...thầy truyền-đạo trẻ trong lần đầu tiên đảm-nhiệm vai trò mục-sư đã gọi điện cho tôi tâm-sự, “hầu hết tín-hữu trong Hội thánh đều lớn tuổi hơn tôi, tôi không biết họ có chú ý đến tôi hay không. Tôi có cảm giác như mình không xứng đáng để giảng dạy họ.”
Vì tôi đã trải qua tình huống đó ở Hội thánh đâu tiên của tôi, tôi có thể khích-lệ anh ta bằng chính lời nói mà một mục-sư kỳ cựu đã khích-lệ tôi khi tôi cầu cứu ông ta, “Miễn là anh đang rao-giảng sứ-điệp của Đức Chúa Trời, thì không cần phải lo lắng tuổi tác của mình. Khi anh mở quyển Kinh Thánh, anh như một người trên 2000 tuổi!”
• Xa-cha-ri còn trẻ (Xa 2:4)
Khi Đức Chúa Trời kêu-gọi ông chăn dắt dân sót Do-thái đang vất vả xây lại đền thờ trong thành phố Giê-ru-sa-lem đổ nát. A-ghê, tiên-tri lớn tuổi hơn, đã rao 2 sứ-điệp trước khi Xa-cha-ri bước vào chức-vụ, và hai người đó đã cùng hầu-việc Chúa với nhau trong một thời gian ngắn.
A-ghê đã vận động để đền thờ được tiếp tục xây dựng sau 16 năm trì hoãn, và giờ đây Xa-cha-ri có thể thôi thúc dân sự hoàn thành công việc của mình. Đức Chúa Trời đã ban cho người trẻ tuổi nầy “những lời lành, những lời yên-ủi” (Xa 1:13,17) để cam-đoan với dân-sự rằng, dù hoàn cảnh khó khăn đến đâu, Đức Chúa Trời vẫn luôn ở cùng họ và giúp họ vượt qua.
Tiên-tri nhấn mạnh 2 ý chính khi ông bắt đầu chức-vụ của mình: Đức Chúa Trời đang kêu-gọi dân-sự ăn-năn, và Đức Chúa Trời đang quả quyết rằng Ngài quan tâm đặc biệt đến họ. Trong một loạt 8 khải-tượng trong đêm, Đức Chúa Trời giải thích mối liên-hệ của Ngài với dân-sự.
1. Đức Chúa Trời kêu-gọi dân-sự ăn-năn (Xa 1:1-6)
Bài giảng đầu tiên của một diễn-giả thường rất khó giảng, nhưng trong trường hợp của Xa-cha-ri, sứ-điệp đầu tiên của ông chắc chắn rất khó vì chủ-đề của nó là sự ăn-năn. Đức Chúa Trời muốn đầy tớ trẻ của Ngài kêu-gọi đám dân sót nản lòng hãy từ bỏ đường lối gian ác của họ và vâng-Lời Đức Chúa Trời.
Xa-cha-ri dạn dĩ công-bố những gì Đức Chúa Trời bảo ông nói, vì trên tất cả, Đức Chúa Trời đã không thể ban phước cho dân-sự Ngài nếu họ chưa thánh-sạch trong mắt Ngài. Nếu Xa-cha-ri muốn trích một câu Kinh Thánh cho bài giảng của mình, câu đó có thể là IISu 7:14, người Do-thái rất quen thuộc câu Kinh Thánh nầy.
Xa-cha-ri kêu nài dân-sự nhìn lại và nhớ những gì tổ tiên họ đã làm để khiến Đức Chúa Trời tức giận và trừng phạt (Xa 1:2,4). Những người Do-thái trở về xứ biết rất rõ lịch-sử của đất nước họ. Họ biết rằng Đức Chúa Trời đã sai lần lượt các tiên-tri đến để nài xin tổ-tiên họ từ bỏ các thần-tượng để quay về cùng Đức Chúa Trời, nhưng dân-sự không nghe.
Ê-sai đã cảnh cáo các lãnh đạo rằng Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt dân-sự nếu họ không thay đổi nếp sống của mình (Ês 2:6-3:26; 5:1-30; Ês 29:1-14). Giê-rê-mi đã khóc khi cảnh cáo Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng sự đoán-phạt đang đến từ phương bắc (Ba-by-lôn) và dân Do-thái se bị lưu đày 70 năm (Giê 1:13-16; Giê 4:5-9; Giê 6:22; Giê 25:1-14).
“Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ-phụ chúng, vì có lòng thương-xót dân-sự và đền của Ngài; nên hằng sai sứ-giả đến cùng chúng; nhưng chúng nhạo báng sứ-giả của Đức Chúa Trời, khinh bỉ các lời phán Ngài, cười nhạo những tiên-tri của Ngài, cho đến nỗi cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân-sự Ngài, chẳng còn phương chữa được” (IISu 36:15-16).
Sau đó, Xa-cha-ri đã chia-sẻ lời-hứa của Ngài với dân-sự: “Hãy trở lại cùng ta, … thì ta sẽ trở lại cùng các ngươi” (Xa 1:3). Đức Chúa Trời đã để mặc dân-sự đi theo ý riêng, và đó là lý-do họ đã gặp nhiều khó khăn. A-ghê đã nói với họ điều nầy trong sứ-điệp đầu tiên của ông (Ag 1:1-15), nhưng nó cần được nhắc đi nhắc lại.“Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em” (Gia 4:8).
A.W.Tozer nhắc chúng ta rằng “sự gần gũi là sự giống nhau,” [2] vì vậy, nếu chúng ta muốn đến gần Đức Chúa Trời, chúng ta phải biết vâng-lời Ngài và xây dựng cho mình một bản-tánh giống như Chúa. Dân sót không đặt Đức Chúa Trời là ưu tiên một, nên Ngài không thể ban ơn cho họ như cách Ngài muốn.
Lúc nầy, Xa-cha-ri hỏi dân-sự 2 câu hỏi: “Chớ nào tổ-phụ các ngươi ở đâu? Và những tiên-tri ấy có sống đời-đời chăng?” (Xa 1:5) Nếu những người có mặt hôm đó thành thật trả lời, họ sẽ nói, “Nhiều trong số tổ-phụ của chúng tôi đã qua đời vì bị người Ba-by-lôn giết, và một số vẫn còn lưu đày ở Ba-by-lôn. Một số tiên-tri đã chết vì các tổ-phụ của chúng tôi giết họ.”
Nhưng điều Xa-cha-ri muốn nói ở đây là cái chết của các tiên-tri không có nghĩa là không còn cơ-hội nào cho đất nước. Đức Chúa Trời đã dành cho dân-sự nhiều thời gian để ăn-năn và thoát khỏi án phạt, nhưng họ đã bỏ phí những cơ-hội của mình, và bây giờ đã quá trể.
Tuy nhiên, Lời của Đức Chúa Trời, được các tiên-tri rao ra và viết lại, không bao giờ qua đi, và Lời đó cuối cùng “kịp đến” các tội-nhân chống nghịch (c.6 bắt kịp, đuổi kịp). Khi sứ chịu đựng của Đức Chúa Trời không còn, thì những lời hằng sống của Ngài sẽ đuổi theo và bắt kịp các tội-nhân và trừng phạt họ. [3]
Một số tổ-phụ họ đã ăn-năn (c.6), nhưng họ ăn-năn quá trể nên không thể làm gì được trước sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem và sự lưu đày của dân-sự. Một số người Do-thái có thể đã ăn-năn khi Nê-bu-cát-nết-sa và đội quân của ông ta tiến đến các cổng thành Giê-ru-sa-lem, và những người khác có thể đã quay về với Chúa trong thời gian lưu đày ở Ba-by-lôn. Họ thứa nhận rằng hình phạt dành cho họ như vậy là xứng đáng và Đức Chúa Trời thật công-bình (Ca 2:17).
Trong lúc kêu gọi dân-sự ăn-năn, Xa-cha-ri đang chuẫn bị họ để nghe những sứ-điệp mà ông sắp rao-ra, vì nếu lòng chúng ta không hướng về Đức Chúa Trời, chúng ta có không thể nghe Lời Ngài và hiểu rõ ý nghĩa thuộc-linh của nó.
“Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng” (Hêb 3:7-8).
Chúng ta thường nghe những nhà truyền-giáo kêu-gọi tội-nhân ăn-năn, và điều nầy là phải lẽ và hợp Kinh Thánh. Nhưng ít khi nào chúng ta nghe các diễn-giả kêu-gọi dân-sự Đức Chúa Trời ăn-năn, dù đây là sứ-điệp của các tiên-tri, Giăng Báp-tít và Chúa Giê-xu.
Van Havner nói, “Lời cuối cùng của Chúa chúng ta dành cho Hội thánh không phải là Sứ-Mạng Truyền-Giáo. Thật sự Sứ-Mạng Truyền-Giáo là chương trình của chúng ta cho đến ngày sau rốt, nhưng lời cuối cùng của Chúa chúng ta dành cho Hội thánh là “hãy ăn-năn”. [4] Câu xin Chúa ban phước cho chúng ta là một chuyện, nhưng bạn có phải là người mà Đức Chúa Trời có thể ban phươc hay không là một chuyện khác!
2. Đức Chúa Trời yên-ủi dân-sự Ngài (Xa 1:7-17)
Khoảng ba tháng sau, trong đêm 15, tháng 2 năm 519, Xa-cha-ri có một loạt những khải-tượng từ Đức Chúa Trời để khích-lệ dân-sót và thôi thúc họ hoàn thành công trình xây dựng đền thờ. Những khải-tượng nầy tập trung vào sự chăn dắt của Đức Chúa Trời trên Y-sơ-ra-ên và sự đoán-phạt của Ngài trên những dân Ngoại đã hiếp đáp Y-sơ-ra-ên.
• Đội binh (c.7-11).
Trong khải-tượng đầu tiên, tiên-tri thấy một người đang cỡi con ngựa màu hồng, dẫn đầu một đội quân cỡi ngựa hồng, xám và trắng. Người “đứng trong những cây sim” nầy là Thiên-Sứ của Đức Chúa Trời (c.11-13), Thân-Vị thứ hai của Đức Chúa Trời, là Đấng nhiều hiện ra trong th ời Cựu-ước. Như Thiên-Sứ của Chúa, Con của Đức Chúa Trời hiện ra với A-ga (Sa 16:7-14), Áp-ra-ham (18 Sa 22:11-18), Gia-cốp (Sa 31:11,13), Môi-se (Xu 3:1-22). Ghê-đê-ôn (Cac 6:11-23) và cha mẹ của Sam-sôn (Cac 13:1-25).
Nhưng lúc đó còn có một thiên-sứ khác, thiên-sứ nầy đã giải thích nhiều điều cho Xa-cha-ri (Xa 1:9,13-14,19; Xa 2:3; Xa 4:1,4-5; Xa 5:10; Xa 6:4-5). Trong khi nhận được những khải-tượng nầy, Xa-cha-ri đã hỏi thiên-sứ cấy nhiều câu hỏi và được giải đáp (Xa 1:9,19,21; Xa 2:2; Xa 4:4,11-12; Xa 5:5,10; Xa 6:6).
“Đức Giê-hô-va kết bạn thiết cùng người kính-sợ Ngài, tỏ cho người ấy biết giao-ước của Ngài” (Thi 25:14).
- Trong khải-tượng thứ nhất, Thiên-Sứ của Đức Chúa Trời cho Xa-cha-ri biết ý nghĩa của những người cỡi ngựa (Xa 1:10): Họ là những đội binh thiên sứ của Đức Chúa Trời tuần tra trên đất và thực hiện những mệnh-lệnh của Đức Chúa Trời (c.11; Phuc 33:2; IVua 22:19; Giop 1:6-7; Giop 2:1-2; Đa 7:10; Mat 27:63). Giê-hô-va là “Đức Giê-hô-va vạn quân,” là Thủ Lãnh của các đội quân trên trời và dưới đất.
Các sứ-giả đã báo rằng các nước Ngoại bang “yên ổn và bình an”. Sau những biến động của các nước đế quốc và sự thất bai của Ba-by-lôn và các nước khác dưới tay Phe-rơ-sơ, tin nầy nghe có vẻ khả quan, nhưng thực tế không hải vậy. Dân Do-thái còn sót lại đang khốn cùng trong khi nước Ngoại bang đang yên vui.
