(Chuyện kể về sự bất hòa trong một gia đình đã phát triển thành cuộc khủng hoảng của cả dân tộc)
Chúng...
...ta hãy bắt đầu làm quen với một vị vua. Tên của nhà vua người Ba-tư này là Khshayarshan, theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là A-suê-ru, còn tiếng Hy-lạp thì gọi là Xét-xe. Cha người là Đa-ri-út đệ I, và ông nội người chính là Si-ru Đại Đế; vì vậy người đã xuất thân từ một gia đình có dòng dõi tiếng tăm lừng lẫy. A-suê-ru cai trị đế quốc Ba-tư từ năm 486-465 TC. Đế quốc này được chia thành 20 “tiểu quốc” (bang), mỗi tiểu quốc lại được chia thành “nhiều tỉnh nhỏ”; và vua A-suê-ru nắm quyền cai trị toàn bộ.
Tương tự hầu hết các vua ngày ấy, A-suê-ru là người rất kiêu căng ngạo mạn; và trong phân đoạn Kinh Thánh này, chúng ta sẽ thấy có ba bằng chứng nói về sự kiêu ngạo ấy của ông.
1. Vua có thói khoe khoang (Et 1:1-9)
Các nhà cầm quyền ở Đông phương thường rất thích tổ chức các bữa đại tiệc đãi đằng hậu hĩ thật hoang phí có đông người dự, bởi vì nhân những dịp đó họ có cơ hội gây ấn tượng cho khách khứa thấy được vương quyền và sự giàu có của mình. Ba bữa đại tiệc được đề cập đến trong chương này gồm có: một bữa dành cho tất cả anh em binh sĩ trong quân đội và những vị chính khách tai to mặt lớn của bộ máy chính quyền cả nước (c.1-4); một bữa dành cho các đấng mày râu ở kinh đô Shushan (tiếng Hy-lạp gọi là “Su-sơ”), được kho ản đãi tại cung điện mùa Đông của nhà vua (c.5-8); bữa đại tiệc thứ ba dành cho tất cả phụ nữ ở Su-sơ (c.9) do hoàng hậu Vả-thi chủ trì.
Có lẽ nhà vua không tập hợp được hết tất cả các quan cai đầu tỉnh lại cùng một lần; bởi vì nếu làm thế các quan chức ấy sẽ xao lãng công việc và nhiệm vụ của mình trong suốt 6 tháng trường thì e rằng sẽ làm cho đế quốc suy yếu mất. Cũng có thể là, cứ qua một đợt 6 tháng, A-suê-ru lại truyền mời các quan chức đến Su-sơ theo một thời khoá biểu luân phiên. Kế đó, sau khi hội ý với họ, nhà vua sẽ triệu tập họ lại dự yến tiệc suốt bảy ngày để họ có thể có sự hội ý chung. Trong Et 1:11, tác giả nói rõ là các quan trưởng cũng có mặt tại bữa đại tiệc kéo dài suốt một tuần lễ này.
Cùng với ba bữa đại tiệc đó, còn có ít nhất sáu bữa tiệc nữa được ghi nhận trong sách này là:bữa tiệc vào lễ đăng quang lên ngôi hoàng hậu của Ê-xơ-tê (Et 2:18); bữa tiệc được tổ chức riêng cho nhà vua và Ha-man (Et 3:15); hai bữa yến tiệc do Ê-xơ-tê tổ chức đãi nhà vua và Ha-man (Et 5:1-14; Et 7:1-10); bữa yến tiệc của dân Do-thái tổ chức khi họ nghe loan báo về chiếu chỉ mới (Et 8:17); cuối cùng là Lễ Tiệc Phu-rim (Et 9:17-19). Đức Chúa Trời thật tuyệt vời bi ết bao khi Ngài có thể dùng cả chuyện ăn uống thường ngày của người ta như thế để hoàn tất các mục đích của Ngài! (ICôr 10:31).
Phía sau bữa đại tiệc dành cho các nhà quý tộc và các quan binh là mục đích gì vậy? Kinh Thánh không nói cho chúng ta, nhưng lịch sử cổ đại có nói. Herodotus, một sử gia người Hy-lạp (485-425 TC) có lẽ đã đề cập đến những bữa yến tiệc thịnh soạn này trong Sách Sử của ông, ông ta ghi nhận rằng A-suê-ru có bàn bạc hội ý với các quan chức của ông ta về việc có thể đi xâm lược Hy-lạp.
Cha của A-suê-ru là Đa-ri-út đệ I có lần xâm lược Hy-lạp và bị thất bại nhục nhã tại Marathon vào năm 490 TC. Trong thời gian chuẩn bị binh lực để trở lại Hy-lạp báo thù thì Đa-ri-út băng hà (486 TC); giờ đây con trai ông ta cảm thấy cần phải trả thù cho cha và bành trướng đế quốc của mình ra thêm. Herodotus có khẳng định rằng A-suê-ru đã lên kế hoạch xâm lăng tất cả các nước Châu Âu và “sẽ thâu tóm toàn bộ thế giới này thành một đại đế quốc mà thôi”.
Theo Herodotus, nhà vua này có phát biểu như vầy: “Ta có ý định bắc một cây cầu ngang qua Hellespont và cho quân đội hành quân xuyên Châu Âu sang đánh người Hy-lạp, bằng cách đó ta có thể trả thù được người A-then về những sai lầm mà họ đã phạm là họ đã từng chống lại người Ba-tư và cha ta”. [1] Bác của vua là Artabanus, đã kịch liệt phản đối kế hoạch này của vua, nhưng nhà vua vẫn cứ khăng khăng giữ ý định của mình và ông ta đã thành công khi thuyết phục các quan trưởng và các viên chức nghe theo ông ta.
Việc vua A-suê-ru cố tình gây ấn tượng cho các nhà quý tộc và các tướng lĩnh trong quân đội thấy được sự giàu sang và sức mạnh quyền lực của ông ta là điều hết sức quan trọng đối với ông. Khi họ nhìn thấy những cột trụ làm bằng cẩm thạch, những tấm màn đẹp rực rỡ lộng lẫy có đính theo những chiếc chuông bằng bạc, những chiếc ghế tràng kỷ làm bằng vàng và bạc đặt trên các lối đi có mặt đường lát bằng đá cẩm thạch đẹp tuyệt vời, những vật dụng làm bằng vàng ròng dùng để phục vụ bàn ăn, như thế thì họ chỉ biết nghe theo và phục tùng nhà vua chứ họ còn có thể làm gì khác nữa. Tương tự một người bán hàng dẫn bạn ra ngoài đi tới một nhà hàng ăn sang trọng để dùng bữa tối thật đắt tiền, nhà vua đã bẻ gãy sự kháng cự của họ. Vốn là một người rất kiêu căng tự phụ, nhà vua biết phải làm cách nào để thu phục được tính kiêu ngạo nơi kẻ khác.
Nhưng thật đáng tiếc thay, sự khoe khoang phô trương về sự giàu có xa hoa này của nhà vua đã không thể đảm bảo cho sự chiến thắng về phương diện quân sự. Vào năm 480 TC, trong khi nhà vua đang ngự trên ngai theo dõi trận đánh thì lực lượng hải quân Ba-tư đã bị tiêu diệt tại Salamis; và vào năm 479 TC, quân đội Ba-tư lại bị đánh bại tại Plataea. Như vậy, mộng tưởng bành trướng thế giới để biến tất cả thành một đế quốc riêng mình của nhà vua A-suê ru đã chấm dứt. Hễ nói rằng có một người đáng lý ra đã nên học lấy lẽ thật trong Ch 16:18, thì người đó phải là A-suê-ru: “Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau. Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã ” (NKJV).
Những ai có quyền có chức trong tay thì nên nhớ cho rằng tất cả mọi quyền lực đều được đến từ Đức Chúa Trời (Ro 13:1), chỉ có Ngài là Đấng duy nhất có quyền hoàn toàn và cầm quyền trên tất cả.
Pha-ra-ôn đã phải học bài học đó ở Ê-díp-tô (Xu 7:3-5) Nê-bu-cát-nết-sa cũng đã phải học bài học ấy tại Ba-by-lôn (Đa 3:1-4:37) vua Bên-xát-xa thì học được bài học này ngay tại bàn yến ti ệc báng bổ thánh thần của mình (Đa 5:1-31) San-chê-ríp vua A-si-ri thì học được tại các cửa thành Giê-ru-sa-lem (Es 36:1-37:38); và vua Hê-rốt Ạc-ríp-ba đệ I thì học được bài học ấy ngay khi ông băng hà vì bị trùng đục trong ruột (Cong 12:20-23).
Mọi người bất luận là nam hay nữ khi đã nắm được quyền hạn gì đó trong tay thì cũng chỉ là người thừa hành của Chúa mà thôi bời vì chính Chúa Giê-xu Christ mới là Chúa Tể của tất cả.
