc vì tội-lỗi của dân-sự, tình trạng vô đạo đức, thờ hình-tượng, lừa dối và phỉ báng của họ. Sự thật là điều rất quý giá; bạn không thể trông mong bạn bè bà con của mình!
Dân Giu-đa nghĩ rằng họ được “tự-do phạm-tội” vì họ là con cái của Áp-ra-ham và là tuyển dân của giao-ước. Trái lại, là một phần của giao-ước, họ càng cần phải có trách-nhiệm nhiều hơn khi sống để làm vinh-hiển Chúa và vâng-theo ý muốn Ngài. “chúng ta phải cứ …như vậy” (Rô 6:1-2). Như tôi đã trình-bày ở trên, bất cứ một thuyết thần-học nào làm thuyên giảm sự thánh-khiết và dung dưỡng cho tội-lỗi đều không thuộc về Kinh Thánh.
b. Việc là tuyển dân theo giao-ước của Chúa không giúp họ tránh được cơn đoán-phạt (c.7-16):
Chính vì có mối quan-hệ theo giao-ước với Đức Chúa Trời nên khi phạm-tội, dân-sự lại càng phải chịu một sự đoán-phạt nặng nề hơn; vì “ai được ban cho nhiều thì sẽ bị đòi lại nhiều” (Lu 12:28). Chúa phán với dân Do-thái “Ta đã biết…các ngươi” (Am 3:2).
Sự đoán-phạt đó sẽ giống như sức nóng trong lò nung (Gie 9:7). Nó sẽ khiến các thành bị hủy diệt, nơi ở của súc vật, vùng đất sai trái sẽ trở nên hoang mạc vì không ai sống và trồng trọt ở đó nữa. Sự tàn phá khủng khiếp đến nỗi chim chóc cũng không còn chỗ để làm tổ . Tại sao “vùng đất đượm sữa và mật” lại trở nên hoang mạc như thế ? Đó là do dân-sự không chịu vâng-theo Luật-pháp của Chúa và quay sang thờ hình-tượng. Dân-sự cho rằng “vị-trí ưu tiên” của họ trước mặt Chúa sẽ giúp họ thoát khỏi cơn đoán-phạt.
c. Việc là dân theo giao-ước của Chúa không đảm-bảo việc thông hiểu về mặt thuộc-linh (c.17-26):
“Người khôn chớ khoe về sự khôn mình…biết Ta” (c.23-24). Trình độ, quyền lực, của cải vốn là 3 điều mà ngày nay người ta thường dựa vào dễ khoe khoang, nhưng không một điều nào có thể bảo-đảm ơn phước của Chúa. Chúa không vui lòng với trình-độ dân trí, ảnh hưởng của chính trị, quân đội hay tổng giá-trị thu nhập quốc dân mà Ngài vui khi con người sống tử tế, ngay thẳng, công-bình vì họ biết kính-sợ Đức Chúa Trời. Chúa hứa chúc phước theo giao-ước cho những ai vâng theo Ngài chớ không phải cho người theo những nghi lễ tôn-giáo.
Chúa kêu-gọi dân-sự than khóc vì chẳng mấy chốc, họ sẽ dự đám tang của chính mình. Cái chết đã gần kề và những chính trị gia hay những tiên tri giả đều không thể trốn khỏi. Cái chết được ví như tên cướp chạy thoát qua những cửa sổ và cướp đi những sinh mạng quý giá. Thây người sẽ rớt xuống “như nắm lửa đổ ra sau lưng con gặt” (c.22). [35]
Dân Do-thái khoe khoang về dấu hiệu cắt-bì theo giao-ước, nhưng đó chỉ là dấu ấn trên thân thể họ trong khi phép cắt bì thuộc-linh vẫn chưa chạm vào tấm-lòng họ (Giê 4:4; Phuc 10:16; Công 7:51; Rô 2:25-29). Ngày nay, những ai vốn chỉ dựa vào phép báp-têm hay những nghi lễ khác trong nhà thờ nhưng không thật ăn-năn và tin-cậy Đấng Christ cũng sẽ rơi vào tình-trạng của dân Do-thái thời tiên-tri Giê-rê-mi. Họ nghĩ rằng mình là một phần của giao-ước thánh nhưng điều họ tin hoàn toàn sai. Phao-lô là một ví-dụ diển hình cho điều này: ông đã mất mọi sự công-bình tôn-giáo để được Đấng Christ (Phi 3:1-11)
4. Những thần-tượng giả dối: Đức Chúa Trời Hằng sống và chân thật (Giê 10:1-25)
Trước khi Áp-ra-ham đặt niềm tin nơi Chúa chân-thật, ông cũng là một người thờ hình-tượng (Gios 24:2-3). Suốt những năm tại Ai-cập, dân Do-thái được giới thiệu với vô số thần-tượng của vùng đất này và một số thần ở lại trong lòng họ. Khi Môi-se gặp Chúa trên núi Si-nai, dân-sự cùng với sự giúp đỡ của người anh Môi-se là A-rôn đã tạc một tượng bò bằng vàng và thờ-lạy nó (Xu 32:1-35). Tại núi Si-na-i, dân sự đã được thấy sự vinh-hiển của Chúa, nghe tiếng Chúa và chấp nhận Luật-pháp của Chúa; tuy nhiên “họ đổi hình dạng mình ra hình dạng con bò ăn cỏ” (Thi 106:20). Vậy, việc thờ hình-tượng đã ăn sâu vào lòng họ.
a. Tiên-tri Giê-rê-mi nhìn quanh và chế nhạo các thần tượng (Giê 10:1-16):
Thay vì tránh xa những lối sống xấu xa của các dân tộc khác như lời chỉ dạy của Môi-se (Phuc 7:1-11), dân Y-sơ-ra-ên dần dần lại bắt chước theo những cách sống đó và bắt đầu thờ-lạy những thần-tượng ngoại bang. Nhưng những thần-tượng này đều vô giá-trị, do con người làm nên “như hình cây chà là” (Giê 10:5), chúng không thể nói, không thể đi nên cần phải được khiêng đi (Thi 115:1-18). Giá như dân-sự biết chiêm ngưỡng sự vinh-hiển, sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật là Chúa đời-đời, Đấng đã dựng nên các từng trời và đất bằng Lời của năng-quyền Ngài!