A-ghê đã hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ làm các nước nầy rúng động và giải cưu dân-sự Ngài (Ag 2:6-9,20-23), nhưng sự-kiện quan-trọng nầy chưa xảy ra. Vương Quốc như được các tiên-tri hứa hẹn dường như chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành sự thật.
• Sự kêu nài (Xa 1:12).
Một việc có ý nghĩa đã xảy ra: Con của Đức Chúa Trời đã cầu-thay cho dân-sự Đức Chúa Trời, là dân đang vô cùng khốn khổ! Hàng bao thế kỷ, “Cho đến chừng nào?” là tiếng kêu khóc của một dân khốn nạn, nhất là dân Y-sơ-ra-ên (Thi 74:9-10; Thi 79:5; Thi 80:4; Thi 89:46 Ha 1:2). “Cho đến chừng nào” cũng là tiếng kêu khóc của các thánh tử-đạo ở thiên-đàng (Kh 6:10).
Con của Đức Chúa Trời đã đống hóa chính mình Ngài với tiếng kêu khóc của dân sự, điều đó mặc-khải tình yêu-thương và lòng thương-xót của Ngài.
“Hễ khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ” (Ês 63:9).
Giê-rê-mi đã hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ ban ơn sau 70 năm lưu đày (Giê 25:8-14; Giê 29:10-11), nhưng dân-sự vẫn đang khốn khổ. [5]
Tại sao? Vì họ quên rằng Đức Chúa Trời đã đặt những điều kiện vào ơn phước đó: dân-sự phải ăn-năn, kêu-cầu Đức Chúa Trời, và tìm kiếm Ngài bằng tất cả lòng mình chính là những gì Xa-cha-ri đã rao-giảng.
Ngày nay chúng ta cũng nên cầu thay cho Y-sơ-ra-ên. Môi-se (Xu 32:1-35; Phuc 9:18), các tiên-tri (ISa 12:23; IVua 16:1-46; Giê 9:1; Ha 3:1-19), Chúa Giê-xu (Lu 23:34), và Phao-lô (Ro 10:1) đều đã cầu-nguyện cho Y-sơ-ra-ên; chúng ta phải noi theo gương họ.
“Hỡi các ngươi là kẻ nhắc nhở Đức Giê-hô-va, chớ có nghỉ ngơi chút nào. Đừng để Ngài an nghỉ cho đến chừng nào đã lập lại Giê-ru-sa-lem và dùng nó làm sự ngợi khen trong cả đất!” (Ês 62:6-7).
“Hãy cầu hòa bình cho Giê-ru-sa-lem; Phàm kẻ nào yêu mến ngươi sẽ được thới thạnh” (Thi 122:6).
• Sự đáp lời (Xa 1:13-17).
Sau khi cầu-thay cho Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời đã có “những lời yên-ủi” để thiên-sứ ban cho tiên-tri. [6] Ngài khẳng định Ngài rất yêu-thương và quan tâm Giê-ru-sa-lem (Xa 8:2). Đức Chúa Trời ghen tương vì tuyển dân Ngài như chồng ghen tương vì vợ mình, như cha ghen tương vì con cái mình (Xu 20:5; Phuc 4:24, Phuc 5:9, Phuc 6:15).
Điều nầy giải thích tại sao Đức Chúa Trời buộc Y-sơ-ra-ên tội ngoại tình và không chung thủy mỗi khi họ thờ các thần khác (Giê 2:1-3; Giê 3:14; Giê 31:32; Os 1:1-11). Cơ-đốc Nhân sống theo thế-gian cũng bị xem là “ngoại tình thuộc-linh” (Gia 4:4-10).
Đức Chúa Trời giận dân Ngoại vì họ đã căm thù dân Do-thái quá mức. Thật ra, Đức Chúa Trời đã sai A-si-ri trừng phạt Vương Quốc phía Bắc Y-sơ-ra-ên, và Ba-by-lôn trừng trị Giu-đa; nhưng những nước nầy đã vượt quá giới han mà Đức Chúa Trời cho phép và cố tình hủy diệt dân Do-thái. Những nước khác, như Mô-áp, cũng góp phần mình chống lại Do-thái (Gia 83:1-18; Gia 137:1-9).
Nhưng lời khích-lệ nhất là những lời liên quan đến tương lai của Giu-đa, không phải liên quan đến các kẻ thù của họ, vì Đức Chúa Trời hứa trở về với dân-sự Ngài và làm cho họ nên thịnh vượng. Ngài sẽ yên-ủi Si-ôn và cho các nước thù địch thấy rằng Giê-ru-sa-lem thật là thành mà Ngài chọn. Lời-hứa nầy được lập lại và khai triển trong phần còn lại trong sách tiên-tri của Xa-cha-ri.
Khi hoàn cảnh của chúng ta gần như tuyệt vọng, chúng ta phải tự nhắc mình rằng Đức Chúa Trời biết nỗi khổ của chúng ta và đang nắm giữ tương lai. Bổn-phận của chúng ta là ăn-năn tội, xưng-tôi mình, và tin nơi “những lời yên-ủi” của Ngài. Trách-nhiệm của Ngài là đáp lại lòng tin của chúng ta là thực hiện ý muốn tốt lành của Ngài cho chúng ta.
3. Đức Chúa Trời bào chữa cho dân-sự Ngài (Xa 1:18-21)
Nhiều thế kỷ qua, dân Do-thái bị các nước khác hiếp đáp hết lần nầy đến lần khác, và họ đã vượt qua được. Nhưng những nước từng muốn tiêu diệt dân Do-thái đã nhận ra chân-lý về lời-hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham, “Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi” (Sa 12:3).
Đó là sứ-điệp của khải-tượng thứ hai mà Đức Chúa Trời ban cho Xa-cha-ri: các nước từng làn Y-sơ-ra-ên tản lạc sẽ kinh hãi và bị ném đi trong sự trừng phạt của Đức Chúa Trời. Trong thư gởi cho tổng thống Ronald Reagan, thủ tướng Y-sơ-ra-ên, Menchachem Begin đã viết, “Ông Ron kính mến, thế-hệ của tôi đã thề trước bàn thờ của Đức Chúa Trời rằng hễ ai dám tuyên-bố sẽ xóa sổ nước Do-thái hoặc dân Do-thái, hoặc cả hai, tức đang ký án tử cho mình”[7] Nhưng chính Đức Chúa Trời trừng phạt Y-sơ-ra-ên , không phải các kẻ thù của họ làm việc đó, và sự đoán-phạt của Ngài không bao giờ sai lầm.
Trong Kinh Thánh, sừng tượng-trưng cho sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh của một quốc gia hoặc một người lãnh đạo (Thi 75:4-5; Thi 89:17; Thi 92:10; Giê 48:25; Am 6:13; Đa 7:7-12; Đa 8:1; Kh 17:1-18). Bốn “thợ rèn” tượng trưng cho 4 nước mà Đức Chúa Trời dùng để đánh bại các kẻ thù của Y-sơ-ra-ên. Họ sẽ dùng “dụng cụ” của mình để cắt sừng, tước đi sức mạnh của các nước kẻ thù Y-sơ-ra-ên.
Khái niệm về 4 sừng (bối nước) nhắc chúng ta về những khải-tượng của Đa-ni-ên về pho tượng (Đa 2:1-49) và các con thú (Đa 7:1-28), cả hai đều ngụ ý về bối đế quốc: Ba-by-lôn, Phe-rơ-sơ, Hy-lạp và La-mã. [8] Năm 722, A-si-ri đã tàn phá Vương Quốc Phía Bắc của Y-sơ-ra-ên, nhưng Đức Chúa Trời đã dùng người Ba-by-lôn để đánh bại A-si-ri (Giê 25:9; Giê 27:6) và rồi lưu đày Giu-đa năm 586.
Ba-by-lôn thật đã chèn ép dân Do-thái, nhưng sau đó Đức Chúa Trời đã dùng Si-ru chinh phục Ba-by-lôn năm 539 (Ês 44:28; Ês 45:1); và năm 538, Si-ru cho phép dân Do-thái trở về quê hương. Phe-rơ-sơ thất bại trước Hy-lạp, dưới quyền của Alexander đại đế, [9] và Hy-lạp thất thủ trước La-mã.
Viễn cảnh nầy cho thấy rằng “các sừng” cũng đã trở thành “thợ rèn” khi từng đế quốc thu phục những kẻ đàn áp trước. Nó cũng nhắc dân Do-thái về sự quan phòng của Đức Chúa Trời trong quá khứ và lời hứa về sự gìn giữ của Ngài trong tương lai, vì Đức Chúa Trời sẽ không để bất cứ dân tộc nào hủy diệt tuyển dân của Ngài.
Trong ngày sau rốt, khi Anti-Christ, “con thú dữ tợn và rất mạnh” lập nước của nó (Da 7:7-8,15-28) và bắt bớ dân Do-thái, nó và vương quốc của nó sẽ bị hủy diệt bởi sự tái-lâm của Chúa Cứu Thế Giê-xu trong vinh quang và quyền-năng. Xa-cha-ri sẽ nói nhiều hơn về điều nầy ở phần sau trong sách của ông.
4. Đức Chúa Trời sẽ phục-hồi dân-sự Ngài (Xa 2:1-13)
Dân sót đã trở về Giu-đa rất quan tâm đến việc xây lại đền thờ, sửa chữa thành và khôi phục đất nước, nhưng nhiệm vụ của họ cực kỳ khó khăn. Trong khải-tượng nầy, Đức Chúa Trời đảm bảo với dân-sự của Ngài rằng Ngài hoạch đinh một tương lai huy hoàng và vinh hiển cho họ và thành của họ khi chính mình Ngài sẽ đến và ở cùng họ.
• Sự liệu trước (Xa 2:1-3).
Nếu một người lạ đến nhà tôi và tự nhiên đo cửa sổ để may màn và đo nền nhà để trải thảm, chắn chắn tôi sẽ đuổi anh ta đi. Vì dù thế nào, bạn chỉ có quyền đo cái gì thuộc về bạn, cái thuộc dưới quyền của bạn. Khi tiên tri thấy một người đo Giê-ru-sa-lem, thì rõ ràng Giê-ru-sa-lem là thành của Đức Chúa Trời và sẽ có một ngày Ngài xác nhận nó và phục hồi nó trong vinh-quang.
Người cầm dân đo rõ ràng là Thiên-Sứ của Đức Chúa Trời, Đấng Mê-si-a của Y-sơ-ra-ên. Những lãnh đạo và những nhà ngoại giao có lẽ tranh luận với nhau xem ai sẽ là người có quyền trên Giê-ru-sa-lem, nhưng câu trả lời cuối cùng thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nhưng quan việc đo thành, Ngài công-bố rằng nó thuộc về Ngài và Ngài sẽ thực hiện những mục đích thánh của Ngài cho thành ấy dù các lãnh đạo và các hội nghi quốc gia có đưa ra quyết định gì đi nữa.
Nhưng hành động tượng-trưng nầy nói lên một điều khác: Giê-ru-sa-lem trong tương lai sẽ được mở rộng và vinh-hiển mà nó chưa bao giờ có được. Cư-dân sẽ tràn ra khỏi các vách thành; thật ra cũng không cần có vách thành vì Đức Chúa Trời sẽ là “bức tường lửa” xung quanh dân-sự Ngài. (Ês 49:13-21; Ês 54:1-3.) Đám dân sót Do-thái ít ỏi trong thành Giê-ru-sa-lem đổ nát đang giúp vực dậy một thành mà đến một ngày nó sẽ được Đức Chúa Trời Toàn Năng tôn cao và ban phước!
• Sự khiển trách (Xa 2:6-9).
Đức Chúa Trời quở trách những người Do-thái chưa rời Ba-by-lôn để trở về gia nhập với dân sót tại gra. Tại sao có thể thoải mái và bình an ở một xã hội ngoại đạo trong khi quê nhà đang rất cần họ? Sẽ có một ngày Ba-by-lôn, nay dưới quyền của Phe-rơ-sơ, sẽ bị trừng phạt vì những tội-lỗi của nó và những người từng phục-vụ nó sẽ cướp bóc nó. Hãy thoát khỏi đó khi còn cơ-hội!
Sự quở trách nầy không ngụ ý rằng người người ở lại Ba-by-lôn là những người không làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã sai Giô-sép đế Ai-cập để dọn đường cho cả gia đình ông thể nào, thì Ngài cũng đã đặt những người như Ê-xơ-tê, Mạc-đô-chê, Đa-ni-ên và các bạn ông ở địa-vị cao trong các thành phố ngoại bang để họ có thể thực hiện công việc mà Ngài đã định cho họ.