2. Vua có thói say sưa rượu chè (Et 1:10-12)
Kinh Thánh lờ đi những vấn đề thuộc về quân sự này bởi vì mục đích tác giả là nhằm giải thích cho chúng ta rõ Ê-xơ-tê đã trở thành hoàng hậu ra sao. Vào ngày cuối của bữa đại tiệc bảy ngày, vua A-suê-ru “uống rượu hứng lòng rồi” (Et 1:10 NIV), bèn ra lịnh cho hoàng hậu phải bước ra phô diễn vẻ đẹp của bà cho các quan khách đang tụ tập tại đó xem; nhưng bà không tuân lịnh vua.
Dĩ nhiên, về phần bà, bà cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm nên bà mới phản ứng như vậy. Ở đây có một người đàn bà đang thách thức quyền lực của một người đàn ông, là một người vợ không tuân theo mệnh lệnh của chồng, là một thần dân đang phủ nhận lịnh truyền của nhà vua. Kết quả là: “Vua bèn nổi giận dữ, phát nóng nả trong lòng” (Et 1:12 NIV).
Khi bạn nghiên cứu sách Ê-xơ-tê, bạn sẽ khám phá ra rằng vị vua đầy quyền lực này tuy có khả năng kiểm soát mọi thứ nhưng không kiểm soát được chính bản thân mình. Những người cố vấn của vua tác động đến vua một cách dễ dàng; vua hay có những quyết định rất bốc đồng để rồi sau đó vua phải hối tiếc; khi vua không làm được điều gì đó theo ý của mình thì vua sẽ nổi giận ngay.
Vốn là người thích được người ta nịnh hót, tâng bốc, vua làm vị chủ tể của một đế quốc hùng mạnh nhưng vua lại không thể làm chủ được bản thân.
“Người chậm nóng giận thắng hơn người dõng sĩ. Và ai cai trị lòng mình thắng hơn kẻ chiếm lấy thành” (Ch 16:32).
Vua A-suê-ru đã cho xây một thành trì đồ sộ tại Su-sơ, thế nhưng vua lại không tài nào xây nổi tính nết, nghị lực cho chính mình. “Người nào chẳng chế trị lòng mình. Khác nào một cái thành hư nát, không có vách ngăn” (Ch 25:28 NKJV). Nhà vua không tài nào kiểm soát được tính khí và những cơn thèm khát của mình.
Đây là điểm dừng lý thú để xem xét vấn đề rượu chè và sự giận dữ là hai thứ có sức công phá rất dữ dội đưa đến xã hội chúng ta sự hủy diệt ghê gớm thậm chí còn hơn cả sự tiết lộ những con số thống kê.
Trong khi chúng ta rất ngưỡng mộ sự khôn ngoan của vua là điều khiến ông không ép buộc các quan khách của mình phải uống rượu (Et 1:8), chúng ta lại không thể nào khen ngợi nổi gương xấu mà ông đã làm là ông có thói rượu chè be bét. Kinh Thánh không ra lịnh phải kiêng khem rượu hoàn toàn, nhưng lời Chúa có đề cập đến việc đó rất rõ.
Dân Y-sơ-ra-ên không được uống rượu mạnh trong cuộc hành hương nơi đồng vắng của họ (Phu 29:5-6), các thầy tế lễ không được phép uống rượu nho và rượu mạnh trong khi phục vụ tại đền tạm (Le 10:8-11). Người Na-xi-rê không những bị cấm uống rượu nho mà thậm chí cũng không được ăn vỏ và hạt nho (Le 6:1-3).
Mặc dù khi còn tại thế, Chúa C ứu Thế Giê-xu của chúng ta có uống rượu nho, nhưng hiện nay, Ngài là “người kiêng rượu hoàn toàn”. Người ta bảo Chúa Giê-xu đã làm gương cho họ về việc uống rượu chỉ để xã giao, thậm chí họ còn chỉ ra rằng Ngài đã từng hóa nước thành rượu, cho nên họ thường lấy Lu 22:18 ra suy ngẫm: “Vì, ta nói cùng các ngươi, từ nay ta sẽ không uống trái nho nữa, cho tới khi nước Đức Chúa Trời đến rồi ” (KJV). Tôi không biết mấy người này “có noi theo gương Ngài” trong những lĩnh vực nào khác nữa của cuộc sống nữa không, chẳng hạn như là về gương cầu nguyện, phục vụ, và hy sinh (Có lẽ là không).
Phần đông các pha quảng cáo đẩy mạnh cho việc bán những thức uống có cồn mô tả những người ăn mặc lịch sự bảnh bao hợp thời trang đang ngồi trong những nơi rất trang nhã lịch sự gây cho người ta cảm giác, ấn tượng lừa dối rất tinh ma rằng “uống rượu bia để xã giao” và cũng là để đạt được mục đích công việc làm ăn của mình.
Nhưng các Mục Sư, những người làm công tác xã hội, các bác sĩ, và các nhân viên tình nguyện của Hội Ẩn Danh Tư Vấn Và Cứu Trợ Những Người Nghiện Rượu thì lại vẽ lên một bức tranh khác. Họ tận mắt chứng kiến nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ, nhiều tinh thần và thể xác bị hư hoại, nhiều gia đình lộn xộn đối xử với nhau hết sức tồi tệ, và nhiều sự nghiệp bị tan tành theo mây khói là những tình trạng hay xảy ra với những ai cho rằng “uống rượu bia để xã giao”.
Connie Mack, một huấn luyện viên bóng rổ và cũng người quản lý đội bóng, cách đây khá lâu có nói rằng rượu không thích hợp với cơ thể người như cát không thích hợp khi nó có trong bình xăng của chiếc xe ô tô vậy. Rượu là chất gây nghiện chứ không phải là đồ ăn thức uống, nó hủy diệt thân thể con người chứ không phải nuôi dưỡng.
Kinh Thánh cảnh cáo kẻ uống rượu say sưa buông tuồng (Ch 20:1 Ch 21:17 Ch 23:20-21 Es 5:11 Lu 21:34 Ro 13:13-14 ICo 5:11 Eph 5:18 IPhi 4:3-5) và ngay cả kinh Cô-ran cũng có nói thế này: “Có quỷ dữ trong từng quả nho chín mọng”.
Cách tốt nhất để tránh say rượu là không nên uống chút rượu nào cả. Có một câu danh ngôn Nhật cảnh báo rằng: “ Đầu tiên người uống rượu, thứ hai rượu uống rượu, và sau đó rượu uống người”. Mẫu thân của Vua Lemuel cũng có dạy người:
“Hỡi Lê-mu-ên, chẳng xứng hiệp cho các vua. Chẳng xứng hiệp cho các vua uống rượu, Hay là cho các quan trưởng nói r ằng. Vật uống say ở đâu?” (Ch 31:4 KJV).
Còn như cơn giận của vua A-suê-ru đã trút lên đầu vị hoàng hậu đáng yêu của mình thì thật là hành vi mất lịch sự vì không biết thế nào là lịch sự cả, mang tính rất trẻ con, hoàn toàn không đúng lúc và không đáng chút nào. Nếu như vua không bị rượu xui giục, chắc hẳn ông đã không ra lịnh bắt vợ mình phải bước ra phô bày vẻ đẹp của bà trước các quan khách gồm những nhà lãnh đạo đã say xỉn kia như vậy. Sự kiêu ngạo của vua đã thắng vua. Vì nếu vua không có quyền ra lịnh cho vợ mình như vậy, thì làm sao vua có thể ra lịnh cho binh lính Ba-tư được ? Bởi hoàng hậu Vả-thi đã làm cho vua mất mặt trước các tùy tùng lãnh đạo của vua, cho nên vua bắt buộc phải làm điều gì đó để cứu lấy lòng tự trọng và danh dự của mình.
Vả-thi đúng, còn A-suê-ru sai; và cơn giận của vua chính là chứng cớ cho thấy ông quả là đã sai rõ ràng. Sự giận dữ thường khiến người ta trở nên mù quáng và làm cho tâm trí họ vốn rất tốt và cao quý trở nên bị u mê ám chướng. Pietro Aletino một thi sĩ người Ý (1492-1557) có viết gửi cho bạn mình thế này: “Người nào đã lên cơn giận dữ thì đều trở nên mù quáng và ngu ngốc, lúc ấy lẽ phải đối với họ không còn nữa, và khi đó cơn giận sẽ cướp đi tất cả mọi trí năng của người, và chỉ để lại sự xét xử người mà giờ đây đã trở thành tù nhân của sự kiêu ngạo từ chính cơn giận dữ ấy”. Hễ ai là tù nhân của sự kiêu ngạo, thì người đó đúng là vua cao quý của Hoàng Đế Ba-tư!