A.W. Tozer đã nhắc chúng ta nhớ rằng: “bản-chất của việc thờ hình-tượng chính là vui thích khi nghĩ về Chúa với những suy nghĩ vốn không xứng đáng với Ngài” [36]
Điều này có nghĩa là thờ-lạy và hầu việc tạo vật hơn là Đấng Tạo hóa (Rô 1:25), ưa thích những món quà hơn là người tặng quà.
Các thần-tượng thì vô-tri và con người ắt sẽ cũng vậy (Giê 10:80) bởi vì chúng ta sẽ dần trở nên giống với thần nào mà chúng ta đang thờ-phượng (Thi 115:8) những thần tượng ngày nay của chúng ta không xấu xí như những thần-tượng ngoại bang thời tiên-tri Giê-rê-mi nhưng nó cũng thu hút nhiều tâm-trí con người cũng như gây ra không ít thiệt hại.
Bất cứ điều gì chúng ta tôn thờ và phục-vụ hơn cả Chúa sống và chân-thật đều là thần-tượng; có thể đó là một căn nhà hay một chiếc xe đắt tiền, một dàn máy mới nhất, một chiếc thuyền, thư viện, người yêu, con cái, công việc hay tài khoản trong ngân hàng. Nói chung, tất cả những điều mà tôi dồn hết tâm-trí mình và sẵn sàng hy-sinh vì nó chính là thần của tôi, và nếu đó không phải là Chúa Giê-xu thì đó chính là thần-tượng. “Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng” (IGi 5:21).
Phương thuốc chữa trị dùng để tuyệt diệt việc thờ-lạy hình-tượng đó là chúng ta hãy đến gần với sự uy nghi, vĩ đại của Chúa, Đấng Chân Thật, Đấng Sống và là Vua đời-đời. Hình-tượng chỉ là một vật thay thế và bạn sẽ không bao giờ muốn những vật thay thế vô-tri vô-giác khi đã kinh-nghiệm được tình yêu và năng-quyền của Đức Chúa Trời, Đấng toàn-năng.
b. Tiên-tri suy gẫm trước về điều sẽ xảy ra và than khóc cho sự đoán-phạt sắp đến (c.17-22):
Giê-rê-mi đã nhìn thấy trước việc đế quốc Ba-by-lôn sẽ xâm chiếm đất đai và mang đến những bất hạnh của dân sự Chúa. Ông thúc giục mọi người chuẩn bị túi xách và sẵn sàng ra đi vì họ sẽ bị ném ra khỏi lãnh thổ như đá bị bắn ra khỏi ná bắn đá. Nhà tiên-tri than khóc cho sự tan tác của nhà cửa, gia đình, cha mẹ chia lìa con cái và sự tan tác của tuyển dân của Chúa.
Tiên-tri Giê-rê-mi chỉ rõ lý-do của thảm họa này, đó là: những người chăn bầy (những nhà lãnh đạo trong lĩnh vực chính trị và thuộc-linh) không tìm kiếm Chúa mà trái lại, dẫn dắt dân-sự đi sai đường (Giê 10:21). Sự đoán-phạt xảy đến “vì cớ tội-lỗi của các tiên-tri nó và sự gian ác của các thầy tế-lễ nó” (Ca 4:13). Cả dân-tộc bị bắt vì những người dẫn dắt họ quên mất Chúa Hằng sống và chân-thật.
c. Tiên-tri Giê-rê-mi ngước lên và cầu khẩn sự thương-xót (Giê 10:23-25):
Chúa đã phán với Giê-rê-mi không được cầu-xin cho dân tộc (Giê 7:16) nên ông đã không làm như vậy. Thay vào đó, ông cầu-nguyện cho chính mình như một đại điện cho dân-tộc mình. Một lần nữa, ông lại chia sẻ chung nỗi đau của dân-tộc mình (Giê 10:19). Lời cầu-nguyện này dựa trên 3 luận-điểm để nài xin Chúa thương-xót dân Ngài.
-Trước hết, ông xin Chúa nhớ cho rằng dân-sự chỉ là những con người yếu ớt, những người không biết phải sống theo cách nào (c.23). Có lẽ tiên-tri Giê-rê-mi đang liên tưởng tới Thi 103:13-16.
-Kế đến, nếu Chúa phạt họ theo những gì họ đáng phải chịu, dân-sự sẽ bị diệt mất (Giê 10:24). Một lần nữa, chúng ta lại nghĩ ngay tới Thi 103:10 “Ngài không đãi chúng tôi… sự gian ác của chúng tôi”. Cũng như điều E-xơ-ra đã nhấn mạnh, Chúa chẳng phạt chúng ta “cho đáng như tội chúng ta” (Exo 9:13)
-Cuối cùng, ông biện-luận rằng những quốc gia tấn công Ba-by-lôn đáng bị trừng phạt vì đã tìm cách hủy diệt tuyển dân của Chúa (Giê 10:25). Chúa gọi Ba-by-lôn là công-cụ của Ngài trong việc sửa-phạt dân Do-thái, chớ không phải tiêu diệt họ, thế nhưng đế quốc Ba-by-lôn đã quá hung bạo đối với dân Giu-đa. Nhà tiên tri đã không trút cơn giận của mình nhưng ông lại cầu-xin Đức Chúa Trời giữ lời-hứa Ngài với Áp-ra-ham để bảo vệ dân Ngài khỏi bị diệt vong (Sa 12:1-3). Chúa đã nhậm lời cầu-nguyện này và cuối cùng, Ngài đã cho phép chấm dứt sự cai-trị bạo tàn của đế quốc Ba-by-lôn trên dân-sự Ngài (Giê 50-51). [37]
Cho tới điểm này, Giê-rê-mi mới kết thúc “bài giảng trong đền thờ” của mình. Kết quả ra sao? Theo Giê-rê-mi chương 26, ông bị bắt và bị kết án tử hình! Các thầy tế-lễ thà phạm-tội giết người hơn là nghe và vâng-theo Lời Chúa! Đức Chúa Trời đã cứu tiên-tri Giê-rê-mi khỏi bị giết nhưng ông đã bị đuổi ra khỏi đền thờ (Sa 36:5). Tôi tự hỏi ngày nay không biết có bao nhiêu vị mục-sư vẫn thẳng thắng rao-giảng những sứ-điệp mà họ biết có thể vì đó mà họ sẽ bị đuổi? Và tôi cũng tự hỏi rằng không biết có bao nhiêu cơ-hội chúng sẵn sàng nhận lãnh và làm theo những sứ-điệp ấy?
