...đời Đa-vít thật đặc biệt! Khi là một người chăn chiên, Đa-vít đã giết sư tử và gấu, những thắng lợi nầy đã chuẩn bị để Đa-vít giết gã khổng lồ Gô-li-át. Đa-vít hầu việc như một người hầu cho vua Sau-lơ và thân thiết với Giô-na-than, con trai Sau-lơ.
Trong suốt 10 năm Đa-vít lưu lạc trong đồng vắng Giu-đa để trốn Sau-lơ, ở đó càng ngày ông càng học biết tin cậy Đức Chúa Trời hơn. Ông đã kiên nhẫn chờ đợi Đức Chúa Trời ban cho ông ngai vàng như đã hứa, và thời điểm đó đã đến. Chính bởi đức tin và lòng kiên nhẫn mà con cái Đức Chúa Trời hưởng được những gì Ngài đã hứa (He 6:12), và Đa-vít đã tin cậy Đức Chúa Trời trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.
Đa-vít lên ngôi khi dân sự chia rẽ nhau, nhưng với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời ông đã hiệp họ lại và xây dựng Y-sơ-ra-ên thành một đất nước vững mạnh. Nhưng đoạn nầy cho chúng ta thấy những bước hành động của Đa-vít để thống nhất và củng cố đất nước.
1. Đa-vít lên ngôi (ISu 3:4-24) (IISa 5:1-5)
Vụ ám sát Ích-bô-sết làm cho 11 chi phái không còn vua và người thừa kế ngôi Sau-lơ. Áp-ne đã qua đời, nhưng ông ta đã dọn đường cho Đa-vít làm vua cả 12 chi phái của Y-sơ-ra-ên (IISa 3:17-21). Bước tiếp theo là các lãnh đạo của tất cả các chi phái tập trung tại Hếp-rôn và trao ngôi vua cho Đa-vít.
Phẩm chất của một vị vua Y-sơ-ra-ên được ghi lại trong Luật Pháp Môi-se Phuc 17:14-20. Yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất là vua ấy phải được Đức Chúa Trời chọn lựa từ dân Y-sơ-ra-ên, là người “Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn” (Phuc 17:15,20). Dân sự biết rằng Sa-mu-ên đã xức dầu cho Đa-vít làm vua khoảng 20 năm trước và Đức Chúa Trời định ý cho Đa-vít lên ngôi (IISa 5:2). Dân sự cần một người chăn đắt, và chính Đa-vít là người chăn đó (Thi 18:70-72). Sau-lơ đã là “vua của dân sự” nhưng ông không phải là sự lựa chọn đầu tiên của Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời đã dùng ông để trừng phạt Y-sơ-ra-ên bởi họ muốn giống các dân khác (ISa 8:1-22; Os 13:11).
Đức Giê-hô-va yêu thương dân sự Ngài và biết họ đang cần một người chăn, nên Ngài chuẩn bị Đa-vít để làm vua của họ. Không giống Sau-lơ, là người xuất thân từ chi phái Bên-gia-min, Đa-vít xuất thân từ chi phái Giu-đa, là chi phái làm vua (Sa 49:10) được sinh ra và lớn lên ở Bết-lê-hem. Bởi điều nầy, Đa-vít có thể lập một triều đại mà qua đó Chúa Cứu Thế Giê-xu bước vào thế gian, và Ngài cũng giáng sinh tại Bết-lê-hem.
Dân sự tập trung tại Hếp-rôn để nhắc Đa-vít rằng ông thuộc về cả dân sự, không phải chỉ thuộc một mình chi phái Giu-đa (IISa 5:1). Trong thời gian đầu của sự nghiệp Đa-vít, dân sự nhận thấy bàn tay của Đức Chúa Trời ở trên ông, vì Đức Chúa Trời ban ông nhiều chiến thắng vang dội về mặt quân sự. Những người đại diện của các chi phái đã có mặt tại Hếp-rôn và họ hết lòng trung thành với vị vua mới (ISu 12:23-40). Con số các quan chức lên đến 340.800 người, tất cả họ đều trung thành với Đa-vít. Dân sự ở lại đó với Đa-vít 3 ngày và ca ngợi sự nhân từ của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài.
Nền tảng của dân Y-sơ-ra-ên là giao ước của Đức Chúa Trời với họ như được mô tả trong Luật Pháp Môi-se, đặc biệt Phuc 27:1-30:20 và Le 26:1-49. Nếu vua và dân sự vâng lời Đức Chúa Trời, Ngài sẽ ban ơn và gìn giữ họ; nhưng nếu họ không vâng lời và thờ thần tượng, Ngài sẽ trừng phạt họ. Mỗi vị vua mới phải xác nhận quyền uy tối thượng của luật pháp Đức Chúa Trời, hứa vâng theo nó, và còn phải chép luật pháp ấy ra một bản dành riêng cho mình (Phuc 17:18-20). Đa-vít lập giao ước của Đức Chúa Trời và dân sự, hứa gìn giữ và vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời để cai trị trong sự kính sợ Đức Chúa Trời (ISa 10:17-25; IIVua 11:17).
Khi Đa-vít còn là một thiếu niên, Samuên đã xức dầu cho ông nơi riêng tư (ISa 16:13) và các trưởng lão của chi phái Giu-đa xức dầu cho ông làm vua ở tuổi 30 (IISa 2:4). Nhưng giờ đây các trưởng lão của cả đất nước đã xức dầu cho Đa-vít và công bố ông là vua của họ.