Đức Chúa Trời đang nhóm hiệp những người Do-thái đang xem sự tiện nghi, nghề nghiệp và sự anh ninh mình quan trọng hơn việc làm công việc Đức Chúa Trời trong thánh thánh của chính họ. (Ês 48:20; Ês 52:11; Giê 50:8; Giê 51:6,9,45; IICôr 6:14-18; Kh 18:4)
Dân Do-thái rất quý báu đối với Đức Chúa Trời; Ngài gọi họ là “con ngươi mắt Ngài” (Xa 2:8; Phuc 32:10; Thi 17:8). Con ngươi là một khe hở rất nhỏ trong tròng đen để tiếp nhấn ánh sáng và nó là một vùng mỏng manh và vô cùng quan trọng trong cơ quan sống. Do đó, bất cứ cái gì thân thiết và qúy giá thì giống như con ngươi của mắt. [10]
Đấng Mê-si-a vẫn đang phán, “Sau sự vinh-hiển, rồi Ngài (Đức Chúa Cha) sai ta đến” (Xa 2:8) để “dâng sự vinh-hiển cho Ngài”. Toàn bộ mục đích của sự sống Chúa Cứu Thế khi Ngài ở trên đất, chức-vụ của Ngài, sự chết của Ngài và sự sống lại của Ngài là làm vinh-hiển Đức Chúa Trời (Gi 1:14; Gi 12:23,28; Gi 17:4); và một phần trong sự vinh-hiển đó sẽ liên quan đến sự phục hồi trong tương lai của Y-sơ-ra-ên trong vương quốc khi Ngài trị-vì trên đất (Ês 6:3-11).
• Sự reo mừng (Xa 2:10-13).
Những lời-hứa giống như vật chắc chắn khiến dân-sự Đức Chúa Trời “hát mừng và vui vẻ.” Đấng Mê-si-a của họ sẽ đến và ở cùng họ, giống như sự vinh-quang của Đức Chúa Trời đã ngự trong đền tạm là đền thờ. Ê-xê-chi-ên mô-tả một thành và đền thờ mới trong Êxe 40:1-48:35, và khép lại quyển sách của mình sau khi nhắc đến thành mới vinh-quang nầy, “Jehovah Shammah” có nghĩa là “Đức Giê-hô-va ở đó!” (Êxe 48:35). Trong ngày đó, nhiều dân Ngoại sẽ tin-cậy Đức Chúa Trời và gainnậhp với Y-sơ-ra-ên trong nước vinh hiển mà Đấng Mê-si-a cai trị (Ês 2:1-5; Ês 19:23-25; Ês 60:1-3; Xa 8:20-23).
Xa 2:12 là chỗ duy nhất trong Kinh Thánh gọi Pa-léc-tin và “đất thánh.” Ngày nay người ta thường gọi như vậy, nhưng thật sự nó không thích hợp với cách gọi đó. Xứ đó sẽ không được thánh cho đến ngày Đấng Mê-si-a thanh tẩy dân sự và đất khi Ngài trở lại cai-trị (Xa 3:9). Một suối nước sẽ mở ra để gội sạch tội-lỗi và sự ô uế (Xa 13:1), và sau đó dân Do-thái sẽ được gọi là “dân thánh” (Ês 62:12). Đó là điều đáng để reo mừng!
Nhưng đó cũng là điều khiến các nước trên thế giới phải kinh hãi mà dừng lại và nín lặng (Xa 2:13; Ha 2:20; So 1:7). Tại sao? Vì trước không Đấng Mê-si-a đến cai-trị, Ngài sẽ đoán-phạt các nước trên thế giới trong suốt giai đoạn được gọi là “kỳ tai hại của Gia-cốp” (Giê 30:7), “ngày của Đức Giê-hô-va” (Ês 2:12; Ês 13:6,9; Gio 1:15; Gio 2:1; Xa 14:1), và “hoạn nạn lớn” (Mat 24:21; Kh 6:1-19:21). Đó sẽ là ngày rất khốn nạn, trong ngày đó các nước sẽ gánh chịu án phạt cho mình vì sự gian ác và bất tính của họ. Khi Đức Chúa Trời “thức dậy từ nơi ngự thánh của Ngài” (Xa 2:13), các nước của thế gian sẽ kinh-nghiệm cơn thạnh nộ thánh, và sẽ không có con đường thoát cho họ.
Khi bạn nhìn lại ba khải-tượng nầy, bạn sẽ biết được rằng Đức Chúa Trời luôn chăm xem các nước và biết rõ những gì họ đang làm; rằng Ngài đoán-phạt các nước vì tội-lỗi của họ, nhất là vì họ ngược đãi Y-sơ-ra-ên; và rằng có một tương lai vinh-hiển được định sẳn cho Giê-ru-sa-lem và dân Do-thái, khi Đấng Mê-si-a sẽ trở lại để thanh tẩy họ và khôi-phục sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời ở giữa họ.
Bởi thế Chúa Giê-xu dạy chúng ta cầu-nguyện, “Nước Cha được đến” (Mat 6:10); vì khi chúng ta cầu-nguyện như vậy, chúng ta thật sự đang cầu xin sự bình-an cho Giê-ru-sa-lem. Và không thể có sự bình-an thật cho Giê-ru-sa-lem nếu Chúa Bình An chưa trị-vì trong sự vinh-hiển.
2. ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ NHỮNG NHÀ LÃNH ĐẠO CỦA NGÀI (Xa 3:1-4:14)
Theo những chuyên-gia ngành quản lý James M. Kouzes và Barry Z. Posner, một trong những chuyện hoang đường nhất về vai trò lãnh đạo là cho rằng: “những người lãnh đạo là những người nhìn xa trông rộng có thể biết trước mọi chuyện như có quyền-phép của Mer-lin.” [11], xvi Nói cách khác, những người lạnh đạo biết mọi thứ và có thể làm mọi thứ.
Nhưng nếu đó là sự thật, thì chức lãnh đạo sẽ không phải là một nhiệm-vụ khó khăn và đòi hỏi như ta vẫn biết về nó. Chắc chắn những lãnh đạo thành công có thể được tôn-vinh và ngẩng cao đầu ở trong địa-vị của họ, nhưng họ cũng phải đương đầu với những vực sâu và sự hy-sinh mà cũng là một phần lớn trong công việc của họ. Chức lãnh đạo thật không hề dễ dàng.
Xa-cha-ri 3-4 chủ yếu nói về Giê-sua và Xô-rô-ba-bên, hai vị lãnh đạo của dân sót Do-thái và là những người biết rõ nhiệm-vụ lãnh đạo khó khăn như thế nào. Giê-sua là thầy tế-lễ cả và lo về đời sống thuộc-linh của dân sự, còn Xô-rô-ba-bên là quan trấn thủ và có trách nhiệm cai quản những vấn-đề dân-sự của đất nước. Xô-rô-ba-bên đang cố gắng thôi thúc những người nản lòng và ích kỷ, và Giê-sua đang cố dạy dỗ những người bất tuân và phạm-tội. Có hy-vọng nào cho một đất nước, một Hội thánh hoặc một người ô uế và nản lòng?
Có! Đức Chúa Trời ban cho Xa-cha-ri, 2 khải-tượng nói đến chúng ta ngày nay và khích-kệ chúng ta kiên tâm hầu-việc Chúa dù hoàn cảnh khó khăn ra sao.
1. Đức Chúa Trời thanh-tẩy dân-sự để họ hầu-việc Ngài (Xa 3:1-10)
• Sứ-điệp thứ nhất của A-ghê (Ag 1:1-11) và lời kêu gọi ăn năn của Xa-cha-ri (Xa 1:1-6) và bằng chứng cho thấy rằng đời sống thuộc linh của dân sót Do-thái đang ở mức rất thấp. [12] Hầu hết những người nầy được sinh ra ở Ba-by-lôn, không có nhiều người làm gương cho họ và day dỗ họ về tôn-giáo về sự thờ-phượng Đức Giê-hô-va; và hoàn cảnh khó khăn ở quẹ nhà là một thử thách rất lớn đối với đức-tin của họ.
• Bị cáo (Xa 3:1,3). Giê-sua đứng trước mặt Chúa với tư cách là người đại diện cho dân Y-sơ-ra-ên, dân mà Ngài gọi là dân thánh của các thầy tế-lễ (Xu 19:5-6). Ông mặc áo bẩn, không phải vì tội-lỗi của cá nhân mình, nhưng vì dân-sự đã phạm-tội và ô uế trước mặt Đức Chúa Trời. Điều được nhấn mạnh ở đây không phải là tuyển dân, cá nhân Giê-sua, vì cả Giê-sua và Xô-rô-ba-bên là “những người mang dấu hiệu cho những điều sẽ đến” (c.8).
Đức Chúa Trời đã chọn Giê-ru-sa-lem và kéo dân Do-thái ta khỏi lửa Lưu Đày ở Ba-By-lôn (c.2). Những gì Đức Chúa Trời làm với Giê-sua là tượng-trưng, Ngài sẽ làm cho Y-sơ-ra-ên một cách cá nhân: tội-lỗi sẽ bị xóa sạch trong một ngày (c.9).
“Đứng trước mặt Chúa” có nghĩa là làm đầy-tớ cho Ngài (Sa 41:46; Phuc 10:8; ISa 16:21), nên dân Do-thái đã bị ô uê trong không họ đang nỗ lực hầu-việc Đức Chúa Trời. Nếu sự hầu-việc của họ không thánh-sạch trước mặt Đức Chúa Trời, thì những tội-lỗi cố ý của họ phải ghớm ghiếc dường nào! Tiếng Hy-ba-lai được dịch là “dơ” cho thấy sự ô uế kinh khủng nhất có thể xảy ra đối với một người Do-thái. Theo Merrill Unger, từ nầy có thể được dịch là “hố phân.” [13]
Vì các thầy tế lễ phải luôn giữ mình thánh sạch, nếu không sẽ mắc tội chết (Xu 28:39-43; Xu 30:17-21). Việc Giê-sua mặc áo dơ chắc là điều rất hỗ thẹn cho bản thân ông và là sự vi phạm luật-pháp của Đức Chúa Trời. Áo của thầy tế-lễ phải “vinh-hiển và đẹp” (Xu 28:2,40), nhưng Đức Chúa Trời không thấy sự vinh-hiển hay sự xinh đẹp không Ngài nhìn ngắm đầy-tớ của Ngài.
• Nguyên cáo (Xa 3:1).
Xa-cha-ri đã mô-tả quang cảnh phòng xử án, trong đó Giê-sua là bị cáo, Đức Chúa Trời là Quan-xét, Sa-tan là luật-sư bên nguyên, Chúa Cứu Thế Giê-xu là luật-sư bên bị; Ngài biện hộ cho dân-sự của Đức Chúa Trời trước ngôi thánh của Đức Chúa Trời (IGi 2:2).
Từ “Sa-tan” có nghĩa là “kẻ thù” và chỉ về những kẻ chống lại công việc của Đức Chúa Trời và dân-sự của Đức Chúa Trời. Sa-tan đã đến trước ngôi Đức Chúa Trời (Giop 1:1-2:13) để buộc tội dân-sự Đức Chúa Trời (Kh 12:10). Khi Sa-tan nói với chúng ta về Đức Chúa Trời, nó nói láo, nhưng khi nó nói với Đức Chúa Trời về chúng ta, nó nói thật!
Ngôi của Đức Chúa Trời là ngôi công-bình và Đức Chúa Trời là Quan-xét ngay thẳng. Biết điều nầy, Sa-tan đã chỉ ra sự ô uế của Giê-sua, mà tượng-trưng là sự ô uế của dân-sự, và nhất định đòi Đức Chúa Trời phải trừng phạt dân-sự tội-lỗi của Ngài. Nó giống như một phiên tòa kín hơi, ngoại trừ một yếu-tố: ân-điển của Đức Chúa Trời.
• Đấng Biện Hộ (Xa 3:2-5).
Nhiệm vụ hiện tại của Chúa Cứu Thế trên thiên-đàng có hai việc. Ngài là Thầy Tế-Lễ Thượng-Phẩm của chúng ta, cầu-thay cho chúng ta và ban cho chúng ta ân-điển mà chúng ta cần cho cuộc sống và sự hầu-việc trên đất nầy (Hêb 4:14-16; Hêb 13:20-21); và Ngài là Đấng Biện Hộ cho chúng ta, đại diện cho chúng ta trước ngôi của Đức Chúa Trời khi chúng ta phạm-tội (IGi 2:1-2).