Chúa không hứa với Giê-rê-mi một công việc dễ dàng, nhưng Ngài hứa với ông rằng Ngài sẽ khiến ông mạnh mẽ (Sa 1:7-8,17-19). Chúa đã giữ lời-hứa với tiên-tri Giê-rê-mi và Chúa cũng sẽ giữ lời-hứa Ngài với các tôi-tớ của Ngài ngày hôm nay.
4. VÂNG THEO CHÚA (Giê 11:1-13:27)
“Whoso who would be a man must be a nonconformist” R.W.Emerson [38]
Trong một bài thơ, nhà-thơ Mỹ Edwin Markham đã viết:
“Chúng ta cần có đức-tin đ ể đi trên con đường không thể đi, Có năng-quyền để đứng một mình và vâng-theo Chúa”.
Đó là điều mà tiên-tri Giê-rê-mi đã làm trong suốt thời vua Giô-sia trị vì: đi một mình và vâng-theo Chúa. Vua Giô-sia đã rất vui-mừng khi các thợ sửa đền thờ tìm thấy cuốn sách Luật-pháp (IIVua 22:1-20) và chính việc khám phá này đã đưa tới việc dẹp bỏ thần-tượng tạm thời trong vương quốc. Sự-kiện này thường được gọi là “sự phục-hưng của vua Giô-sia”. Nhưng từ chính xác cần dùng trong trường hợp này chính là “cuộc cải cách”. Tại sao lại như vậy? Bởi vì dân-sự chỉ tuân theo Luập-pháp bề ngoài còn trong lòng, họ vẫn đi theo các thần-tượng của mình.
Giê-rê-mi hiểu được điều ấy và hiểu được thái-độ hời hợt của những tấm-lòng chưa thật ăn-năn, nên ông đã không hề lên tiếng trong cuộc cải cách của vua Giô-sia. [39]. Nhà tiên-tri còn biết cả những việc dân-sự vẫn cứ lén lút làm và họ sẽ sẵn sàng quay trở lại với tội-lỗi ngay khi có thể. Trong phần nói tiên-tri này, Giê-rê-mi đã nhắc lại tội-lỗi của dân-tộc và nài xin dân-sự quay trở về với Chúa đang khi còn cơ-hội.
1. Tội bất-tuân theo giao-ước của Chúa (Giê 11:1-8)
Nhà vua và dân-sự đã công-khai hứa-nguyện với Đức Chúa Trời rằng họ sẽ vâng-theo giao-ước của Ngài (IIVua 23:3) và không có một nghi ngờ nào rằng nhà vua có thật lòng hay không. Tuy nhiên, với phần lớn dân-sự, việc họ vâng-lời chỉ là đi theo đám đông và làm những gì mà mọi người làm.
Lịch-sử của dân Do-thái bao gồm những bản ký-thuật của các giao-ước: Chúa lập ra những giao-ước và dân sự vi-phạm những giao-ước. Chúa lập giao-ước với Áp-ra-ham khi Ngài kêu-gọi ông ra khỏi quê hương U-rơ để đi đến xứ Ca-na-an (Sa 12:1-3) và Ngài cũng nhắc lại giao ước này với Y-sác (Sa 26:1-5) và Gia-cốp Sa 35:1-15). Giao-ước mà Chúa lập với Áp-ra-ham chính là nền-tảng cho những ơn phước của dân Y-sơ-ra-ên nhận từ nơi Ngài.
Tại núi Si-nai, Chúa đã lập một giao-ước khác với dân Y-sơ-ra-ên, giao-ước liên-quan đến việc tuân-theo Luật-pháp thánh của Ngài (Xu 19:1-20:26). “Vậy bây giờ nếu các ngươi vâng giữ…thuộc về Ta” (Xu 19:5). Dân-sự đã đồng ý vâng-lời Đức Chúa Trời (c.8) nhưng chẳng bao lâu sau, họ đã tỏ ra không vâng-lời Ngài nữa. Khi dân-sự vẫn còn ở núi Si-na-i, họ đã tạo ra hình-tượng và thờ-lạy nó (Xu 32:1-35).
Trước khi dân Y-sơ-ra-ên bước vào vùng đất Ca-na-an, Môi-se đã nhắc lại giao-ước (sách Phuc-truyền Luật-lệ ký) và nhắc nhở dân-sự vâng-theo Đức Chúa Trời. Chủ quyền đất dựa trên lời-hứa của Chúa với Áp-ra-ham nhưng quyền sở hữu và quyền sử dụng đất phụ thuộc vào sự vâng-lời của dân-sự với Luật-pháp của Chúa.
Môi-se cũng nhắc lại những ơn phước và sự đoán-phạt (Phuc 27:1-28:68). Về sau , Giô-suê một lần nữa nhắc lại những điều này khi dân-sự đã vào vùng Đất Hứa (Gios 8:30-35). Dân Do-thái biết rằng Chúa sẽ chúc phước cho họ nếu họ thật lòng với Chúa và Ngài cũng sẽ đuổi họ đi nếu họ không vâng-lời.
Xứ Ê-díp -tô đã là “lò nấu sắt” đối với dân Y-sơ-ra-ên (Giê 11:4), là nơi nhiều đau khổ (Phuc 4:20; IVua 8:51; Ês 48:10) nhưng Ca-na-an là một xứ “đượm sữa và mật” (Giê 11:5), một nơi thịnh vượng và tự-do. Chúa đã miêu-tả vùng Đất Hứa như vậy cho Môi-se (Xu 3:8,17; Xu 3:3) và Môi-se đã lặp lại những lời đó với dân sự (Lê 20:24; Phuc 6:3; Phuc 11:9; Phuc 26:9,15; Phuc 27:3; Phuc 31:20). Buồn thay, dân sự lại thích chốn đế vương hơn vùng đất đượm sữa và mật ở Ca-na-an (Xu 16:3; Dân 11:4,34) nên đã nhiều lần, họ muốn quay trở lại xứ Ê-díp -tô.
Trong suốt cuộc cải cách của vua Giô-sia, cả dân-tộc dường như đã quay trở lại cùng Đức Chúa Trời và Chúa sai Giê-rê-mi đi khắp các đường để nhắc lại giao-ước của Chúa với dân-sự. Cả Chúa và Giê-rê-mi đều biết rằng sự vâng-lời của dân-sự không xuất phát từ tấm-lòng. Ngoài những việc họ làm trong đền thờ, dân sự vẫn thường lên những nơi cao thờ-lạy các thần của các nước chung quanh.