Đa-vít không phải là một người thiếu kinh nghiệm, nhưng là một chiến binh dày dạn và là người có ân tứ lãnh đạo; đời sống và chức vụ ông được Đức Chúa Trời chúc phước. Sau những năm tháng nhiễu nhương và bị chia cắt, đất nước nay đã có một vua theo sự chọn lựa của Đức Chúa Trời và cả dân sự. Đức Chúa Trời phải bỏ thời gian để chuẩn bị cho Ngài những người lãnh đạo, và thật đáng tiếc cho người nào “thành công” trước khi anh ta sẳn sàng tiếp nhận sự thành công đó.
2. Đa-vít lập thủ đô mới (ISu 3:4-24) (ISu 11:4-9; IISa 5:6-10)
Áp-ne và Ích-bô-sết đã lập thủ đô của họ tại Ma-ha-na-im (IISa 2:8), bên kia sông Giô-đanh nằm trên biên giới của Gát và Ma-na-se, trong khi thủ đô của Đa-vít ở tại Hếp-rôn thuộc chi phái Giu-đa. Nhưng không thành nào thích hợp cho vị vua mới, là người đang nổ lực thống nhất đất nước và tạo nên một sự khởi đầu mới.
Đa-vít rất khôn ngoan khi chọn thủ đô của mình tại thành Giê-bu thuộc Giê-ru-sa-lem nằm trên biên giới của Bên-gia-min (chi phái của Sau-lơ) và Giu-đa (chi phái của Đa-vít). Giê-ru-sa-lem chưa bao giờ thuộc về bất kỳ chi phái nào, nên không ai có thể buộc tội Đa-vít khi lập thủ đô mới của mình ở đó.
Quan tâm đến chính trị rất cần thiết, nhưng tính về sự an ninh và địa thế thì Giê-ru-sa-lem là một thủ đô lý tưởng. Nằm trên một ngọn đồi, ba mặt của nó có thung lũng và đồi núi bao quanh, thành nầy chỉ có thể bị tấn công từ hướng bắc. Trũng Hin-nôm ở phía nam, trũng Xếp-rôn ở phía đông, và trũng Tyropean ở phía tây. “Núi Si-ôn đẹp đẽ nổi lên về phía bắc, là kinh đô của Vua cao cả, và là sự vui vẻ của cả thế gian” (Thi 48:2).
“Từ Si-ôn tốt đẹp toàn vẹn, Đức Chúa Trời đã sáng chói ra” (Thi 50:2).
Người Do-thái luôn yêu quý Giê-ru-sa-lem, ngày nay Do-thái giáo, Cơ-đốc giáo và Hồi-giáo đều tôn sùng nó. Được sinh ra ở Giê-ru-sa-lem thật sự là một vinh dự lớn (Thi 87:4-6).
Đức Giê-hô-va chắc đã hướng dẫn Đa-vít cách rất đặc biệt khi ông chọn Giê-ru-sa-lem làm thủ đô, vì Giê-ru-sa-lem đóng vai trò chiến lược trong việc thực hiện kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Ngài. Đức Chúa Trời có hứa với dân Do-thái rằng Ngài sẽ chọn ra một nơi để họ đến thờ phượng Ngài (Phuc 12:1-7), và Ngài đã mặc khải cho Đa-vít biết nơi đó chính là Giê-ru-sa-lem. Sau đó, Đa-vít mua đất ở Si-ôn, khu đất nầy là vị trí của đền thờ mà Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, xây dựng (IISa 24:1-25).
Hội thánh ngày nay xem Giê-ru-sa-lem như là một thành phố bị ràng buộc trong chủ nghĩa hợp pháp, nhưng Giê-ru-sa-lem trên trời là biểu tượng của giao ước bởi ân diển của Chúa Cứu Thế Giê xu (Ga 4:21-31) và là quê hương đời đời của dân sự thuộc về Chúa Cứu Thế (He 12:18-24; Kh 21:1-22:21). Đức Chúa Trời đã lập Vua của Ngài trên ngôi (Thi 2:6), sẽ đến một ngày Ngài phán trong cơn thạnh nộ và trừng phạt những người chống nghịch Ngài và lẽ thật của Ngài.
Người Giê-bu-sít sống ở Giê-ru-sa-lem nghĩ rằng đồn lũy của họ vô vùng vững chắc và thậm chí người mù và người què cũng có thể bảo vệ đư ợc nó, lời khoát lác nầy làm Đa-vít nổi giận. Ông nhớ Đức Chúa Trời có hứa với Môi-se rằng Y-sơ-ra-ên sẽ đánh bại tất cả các dân sống ở Ca-na-an, kể cả dân Giê-bu-sít (Xu 23:23-24; Phuc 7:1-2; Phuc 20:17), nên bởi đức tin ông đã lên kế hoạch tấn công.
Ông hứa rằng người nào vào được thành ấy và đánh bại nó ông sẽ cho làm quan trưởng đội quân của mình, và ông còn dạy cho người đó biết phải làm thế nào: đi theo khe nước. Giô-áp, cháu của Đa-vít chấp nhận thách thức nầy, đã đánh chiếm thành và trở thành quan trưởng của đội quân Đa-vít. Những cuộc khai quật tại núi Si-ôn đã tìm thấy một khe nước hiểm trở nhưng không thể không vượt qua. Đa-vít chiếm được núi nầy và đặt tên cho vùng phía nam của nó là “thành Đa-vít”. Trong những năm sau, Đa-vít và những người kế vị ông đã cho xây những bức tường thành xung quanh để củng cố thành nầy.