Quả thật, thường có cơn giận thánh nghịch lại tội lỗi, là cơn giận có thể thiêu đốt mọi lòng của người tin kính Chúa (Ro 12:9). Ngay cả Chúa Cứu Thế chúng ta cũng đã biểu lộ sự giận dữ đối với tội lỗi (Mac 3:5), nhưng chúng ta phải cẩn thận với cơn giận của mình đối với tội lỗi, đừng để nó trở thành cơn giận tội lỗi thì chúng ta sẽ phạm tội (Eph 4:26).
Đôi khi điều mà chúng ta gọi là “sự ph ẫn nộ chính đáng”thật ra đó chỉ là sự trá mạo của thái độ bực tức, giận dữ hoàn toàn sai trật, không chính đáng chút nào nấp dưới lớp áo xống bề ngoài của đạo mà thôi. Chúa Giê-xu đánh giá sự giận dữ ngang hàng với tội giết người (Mac 5:21-26), Phao-lô có cảnh báo chúng ta rằng cơn giận dữ có thể ngăn trở sự cầu nguyện của chúng ta (ITi 2:8).
Tính kiêu căng tự phụ nuôi sống cơn giận và khi cơn giận phát triển nó lại làm gia tăng thêm tính kiêu ngạo. “Kẻ nóng tính hay cáu giận thì thường hành động rất ngu xuẩn”, tác giả sách Ch 14:17 đã cảnh cáo như vậy, là câu cách ngôn đã được vua A-suê-ru chứng minh rất đầy đủ rõ ràng. Thay vì giận hoàng hậu Vả-thi, nhà vua lại quay sang căm giận bản thân mình và hành động hết sức ngu ngốc.
Trước khi rời khỏi phần này trong câu chuyện trên của chúng ta, tôi muốn chỉ ra rằng Phúc-Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã góp phần giải phóng phụ nữ và nâng cao phẩm giá họ lên trong xã hội ở bất cứ nơi đâu trên khắp thế giới có sự rao giảng và tin nhận Tin Lành. “Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc, không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ, không còn đàn ông hoặc đàn bà, vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một” (Ga 3:28, KJV). Để đi đến sự nhận biết được tầm quan trọng của người phụ nữ trong Hội thánh, chúng ta còn phải trải qua một chặng đường dài, nhưng dù gì cũng phải cảm ơn phần nào sự ảnh hưởng, tác động của Tin Lành đến xã hội, đưa đến việc giải phóng phụ nữ thoát khỏi gông xiềng của sự bạo hành và ban cho họ nhiều cơ hội tốt để họ sống và làm việc. [2]
3. Vua không có lòng khoan dung, độ lượng (Et 1:13-22)
Lòng tự trọng của vua bị khuấy động, châm chích, từ đó nó phun ra một thứ nọc độc ghê gớm xui khiến người ta có thể làm bất cứ mọi chuyện mà họ sẽ không bao giờ dám làm nếu họ là người khiêm nhường và biết đầu phục Chúa. Frances Bacon đã viết trong Bài Tiểu Luận của mình thế này: “Hễ người nào cứ mãi nghĩ ngợi về sự trả thù thì chắc chắn những vết thương lòng của chính người đó sẽ không lành được, còn nếu không thì nó sẽ được lành và ổn thỏa”. A-suê-ru không bị rượu tác động khiến cứ nghĩ mãi về vấn đề đó thì chắc hẳn vua sẽ không bao giờ truất phế vợ mình như vậy. Cuối cùng, hoàng hậu cho thấy bà là người có chí khí hơn vua.
Vị vua Ba-tư này có 7 nhà cố vấn là những người chuyên trả lời cho vua những vấn đề, công việc nhà nước và họ có quyền đến gần ngai vua.
Họ cũng biết rõ cần phải làm cách nào để nịnh hót và tâng bốc nhà vua nhằm bảo đảm cho những địa vị c ủa họ và họ sẽ khiến nhà vua ban cho họ những gì họ muốn. Cụm từ “hiểu được cả thời vận” (c.13) cho biết rằng những người đó cũng là những nhà chiêm tinh chuyên nghiên cứu các vì sao và dựa vào đó để có thể đoán định trước được tương lai bằng những cách siêu nhiên. Các ông vua đông phương thời ấy thường nhờ các chiêm tinh gia cho họ biết trước những vấn đề về cá nhân, về chính phủ và về quân đội. (Da 1:20 Da 2:2,10,17 Da 4:7 Da 5:7,11,17).
Về việc xử lý sự bất tuân của hoàng hậu Vả-thi, nhà vua hỏi bàn với 7 vị cố vấn của ông rằng ông sẽ giải quyết việc này thế nào. Trước tiên, họ vội vàng cường điệu hóa tầm quan trọng của vấn đề lên quá mức: nào là hoàng hậu Vả-thi đã làm điều sai phạm không chỉ đối với vua mà đối với cả đế quốc! Rồi đây, khi các quan khách trở về nhà, họ sẽ nói với mọi người rằng chính hoàng hậu mà cũng không thèm tuân theo lời nhà vua chồng bà gì cả, vậy thì hậu quả của sự đó sẽ nguy hại biết chừng nào.
Nào là phụ nữ trên toàn quốc chắc chắn sẽ coi thường chồng mình, và rồi ắt sẽ có sự nổi loạn quy mô của các bà vợ cùng nhau nổi dậy chống lại các đức lang quân khiến dẫn đến việc tất cả đàn bà sẽ chống nghịch lại đàn ông. (Nhiều nhà bình luận cho biết từ “các người nữ” trong Et 1:17 có nghĩa là “phụ nữ nói chung”, còn từ “các bà vợ” trong c.18 ám chỉ đến những phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc trong xã hội).
Các vị cố vấn này đang chơi một cái trò rất là ma mãnh; bằng cách thổi phồng vấn đề lên, họ cũng đã cường điệu hóa tầm quan trọng của chính họ lên quá mức khiến nhà vua càng phải dựa dẫm vào họ nhiều hơn.
Thế nhưng tình huống thực sự nghiêm trọng tới đâu? Khi hoàng hậu Vả-thi không chịu vâng lời vua, tôi tự hỏi không biết có bao nhiêu quan chức tai to mặt lớn và các nhà quý tộc tại bàn tiệc đó đã nói với nhau thế này: “Ồ! Hôn nhân của chính nhà vua cũng đâu có khác gì hôn nhân của chúng ta! Vợ vua đã giữ vững lập trường của mình, và như vậy bà đã làm một việc tuyệt vời thật!”.Không rõ rồi vua có bị mất quyền và oai phong của mình đối với cả đế quốc hay không nữa kể từ sau giờ đó vua đã rụt vai mình lại, cười gượng và đã làm điều ngu ngốc. “Sự giận dữ của kẻ ngu muội liền lộ ra tức thì. Còn người khôn khéo che lấp sỉ nhục mình” (Ch 12:16 NIV).
Bảy người thông thái kia khuyên vua phế truất hoàng hậu Vả-thi và hãy lập hoàng hậu khác lên thay chỗ bà. Họ bảo đ ảm rằng nếu vua làm như vậy chắc chắn vua sẽ khiến cho tất cả mọi phụ nữ trên khắp quốc gia đều phải sợ và thêm lòng kính trọng các đức ông chồng của mình. Nhưng rồi thế nào nhỉ?
Có phải mọi tấm lòng đều được thay đổi nhờ vào việc các ông vua ban hành những chiếu chỉ hoặc nhờ vào các cuộc hội nghị và quốc hội để thông qua những luật lệ của chính phủ? Nên xử phạt Vả-thi như thế nào để khiến cho tất cả phụ nữ Ba-tư phải yêu kính chồng họ nhiều hơn? Có phải tình yêu và sự kính trọng là những thứ có thể được phát khởi trong lòng chúng ta bởi các sắc lệnh của con người?
Bảy kẻ khôn ngoan kia đã tỏ ra vô cùng tàn nhẫn trong việc xử phạt Vả-thi và hết sức ngu xuẩn trong việc lượng giá phụ nữ trên khắp đế quốc ra sao? Họ tàn ác đến độ thế nào khi họ lợi dụng quyền hạn của luật pháp để hủy diệt một người phụ nữ và đe dọa sự hòa bình trong từng gia đình trên khắp quốc gia như thế? Họ đang khiêu khích mọi người chồng hãy hành động giống như vua A-suê-ru vậy và hãy điều hành gia đình dựa trên nền tảng là các sắc lệnh hành pháp của nhà nước (Es 1:22). Thật là trái ngược với những lời Phao-lô đã khuyên răn những người chồng người vợ trong Eph 5:18-33!