Tiên-tri Ê-xê-chi-ên đã miêu-tả tội-lỗi của dân-sự rất chính xác khi ông viết rằng “Hỡi con người…trong lòng” (Êxe 14:3). Một thế kỷ trước đó, tiên-tri Ê-sai đã miêu tả việc thờ-phượng giả dối của dân-sự và so sánh Giê-ru-sa-lem với Sô-đôm, Gô-mô-rơ (Ês 1:10). Dân-sự đã dâng lên cho Chúa rất nhiều của lễ nhưng Ngài không muốn những của lễ đó. Hương liệu của họ là sự gớm ghiếc, những yến tiệc hằng năm của họ là những hành động tội-lỗi khiến Chúa chán ghét, mệt mỏi những điều đó “nếu các ngươi…gươm” (Ês 1:19-20)
Chúa phán bảo tiên-tri Giê-rê-mi nhắc lại những phước lành và cả sự rủa sả được ghi trong giao-ước. Nếu những ơn phước của Chúa không khiến họ vâng theo 10 điều răn của Ngài, thì có lẽ nỗi sợ hãi sự đoán-phạt của Chúa sẽ khiến họ vâng-lời.
Chúa đã đối xử với dân-sự Ngài như đối với những đứa trẻ nhỏ: nếu vâng-lời sẽ được phần thưởng và không bị xử phạt. Chúa ước ao dân-sự kính mến và làm vui lòng Ngài biết chừng nào! [40]
Tiên tri Giê-rê-mi đã trả lời với lời phán của Chúa rằng “Hỡi Đức Giê-hô-va! Amen!” (Giê 11:5). Đây cũng chính là cách mà dân Y-sơ-ra-ên đã trả lời với giao-ước của Chúa (Phuc 27:9-26; Gios 8:30-35). Nhưng nhà tiên-tri phải bước đi một mình và dân-sự không muốn làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Giá như cả dân-tộc ăn-năn và hạ mình trước mặt Chúa thì dân-sự đã có thể thay đổi sự đoán-phạt khủng khiếp đến từ đạo quân Ba-by-lôn. Thay vì như vậy, sự giả hình của dân-sự chỉ làm cho sự đoán-phạt thêm tồi tệ mà thôi.
2. Tội hiệp lực chống lại năng quyền của Chúa (Giê 10:1-8) (Giê 11:9-12:6)
Đức Chúa Trời bày-tỏ cho tôi-tớ Ngài biết 2âm mưu trong xứ: một là âm mưu của người Giu-đa bất-tuân theo giao-ước của Chúa cũng như chống lại cuộc cải cách của vua Giô-sia (Giê 11:9-17) và 2 là âm mưu những người tại quê nhà Giê-rê-mi lập kế giết nhà tiên tri hòng khiến Chúa phải im tiếng (Giê 11:18-12:6). Cả 2 âm mưu này đều dẫn đến một cuộc khủng hoảng thứ ba, đe dọa đức-tin của Giê-rê-mi đối với Chúa.
a. Âm mưu chống lại nhà vua (Giê 11:9-17):
Thực chất đây là một cuộc bạo loạn chống lại giao-ước của Chúa cũng như chống lại cuộc cải cách của vua Giô-sia thực hiện trong lãnh thổ.
Nếu chúng ta không vâng-theo Lời Chúa và thực hiện theo Lời đó trong cuộc sống của mình, thì Chúa sẽ không thể chúc phước cho chúng ta như điều Ngài muốn được. Tuy nhiên, mọi người thường thích phá vỡ giao-ước và thờ-lạy những thần giả dối hơn.
Tuy nhiên, đối tượng và cách thức chúng ta thờ-phượng không phải là không quan-trọng; những điều đó thật rất cần thiết để hình thành đặc-điểm của cuộc sống. Eugene Peterson đã viết “Cuộc sống của một người hầu như chỉ giống cách thờ-phượng của người đó. Sự thờ-phượng hình thành cuộc sống. Nếu sự thờ-phượng bị suy đồi, cuộc sống sẽ trở nên bại hoại” [41]. Chúa ban cho dân Ngài một giao-ước để Ngài có thể chúc phước cho họ và giữ lời-hứa Chúa đã lập với dân-sự, nhưng dân Ngài lại thích nhờ cậy các thần của các nước ngoại bang xung quanh hơn.
Sự thờ-phượng luôn đem l ại những kết quả hoặc tốt hoặc xấu và trong trường hợp này của dân Giu-đa, đó là hậu quả xấu. Dân-sự biết cả sự rủa sả và phước lành đều được ghi trong giao-ước, nhưng họ lại nghĩ rằng Chúa không thể giáng sự đoán-phạt xuống tuyển dân của Ngài. Chẳng phải là đền thờ của Chúa ở tại thành Giê-ru-sa-lem đó sao? Chẳng phải hòm giao-ước cũng đã được đặt ở đó? Và chẳng phải những thầy tế-lễ đang giữ Luật-pháp đó sao? Chẳng lẽ Chúa lại để cho những vật thánh đó bị hủy diệt ư? Nhưng Chúa luôn luôn giữ lời-hứa Ngài dù là chúc phước hay sửa phạt. Và chúng ta nhận lãnh càng nhiều đặc ân từ nơi Chúa , chúng ta lại càng có nhiều trách-nhiệm với Ngài.
Tai họa sẽ giáng xuống cho Giu-đa và không ai có thể thay đổi điều đó. Dân sự ra sức kêu-cầu với những tượng-thần của họ nhưng những thần đó chẳng trả lời họ. Thậm chí ngay cả khi dân-sự quay trở lại với Đức Giê-hô-va, Ngài cũng sẽ chẳng trả lời họ. Vì vậy, Đức Chúa Trời phán với Giê-rê-mi lần thứ hai không được cầu nguyện cho dân-sự (Giê 11:4; Giê 7:16; Giê 14:11). Dân sự thờ-phượng số các thần cũng nhiều như số các thành ở Giu-đa và số các đền thờ cũng nhiều như số các đường trong thành. Thế nhưng, những điều này chẳng giúp được gì cho đất nước thoát khỏi sự đoán-phạt khủng khiếp sắp đến.