Đừng hiểu sai rằng Đức Chúa Cha muốn trừng phạt chúng ta và Đức Chúa Con cầu xin Ngài đổi ý, vì đó không phải là hình ảnh ấy. Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đều yêu-thương và muốn điều tốt nhất cho chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời không thể bỏ qua những tội-lỗi của chúng ta và luôn là một Đức Chúa Trời thánh-khiết.
Điều nầy giải thích tại sao Chúa Giê-xu đem theo về thiên-đàng những vết thương của Ngài (Lu 24:39-40; Gi 20:20,25-27) chúng chứng-minh rằng Ngài đã “Ngài đã bị nộp vì tội-lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công-bình của chúng ta” (Rô 4:25). Sa-tan không thể buộc tội chúng ta, Đức Chúa Trời cũng không kết án chúng ta, vì tội-lỗi, chính vì tội-lội mà Chúa Cứu Thế đã chết! . “Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán-phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Rô 8:1)
Chúa đã quở trách Sa-tan dựa trên nền-tảng của ân-điển về sự chọn lựa của chính Ngài: Ngài đã chọn Giê-ru-sa-lem và dân Do-thái trong tình yêu-thương và ân-điển của chính Ngài (Phuc 7:7-11; Thi 33:12; Thi 132:13). Ngài không chọn họ vì những việc tốt họ làm, nên làm sao có thể kết án họ vì những việc là xấu xa của họ?
“Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời là Đấng xưng công-bình những kẻ ấy. Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu-nguyện thế cho chúng ta” (Rô 8:33-34).
Đức Chúa Trời chứng-minh ân-điển của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên bằng cách giải cứu họ ta khỏi cảnh lưu đày ở Ba-by-lôn; dân Do-thái là “cái đóm đã kéo ra từ lửa” (Xa 3:2; Am 4:11). Kinh Thánh thường so sánh sự đau khổ của Y-sơ-ra-ên giống như đi ngang qua lửa. Những thử thách của họ ở Ai-cập giống như một lò luyện kim (Phuc 4:20) và sự lưu đày ở Ba-by-lôn được so sách với sự tinh luyện trong lửa (Ês 48:10; Ês 43:1-6). Khi Y-sơ-ra-ên trải qua Kỳ Hoạn Nạn trong những ngày sau rốt, đó sẽ là một kinh-nghiệm nữa về sự rèn thử (Xa 13:9 Gie 30:7).
• Sự đáp lời (Xa 3:4-5).
Chính Chúa Cứu Thế đã chết vì tội-lỗi chúng ta đã sống lại từ kẻ chết và hiện cầu-thay cho dân-sự Ngài tại ngôi của Đức Chúa Trời (Hêb 7:23-28). “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành-tín công-bình để tha-tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác” (IGi 1:9). Lời đáp của Đức Chúa Trời cho sự cáo buộc của Sa-tan là lời phán cho các thiên-sứ ở trước ngôi thánh Ngài, “Hãy lột bỏ những áo bẩn khỏi nó.” Đây là sự tha-thứ.
Ngài có một lời đảm-bảo với Giê-hô-sua: “Hãy nhìn xem, ta đã bỏ sự gian ác khỏi ngươi” (Xa 3:4). Các tín-đồ ngày nay biết họ được tha-thứ khi họ xưng tội-lỗi mình, vì họ được sự bảo-đảm từ lời hứa của Ngài. Theo IGi 1:9, Đức Chúa Trời không chỉ thành-tín (với lời-hứa của Ngài), Ngài còn công-bình (với Con Ngài) và sẽ không kết tội dân sự Ngài vì tội-lỗi của họ đã được chính Con Ngài trả thay rồi.
Nhưng Đức Chúa Trời trong ân-điển Ngài vượt xa hơn sự tha-thứ và mặc cho chúng ta sự công-bình của Ngài. “Ta sẽ mặc áo đẹp cho ngươi” (Xa 3:4). A-đam và Ê-va tìm cách che giấu sự lõa lồ của mình dưới lớp áo họ tự kết bằng lá cây (Sa 3:7), nhưng Đức Chúa Trời đã giết một con thú và lấy da nó may áo cho họ (c.21).
Huyết đã đổ ra để tội-lỗi được tha-thứ.
“Ta sẽ rất vui vẻ trong Đức Giê-hô-va, linh-hồn ta mừng rỡ trong Đức Chúa Trời ta; vì Ngài đã mặc áo cứu-rỗi cho ta; khoác áo choàng công-bình cho ta” (Ês 61:10; Lu 15:22).
Đỉnh điểm của sự thanh tẫy (sự tha-thứ) và sự khoác áo (công-bình trong Chúa Cứu Thế, ICôr 5:21) là sự độn mũ lên đầu Giê-hô-sua; vì tấm thẻ vàng ở trước mũ có khắc chữ: THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA (Xu 28:36-38; Xu 39:30-31). Chính điều nầy đã làm cho ông, dân-sự và những của lễ của họ được Đức Chúa Trời chấp nhận. Bản thân chúng ta không có sự công-bình, nhưng chúng ta nhận được sự công-bình và công giá của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Cứu Chúa chúng ta (IPhi 2:5).
• Sự bảo-đảm (Xa 3:6-7).
Chúa Cứu Thế Giê-xu giao cho Giê-hô-sua một nhiệm-vụ, vì sự thanh-tẩy và phục hồi luôn kéo theo bổn-phận. Giê-hô-sua và những thầy tế-lễ đương thời không phải ở trong thời gian quản chế; họ đã được thanh-tẩy và phục-hồi để bắt tay hầu-việc. Nhưng họ hầu việc như thế nào và bao lâu là tùy lượng đức-tin của họ nơi Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Hầu việc Đức Chúa Trời là một đặc ân, và chúng ta đừng bao giờ cho nó là hiển nhiên.
“Ta sẽ cho ngươi bước đi trong hàng những kẻ đứng chầu nầy” (c.7) cho thấy rằng Giê-hô-sua được cộng tác với các thiên-sứ của Đức Chúa Trời để hầu-việc Ngài! (c.4, “Thiên-sứ của Đức Giê-hô-va đương đứng đó.”)
Các thiên-sứ là những đầy-tớ của Đức Chúa Trời, vâng-phục mọi mệnh-lệnh của Đức Chúa Trời, và các đầy-tớ Đức Chúa Trời trên đất cùng đồng tâm hiệp một với họ để làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời.
“Ý Cha được nên, ở đất như trời” (Mat 6:10).
Những sứ-giả vô hình của Đức Chúa Trời đóng vai trò quan-trọng trong những kế hoạch của Ngài cho Y-sơ-ra-ên (Đa 10:10-21; Mat 24:31) và Hội thánh (Hêb 1:13-14).
• Lời công-bố (Xa 3:8-10).
Lời công-bố có ý nghĩa nầy dành cho Giê-hô-sua và những thầy tế-lễ đương thời, nó làm nổi bật Chúa Cứu Thế Giê-xu và trình bày 3 hình ảnh khác nhau về Đấng Mê-si-a hầu đến: Thầy Tế-Lễ, Chồi, và Hòn Đá. Xa-cha-ri sẽ nói nhiều hơn về thầy tế-lễ trong Xa 6:9-15, nên chúng ta sẽ nghiên-cứu chi tiết phân đoạn đó. Trong chức vụ tế-lễ của họ, Giê-hô-sua và các bạn đồng sự là “những người mang dấu hiệu cho những việc sẽ đến” (Xa 3:8).
“Chồi” là hình ảnh về Đấng Mê-si-a thường được tìm thấy trong các sách tiên-tri (Ês 11:1-2).
Ơ đây Đấng Mê-si-a được gọi là “đầy tớ ta là Chồi mống.” Ngài cũng là “chồi của Đức Giê-hô-va” (Ês 4:2), “Nhánh công bình” (Giê 23:5; Giê 33:15) và “một người tên là Chồi mống” (Xa 6:12-13). Bốn danh xưng nầy tương đương với bốn khía cạnh trong thân-vị của Chúa Cứu Thế như 4 sách Phúc-Âm mô-tả:
(1). Nhánh công-bình cho Đa-vít (Ma-thi-ơ), Phúc-Âm về Vua.
(2). Đầy-tớ ta là Chồi mống (Mác), Phúc-Âm về Đầy Tớ.
(3). Một người tên là Chồi mống (Lu-ca), Phúc-Âm về Con Người.
(4). Chồi của Đức Giê-hô-va (Giăng), Phúc-Âm về Con Đức Chúa Trời.
“Hòn Đá” là hình ảnh khác cũng thường được tìm thấy trong Kinh Thánh, và nói lên nhiều khía cạnh về chức-vụ của Ngài. Đấng Mê-si-a là đá góc nhà (Thi 118:22-23; Mat 21:42; Êph 2:19-22; IPhi 2:7; Xa 10:4), hòn đá vấp ngã (Ês 8:14; IPhi 2:8; Rô 9:32-33), hòn đá bị đập bể (Xu 17:6; ICôr 10:4), và hòn đá dùng để đập (Đa 2:34-35).
Trong lần đầu tiên Ngài đến thế-gian, Chúa Giê-xu là hòn đá vấp ngã đối với Y-sơ-ra-ên, và họ đã khước từ Ngài, nhưng Ngài trở thành đá nền của Hội Thánh. Trong lần đến thứ hai, Ngài sẽ đánh tan các nước thế-gian và lập vương quốc vinh-hiển của Ngài.
Bảy “con mắt” trên hòn đá có thể nói về sự toàn-tri của Chúa chúng ta (Xa 4:10; Kh 5:6). Phần ghi chú trong bàn NIV dịch là “bảy cạnh”, và khiến đá nầy nên thứ trang sức quý giá và đẹp đẽ vì nó được chạm khắc (cắt).
Nhưng phân đoạn đó nói đến câu mà Đức Chúa Trời đã chạm khắc trên đá đó, không phải nói về đá trang sức, và nó không cho chúng ta biết câu đó nói gì. Một số Cha xứ trong Hội thánh giải thích sự chạm khắc nầy chỉ về những vết thương trên thân thể Chúa Giê-xu, nhưng từ phân đoạn Kinh Thánh nầy chúng ta không thấy gì đảm-bảo cho điều đó.
Sứ-điệp chính trong câu Kinh Thánh khó hiểu nầy là tội lỗi của Y-sơ-ra-ên sẽ được cất đi trong một ngày. Phép lạ bởi ân điển nầy được mô-tả trong Xa 5:1-11 và Xa 12:10-13:1, và sẽ được xem xét trong những chương sau. Trong lần thứ hai đến thế-gian, khi Y-sơ-ra-ên nhìn thấy Đấng là họ đã đâm (Xa 12:10), họ sẽ ăn-năn và được thanh-tẩy.
“Ai đã hề nghe một sự thể nầy? Ai đã hề thấy sự gì giống như vậy? Nước há dễ sanh ra trong một ngày, dân tộc há dễ sanh ra trong một chặp?” (Ês 66:8).
Khi việc đó xảy ra, Đức Chúa Trời sẽ làm trọn những lời-hứa của Ngài về sự bình-an mà Ngài đã lập với Y-sơ-ra-ên qua các tiên-tri. Nghĩ ngơi dưới cây nho và cây vả (Ês 3:10) là hình ảnh chỉ về sự hòa bình và an ninh (IVua 4:25; IIVua 18:31; Mi 4:4), một điều mà Y-sơ-ra-ên luôn mong đợi nhưng chưa bao giờ gặp được.
Biết rằng Đức Chúa Trời sẽ tha thứ và thanh-tẩy dân-sự Ngài và phục-hồi chức-vụ cho các thầy tế-lễ Ngài, Giê-sua chắc được khích lệ rất nhiều. Trong khải tượng tiếp theo, Đức Chúa Trời sẽ khích-lệ đầy tớ Xô-rô-ba-bên của Ngài
2. Đức Chúa Trời ban quyền-phép cho dân-sự để họ hầu-việc Ngài (Xa 4:1-14)
Tiên-tri trẻ Xa-cha-ri đã có 4 khải-tượng kỳ lạ, và trải-nghiệm nầy khiến ông kiệt sức. Ông thiu thiu ngủ thì thiên-sứ đánh thức ông để Đức Chúa Trời có thể mặc-khải cho ông khải-tượng thứ năm. Thấy những khải-tượng của Đức Chúa Trời và hiểu được ý nghĩa của chúng đã làm cho Đa-ni-ên rất mệt và sắc mặt tái đi như không sức nữa (Đa 10:8,15-19). Ngày nay thái-độ cười đùa cợt nhả của một số người khi họ nói tiên-tri khiến chúng ta không khỏi nghi ngờ; liệu họ họ có thật sự thấy những gì Đức Chúa Trời truyền đạt về tương lai.