Từ “mi-lô” (c.9) có nghĩa là “trọn vẹn” và chỉ con đê được xây bằng đá ở sườn đông nam của núi ấy để làm vững chắc những công trình khác và bức tường thành. Những nhà khảo cổ đã tìm thấy một công trình mà họ gọi là “cấu trúc đá bậc thang” dài khoảng 1.500 feet và rộng khoảng 900 feet, đó là một nền móng cao nâng đỡ những công trình khác, và họ cho rằng nó là “mi-lô”. Cả Sa-lô-môn và vua Ê-xê-chia đã cũng cố vùng núi Si-ôn nầy. Ơn phước của Đức Chúa Trời ở trên Đa-vít và ban cho ông thành công trong việc ông làm cho dân sự.
Có thể đây là lúc Đa-vít đem đầu của Gô-li-át đến Giê-ru-sa-lem để nhắc dân sự nhớ sự thành tín của Đức Chúa Trời (ISa 17:54)
3. Đa-vít thiết lập các liên minh chính trị (ISu 3:5-9) (ISu 14:1-7; IISa 5:11-16)
Y-sơ-ra-ên là một nước nhỏ nhưng rất khác với các nước láng giềng vì có mối thông công giao-ước với Đức Chúa Trời chân thần và hằng sống (Dân 23:7-10), dân Do-thái được cảnh cáo là đừng nên thiết lập liên minh với các nước láng giềng. Nếu người kế vị ông không trùng tên với ông, Hi-ram có thể vừa lên ngôi vua của Ty-rơ, vì ông ta thân với cả Đa-vít và Sa-lô-môn trong suốt những năm trị vì của mình (IVua 5:1-18).
Rất có thể cung điện của Đa-vít được xây cho ông sau những lần đánh thắng dân Phi-li-tin (IISa 5:17-25), và đây có thể là cách Hi-ram thừa nhận ngôi vị của Đa-vít. Chắc chắn vua Phê-ni-xi cũng đánh giá cao sự kiện Đa-vít đánh thắng dân Phi-li-tin. Từ thực tế nầy, dân Phê-ni-xi cần phải giao hảo với dân Do-thái vì Y-sơ-ra-ên có thể dễ dàng ngăn trở tuyến đường thương mại đến Ty-rơ, và người Phê-ni-xi phải lệ thuộc vào người Do-thái về vấn đề lương thực. (Công 12:20) Đa-vít giải thích lòng tốt của Hi-ram là bằng chứng cho thấy Đức Chúa Trời thật đã lập ông trên ngôi Y-sơ-ra-ên.
Khi đề cập đến cung điện Đa-vít và mối quan hệ của ông với Hi-ram, tác giả có cơ hội đề cập đến gia đình của Đa-vít, “nhà” mà Đức Chúa Trời đang lập nên cho ông (Thi 127:1-5). Phuc 17:17 cấm vua Y-sơ-ra-ên cưới nhiều vợ, nhưng dường như Đa-vít bỏ qua luật lệ nầy, và Sa-lô-môn cũng noi theo gương ông (IVua 4:26; IVua 11:1-4). Trong số những người vợ của Đa-vít có ít nhất một người là công chúa (IISa 3:3), điều nầy cho thấy cuộc hôn nhân ấy là vì mục đích chính trị, và chắc chắn có những cuộc hôn nhân khác.
Đây là cách thắt chặt mối quan hệ tốt đẹp với các nước khác.
Trong Kinh thánh có 4 chỗ liệt kê tên các con của Đa-vít – những người được sinh ra trong thời gian ông cai trị tại Hếp-rôn (IISa 3:2-5) và những người được sinh sau khi ông chuyển đến Giê-ru-sa-lem (IISa 5:13-16; ISu 3:1-9; ISu 14:4-7).
Vợ đầu tiên của Đa-vít là Mi-canh, con gái Sau-lơ (ISa 18:27), người nầy không có con (IISa 6:23).
Ở Hếp-rôn, A-hi-nô-am người Gít-rê-ên sinh Am-nôn, con đầu lòng của Đa-vít (IISa 3:2) A-bi-ga-in, quả phụ của Na-banh, sinh Ki-lê-át, hay còn gọi là Đa-ni-ên (IISa 3:3); công chúa Ma-a-ca sinh Áp-sa-lôm (IISa 3:3) và Ta-ma (IISa 13:1) Ha-ghít sinh A-đô-ni-gia (IISa 3:4) A-bi-tanh sinh Sê-pha-tia (IISa 3:4) và Ec-la sinh Dít-rê-am (IISa 3:5).
Ở Giê-ru-sa-lem Bát-sê-ba sinh cho Đa-vít 4 con trai (ISu 3:5): Si-mê-a, Sô-báp, Na-than và Sa-lô-môn. Những người vợ không được nhắc tên (ISu 3:6-9) đã sinh cho Đa-vít Gi-ba, Ê-li-sa-ma, Ê-li-phê-lết, Nô-ga, Nê-phết, Gia-phia, Ê-li-sa-ma, Ê-li-gia-đa, (hay Bê-ên-gia-đa ISu 14:7), Ê-li-phê-lết.
Đa-vít cũng có con trai với những con đòi, nên ông phải cai quản một gia đình lớn. Dĩ nhiên trong số đó có những đứa con âm thầm mưu phản làm Đa-vít rất đau lòng. Luật pháp nói rõ rằng vua không được có nhiều vợ, nhưng cả Đa-vít và Sa-lô-môn đều bỏ qua luật lệ nầy, cả hai đã phải trả giá đắt cho sự không vâng lời ấy. Trong số những người vợ của Đa-vít có một số người, giống như Ma-a-ca, là đại diện cho các mối liên minh mà Đa-vít lập với các vua láng giêng để bảo đảm an ninh cho Y-sơ-ra-ên.