Vẫn đang bị kích động bởi cơn giận dữ và lòng căm tức, nhà vua quyết tìm cách nào đó để chữa lành lòng kiêu ngạo của mình đã bị tổn thương, xúc phạm, ông liền đồng ý với lời chỉ giáo của mấy vị cố vấn kia phế bỏ Vả-thi (Et 1:19-21). Ông phái nhiều người đưa thư đi khắp đế quốc tuyên bố ban ra chỉ dụ hoàng gia là một chỉ dụ không cần thiết, không thể thi hành được và không thể sửa đổi hay rút lại được.
Vua A-suê-ru ban hành các sắc lệnh này ra mà không hề đắn đo suy nghĩ xem mình đang làm điều gì đây (Et 3:9-12). Đó là một bằng chứng cho thấy tính kiêu căng tự phụ của vua.
Vua không cho thay chỗ của Vả-thi ngay. Thay vào đó, ông xuất quân đi chinh chiến xâm lăng Hy-lạp, là nơi ông bị thất bại nhục nhã; khi ông quay về nhà, ông lao vào tìm kiếm sự an ủi từ thú vui thỏa mãn những cơn thèm muốn nhục dục của mình bằng cách cho người săn lùng một tân hoàng hậu nào đó và tuyển vào hậu cung thật nhiều cung tần phi nữ. Phụ nữ trong đế quốc của vua không những phải sống qụy lụy, lệ thuộc đàn ông mà còn phải làm “những đối tượng sex” để đem lại cho họ sự thỏa mãn nhục dục. Càng biết nhiều về đời sống thể xác của vua A-suê-ru thì bạn sẽ càng thấy ghê tởm ông ta hơn.
Kinh Thánh không nói cho chúng ta biết điều gì đã xảy ra với hoàng hậu Vả-thi. Nhiều học giả Kinh Thánh cho rằng bà chính là Amestris, mẫu thân của Ạt-ta-xét-xe người đã cai trị đế quốc Ba-tư từ năm 464-425 TC. Rất có thể Ê-xơ-tê hoặc sẽ không được ân sủng hoặc phải chết; vì Amestris có ảnh hưởng lớn ở cương vị là một thái hậu trong suốt thời trị vị của con trai mình.
Ạt-ta-xét-xe sinh năm 483 TC, là năm có bữa đại tiệc đã được mô tả trong Et 1:1-22. Có lẽ do lúc đó đang mang thai cho nên bà không muốn xuất hiện trước đám đàn ông kia. Con trai bà là Ạt-ta-xét-xe cai trị trong suốt thời E-xơ-ra (Exo 7:1,7,11-12,21 Exo 8:1)và thời Nê-hê-mi (Ne 2:1 Ne 5:14 Ne 13:6).
Nhưng bất luận thế nào thì trên sân khấu giờ đây đang dành lối đi cho hai nhân vật chính của vở kịch bước ra trình diễn: đó là Ha-man, một người ghét cay ghét đắng dân Do Thái, và một người là Ê-xơ-tê, một phụ nữ đã cứu nguy cho dân tộc mình.
2. TÂN HOÀNG HẬU (Et 2:1-23)
(Trong phần này Ê-xơ-tê trở thành vợ vua và Mạc-đô-chê được ban thưởng vì đã cứu mạng vua)
“Đức Chúa Trời đang dự liệu những người con anh hùng của Ngài”, A.B. Simpson người sáng lập ra Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đã nói như vậy, “ khi cơ hội đến, Ngài sẽ đặt để họ vào vị trí thích hợp ngay, và thế giới sẽ lấy làm kinh ngạc khi biết được họ đã đến từ đâu”.
Tiến sĩ Simpson còn cho biết thêm rằng Đức Chúa Trời cũng có chuẩn bị sẵn những người nữ anh hùng của Ngài, vì chắc chắn Ê-xơ-tê đã được Đức Chúa Trời trù liệu trước Ngài sẽ dùng bà ở vai trò là một tân hoàng hậu. Chúa không bao giờ bị bất ngờ trước những tình huống hoặc sẽ uổng công khi chuẩn bị các đầy tớ Ngài. Ngài cố ý đưa Giô-sép đến Ê-díp-tô (Thi 105:17), Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên đến Ba-by-lôn, Nê-hê-mi đến kinh đô Su-sơ, và Ngài cũng đã có dụng ý khi đưa Ê-xơ-tê đến đế quốc Ba-tư để thi hành chức vụ của bà đối với dân Do Thái.
Khi bạn đọc chương Kinh Thánh này, bạn sẽ thấy có ít nhất ba chứng cớ cho thấy bàn tay của Đức Chúa Trời đã hành động trên các công việc của dân sự Ngài.
1. Sự đồng tình của vua (Et 2:1-4)
Đã gần bốn năm trôi qua kể từ khi hoàng hậu Vả-thi bị truất phế. Trong suốt thời gian ấy, A-suê-ru trực tiếp thân chinh thực hiện chiến dịch Hy-lạp đầy xui xẻo của mình và quay về nước trong nỗi nhục nhã chứ không phải được người ta tôn vinh, ca tụng. Khi vua suy xét l ại những việc làm hấp tấp của mình đối với vợ trước đó, ông cảm thấy muốn nhen nhóm lại tình cảm với Vả-thi; mặc dù ở hậu cung có rất nhiều cung tần mỹ nữ, nhưng ông vẫn thấy nhớ hoàng hậu. Đây là điểm khác biệt giữa tình yêu và tình dục. Sự phấn khích trôi qua tức thời không giống như giá trị bền vững dài lâu ngày càng tăng thêm trong mối liên hệ tình cảm của cả một đời người.
Các cố vấn của vua không muốn Vả-thi được phục hồi lại địa vị mình trong hoàng cung và được nhà vua sủng ái như trước; vì nếu bà giành lại ngôi vị của mình thì chắc chắn bọn họ sẽ gặp nguy hiểm. Cuối cùng, chính họ đã bảo vua đuổi bà ta đi khỏi hậu cung! Nhưng còn có điều quan trọng hơn đời sống các cố vấn ấy của nhà vua, là sự tồn vong của dân tộc Do-thái đang bị đe doạ.
Chắc chắn Hoàng hậu Vả-thi sẽ không bao giờ can thiệp giùm cho lợi ích của người Do-thái đâu. Có khi bà ta còn liên minh phe cánh với Ha-man nữa là đằng khác.
Vì biết rõ nhà vua có lòng tham muốn về nhục dục thể xác rất nhiều, cho nên, mấy vị cố vấn kia xúi giục vua cho triệu tập hết thảy mọi thiếu nữ nào còn đồng trinh mà lại có nhan sắc đẹp đẽ nhất trên khắp mọi miền đất nước tại hậu cung mới.
Đây không phải là “cuộc thi sắc đẹp” mà những người thắng cuộc được tưởng thưởng bằng cách sẽ được ban cho cơ hội lên ngôi hoàng hậu. Các thiếu nữ này bị bắt buộc đưa vào hậu cung và trở thành người của hậu cung. Mỗi đêm, nhà vua lại ngủ với một người nữ mới; và sáng hôm sau thì người nữ đó liền trở nên một trong số những tì thiếp của vua. Thế rồi có một thiếu nữ trong số ấy làm vua hết sức đẹp lòng và nàng trở thành tân hoàng hậu của vua.
Nghe có vẻ giống như điều xảy ra trong câu chuyện “Nghìn Lẻ Một Đêm” vậy, ngoại trừ chi tiết trong các câu chuyện đó, Hoàng đế Shahriar cứ mỗi ngày cưới một người vợ mới để rồi qua sáng hôm sau thì liền sai người giết chết người vợ mới cưới đó. Theo ông ta thì làm như thế mới đảm bảo rằng người vợ ấy sẽ chung thuỷ với ông!
Tôi không biết có bao nhiêu cô gái đẹp đã trốn thoát được khi các đám tùy tùng, tay chân của vua đi truy lùng đuổi bắt họ đem về cung? Có nhiều bà mẹ tan nát cả cõi lòng, và có nhiều người cha đã không ngần ngại nói dối với người đi thi hành công vụ đó cho vua và phủ nhận mình không có đứa con gái nào còn đồng trinh cả.
Có lẽ có một vài trong số các cô gái đã phải kết hôn đại với bất kỳ người đàn ông nào họ gặp được vì như vậy còn hơn là phải trải qua cuộc sống tuyệt vọng bị giam chặt trong hậu cung của nhà vua. Họ chỉ được ở với vua một lần mà thôi, và thế là họ phải thuộc về vua mãi mãi mà không được lập gia đình với ai khác nữa cả. Nếu nhà vua lãng quên họ mất, thì họ đành phải chấp nhận sống cuộc sống cô đơn nơi hậu cung. Vậy, họ có được danh giá chứ? Có lẽ là có. Họ có hạnh phúc không? Không hề!
“Lòng của vua ở trong tay Đức Giê-hô-va khác nào dòng nước chảy, Ngài làm nghiêng lệch nó bề nào tùy ý Ngài muốn” (Ch 21:1 NKJV).
Điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời bắt buộc A-suê-ru phải chấp nhận kế hoạch của Ngài, hoặc rằng Ngài đồng ý để cho vua sống đời sống lạm dụng tình dục ở phụ nữ nơi hậu cung như vậy. Nó chỉ có ý nghĩa đơn giản là, Đức Chúa Trời không phải là tác giả gây ra tội lỗi của họ, Ngài chỉ trực ti ếp đưa họ vào trong tình huống khiến họ có những quyết định là điều sẽ hoàn tất các mục đích của Ngài.
Các quyết định mà ngày nay người ta thường đưa ra trong lĩnh lực quan trọng của chính phủ và ở lĩnh vực tài chánh dường như rất xa rời với đời sống hằng ngày của dân sự Chúa, tuy nhiên chúng có tác động, ảnh hưởng đến chúng ta và ảnh hưởng đến công việc Chúa qua nhiều cách. Thật là tuyệt khi nhận biết rằng Đức Chúa Trời đang ngự trên ngai Ngài và không có quyết định nào có thể ngăn cản các mục đích của Ngài. “Hết thảy dân cư trên đất thảy đều cầm như là không có, Ngài làm theo ý mình trong cơ binh trên trời, và ở giữa cư dân trên đất, chẳng ai có thể cản tay Ngài và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy?” (Da 4:35 NIV).
“Không có thuộc tính nào của Đức Chúa Trời an ủi con cái Chúa nhiều hơn là học thuyết nói về quyền tể trị tối cao của Ngài”, Charles HaddonSpurgeon đã nói như vậy. Trong khi chúng ta khẳng định rằng có nhiều điều liên quan đến học thuyết này hiện vẫn đang được bao phủ trong sự bí ẩn, vậy lẽ nào Đức Chúa Trời Toàn Năng lại không phải là Vị Chúa Tể của cõi vũ trụ này vốn là của Ngài. Ngay cả mọi công việc của một vị vua ngoại giáo cũng đều luôn ở dưới sự cai trị, kiểm soát của Ngài.
2. Sự chọn lựa của Ê-xơ-tê (Et 2:5-18)
Bây giờ chúng ta được giới thiệu đến với Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê em họ ông, là người sẽ cùng với Ha-man đóng vai chính trong vở kịch này. Một lần nữa, chúng ta lại thấy bàn tay của Đức Chúa Trời hành động trên đời sống của người nữ Do Thái đáng yêu đó. Hãy xem xét các tác nhân có liên quan sau đây.
• Sự ảnh hưởng của Mạc-đô-chê (Et 2:5-7): Mạc-đô-chê được nhắc đến tên 58 lần trong sách này, ông được nhận dạng là một “người Do-thái” 7 lần (Et 2:5; Et 5:13; Et 6:10; Et 8:7; Et 9:29,31; Et 10:3). Ông tổ của ông là Kích, một trong số những người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem bị bắt sang Ba-by-lôn trong lần bị trục xuất thứ hai vào năm 597 TC (IIVua 24:1-20). Si-ru, vua Ba-tư, đã tiến vào Ba-by-lôn năm 539 TC và đến năm sau đó vua cho phép dân Do-thái hồi hương. Có đến khoảng 50.000 người được trở về (Exo 1:1-2:70). Vào những năm tiếp theo sau, những người Do-thái còn lại trở về Y-sơ-ra-ên; nhưng Mạc-đô-chê đã quyết định ở lại thủ đô Ba-tư.
Trong khi người Ba-by-lôn đã gây khó khăn cho đời sống của người Do-thái như vậy, thì người Ba-tư lại đối đãi họ rất nhân hậu, khoan dung; có nhiều người Do-thái sống và làm ăn phát đạt trở nên thịnh vượng ngay trong nơi họ bị bắt giam cầm làm phu tù đó. Mạc-đô-chê cuối cùng cũng có được một địa vị chính thức trong bộ máy nhà nước và ông thường ngồi làm việc tại cửa vua (Et 2:21).
Có lẽ ông được ban cho chức quyền này sau khi Ê-xơ-tê đã được tuyển vào cung, bởi vì ông thường hay đi tới đi lui ở phía trước cung của các phi tần xem thử con gái nuôi của mình đang làm gì ở đó (c.11). Nếu ông là một nhân viên của vua, thì chắc hẳn ông thường có được những tin tức nội bộ.
• Ê-xơ-tê làm con gái nuôi của Mạc-đô-chê (c.15).
Tên Ê-xơ-tê theo tiếng Ba-tư nghĩa là “ngôi sao”, còn theo tiếng Hê-bơ-rơ là Hadassah –“cây mía”. (Thật là ngộ khi một cây mía lại có thể trổ hoa giống như ngôi sao vậy.) Là một người nữ xinh đẹp, Ê-xơ-tê cũng đã bị bắt đem về hậu cung của nhà vua cùng với nhiều người nữ khác. Có một câu danh ngôn tiếng Anh nói rằng: “Sắc đẹp có thể sinh ra những chiếc lá đẹp và lịch sự nhưng trái nó thì đắng”. Chúng ta không biết có bao nhiêu cô gái trẻ đẹp tại đế quốc này đã phải hối hận vì họ đã được sinh ra cùng với sắc đẹp!
Một trong những tác nhân chính của câu chuyện ở đây là thực tế rằng dân thành Su-sơ không hề biết Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê là người Giu-đa. Chỉ khi Mạc-đô-chê nói cho các viên chức trong hoàng cung biết về ông thì họ mới biết được như vậy (Et 3:4), nhà vua cũng chỉ mới được biết Ê-xơ-tê là người Giu-đa ngay ở bàn tiệc do bà tổ chức khoản đãi vua với Ha-man (Et 7:1-10).
Sự việc này cho chúng ta thấy một vài vấn đề. Thứ nhất, nếu Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê đã bị đồng hóa theo người Ba-tư thì chắc chắn họ đã không duy trì được một gia đình đàng hoàng khi còn tại gia và sẽ không giữ luật Môi-se đâu. Thậm chí, họ còn làm theo cả những quy định của sự kiêng ăn, chưa kể đến việc họ cũng đã vâng giữ các luật lệ biệt riêng mình ra thờ phượng Chúa, do đó, quốc tịch thật của họ chắc chắn sẽ bị người ta nhanh chóng phát hiện ra ngay thôi. Vì Ê-xơ-tê đã giữ đức tin theo cách Do-thái của mình trong đời sống suốt thời gian trong năm đầu chuẩn bị (Et 2:12), trong bốn năm bà làm hoàng hậu (Et 2:16; Et 3:7), bởi vậy, sự che giấu ban đầu của bà rốt cuộc rồi cũng đã lộ ra.
Bất kỳ ai cũng có quyền giấu quốc tịch thật của mình và đó không phải là một cái tội. Cho đến chừng nào không ai hỏi họ gì cả, thì Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê vẫn có quyền giấu nguồn cội dân tộc mình. Nếu người ta tưởng rằng hai anh em họ con cô con cậu đó không phải là người Do-thái, vâng, thì đó chuyện của họ, kệ họ. “Không phải lúc nào cũng có thể nói ra hết mọi lẽ thật”, Matthew Henry đã viết, “và cũng có điều không thật sẽ đừng bao giờ nên nói ra”. Tuy nhiên, Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê đã không nhận biết rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đang hiện diện trong xã hội của người ngoại bang đó thì quả là điều thật đáng tiếc.
Họ đã phải lẩn tránh quá nhiều thứ. Những người không chính thức như họ sẽ phải sống cách sống như thế nào? Dẫu rằng Luật Pháp Môi-se chỉ mang tính chất tạm thời, thế nhưng nó đã được kết thúc bằng sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá, những quy định của luật ấy vẫn tiếp tục tác động; và người Do-thái đều hết lòng hết sức tuân giữ chúng.
Đa-ni-ên và các bạn mình trung tín vâng giữ luật lệ Chúa rất cẩn thận trong khi họ đang sống ở Ba-by-lôn, cho nên Đức Chúa Trời đã ban ơn lành cho họ (Đa 1:1-21). Vậy lẽ nào Ngài lại không nhận thấy sự không trung thực của Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê hay sao mà Ngài vẫn còn dùng họ để hoàn tất các mục đích của Ngài?