• Sự hiện thấy (Xa 4:1-3,11-14).
Trong nơi thánh của đền tạm, ở trước bức màn và bên trái bàn thờ xông hương có một chân đèn 7 ngọn (Xu 25:31-40). [14] Trên mỗi ngọn là bầu đèn làm bằng vàng, mỗi buổi sáng và tối thầy tế-lễ cả có nhiệm-vụ cắt tim đèn và châm dầu để đèn luôn sáng (Lê 24:3). Chân đèn nầy cung-cấp ánh sáng cho nơi thánh để các thầy tế-lễ có thể thấy đường và xông hương lên bàn thờ bằng vàng mỗi sáng và tối (Xu 30:7-8).
Nhưng chân đèn mà Xa-cha-ri thấy hơi khác với chân đèn mà Môi-se đặt trong đền tạm. Chân đèn ấy cũng có bảy nhánh và bảy ngọn đèn, nhưng trên mỗi nhánh có thêm 1 cái chậu chứa dầu ô-li-ve được chiếc trực tiếp từ hai cây ô-li-ve hai bên (Xa 4:3); hai cây ô-li-ve đó tượng trưng cho Giê-hô-sua và Xô-rô-ba-bên (c.14). Chân đèn cũng có bảy ống dẫn từ chậu đến mỗi đèn, như vậy có tất cả 49 ống dẫn. Không cần thầy tế-lễ châm dầu vì dầu từ hai cây ô-li-ve hai bên luôn chảy xuống. Bảy ống dẫn cho mỗi đèn đảm bảo sự cung-cấp đầy đủ dầu cho đèn luôn sáng.
-Chân đèn trong đền tạm tượng-trưng cho Đấng Mê-si-a, sự sáng của thế-gian (Gi 8:12), là Đấng sẽ đến để ban “ánh sáng sự sống” cho những kẻ tin-cậy Ngài. Anh sáng từ chân đèn vàng sẽ chiếu sáng trên bàn trong nơi thánh (Xu 26:35) và soi rõ bánh trên bàn, Chúa Cứu Thế là bánh sự sống (Xu 25:30; Gi 6:33,35,48,50-51).
-Chân đèn trong đền tạm cũng nói về nước Y-sơ-ra-ên, dân-tộc mà Đức Chúa Trời chọn lựa đển làm ánh sáng thuộc-linh cho thế giới tối tăm nầy (Ês 60:1-3; Ês 62:1). (Đèn bảy ngọn là biểu tượng chính thức của nước Y-sơ-ra-ên hiện đại.) Anh sáng ngọn đèn rất lu mờ khi dân sót trở về xây lại đền thờ, và Xô-rô-ba-bên không chắc có đủ sức để tiếp tục công việc!
Những tín đồ ngày nay phải luôn nhớ rằng Hội thánh là ánh sáng trong thế-gian tăm tối, và chúng ta phải nhờ cậy Đức Thánh Linh để có thể là chứng nhân cho Chúa (Mat 5:14-16; Phi 2:14-16). Trong Kh 1:1-3:21, các Hội thánh địa phương được tượng trương là các ngọn đèn; và mục đích của đèn là soi sáng. Nếu chúng ta không làm theo những điều Đức Chúa Trời phán dặn, Ngài có thể đem đèn đó đi (Kh 2:5).
• Đức Chúa Trời ban quyền phép (Xa 4:4-7).
Khi Sa-lô-môn xây đền thờ mà đã bị người Ba-by-lôn tàn phá, ông có rất vô số của cải để ông tùy ý sử dụng. Đa-vít, cha ông đã đánh thắng nhiều trận và chiến lợi phẩm thu được sẽ dành để xây dựng đền thờ (ISu 26:20,27-28), nhưng dân sót không có đến một toán lính. Sa-lô-môn là hoàng đế của một đất nước hùng mạnh và có quyền trên nhiều nước Ngoại bang và thu thuế từ các nước đó, nhưng dân Do-thái trong thời Xa-cha-ri không có quyền hạn như vậy.
Đó là lý-do Đức Chúa Trời phán với họ qua tiên-tri Ngài, “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta” (Xa 4:6). Từ “quyền thế” có thể chỉ về sức mạnh quân sự, mà con người có thể hợp sức tạo nên, nhưng dân sót không có một toán lính nào. “Năng lực” là sức mạnh của các nhân, nhưng “năng lực của Xô-rô-ba-bên đang cạn kiệt.“
Đừng nản lòng! Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ giúp chúng ta làm được những việc mà một đội quân không thề làm nỗi! ” là sứ-điệp của tiên-tri nầy. “Thần ta ở giữa các ngươi: Chớ sợ hãi” (Ag 2:5).
Có 3 cách mà chúng ta có thể cố gắng làm công việc của Đức Chúa Trời: chúng ta có thể tin sức lực và sự khôn-ngoan của triêng mình; hoặc chúng ta có thể muợn tài nguyên của thế-gian; hoặc chúng ta có thể nương cậy nơi quyền-năng của Đức Chúa Trời.
Hai cách đầu có vẽ dẫn đến thành công, nhưng cuối cùng chúng sẽ thất bại. Chỉ có công việc được thực hiện nhờ quyền-năng của Thánh Linh mới làm vinh-hiển Đức Chúa Trời và tồn tại được trong lửa đoán-phạt của Ngài (ICôr 3:12-15).
Với nguồn tài chánh có giới hạn, việc xây cầt đền thờ bất khả thi giống như việc dời núi đối với dân Do-thái, nhưng Đức Chúa Trời phán với Xô-rô-ba-bên rằng, với quyền-năng của Đức Chúa Trời, ông có thể san bằng núi! Chúa Giê-xu phán với các môn-đồ Ngài rằng đức-tin bằng hạt cải (nhỏ nhưng sống động) có thể dời núi (Mat 17:20; Mat 21:21).
Xô-rô-ba-bên đang đối diện với “những núi” nào? Sự nản lòng giữa vòng dân-sự, sự chống nghịch từ các kẻ thù xung quanh, những mùa vụ thất bát, nền kinh tế bấp bênh, dân sự không vâng theo Luật-Pháp Đức Chúa Trời những vấn-đề nầy không khác gì với những vấn-đề mà dân-sự Đức Chúa Trời đã đối diện trong suốt những thế kỷ qua.
Giải pháp cho những vấn-đề nầy là cầu-xin quyền-năng của Đức Thánh Linh. Khi những Cơ-đốc nhân đầu tiên đương đầu với khó khăn, họ quay sang Đức Chúa Trời và cầu-nguyện, và Ngài đã đáp lời họ, cho họ được đầy dẫy Thánh Linh một cách mới mẻ (Công 4:23-31).
Vance Havner viết, “Chúng ta nói chúng ta nương cậy Đức Thánh Linh, nhưng thật sự chúng ta quá cố gắng bằng những phương cách của riêng mình đến nỗi nếu lửa không từ trời sa xuống, chúng ta có thể hoá thành những tay phù thuỷ để tạo ra lửa lạ của riêng mình. Nếu không có tiếng từ những cơn gió lớn, chúng ta quạt lò sưởi cho khí nóng bay ra. Đức Chúa Trời cứu chúng ta ra khỏi một Lễ Ngũ Tuần giả tạo!” [15]
Đức Chúa Trời hoàn tất công việc của Ngài (Xa 4:7b-10). Đức Chúa Trời đảm bảo với Xô-rô-ba-bên rằng ông sẽ xây xong đền thờ và dân-sự sẽ vui-mừng trước những việc Đức Chúa Trời đã làm cho họ. Xô-rô-ba-bên có thể “sẽ đem đá chót ra (viên đá cuối cùng để hoàn thành công trình); sẽ có tiếng kêu rằng: Xin ban ơn, ban ơn cho nó! ” (c.7) Đó không phải là tiếng của dân sự lúc nền của đền thờ được đặt xuống (Exo 3:10-13) và trong khi đền thờ còn dang dở (Ag 2:3).
Đức Chúa Trời hứa rõ rằng Xô-rô-ba-bên sẽ xây xong đền thờ (Xa 4:9), điều nầy nhắc chúng ta nhớ lời hứa của Đức Chúa Trời trong Phi 1:6, “Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ”.
Đó cũng là lời Đa-vít nói với Sa-lô-môn: “Hãy vững lòng bền chí mà làm; chớ sợ sệt, chớ kinh hãi chi, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của cha, vẫn ở cùng con; Ngài chẳng hề từ bỏ con, cũng chẳng hề lìa khỏi con cho đến chừng các công việc cất đền của Đức Giê-hô-va được xong” (ISu 28:20). Chính lời-hứa nầy đã nâng đỡ tôi trong chương trình xây dựng đầu tiên của tôi khi tôi mới bước vào chức-vụ, và tôi có thể cam đoan với bạn rằng nó luôn có hiệu lực!
Đối với một số người Do-thái, công trình nầy “điều nhỏ mọn” (Xa-cha-ri) so với đền thờ tráng lệ của Sa-lômôn, nhưng chúng ta phải nhìn công việc của Đức Chúa Trời qua con mắt của Đức Chúa Trời, không phải bằng con mắt của con người thế-gian. Cây sồi rất to lại cho trái nhỏ trong khi những hạt rất nhỏ lại cho những mùa gặt rất to. Khi Đấng mê-si-a đến thế-gian, Ngài chỉ là “một chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai” (Ês 11:1) và “bị người ta khinh dể và chán bỏ” (Ês 53:3). Hội thánh được khai sinh với 120 người và ngày nay đầy-tớ Chúa ở khắp nơi trên thế-gian.
Lịch-sử Kinh Thánh là chứng-tích cho thấy Đức Chúa Trời sử dụng những điều nhỏ mọn. Khi Đức Chúa Trời muốn kế hoạch cứu-rỗi đi vào hoạt động, Ngài đã bắt đầu từ một đứa bé tên Y-sác (Sa 21:1-34). Khi Ngài muốn lật đổ Ai-cập và giải phóng dân-sự Ngài, Ngài dùng nước mắt của một em bé (Xu 2:1-10).
Ngài dùng một cậu bé chăn chiên và cái trành ném đá để giết tên khổng lồ (I Sa-mu-ên 17) và bữa trưa của một em bé để nuôi đoàn dân đông (Gi 6:1-71). Ngài cứu sứ-đồ Phao-lô thoát chết bằng một cái thúng và sợi dây (Công 9:23-25). Đừng bao giờ kinh dễ những điều nhỏ mọn, vì Đức Chúa Trời được vinh-hiển trong những điều nhỏ mọn ấy và dùng chúng để làm thành những việc lớn.
Đức Chúa Trời và các đầy-tớ Ngài phải hợp sức với nhau để làm thành những mục đích của Ngài. “Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài” (Phi 2:13). Đức Chúa Trời ban Đức Thánh Linh cho các đầy-tớ Ngài, và dân-sự được khích lệ khi họ thấy Xô-rô-ba-bên tiếp tục công việc với một dây đo trên tay, và đang kiểm tra độ thẳng của các vánh thành. Trong khi Xô-rô-ba-bên làm việc, mắt của Đức Chúa Trời đang dõi theo dân-sự Ngài và giám sát các nước của thế-gian.
Khải-tượng lên đến đỉnh điểm (Xa 4:14) ở sự kêu-gọi của Đức Chúa Trời với Xô-rô-ba-bên và Giê-hô-sua “hai người chịu xức dầu, đứng bên Chúa của cả đất.” Một tước hiệu thật cao trọng! Giống như hai cây ô-li-ve, Giê-sua và Xô-rô-ba-bên đã nhận được Thần quyền của Đức Chúa Trời và giúp Y-sơ-ra-ên luôn soi sáng là làm-chứng cho thế-gian.
Dầu là biểu tượng chung chỉ về Đức Thánh Linh trong Kinh Thánh. Các tiên-tri, thầy tế-lễ, và các vua được xức dầu. Và từ “Mê-si-a” và “Đấng Christ” có nghĩa là “Đấng được xức dầu.” Dầu thánh chỉ do các thầy tế-lễ điều chế, và chỉ được sử dụng đề xức cho các đầy-tớ của Đức Chúa Trời (Xa 30:22-23).
“Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta” (Ês 61:1 Lu 4:18-19).
Nếu Đức Chúa Trời chúng ta là “Chúa của cả đất”, thì chúng ta còn sợ hãi gì? Nếu Ngài hứa-ban cho chúng ta Thánh Linh Ngài, thì tại sao chúng ta lại nản chí và thất bại? Chúng ta nên nhớ rằng Giê-hô-sua và Xô-rô-ba-bên, niều khích-lệ cho tất cả, là những người luôn cố gắng hầu-việc Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh.
Không có “địa-vị nhỏ” hay “chức-vụ nhỏ”, và không có “diễn-giả lớn”. Nhưng chúng ta có một Đức Chúa Trời cao cả, là Đấng có thể thêm sức và ban ơn cho các đầy-tớ nào chịu tận tụy hầu-việc Ngài. Ngài có thể thanh-tẩy chúng ta và Ngài ban quyền-phép cho chúng ta, nên chúng ta hãy tin-cậy Ngài và làm công việc Ngài!
3. ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ CÁC NƯỚC (Xa 5:1-6:15)
Cuối khải-tượng trước là một danh xưng mà thiên-sứ đã gọi Đức Chúa Trời, “Chúa của cả đất” (Xa 4:14), một danh xưng cũng được dùng trong Thi 95:7 và Ês 54:5. Mục đích của Xa-cha-ri khi viết ra điều nầy là để cho chúng ta biết tương lai của dân Do-thái và Giê-ru-sa-lem, nhưng tương lai của cả đất được bao hàm trong tương lai của dân Do-thái, vì Đức Chúa Trời đã gọi Y-sơ-ra-ên đem ơn phước hoặc sự rủa sả đến cho các nước trên đất (Sa 12:1-3).
Tiên-tri mô-tả 3 biến-cố quan-trọng mà minh-chứng rằng Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp thật là “Chúa của cả đất”.
1. Sự thanh-tẫy đất (Xa 5:1-11)
Khải-tượng về cuốn sách bay và khải-tượng về một ê-pha chủ yếu tập trung nói về Y-sơ-ra-ên. [16] Trong cả hai khải-tượng ấy, Đức Chúa Trời thực hiện sự thanh-tẩy và giải quyết tội-lỗi của đất nước.
• Đức Chúa Trời dẹp bỏ sự lộn xộn (c.1-4).
Tiên tri thấy một quyển sách lớn, 15x30 feet, đang bay lơ lửng trong không trung và có chữ viết trên cả hai mặt. Trên một mặt của nó, ông đọc được biều răn thứ ba; chớ lấy danh Chúa làm chơi (Xu 20:7), và trên măt kia, ông đọc được điều răn thứ tám; chớ trộm cướp (c.15).
Quyển sách nầy tượng-trưng cho Luật-Pháp của Đức Chúa Trời, nó sẽ rủa sả những ai bất tuân nó, và kể cả chúng ta (Phuc 27:26; Ga 3:10-12); vì không ai có thể tuyện đối vâng giữ luật-pháp của Đức Chúa Trời. Vì lẽ đó, luật-pháp không bao giờ được ban ra để cứu người (Ga 2:16,21; Ga 3:21) nhưng để mặc-khải rằng con người cần được cứu; “vì luật-pháp cho người ta biết tội-lỗi” (Rô 3:20).
Trong số Mười Điều Răn, tại sao Đức Chúa Trời chọn ra hai, chớ trộm cướp và thề dối? Có phải những tội nầy rất phổ biến trong vòng dân sót thời đó? Có lẽ nhiều người Do-thái không trung-tín dâng hiến cho Chúa, cướp của Đức Chúa Trời của dâng phần mười và những của lễ khác và còn nói dối về điều đó. Trong việc mua bán, họ đã lừa gạt nhau.
Tiên-tri A-ghê đã quở trách họ vì đã đặt ích lợi của mình trên công việc Chúa (Ag 1:11), và chắc chắn cướp của Đức Chúa Trời là một tội trầm trọng giữa vòng dân Do-thái một thế kỷ sau (Ma 3:7-15).
• Nhưng có một lý-do kh ác.
Điều răn thứ ba là điều răn ở giữa của bảng luật-pháp thứ nhất, và điều răn thứ tám ở giữa bảng thứ hai, nên hai điều răn nầy đại diện cho toàn bộ luật-pháp. “Vì người nào giữ trọn luật-pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy” (Gia 2:10).
Nếu tôi bị treo lơ lửng bằng một sơi dây xích có mưới mắt, và phía dưới là một vực sâu, thì cần bao nhiêu mắt xích gãy tôi sẽ rơi xuống vực? Nếu trong khi tôi đang chạy xe trên đường cao tốc, và bị xe cảnh sát ép vô lề đường vì tôi chạy quá tốc độ, thì việc tôi đã đóng thuế và không ăn cướp có làm thay đổi gì không? Giữ một luật-lệ nầy không có nghĩa là không cần giữ thêm luật lệ khác. Chỉ vi phạm một luật-lệ cũng trở thành người không tôn trọng luật-pháp.
Đức Chúa Trời tuyên-bố rằng sách luật-pháp của Ngài sẽ đến từng nhà và đoán-xét những người cố tình bất tuân Đức Chúa Trời. Không rõ từ “bị dứt đi” có nghĩa là bị giết hay trục xuất ra khỏi cộng đồng giao-ước. Giống như một tên trộm hoặc một tai họa, sự rủa sả sẽ vào những nhà đó một cách bất ngờ và hủy diệt.
Dân sót Do-thái chắc rất quen thuộc với “những ơn phước và sự rửa sả” của giao-ước mà Môi-se chép lại. Họ cũng biết rằng sau khi Giô-suê dẫn dân-sự vào Đất Hứa, họ đã nhóm hiệp tại núi Ê-banh và Ga-ri-xim và đọc “những ơn phước và sự rủa sả” và hứa vâng-phục Đức Chúa Trời (Gios 8:30-35).
Tình trang hỗn độn ngày nay có khăp nơi và điều răn duy nhất mà mọi người quan tâm là “Chớ để mình bị bắt!” Đạo đức là cái gì đó để học trong trường nhưng không được nghiêm túc thực hành ở ngoài xã hội, và Mười Điều Răn chỉ là món đồ cổ bụi bặm mà người ta trưng bày trong viện bảo tàng.
Bởi thế Ô-sê đã viết, “Chúng nó nói những lời hư không và thề dối khi lập giao-ước; cho nên sự đoán-phạt sẽ nứt mầm, nhạy như cỏ độc mọc lên trong luống cày nơi ruộng” (Os 10:4).
Dân-sự vi phạm luật-pháp của Đức Chúa Trời và sau đó dùng luật-pháp của loài người để bảo vệ mình, và thường thì họ thắng cuộc!
Cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ phán-xét tất cả tội-nhân chống nghịch luật pháp của Ngài (Cac 14-15); nhưng Ngài sẽ bắt đầu từ Y-sơ-ra-ên, là dân cho chúng ta biết luật pháp của Đức Chúa Trời (IPhi 4:17; Êxe 9:6). Sự phán-xét nầy sẽ xãy ra trước khi Đức Chúa Trời lập vương quốc của Ngài trên đất, và “đất thánh” sẽ thật sự trở nên thánh (Xa 2:12). Đức Chúa Trời sẽ “cất sự gian ác khỏi đất nầy trong một ngày” (Xa 3:9).
• Đức Chúa Trời cất đi sự gian ác (Xa 5:6-11).
Không chỉ những tội-lỗi và tội-nhân bị đoán-phạt, nhưng chính sự gian ác sẽ bị cất khỏi đất. Trong khải-tượng nầy, sự gian ác được nhân cách hóa thành một người phụ nữ, vì từ “gian ác” trong tiếng Hy-ba-lai thuộc giống cái. Một ê-pha là dụng cụ do lường thông dụng ở Y-sơ-ra-ên, nhưng không có ê-pha nào lớn đủ để chứa một con người, cho nên giống như cuốn sách khổng lồ, đây là một ê-pha đặc biệt.
Người phụ nữ nầy cố thoát ra khỏi ê-pha, nên có một khối chì chận ngang miệng ê-pha. Một ta-lâng chì nặng từ 75 đến 100 pounds.
Sau đó tiên-tri nhìn thấy hai người phụ nữ khác, nhưng họ có cánh! Nhờ sức gió, họ đã nhấc bổng ê-pha, và tất cả những gì bên trong nó, lên không và đem nó qua xứ Ba-by-lôn. Dù thực tế các thiên-sứ không có giới tính (Mat 22:30), trong Kinh Thánh thiên-sứ được mô-tả chung là giống đực, nên hai người nữ nầy những thiên-sứ đặc biệt của Đức Chúa Trời, được dựng nên chỉ để làm những công việc đặc biệt. Họ đem ê-pha và người phụ nữ đó đến Si-nê-a (Ba-by-lôn, Đa 1:3) và đặt ê-pha trên nền của một ngôi nhà đặc biệt.
Để hiểu khải-tượng nầy, chúng ta phải tự hỏi mình, “Dân Do-thái đã đem những gì từ Ba-by-lôn về xứ của họ sau những năm tháng lưu đày?” Đó không phải là sự thờ lạy thần-tượng, vì trong những năm bị lưu đày họ đã chữa được tội đó. Câu trả lời là sự buôn bán.
Dân Do-thái là những con người gắn với đất đai, nhưng trong thời gian bị lưu đày ở Ba-by-lôn, nhiều người đã được sinh ra ở đó, và trở thành những người thành thị và những thương buôn phát đạt. Nên chính cái tính canh tranh buôn bán được tượng-trưng trong người phụ nữ trong ê-pha, vì cả ê-pha và ta-lâng đều là những dụng cụ do lường trong mua bán.
Thành cổ Ba-by-lôn được đề-cập lần đầu tiên trong Sa 10:10 như một phần trong đế quốc của Nim-rốt. Nim-rốt được gọi là “anh hùng trên mặt đất” (Sa 10:8-9). Đây là hình ảnh về một bao chúa, lập quốc cho mình bằng mọi cách và thách thức Đức Chúa Trời trong bước tiến đó. Tháp Ba-bên được xây ở Si-nê-a như một nổ lực để tán dương con người và hạ thấp Đức Chúa Trời (Sa 11:1-9).
Xuyên suốt Kinh Thánh, Ba-by-lôn tượng-trưng cho sự thù địch của thế-gian đối với Đức Chúa Trời, mà cực điểm là sự mô-tả sống động trong Kh 17:1-18:24. (Xem phân đoạn tương đương trong Giê 50:1-51:64). Sự đối chiếu trong sách Khải-huyền giữa Cô dâu (thành trên trời) và gái điếm (thành Ba-by-lôn của thế-gian). Khi đọc Kh 18:1-24, bạn sẽ thấy sự thành công về mặt thương mại và sự giàu có của Ba-by-lôn, đó chính là “con vi-rút” mà một số người Do-thái đã bị lây nhiễm trong thời gian bị lưu đày ở đó.
Điều nầy không có ý là dân Do-thái ngày nay đều phạm tội vì tham gia buôn bán, hoặc buôn bán kiếm tiền là sai trật. Cả người tin Chúa và người chưa tin, người Do-thái và người Ngoại bang, đều có thể làm ông chủ xưởng, thương buôn và ngay thẳng làm công việc mình. Nhưng nếu tính kinh doanh nhiễm vào con cái Đức Chúa Trời, nó sẽ bóp méo các giá-trị, làm đảo lộn thứ tự ưu tiên, khiến họ tham muốn của cải và địa-vị, và như vậy làm buồn lòng Đức Chúa Trời (ITim 6:1-21). Thuốc giải tốt nhất là Mat 6:33.
Hai người nữ có cánh đã mang ê-pha đặt trên nền của một ngôi nhà tại Ba-by-lôn, điều nầy cho thấy rằng “tính kinh doanh” được Thờ-phượng như một trong các thần của người Ba-by-lôn. Đáng tiếc, tiền bạc đã trở thành thần-tượng ở khắp nơi trên thế-gian, người ta tin tiền bạc có thể giúp họ giải quyết những nan-đề cho họ, tạo hạnh phúc cho họ, và giúp họ làm thành những mục tiêu trong cuộc sống.
Điều Răn cuối cùng “Chớ tham lam” (Xu 20:17), tham lam sẽ khiến người ta vi phạm chín Điều Răn còn lại. “Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác” (ITim 6:10), mọi thứ từ trốn thuế đến giết người chỉ vì một vài đồng.
