...Giê-rô-bô-am I, là một người hành động, không phải là một nhà triết-học; ông là người đầu tiên được Sa-lô-môn chú ý vì ông bận rộn, có năng lực, đáng tin-cậy và làm việc hiệu quả (IVua 11:26-28). Ông là người lãnh đạo nhân dân lý tưởng, biết đấu tranh cho cuộc chiến của dân và bênh vực chính-nghĩa của họ. Hỏi ông về niềm tin riêng tư của mình nơi Đức Chúa Trời thì câu trả lời của ông hơi mơ hồ.
Ông đã sống ở Ai-cập khá lâu nên có sự khoan dung đối với việc thờ hình-tượng cũng như có sự hiểu biết về việc tôn-giáo có thể được sử dụng như thế nào để điều khiển người dân. Trong kỹ năng này, Giê-rô-bô-am giống với Nê-bu-cát-nết-sa (Đa 3:1-30), Hê-rốt Ạc-ríp-ba I (Công 12:19-25), và An-ti-Christ (Kh 13:1-18; Kh 17:1-18), và những kẻ mị dân gần đây nhất. Nhưng Giê-rô-bô-am đã phạm 3 lỗi nghiêm-trọng trong suốt 20 năm trị-vì của mình.
1. Ông không tin lời-hứa của Đức Chúa Trời (IVua 12:25-33)
Sự thành công trong cuộc đời tùy thuộc vào việc làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời và tin-cậy vào lời-hứa của Ngài, nhưng Giê-rô-bô-am đã thiếu cả 2 điều này.
Khi A-hi-gia nói với Giê-rô-bô-am thông-điệp của Đức Chúa Trời bảo-đảm cho ông ngôi vua của vương quốc Y-sơ-ra-ên (IVua 11:28-39), tiên-tri nói rõ rằng sự chia cắt về chính trị không cho phép sự xa rời tôn-giáo. Đức Chúa Trời có lẽ sẽ ban-cho Giê-rô-bô-am toàn vương quốc nếu Ngài không lập một giao-ước đời đời với Đa-vít bằng việc cho một trong những con cháu của ông ngồi trên ngai (IISa 7:1-17).
Điều này bảo vệ dòng dõi Đấng Mê-si-a để Đấng Cứu thế có thể đến thế-gian. Đức Chúa Trời cất 10 chi phái khỏi tay Rô-bô-am vì Rô-bô-am đã đi theo gương xấu của Sa-lô-môn và dẫn dân-sự vào việc thờ hình-tượng. Đây lẽ ra nên là lời cảnh-báo cho Giê-rô-bô-am phải trung thành với Đức Chúa Trời và tránh xa khỏi những thần-tượng hư-không. Đức Chúa Trời cũng hứa lập cho Giê-rô-bô-am “một nhà vững chắc” (một vương triều tiếp tục không ngừng) nếu ông vâng-lời Đức Chúa Trời và bước đi trong đường lối Ngài (c.38). Thật là một lời hứa tốt đẹp biết bao, nhưng Giê-rô-bô-am không thể tin nó.
•Sự sợ hãi (IVua 12:25-28).
Một trong những bằng-chứng đầu tiên của sự không tin là sự sợ hãi. Chúng ta rời mắt khỏi Đức Chúa Trời và bắt đầu nhìn vào hoàn cảnh. Chúa Giê-xu đã hỏi các môn-đồ của mình, “Hỡi kẻ ít đức-tin kia, cớ sao các ngươi sợ?”, (Mat 8:23-27) nhắc nhở họ rằng đức-tin và sự sợ hãi không thể cùng tồn tại lâu dài trong một tấm-lòng. Sự sợ hãi của Giê-rô-bô-am là vương quốc phía nam sẽ tấn công ông và dân-sự của ông sẽ lìa bỏ ông, trở về Giê-ru-sa-lem để thờ-phượng.
Luật pháp không chỉ quy định rằng đền thờ ở Giê-ru-sa-lem là nơi dâng của tế-lễ duy nhất (Phuc 12:1-32), nhưng còn ra lệnh tất cả người Do-thái phải đến Giê-ru-sa-lem mỗi năm 3 lần để giữ những kỳ lễ đã định (Xu 23:14-17). Điều gì sẽ xảy ra nếu người dân quyết định ở lại Giu-đa và không trở về Y-sơ-ra-ên? Thậm chí nếu họ quay trở về phía bắc sau khi đi thờ-phượng, họ có thể sống bao lâu với lòng trung-thành đã bị phân chia? Có lẽ Giê-rô-bô-am nhớ lại cảnh ngộ của người kế vị Sau-lơ, Ích-bô-sết, người đã cố gắng thống trị mười chi phái phía bắc nhưng đã thất bại và bị giết chết (IISa 4:1-12). Nếu trong Y-sơ-ra-ên đã từng có phong trào của người dân thống nhất hai vương quốc, Giê-rô-bô-am sẽ là người đáng chết.
•Sự an-ninh (c.25).
Giống như Sa-lô-môn (IVua 9:15-19; IVua 11:27) và Rô-bô-am (IISu 11:5-12), vua Giê-rô-bô-am củng cố thành phố thủ đô của mình (Si-chem) làm vững chắc những thành phố trọng yếu để chống lại bất kỳ kẻ xâm lăng nào. Phê-nu-ên (Phê-ni-ên) nằm ở phía đông sông Giô-đanh và nổi tiếng vì là nơi Gia-cốp vật lộn với thiên-sứ của Đức Chúa Trời (Sa 32:1-32).
Có vẻ như sau này Giê-rô-bô-am dời thủ đô của mình từ Si-chem về Tiệt-sa (IVua 14:17), ay có lẽ ông có một cung điện thứ hai ở đo. Thay vì tin-cậy vào Đức Chúa Trời như là cái khiên và người bảo vệ mình, Giê-rô-bô-am lại tin tưởng vào sự phòng thủ và chiến lược của riêng mình.
•Vật thay thế (IVua 12:26-33).
Giải pháp dễ dàng nhất cho vấn-đề của Rô-bô-am nhằm giữ lòng trung thành của dân sự ông là lập một trung tâm thờ-phượng cho họ trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên. Nhưng ông có quyền gì đặt ra một tôn-giáo đối địch khi người Do-thái đã nhận lãnh cách thức của sự thờ-phượng từ chính tay Đức Chúa Trời?
Chắc chắn ông không thể xây dựng một đền thờ cạnh tranh với đền thờ của Sa-lô-môn ở Giê-ru-sa-lem, hay viết một luật mới sánh được với những gì Môi-se đã nhận lãnh từ Đức Giê-hô-va, hoặc thiết lập một hệ-thống tế-lễ b ảo-đảm cho sự tha-tội. Ông không phải là Môi-se và chắc chắn ông cũng không thể tự xưng là Đức Chúa Trời!
Những gì Giê-rô-bô-am làm là lợi dụng xu hướng thích thờ hình-tượng của người Do-thái, sự thèm muốn của hầu hết người dân về một tôn-giáo tiện lợi, ít tốn kém, và gần với niềm tin cho phép được thoải mái với lương-tâm. Giê-rô-bô-am không bảo dân-sự quên Đức Giê-hô-va nhưng là thờ-phượng Ngài dưới hình một con bò vàng. Trong Ai-cập và đất Ca-na-an, nhà vua đã nhìn thấy những tượng trâu và bò được “dựng nên” và cho là dạng vô hình của các thần.
Trong những tôn-giáo đa thần mà Giê-rô-bô-am bắt chước, bò và trâu tượng-trưng cho sự sinh sản. Giê-rô-bô-am đã quay lưng lại với thông-điệp quan-trọng nhất được truyền-bảo tại núi Si-nai: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là một Đấng con người có thể nghe nhưng không thể nếm hay rờ. Nghe lời của Ngài là điều tạo nên đức-tin (Rô 10:17), và đức-tin giúp chúng ta vâng-lời. Nhưng nhiều người không muốn sống bởi đức-tin; họ muốn bước đi bằng việc nhìn thấy và làm hài lòng các giác quan của mình.
Những lời của Giê-rô-bô-am trong câu 28 cho thấy rằng con bò vàng của A-rôn (Xu 32:1-8) cũng có trong ý nghĩ của ông. Nhưng nhà vua bắt chước hay hơn: ông làm 2 con bò và đặt một con tại Bê-tên ở phía biên giới xa nhất về phía nam vương quốc, chỉ cách Giê-ru-sa-lem một quãng đường ngắn, và con bò kia đặt tại Đan ở biên giới xa nhất về phía bắc (Os 8:5-6; Os 13:2-3).
Việc thờ-phượng Đức Chúa Trời không thể nào dễ dàng hơn nữa! Nhà vua nói với dân-sự, “Các ngươi đi lên Giê-ru-sa-lem thật khó thay,” (c.28), và họ còn hơn việc sẵn lòng tin ông. Nhà vua xây những đền đài tại Bê-tên, Đan và cho phép dân-sự xây những nơi cao gần nhà họ hơn.
Bằng sự tán thành của mình, nhà vua lập nên một “tôn-giáo tự làm lấy” và giống như trong sách Các quan-xét, mọi người làm những điều họ cho là đúng (Cac 17:6 Cac 18:1; Cac 19:1; Cac 21:25). Nếu dân Ca-na-an và người Ai-cập có thể thờ-phượng con bò thì người Hê-bơ-rơ cũng vậy! Ông quên (Xu 20:1-3,22-23)_ nhưng Đức Chúa Trời không quên!
Một tôn-giáo cần những người hành-lễ vì thế Giê-rô-bô-am chọn tất cả mọi loại người vào chức “tế-lễ” tại bàn thờ ở Đan và Bê-tên (IVua 13:33-34; IISu 11:13-17). Yêu cầu duy nhất cho mỗi người là đem đến cho Giê-rô-bô-am một con bò đực tơ và 7 con chiên đực (IISu 13:9). Đức Chúa Trời đã phán rõ ràng khi Ngài ban luật-pháp cho Môi-se rằng chỉ có con trai A-rôn mới được phục-vụ như những thầy tế-lễ tại bàn thờ (Xu 28:1-5; Xu 29:1-9; Xu 40:12-16) và nếu người nào từ chi phái khác cố gắng làm điều này thì người đó sẽ bị chết (Dân 3:5-10,38; Dân 4:17-20; Dân 18:1-7).
Những thầy tế-lễ không được phép tại những đền thờ không bao giờ được đến với Đức Chúa Trời hay dâng của lễ có thể được Đức Chúa Trời chấp nhận. Đó là một tôn-giáo do con người tự tạo để làm hài lòng người dân, bảo vệ nhà vua, và thống nhất đất nước_trừ những người Lê-vi trung-thành đã rời bỏ vương quốc phía bắc và đến Giu-đa để thờ-phượng Đức Chúa Trời theo như những gì được dạy trong Kinh Thánh (IISu 11:13-17).
Luật-pháp Môi-se đòi hỏi người Do-thái phải kỷ niệm bảy kỳ lễ thánh đã định mỗi năm (Lê 23:1-44), vì thế Giê-rô-bô-am tự lập một kỳ lễ cho người dân ở vương quốc phía bắc. Lễ lều tạm được định vào tháng thứ bảy trong tròn một tuần lễ. Đây là một kỳ lễ vui-mừng khi dân-sự nhớ lại những năm trong đồng vắng phải sống trong lều tạm và kỷ niệm sự tốt lành của Đức Chúa Trời vì sự ban-cho vụ mùa thu hoạch.
Kỳ lễ của Giê-rô-bô-am được tổ chức vào tháng thứ tám như thế dân-sự có thể chọn họ sẽ tham gia lễ nào, điều này phân biệt được những người Do-thái trung thành khỏi những kẻ thờ-phượng giả mạo trong Y-sơ-ra-ên. Nhưng tại sao phải đi một quãng đường dài đến Giê-ru-sa-lem trong khi đến Bê-tên và Đan lại dễ hơn rất nhiều?
Cùng với việc dựng lên lịch, đền thờ, bàn thờ, và chức tế-lễ tôn-giáo của riêng mình, Giê-rô-bô-am còn tự phong mình là thầy tế-lễ (c.32-33)! Ông dâng hương và của tế-lễ giống như những thầy tế-lễ được phép làm trong đền thờ, ngoại trừ một điều là Đức Chúa Trời không bao giờ nhậm của lễ của ông. Của lễ trong ngày thứ 15 của tháng thứ tám có quan-hệ với kỳ lễ mà ông đã lập, và của lễ này có thể đã bắt chước ngày lễ chuộc-tội hằng năm. Ông đã có tất cả những thành tố cần thiết cho một “tôn-giáo” nhưng thiếu một điều rất quan-trọng_Giê-hô-va Đức Chúa Trời!