Chúa đưa ra hai hình ảnh để bày-tỏ niềm tin tôn-giáo vô ích của dân Ngài: người thờ-phượng trong đền thờ (Giê 11:15) và cái cây trong cơn bão (c.17-18). Chúa gọi dân Ngài là “kẻ yêu dấu” để nhắc nhở về cuộc hôn-nhân giữa Chúa với họ và họ đã phản bội Ngài ra sao. Sự thờ-phựơng của họ trong đền thờ đáng lẽ ra là sự bày-tỏ tình yêu thật của dân-sự đối với Chúa, nhưng tiếc thay đó chỉ là hình thức vô ích.
Việc dâng của lễ sẽ chẳng làm thay đổi sự đoán-phạt của Chúa, trái lại càng khiến cho dân-sự chỉ phạm thêm tội ác mà thôi (c.15). Khi sự thờ-phượng trở nên tội ác, còn dân-sự thì lấy làm vui-mừng khi phạm-tội thì sự sáng đã trở nên tối tăm (Mat 6:22-24) và không còn một hy-vọng nào nữa.
Trong Kinh Thánh, thỉnh thoảng cái cây được dùng làm hình ảnh tượng-trưng cho cá nhân (Giê 17:8; Thi 1:3; Thi 52:8; Thi 92:12; Xa 4:3) và đôi lúc lại tượng-trưng cho một dân-tộc hay cả vương quốc (Ês 10:33-34; Ês 18:5; Êxe 17:31). Dân Y-sơ-ra-ên được ví sánh như cây ô-li-ve trong Gie 11:16-17 và cũng là hình ảnh mà sứ đồ Phao-lô đã dùng trong Giê; Rô11:1-36.
Cây ô-li-ve được đánh giá cao ở vùng Cận Đông do trái của nó có thể dùng để ép ra một loại dầu rất hữu ích. Dân Giu-đa tự ví mình như “một cây ô-li-ve xanh” sẽ không bao giờ ngã được, nhưng Chúa đã thấy một cơn bão đang tới gần, gió đã làm gãy c ác nhánh của nó và sét sẽ đánh thiêu cháy cả cây. Giê-ru-sa-lem sẽ bị đổ nát và cháy trụi như một cây ô-li-ve không còn hữu ích nữa.
Nếu tội lỗi nặng nhất là làm hư hoại điều tốt đẹp nhất thì dân Giu-đa đã phạm trọng tội. Điều tốt đẹp nhất của họ là nhận biết và thờ-lạy Chúa chân thật, thế nhưng họ đã biến đổi điều đó thành việc thờ-lạy các thần-tượng. Họ biến đền thờ của Chúa thành hang trộm cướp, bắt bớ các tiên-tri của Ngài, bất-tuân giao-ước Ngài và làm sỉ nhục danh Chúa.
“Vì bởi cớ các ngươi nên danh Đức Chúa Trời bị nói phạm trong vòng các người ngoại” (Rô 2:24; Êxe 36:22). Chúa vẫn kiên nhẫn đối diện với dân Ngài, theo đuổi họ quay trở lại nhưng dân-sự đã cứng lòng và nghiêng tai điếc về phía lời cảnh-cáo của Ngài.
Tuy nhiên, trước khi chúng ta kết tội dân Do-thái, hãy tra-xét lại tấm-lòng của chính mình và hội thánh mình. Liệu đang có những thần-tượng nào trong lòng chúng ta không? Chúng ta có dâng trọn tấm-lòng mình cho Chúa không hay vẫn chỉ dâng một phần cho Chúa và phần còn lại cho những điều khác? Nếu một người chưa được cứu đến buổi thờ-phượng của chúng ta, liệu họ có nhận thấy sự vinh-hiển và sự uy nghiêm của Chúa không? (ICôr 14:23-25). Liệu cách sống theo thế gian và những hành động đáng ngờ của những người tự nhận là tín-hữu có đang làm sỉ nhục danh Chúa không? Hãy nhớ rằng “lời nói cuối” của Chúa với hội thánh không phải là sứ-mạng trọng yếu mà là “Hãy ăn-năn, nếu không …” (Kh 2:1-3:22)
b. Âm mưu chống lại Giê-rê-mi (Giê 11:18-23):
Xuất phát từ thái độ chống cự lại Lời Chúa của dân-sự, vì nếu chấp nhận Lời Chúa, dân sự đã phải tôn-trọng tiên-tri của Ngài và phải lắng nghe mọi điều người nói. Bạn có thể cho rằng đáng lý ra các thầy tế-lễ ở thành A-na-tốt đã phải sáng suốt hơn là đi nghe lời của những tiên-tri giả, bởi lẽ việc giữ một chức-vụ tôn-giáo không khiến một người có được sự khôn-ngoan thuộc-linh.
Những người tại thành A-na-tốt, quê hương của Giê-rê-mi, lập mưu giết nhà tiên-tri vì sứ-điệp của ông kết tội họ. Thay vì ăn-năn, họ lại quyết định giết người đưa tin. Nhưng cũng còn có một lý-do thứ hai: là những người Do-thái trung-thành, họ nhận thấy những lời tiên-tri của Gi ê-rê-mi nói ra gây tổn hại cho sự thịnh vượng của dân-tộc.
Tiên tri Giê-rê-mi rao-giảng về sự đoán-phạt sắp đến từ Ba-by-lôn trong khi các tiên-tri giả lại ban phát những sứ-điệp về sự thanh-bình (Giê 6:14; Giê 8:11). Tiên-tri Giê-rê-mi nhấn mạnh việc dân-sự cần phải tuân theo luật-pháp và dâng những của lễ trong đền thờ chớ không phải dâng ở trên các nơi cao hoặc ở một vài nơi mà thờ các thần-tượng, nhưng các thầy tế-lễ lại không thích như vậy. Tiên-tri Giê-rê-mi là người ủng hộ Ba-by-lôn trong khi dân-sự lại theo Ai-cập. Nói một cách khác, tiên-tri Giê-rê-mi đã đi sai nhịp với thời đại của ông và vì quyết-đoán nên ông phải bước đi một mình để “theo Chúa”.
Mãi đến khi Chúa cảnh báo cho Giê-rê-mi biết về điều đó, ông mới biết về âm mưu giết hại mình. Và khi nghe tin tức ấy, ông thấy mình như một chiên con bơ vơ bị dắt đến nơi để giết thịt (Giê 11:19; Ês 53:7). Tất cả những gì mà ông có thể làm là phó thác chính mình cũng như kẻ thù mình cho Đức Chúa Trời và tin-cậy Chúa hành động.