-ISu 13:1-13; xem giải nghĩa ISu 14:8-17.
-ISu 13:5-14; xem giải nghĩa ISu 3:4-24.
-ISu 14:1-7; xem giải nghĩa ISu 3:5-9.
4. Đa-vít đánh bại dân Phi-li-tin (ISu 14:8-17) (IISa 5:17-25)
Bao lâu Đa-vít còn ở Hếp-rôn, dân Phi-li-tin còn nghĩ ông là một trong những vua chư hầu của họ; nhưng khi ông làm vua toàn cõi Y-sơ-ra-ên, dân Phi-li-tin nhận ra ông là kẻ thù và bắt đầu tấn công ông. Có thể những cuộc tấn công nầy xảy ra trước khi Đa-vít dời đến Giê-ru-sa-lem, vì ông và lính của mình đã đi đến “đồn” (IISa 5:17), khu vực đồng vắng mà ông đã sống trong những ngày bị Sau-lơ đuổi giết (ISa 24:4; ISa 23:13-14). Đa-vít ra lệnh đánh quân Phi-li-tin, nhanh chóng dẫn dắt binh lính của mình chạm trán với những kẻ xâm lược tại trũng Rê-pha-im, cách Giê-ru-sa-lem không xa.
Như những lần trước, Đa-vít tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời trong kế hoạch tấn công của mình, có lẽ bằng U-rim và Thu-mim, hoặc qua tiên tri Gát mà ông tìm biết ý muốn Đức Chúa Trời.
Được Đức Chúa Trời bảo đảm rằng Ngài sẽ cho chiến thắng, Đa-vít gặp quân Phi-li-tin cách tây nam Giê-ru-sa-lem 2 dặm, và ông buộc họ rút lui. Họ rút quân ra khỏi đồng vắng nhanh đến mức đã đánh rơi các tượng thần của họ lại, và Đa-vít và lính của ông đã đem chúng đi thiêu hủy. Dân Phi-li-tin tin rằng có các thần tượng của họ bên cạnh chắc chắn chiến thắng sẽ đến với họ, nhưng họ đã sai lầm. Đa-vít đã dâng mọi vinh quang cho Đức Chúa Trời và gọi nơi đó là Ba-anh-Phê-rát-sim, có nghĩa là “Đức Giê-hô-va phát lộ”.
Một số nhà giải kinh cho rằng trong thời gian đó những binh lính người Gát đã gia nhập vào đội quân c ủa Đa-vít (ISu 12:8-15), có thể đây là lần ba trong số những người “mạnh dạn” của Đa-vít đi băng qua trại quân Phi-li-tin để lấy nước từ giếng Bết-lê-hem về cho ông (IISa 23:13-27; ISu 11:15-19). Đây là hành động của người can đảm và có đức tin lớn, và việc làm của họ là sự đáp lại sự mong ước từ trong lòng Đa-vít, không phải là sự tuân theo mệnh lệnh từ môi miệng ông. Họ đi lấy nước vì họ yêu mến vua của họ và muốn làm vua vui lòng. Thật họ là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo!
Quân Phi-li-tin lại gây chiến với Đa-vít lần thứ hai, lần thứ hai Đa-vít tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời. Không giống Giô-suê sau chiến thắng tại Giê-ri-cô (Gios 6:1-7:26), Đa-vít không nghĩ sẽ dùng lại chiến lược cũ. Đức Chúa Trời cho ông một kế hoạch mới, ông vâng theo đó, và Ngài ban chiến thắng cho ông.
Có tiếng gì trên các ngọn cây? Chỉ có tiếng gió? Tiếng thiên sứ (Thi 104:4) ? Tiếng của Đức Chúa Trời đến để dẫn đất dân sự Ngài giành chiến thắng? Kế hoạch được tiến hành và Đa-vít đuổi được kẻ thù từ Ghê-ba cho đến Ghê-xe, khoảng từ 15-20 dặm. Qua chiến thắng nầy, Y-sơ-ra-ên đã lấy lại được những vùng đất mà Sau-lơ đã đánh mất trong trận chiến cuối cùng của ông ta. Trong những chiến dịch sau nầy, Đa-vít cũng lấy lại được những thành mà dân Phi-li-tin chiếm được của Sau-lơ (IISa 8:1; ISu 18:1).
Đa-vít đánh trận với quân Phi-li-tin nhiều lần, và Đức Giê-hô-va ban cho ông từ thắng lợi nầy đến thắng lợi khác.
Từ lâu rồi dân sự biết Đa-vít là một chiến binh khôn ngoan và gan dạ, hai chiến công nầy càng tôn vinh Đức Chúa Trời và tôi tớ Ngài. Qua chiến thắng trên quân Phi-li-tin, Đa-vít làm cho các kẻ thù của Y-sơ-ra-ên phải thận trọng hơn với những gì họ làm với ông và dân sự ông.
Hòm giao ước được đặt ở nơi Chí Thánh trong đềm tạm, vì nó tượng trưng cho ngôi vinh hiển của Đức Chúa Trời (Thi 80:1; Thi 99:3) nhưng hơn 75 năm, hòm giao ước không có mặt trong đền thánh ở Si-lô. Dân Phi-li-tin đã cướp lấy hòm giao-ước khi Hê-li làm quan xét (ISa 4:1-22), sau đó trả nó về cho dân Do-thái vì Đức Giê-hô-va đã giáng sự đoán phạt Ngài trên dân Phi-li-tin.