•Sự bội đạo.
Ngày nay chúng ta đang sống trong một thời đại khi mà “tôn-giáo công nghiệp” được phổ biến, tán thành và chấp nhận. Những nhà lãnh đạo mù quáng của những người mù quáng quả quyết rằng chúng ta sống trong một “xã hội đa nguyên” và không ai có quyền tự cho là chỉ có sự mặc-khải là thật và chỉ có một cách cứu-rỗi linh-hồn là đúng. “Những thầy tế-lễ” tự phong chức và những người hành lễ kết hợp thứ thần-học của riêng họ với nhau và mạo nhận nó là chân-lý.
Họ không mảy may quan-tâm đến những gì Kinh Thánh nói; thay vào đó, họ thay thế Lời không thay đổi và đầy cảm hứng của Đức Chúa Trời bằng “những lời giả dối” của họ (IIPhi 2:3), và nhiều người khờ dại sẽ bị những lời dối trá của họ lừa bịp và dẫn dụ (IIPhi 2:1-2). “Tôn-giáo” của Giê-rô-bô-am kết hợp chặt chẽ những yếu-tố từ luật-pháp Môi-se và từ những nước đa thần mà người Do-thái xâm chiếm. Hệ-thống của ông là cái ngày nay gọi là “chiết trung” (có chọn lọc) hay “thuyết hổ lốn” (kết hợp nhiều thứ), nhưng Đức Chúa Trời gọi nó là tà-giáo và sự bội-đạo. Khi tiên-tri Ê-sai đối diện với những tôn-giáo mới trong thời của mình, ông đã kêu gào, “Hãy theo luật-pháp và lời-chứng! Nếu dân chẳng nói như vậy chắc sẽ chẳng có rạng đông cho nó” (Ês 8:20).
Vì Giê-rô-bô-am không tin những lời hứa của Đức Chúa Trời phán bởi tiên-tri A-hi-gia, ông bắt đầu bước đi trong sự không tin và dẫn dân-sự vào tôn-giáo sai lệch. Tôn-giáo mà ông sáng tạo thì thoải mái, thu ận lợi và ít tốn kém, nhưng nó không được Đức Chúa Trời cho phép. Nó trái ngược với ý muốn của Đức Chúa Trời được bày-tỏ trong Kinh Thánh và nó sinh ra vì mục đích thống nhất vương quốc của Giê-rô-bô-am, không phải vì sự cứu-rỗi dân-sự và sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời. Nó là một tôn-giáo nhân tạo và Đức Chúa Trời hoàn toàn phản bác nó.
Nhiều thế kỷ sau, Chúa Giê-xu phán với người đàn bà Sa-ma-ri (vương quốc trước đây của Y-sơ-ra-ên) rằng “Các ngươi thờ-lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ-lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu-rỗi bởi người Giu-đa mà đến” (Gi 4:22) NASB). Khi Ngài tuyên-bố điều đó, Ngài hoàn toàn loại bỏ những tôn-giáo khác và khẳng định rằng con đường cứu-rỗi duy nhất đến từ người Do-thái. Chúa Giê-xu là người Do-thái và niềm tin Cơ-đốc đến từ tôn-giáo của người Do-thái. Mặc dù “xã hội đa nguyên” hiện đại của chúng ta, sứ-đồ Phi-e-rơ nói đúng: “Chẳng có sự cứu-rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, hẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (Công 4:12 NASB).
2. Ông không để ý lời cảnh-cáo của Đức Chúa Trời (IVua 13:1-34)
Đoạn Kinh Thánh dài này không phải nói về vị tiên-tri trẻ và tiên-tri già; nó nói về vua Giê-rô-bô-am và tội-lỗi của ông. Chức-vụ của vị tiên-tri trẻ trong đoạn này rất quan-trọng, vì tất cả những gì ông nói và kinh-nghiệm, bao gồm cái chết của ông, là một phần trong lời cảnh-cáo của Đức Chúa Trời dành cho Giê-rô-bô-am. Theo câu 33, nhà vua không xây bỏ Đức Chúa Trời: “Sau việc ấy, Giê-rô-bô-am không trở lại con đường ác mình”. Trong đoạn này, vị tiên-tri chết, nhưng trong đoạn tiếp theo, thái tử chết! Rõ ràng, Đ ức Chúa Trời đang cố gắng thu hút sự chú ý của Giê-rô-bô-am.
•Thông-điệp (IVua 13:1-2).
Vị tiên-tri vô danh đến từ Giu-đa vì tại đó vẫn còn những đầy-tớ trung-thành Đức Chúa Trời có thể dùng được. Ông gặp Giê-rô-bô-am tại điện thờ ở Bê-tên, nơi rốt cuộc trở thành “nơi thánh của vua” (Am 7:10-12). Khi bạn tự tạo ra một tôn-giáo của riêng mình, như Giê-rô-bô-am đã làm, bạn có thể làm bất cứ điều gì bạn muốn, và Giê-rô-bô-am chọn trở thành một thầy tế-lễ cũng như một nhà vua. Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên là những thầy tế lễ được gọi là những nhà tiên-tri, nhưng luật-pháp Môi-se không cho phép nhà vua phục-vụ như là thầy tế-lễ (IISu 26:16-23).
Chúa Giê-xu là vị Vua duy nhất cũng là thầy Tế-Lễ (Hêb 7:1-8:13), những người tin Chúa là “vua và thầy tế-lễ” (Kh 1:6) và là “chức tế-lễ nhà vua” (IPhi 2:9). “Chức thầy tế-lễ” của Giê-rô-bô-am là giả mạo và bị Đức Chúa Trời bác bỏ. Đó có thể là lý-do tại sao vị tiên-tri vô danh đến từ Giu-đa truyền thông-điệp của mình khi nhà vua đang ở tại bàn thờ.
Vị tiên-tri nói với bàn thờ, không phải với nhà vua, như thể là Đức Chúa Trời không còn muốn nói với Giê-rô-bô-am, một người quá bận rộn với chính mình và kế hoạch của mình đến nỗi không có thời gian để lắng nghe Đức Chúa Trời. Thông-điệp tuyên-bố rằng tương lai ở với nhà Đa-vít, không phải với nhà Giê-rô-bô-am.
Bởi vì đường lối ác của Giê-rô-bô-am, vương quốc Y-sơ-ra-ên trở nên quá ô uế với sự thờ-lạy thần-tượng và tội lỗi đi kèm với nó đến nỗi vương quốc sẽ bị tiêu diệt trong vòng 2 thế kỷ. Vào năm 722, quân Sy-ri bắt Y-sơ-ra-ên và 10 chi phái phía bắc đi lưu-đày. Vương triều Đa-vít tiếp tục đến đời trị-vì của Sê-đê-kia (597-586). Ông là vị vua cuối cùng của Giu-đa cho đến khi quân Ba-by-lôn chinh-phục Giê-ru-sa-lem vào năm 586.
Thông-điệp của vị tiên-tri nói trước về 300 năm sau vào thời trị-vì của vị vua yêu mến Chúa: Giô-si-a (640-609), người đã dẹp bỏ tận gốc sự thờ hình-tượng trong vương quốc, bao gồm cả điện thờ của nhà vua ở Bê-tên (IIVua 23:15-16). Giô-si-a làm bàn thờ mất tính thiêng-liêng bằng việc đốt xương người trên đó, và sau đó ông triệt hạ bàn thờ và đổ tro xuống đất. Lời tiên-tri được ứng-nghiệm đúng như những gì vị tiên-tri nói. Lời-hứa này chắc chắn đến nỗi vị tiên-tri đã nói cả tên của nhà vua! (Ês 44:28; Ês 45:1,13).
•Phép-lạ (IVua 13:4-6).
Nhà vua không để ý đến thông-điệp từ Đức Chúa Trời; những gì ông muốn là trừng-trị kẻ mang đến thông-điệp đó. Ông rất tức giận khi nghe rằng một vị vua của Giu-đa một ngày kia sẽ mạo-phạm và dẹp bỏ hệ-thống tôn-giáo đang thành công của ông. Khi Giê-rô-bô-am giơ tay ra và chỉ vào vị tiên-tri, Đức Chúa Trời đụng vào tay ông và nó bị đột qụy. Thật là một kinh-nghiệm nhục nhã cho một vị vua kiêm thầy tế-lễ đầy quyền lực! Vào lúc đó, bàn thờ tà-thần nứt ra và tro trên đó đổ xuống. Thường Đức Chúa Trời minh-chứng cho Lời của Ngài bằng những dấu-hiệu kỳ-lạ (Hêb 2:1-4;) nhưng chỉ để nhấn mạnh thêm cho thông-điệp.
Mặc dầu sự kiêu-hãnh ngoan-cố và sự không vâng-lời bướng bỉnh, Đức Chúa Trời vẫn nhân-từ chữa lành cánh tay cho ông. (Xu 8:8; Công 8:24). Tệ hơn là nhà vua chỉ quan tâm đến sự chữa lành thuộc thể cho thân thể ông hơn là sự chữa lành về đạo đức và thuộc-linh cho tấm-lòng mình.
Nhà vua chứng-kiến 3 phép-lạ chỉ trong vòng vài phút, nhưng không có bằng-chứng nào cho thấy ông nhận ra được tội-lỗi của mình. Bản thân những phép-lạ không đem đến sự nhận-thức tội-lỗi hay cứu-rỗi đức-tin, nhưng chúng gây sự chú ý đến Lời Đức Chúa Trời. Khi Chúa Giê-xu gọi La-xa-rơ từ sự chết, một vài người chứng-kiến đã tin Ngài trong khi một số khác đến ngay những nhà lãnh đ ạo Do-thái và dựng chuyện (Gi 11:45-54).
Phép lạ không cần thiết cho sự truyền bá Phúc-Âm (Gi 10:40-42), và những người nói rằng họ tin Chúa chỉ bởi vì phép-lạ của Ngài thật sự là “những người tin không được cứu” (Gi 2:23-25).
•Thủ đoạn (IVua 13:7-10).
Giê-rô-bô-am là người khôn-lanh và cố gắng gài bẫy vị tiên-tri bằng cách mời ông đến cung điện dùng bữa. Sa-tan đến như sư tử ăn nuốt chúng ta (IPhi 5:8) và khi không làm được điều đó nó đến như con rắn để lừa gạt chúng ta (IICôr 11:3 Sa 3:1).
Nhà vua vừa mới nói “Hãy bắt nó đi” bây giờ thành “Hãy về cung với ta”. Nhưng vị tiên-tri từ chối, vì ông biết mạng-lệnh của Đức Chúa Trời cho ông là phải rời khỏi Bê-tên và không được lưu lại. Nếu vị tiên-tri cùng ăn một bữa với nhà vua, chỉ hành động đơn giản đó sẽ xóa đi hiệu lực của lời chứng và công việc của ông.
Ở phương đông, việc dùng bữa chung là biểu hiện của tình bạn và sự tán thành. Vị tiên-tri chắc chắn không muốn trở thành bạn của một người gian ác như vậy hay gây cho người khác ấn-tượng rằng mình đang tán thành công việc xấu xa của người đó.
“Người công-bình xiêu tó trước mặt kẻ gian ác khác nào một suối nước bị dấy đục, một nguồn nước bị hư” (Ch 25:26). Một người đầy-tớ thỏa-hiệp của Đức Chúa Trời làm vẩn đục nước và từ chối sự thánh-khiết. Vị tiên-tri từ chối tình bạn, thức ăn và tặng phẩn của nhà vua. Giống như Đa-ni-ên, ông nói “Vua hãy giữ lại của ban thưởng, và lễ vật vua hãy ban cho kẻ khác” (Đa 5:17).
•Lỗi lầm (IVua 13:11-34).
Vị tiên-tri trung-thành từ Giu-đa không thể bị nhà vua gian ác phỉnh gạt nhưng ông lại bị một vị tiên-tri già đã nghỉ hưu lừa gạt! Câu chuyện này bày tỏ một số điều làm nhiều người bối rối, nhưng chúng ta không thể quên thông-điệp chính: nếu Đức Chúa Trời trừng-phạt một vị tiên-tri phạm-tội bất-tuân vì bị lừa gạt thì Ngài sẽ trừng-phạt hơn như thế nào đối với một vị vua gian ác đang phạm-tội với đôi m ắt mở to? Nếu một vị tiên-tri thật sự bất-tuân và bị kỷ-luật, điều gì sẽ xảy ra với những vị tiên-tri giả?