Đây là lần đầu tiên trong số nhiều lần trong cuộc đời mình, tiên-tri Giê-rê-mi dốc đổ tấm-lòng mình cách riêng tư với Chúa, cậy nhờ Chúa chiến đấu trong trận chiến của ông và giúp ông thoát khỏi nỗi sợ hãi và tuyệt-vọng (Giê 11:19-20; Giê 12:1-4; Giê 15:10-17; Giê 17:12-18; Giê 18:20-23; Giê 20:7-18).
Tại nơi đông người, tiên-tri Giê-rê-mi rất dạn dĩ trước mặt dân-sự nhưng ở chốn riêng tư, ông là người yếu đuối trước mặt Chúa. Chúa khẳng định với tôi-tớ của Ngài rằng những kẻ thù của ông sẽ được giải quyết trong ngày tai họa xảy đến khi Ba-by-lôn cướp lấy thành Giê-ru-sa-lem.
c. Sự biện luận thần học (Giê 12:1-6):
Chẳng bao lâu sau khi Chúa đề-cập đến hai âm mưu trên thì Giê-rê-mi chợt nhận thấy rằng mình cần phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng thuộc-linh (Giê 12:1-6).
Madame Guyon, một nhà thần-bí người Pháp đã viết: “Khi bắt đầu cuộc sống thuộc-linh, điều khó khăn nhất đối với chúng ta là phải hết lòng chịu đựng những người lân cận sau đó là chịu đựng cho chính mình và cuối cùng là chịu đựng với Chúa.”
Tiên tri Giê-rê-mi đã không thể hiểu được vì sao Đức Chúa Trời thánh-khiết lại cho phép những tiên-tri giả hoặc không trung-tín được thịnh vượng trong chức-vụ của mình. Trong khi ông, một tôi tớ trung tín của Chúa lại bị đối xử như một chiên con bị đem làm của lễ dâng.
“Sao đường lối những kẻ ác được thạnh vượng?” (c.1) là một câu hỏi thường gặp trong Kinh Thánh và ngày nay chúng ta vẫn thường hỏi như vậy. Gióp vật lộn với với điều này (Giop 12:21). Các tác-giả Thi-thiên cố tìm cách hiểu (Thi 37:1-40; Thi 49:1-20 và những tiên-tri khác ngoài Giê-rê-mi đối diện với vấn-đề này (Ha 1:1-17; Ma 2:17; Ma 3:15). Những thần-học gia Do-thái, dựa theo các giao-ước để dạy rằng Chúa sẽ chúc phước cho những ai vâng-lời và đoán-phạt những kẻ không vâng lời nhưng thực tế trong cuộc sống lại hoàn toàn khác hẳn! Làm thế nào mà Đức Chúa Trời thánh-khiết của tình yêu-thương lại để cho những điều như vậy xảy đến chớ? [42]
Tuy nhiên, tiên-tri Giê-rê-mi tìm kiếm nhiều hơn cả những câu trả lời cho các câu hỏi đó; ông cũng quan tâm đến quyền lợi của dân-tộc mình. Ông nhìn thấy cả quốc gia có rất nhiều người vô tội đang phải chịu đau khổ do tội-lỗi của những người lãnh đạo gây nên. Chúa đã khiến hạn hán khắp nơi trong xứ.
Đây là một trong số những hình phạt theo giao-ước (Phuc 28:15-24), cây cối bị khô héo và súc vật đang chết dần. Nhưng những người lãnh đạo độc ác đáng phải chịu trách-nhiệm về cơn hạn hán không những vẫn còn sống mà còn được thịnh vượng từ sự mất mát của người khác.
Điều này dường như không được công-bằng và Giê-rê-mi biện luận với Đức Chúa Trời: “sao đường lối kẻ ác được thạnh vượng?” (Giê 12:1). “Cỏ ngoài đồng khô héo cho đến chừng nào?” (c.4) “tại sao” và “cho đến chừng nào” thường là những câu dễ hỏi nhưng thật khó trả lời.
Giải pháp mà tiên-tri Giê-rê-mi đề nghị đó là xin Chúa đoán-phạt và kéo những kẻ ác ấy như con chiên dắt đến chổ bị giết (c.3). Xét cho cùng, tất cả những người ở thành A-na-tốt đều đã sẵn sàng giết nhà tiên-tri như một chiên con được dâng làm của lễ vậy (Giê 11:19). Thế thì tại sao họ không phải nhận từ nơi Chúa một số phận tương tự họ đã sắp đặt cho Giê-rê-mi?
Tuy nhiên, câu trả lời của Chúa lại không phải là điều mà tiên tri Giê-rê-mi mong đợi (Giê 12:5-6). Điểm chú ý của Chúa không phải là những kẻ ác mà chính là tôi-tớ của Ngài, tiên-tri Giê-rê-mi. Cũng như phản ứng của chúng ta mỗi khi gặp khó khăn, Giê-rê-mi tiếp tục đặt câu hỏi “mình phải làm gì để thoát khỏi cảnh này?”. Nhưng đáng lý ra, ông phải hỏi rằng “Điều gì khiến mình muốn thoát ra khỏi cảnh này?”. Những tôi tớ của Chúa không sống bằng lời giải thích mà sống dựa trên lời-hứa. Hiểu được những lời giải thích có thể làm thỏa mãn tính hiếu kỳ và khiến chúng ta trở nên những con người thông-minh hơn, nhưng việc dựa vào lời-hứa của Chúa sẽ hình thành tính cách của chúng ta và khiến chúng ta trở nên những tôi-tớ hữu dụng hơn cho Ngài.
Câu trả lời của Chúa bày-tỏ cho Giê 3:1-25 lẽ thật quan-trọng.
- Trước hết, cuộc đời hầu-việc Chúa không phải là một cuộc sống dễ dàng; nhưng giống như một cuộc chạy đua vậy. (Sứ-đồ Phao-lô cũng đã dùng một hình ảnh tương tự trong Phi 3:2-14). Nếu như Giê-rê-mi là một thầy tế-lễ, chắc hẳn ông đã có một cuộc sống thoải mái và an-toàn, nhưng cuộc sống của một nhà tiên-tri lại hoàn toàn ngược lại. Ông như một người chạy đua và trước mắt là những giai đoạn khó khăn.