Ban đầu hòm giao-ước được gởi đến Bết-Sê-mết sau đó được đem đến Ki-ri-át- Giê-a-rim và được gìn giữ trong nhà A-bi-na-đáp (ISa 5:1-7:1). Suốt thời trị vì của Đa-vít, có hai thầy tế lễ cả là Xa-đốc và A-hi-mê-léc (IISa 8:17), có thể một người phụng sự trong đền thánh tại Si-lô sau đó chuyển đến Ga-ba-ôn (IISu 1:1-6), còn người kia nhận nhiệm vụ trong cung ở Giê-ru-sa-lem. Đa-vít đã dựng một trại cho hòm giao-ước tại Thành Đa-vít, nhưng những vật dụng trong đền tạm không được chuyển đến Giê-ru-sa-lem mãi cho đến khi đền thờ mà Sa-lô-môn xây được hoàn tất (IVua 8:1-4; IISu 5:1-5).
• Nổ lực đầu tiên.
Tại sao Đa-vít muốn đem hòm giao-ước về Giê-ru-sa-lem? Vì một điều, ông muốn tôn vinh Đức Giê-hô-va và dành cho Ngài một địa vị xứng đáng, là Vua của cả dân sự. Nhưng Đa-vít cũng có một mong ước thầm kín trong lòng là xây được một đền thờ cho Đức Giê-hô-va (xem đoạn 7, Thi 132:1-5), bước đầu tiên là phải đặt hòm giao ước tại thủ đô. Đa-vít biết rằng Đức Giê-hô-va muốn có một đền thờ chính cho Ngài (Phuc 12:5,11,21; Phuc 14:23-24; Phuc 16:2,6,11; Phuc 26:2), hy vọng Đức Giê-hô-va cho phép ông xây dựng nó.
Mơ ước của Đa-vít không trở thành hiện thực, nhưng ông đã mua được đất để xây đền thờ (IISa 24:18) ông cũng vẽ bản đồ và tích trữ của cải và những vật liệu cần thiết cho công trình đó (ISu 28:1-29:30).
Chắc chắn cũng có lý do chính trị khi Đa-vít dời hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem, vì nó tượng trưng cho “một nước chịu dưới sự cai trị của Đức Chúa Trời”. Đa-vít kéo tất cả những quan chức cao cấp trong xứ vào kế hoạch n ầy, có lời mời các thầy tế lễ và người Lê-vi từ khắp nơi đến Giê-ru-sa-lem. “Đa-vít bèn nhóm cả Y-sơ-ra-ên lại, từ Si-ho, khe Ê-díp-tô, cho đến nơi nào Ha-mát, để rước hòm của Đức Chúa Trời từ Ki-ri-át-Giê-a-rim về” (ISu 13:5). Ha-mát được Đức Chúa Trời đánh dấu là biên giới ở cực bắc của Y-sơ-ra-ên (Dân 34:8).
Đa-vít hy vọng rằng những chia rẽ và những khác biệt trong quá khứ sẽ được quên đi khi dân sự hướng lòng mình về Đức Chúa Trời. Sự hiện diện của hòm giao ước có nghĩa là sự hiện diện của Đức Chúa Trời, sự hiện diện của Đức Chúa Trời có nghĩa là sự bình yên và đắc thắng.
Nhưng một điều đang bị bỏ quên: không có chỗ nào chép lại rằng Đa-vít đã tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời trong vấn đề nầy. Dời hòm giao-ước về Giê-ru-sa-lem có vẻ là một ý kiến khôn ngoan và ai cũng nhiệt tình ủng hộ việc làm đó, nhưng vua đã không làm điều mà ông thường làm xưa nay đó là tìm kiếm sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Xét cho cùng, điều làm vua và dân sự vui lòng lại không làm Đức Chúa Trời đẹp lòng, điều Ngài không đẹp lòng thì Ngài không ban phước cho.
Nổ lực đầu tiên của Đa-vít đã thất bại thảm hại vì người Lê-vi không khiêng hòm giao-ước trên vai mình. Trong Luật Pháp Môi-se, Đức Chúa Trời có dạy cẩn thận về cách dựng, tháo dỡ và di chuyển đền tạm (Dân 4:1-49), những vật dụng phải được khiêng trên vai của người Lê-vi, thuộc dòng dõi Kê-hát (IISa 4:9-20). Khi họ dùng cỗ xe bò mới để vận chuyển, họ đang làm theo cách người Phi-li-tin ngoại đạo thường làm (ISa 6:1-21), không phải theo cách được dạy cho Môi-se ở núi Si-nai.
Bài học ở đây rất rõ ràng: công việc của Đức Chúa Trời phải được thực hiện theo cách của Đức Chúa Trời nếu muốn được Ngài chúc phước cho. Được tất cả những lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên nhất trí không làm cho việc dùng xe bò ấy trở thành việc phải lẽ. Khi thấy hòm giao ước như sắp rớt khỏi xe bò, U-xa đã dám đưa tay ra giữ nó lại. Nhưng Đức Chúa Trời có cảnh cáo việc nầy trong Luật Pháp Môi-se, và chắc chắc người Y-sơ-ra-ên nào cũng biết rõ điều đó (Dân 1:51; Dân 4:15,20).
Không có bằng chứng nào cho rằng A-bi-na-đáp là người Lê-vi hay các con trai ông, U-xa và A-hi-giô có đủ tư cách đến gần hòm giao-ước, huống hồ chạm vào nó. Đa-vít đưa hòm giao-ước vào nhà Ô-bết-Ê-đôm, là một người Lê-vi, nó được để lại đó trong 3 tháng.