Đức Chúa Trời đã thanh-tẩy đất, bước tiếp theo Ngài sẽ làm gì để chuẩn bị dân sự Ngài cho vương quốc đã được hứa cho họ?
2. Đức Chúa Trời phạt các nước (Xa 6:1-8)
Những hình ảnh trong khải-tượng nầy giống với những hình ảnh được mô-tả trong Xa 1:7-17, nhưng chi-tiết có khác biệt. Điều được nhấn mạnh ở đây là ngựa và xe, không phải là người cỡi ngựa, và việc của họ là làm thành những mục đích của Đức Chúa Trời, không phải thông báo tình hình của thế giới Ngoại bang. Trong khải-tượng đầu tiên, có nhiều ngựa và người cỡi ngựa, nhưng ở đây chỉ có bốn cỗ xe và những con ngựa để kéo mỗi cỗ xe đó.
Bốn cỗ xe và các con ngựa ấy tượng-trưng cho “bốn thần” ra từ Đức Chúa Trời, tức là bốn thiên-sứ (Hêb 1:14) được giao những khu vực khác nhau trong thế-gian để thực hiện mệnh-lệnh của Đức Chúa Trời. “Xe của Đức Chúa Trời số là hai vạn” (Thi 68:17).
Sự có mặt của các cỗ xe nầy ám chỉ những cuộc chiến, và ngụ ý sự đoán-phạt. “Nầy, Đức Giê-hô-va sẽ đến với lừa, và xe cộ Ngài giống như gió lốc, hầu cho cơn giận của Ngài thêm nóng nảy, và sự quở trách của Ngài biến thành ngọn lửa hừng” (Ês 66:15).
Nếu màu của các con ngựa cũng hàm chứa ý nghĩa, thì Kh 6:1-8 có thể giúp chúng ta hiểu nó. Ngựa hồng tượng trưng cho chiến tranh, ngựa ô là đói kém, ngựa trắng là sự chết chóc. Trong khải tượng Giăng viết lại trong Kh 6 không có ngựa màu xám, nhưng có thể nó tượng-trưng cho dịch lệ. Trong “Ngày của Đức Giê-hô-va”, Đức Chúa Trời sẽ dùng chiến tranh, đói kém, dịch lệ, và sự chết để trừng phạt các nước của thế-gian.
• Vì hai núi (Xa 6:1) bằng đồng, nên nó mang tính biểu-tượng, vì không có núi đồng nào ở Xứ Thánh hoặc bất cứ nơi nào khác. Trong Kinh Thánh, đồng thường tượng trưng cho sự đoán hạt. Bàn thờ dâng của lễ trong đền tạm được làm bằng gỗ bọc đồng, và đó là nơi tội-lỗi bị trừng trị khi những của lễ bị thiêu. Con rắn mà Môi-se treo trên cây sào được làm bằng đồng (Dân 21:9), và khi Chúa chúng ta hiện ra cho Giăng và chuẩn bị đoán xét các Hội thánh, chân Ngài như đồng “đã luyện trong lò lửa” (Kh 1:15).
Như vậy, ý nghĩa của khải-tượng nầy là Đức Chúa Trời sẽ đoán-phạt các dân Ngoại bang vì tội-lỗi của họ. Điều nầy sẽ xảy ra trong gian đoạn được gọi là “Kỳ hoạn nạn” hoặc “Ngày của Đức Giê-hô-va”, và nó là dấu hiệu báo sự tái-lâm và lập nước của Chúa Cứu Thế. Trong những đoạn cuối, Xa-cha-ri sẽ mô-tả nhiều biến-cố sẽ xảy ra trong “ngày của Đức Giê-hô-va.”
Không Xa-cha-ri nhìn thấy những con ngựa đó, chúng đang thẳng tiến đến những địa điểm đã được định trước và thực hiện việc mà Đức Chúa Trời ra lệnh cho họ làm. Tuy nhiên, sự đoán-phạt ở trong tay Đức Chúa Trời, được định đúng lúc và đúng chỗ (Kh 9:15).
Những con ngựa ô có nhiệm-vụ đến nước phía bắc (Ba-by-lôn), và những con ngựa trắng sẽ theo chúng, trong khi những con ngựa xàm đi về phía nam (Ai-cập). Không nói gì về những con ngựa hồng, nên có lẽ Đức Chúa Trời sẽ dùng chúng ở một dịp khác. [17] Đức Chúa Trời nổi giận với các nước ở phương bắc (Xa 6:8; Xa 1:15), và các sứ-giả của Ngài sẽ lo liệu về những mục đích thánh của Ngài ở đó được làm trọn.
Đức Chúa Trời sẽ vừa lòng khi sự công-bình của Ngài được thỏa mãn.
Nhiệm vụ của các thiên-sứ ở các nước và trong việc gieo rắc sự đoán-phạt của Đức Chúa Trời được dạy rõ ràng ở những phần khác trong Kinh Thánh (Đa 4:4-18:10 12:1; Kh 8:14,16). Khải-tượng của Xa-cha-ri khiến chúng ta tin chắc rằng Đức Chúa Trời đang điều khiển tương lai và sẽ trừng phạt các nước Ngoại bang trong “Ngày của Đức Giê-hô-va.” Đức Chúa Trời đang nhịn nhục (IIPhi 3:9), nhưng đến khi các nước “đầy-dẫy tội-lỗi” (Sa 15:16; Mat 23:32); và khi đó Đức Chúa Trời phải trừng phạt.
3. Đức Chúa Trời đội vương miện cho Thầy Tế-Lễ Nhà Vua của Ngài (Xa 6:9-15)
Tám khải-tượng đã hết, nhưng còn một khải-tượng nữa từ Đức Chúa Trời dành cho đầy-tớ Ngài. Trong những khải-tượng nầy, Đức Chúa Trời đã đảm-bảo với dân sự Ngài rằng Ngài sẽ thanh-tẩy họ và bảo vệ họ trước kẻ thù. Nhưng có một sứ-điệp về tương lai. Trong “Ngày của Đức Giê-hô-va”, các nước sẽ bị phạt vì tội lỗi họ, nhưng Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu. Tại đỉnh điểm của ngày đó, Đấng Mê-si-a sẽ trở lai, dân Do-thái sẽ thấy Ngài và tin-cậy Ngài, và nước Do-thái sẽ được thanh-tẩy. Rồi Đấng Mê-si-a sẽ được đội vương miện nhận chức Tế-Lễ Nhà Vua để cai-trị vương quốc công-bình của Ngài (Xa 9:1-14:21).
• Sự gặp mặt (Xa 6:9-11).
Chúng ta không biết Đức Chúa Trời dạy Xa-cha-ri những điều nầy vào lúc nào, nhưng thể là không lâu sau không ông nhận được 8 khải-tương trên, vì sự-kiện nầy thật sự là đỉnh điểm của những sự mặc-khải hàm chứa trong các khải-tượng đó.
Đức Chúa Trời cho Xa-cha-ri biết rằng 3 người Do-thái đáng kính từ Ba-by-lôn sẽ đến, đem theo vàng và bạc dâng cho Đức Chúa Trời để sử dụng cho việc xây dựng đền thờ. Họ sẽ ở lại nhà của Giô-si-a, người có tên riêng rất lạ là “Hên”, có nghĩa là “người tử tế” (c.14). Khi họ đến Giê-ru-sa-lem, Xa-cha-ri đã đến gặp họ.
Chúng ta chỉ có thể hình dung việc gì xảy ra khi tiên-tri nói với 3 vị khách đó những điều Đức Chúa Trời bảo ông làm: nhận vàng và bạc họ dâng để làm một vương miện. [18] Và vương miện đó không dành cho quan trấn thủ Xô-rô-ba-bên, người thuộc dòng dõi vua Đa-vít, nhưng được đặt trên đầu thầy tế-lễ cả Giê-hô-sua!
Những vị khách chắc rất bối rối vì hai chuyện: (1) tiền của dân Do-thái ở Ba-by-lôn gởi về để xây đền thờ; và (2) không có tiền lệ nào trong Kinh Thánh cho thầy tế-lễ đội vương miện làm vua. Phải chăng Xa-cha-ri đang tìm cách phế trất quan trấn thủ và đưa Giê-hô-sua lên lãnh đạo đất nước đang hỗn độn nầy? Làm sao việc nầy cải thiện được tình hình của dân sót và thúc đẩy việc xây dựng đền thờ?
• Sự đăng quang (c.12-13).
Xa-cha-ri không giải thích cho đến khi ông vâng trọn những gì Đức Chúa Trời phán bảo. Ông làm một vương miện, rồi dẫn ba vị khách đến gặp thầy tế-lễ Giê-sua và tiến hành nghi thức đăng quang. Chúng ta không biết tất cả các trưởng-lão Y-sơ-ra-ên có được mời đến đó không, nhưng hành động nầy chuyển tải một sứ-điệp hết sức quan-trọng, nên rất có thể họ được mời đến.
Sau đó Xa-cha-ri giải thích sứ-điệp của Đức Chúa Trời cho thầy tế lễ cả và những người chứng kiến hôm đó. Ông cho họ biết cả Xô-rô-ba-bên và Giê-hô-sua là “những người mang dấu hiệu của những việc sẽ đến”. Dù Xô-rô-ba-bên xuất thân từ dòng dõi Đa-vít, ông không phải là người được Đức Chúa Trời chọn để đội vương miện. Đức Chúa Trời chọn Giê-hô-sua và đó là lần đầu têin trong lịch-sử Do-thái, Đức Chúa Trời hiệp-nhất ngôi vị vua và chức tế-lễ.
Dĩ nhiên, tất cả những điều nầy ám chỉ Chúa Cứu Thế Giê-xu; vì Ngài là “người tên là Chồi mống” (Xa 6:12; Xa 3:8). [19] Nhìn xuống thời đại của vương quốc, Đức Chúa Trời tuyên bố rằng Đấng Mê-si-a sẽ vừa là Vua vừa là Thầy Tế-Lễ: Ngài sẽ ngồi trên ngôi và cai-trị, nhưng Ngài cũng xây đền thờ và giữ vai trò một thầy tế-lễ. Thực tế, nhiều người Do-thái và người Ngoại bang từ xa xôi sẽ đến và giúp xây đền thờ một ngàn năm (Xa 6:15; Ês 60:5-12; Ag 2:7-9).
Trong lịch-sử Do-thái, không có thầy tế-lễ nào từng được đảm nhận vai trò của một vị vua; và có một vua, Ô-xia, từng muôn làm thầy tế-lễ, và bị Đức Chúa Trời trừng phạt thích đáng (IISu 26:16-21). Đức Giê-hô-va chỉ hiệp nhất ngai vàng và bàn thờ trong Đấng Mê-si-a. Hiện nay, Chúa Cứu Thế Giê-xu đang đảm-nhiệm chức Thầy Tế-Lễ và Nhà Vua trên thiên-đàng, “cập theo ban Mên-chi-xê-đéc” (Hêb 7:1-8:13). Điều nầy ứng nghiệm lời hứa của Đức Chúa Cha về Đức Chúa Con được ghi lại trong Thi 110:4.
Nhưng trong suốt thời trị-vì của Chúa Cứu Thế trên đất, sẽ có một đền thờ và chức tế-lễ được khôi-phục (Ês 2:1-5; Ês 27:13; Êxe 40:1-48:35; Xa 14:1-16), và Chúa Cứu Thế Giê-xu sẽ ngồi trên ngôi của Đa-vít với vai trò Thầy Tế-Lễ Nhà Vua (Lu 1:32-33). [20] Điều nầy sẽ ứng-nghiệm lời-hứa của Đức Chúa Trời với Đa-vít rằng dòng dõi Đa-vít luôn có người kế vị (IISa 7:1-29).
Câu nói trong Xa 6:13, “sẽ có mưu hòa bình ở giữa cả hai” được bảng NIV dịch là “sẽ có sự hòa hợp giữa cả hai.” Trong vương quốc nầy, sẽ có sự hòa bình và công-bằng tuyệt đối vì tất cả cấp lãnh đạo về dân-sự và tôn-giáo sẽ hài hòa trong một Thân Vị, Đấng Mê-si-a, Thầy Tế-Lễ Nhà Vua.
• Sự kỷ-niệm (c.14-15).