-Thứ hai, một cuộc đời phục-vụ sẽ ngày càng khó khăn hơn chớ không phải dễ dàng hơn. Giê-rê-mi đang chạy với những người chạy bộ và đã theo kịp họ, nhưng bây giờ ông đang chạy đua với ngựa. Ông đã từng vật lộn với nhiều gian truân thử thách khi ông đang còn sống trong một xứ hòa-bình. Tuy nhiên, giờ đây, ông đang lạc vào những khu rừng rậm của sông Giô-đanh nơi có những thú dữ đang rình mò. Lòng ông đau đớn vì sự tấn công từ bên ngoài và bây giờ, chính gia đình ông cũng đã bắt đầu chống đối ông.
- Chân-lý thứ ba xuất phát từ 2 lẽ-thật trên: một cuộc đời phục-vụ sẽ ngày càng tốt đẹp hơn khi chúng ta trưởng thành hơn.Từ những thử thách mới đó (ngựa, rừng rậm, sự chống đối của những người thân, họ hàng) đã giúp cho Giê-rê-mi tăng trưởng đức-tin và nhạy bén hơn trong chức-vụ của mình. Một cuộc sống dễ dàng cuối cùng cũng là một cuộc sống khó khăn. Bởi vì một cuộc sống dễ dàng kìm giữ sự trưởng-thành nhưng một cuộc sống khó khăn thử thách sẽ giúp chúng để phát triển “những cơ bắp thuộc-linh” và hữu dụng nhiều hơn cho Đức Chúa Trời. Philip Brooks đã nói rằng mục đích của đời sống là xây dựng hình thành nhân cách cao đẹp qua lẽ thật, và bạn sẽ không làm được điều đó nếu bạn cứ mãi đóng vai một người khán giả. Bạn phải bền bỉ với cuộc đua mà Chúa đã đặt trước mắt bạn và thực hiện những điều đó theo sự đòi hỏi của Chúa (Hêb 12:1-3).
Hugh Black, một nhà truyền-giáo người Scotland đã nói rằng: “Đây chính là câu trả lời mà tiên-tri Giê-rê-mi đang cần. Ông cần sự nâng đỡ chớ không phải sự nuông chìu”.
Một trong những người bà con của tôi, khi còn nhỏ đã trượt lớp 3 nên không được vào học lớp 4 và do đó không được dùng viết mực! Ngày nay, con cháu của chúng ta đang được học những chương trình điện toán đơn giản trong các lớp ở trường để chúng có thể sử dụng những chương trình khó hơn ở trường trung học và đại học.
Nếu không có thử thách, sẽ không có sự trưởng-thành và không có một thử thách nào lại không có thay đổi. Một số người khi lớn hơn, họ lụôn khăng khăng đòi có những thay đổi nhưng lại quên mất những thử thách của sự thay đổi. Họ đang trong nguy cơ suy thoái thể chất, tinh thần và thuộc-linh. Chúa muốn Giê-rê-mi trưởng-thành và Ngài cũng muốn chúng ta trưởng-thành.
Gilbert K. Chesterton đã nói thế này: “Hình ảnh ẩn dụ nói về quá trình muốn trưởng thành, rằng “hãy từ bỏ mọi sự đằng sau chúng ta” đã gây hiểu lầm một cách tai hại ý tưởng đích thực của sự trưởng-thành, thực sự nó có “ý nghĩa là hãy từ bỏ những gì thuộc về chính bản thân chúng ta.”[43]
Chúa quan-tâm đến sự trưởng-th ành thuộc về chính nhà tiên-tri chớ không chỉ ở những khó khăn quanh ông. Chúa có thể giải quyết khó khăn của người Giu-đa nhưng không thể buộc tôi-tớ Ngài phải trưởng thành. Chỉ khi Giê-rê-mi đã có thể chọn lựa bước vào cuộc đua, chấp nhận thử thách thì nhờ đó, ông mới trưởng-thành trong Chúa.
-Giê 12:1-6; xem giải nghĩa Giê 11:1-8.
3. Tội làm ngơ trước lời cảnh cáo của Chúa (Gie 12:7-13:27)
(Gie 12:7-17). Chúa dùng những gì Giê-rê-mi nói và làm để phán với dân Giu-đa và cảnh-cáo họ về sự đoán-phạt khủng khiếp sắp đến. An-tâm trong lòng với niềm tin bị dối gạt và được các tiên-tri giả khích-lệ, những nhà lãnh đạo cùng với dân Giu-đa sống trong một thiên-đàng theo ảo tưởng của kẻ ngu ngốc, tin chắc rằng không có điều gì khủng khiếp sẽ xảy đến cho thành thánh hay đền thờ. Hãy lưu ý đến 8 hình ảnh miêu-tả về sự đoán-phạt sắp giáng xuống.
a. Dân sự sẽ như kẻ thừa tự, bị hắt hủi (Giê 12:7-17):
Dân Do-thái là kẻ thừa tự đặc biệt của Chúa (Xu 19:5-6; Phuc 4:20; Phuc 32:9) và vùng đất Ca-na-an chính là sản nghiệp Chúa hứa ban cho (Xu 15:17; Thi 78:55). Vùng đất này thuộc về Chúa và dân Do-thái chỉ “vay mượn” để sử dụng mà thôi (Lê 25:23).
Dân-sự phải vâng theo Luật-pháp của Chúa để bảo vệ đất không bị lạm dụng và ô uế, nhưng dân-sự đã không vâng-theo Luật-pháp của Ngài và đã làm ô uế sản nghiệp của mình (Lê 18:25,27; Phuc 21:23). Vì thế, Chúa sửa phạt họ bằng cách đem họ ra khỏi vùng Đất Hứa ấy và đày họ sang Ba-by-lôn. Điều này tạo cơ-hội cho xứ của Y-sơ-ra-ên được phục-hồi trở lại (IISu 36:21; Giê 25:9-12; Lê 26:34-43).