Trong sự bắt đầu một thời đại mới của lịch sử Kinh thánh, Đức Chúa Trời đôi khi phát lộ quyền năng của Ngài trong việc trừng phạt để nhắc nhở dân sự nhớ một điều không hề thay đổi: dân sự Đức Chúa Trời phải vâng Lời Đức Chúa Trời. Sau khi đền tạm được dựng xong và các thầy tế lễ làm lễ khách thành, các con trai A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu, đã bị phạt chết vì cố ý bước vào nơi thánh (Le 10:1-20).
Khi Y-sơ-ra-ên bước vào xứ Ca-na-an và bắt đầu chinh phục xứ ấy, Đức Chúa Trời đã phạt chết A-can vì đã không vâng theo luật pháp, đã giấu của cướp được của thành Giê-ri-cô (Gios 6:1-7:29).
Trong những ngày sơ khai của Hội thánh thời Tân-ước, A-na-nia và Sa-phi-ra đã phải chết vì tội nói dối với Đức Chúa Trời và dân sự Ngài (Công 5:1-42). Ở đây, vào những ngày đầu tiên trong thời trị vì của Đa-vít tại Giê-ru-sa-lem, Đức Chúa Trời đã nhắc nhở dân sự Ngài rằng họ không được bắt chước những dân khác trong cung cách phụng sự Ngài, tất cả những gì họ cần biết đó chính là Lời Ngài.
Hội thánh ngày nay cần lưu ý lời nhắc nhở này và quay trở về với lời Đức Chúa Trời để hiểu được ý muốn của Ngài.
Nhiệt tình hay hiệp một không thể bù đắp cho sự không vâng phục. Khi công việc Đức Chúa Trời được thực hiện theo cách loài người, chúng ta bắt chước thế gian thay vì vâng theo Kinh thánh, chúng ta đừng mong được Đức Chúa Trời chúc phước.
Đám đông có thể tán thưởng việc làm của chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời thì sao? Cách của thế gian cuối cùng sẽ dẫn đến sự chết.
• Nổ lực thứ hai
Khi Đa-vít nghe biết được sự hiện diện của hòm giao ước đang đem lại phước hạnh cho nhà Ô-bết-Ê-đôm, ông muốn ơn phước đó dành cho chính mình và dân sự mình. Hòm giao phải ở trong trại mà ông dựng để dành riêng cho nó tại Giê-ru-sa-lem.
Vì I và II Sủ-ký được viết theo cái nhìn của tthầy tế lễ, đoạn viết về nổ lực thứ hai đầy đủ hơn đoạn viết trong sách Sa-mu-ên (ISu 15:1-16:3). Bây giờ Đa-vít quyết tâm làm công việc Chúa theo cách của Chúa, nên ông sai người Lê-vi đi một quảng đường 10 dặm đến nhà Ô-bết-Ê-đôm, họ đã khiêng hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem.
Để bảo đảm Đức Chúa Trời sẽ không nổi giận và trừng phạt, người Lê-vi đã dừng lại sau khi bước 6 bước đầu tiên và các thầy tế lễ đã dâng của lễ là một con bò đực mập béo. Khi không có hình phạt nào giáng xuống, họ biết Đức Chúa Trời đã đẹp lòng với cách họ đang làm (ISu 17:26). Khi đoàn người đi đến trại tại Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ dâng thêm 14 của lễ nữa (ISu 15:26).
Đa-vít nhảy múa hết mình để thờ phượng trước mặt Đức Giê-hô-va, ông mặc áo vải gai và ê-phót của thấy tế lễ (c.14).Vì việc đó, vợ ông đã chỉ trích rằng ông đã hành động mà không biết xấu hổ (c.20), nhưng ISu 15:27 cho chúng ta biết ông cũng có mặc áo dài của vua bên trong ê-phót. Dù ông không xuất thân từ chi phái Lê-vi, ông đã hành động như một vị vua vừa là thầy tế lễ – hình ảnh của Chúa Giê-xu, Con vua Đa-vít, là Đấng giữ hai chức vị “theo ban Mên-chi-xê-đéc” (He 6:20-8:13; Thi 110:1-7).
Trong thời Áp-ra-ham, Mên-chi-xê-đéc vừa là vua vừa là thầy tế lễ của Sa-lem (Sa 14:17-24), giờ đây Đa-vít đang thờ phượng như vua và thầy tế lễ của Giê-ru-sa-lem. Đoàn người nầy còn có ban nhạc đi theo, họ là những người Lê-vi chơi đàn và hát ngợi khen Đức Giê-hô-va.
Sự nhảy múa của Đa-vít xuất phát từ tấm lòng chân thành của riêng mình, khi ông nhảy múa trước mặt Đức Giê-hô-va ông muốn tôn vinh sự hiện điện của Ngài trong thủ đô của mình. Có thể một số bài Thi-thiên (24,47,95,99,68,105,106,132; ISu 19:7-36) đã phản ánh suy nghĩ và cảm xúc của Đa-vít trong sự kiện đó. Ngày xưa, nhảy múa giữ vai trò quan trọng cả trong cách thờ phượng của người Ngoại bang và người Do-thái (Thi 149:3) cũng như trong những dịp lễ đặc biệt, như đám cưới, họp mặt gia đình (Lu 15:25), và lễ mừng thắng trận (Cac 11:34).