Vị tiên-tri từ Giu-đa không thỏa-hiệp trong thông-điệp của mình, nhưng ông đã thỏa-hiệp trong cách cư-xử, và ông phải trả giá cho sự không vâng-lời bằng chính mạng sống của mình. Đức Chúa Trời đang phán với Giê-rô-bô-am, “Lại nếu người công-bình còn khó được rỗi thì những kẻ nghịch đạo và có tội sẽ trở nên thế nào?” (IPhi 4:18 Ch 11:31).
Có một số đặc-điểm của vị tiên-tri già làm tôi băn khoăn. Đầu tiên, ông làm gì khi sống ở Bê-tên khi mà chỉ cần đi vài dặm ông có thể ở Giu-đa? Chúng ta có ấn-tượng rằng vị tiên-tri này không chính xác là một người phi thường về mặt thuộc-linh nếu không thì Đức Chúa Trời đã gọi ông vào việc quở trách nhà vua. Việc ông nói dối vị tiên-tri đồng bạn đặt ra một số câu hỏi về nhân-cách của ông.
Việc ông khóc than cái chết của vị tiên-tri trẻ khi chính ông gián tiếp gây ra điều này, và việc ông sau đó chôn người mà chính ông gián tiếp giết cũng làm cho chúng ta bối rối. Có phải ông đang cố gắng chuộc tội-lỗi của chính ông đối với vị tiên-tri?
Vị tiên-tri trẻ làm tốt công việc của mình và rời khỏi thành. Nếu ông cứ tiếp tục đi và không dừng lại nghỉ dưới gốc cây thì ông sẽ thoát được khỏi lời mời cám-dỗ của vị tiên-tri già. Những đầy-tớ của Đức Chúa Trời thường đối diện với sự cám-dỗ to lớn sau những thời gian thành công rực rỡ và sôi nổi. (IVua 18:1-19:21). Con trai của vị tiên-tri già chứng-kiến sự đối đầu giữa Giê-rô-bô-am với vị tiên-tri trẻ tại bàn thờ và kể lại cho cha mình nghe những gì vị tiên-tri từ Giu-đa đã nói về nhà vua và về mạng-lệnh của Đức Chúa Trời đối với ông (c.8-10).
Khi vị tiên-tri già bắt kịp người truyền thông-điệp của Đức Chúa Trời, ông cố ý cám-dỗ người bất-tuân mạng-lệnh của Đức Chúa Trời, và người trẻ tuổi này đã rơi vào bẫy! Vị tiên-tri già lẽ ra không nên xúi giục một đầy-tớ đồng chức-vụ với mình bất-tuân lời Đức Chúa Trời, nhưng vị tiên-tri trẻ lẽ ra cũng không nên vội tin lời của người này. Nếu Đức Chúa Trời đã phán với người từ Giu-đa thông-điệp của Ngài và những chỉ thị để truyền-rao điều đó thì sau đó Ngài cũng sẽ cho ông biết những thay đổi trong kế hoạch.
Khi một người bị xáo động về tình cảm nói với Charles Spurgeon rằng Đức Chúa Trời đã bảo ông hãy giảng-thuyết cho Spurgeon vào Chúa-nhật tới tại Metropolitan Tabernacle, Spurgeon trả lời rằng “Khi nào Đức Chúa Trời bảo tôi, tôi sẽ cho ông biết.” Những người tin Chúa khác có thể dùng lời Chúa để khích-lệ, cảnh-cáo, hay sửa dạy chúng ta, nhưng hãy cẩn thận trong việc để cho người khác nói với bạn về ý muốn của Đức Chúa Trời cho cuộc đời bạn. Đức Chúa Cha yêu mỗi một người con của Ngài và muốn truyền-đạt ý muốn của Ngài cho mỗi người cách cá nhân (Thi 33:11). Đúng là có sự an-toàn giữa vô số những người cố vấn, miễn là bạn bước đi với Đức Chúa Trời, nhưng không chắc chắn rằng bạn có được ý muốn của Đức Chúa Trời chỉ bởi vì cả một đám đông ủng hộ điều đó.
Vì vị tiên-tri già biết được những gì vị tiên-tri từ Giu-đa có nhiệm-vụ phải làm, tại sao ông cố ý nói dối người và khuyến-khích người không vâng-lời Đức Chúa Trời? Có phải vị tiên-tri già lo lắng rằng vị tiên-tri đến thăm sẽ khuấy động mọi sự tại nơi Bê-tên dễ chịu và tạo ra vấn-đề cho ông cùng những kẻ thỏa-hiệp đang thỏa-mãn khác? Có lẽ vị tiên-tri trẻ đang tự hào về những gì ông đã làm là truyền-dạy một thông-điệp đầy quyền-năng và thực hiện 3 phép-lạ, và Đức Chúa Trời dùng người già này để thử ông và đem ông trở lại nơi cần thiết.
Vị tiên-tri già đã cám-dỗ vị tiên-tri trẻ bằng việc nói dối, nhưng vị tiên-tri trẻ đã tự cám-dỗ chính mình (ông đã ở ngoài ý muốn của Đức Chúa Trời) và cám dỗ Đức Chúa Trời bằng việc quay trở lại Bê-tên. Tại sao vị khách trẻ không tìm kiếm mặt Đức Chúa Trời và khám phá ra ý muốn của Ngài? Đoạn Kinh Thánh này chỉ kể cho chúng ta về những sự-kiện, không phải về những động-cơ trong lòng của mỗi người trong cuộc, vì thể chúng ta không thể trả lời những câu hỏi này một cách dứt khoát đư ợc.
Một trong những sự-kiện lạ nhất của tất cả những điều này là Đức Chúa Trời đã phán Lời của Ngài cho vị tiên-tri già, người đã ở ngoài ý muốn của Ngài! Nhưng Đức Chúa Trời đã phán với Ba-la-am, một người chưa hẳn là tách biệt hay tận hiến cho Đức Chúa Trời; cũng như Ngài đã phán với Ê-li (IVua 18:1-46) và Giô-na (Gion 3:1-4:11). Sau bữa ăn, vị tiên-tri trẻ trở về nhà, trên đường gặp một con sư tử và bị nó giết. Nhưng ngay cả sự-kiện này cũng có khía cạnh lạ-thường vì con sư tử không cắn xé xác người hay tấn công con lừa và con lừa cũng không bỏ chạy.
Những con vật này ắt hẳn đã ở đó rất lâu vì những người chứng kiến đã kể lại chuyện này trong Bê-tên và người ta đến để xem cảnh-tượng này, bao gồm cả vị tiên-tri già đến mang xác đi đem chôn. Chắc chắn những tin tức này bay đến cung điện và có lẽ nhà vua vui mừng vì kẻ thù của mình đã chết. Nhưng những lời của vị tiên-tri sẽ không chết! Và chính cái chết của vị tiên-tri là một lời cảnh-cáo khác cho Giê-rô-bô-am rằng ông nên bắt đầu vâng-phục Lời của Đức Chúa Trời.
Vị tiên-tri già ắt hẳn đã lấy lại được can-đảm, vì ông công-khai tuyên-bố rằng lời tiên-tri được nói tại bàn thờ ở Bê-tên sẽ ứng-nghiệm (c.31-32) và nó đã ứng-nghiệm (IIVua 23:15-18). 300 năm sau, vua Giô-si-a nhìn thấy mộ của vị tiên-tri già và lấy hết can-đảm tin rằng Đức Chúa Trời sẽ làm thành Lời của Ngài. Nhưng có điều gì trong những sự-kiện lạ-thường này làm thức-tỉnh tấm-lòng của vua Giê-rô-bô-am và đem ông đến chỗ ăn-năn? “Sau việc ấy, Giê-rô-bô-am không trở lại con đường ác mình” (c.33). Tuy nhiên, lời cảnh-cáo tiếp theo của Đức Chúa Trời sẽ đến gần nhà hơn.
3. Ông không nhận sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời (IVua 14:1-20)
Chúng ta không đọc thấy trong Kinh Thánh rằng Giê-rô-bô-am tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời, cầu-nguyện cho sự nhận-thức rõ ràng về mặt thuộc-linh, hay cầu-xin Đức Chúa Trời khiến ông trở nên một người tin-kính Ngài. Ông cầu-xin sự chữa lành đôi tay, bây giờ ông cầu-xin tiên-tri A-hi-gia chữa bệnh cho con trai mình là thái tử và người kế vị.
Rõ ràng đối với ông những phước hạnh thuộc thể quan trọng hơn những phước hạnh thuộc-linh. Giống như những tín-hữu danh-nghĩa và những thành-viên cẩu thả của Hội thánh ngày nay, lần duy nhất Giê-rô-bô-am muốn người của Đức Chúa Trời giúp đỡ là khi ông gặp vấn-đề.
•Người vợ giả dạng (IVua 14:1-3).
Vào lúc ấy A-bi-gia không còn là một đứa trẻ nhỏ. Ông đủ lớn để được Đức Chúa Trời chấp nhận (c.13) và được dân-sự đánh giá cao, vì họ than khóc ông khi ông chết (c.18). Rất có thể những người tin-kính Chúa còn sót lại trong Y-sơ-ra-ên đặt hy-vọng vào vị thái tử trẻ tuổi, nhưng Đức Chúa Trời đã xét-đoán gia đình hoàng gia và những cư-dân bội đạo bằng cách kêu-gọi thái tử tránh xa nơi ô uế trụy lạc được gọi là Y-sơ-ra-ên.
“Người công-bình chết chẳng ai để ý đến; người nhân đức bị cất đi, hẳng ai suy nghĩ rằng người công-bình bị cất đi khỏi tai vạ hầu đến” (Ês 57:1).
Nhà vua muốn sự giúp đỡ từ vị tiên-tri, nhưng ông quá kiêu hãnh để thừa nhận điều đó hay đích thân đối diện với A-hi-gia. Vị tiên-tri vẫn sống tại Si-lô (IVua 11:29). Ông quá già và ốm yếu để dời đến sống tại Giu-đa, ông muốn trung-thành đến phút cuối và cảnh-báo Giê-rô-bô-am về hậu quả tội-lỗi của ông.
Có phải nhà vua đã nghĩ rằng một sự cải trang sẽ đánh lừa được vị tiên-tri tin kính Chúa nhưng mù lòa? Trong sự mù lòa của mình A-hi-gia có thể thấy nhiều hơn Giê-rô-bô-am và vợ của ông có thể thấy bằng mắt mình. Những vật phẩm mà hoàng hậu mang đi là những thứ rất thông thường của người lao động, không phải là những vật phẩm mà nhà vua thường tặng.
•Vị tiên-tri sâu sắc (IVua 14:4-6).
Từ Tiệt-sa đến Si-lô mất khoảng 20 dặm, nhưng vị tiên-tri biết bà đang đến trước khi bà đến thành phố. Vị tiên-tri lớn tuổi biết ai đang đến, tại sao bà đến và ông phải có nhiệm-vụ nói với bà điều gì.
“Đức Giê-hô-va tỏ cho người kính-sợ Ngài biết sự kín-nhiệm của Ngài” (Thi 25:14).
“Cũng vậy, Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín-nhiệm Ngài ra trước cho tôi-tớ Ngài là, các đấng tiên-tri” (Am 3:7).
Giê-rô-bô-am sai vợ mình đến A-hi-gia, nhưng A-hi-gia lại nói rằng ông được sai đến bà! Ông truyền cho bà thông-điệp bà sẽ nói với chồng mình và nó không phải là một thông-điệp tốt lành.
•Thông-điệp được bày-tỏ (IVua 14:7-16).
Đầu tiên, vị tiên-tri nhắc Giê-rô-bô-am nhớ về ân-điển của Đức Chúa Trời trong quá-khứ (c.7-8a). Đức Chúa Trời đã chọn Giê-rô-bô-am và cất nhắc ông từ một người lãnh đạo địa hạt lên thành người cai quản toàn vương quốc phía bắc. c.7 Đức Chúa Trời đã giật mười chi phái khỏi tay nhà Đa-vít và ban chúng cho Giê-rô-bô-am. Nhưng sau đó A-hi-gia phơi-bày tội-lỗi của Giê-rô-bô-am trong hiện tại (c.8b-9).
Không giống như Đa-vít, người đã tận hiến trọn cả tấm-lòng cho Đức Chúa Trời, Giê-rô-bô-am làm điều ác hơn cả điều ác của Sau-lơ, Đa-vít và Sa-lô-môn cộng lại. Ông xây bỏ Đức Chúa Trời chân-thật của Y-sơ-ra-ên và làm những thần-tượng giả dối, sau đó cho phép dân-sự của 10 chi phái thờ-phượng những thần-tượng này. Ông lập ra một tôn-giáo giả mạo, chọc giận Đức Chúa Trời, và từ chối lắng nghe những vị tiên-tri được phái đến để cảnh-cáo ông.