Bạn sẽ không thể không kể đến sự tức giận của Chúa khi Ngài đề-cập đến dân-sự yêu mến của Ngài. Thay vì kính mến Ngài, dân-sự lại gào thét lên với chúa như một con sư tử hung hăng dữ tợn và như thế khiến Chúa không thể bày-tỏ tình yêu của Ngài đối với họ như Ngài mong muốn được [44] Kẻ thù của Giu-đa như những chim săn mồi và thú dữ chỉ chực chờ để tấn công họ. Những nhà lãnh đạo của quốc gia này (“người chăn bầy”) và những lực lượng đồng minh của họ sẽ biến vườn nho đẹp đẽ này thành một vùng đất hoang vu và người Do-thái sẽ bị tước đoạt sản nghiệp của mình. Dân của các nước lân cận như Sy-ri, Mô-áp và Am-môn, là những nước đã tấn công Giu-đa trong quá khứ cũng sẽ bị đế quốc Ba-by-lôn trừng phạt và dân-sự trong số các nước đó phải sống kiếp lưu-đày.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời cũng phán thêm một lời hy-vọng: “Ta cũng sẽ trở lại thương-xót chúng nó…đất mình” (Giê 12:15). Dân-sự sẽ bị bắt làm phu-tù trong 70 năm (Giê 25:11-12; Giê 29:10). Sau đó, họ sẽ được phép trở về quê hương khôi-phục lại đền thờ và đất nước. Chúa cũng sẽ mời gọi dân của các nước khác thờ-phượng Ngài là Đấng sống và chân-thật, để khiến họ sẽ không bao giờ dẫn dụ dân-sự Chúa thờ-lạy hình-tượng nữa.
b. Như đai gai mục (Giê 13:1-11)
Đây là một trong những “bài giảng bằng hành động” [45] của tiên-tri Giê-rê-mi. “Đai” là lớp trang phục lót dài đến đùi và được người ta mặc sát người. Chúa đã đem dân sự đến gần Ngài nhưng họ đã làm ô uế chính mình với những thần-tượng và trở nên “những kẻ vô tích sự”. Khi mọi người nhìn thấy tiên-tri Giê-rê-mi chôn đai mới của mình dưới hòn đá ở bờ sông bùn lầy, mọi nguời biết rằng điều này sẽ làm hỏng đai nhưng họ lại không nhận biết rằng họ đang sắp sửa phải nhận lấy sự đoán-phạt đổ xuống chính mình. Một ngày nào đó, Chúa sẽ đoạt lại Giu-đa từ tay Ba-by-lôn. Và lúc đó, Ngài sẽ giúp dân Ngài thoát khỏi sự thờ thần-tượng. Thành phố, đền đài mà họ thường tự hào sẽ bị tiêu diệt, cũng giống như lớp đai của tiên-tri sẽ bị mục nát.
Nhưng cũng còn một điều khác liên-quan đến “bài giảng bằng hành động” này. Trong nhiều năm, những nhà lãnh đạo Giu-đa đã quay sang Ai-cập, A-si-ri, và Ba-by-lôn để xin sự giúp đỡ thay vì chạy đến Đức Chúa Trời cầu-xin sự trợ giúp. Chính hành động này đã “làm cho” dân-sự trở nên ô uế và trở nên “vô tích sự” trong cái nhìn của Chúa. Giê-rê-mi chỉ cho họ thấy rằng việc họ đang “nịnh hót, tâng bốc” các nuớc ngoại bang chỉ khiến họ trở nên xa cách Đức Chúa Trời và điều này cuối cùng sẽ dẫn đến sự hủy diệt của đất nước họ mà thôi.
c. Như những kẻ say sưa đi loạng choạng (Giê 13:12-14):
Tiên tri Giê-rê-mi thường sử dụng một thành ngữ quen thuộc trong bài giảng của mình: “Hễ là bình thì sẽ có được đầy rượu” [46] Thành ngữ này ngụ ý rằng đảm bảo sẽ có hoà bình và sự thịnh vượng cho đất nước. Với tấm lòng tan vỡ, nhà tiên-tri lại nhìn thấy những nhà lãnh đạo thường hay say sưa thay vì dốc lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời (Ês 28:1-8) và ông biết rằng chén thịnh nộ sẽ đổ trên đất này (Giê 25:15).
Những nhà lãnh đạo và dân trong thành Giê-ru-sa-lem đã đổ đầy rượu vào bình của mình, chuẩn bị cho một bữa tiệc nhưng Chúa sẽ khiến họ trở nên say khướt đến đỗi dẫn đến một sự thất bại nhục nhã và sự tàn phá đau lòng. Họ sẽ va đụng vào nhau và hủy diệt lẫn nhau như những bình gốm vỡ trong thành. Sứ-đồ Phao-lô cũng đã dùng hình ảnh say sưa để khiển trách Hội thánh và khuyên họ phải sẵn sàng cho ngày Chúa trở lại (ITês 5:1-11).
d. Như người bước đi vấp chân (c.15-16):
Khi Giê-rê-mi kêu-gọi dân-sự “Hãy nghe và lắng tai” (ITês 13:15,16) ông đã cho họ một cơ-hội nữa để ăn-năn và quay trở lại với Chúa. Ông so sánh họ như người lữ-hành đi trên con đường núi nguy hiểm và xa lạ, không có bản đồ, không có ánh sáng và đang chờ đợi ánh nắng bình minh. Tuy nhiên, thay vì là ánh nắng bình minh, bóng đêm vẫn vây kín. Trong nhiều thế kỷ trước, Chúa đã dẫn dắt dân Ngài đi trong trụ lửa và trụ mây. Giờ đây, Chúa cũng muốn dùng lời của tiên-tri Ngài để dẫn dắt họ bước đi nhưng họ không chịu nghe theo. Nếu chúng ta chống nghịch lại ánh sáng của Chúa, chúng ta sẽ chẳng còn lại gì ngoại trừ bóng đêm. Những nhà lãnh đạo dân-sự đã quá kiêu ngạo không chịu tự nhận mình đã lạc đường cho nên họ đã chẳng chịu cầu hỏi lời dẫn đường.
e. Như bầy chiên bị bắt (ITês 13:17-20):
Tiên-tri Giê-rê-mi đã khóc khi nhìn thấy bầy chiên của Chúa bị bắt, những con chiên không thể tự vệ bị đem đi giết. Điều gì đã gây ra thảm kịch này? Người chăn bầy (những người cai-trị Giu-đa) đã ích kỷ bóc lột bầy chiên của mình mà không chịu vâng-theo lời Chúa (ITês 23:1).
Tiên-tri Giê-rê-mi nói với Vua Giê-hô-gia-kin và mẹ người Nê-hu-ta (IIVua 24:8-20) và khuyên nhủ họ ăn năn, hạ mình xuống nhưng họ không chịu nghe theo. Đạo quân Ba-by-lôn sẽ tràn xuống từ phương Bắc và cả dân tộc sẽ bị hủy diệt. “Sự kiêu-ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh …sa ngã”