Thông thường phụ nữ là người hát và nhảy múa trước mặt Đức Giê-hô-va (Xu 15:20-21; ISa 18:6; Thi 68:14-26), khi cả người nam và người nữ cùng nhảy múa, họ bị cô lập. Nhảy múa trong tôn giáo được đề cập hoặc ám chỉ trong sách Thi-thiên (Thi 26:6-7 Thi 30:11 Thi 42:4 Thi 150:4).
Trong Tân-ước không có bằng chứng nào cho thấy nhảy múa là “hình thức thờ phượng” được sử dụng trong nhà hội Do-thái hay trong nghi thức của Hội thánh đầu tiên. Người Hy-lạp đưa hình thức nhảy múa vào nghi thức thờ phượng trong Hội thánh hậu-các sứ đồ, nhưng tập tục nầy gây ra những vấn đề nghiêm trọng về mặt đạo đức và cuối cùng đã bị cấm.
Thật khó cho hội chúng phân biệt giữa “nhảy múa trong Cơ-đốc giáo” và nhảy múa để tôn vinh các thần Ngoại bang, nên Hội thánh loại bỏ tập tục nầy và sau đó nó bị lên án.
Khi hòm giao-ước được đặt an toàn trong trại, Đa-vít chúc phước cho dân sự (một hành động mà thầy tế lể thường làm) và phát cho mỗi người một ít bánh, thịt (hoặc rượu), bánh nho khô. Một lần nữa chúng ta được nhắc về Mên-chi-xê-đéc, thầy tế lễ nhà vua, là người từ Sa-lem đến và ban bánh và rượu cho Ap-ra-ham (Sa 14:18-19).
Nhưng khi Đa-vít trở về nhà để chúc phước cho gia đình riêng của mình, ông biết được vợ ông đã xấu hổ vì ông và thậm chí còn xem thường ông vì đã nhiệt tình nhảy múa trước công chúng (c.16,20-23).
Thật đáng chú ý khi đoạn văn nầy đã viết rằng nàng thấy “Vua Đa-vít” mà không phải “chồng nàng” (c.16) và nàng được gọi là “con gái của Sau-lơ” mà không phải là “vợ Đa-vít” (c.20). Khi nói chuyện với Đa-vít, Mi-canh dùng ngôi thứ ba (“Hôm nay vua Y-sơ-ra-ên được vinh hiển thay”) mà không dùng ngôi thứ hai, và lời lẽ của nàng đầy mỉa mai. Thật đáng buồn cho Đa-vít vì một ngày đáng vui mừng hạnh phúc ấy lại kết thúc bằng sự tiếp đón vô cảm và lạnh lùng của vợ mình, nhưng đầy tớ của Đức Chúa Trời thường phải rơi từ đỉnh vinh quang xuống hố sâu vực thẳm một cách nhanh chóng như vậy.
Không có bằng chứng nào cho thấy Đa-vít đã phạm những tội mà vợ ông lên án. Ông ăn mặc phù hợp và chắc chắc đã không cởi trần trước mặt dân sự, ông đã nhảy múa trước mặt Đức Chúa Trời, là Đấng hiểu rõ tấm lòng của ông. Đa-vít nhận ra trong Mi-canh có sự kiêu ngạo và sự đui mù thuộc linh của Sau-lơ cha cô ấy, mong ước lớn nhất của ông ta là có được danh tiếng trước dân chúng. Đa-vít thích sống là hành động sao cho Đức Chúa Trời đẹp lòng hơn.
Đa-vít nhắc Mi-canh nhớ rằng Đức Chúa Trời đã chọn ông để làm vua thay thế Sau-lơ, cha nàng, và ông sẽ làm những điều Đức Chúa Trời khiến ông làm. Nói cách khác, Đa-vít không cần con gái của vị vua thất sủng và đáng hổ thẹn ấy làm cố vấn thuộc linh cho ông. Có lẽ Mi-canh không thích những gì Đa-vít nói về sự xao lãng hòm giao-ước của cha mình (ISu 13:3). Đa-vít yêu quý Mi-canh và đã rước nàng về khi ông được làm vua (IISa 3:12-16), nhưng tình yêu sẽ dễ dàng sứt mẻ nếu chúng ta không đặt hy vọng vào nó.
Mi-canh nói rằng Đa-vít đã làm chính ông mất mặt trước dân chúng, nhưng Đa-vít đã phản đối lời buộc tội sai trái của nàng với lời báo trước rằng nàng sẽ không được sủng ái nữa, từ đó Đa-vít bỏ qua bổn phận làm chồng của mình đối với nàng. Trong thời đại đó người vợ nào không sinh được con cho chồng là một điều đáng sỉ nhục, nhất là khi bị chồng ruồng bỏ. Nhưng sự son sẻ của Mi-canh là một ơn phước từ Đức Chúa Trời.
Nó ngăn chặn gia đình của Sau-lơ tiếp tục tồn tại trong Y-sơ-ra-ên và vì vậy đe dọa đến ngai vàng của Đa-vít. Đa-vít và Giô-na-than có hứa sẽ cùng nhau cai trị đất nước (ISa 23:16-18), nhưng Đức Chúa Trời không chấp nhận kế hoạch đó nên đã để cho Giô-na-than tử trận. Đức Giê-hô-va muốn dòng dõi và ngai vàng của Đa-vít được an toàn trước mọi vương triều khác, vì từ dòng dõi Đa-vít sẽ sinh ra Đấng Mê-si-a, là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Đó là chủ đề của đoạn sau trong câu chuyện về vua Đa-vít.