Điều này dẫn đến sự bày-tỏ của A-hi-gia về tương lai của Giê-rô-bô-am (c.10-16). Đầu tiên, không giống như vua Đa-vít, Giê-rô-bô-am sẽ không thiết lập một vương triều, mặc dù Đức Chúa Trời đã hứa chúc phước cho ông bằng “một nhà vững chắc” nếu ông vâng-lời Đức Chúa Trời (IVua 11:38).
Tất cả những con cháu trai của Giê-rô-bô-am sẽ bị chết đột ngột; Đức Chúa Trời sẽ “quét sạch” gia đình Giê-rô-bô-am và cất đi những người thừa kế có khả năng, giống như cách đầy-tớ dọn phân trong nhà. (Đức Chúa Trời không nghĩ nhiều đến những đứa con của vua!). Nhưng tệ hơn nữa không một ai trong số họ trừ A-bi-gia, vị thái tử ốm yếu có được một sự chôn cất đàng hoàng. Những xác chết của các con ông sẽ bị chó trong thành ăn nuốt và chim ngoài đồng cắn rỉa, không bao giờ được chôn cất. Đây là một sự nhục nhã ghê gớm cho bất kỳ người Do-thái nào.
Sau đó A-hi-gia nói đến việc sắp xảy ra, tương lai của người kế vị ngai vàng đang đau bệnh. A-bi-gia sẽ chết, có sự chôn cất đàng hoàng và được dân-sự than khóc.
Con trai duy nhất của Giê-rô-bô-am độc ác, người có thể cai trị đúng đắn đã bị cất khỏi họ, không phải vì ông độc ác nhưng vì ông là người tốt và Đức Chúa Trời muốn miễn cho ông khỏi sự đau khổ đã dành cho vương quốc (Ês 57:1).
Trong khi A-hi-gia nói tiên-tri (c.14), ông nhìn thấy Na-đáp là con trai và người kế vị của Giê-rô-bô-am sẽ trị-vì được 2 năm và sau đó bị Ba-ê-sa, một người về nhà Y-sa-ca giết chết (IVua 15:25-31). Ba-ê-sa không chỉ giết Na-đáp, nhưng ông tiêu diệt hết thảy gia đình của Giê-rô-bô-am, làm thành lời tiên-tri của A-hi-gia (IVua 15:29).
Nhưng sau đó vị tiên-tri mù còn nói tiên-tri về những điều xảy ra xa hơn nữa (c.15-16) và nhìn thấy toàn vương quốc Y-sơ-ra-ên bị kẻ thù đánh bại (A-si-ri) bị đem đi khỏi xứ, và bị phân tán khắp các nước. Điều này xảy ra vào năm 722 T.C. Vương quốc Y-sơ-ra-ên có một hệ-thống tôn-giáo mới nhưng họ vẫn ở dưới giao-ước của Đức Chúa Trời (Lê 26:1-46; Phuc 28:1-30:20).
Giao-ước đó cảnh-báo rằng sự bất-tuân của họ đối với luật-pháp của Đức Chúa Trời sẽ đem đến sự thất bại về quân sự và sự phân tán đất nước giữa vòng những nước khác (Phuc 28:25-26,49-52; Lê 26:17,25,33-39) và (Phuc 7:5 12:3-4). Đâu là nguyên nhân gây ra sự đoán-phạt khủng khiếp này? “Vì cớ tội Giê-rô-bô-am đã phạm, tức tội khiến cho dân Y-sơ-ra-ên can phạm” (c.16).
Như vua Đa-vít là chuẩn mực của Đức Chúa Trời để đo lường những vị vua tốt thì Giê-rô-bô-am là thí-dụ của Đức Chúa Trời về một trong những vị vua tệ nhất. (IVua 15:34; IVua 16:2-3,7,9,26,31; IVua 22:52; IIVua 3:3; IIVua 9:9; IIVua 10:29,31; IIVua 13:2,6,11; IIVua 14:24; IIVua 15:9,18,24,28;IIVua 17:21-22).
• Sự thi hành đau đớn (IVua 14:17-20).
Rõ ràng Giê-rô-bô-am có một cung điện ở Tiệt-sa và một cung điện ở Si-chem ắt hẳn nó ở ngoài bìa thành. A-hi-gia đã báo cho vợ Giê-rô-bô-am biết rằng đứa trẻ sẽ chết ngay khi bà vào thành (c.12), nhưng câu 17 cho biết nó chết khi bà đặt chân trên ngạch cửa.
Toàn Y-sơ-ra-ên khóc than cái chết của người con trai này và họ tổ chức một đám tang xứng đáng với một thái tử cho ông. Tay của nhà vua đã được chữa lành và bàn thờ của ông bị phá đổ (IVua 13:1-16), và bây giờ con trai ông chết. Quân đội của ông sẽ bị vua Giu-đa cũng tên là A-bi-gia (IISu 13:1-22) đánh bại. Trước khi ông ăn-năn, đã bao nhiêu lần Đức Chúa Trời phải cảnh-cáo ông?
Không ai có thể phạm tội giống như Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát. Trong suốt 22 năm làm vua Y-sơ-ra-ên, ông dẫn gia đình và đất nước vào sự suy đồi. Một ngày nào đó Giê-rô-bô-am qua đời và con trai ông là Na-đáp, người sau này bị ám sát sẽ kế vị ông. Ngày đó đến thì không có một con cháu nào của vua Giê-rô-bô-am còn sống hay bạn có thể nhận ra được 10 chi phái của Y-sơ-ra-ên.
“Tôi thật sự lo sợ cho đất nước tôi khi tôi ngẫm nghĩ rằng Đức Chúa Trời rất công-bình; rằng sự công-bình của Ngài không thể ngủ yên mãi mãi…”, Homas Jefferson đã viết những lời này vào năm 1781, nhưng chúng cũng thích hợp với chúng ta ngày nay.
IVua 14:21-31 xem giải nghĩa IVua 12:18-24.
9. CUỘC DIỄU HÀNH CỦA CÁC VỊ VUA (IVua 15:1-16:28; IISu 13:1-16:3)
Nếu không phải do bàn tay tể-trị của Đức Chúa Trời tối cao, nước Do-thái không bao giờ có thể hoàn thành những gì Đức Chúa Trời kêu gọi họ làm: làm nhân-chứng cho một Đức Chúa Trời hằng sống và có thực, viết Kinh Thánh và đem Chúa Cứu Thế đến thế-gian. Thay vì một thì bây giờ có 2 vương quốc và những người lãnh đạo cùng người dân thường trong cả 2 vương quốc đã rời bỏ Đức Chúa Trời để phục-vụ thần-tượng.
Ở Giu-đa, những thầy tế-lễ vẫn tiếp tục công việc của mình tại đền thờ, nhưng trong suốt 345 năm từ đời Giê-rô-bô-am đến đời Sê-đê-kia chỉ có tám trong số 19 vua Giu-đa được kể là “tốt”. Hầu hết trong số 20 vị vua của Y-sơ-ra-ên là những người tự lợi, được kể là “gian ác”. Một số người tốt hơn những người khác, nhưng không ai có thể so sánh với vua Đa-vít.
Lưu ý rằng sách Các-vua và Sử-ký không ghi lại lịch-sử chính xác từ cùng một viễn cảnh. Trong sách I Các-vua và II Các-vua, trọng tâm là về những vị vua của Y-sơ-ra-ên, nhưng I Sử-ký và II Sử-ký nhấn mạnh về vương triều của nhà Đa-vít trong Giu-đa. Vương quốc phía bắc của Y-sơ-ra-ên, sau này gọi là Sa-ma-ri, chỉ được nói đến trong Sử ký khi nó có quan-hệ với Giu-đa.
Một điều nên nhớ nữa là 2 vương quốc sử dụng những hệ-thống khác nhau trong việc lưu giữ văn thư chính thức. Tại Giu-đa, đời trị-vì của nhà vua được tính từ lúc bắt đầu niên lịch kế tiếp sau khi ông bắt đầu trị-vì, trong khi tại Y-sơ-ra-ên, việc tính này bắt đầu vào năm nhà vua thật sự lên ngôi. Ngoài ra, một số vị vua dùng con trai mình làm người cùng nhiếp chính trong những năm cuối đời trị-vì của họ.
Những yếu tố này làm cho việc tính toán một số vị vua trị-vì trong bao lâu trở nên phức tạp, và điều này giúp chúng ta hiểu tại sao những nhà nghiên-cứu Kinh Thánh lúc nào cũng không thống nhất với nhau.
1. Một vương triều tiếp tục (IVua 15:1-24) (IISu 13:1-16:13)
Vương quốc phía bắc của Y-sơ-ra-ên có 9 vương triều trong khoảng 250 năm, trong khi vương quốc phía nam trung thành giữ vững vương triều Đa-vít trong 350 năm và từ vương triều đó mà Chúa Giê-xu Christ, con trai của Đa-vít sẽ đến (Mat 1:1).
Mặc cho tất cả những tội-lỗi của mình, vương quốc Giu-đa vẫn gắn liền vận-mệnh của mình với Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật, thực hành sự thờ-phượng được cho phép trong đền thờ, và có những vị vua thuộc gia đình Đa-vít. Hai trong số những vị vua đó được kể tên trong những đoạn này là A-bi-gia và A-sa.
•A-bi-gia (IVua 15:1-8; IISu 13:1-22).
Người con trai này của Rô-bô-am được cha mình chọn lựa kỹ lưỡng vì những khả năng đã được chứng-tỏ của ông (IISu 11:22), hưng ông không phải là một người kính-sợ Chúa (IISu 15:3). Ông chỉ trị-vì trong 3 năm trong khoảng 913-910 T.C.
Ông là dòng dõi nhà Đa-vít từ cả cha lẫn mẹ, vì người con trai đáng hổ thẹn của Đa-vít là Áp-sa-lôm chính là ông ngoại của A-bi-gia. A-bi-gia có lẽ có dòng máu của Đa-vít chảy trong người, nhưng ông không có trái tim hoàn hảo của Đa-vít đập trong ngực. Cha của A-bi-gia là Rô-bô-am vẫn không từ bỏ cuộc chiến tranh liên tiếp với Giê-rô-bô-am, và A-bi-gia tiếp tục truyền-thống đó.
Tuy nhiên, A-bi-gia biết lịch-sử của mình và tin vào những điều Đức Chúa Trời đã phán với Môi-se và Đa-vít. Ông có can-đảm giảng thuyết một bài cho Giê-rô-bô-am và đội quân gồm 800.000 người của ông đông gấp hai lần đội quân của Giu-đa, nhắc nhở họ về nền tảng chân thật của niềm tin của người Do-thái (IISu 13:4).
Ông đứng trên núi Xê-ma-ra-im, một nơi cao nằm ở biên giới giữa Bê-gia-min và Y-sơ-ra-ên (Gios 18:22) và giảng thuyết. Ông mở đầu bài giảng-thuyết của mình bằng việc nhắc Giê-rô-bô-am nhớ rằng dòng dõi Đa-vít mới chính là vương triều hoàng gia thật sự vì được khởi đầu bởi giao-ước không hề thay đổi của Đức Chúa Trời với Đa-vít (c.4-5 IISa 7:1-29). Cụm từ “giao-ước bằng muối” có nghĩa là “một giao-ước đời-đời” (Dan 18:9).
Đưa ra lý lẽ trước về việc Đức Chúa Trời cũng lập Giê-rô-bô-am làm vua, A-bi-gia giải thích tại sao đất nước bị phân chia (IISu 13:6-7). Giê-rô-bô-am đã nổi loạn chống lại cả Sa-lô-môn và Rô-bô-am rồi phải chạy trốn sang Ai-cập. Sau đó, Rô-bô-am vì còn non nớt nên nghe theo những kẻ cố-vấn không khôn-ngoan và đã có một quyết định dại dột dẫn đến việc Giê-rô-bô-am trở thành vua. Nhưng kế hoạch ban đầu của Đức Chúa Trời là dòng dõi Đa-vít sẽ trị-vì một vương quốc thống nhất. ISử-ký và IISử-ký nhấn mạnh trên tính chính thống của vương triều Đa-vít (ISu 17:14; ISu 28:5; ISu 29:11,23; IISu 9:8).
Kết thúc vấn-đề về việc các con trai Đa-vít nên ngồi trên ngai vàng, A-bi-gia nhắc nhở Giê-rô-bô-am rằng chỉ có những con trai của A-rôn mới có thể phục-vụ trong đền thờ (IISu 13:8-12). Đền thờ thánh duy nhất của Đức Chúa Trời là ở Giê-ru-sa-lem và tại đó những thầy tế-lễ, những con trai của A-rôn tiến hành các nghi lễ thờ-phượng đã được Đức Chúa Trời quy định thông qua Môi-se.
Giu-đa thờ-phượng một Đức Chúa Trời hằng sống và chân-thật duy nhất, trong khi Y-sơ-ra-ên thờ-phượng hai tượng bò vàng. Những thầy tế-lễ của Y-sơ-ra-ên là những người làm thuê, không phải là những đầy-tớ thánh được chọn lựa của Đức Chúa Trời. Ở Giu-đa, dân-sự tôn-thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời. “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta!” Vì thế, nếu Y-sơ-ra-ên tấn công Giu-đa, Y-sơ-ra-ên đang đấu tranh chống lại Đức Chúa Trời!
Những lính gác của A-bi-gia không làm tốt công việc của mình, vì trong khi A-bi-gia đang nói, một số quân lính của Giê-rô-bô-am đi vòng đằng sau ông và lập quân mai phục. Nếu Giu-đa tấn công, quân của họ sẽ phải chia ra và đánh ở hai mặt, chắc chắn đây là một tình thế rất nguy hiểm. Có quan-điểm thần-học tốt là quan-trọng, nhưng có chiến lược giỏi và báo cho binh lính phải đề-phòng nguy hiểm và sẵn sàng hành động cũng quan-trọng.
Nhưng A-bi-gia đủ sức với thách thức này ông kêu-cầu sự giải cứu của Đức Chúa Trời. Cùng lúc đó, các thầy tế-lễ thổi kèn (Dân 10:8-10) và quân Giu-đa la to, giống như dân-sự ngày xưa đã làm với thành Giê-ri-cô (Gios 6:1-27), ngay lập tức Đức Chúa Trời mang đến sự chiến thắng.
Hơn một nửa quân Giê-rô-bô-am bị quân Giu-đa giết chết và quân lính của A-bi-gia di chuyển đến phía bắc để chiếm lấy thành Bê-tên cách Giê-rô-bô-am 10 dặm. Từ Bê-tên, họ di chuyển năm dặm về phía nam và chiếm Giê-na-sa, và bốn dặm về phía đông nam chiếm Ép-ran (Ép-rôn). A-bi-gia không những đánh bại quân đội Y-sơ-ra-ên và chiếm lại một số đất đai bị mất, nhưng ông còn giáng cho Giê-rô-bô-am một đòn mà ông không bao giờ khôi-phục lại được. Sau đó Đức Chúa Trời đánh Giê-rô-bô-am và ông chết (IISu 13:20; IVua 14:19-20).
Chính vì vinh-hiển của danh Ngài mà Đức Chúa Trời đã làm những điều này. Trong I Các-vua, A-bi-gia không được kể là một vị vua kính-sợ Chúa, nhưng chúng ta ca ngợi ông vì sự hiểu biết của ông về lẽ-thật của Đức Chúa Trời và niềm tin của ông nơi quyền-năng của Ngài. A-bi-gia không phải là Giô-suê, nhưng Đức Chúa Trời của Giô-suê vẫn là Đức Chúa Trời của dân-sự Ngài và chứng-tỏ Ngài là thành-tín. A-bi-gia càng trở nên cường thạnh hơn, sanh nhiều con cái và tiếp tục vương triều của Đa-vít. Đức Chúa Trời sử dụng người không hoàn hảo để thực hiện ý muốn của Ngài, miễn là họ tin vào Ngài.
•A-sa (IVua 15:9-24; IISu 14:16).
Con trai của A-bi-gia là A-sa trị-vì trong 41 năm (910-869). Ông bắt đầu việc trị-vì của mình với một tấm-lòng giống như Đa-vít (IVua 15:11; IISu 14:2). Mặc dầu là một vị vua tốt trong phần lớn cuộc đời của mình nhưng trong năm năm cuối cùng, ông chống lại Đức Chúa Trời.
Từ “mẹ” trong (IVua 15:10) nên là từ “bà nội” vì nó nói đến cùng một người được nhắc đến trong câu 2. Người Do-thái không phân biệt họ hàng chính xác như chúng ta ngày nay. Có 3 sự phân chia chính trong cuộc đời và triều đại của A-sa.
(1) Hòa-bình và thắng lợi (IVua 15:9-11; IISu 14:1-15:7).
Nhờ vào chiến thắng của cha ông với Giê-rô-bô-am (IVua 13:1-22) A-sa có được sự hòa-bình trong 10 năm đầu ông trị-vì (IVua 14:1). Trong thời gian đó, ông cải tổ lại đất nước, dẹp bỏ sự thờ lạy thần-tượng trong xứ và thúc đẩy dân-sự tìm kiếm Đức Chúa Trời (c.2-5). Ông cũng củng cố vương quốc bằng việc xây dựng những thành phố phòng thủ và thành lập một đội quân gồm 580.000 người (c.6-8).
Tuy nhiên, tầm quan-trọng không phải trên những thành công về quân sự nhưng trên việc tìm kiếm Đức Chúa Trời (c.7). Chính Đức Chúa Trời đã ban-cho họ sự hòa-bình vì họ tìm kiếm mặt Ngài. Họ sử dụng thời gian hòa-bình đó để chuẩn bị cho bất kỳ cuộc chiến nào sẽ xảy ra, vì đức-tin không có việc làm thì chết. Việc A-sa chuẩn bị mọi thứ là điều tốt, vì quân Ai-cập do Xê-rách người Ê-thi-ô-bi dẫn đầu sẽ tấn công Giu-đa. Hai quân đội gặp nhau tại Ma-rê-sa, cách tây nam Giê-ru-sa-lem 25 dặm.
Giống như cha mình, A-sa biết phải kêu-cầu Đức Chúa Trời như thế nào trong ngày gian truân (IVua 14:11 IVua 13:14-18). Nhà vua biết về cảnh ngộ của mình, vì ông nhận định Giu-đa là “những người không có sức mạnh”. Quân đội của Xê-rách gần như đông gấp hai lần của A-sa, và người của A-sa không có xe ngựa.
Cho dù có nhiều hay ít quân lính, Đức Chúa Trời vẫn có thể hành động với quyền-năng vĩ đại. Có thể ông đã nghĩ đến những lời của Giô-na-than khi cầu-nguyện theo cách đó (ISa 14:6). Ông cũng có thể đang nghĩ về những điều Sa-lô-môn cầu xin trong lời cầu-nguyện dâng hiến (IISu 6:34-35). Sự giải cứu thình lình giữa lúc chiến trận là chủ-đề được lặp đi lặp lại trong II Sử-ký (IISu 13:14-18; IISu 14:11-12; IISu 18:31; IISu 20:1; IISu 32:20-22).
Động cơ của A-sa không chỉ đơn giản là đánh bại một kẻ thù nguy hiểm nhưng còn đem lại vinh-hiển cho Giê-hô-va. Giống như Đa-vít đi đến Gô-li-át, ông tấn công đội quân kẻ thù “nhân danh Đức Giê-hô-va vạn binh, tức là Đức Chúa Trời của đạo binh Y-sơ-ra-ên” (ISa 17:45).
Đáp lại lời cầu-nguyện bằng đức-tin của A-sa, Đức Chúa Trời đánh bại quân Ai-cập một cách mạnh mẽ và cho phép A-sa và người của ông đuổi theo quân Ai-cập xuống phía nam về Ghê-ra. Tại đó người Giu-đa và Bên-gia-min cướp bóc những thành phố xung quanh Ghê-ra và mang về rất nhiều chiến lợi phẩm. Sự thất bại này của quân đội Ai-cập quá nhục nhã đến nỗi người Ai-cập không tấn công người Giu-đa lần nào nữa mãi cho đến gần 300 năm sau, khi vua Giô-si-a đương đầu với quân đội của Pha-ra-ôn Nê-cô tại Cạt-kê-mít (IISu 35:20-24).
Đức Chúa Trời phái tiên -ri A-xa-ria đi đón A-sa và đội quân chiến thắng trao cho họ một thông-điệp khích-lệ và cảnh cáo (IVua 12:21-24; IISu 16:7). Có nhiều vị tướng đã chiến thắng trong chiến trận nhưng chung cuộc lại thất bại bởi vì kiêu-ngạo hay bất cẩn và Đức Chúa Trời không muốn A-sa rơi vào cái bẫy đó. Thông-điệp của A-xa-ria giống như của vua A-sa: tìm kiếm Đức Chúa Trời, vâng-lời Ngài, tin-cậy Ngài, và vững mạnh trong Đức Chúa Trời (IISu 15:1-7; IISu 14:4; Phuc 4:29).
A-xa-ria hồi tưởng lại thời kỳ đen tối của các quan-xét, khi đất nước không có vua, thầy tế-lễ yêu mến Chúa hay một ai để thi hành luật-pháp (Cac 2:11-21). Vì dân-sự đã quay sang thờ thần-tượng, xứ của họ tràn lan kẻ thù và việc đi lại không an-toàn (Cac 5:6; Cac 19:20). Điều này làm thành lời cảnh-báo trong giao-ước của Đức Chúa Trời (Phuc 28:25-26,30,49-52). Nhưng bất kỳ khi nào dân-sự kêu cầu Đức Chúa Trời và từ bỏ thần-tượng, Ngài sẽ nhân-từ tha-thứ cho họ và đánh bại kẻ thù của họ.
A-xa-ria khuyên răn nhà vua và dân-sự bắt tay vào việc, xây dựng đất nước, trung-thành phục-vụ Đức Chúa Trời.
(2) Sự cải tổ và đổi mới (IVua 15:12-15; IISu 15:8-19). Đây là giai đoạn thứ hai trong cuộc cải tổ của A-sa và chắc chắn lần này ông nghiêm-khắc giải quyết vấn-đề tội-lỗi trong xứ hơn giai đoạn trước. Ông đuổi những kẻ nam mãi-dâm và tình dục đồng giới ra khỏi xứ, vì điều này bị luật-pháp của Đức Chúa Trời cấm (Phuc 23:17; Lê 18:22; Lê 20:13; Rô 1:27; ICôr 6:9).
Ông cũng cách chức thái hậu của bà nội mình vì bà có một điện thờ thần-tượng dưới những cây rậm. Điều này phải có can-đảm mới có thể làm được! Chúng ta không biết những của cải đã dâng hiến này được để ở đâu, nhưng A-sa đem để chúng vào kho của đền thờ vì nó đã được dâng cho Đức Chúa Trời. Đây có thể là những của cướp được từ những kẻ thù mà ông và cha ông đã đánh bại với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời.
Một lần nữa, ông dẹp bỏ những thần-tượng khỏi xứ, và ông cũng sửa lại những bàn thờ tế-lễ trong sân thầy tế-lễ trước đền thờ. Kinh Thánh không nói bàn thờ bị hư như thế nào và tại sao; nhưng không có bàn thờ, các thầy tế-lễ không có chỗ để dâng của tế-lễ.
Sa-lô-môn cung hiến đền thờ vào năm 959, và năm thứ mười lăm đời A-sa là vào năm 896 (IISu 15:10) vì thế bàn thờ đã được sử dụng liên tục trong hơn 60 năm. Có thể nó mới bị hư, nhưng một bàn thờ bị bỏ mặc không được trông nom không là lời-chứng tốt cho tình hình tôn-giáo trong xứ. Tiếng Hê-bơ-r ơ còn có thể có nghĩa là “đổi mới”, vì thế có lẽ bàn thờ được cung hiến lại lần nữa cho Đức Chúa Trời.
Dẹp bỏ thần-tượng và sửa lại bàn thờ là một chuyện, nhưng điều cần thiết nhất là việc dâng hiến lại của dân-sự. Trong năm thứ mười lăm đời trị-vì của mình, A-sa nhóm hiệp một hội chúng lớn tại Giê-ru-sa-lem để thờ-phượng Đức Chúa Trời và nhắc lại giao-ước. Không chỉ có người Giu-đa và Bên-gia-min tham dự, nhưng những người mộ đạo từ Ép-ra-im, Ma-na-se, và Si-mê-ôn cũng đến Giê-ru-sa-lem. Điều thu hút họ là sự thật hiển nhiên rằng Đức Chúa Trời ở cùng với A-sa. Vì họ nhóm hiệp vào tháng thứ ba, họ có thể kỷ niệm lễ mùa gặt (Lê 23:15-22). Nhà vua đem những chiến lợi phẩm dâng cho Đức Chúa Trời, bao gồm những kim loại quý (IVua 15:15) và những con sinh tế (IISu 15:11).
Vào những thời điểm quan-trọng trong suốt lịch-sử Do-thái, bạn thấy những nhà lãnh đạo cùng dân-sự nhắc lại lời cam-kết của họ với Đức Chúa Trời. Đây là gương tốt cho Hội thánh ngày nay noi theo. Sau khi Y-sơ-ra-ên đã băng qua sông Giô-đanh và vào đất hứa, họ nhắc lại giao-ước của mình với Đức Chúa Trời (Gios 8:30).
Giô-suê cũng yêu-cầu một buổi hội hiệp như vậy vào lúc gần cuối đời mình (Gios 24:1-33); Khi Sau-lơ được phong làm vua, Sa-mu-ên yêu-cầu tập họp hội chúng và có thời gian nhắc nhở họ (ISa 11:14-12:25). Vua Giô-ách và vua Giô-si-a đều nhắc lại giao-ước giữa chính họ và dân-sự với Đức Chúa Trời (IIVua 11:4; IVua 23:1).
Sự thức tỉnh thuộc-linh hay sự làm mới lại không có nghĩa là cầu-xin Đức Chúa Trời ban-cho điều gì mới nhưng làm mới lại sự tận hiến của chúng ta với những điều Ngài đã ban-cho chúng ta. A-sa không tổ chức lại ban thầy tế-lễ hay tu sửa lại đền thờ, ông cũng không du nhập những ý tưởng thờ-phượng mới từ những nước thờ đa thần quanh ông.
Ông chỉ đơn giản dẫn dân-sự trở lại sự tận hiến với giao-ước mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Họ tìm kiếm Đức Chúa Trời với tất cả tấm-lòng của mình và Ngài lắng nghe họ. Đức Chúa Trời hài lòng với bước cam kết mới này và Ngài ban cho Giu-đa và Bên-gia-min 20 năm hòa-bình nữa.
(3) Sự tái-phạm và sự kỷ-luật (IVua 15:16-24 IISu 16:1-14).
Rõ ràng vua A-sa đã trở nên bất cẩn trong sự bước đi với Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời sai Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, gây chiến chống lại ông. Ba-ê-sa xây dựng Ra-ma, cách bắc Giê-ru-sa-lem khoảng 6 dặm. Từ tiền đồn này ông có thể theo dõi dân-sự của ông, những người sẽ đi đến Giê-ru-sa-lem và cũng có thể mở cuộc tấn công Giu-đa.
Sau tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm cho A-sa, bạn nghĩ rằng ông sẽ kêu-gọi dân-sự cùng nhau xưng nhận tội-lỗi, tìm kiếm Đức Chúa Trời và học biết ý muốn của Ngài về tình thế nghiêm-trọng này. Nhưng thay vào đó, trong sự không tin của mình ông quay sang chính trị. Ông lấy những châu báu trong đền thờ dâng cho Bên-ha-đát, vua Sy-ri và bước vào hiệp-ước với một nước thờ tà-thần. (Đa-vít đã đánh bại Sy-ri! (IISa 8:3-12; ISu 18:3-4).
Khi Sy-ri tấn công Y-sơ-ra-ên từ phía bắc, Ba-ê-sa sẽ phải bỏ Ra-ma và di chuyển xuống phía bắc để bảo vệ vương quốc của mình. Vua A-sa không chỉ làm theo gương xấu của A-bi-gia cha mình trong việc lập nên một liên minh vô đạo nhưng ông còn cố nài Bên-ha-đát nói dối và hủy bỏ hiệp-ước với Y-sơ-ra-ên!
Kinh Thánh không nói cho chúng ta biết A-bi-gia lập hiệp-ước với Bên-ha-đát khi nào, nhưng có lẽ ông đã cưới một trong những công chúa Sy-ri và bằng cách đó ông có thể bảo đảm hòa-bình. Ông đã làm theo gương của Sa-lô-môn (IISu 13:21).
Bên-ha-đát lấy bạc và vàng, bội-ước với Y-sơ-ra-ên và giúp đỡ Giu-đa. Ông chiếm thành Y-giôn, Đan, và A-bên-Ma-im ở phía bắc, sau đó hành quân khắp chi phía Nép-ta-li và lấy tất cả những thành kho tàng quan trọng. Bằng cách này, ông giành đ ược quyền kiểm soát những tuyến thương mại chính yếu và làm tê liệt quyền lực cũng như lợi tức của Ba-ê-sa.
Sau khi đã đạt được mục đích của mình, -sa bắt dân sự đi đến Ra-ma thu lượm đá và gỗ. Với những vật liệu này, nhà vua xây cất hai thành phố kiên cố: Mích-ba cách bắc Ra-ma khoảng 2 dặm rưỡi và Ghê-ba cách đông Ra-ma cũng khoảng hai dặm rưỡi. Giu-đa đã mở rộng biên giới của mình đến tận Bê-tên (IISu 13:17) và những địa điểm quân sự mới này sẽ làm cho vị-trí của họ vững chắc hơn nữa.
Mọi người ai cũng vui-mừng với kết quả của hiệp-ước ngoại trừ Đức Chúa Trời. Ngài sai tiên-tri Ha-na-ni đến khiển-trách nhà vua và trao cho ông Lời của Đức Chúa Trời. Nhiệm-vụ của vị tiên-tri là khiển-trách nhà vua cùng những người lãnh đạo khác bao gồm cả những thầy tế-lễ khi họ bất-tuân luật-pháp của Đức Chúa Trời. Thông-điệp của vị tiên-tri rất rõ ràng: nếu A-sa nhờ cậy vào Đức Chúa Trời, quân đội Giu-đa có thể đánh bại cả Y-sơ-ra-ên lẫn Sy-ri.
Thay vì vậy, Giu-đa chỉ có được vài thành phố nhỏ, châu báu của Đức Chúa Trời bị cướp đi và nhà vua bây giờ ở trong một liên minh tội-lỗi với Sy-ri. Ha-na-ni nhắc A-sa rằng Đức Chúa Trời đã không làm ông thất vọng khi Xê-rách và đội quân Ai-cập hùng mạnh tấn công Giu-đa. Nhà vua đã làm điều ngu ngốc trong việc nhờ cậy Sy-ri. Giu-đa sẽ phải trả giá cho tội-lỗi của mình trong những năm tới, và Sy-ri trở thành một vấn-đề dai dẳng đối với vương quốc Giu-đa.
Vấn-đề chủ yếu không phải là sự thiếu phòng thủ của Giu-đa mà là sự thiếu lòng tin của nhà vua. Không giống như Đa-vít, người có tấm-lòng thành thật trước mặt Đức Chúa Trời (IVua 15:5,11), tấm-lòng của A-sa đã bị phân chia _ ngày này thì tin-cậy Đức Chúa Trời và ngày tiếp theo thì tin-cậy vào xác thịt.
Một tấm-lòng hoàn hảo không phải là một tấm-lòng không có tội nhưng là một tấm-lòng hoàn toàn đầu-phục Đức Chúa Trời và tin-cậy Ngài hoàn toàn. Vua A-sa phơi-bày tính độc ác trong lòng mình bằng việc trở nên giận dữ, phản đối những lời của vị tiên-tri, và giam ông vào tù. Rõ ràng có một số người phản đối chính sách ngoại giao của A-sa và sự ngược đãi của ông đối với đầy-tớ của Đức Chúa Trời vì thế ông áp bức họ tàn bạo.
Đức Chúa Trời cho A-sa thời gian ăn-năn, nhưng ông từ chối làm điều đó. Trong năm thứ 39 đời trị-vì của A-sa, Đức Chúa Trời làm ông khổ sở với một căn bệnh ở chân. Căn bệnh này ắt hẳn làm ông rất đau đớn và khó chịu. Một lần nữa, ông quay lưng lại với Đức Chúa Trời và từ chối xưng nhận tội-lỗi của mình cũng như tìm kiếm Đức Giê-hô-va, nhưng ông quay sang tìm sự giúp đỡ nơi những thầy thuốc.
Hai năm sau ông qua đời và ngai vàng được trao lại cho con trai ông Giê-hô-sa-phát, người có thể đã làm nhiếp chính trong những năm cuối đời của cha mình. A-sa là người đã có một khởi đầu tốt và sống một cuộc đời bằng đức-tin, nhưng đến những năm cuối của đời mình, ông chống đối lại Đức Chúa Trời.
Dân sự làm lễ xông hương cho ông rất trọng thể để tỏ lòng tôn kính ông, nhưng trong cách nhìn của Đức Chúa Trời, những năm cuối cùng của A-sa chỉ như làn khói bay lên (ICôr 3:13-15). 7
2. Một vương triều chấm dứt (IVua 15:1-24) (IVua 15:25-16:22)
(IVua 15:1-24). Đến đây, các sử-gia quay sang ghi chép về các vua Y-sơ-ra-ên và tiếp tục đến cuối sách. Chuyện về các vua Giu-đa chủ yếu được thấy trong II Sử-ký. Vương triều nhà Đa-vít chỉ được đề-cập đến trong I Các-vua và II Các-vua khi nào có sự tác động qua lại giữa Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.Vương triều được bắt đầu bởi Giê-rô-bô-am bây giờ sắp chấm dứt.
•Na-đáp bị ám sát (IVua 15:25-31).
Giê-rô-bô-am trị-vì Y-sơ-ra-ên trong 22 năm (IVua 14:20) và trở thành tấm gương hàng đầu về một vị vua gian ác (IVua 15:34; IVua 16:2,19,26 v.v…). Na-đáp thừa kế ngai vàng cùng với đường lối tội-lỗi của cha mình. Ông chỉ trị-vì được 2 năm và sau đó nảy sinh một âm mưu dẫn đến việc vua Na-đáp bị Ba-ê-sa, một người về nhà Y-sa-ca ám sát. Na-đáp đang cùng với quân đội Y-sơ-ra-ên bao vây Ghi-bê-thôn, một thành phố của dân Phi-li-tin ở phía nam Éc-rôn. Thành phố nơi biên giới này là đầu mối của sự xích mích giữa Y-sơ-ra-ên và dân Phi-li-tin. Nó thật ra thuộc về chi phía Đan (Gios 19:43-45) và là thành của người Lê-vi (Gios 21:23), Na-đáp muốn chiếm lại cho Y-sơ-ra-ên.
Ba-ê-sa không chỉ giết nhà vua mà còn chiếm ngai vàng và đi đến hoàn thành lời tiên-tri của A-hi-gia rằng gia đình Giê-rô-bô-am sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt vì tội lỗi mà Giê-rô-bô-am đã phạm (IVua 14:10-16). Nếu Giê-rô-bô-am vâng Lời Đức Chúa Trời, ông đã hưởng được sự chúc phước và giúp đỡ của Ngài (IVua 11:38-39), nhưng vì ông phạm-tội và làm cho cả nước phạm tội, Đức Chúa Trời phải đoán-phạt ông và con cháu ông. Đó là sự kết thúc của triều đại Giê-rô-bô-am I.
•Ba-ê-sa không vâng-lời Đức Chúa Trời (IVua 15:32-16:7).
Ba-ê-sa xây cất cung điện ở Tiệt-sa và trị-vì Y-sơ-ra-ên 24 năm. Thay vì tránh những tội-lỗi dẫn đến sự tuyệt diệt nhà Giê-rô-bô-am mà chính tay ông là người đã giết họ, Ba-ê-sa nay lại bắt chước cách sống của người tiền nhiệm! Người ta nói rằng bài học chúng ta rút ra được từ lịch-sử là chúng ta không đi theo những vết xe đổ của lịch-sử. Ba-ê-sa đã tiêu diệt triều đại nhà Giê-rô-bô-am, nhưng ông không thể phá hủy Lời của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời sai tiên-tri Giê-hu đem đến cho nhà vua một thông-điệp trang trọng rằng sau khi ông chết, gia đình ông sẽ bị tiêu diệt và một triều đại khác sẽ bị hủy diệt vì tội-lỗi của người cha. Con cháu của Ba-ê-sa sẽ bị giết và xác của họ sẽ là thức ăn cho chó và chim trời. Việc thi thể của người Do-thái không được chôn là một sự nhục nhã kinh khủng.8
•Ê-la bị ám sát (IVua 16:8-14).