Sau đó Xa-cha-ri lấy vương miện trên đầu Giê-hô-sua xuống và trao cho ông mũ của thầy tế-lễ (Xa 3:5). Tại sao? Vì nghi thức tượng-trưng đã xong và vương miện không thuộc về Giê-hô-sua. Nó thuộc về Đấng Mê-si-a sẽ đến. Xa-cha-ri đặt vương miện ở một chỗ nào đó trong đền thờ để k ỷ niệm về lời-hứa của Đức Chúa Trời về Thầy Tế-Lễ Nhà Vua, là Đấng sẽ đem sự bình-an và thánh-khiết cho dân-sự Ngài.
Đức Chúa Trời sẽ thành-tín với những lời Ngài hứa dù dân-sự Ngài bất-trung (IITi 2:12-13), nhưng họ sẽ đánh mất những ơn phước. Ngài không đặt bất cứ điều kiện nào trong lời-hứa lạ lùng về Thầy Tế-Lễ Nhà Vua trong tương lai, nhưng Xa 6:15 dường như hành động của Đức Chúa Trời chỉ giới hạn trong những người biết vâng-lời. “Nếu các ngươi siêng năng vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, thì sự đó sẽ xảy đến.”
Câu nầy nhắc đến giao-ước của Đức Chúa Trời được ghi lại trong Phuc 28: “Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cách trung thành, cẩn thận làm theo mọi điều răn của Ngài, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban cho ngươi sự trổi hơn mọi dân trên đất” (c.1).
Dân sót Do-thái trong Đất Thánh phải vâng-theo luật-pháp của Đức Chúa Trời để Ngài có thể bảo vệ họ và ban ơn cho họ như Ngài đã hứa, vì Đ ấng Mê-si-a phải sinh ra từ xứ nầy. Trong vài thế kỷ tới, thiên-sứ Gáp-ri-ên sẽ đến thăm Ma-ri và báo rằng nàng đã được chọn để đưa Đấng Mê-si-a vào thế-gian (Lu 1:26-38). Sự trung-tín của thế-hệ nầy bảo-đảm đem lại ơn phước cho thế-hệ sau và cuối cùng là ơn phước cho toàn thế gian.
• Những cuộc xâm lược kết thúc.
Chúng ta được nhìn thấy những hoạch định của Đức Chúa Trời cho Y-sơ-ra-ên trong một bức tranh toàn cảnh sống động, mà đỉnh điểm là Thầy Tế-Lễ Nhà Vua ngự trên ngôi Đa-vít, cai-trị Y-sơ-ra-ên và cả thế-gian.
Hãy nhớ những lời tiên-tri nầy mỗi khi bạn cầu-nguyện, “Nước Cha được đến.”
4. LẼ THẬT, TRUYỀN THỐNG VÀ LỜI HỨA (Xa 7:1-8:34)
Hội thánh ngày nay căn-cứ trên những truyền-thống nào của quá-khứ? Thời gian trôi qua, những tục lệ có nên thay đổi không? Và ai có quyền thay đổi chúng? Những truyền-thống tôn-giáo có nên giữ nguyên, hay chúng ta có thể bớt cái nầy và thêm cái khác?
Những câu hỏi nầy gây khó khăn cho các Hội thánh ngày nay, và còn gây chia-rẽ Hội thánh nữa, nhưng chúng không mới. Những câu hỏi tương tự đã được đặt ra nhiều thế kỷ trước, khi Sa-rết-se và Rê-ghem-Mê-léc đến Giê-ru-sa-lem từ Ba-by-lôn. Dân Do-thái ở ba-by-lôn sai họ đến gặp tiên-tri Xa-cha-ri để hỏi về những ngày kiêng ăn theo truyền thống Do-thái. Xa-cha-ri đã tận dụng cơ-hội đó để dạy cho dân-sự về sự thờ-phượng đúng đắn, và sau đó ông chuyển sang đề-cập những lời-hứa về tương lai.
1. Những vấn-đề liên quan đến truyền thống (Xa 7:1-14)
Truyền-thống có ích và cần thiết cho hoạt động xã hội. Nó giúp các thế hệ kết nối với nhau và giữ cho xã hội vận hành theo một đường lối thống nhất. Truyền-thống hoặc liên quan đến cách ăn mặc, cách đối xử với cha mẹ và gia đình, cách chúng ta lớn lên và trưởng-thành, hoặc cách chúng ta chọn nghề nghiệp hay chọn bạn, truyền-thống giúp ổn định nhiều việc và giúp chúng ta có sự chọn lựa thích hơp. Nhưng đôi khi truyền-thống gây ra những răc rối, đặc biệt khi thời gian thay đổi cách chóng mặt, và con người không muốn thay đổi theo thời gian.
• Câu hỏi (c.1-3).
Gần hai năm trôi quan kể từ ngày đội vương miện cho Giê-hô-sua và việc xây dựng đền thờ đi vao ổn định. Còn ba năm nữa, đền thờ sẽ được hoàn tất và sẵn sàng để cung hiến. Dù không có sứ-điệp nào của Xa-cha-ri được ghi lai trong suốt thời gian đó, nhưng chắc chắn ông đang chăn dắt dân sự và khích-lệ các công nhân trong nhiệm-vụ quan-trọng của họ.
Luật-Pháp của Môi-se quy định nước Do-thái giữ chỉ một ngày kiêng ăn hàng năm, đó là ngày Đại Lễ Chuộc Tội (Lê 23:16-32). Dĩ nhiên, những người Do-thái có thể kiêng ăn nhiều lần nếu họ thấy được cảm thúc, nhưng điều nầy không được qui đinh cho cả nước.
Để tưởng nhớ những sự-kiện liên quan đến sự sụp đổ Giê-ru-sa-lem và đền thờ, người Do-thái bị lưu đày ở Ba-by-lôn thêm vào 4 kỳ kiêng ăn nữa (Xa 8:19): một lần trong tháng 10, khi Ba-by-lôn bắt đầu bao vây thành; một lần trong tháng 4, khi tường thành sụp đổ; một lần trong tháng 5, khi đền thờ bị thiêu hủy, và một lần trong tháng 7, khi tướng Ghê-đa-lia bị sát hại (Giê 41:1-18).
Vấn-đề quan-trọng là: “Nay đền thờ đang được xây lại, thì sự kiêng ăn trong tháng 5 để tưởng nhớ đền thờ bị thiêu huỷ còn cần thiết nữa không?”
• Câu trả lời (Xa 7:4-7).
Xa-cha-ri không trả lời ngay cho họ. Thật ra, Đức Chúa Trời không mặc-khải ý muốn của Ngài về vấn-đề nầy ngay lúc đó (Xa 8:19). Giải quyết thái-độ trong lòng dân-sự là điều cần thiết trước nhất.
Xét cho cùng, mối quan hệ của chúng ta với Chúa không thiên về vấn-đề truyền-thống và luật-lệ nhưng là vấn-đề đức-tin, tình yêu-thương, và sự khao khát làm đẹp lòng Ngài. Người chưa trưởng-thành cần những luật-lệ để biết phải làm gì, và những luật-lệ nầy giúp họ đánh giá được “đời sống thuộc-linh” của họ. Nhưng Đức Chúa Trời muốn chúng ta trưởng-thành thuộc-linh và tiến bộ từ vâng giữ luật-lệ đến làm theo những nguyên-tắc và nuôi-dưỡng mối tương-giao cá nhân sống động với Ngài.
Với phong thái của một thầy ra-bi, Xa-cha-ri trả lời thắc mắc của họ bằng cách hỏi lại một số câu hỏi! Thật ra, ông đặt những câu hỏi này cho cả dân-sự và thầy tế-lễ, vì họ cũng giữ những ngày kiêng ăn nầy. Xa-cha-ri hỏi, “Các ngươi kiêng ăn không nào? Các ngươi ăn uống vì Chúa hay vì chính mình? Và khi các ngươi kiêng ăn, thì đó là vì Chúa hay vì chính các ngươi? Tấm lòng của các người có gì?”
Các tiên-tri hầu-việc trước khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ đã dạy dân-sự rằng sự vâng-giữ những luật-lệ tôn-giáo phải xuất phát từ tấm-lòng. Thờ-phượng Đức Chúa Trời không xuất từ tấm-lòng là sự giả hình. Trong thời Sa-mu-ên, Đức Chúa Trời dạy dân-sự rằng Ngài muốn sự vâng-lời không cần của tế-lễ (ISa 15:22), và lẽ-thật nầy cũng được dạy trong các Thi-thiên (Thi 50:8-14; Thi 51:16). Ê-sai đã công bố sứ-điệp nầy (Ês 1:11-17; Es 58:1-14), và tiên-tri Mi-chê cũng vậy (Mi 6:6-8), nhưng dân-sự không nghe. Trong thời gian đó, cuộc sống hòa bình và yên ổn, và người ta dễ giữ những truyền-thống hơn là thật sự gặp gỡ Đức Chúa Trời và có trải-nghiệm thờ-phượng Chúa thật lòng.
Xa-cha-ri không lên-án những truyền-thống nầy. Ông nhấn mạnh một sự thật rằng đời sống thuộc-linh không thể được bật lên và tắt đi theo ý thích chúng ta, để rồi chúng ta hầu việc Chúa lúc nầy và quên ngày lúc khác. Nếu chúng ta ăn uống, chúng ta phải làm sao cho vinh-hiển Đức Chúa Trời (ICôr 10:31); nếu chúng ta kiêng ăn, chúng ta cũng phải làm sao cho Đức Chúa Trời được tôn vinh. Chúa phải là trung tâm trong đời sống chúng ta và là nguyên nhân của mọi hoạt động của chúng ta. Nếu chúng ta giữ sự kiêng ăn (hay bất cứ truyền-thống khác) chỉ vì chúng ta thích hoặc để người khác khen-ngợi, thì Đức Chúa Trời không đẹp lòng và việc làm đó thành ra vô ích.
Giải đáp cuối cùng của Đức Chúa Trời được đưa ra sau đó (Xa 8:19): tất cả 4 sự kiêng ăn ấy đến một ngày sẽ thành ra sự vui-mừng! Điều nầy sẽ xảy ra trong Thời Đại của Vương Quốc Đức Chúa Trời khi Đấng Mê-si-a ngồi trên ngai; cai-trị bằng sự công-bình và lẽ-thật. (Ê-sai cũng đã thấy được hình ảnh nầy; (Ês 61:2-3; Ês 65:19). Cho nên, thay vì sống vì quá-khứ đau buồn, tại sao chúng ta không sống vì tương lai và vui-mừng với những điều Đức Chúa Trời hứa làm cho dân-sự Ngài?
• Sự khiển trách (Xa 7:8-14).
Xa-cha-ri nhắc dân-sự về nếp sống giữ luật nhưng không thật lòng vâng Lời Đức Chúa Trời của các tổ-phụ họ. Đó là lý-do Giê-ru-sa-lem và đền thờ sụp đổ. “Tôn-giáo” của họ chỉ là một phần trong đời sống họ; nó không phải là trung tâm của đời sống họ. Họ có thể đi đến đền thờ và thể hiện sự sùng đạo trong lời cầu-nguyện và các của dâng, nhưng khi rời đền thờ họ lại vi phạm Luật-Pháp Đức Chúa Trời, thờ các thần-tượng, và ngược đãi người khác.
Qua các tiên-tri, Đức Chúa Trời kêu gọi dâng sự thể hiện nếp sống công-bình, nhưng các lãnh đạo vẫn tiếp tục bóc lộc dân-sự vì lợi ích riêng. Các vị lãnh đạo đất nước đã quên Luật-Pháp Môi-se và không thương-xót kẻ nghèo khó, người góa bụa, trẻ em, và khách lạ trong xứ (Xu 22:22-24; Phuc 10:18-22; Am 2:6-8; Am 5:11-12,21-24). Đức Chúa Trời không thích những của lễ và lời cầu-nguyện của họ, Ngài cần họ thật lòng vâng-lời Ngài.
Mối đe dọa của truyền-thống là nó có thể dễ biến thành chủ nghĩa truyền-thống. “Truyền-thống là đức-tin sống động của kẻ chết, chủ nghĩa truyền-thống là đức-tin chết của Ngài đand sống”, thần-học gia Jerislav Pelikan viết.
Chủ nghĩa truyền-thống có nghĩa là làm theo cảm xúc nông cạn thay vì tôn-vinh Đức Chúa Trời từ trong tấm-lòng; nó có nghĩa là tham gia những hoạt động tôn-giáo những không có kinh-nghiệm thuộc-linh bên trong.