Nhưng còn có điều quan trọng hơn cả nếp sống của họ là vấn đề có một người nữ Do-thái sống trong hậu cung và cuối cùng đã kết hôn với một người không phải là người Do-thái. Luật Pháp Môi-se cấm tất cả các hình thức quan hệ tình dục bất chính và những cuộc hôn nhân loạn luân, pha tạp (Xu 20:14; Xu 34:16; Le 16:1-50; Phuc 7:1-4); cả E-xơ-ra với Nê-hê-mi đều có đề cập đến vấn đề người Do-thái kết hôn với người ngoài dân tộc (Exo 9:1-10:44; Ne 10:30; Exo 13:23-27). Song, Đức Chúa Trời đã cho phép một nữ đồng trinh Do-thái trở thành vợ của một vị vua không phải là người Do-thái lại vốn là một người ngoại đạo dâm đãng đầy dục vọng, một tín đồ thờ bái Thần Lửa!
Có một số sinh viên trường Kinh Thánh coi đây như là một “cuộc thi sắc đẹp” toàn quốc và Ê-xơ-tê là thí sinh dự thi có lẽ đáng lý ra không nên tham dự. Họ c ũng khẳng định rằng Mạc-đô-chê có khích lệ động viên Ê-xơ-tê dự thi vì ông ta muốn có một người Do-thái ở trong nơi dễ gây ảnh hưởng đến khắp đế quốc đề phòng trường hợp có sự cố gì xảy ra sau này.
Có thể sự lý giải này đúng. Tuy nhiên, các sinh viên khác thì bảo những người nữ dự thi đó không phải do họ tình nguyện đến thi mà là vì họ bị các nhân viên thi hành công vụ đặc biệt của vua tìm kiếm chọn lựa và đưa về tập trung lại như vậy. Các cô gái này không phải bị bắt cóc, nhưng ai cũng đều biết rằng họ không thể chống đối lại nổi ý muốn của tên bạo chúa Đông Phương ấy.
Trong trường hợp này tôi không nghĩ rằng chúng ta lên án Ê-xơ-tê về những gì đã xảy ra với bà do những hoàn cảnh đưa đến, vì phần lớn chúng đều nằm ngoài sự kiểm soát của bà; và Đức Chúa Trời tể trị trên mọi hoàn cảnh đó vì cớ ích lợi của dân sự bà.
Khi bạn xem xét tình trạng sa ngã của dân Do-thái lúc ấy, sự bất tuân của những người Do-thái sống sót còn ở lại đế quốc Ba-tư và nếp sống không có tính thuộc linh chút nào của Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê, thì bạn có thắc mắc tại sao không thấy xuất hiện danh Chúa trong sách này không? Liệu bạn có muốn tìm thấy danh thánh của mình ở một d ân tộc bất khiết như thế không?
• Sự khích lệ của Hê-gai (Et 2:8-9): Tương tự Giô-sép được ưu ái trọng dụng ở Ê-díp-tô (Sa 39:21), Đa-ni-ên ở Ba-by-lôn (Đa 1:9), giờ đây Ê-xơ-tê cũng đã được sủng ái ở Su-sơ. Đức Chúa Trời vĩ đại đến nỗi thậm chí Ngài có thể làm việc trong lòng và tâm trí của viên quản lý hậu cung! Đó là Hê-gai vốn không phải người Do-thái. Công việc của ông là giúp vua giải trí, và ông chẳng biết gì về Đức Chúa Trời chân thật của Y-sơ-ra-ên cả. Tuy nhiên, ông đang giữ một vai trò quan trọng trong chương trình mà Đức Chúa Trời sắp thực hiện vì cớ dân sự Ngài. Thậm chí ngày nay, Đức Chúa Trời cũng đang hành động khắp mọi nơi mà bạn và tôi thì cứ nghĩ rằng Ngài đã không hiện diện.
Mỗi cô gái chuẩn bị vào với vua đều được Hê-gai bỏ ra suốt một năm dài “làm đẹp” cho. Việc làm đẹp đó gồm phải ăn kiêng theo chế độ ăn đặc biệt, xức những loại dầu thơm và các thứ mỹ phẩm đặc biệt, có lẽ họ phải được huấn luyện một khóa về nghi thức xã giao. Họ cũng phải tập làm một việc làm thỏa mãn những ham muốn của nhà vua.Người nào làm cho vua hài lòng nhất thì ắt sẽ được trở thành vợ vua. Bởi vì có sự sắm sẵn của Đức Chúa Trời, cho nên Hê-gai đã “làm đẹp đặc biệt” cho Ê-xơ-tê và ông còn dành một chỗ tốt nhất trong hậu cung cho bà với mấy nàng hầu của bà ở.
• Quốc tịch của Ê-xơ-tê (Et 2:10-11): Nếu Ê-xơ-tê đã không được sinh ra trong dân tộc Do-thái, thì có lẽ bà sẽ không bao giờ có thể cứu nguy được dân tộc mình thoát khỏi sự tàn sát thảm khốc. Hình như sự giữ im lặng về quốc tịch mình của hai anh em con nhà cô cậu đó là do Đức Chúa Trời hướng dẫn họ như vậy vì Ngài đã có một công việc đặc biệt để cho họ thực hiện. Trong thế giới của người ngoại giáo, có rất nhiều người theo chủ nghĩa bài xích Do-thái, và và động cơ hành động của Mạc-đô-chê có lẽ là vì sự an toàn cá nhân của anh em họ, tuy nhiên Đức Chúa Trời đang có điều gì đó đại sự hơn trong quyết định của Ngài. Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê muốn được sống yên ổn, nhưng Đức Chúa Trời đã dùng họ để giữ lại sự sống cho dân Do-thái.
• Sự phê chuẩn của vua (Et 2:12-18): Cứ mỗi đêm, lại có một trinh nữ được đưa đến với vua; đến sáng mai cô gái đó sẽ bị chuyển đến ở tại cung dành cho các tì thiếp, và không bao giờ được trở lại với vua trừ phi vua nhớ đến nàng và cho gọi nàng quay lại. Tính vui thú nhục dục buông thả như thế của vua A-suê-ru cuối cùng đã làm cho vua chán ngấy đến nỗi vua không còn phân biệt nổi người nào là gái còn đồng trinh với người nào không.
Đây không phải tình yêu mà là sự thèm khát những cơn nhục dục khoái lạc của xác thịt càng ngày càng dâng cao của vua mà thôi; và vua càng thèm khát thì lại càng không cảm thấy được thỏa mãn.
Ê-xơ-tê đã chiếm được sự ưu ái của bất kỳ ai gặp gỡ bà; khi nhà vua nhìn thấy bà, trong ông tràn đầy sự phấn khích hơn nhiều so với khi ông thấy bất kỳ người nào trong số các cô gái khác. Cuối cùng thì ông cũng đã tìm được một người thay thế vào vị trí của Vả-thi rồi! Cụm từ “vua thương mến Ê-xơ-tê” (KJV) không lý giải được cho ý nghĩa là vua đã bị cú sét ái tình đối với Ê-xơ-tê khiến vua yêu bà thực sự bằng tình yêu thuần khiết và tự nguyện hoàn toàn.
Bản dịch NIV dịch câu này rất hay: “Giờ đây, Ê-xơ-tê thu hút, quyến rũ nhà vua hơn bất cứ ai trong số các cô gái còn lại” (c.17). Điều này hiển nhiên là đến từ Đức Chúa Trời Đấng mong muốn Ê-xơ-tê có mặt trong chốn hoàng cung ấy là nơi bà có thể can thiệp giùm cho dân tộc mình. “từ trước vô cùng Ngài đã thông biết những việc đó ” (Công 15:18 NKJV).
Thật đáng chú ý rằng Ê-xơ-tê đã giao phó chính bản thân mình trong tay Hê-gai và làm theo những gì Hê-gai chỉ bảo. Hê-gai biết rõ nhà vua thích gì, và ông tỏ ra thiên vị Ê-xơ-tê, ông mặc cho bà những áo xống và trang điểm cho bà theo cách rất hợp với bà. Bởi vì Ê-xơ-tê có sẵn vẻ đẹp thiên phú “tốt tươi hình dạng, đẹp đẽ dung nhan” (Et 2:7 NIV), cho nên bà không cần đòi hỏi “phải sửa soạn nhiều hơn” như các cô gái khác (IPhi 3:1-6).
Nhà vua tự tay mình đội vương miện cho Ê-xơ-tê và tuyên bố bà là tân hoàng hậu của quốc gia.Sau đó vua cho mời các quan chức thuộc tất cả các ban ngành và vua mở một bữa đại tiệc thết đãi họ. (Đây là bữa tiệc thứ tư được ghi nhận trong sách này. Các vua Ba-tư thường tận dụng mọi cơ hội để tổ chức tiệc tùng ăn chơi!).
Nhưng sự hào phóng này của vua A-suê-ru thậm chí còn lan đến tận những người thường dân, vì ông có thông báo cho họ biết rằng vào dịp lễ nào đó của cả quốc gia, ông sẽ ban phát quà đến cho mọi người. Ngày lễ này có lẽ tương tự như ngày lễ kỷ niệm “Năm Hân Hỉ” của người Hê-bơ-rơ. Tương tự cũng có miễn xá hết các loại thuế má, tôi tớ nô lệ được phóng thích, người lao động được nghỉ ngơi. Vua A-suê-ru muốn tất cả mọi người đều có cảm tình tốt đối với tân hoàng hậu.
3. Sự can thiệp của Mạc-đô-chê (Et 2:19-23)
Việc “Các nữ đồng trinh hiệp lại lần thứ nhì” được đề cập trong câu 19 có lẽ có nghĩa là các quần thần của vua lại tiếp tục tìm nhiều cô gái đẹp khác đưa về hậu cung cho vua, bởi vì nhà vua không thích làm người chỉ có một vợ và trải qua phần đời còn lại của mình chỉ với mỗi Ê-xơ-tê mà thôi.Những người lo chuẩn bị tổ chức “cuộc thi sắc đẹp” lần hai này nhận thấy rằng đây là lần thi giã từ đối với “các thí sinh dự thi” là những người sẽ không bao giờ được ra mắt vua.
Họ được ban quà và được cho về nhà. Riêng tôi thì thích cách hiểu đầu hơn. Cho dù các cô gái có được làm hoàng hậu hay là không, thì đối với một người như A-suê-ru chẳng mảy may quan tâm đến việc để cho nhóm các cô gái đẹp còn đồng trinh kia được tự do rời khỏi cung điện của vua!
Nhưng ở đây có điều quan trọng hơn cả là, trong câu 19 chúng ta thấy Mạc-đô-chê đang nắm giữ một địa vị có quyền hành trong tay được người ta tôn trọng, ông thường ngồi nơi cửa vua (Et 4:2; Et 5:13). Ở phương đông thời cổ đại, cửa vua như thế là nơi được dùng tương tự như phòng xử án thời hiện đại của chúng ta bây giờ, nơi người ta tiến hành giải quyết, xử lý những việc công quan trọng (Ru 4:1; Đa 2:48-49). Chắc hoàng hậu Ê-xơ-tê đã dùng uy tín mình xin được cho người anh họ của bà công việc ấy.
Một lần nữa, chúng ta lấy làm kinh ngạc về sự sắm sẵn của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên trong cuộc sống của một con người không có lòng kính sợ Chúa. Cả Mạc-đô-chê lẫn Ê-xơ-tê đều không nói cho ai biết quốc tịch thật của mình. Có lẽ chúng ta nên xếp họ cùng với Ni-cô-đem và Giô-sép người A-ri-ma-thê là “những môn đồ bí mật, kín giấu” tuy nhiên cũng đã được Đức Chúa Trời dùng để bảo vệ và khâm liệm xác Chúa Giê-xu (Gi 19:38-42). Tương tự hai người kia, Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê đã “trốn” ở kinh đô của người Ba-tư bởi vì Đức Chúa Trời dành sẵn một công việc rất đặc biệt cho họ làm. Mạc-đô-chê có thể lợi dụng địa vị chức quyền của mình để đem lại ích lợi cho cả vua lẫn cho người Do-thái.
Tại các triều đình ở phương đông, việc đi vận động ngầm trong hoàng cung là chuyện bình thường.Riêng chỉ có một số ít quần thần nào đó mới được tự do đến gần nhà vua mà thôi (Et 1:10,14), và họ thường dùng những đặc quyền của mình để nhận hối lộ của người dân nào cần đến sự giúp đỡ của nhà vua. (Đây là lý do tại sao các quan chức dưới quyền của Đa-ni-ên đã không ưa thích gì ông ta; bởi lẽ Đa-ni-ên là người quá trung thực. Xem Đa 6:1-28).
Có thể mưu đồ ám sát đó có liên quan đến việc đăng quang lễ lên ngôi của tân hoàng hậu và rằng bọn người phe cánh trước đây của Vả-thi trong triều đình vốn rất ghét những việc nhà vua đã làm. Hoặc cũng có thể do hai kẻ có mưu đồ ám sát đó rất căm ghét Ê-xơ-tê vì cớ bà là người ngoài. Mặc dù không phải lúc nào cũng được tuân thủ, nhưng truyền thống dân tộc cho biết rằng các vua Ba-tư thường phải chọn vợ trong số các cô gái thuộc bảy gia đình dòng họ quý tộc của xứ. Những kẻ có âm mưu này chắc là người theo chủ nghĩa truyền thống không muốn thấy “một phó thường dân” ngồi trên ngôi hoàng hậu.
A-suê-ru đang hưởng thụ quyền lực, sự giàu có và các thú vui hầu như bất tận của mình. Ông được bảo vệ theo hình thức cách ly với mọi vấn đề diễn ra hàng ngày của cuộc sống (Et 4:1-4) thế nhưng việc này đã không bảo vệ nổi sự an toàn cá nhân của ông. Người ta vẫn có thể âm mưu với nhau chống lại vua và đe dọa mạng sống vua. Quả thực là như vậy, 14 năm sau đó, A-suê-ru đã bị ám sát!
Đức Chúa Trời trong sự dự liệu của Ngài, Ngài đã khiến cho Mạc-đô-chê có thể nghe được âm mưu đó và liền báo cho hoàng hậu Ê-xơ-tê biết. Khi Ê-xơ-tê tâu lại với vua, bà đã giúp Mạc-đô-chê có được uy tín và tiếng tăm vì ông đã kịp bóc trần mưu đồ đen tối kia.; điều này có nghĩa là tên tuổi ông đã được chính thức lưu vào sách sử ký của triều chính. Sự kiện này đóng một vai trò quan trọng trong vở kịch ở bốn năm sau (Et 6:1-14).
Cụm từ “bị treo nơi cây hình” (Et 2:23 KJV) có lẽ có nghĩa “bị đóng vào cọc nhọn dựng đứng lên xuyên qua người để thiêu sống”, một hình thức thi hành án tử hình thông thường của dân Ba-tư thời xưa, là giống dân không hề có lòng nhân hậu, khoan dung đối với các tù nhân. Cách tử hình thông thường của dân Do-thái là ném đá; nhưng nếu họ thực sự muốn làm nhục nạn nhân, thì họ sẽ treo thi thể người ấy lên trên cây cho đến khi mặt trời lặn (Phuc 21:22-23).
Mạc-đô-chê không được thừa nhận công trạng và cũng chẳng được ban thưởng gì hết cho công lao ông đã cứu mạng vua. Nhưng không sao. Đức Chúa Trời có nhìn thấy việc đó và nh ững vấn đề ấy đã được Ngài ghi nhận và sẽ biến chúng thành sự ích lợi vào đúng thời của chúng. Những việc lành của chúng ta giống như những hạt giống được gieo trồng xuống bởi đức tin, và bông trái của chúng không phải lúc nào cũng xuất hiện ngay. “Tai họa đuổi theo kẻ có tội. Còn phước lành là phần thưởng của người công bình” (Ch 13:21 NKJV). Nhưng dự tính toán thời gian của Đức Chúa Trời luôn luôn chính xác, kịp lúc, và Ngài thấy đó là công việc ích lợi chứ không hề uổng phí chút nào.
Tuy nhiên, âm mưu mà Mạc-đô-chê vừa bóc trần này không là gì cả so với âm mưu cũng do chính ông phát hiện ra vào bốn năm sau đó, ấy là mưu đồ của Ha-man kẻ thù của người Do-thái, đã lập và sắp gây tội ác.
3. KẺ THÙ CŨ VỚI TÊN MỚI (Et 3:1-15)
(Phần này kể về một con người xấu xa độc ác dám thách thức quyền năng của Đức Chúa Trời Toàn Năng)
Suốt bốn năm liền, mọi thứ ở Su-sơ đều rất bình yên.Ê-xơ-tê đã lên ngôi hoàng hậu từ dạo ấy, còn Mạc-đô-chê vẫn tiếp tục làm công việc cho vua tại cửa vua. Sau đó, mọi thứ đã thay đổi, hết thảy người Do-thái sống trong đế quốc chợt nhận thấy rằng họ đang gặp nguy hiểm sắp bị người ta giết chết nhằm chỉ để làm thỏa mãn lòng căm thù của một con người tên là Ha-man.
Sách Ê-xơ-tê là một trong năm sách của Cựu-ước mà người Do-thái gọi là “Kinh Điển” hoặc gọi là “Năm Cuộn Giấy” (từ Megilloth trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa “cuộn giấy da”). Các sách còn lại đi cùng với nó gồm sách Ru-tơ, Truyền-đạo, Nhã-ca và Ca-thương. Mỗi năm cứ vào dịp Lễ Phu-rim, người ta sẽ đem sách Ê-xơ-tê ra tuyên đọc giữa nhà hội; và hễ khi nào nghe đọc đến tên Ha-man, thì người ta liền dậm chân la lên: “Hãy xoá tên hắn đi!”
Đối với người Do-thái ở bất cứ nơi đâu, thì Ha-man đều là hiện thân của kẻ cố tình muốn tuyệt diệt dân Y-sơ-ra-ên. Chương này giải thích cho chúng ta biết lý do tại sao Ha-man lại là một con người nguy hiểm đáng sợ như vậy.
1. Tổ tiên của Ha-man (Et 3:1a)
Ha-man là người A-ga-gít, và điều này cho biết ông đến từ miền A-gát của đế quốc. Nhưng điều này còn có nghĩa ông là hậu duệ của A-gát vua dân A-ma-lét (ISa 15:8). Khi nhắc đến vua dân A-ma-lét này, chúng ta dễ dàng hiểu được ngay lý do tại sao Ha-man lại ghét người Do-thái đến vậy: Đức Chúa Trời đã tuyên chiến với dân A-ma-lét, Ngài muốn tên tuổi họ và những ký ức về họ bị xóa khỏi thế gian này.
Câu chuyện đưa chúng ta trở về thời Xuất Khỏi Ai-cập của Y-sơ-ra-ên (Xu 17:8-15), lúc ấy dân A-ma-lét đã tấn công những người Y-sơ-ra-ên yếu đuối thuộc bộ phận hậu cần của dân sự đang ra đi (Phuc 25:18). Sau khi Môi-se truyền lịnh cho Giô-suê đánh lại dân A-ma-lét, ông đã cầu nguyện trên núi thay cho dân sự và Giô-suê đã giành thắng lợi rực rỡ. Đức Chúa Trời phán bảo Mê-si-a hãy ghi vào sử sách rằng Ngài đã tuyên chiến với dân A-ma-lét và rồi đây sẽ có ngày Ngài tuyệt diệt họ hoàn toàn vì những gì họ đã làm đối với dân sự Ngài. Môi-se nhắc người Y-sơ-ra-ên nhớ lại việc họ đã bị dân A-ma-lét xảo quyệt tấn công trước khi họ tiến vào Đất Hứa dạo ấy (Phuc 25:17-19).
Chính Sau-lơ, vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên là người đã được Đức Chúa Trời truyền lịnh hãy tiêu diệt dân A-ma-lét (ISa 15:1-35); nhưng Sau-lơ đã không hoàn thành được sứ mạng được giao và đánh mất luôn ngôi vị của mình. (Có một người A-ma-lét quả quyết rằng chính anh ta đã giết chết Sau-lơ tại chiến trường. xin xem IISa 1:1-10). Bởi vì Sau-lơ không chịu vâng lời Đức Chúa Trời tuyệt đối đã để cho một số người A-ma-lét sống; và một trong số những hậu duệ của số người A-la-lét sống sót đó chính là Ha-man, kẻ đã có dã tâm quyết tiêu diệt người Do-thái là kẻ thù xưa của dân tộc hắn.
Thật đáng lưu ý rằng vua Sau-lơ người Bên-gia-min đã thất bại vì không chịu tiêu diệt hết người A-ma-lét; còn Mạc-đô-chê cũng là người Bên-gia-min (Et 2:5) lại dám bước ra chiến trường đánh bại được Ha-man. Cũng thật đáng chú ý rằng thủ lĩnh xây dựng nên dân tộc A-ma-lét là một hậu tự của Ê-sau (Sa 36:12), và Ê-sau lại là kẻ thù của Gia-cốp em trai mình. Đây là giai đoạn hai của cuộc xung đột thuộc kỷ nguyên cũ giữa xác thịt và Đức Thánh Linh, giữa Sa-tan và Thượng Đế, giữa con đường đức tin và con đường thế gian.
Nói về con người Ha-man thì cái gì cũng thật là đáng ghét;bạn không thể tìm thấy ở hắn ta có lấy một điều gì đó đáng được ca ngợi. Đúng là như vậy, ở con người này điểm nào Đức Chúa Trời cũng gớm ghét cả!
“Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét, Và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc: Con mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, Tay làm đổ huyết vô tộ; Lòng toan những mưu ác, Chân vội vàng chạy đến sự dữ, Kẻ làm chứng gian và nói điều dố, Cùng kẻ gieo sự tranh cạnh trong vòng anh em” (Ch 6:16-19 NKJV).
Xin bạn hãy ghi nhớ kỹ 7 điều ác này để khi đọc sách Ê-xơ-tê, bạn sẽ thấy chúng được thể hiện trong con người tồi bại đó ra sao.
2. Quyền thế của Ha-man (Et 3:1b)
Vào khoảng giữa năm thứ 7 đến năm thứ 12 thời vua A-suê-ru trị vì (c.7; Et 2:16), nhà vua quyết định lập Ha-man lên làm quốc trưởng của quốc gia. Thử nghĩ xem: Mạc-đô-chê đã cứu mạng vua nhưng chẳng nhận được lời cảm ơn nào, lại không được ban thưởng gì; còn Ha-man độc ác kia chẳng làm được trò trống gì thì lại được thăng quan tiến chức! Trong cuộc sống, dường như có nhiều điều thật là bất công; tuy nhiên, Đức Chúa Trời biết rõ việc Ngài đang làm và Ngài sẽ không bao giờ rũ bỏ sự công bình Ngài, Ngài sẽ không để cho những con cái Ngài làm việc lành việc thiện mà lại không được thưởng công. (Thi 37).
Có lẽ Ha-man đã nhờ vào sự nịnh bợ mới tiến tới được địa vị mới đầy quyền lực này bởi vì hắn là loại người đó. Hắn là một kẻ kiêu căng ngạo mạn, mục đích của hắn là chiếm cho được quyền hành trong tay và muốn được người ta công nhận, trọng vọng. Như chúng ta đã thấy, vua A-suê-ru là một người yếu đuối, cả tin, dễ bị bốc đồng khi được nịnh hót, tâng bốc và lại có tính thích làm hài lòng người ta; vì thế Ha-man chẳng khó khăn gì khi tiến hành mưu toan của mình.
Một số sinh viên trường Kinh Thánh coi Ha-man là hình ảnh minh họa của “con người tội lỗi” là kẻ rồi đây sẽ có ngày xuất hiện thống trị trên loài người một cách tàn độc, vô nhân đạo (IITe 2:1-17; Kh 13:1-18). Ha-man được nhà vua ban cho chức quyền cao trọng, Sa-tan cũng sẽ ban quyền lực rất lớn cho kẻ thống trị thế giới độc ác này, và chúng ta gọi kẻ đó là Anti-Christ (Kh 13:2,4). Tương tự Ha-man căm ghét dân Do-thái và cố tìm cách tiêu diệt họ, Anti-Christ cũng sẽ dấy lên làn sóng bài xích Do-thái toàn cầu (Kh 12:13-17).
Ban đầu, nó làm bộ thân thiện với người Y-sơ-ra-ên và thậm chí nó còn kết hiệp ước bảo vệ họ nữa, nhưng rồi sau đó nó sẽ phá vỡ hiệp ước và chống lại dân tộc nào mà nó đã từng đồng ý giúp đỡ (Đa 9:24-27). Tương tự Ha-man cuối cùng đã bị đánh bại hoàn toàn và bị xử tội, thì Anti-Christ cũng sẽ bị Chúa Giê-xu Christ đánh thắng, chế ngự và bắt giam vào trong hồ lửa đời đời (Kh 19:11-20).
Đức Chúa Trời đ ể cho Ha-man được đề bạt vào địa vị cao như vậy bởi vì Ngài có mục đích cần được hoàn thành qua con người hắn. (Ro 9:17). Chúa luôn giữ lời hứa của Ngài một cách nghiêm túc và Ngài không bao giờ phá vỡ giao ước mà Ngài đã lập với dân sự. Bạn tôi là J. Vernon McGee từng nói thế này: “Con người đó vừa chú tâm nghĩ đến đám tang của một trong số các dân tộc và điều ấy sắp sửa tiêu diệt hắn ta”; và Ha-man không phải là sự ngoại lệ.
Những việc mà người ta dùng quyền hành của mình để thực hiện chính là sự trắc nghiệm bản chất họ. Họ đã dùng quyền hành của mình để tự thăng quan tiến chức cho chính mình hay là để giúp đỡ người khác? Họ thường làm vinh hiển bản thân họ hay họ làm vinh hiển Đức Chúa Trời? Đa-ni-ên được ban cho quyền cao chức trọng tương tự như Ha-man, thế nhưng ông đã dùng quyền hành của mình để tôn cao Đức Chúa Trời và giúp đỡ nhiều người khác (Đa 6:1-28). Dĩ nhiên, có sự khác nhau giữa Đa-ni-ên và Ha-man: Đa-ni-ên là người khiêm nhường đức độ của Đức Chúa Trời, còn Ha-man là một con người kiêu ngạo của thế gian.