Ba-ê-sa có một cái chết bình thường, nhưng con trai và cũng là người kế vị ông không đưọc như vậy. Ê-la hóa ra là một kẻ đồi bại, thích uống rượu với bạn bè hơn là phục-vụ Đức Chúa Trời và dân-sự. At-sa có thể là thủ tướng. Cả 2 đã quên lời của Sa-lô-môn, gười biết một hay 2 điều về địa-vị làm vua: “Hỡi xứ, khốn thay cho mày khi có vua còn thơ ấu, và các quan trưởng mày ăn từ lúc buổi sáng! Hỡi xứ, phước cho mày khi có vua là dòng cao sang và các quan trưởng mày ăn theo giờ xứng đáng, ể bổ sức lại, chớ chẳng phải để say xỉn” (Tr 10:16-17).
Kẻ ám sát lần này là Xim-ri, tướng coi phân nửa xe binh trong quân đội Y-sơ-ra-ên. Là một vị tướng có danh tiếng, ông có thể đi đến nhà vua, và có thời cơ nào tốt hơn khi nhà vua đang say rượu để giết ông? Giống như cha của Ê-la, Xim-ri cướp ngôi và một khi ông có quyền lực, ông giết từng thành viên của gia đình Ba-ê-sa. Ba-ê-sa đã làm thành lời tiên-tri của A-bi-gia và Xim-ri làm thành lời tiên-tri của Giê-hu. Nhưng phải chỉ ra rằng một người hoàn thành lời tiên-tri thánh không phải là người không phạm-tội. Cả Ba-ê-sa và Xim-ri là những kẻ giết người và phạm-tội giết vua và Đức Chúa Trời bắt họ phải chịu trách-nhiệm. Triều đại của Giê-rô-bô-am và triều đại của Ba-ê-sa không còn nữa. Ở Giu-đa, triều đại nhà Đa-vít vẫn tiếp tục.
-IVua 16:1-28; xem giải nghĩa IVua 15:1-24.
10. HÃY ĐỂ NGỌN LỬA LỤI TÀN (IVua 17:1-18:46)
Ê-li người Thi-sê-be đột nhiên xuất hiện trong câu chuyện và sau đó rời đi nhanh như khi ông đến, chỉ lại xuất hiện 3 năm sau đó để thách đấu với những thầy tế-lễ của Ba-anh. Tên ông có nghĩa là “Giê-hô-va Đức Chúa Trời là Chúa tôi”, một cái tên thích hợp với người kêu gọi dân-sự trở lại sự thờ-phượng Đức Giê-hô-va (IVua 18:21,39).
Vua A-háp gian ác đã cho phép vợ ông là Giê-sa-bên đem sự thờ-lạy thần Ba-anh vào Y-sơ-ra-ên (IVua 16:31-33) và bà kiên quyết trừ bỏ sự thờ-phượng Đức Giê-hô-va (IVua 18:4). Ba-anh là thần sinh sản của người Phê-nê-xi, hần này đem mưa và vụ mùa bội thu đến, nghi lễ liên quan đến sự thờ-phượng thần thì đồi bại không tả xiết.
Giống như Sa-lô-môn, người đã giúp sức cho việc thờ-lạy thần-tượng của những người vợ ngoại đạo của mình (IVua 11:1-8), A-háp khuất-phục trước dục vọng của Giê-sa-bên còn xây cho bà một đền thờ riêng để bà có thể thờ-phượng Ba-anh (IVua 16:32-33). Kế hoạch của bà là tiêu diệt nh ững người thờ-phượng Đức Giê-hô-va và làm cho toàn dân Y-sơ-ra-ên phục-vụ Ba-anh.
Tiên-tri Ê-li là một nhân vật quan -rọng trong Tân-ước. Giăng Báp-tít đến trong tâm-thần và quyền-phép của Ê-li (Lu 1:17), một số người dân còn nghĩ rằng ông là Ê-li được hứa (Gi 1:21; Ma 4:5-6; Mat 17:10-13). Ê-li đã ở với Môi-se và Chúa Giê-xu trên núi Hóa hình (Mat 17:3), và một số học-giả cho rằng Môi-se và Ê-li là 2 nhân-chứng được mô-tả trong (Kh 11:1-14). Ê-li không phải là người giảng đạo tao nhã như Ê-sai và Giê-rê-mi, nhưng là một nhà cải-giáo vụng về thô kệch, gười đã thách-thức dân-sự từ bỏ thần-tượng của họ và trở về với Đức Chúa Trời.
Ông là một người can-đảm, dám đối mặt trực tiếp với A-háp và quở trách tội-lỗi của người này, ông cũng thách-thức những thầy tế-lễ của Ba-anh trong một cuộc thi công-khai. Ông không những là người làm ra phép-lạ nhưng còn là người kinh-nghiệm những phép-lạ trong chính đời sống của mình. Hai đoạn này ghi lại bảy phép-lạ khác nhau mà Ê-li đã thực hiện và kinh-nghiệm.
1. Đợt hạn hán trong cả nước (IVua 17:1)
Người Do-thái dựa vào những cơn mưa theo mùa cho sự thành công về vụ mùa của họ. Nếu Đức Chúa Trời không cho những cơn mưa đầu mùa vào tháng Mười và tháng Mười Một và những cơn mưa cuối mùa vào tháng Ba và tháng Tư thì trong xứ sẽ có nạn đói.
Nhưng phước lành của những cơn mưa mỗi nửa năm mới có tùy thuộc vào việc dân-sự tuân-theo giao-ước của Đức Chúa Trời (Phuc 11:1-32).
Đức Chúa Trời cảnh-báo rằng sự bất-tuân của họ sẽ biến trời thành đồng đất thành sắt (Phuc 28:23-24; Lê 26:3-4,18-19). Xứ này thuộc về Đức Chúa Trời và nếu dân sự làm ô uế xứ bằng những hình-tượng tội-lỗi của mình, Đức Chúa Trời sẽ không chúc phước cho họ.
Có lẽ Ê-li xuất hiện trước vua A-háp vào tháng Mười, vào khoảng thời gian những cơn mưa đầu mùa lẽ ra phải bắt đầu. Đã không có mưa trong sáu tháng, từ tháng Tư đến tháng Mười và vị tiên-tri loan báo rằng sẽ không có mưa trong 3 năm tới! Dân-sự đang theo Ba-anh, không phải Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời không thể giáng mưa theo như đã hứa và vẫn thành-tín với giao-ước của Ngài. Đức Chúa Trời luôn luôn giữ giao-ước của Ngài, hoặc chúc phước vì sự vâng-lời của dân-sự hoặc phạt họ vì tội-lỗi của họ.
Đức Chúa Trời đã ngăn mưa lại vì lời cầu-nguyện tha thiết của Ê-li, Ngài sẽ lại ban mưa xuống để đáp lời cầu-nguyện hộ của đầy-tớ Ngài (Gia 5:17-18). Trong 3 năm tiếp theo, lời nói của Ê-li sẽ kiểm soát thời tiết ở Y-sơ-ra-ên! Ba năm rưỡi hạn hán sẽ chuẩn bị cho dân-sự trong cuộc tranh đấu kịch tính trên núi Cạt-mên giữa những thầy tế-lễ của Ba-anh và tiên-tri của Đức Chúa Trời.
Ê-li đứng trước mặt Đức Chúa Trời và phục-vụ Ngài giống như một đầy-tớ trung-thành, chăm chú vào những mạng-lệnh của chủ mình. (Sau này, người kế nhiệm ông là Ê-li-sê cũng dùng thuật ngữ tương tự. (IIVua 3:14; IIVua 5:16). Một đợt hạn hán kéo dài, được tiên báo và kiểm soát bởi một tiên-tri của Đức Giê-hô-va, sẽ nói cho mọi người biết rõ ràng rằng thần bão Ba-anh không phải là một vị thần chân-thật.
2. Thức ăn từ những con chim bẩn thỉu (IVua 17:2-7)
Sau khi Ê-li lìa khỏi nhà vua, Giê-sa-bên hẳn đã xúi giục chiến dịch diệt trừ những tiên-tri của Đức Chúa Trời (IVua 18:4). Khi hạn hán tiếp tục và nạn đói hoành hoành xứ, A-háp bắt đầu tìm kiếm Ê-li, người ông nghĩ đã gây ra mọi vấn-đề (IVua 18:17). Theo một ý nghĩa nào đó, Ê-li đã gây ra hạn hán, nhưng chính tội dẫn đất nước vào sự bất-tuân giao-ước của Đức Chúa Trời của A-háp và Giê-sa-bên đã đem đến cho họ sự trừng-phạt của Ngài.
Đức Chúa Trời có một chỗ ẩn náu đặc biệt dành cho đầy-tớ Ngài ở trong một con suối nhỏ nằm ở phía đông sông Giô-đanh, Ngài cũng chuẩn bị sẵn “những đầy-tớ” lạ thường để nuôi ông. Đức Chúa Trời thường dẫn những tôi-tớ trung-tín của Ngài từng bước một khi họ hòa lòng với Lời của Ngài. Thay vào đó, Đức Chúa Trời hướng dẫn tôi-tớ Ngài từng lúc và Ê-li vâng-lời bởi đức-tin.
“Hãy đi ẩn mình đi!” là mạng-lệnh của Đức Chúa Trời, ba năm sau mạng-lệnh là “Hãy đi tỏ mình ra!”. Khi rời khỏi chức-vụ công-khai của mình, Ê-li đã tạo ra “một cơn hạn hán” thứ hai trong xứ _ sự thiếu Lời của Đức Chúa Trời. Đối với người Do-thái, Lời của Đức Chúa Trời giống như mưa từ trời (Phuc 32:2; Ês 55:10): nó cần thiết cho sự sống tâm-linh của họ, nó làm cho khoan khoái mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể ban cho. Sự im lặng của đầy-tớ Đức Chúa Trời là một sự phán-xét từ Đức Chúa Trời (Thi 74:9), vì không nghe Lời hằng sống của Đức Chúa Trời cũng đồng nghĩa với việc bị tước mất quyền sống (Thi 28:1).
Tại suối Kê-rít (“khe Kê-rít”), Ê-li có được sự an-toàn và thức ăn. Mãi tận khi nó khô cạn, con suối vẫn cung cấp nước, vào mỗi buổi sáng và chiều, những con quạ đem đến cho ông bánh mì và nước. Trong danh sách liệt kê những thức ăn bị cấm của Môi-se, con quạ bị cho là “không sạch” và “gớm ghiếc” (Lê 11:13-15; Phuc 14:14), nhưng Đức Chúa Trời đã dùng những con chim này để duy trì sự sống cho đầy-tớ Ngài. Những con quạ không đem cho Ê-li những xác chết thối rữa mà chúng thường ăn, vì những thức ăn như vậy là không sạch đối với một người Do-thái thánh.
Đức Chúa Trời chu-cấp thức ăn và quạ làm công việc vận chuyển! Giống như Đức Chúa Trời đã ban ma-na xuống trại của dân Y-sơ-ra-ên trong cuộc hành trình trong đồng vắng, Ngài cũng đem đến những thức ăn cần thiết cho Ê-li khi ông chờ đợi dấu hiệu để trở về. Đức Chúa Trời ban đồ ăn cho thú vật và những con quạ dc (Thi 147:9; Lu 12:24) và Ngài có thể dùng những con quạ đem thức ăn cho đầy-tớ Ngài.
Khi hạn hán ngày càng tệ hơn, con suối bị khô cạn bỏ lại vị tiên-tri không có nước; nhưng ông không bao giờ bỏ đi chỗ khác cho đến khi nào Lời của Đức Chúa Trời đến bảo ông phải làm gì. Có một câu nói rằng ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ dẫn chúng ta đến nơi ân-điển của Đức Chúa Trời không thể giữ gìn và chăm-sóc chúng ta, Ê-li biết điều này từ kinh-nghiệm. (Ês 33:15-16).
3. Thức ăn từ những chiếc bình rỗng (IVua 17:8-16)
Có thể Ê-li ở tại Kê-rít một năm và sau đó Đức Chúa Trời bảo ông rời đi. Những chỉ thị của Đức Chúa Trời có thể làm cho vị tiên-tri kinh ngạc, vì Đức Chúa Trời ra-lệnh cho ông đi về hướng đông bắc khoảng 100 dặm đến thành phố Sa-rép-ta của Phi-li-tin.
Đức Chúa Trời đang phái Ê-li đi vào lãnh thổ của dân ngoại, vì Sa-rép-ta không xa thành phố Si-đôn, quê nhà của Giê-sa-bên nên ông đang sống trong vùng lãnh thổ của kẻ thù! Hơn nữa, ông được chỉ-thị phải sống với một góa-phụ, người mà Đức Chúa Trời đã chọn để chăm-sóc ông, và góa-phụ thường là những người nghèo khổ nhất trong xứ. Vì Phi-li-tin dựa vào Y-sơ-ra-ên trong phần lớn nguồn lương thực (IVua 5:9; Cong 12:20), thức ăn sẽ không có quá nhiều tại đó.
Nhưng khi Đức Chúa Trời sai phái chúng ta, chúng ta phải vâng lời và để phần còn lại cho Ngài, vì chúng ta không sống trên lý-lẽ của con người- chúng ta sống trên lời hứa của Đức Chúa Trời.
Watchman Nee đã viết, “Bởi vì thiên hướng của chúng ta là nhìn vào thùng nước và quên đi suối nước nên Đức Chúa Trời thường phải thay đổi phương tiện chu-cấp của Ngài để khiến cho mắt chúng ta luôn tập trung vào nguồn suối”. Sau khi Y-sơ-ra-ên vào miền đất hứa, ma-na ngừng rơi xuống trại và Đức Chúa Trời thay đổi cách Ngài nuôi dân sự (Gios 5:10-12).
Vào những ngày đầu của Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem, những Cơ-đốc nhân có tất cả những gì họ cần (Công 4:34-35), nhưng vài năm sau, các thánh-đồ ở Giê-ru-sa-lem phải nhận sự giúp đỡ từ những người tin Chúa là dân ngoại tại An-ti-ốt (Công 11:27-30). Ê-li sắp học được rằng Đức Chúa Trời có thể hành động với những chiếc bình rỗng!
Việc người đàn bà đã được Đức Chúa Trời truyền-bảo (c.9) không phải là bằng chứng cho thấy bà là người tin nơi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì Đức Chúa Trời cũng truyền-lệnh cho một vị vua ngoại đạo như vua Si-ru (IISu 36:22) và còn gọi ông là “người chăn bầy” của Ngài (Ês 44:28). Người góa-phụ đề-cập đến Đức Giê-hô-va như là “Đức Chúa Trời của ông” (c.12, hững chữ in nghiêng là của tôi), vì bà có thể dễ dàng nhận ra người lạ đang nói chuyện với mình là người Do-thái; nhưng ngay cả điều này cũng không phải là bằng-chứng rằng bà là người tin Chúa. Chắc hẳn Ê-li ở lại với bà 2 năm (IVua 18:1), trong thời gian đó người góa-phụ và con trai bà chắc chắn đã từ bỏ sự thờ-lạy thần-tượng và đặt niềm tin của mình nơi Đức Chúa Trời sống và chân-thật.
Những gì người đàn bà có rất ít: một ít dầu trong bình, một nắm lúa mạch trong hũ lớn đựng thóc lúa và một vài que củi để chụm lửa nấu. Nhưng những gì Ê-li có rất lớn, vì Thượng Đế đã hứa sẽ chăm-sóc ông, người chủ nhà của ông và con trai bà.Ê-li cho bà lời-hứa của Đức Chúa Trời rằng hũ thóc và bình dầu sẽ không hết cho đến khi hạn hán và nạn đói chấm dứt. Một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ giáng mưa xuống, nhưng cho đến ngày đó, Ngài sẽ tiếp tục chu-cấp bánh cho họ và Ngài đã làm.
Trong xã hội hiện đại của chúng ta, với thẻ tín dụng và việc mua sắm thuận tiện, chúng ta cần nhớ rằng mỗi bữa ăn của chúng ta là một phép-lạ từ tay Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể sống xa người nông dân, những người đã trồng những thứ chúng ta ăn, nhưng chúng ta không thể sống mà không có họ. Câu “Xin cho chúng con hôm nay đồ ăn đủ ngày” có ý nghĩa hơn là một câu trong bài cầu nguyện chúng ta có thể quá thuộc lòng. Nó là sự diễn đạt một chân-lý vĩ đại rằng Đức Chúa Trời chăm-sóc chúng ta và dùng nhiều cách để nuôi chúng ta.
Sau ổ bánh mì là bột mì phủ đầy tuyết,
Và sau bột mì là cối xay,
Và sau cối xay là lúa mì, mặt trời, và mưa rào,
Người nông dân và ý muốn của Đức Chúa Cha.
4. Sự sống cho một đứa bé trai đã chết (IVua 17:17-24)
Đây là trường hợp được ghi chép đầu tiên trong Kinh Thánh về việc làm sống lại một người đã chết. Bằng-chứng dường như rõ ràng rằng con trai của người góa-phụ thật sự đã chết, không chỉ là bất tỉnh hay nhất thời ngất xỉu. Anh ta ngừng thở (c.17) và linh-hồn anh đã rời khỏi thân thể (c.21-22). Theo (Gi 2:26 khi linh-hồn một người nào đó rời khỏi thân thể thì người đó đã chết. Nỗi đau buồn l ớn của cả người mẹ và vị tiên-tri cho thấy rằng đứa bé trai đã chết, và cả hai đã dùng từ “giết chết” có liên-quan đến sự việc này (c.18,20).
Phản ứng của người mẹ là cảm thấy tội-lỗi vì những tội của bà trong quá-khứ. Bà tin rằng cái chết của con trai là cách Đức Chúa Trời trừng-phạt bà vì những tội ác của bà. Thông thường con người cảm thấy có tội liên-quan đến sự mất đi người thân, nhưng tại sao bà lại chỉ tay vào vị khách của mình?
Bà nhận biết Ê-li là người của Đức Chúa Trời, có lẽ bà nghĩ sự có mặt của ông trong nhà sẽ bảo vệ bà và con trai khỏi những điều phiền hà. Hay có lẽ bà cảm thấy rằng Đức Chúa Trời đã cho vị khách biết về quá-khứ của mình hay một vài điều gì đó lẽ ra bà nên xưng nhận với ông. Những lời của bà nhắc chúng ta nhớ đến câu hỏi của các môn-đồ trong (Gi 9:2 “Thưa thầy, ai đã phạm-tội, người hay là cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù như vậy?”.
Phản ứng của Ê-li là mang đứa bé lên phòng cao, có lẽ là trên mái nhà, kêu khóc với Chúa vì sự sống của đứa trẻ. Ông không thể tin rằng Đức Chúa Trời đã chu-cấp thức ăn cho cả ba người một cách kỳ diệu và sau đó lại cho phép đứa trai này chết. Điều này thật không hợp lý chút nào. Ê-li không nằm ấp trên người đứa trẻ đã chết với hy-vọng rằng ông có thể truyền sự sống của mình cho nó, vì ông biết rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể đem lại sự sống cho người đã chết.
Chắc chắn dáng điệu của ông chỉ ra mối quan-hệ hoàn toàn chặt chẽ giữa đứa trẻ và nhu-cầu của mình, đây là một yếu-tố quan-trọng khi chúng ta cầu-thay cho người khác.
Sau lần thứ ba Ê-li nằm ấp mình trên đứa trẻ thì Đức Chúa Trời gọi nó sống dậy từ sự chết. Đây là hình ảnh nhắc chúng ta nhớ về Chúa Cứu Thế sống lại từ sự chết sau 3 ngày. Bởi vì Chúa sống, chúng ta có thể chia-sẻ sự sống của Ngài bằng cách đặt niềm tin nơi Ngài. (IIVua 4:34; Công 20:10).
Kết quả của phép-lạ này là sự công-khai xưng nhận đức-tin nơi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nơi người đàn bà. Bây giờ bà biết chắc chắn rằng Ê-li là đầy tớ thật sự của Đức Chúa Trời và không phải là một thầy thông-giáo tìm kiếm sự giúp đỡ. Bà cũng biết rằng những Lời ông đã dạy bà thật sự là Lời của Đức Chúa Trời sống và chân-thật. Trong suốt thời gian sống với người góa-phụ và con trai bà, Ê-li đã cho họ thấy rằng Đức Chúa Trời là Đấng duy trì sự sống (bột và dầu không hết) và là Đấng ban sự sống (đứa bé trai sống lại từ sự chết).
Ê-li đã không ở trong chức-vụ trước dân chúng trong thời gian dài, nhưng chức-vụ cá nhân của ông trước người đàn bà và con trai bà cũng quan-trọng đối với Đức Chúa Trời và đối với họ. Người đầy-tớ không “ẩn mình” thi hành chức-vụ với một vài người sẽ không thật sự sẵn sàng đứng trên núi Cạt-mên và gọi lửa và mưa từ trời xuống. Người chứng-tỏ họ trung-tín với một ít việc trong nơi nhỏ bé có thể được Đức Chúa Trời tin tưởng với nhiều việc trước nhiều người trong những nơi rộng lớn hơn (Mat 25:21). Ê-li đã chứng-tỏ quyền-năng của Đức Chúa Trời trong chính lãnh thổ của Ba-anh, vì thế bây giờ ông đã sẵn sàng thách đấu và đánh bại Ba-anh trong vương quốc Y-sơ-ra-ên.
Trong suốt 3 năm như một người bị lưu-đày và bị săn đuổi này (IVua 18:10), Ê-li đã học được rất nhiều điều về Đức Chúa Trời, về chính mình ông và về nhu-cầu của dân-sự. Ông đã học sống từng ngày một, tin-cậy Đức Chúa Trời về sự ban bánh hằng ngày cho ông. Trong 3 năm, dân-sự đã luôn thắc mắc, “Tiên-tri Ê-li ở đâu? Ông có thể làm gì để giảm nhẹ gánh nặng mà họ đang mang vì cơn hạn hán này?” Nhưng Đức Chúa Trời quan-tâm về người làm việc hơn công việc, Ngài đã chuẩn bị Ê-li cho cuộc thách đấu về niềm tin lớn nhất trong toàn bộ chức-vụ của ông.
Trước khi chúng ta bỏ qua chi-tiết Ê-li lưu lại với người góa-phụ Sa-rép-ta một ít lâu nữa, chúng ta phải suy gẫm về việc Chúa Giê-xu sử dụng câu chuyện này trong bài giảng trong nhà hội ở Na-xa-rét như thế nào (Lu 4:16-30). Trong phần đầu của bài giảng, những người nghe tán thành với những gì Chúa Giê-xu nói và khen-ngợi Ngài về “những lời đầy ơn lành” của Ngài. Nhưng sau đó Ngài nhắc họ nhớ về ân-điển cao cả của Đức Chúa Trời đã đến với những đất nước khác ngoài dân giao-ước Y-sơ-ra-ên.
Vị tiên-tri vĩ đại người Do-thái Ê-li thật sự đã giúp đỡ một góa phụ người ngoại cùng con trai bà và còn sống chung với họ, mặc dầu ông có thể giúp đỡ bất cứ góa-phụ nào trong nước Y-sơ-ra-ên. Thí-dụ minh-họa thứ hai của Ngài là từ chức vụ của Ê-li-sê, người kế nhiệm Ê-li. Ông thật sự đã chữa lành cho một vị quan tổng binh người ngoại bị bệnh phung (IIVua 5:1-15). Chắc chắn có rất nhiều người Do-thái bị phung ông có thể chữa lành được!
Chúa Giê-xu nhấn mạnh về ân-điển của Đức Chúa Trời. Ngài muốn những người Do-thái trong nhà hội nhận biết rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại (Rô 3:29) cả người Do-thái và người ngoại được cứu bằng cách đặt niềm tin của mình nơi Ngài.
Dĩ nhiên, người Do-thái không chấp nhận ý nghĩ rằng họ cũng là tội nhân giống như dân ngoại và phải được cứu, vì thế họ phản đối cả người truyền rao sứ điệp và chính sứ-điệp và bắt Chúa Giê-xu ra khỏi nhà hội để ném Ngài từ trên núi xuống.
Sự giúp đỡ của Ê-li đối với người góa-phụ và con trai bà là bằng-chứng rằng Đức Chúa Trời không phải là người hay thiên vị kẻ giàu sang và rằng “mọi người đều đã phạm tội, hiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rô 3:23). Dù là người Do-thái ngoan đạo hay người ngoại thờ đa thần, cách duy nhất để được cứu-rỗi linh-hồn là phải đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu Christ.
5. Lửa từ trời (IVua 18:1-40)
Trong 3 năm, Ê-li đã ẩn mình tại suối Kê-rít và sau đó là tại nhà góa-phụ ở Sa-rép-ta, nhưng bây giờ ông được Đức Chúa Trời ra-lệnh hãy đi “tỏ mình” cho vua A-háp gian ác. Nhưng cùng với mạng lệnh của Đức Chúa Trời là lời hứa rằng Ngài sẽ ban mưa và chấm dứt cơn hạn hán mà Ngài đã giáng xuống để trừng-phạt đất nước thờ thần-tượng trong hơn 3 năm.