2. ĐA-VÍT VUA GIU-ĐA (ISu 10:1-12; IISa 1:1-27)
Đa-vít phải tha hương trong 10 năm để bảo toàn mạng sống, và trốn mặt Sau-lơ chờ đến ngày Đức Chúa Trời trao ngôi vua Y-sơ-ra-ên cho ông. Suốt những năm tháng khó khăn đó, Đa-vít được tăng trưởng trong đức tin và bản tánh tin kính, được Đức Chúa Trời trang bị cho nhiệm vụ mà Ngài đã chọn ông làm.
Khi ngày chiến thắng xảy đến, Đa-vít cẩn thận để không gây đột ngột cho dân sự, nhiều người trong số họ vẫn còn trung thành với Sau-lơ. Ông từng bước tiếp cận, chúng ta không thể không ngưỡng mộ Đa-vít vì sự khôn ngoan và tính kiên nhẫn của ông khi ông thu phục được lòng trung thành của dân sự và thống nhất được một đất nước tan rã. “Như vậy, người chăn giữ họ theo sự thanh liêm lòng người, và lấy sự khôn khéo tay mình mà dẫn dắt họ” (Thi 78:72)
1. Sự xác minh (ISu 10:1-12) (IISa 1:1-16)
Đức Chúa Trời ngăn chặn Đa-vít và lính của ông để họ không giúp dân Phi-li-tin đánh lại sau-lơ và Y-sơ-ra-ên, nên Đa-vít trở về Xiếc-lác. Ở đó ông phát hiện dân A-ma-léc xâm nhập, đem đi tất cả con người, của cải; để lại một thành đổ nát hoang tàn. Đức Chúa Trời trong ơn thần hựu của Ngài đã dẫn đắt Đa-vít đến trại quân A-ma-léc, Đa-vít đánh kẻ thù tháo chạy, giải cứu phụ nữ và trẻ em, thu hồi tất cả những gì đã bị cướp đi. Sau đó họ trở về Xiếc-lác chờ tin tức từ chiến trường (ISa 29:1-30:31)
• Một người đưa tin nói dối (IISa 1:1-10).
Trong ngày Đa-vít tàn sát quân A-ma-léc, quân Phi-li-tin áp đảo Sau-lơ và quân của ông ta ở núi Ghinh-bô-a, chính nơi nầy Sau-lơ và ba con trai ông bị giết chết (ISa 31:1-13; ISu 10:1-12). Ngày hôm sau, trong khi Đa-vít trở về Xiếc-lác, quân Phi-li-tin phỉ báng xác Sau-lơ và xác các con trai ông ta, một người đưa tin người A-ma-léc vội vã chạy đến báo cho Đa-vít. Ông ta mất ít nhất 3 ngày để đi từ chiến trường đến Xiếc-lác, cách khoảng 80 dặm. Như vậy, Đa-vít ở Xiếc-lác được 3 ngày thì nhận được tin Y-sơ-ra-ên thất trận và Sau-lơ và 3 con trai người đã chết.
Trong Kinh Thánh có ba chỗ chép về sự chết của Sau-lơ và các con trai người: ISa 31:1-13, tin tức của người đưa tin nói trên được chép trong IISa 1:1-10, và một chỗ khác nữa trong ISu 10:1-14. Theo ISu 10:4-5, Sau-lơ đã tự đâm gươm vào ngực mình mà chết, nhưng người đưa tin nói rằng chính ông ta đã giết Sau-lơ để Sau-lơ khỏi bị đau đớn và sỉ nhục nhiều hơn. ISu 10:14 cho chúng ta biết rằng chính Đức Chúa Trời đã giết sau-lơ vì tội chống nghịch, đặc biệt là tội đi tìm lời khuyên của bà bóng.
Những đoạn tường thuật trong ISa 31:13 và ISu 10:1-14 khó có thể phù hợp với tin báo của người đưa tin nầy, nên rất có thể ông ta đã nói dối.
Chắc chắn người đàn ông nầy đã có mặt ngoài chiến trường. Trong khi ông ta đang tìm của cải trên những cái xác lính tử trận, ông thấy xác của Sau-lơ và các con Sau-lơ trước khi quân Phi-li-tin phát hiện ra, ông ta đem về những biểu tượng vương quyền của Sau-lơ; vòng vàng và mão miệm. Nhưng người A-ma-léc đó đã không giết Sau-lơ như lời ông ta kể, vì Sau-lơ và các con trai đã chết trước đó rồi. Vì lời nói dối nầy mà ông ta phải chết.
Một trong những từ chìa khóa trong đoạn nầy là “ngã chết”, được tìm thấy trong các câu 4,10,12,19 và 27. Khi Sau-lơ bắt đầu lên ngôi vua, ông được mô tả là “người cao hơn cả dân sự từ vai trở lên” (ISa 9:2; ISa 10:23; ISa 16:7) nhưng đến cuối cùng ông là vị vua ngã chết trên chến trường. Sau-lơ đã ngã té vì hoảng sợ trong nhà bà bóng (ISa 28:20), và ông đã ngã ngoài chiết trường trước mặt kẻ thù (ISa 31:4). Đa-vít hạ mình trước Chúa và Ngài đã nâng ông dậy, nhưng sự kiêu ngạo và phản nghịch của Sau-lơ đã dẫn ông đến kết cuộc đáng hổ thẹn.
“Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã” (ICo 10:12).3 Sau-lơ là vua được xức dầu vào buổi binh minh của một ngày mới (ISa 9:26-27) nhưng ông chọn cách buớc đi trong sự tối tăm (ISa 28:8) và không vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời.