...(có nghĩa “Đức Chúa Trời là sự cứu-rỗi”) là đầy-tớ và là học trò của Ê-li trong 10 năm, nhưng giờ đã đến lúc Đức Giê-hô-va gọi Ê-li, đầy-tớ can-đảm của Ngài về với Ngài. Chúng ta thường nghĩ rằng họ là những người có tâm-tính khác nhau, Ê-li là “con trai của sấm sét” và Ê-li-sê là người chữa lành dịu dàng. Điều nầy không có nghĩa là Ê-li không bao giờ nhẹ nhàng hòa nhã hay Ê-li-sê không bao giờ nghiêm khắc, vì Kinh Thánh cho thấy điều ngược lại.
Nhưng nói chung, Ê-li đến như Giăng Báp-tít, đặt cái búa kề rễ cây, trong khi Ê-li-sê tiếp bước với chức-vụ khá giống với chức-vụ của Chúa Giê-xu (Mat 3:1-12; Mat 11:16-19). Trong những sự-kiện cuối cùng trong mối quan-hệ thuộc-linh nầy, chúng ta nhận thấy 4 lẽ-thật quan-trọng được mặc-khải về Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
1. Đức Chúa Trời đoán xét tội-lỗi (IIVua 1:1-18)
Sau khi vua gian ác A-háp băng hà, dân Mô-áp lợi dụng A-cha-xia, con trai và là người kế vị A-háp vi phạm hiệp-ước của một nước chư-hầu ràng buộc họ với Y-sơ-ra-ên (c.1 IIVua 3:4-5).
Nhiều năm trước, Đa-vít đã đánh thắng dân Mô-áp (IISa 8:2) và Giô-ram người kế vị của A-cha-xia sẽ kết hợp với Giô-sa-phát, vua Giu-đa, để đánh lại dân Mô-áp (IIVua 3:6). Nhưng Đức Giê-hô-va là Chúa của tất cả dân trên đất (Công 17:24-28; Đa 5:19,21; Đa 7:27) bản án của Ngài xác định A-cha-xia là người gian ác (IVua 22:10,51-53), nhưng khi Đức Giê-hô-va không cho phép cai-trị thì chính Ngài sẽ cai-trị (Thi 33:10-11).
• Thờ thần-tượng (IIVua 1:2-4).
Một thập niên trước khi A-cha-xia gặp tại nạn, Ê-li đã đại thắng trước thần Ba-anh (IVua 18:1-46), nhưng A-háp và Giê-sa-bên không nhận ra lỗi-lầm họ đã không thay đổi, cả gia đình của họ cũng như vậy (IVua 22:51-53). Khi A-cha-xia bị thương nặng do ngã từ cửa sổ, ông lại quay sang nhờ-cậy thần Ba-anh mà không nhờ-cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. “Ba-anh” có nghĩa đơn giản là “chúa” và “Ba-anh-Xê-bụt” có nghĩa là “chúa của loài sâu bọ”, một trong những danh mà các kẻ thù của Chúa Giê-xu đã dùng để sỉ nhục Ngài (Mat 10:25).
Tại sao vua quyết định sai các sứ-giả đi 40 dặm đến Éc-rôn để cầu-vấn thần Ba-anh? Thật sự Ê-li đã giết chết 450 tiên-tri của Ba-anh (IVua 18:19,22,40), nhưng đó là chuyện của 10 năm về trước.
Chắc chắn những tiên-tri khác của Ba-anh vẫn còn hoạt động trong xứ. Ba mẹ của vua đã đãi ăn hàng trăm tiên-tri nầy (IVua 18:19), và không khó cho vua A-cha-xia khi muốn nhờ các tiên-tri Ba-anh sang giúp đỡ. Có lẽ ông sai người đến Éc-rôn vì ông không muốn dân-sự ở Sa-ma-ri biết tình trạng của ông nghiêm trọng như thế nào. Đền thờ thần Ba-anh tại Éc-rôn rất nổi tiếng vì Ba-anh là thần chính của của thành đó, và người ta không bất ngờ khi vua sai người đến đó xin giúp đỡ. Lưu ý A-cha-xia xin các tiên-tri của thần Ba-anh đoán bệnh, không phải chữa bệnh.
Đức Chúa Trời luôn báo cho các đầy-tớ Ngài những điều mà người khác không biết gì (Gi 15:15; Am 3:7). “Thiên-sứ của Đức Giê-hô-va” nầy rất có thể là chính Đức Chúa Giê-xu của chúng ta một trong những cách hiển hiện của Ngài trước khi Ngài giáng thế (Sa 16:7; Sa 18:1-33; Sa 21:17; Sa 22:11; Sa 48:16). Khi các đầy-tớ của Đức Chúa Trời đồng đi với Chúa, họ có thể tin nơi sự dẫn dắt của Ngài khi họ cần. Đây chắc chắn là kinh-nghiệm của Ê-li (c.15 IVua 17:3; IVua 18:1; IVua 21:18).
Ê-li ngăn chặn những sứ-giả của vua và truyền cho họ một sứ-điệp nhằm khiển-trách và cảnh-tỉnh vua. Tại sao ông ta muốn nhờ thần hay chết ở Éc-rôn trong khi Đức Chúa Trời hằng sống của Y-sơ-ra-ên đang sẵn sàng cho ông ta biết điều gì đang xảy ra? Ông ta chắc sẽ chết! Tin xấu nầy được lập lại 3 lần: 2 lần bởi Ê-li (c.4,16) và một lần bởi các sứ-giả (c.6). Thay vì là phát ngôn viên cho thần Ba-anh, các sứ-giả trở thành người rao-truyền Lời Đức Chúa Trời cho vua.
•Kiêu-ngạo (IIVua 1:5-12).
Chắc chắn các sứ-giả của vua không biết Ê-li là ai và không nhận ra ông cho đến khi họ trở về cung điện! Ê-li là kẻ thù của A-háp (IVua 21:20) và A-cha-xia là con trai của A-háp. Nên chắc chắn A-cha-xia đã nói điều gì đó với các cận thần của mình về tiên-tri nầy. Sự mô-tả của các sứ-giả về Ê-li nhắc chúng ta nhớ đến Giăng Báp-tít, là người hầu-việc trong “tâm-thần quyền-phép Ê-li” (Lu 1:17; Mat 3:4). Giống như Giăng Báp-tít, Ê-li mặc áo lông lạc đà, là loại áo dành cho người nghèo không như áo dài sang trọng của vua (Mat 11:7-10).
Lời thông-báo rằng vua sẽ chết lẽ ra làm A-cha-xia ăn năn tội lỗi mình và tìm kiếm Đức Giê-hô-va, nhưng không, ông ta cố tìm cách hãm hại Ê-li. (Điều nầy nhắc chúng ta về sự-kiện vua Hê-rốt tìm cách bắt Giăng Báp-tít 14:1-12). A-cha-xia biết rằng Ê-li là một kẻ thù đáng ghét nhất, nên ông ta sai một quan cai và 50 binh lính đến đưa Ê-li vào cung; nhưng ông đã đánh giá thấp quyền-phép của tiên-tri Ê-li. Có phải A-cha-xia nghĩ rằng ông ta có thể giết chết tiên-tri nầy và như vậy làm vô hiệu lời tiên-tri ấy?
(Lời Chúa trong câu 15 gợi ý rằng vua đang nghĩ đến chuyện giết chết Ê-li). Hay là vua đang hy-vọng có thể khiến Ê-li thay đổi được lời tiên-tri ấy. Nhưng Ê-li nhận-lệnh từ Vua trên muôn vua, không phải từ vua của thế-gian, nhất là vua đang thờ thần-tượng và là con trai của những kẻ giết người. Nhiều năm trước, Ê-li đã chạy trốn trong sợ hải khi nghe lời đe dọa của Giê-sa-bên (IVua 19:1-21), nhưng lần nầy ông vẫn đứng yên và đối diện với các binh lính mà không chút lo-sợ.
Quan cai chắc chắn không dùng danh xưng “người của Đức Chúa Trời” như một lời chúc-tụng Ê-li hoặc như một lời xưng-nhận đức-tin của mình, vì ai cũng biết “người của Đức Chúa Trời” là một từ đồng nghĩa với từ “tiên-tri”. Câu đáp lời của Ê-li có nghĩa là, “Vì ngươi gọi ta là người của Đức Chúa Trời, hãy để ta chứng-minh cho ngươi điều đó. Đức Chúa Trời của ta sẽ xử ngươi theo như lời của ngươi nói”.
Lửa từ trời thiêu đốt tất cả 51 người. Hình-phạt nầy được lập lại khi nhóm 50 người thứ hai đến. Lưu ý rằng quan cai thứ hai đã ra-lệnh cho Ê-li “Hãy mau mau xuống, đừng để vua của ta chờ đợi nữa!” Ký-ức về cuộc thách thức trên Núi Cạt-mên chắc đã cảnh-báo cho vua và các binh lính của mình rằng Ê-li có thể gọi lửa từ trời (IVua 18:1-46).
Chúng ta không nên giải thích 2 lần Đức Chúa Trời thạnh nộ là bằng-chứng cho sự bực tức về phía Ê-li và sự không công-bình về phía Đức Chúa Trời. Xét cho cùng, có phải các binh lính chỉ đang làm nhiệm-vụ của họ và vâng-theo lệnh của chủ mình? Hai tình tiết về hình-phạt bằng lửa nầy là những sứ-điệp rất ấn-tượng từ Đức Giê-hô-va đó là vua và dân-sự phải ăn-năn nếu không họ sẽ nếm hình-phạt của Đức Chúa Trời. Dân-sự đã quên những bài học về Núi Cạt-mên, và 2 hình-phạt nầy nhắc họ nhớ rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là “một đám lửa tiêu cháy” (Phuc 4:24; Phuc 9:3; Hêb 12:29).
Vua A-cha-xia là người kiêu-ngạo, ông đã hy-sinh 2 quan cai và 100 người trong nỗ lực vô ích nhằm ngăn chặn cái chết của mình. Những người nầy vô-tội, là nạn nhân của ý thích bất chợt của vua, nhưng là những người có tội vì đã sẳn sàng nghe theo bất cứ điều gì vua m ình ra lệnh. Nếu họ làm theo cách của quan cai thứ ba, họ cũng sẽ sống. [1]
•Không vâng-lời (IIVua 1 :13-18).
Nhất quyết bắt Ê-li phải vâng-theo lệnh của mình, vua đã sai quan cai thứ ba cùng với toán lính đến gặp Ê-li, nhưng lần nầy quan cai tỏ-ra khôn-ngoan và hạ mình. Không như vua và 2 quan cai trước, ông ta đầu-phục Đức Giê-hô-va và đầy-tớ của Ngài. Lời cầu-xin của quan cai thứ ba cho chính mình và cho lính đi theo mình là bằng-chứng cho thấy ông đã nhận biết quyền-phép của Ê-li và ông sẽ không làm tổn hại đến đầy-tớ của Đức Chúa Trời.
Lời Chúa trong câu 15 gợi ý rằng nguy hiểm đang nằm trong tay quan cai chứ không phải trong tay vua. Có lẽ vua đã ra-lệnh giết Ê-li trên đường đi đến cung vua hoặc sau khi ông rời cung vua. Nếu vua phải chết, thì ít nhất ông cũng bắt Ê-li phải chết theo!
Vua nằm trên giường khi Ê-li ra mắt ông và lần thứ hai Ê-li nói rằng vua sẽ chết. Đức Giê-hô-va phải lập lại sứ-điệp của Ngài bao nhiêu lần với những tội-nhân gian ác? Vua sẽ rời khỏi thế gian mang theo câu nói “ngươi hẳn sẽ chết” còn văng vẳng bên tai, nhưng ông vẫn không vâng-theo Lời Chúa.
Một lần nữa chúng ta được nhắc về thái-độ của Hê-rốt đối với Giăng Báp-tít, vì Hê-rốt đã nghe Giăng Báp-tít nhưng vẫn không ăn-năn (Mac 6:20). Sau 2 năm làm vua, A-cha-xia đã băng hà, đúng như lời Ê-li tiên-tri, em trai ông Giô-ram lên kế vị. Lưu ý vua Giu- đa trong thời điểm đó cũng có tên là Giô-ram (c.17). Để tránh nhầm lẫn, chúng ta sẽ gọi em trai A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên là Giô-ram, còn con trai Giô-sa-phát, vua Giu-đa là Giê-hô-ram (Jehoram).
Trước khi qua phân đoạn khác, chúng ta cần ghi nhớ rằng thế-gian kiêu-ngạo và không chịu ăn-năn sẽ gánh chịu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời một ngày nào đó. Điều nầy sẽ xảy ra “khi Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên-sứ của quyền-phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời, và không vâng phục Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. Họ sẽ bị hình-phạt hư-mất đời-đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh-hiển của quyền-phép Ngài” (IITês 1:7-9). Đức Chúa Trời “biểu hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn-năn ” (Công 17:30) điều nầy có nghĩa là những ai không ăn-năn là những người chống nghịch Đức Chúa Trời. Phúc-Âm không chỉ là sứ-điệp để tin, nó còn là một mạng-lệnh để vâng-giữ.
2. Đức Chúa Trời muốn chúng ta ghi nhớ (IIVua 2:1-6)
Vua A-cha-xia chết nhưng Ê-li không chết! Ông được cất lên thiên-đàng trong cơn gió lốc, trên những con ngựa lửa kéo một cổ xe bằng lửa. Giống như Hê-nóc, ông ta đồng đi với Đức Chúa Trời và rồi thình lình biến mất với Ngài (Sa 5:21-24; Hêb 11:5).
Cả 2 người đã minh-họa cho hình ảnh các thánh-đồ được cất lên khi Chúa Giê-xu trở lại (ITês 4:13-18). Nhưng trước khi Ê-li giao việc lại cho Ê-li-sê, người kế-nhiệm, 2 người cùng đi từ Ghinh-ganh đến bên kia Giô-đanh. Đức Giê-hô-va có ít nhất 3 mục đích khi Ngài dẫn dắt 2 đầy-tớ nầy cùng đi với nhau.
•Nắm bắt hiện tại.
Ê-li-sê biết rằng thầy mình sắp rời xa mình (c.1,3,5), ông muốn ở bên cạnh thầy cho đến phút cuối cùng, nghe lời thầy khuyên nhũ và học hỏi từ thầy. Có lẽ Ê-li muốn Ê-li-sê ở lại phía sau và để ông đi một mình, nhưng đây chỉ là thử thách lòng tận hiến của Ê-li-sê. Khi Ê-li ném chiếc áo choàng trên Ê-li-sê và chọn người trẻ ấy làm người kế-nhiệm cho mình, Ê-li-sê đã hứa, “Tôi sẽ theo ông” (IVua 19:20), ông đã giữ lời-hứa đó.
Suốt những năm 2 người đi với nhau, chắc chắn họ dần quý mến và hiểu nhau sâu sắc. “Loài người ở một mình thì không tốt” (Sa 2:18) áp-dụng cho những người hầu-việc Chúa cũng như trong hôn-nhân. Môi-se và A-rôn cùng nỗ lực bên nhau, Đa-vít và Giô-na-than cùng khích-lệ nhau, Phao-lô ban đầu có Ba-na-ba đồng hành, sau đó có Si-la và Lu-ca bạn đồng công thường xuyên với ông. Ngay cả Chúa chúng ta đã sai môn-đồ Ngài đi từng đôi một (Mac 6:7; Tr 4:9-12). Chúng ta không chỉ là bạn đồng công với Chúa, mà còn với dân-sự Ngài, vì vậy không nên tranh cạnh khi cùng hầu-việc cho cùng một Đức Chúa Trời (Gi 4:34-38; ICo 3:1-9).
Chúng ta không bao giờ bi ết lúc nào bạn và những người cộng-sự sẽ rời bỏ chúng ta. Đức Chúa Trời nói cho Ê-li-sê biết Ê-li sẽ rời khỏi ông, nhưng chúng ta không biết khi nào chúng ta hay bạn chúng ta về nước Chúa. Chúng sẽ đánh mất đi những cơ-hội quý báu để biết về nhau về Chúa và Lời Ngài nếu lãng phí thì giờ vào những chuyện vặt. Lòng tôi thật vui-mừng khi tôi thấy những Cơ-đốc nhân trẻ nhận thức đúng giá-trị của “những thánh-đồ lớn tuổi”, những người từng-trải trong công việc hầu-việc Chúa, và biết học hỏi từ họ. Một ngày, “những dày dạn” nầy sẽ được gọi về nước Chúa và chúng ta không còn cơ-hội học hỏi từ họ nữa.
Hai người nầy đại diện cho hai thế-hệ khác nhau và có tính-cách trái ngược nhau, nhưng họ có thể làm việc chung với nhau. Thật đáng trách cho những người trong cùng một Hội thánh lại chia-rẽ nhau vì không cùng ban ngành. Tôi nghe một mục-sư trẻ nói rằng anh ta không muốn Hội thánh của anh ta có người nào trên 40 tuổi và tôi tự hỏi anh ta sẽ tìm đâu ra những lời khuyên khôn-ngoan thường đến từ những người trưởng-thành. Tôi tạ-ơn Chúa vì những “Ê-li” trong cuộc đời tôi, luôn kiên nhẫn với tôi và dành thời gian hướng dẫn tôi. Giờ đây tôi muốn chia-sẻ những ơn phước đó với người khác.
•Chuẩn bị cho tương lai.
Tại Bê-tên, Giê-ri-cô, và Ghinh-ganh, hai người đã viếng thăm “các môn-đồ của những tiên-tri” (c.5,7,15 IIVua 4:1,38-40; IIVua 6:1,7; IIVua 9:1; IVua 20:35), những bạn bè của những người tận tụy được Đức Chúa Trời kêu-gọi trong chức-vụ nghiên-cứu Kinh Thánh và dạy dỗ cho dân-sự. Sa-mu-ên đã lập một trong những “trường” nầy tại Ra-ma (ISa 7:17; ISa 28:3; ISa 10:5,10; ISa 19:20-23).
Những người nầy sẽ giống như những nhóm người cố-vấn trong Hội thánh chúng ta, hoặc như những trường Kinh Thánh ngày nay. Công việc của Đức Chúa Trời luôn là công việc được truyền từ thế-hệ nầy cho thế-hệ khác và chúng ta phải trung-tín vâng-theo IITim 2:2 “Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy người trung-thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác”.
Những tiên-tri trẻ tuổi biết rằng thầy của họ sắp rời khỏi họ, nên những lần gặp mặt cuối cùng nầy gây nhiều xúc động. Chúng ta có những “lời từ biệt” trong Kinh Thánh như của Môi-se (sách Phục-truyền), Giô-suê (Gios 23:1-24:33), Đa-vít (ISu 28:1-29:11), Chúa Giê-xu (Gi 13:1-16:33) và Phao-lô (Công 20:17-38; IITi-mô-thê), nhưng Kinh Thánh không cho chúng ta biết Ê-li nói gì với những học trò yêu dấu của mình. Chắc chắn ông bảo họ phải nghe lời Ê-li-sê giống như đã vâng-theo lời ông, để giữ lòng trung-thành với Lời Đức Chúa Trời và làm mọi việc mà Ngài phán dặn khi họ tranh chiến với các thần-tượng trong xứ. Trách-nhiệm của họ là phải kêu-gọi dân-sự quay về vâng-phục giao-ước của Đức Chúa Trời (Phuc 27:1-30:20) để Ngài được đẹp lòng mà ban ơn và hàn gắn đất nước.
Trong suốt những năm tôi được đặc ân hướng dẫn cho sinh-viên trường Kinh Thánh, tôi thường nghe một vài em sinh viên nói rằng, “Tại sao chúng ta đi học trường Kinh Thánh? Charles Spurgeon có học đâu và cả Campell Morgan hay D.L. Moody cũng vậy!”. Tôi luôn trả lời, “Nếu có em nào trong số các em là những Spurgeon, Morgan hay Moody, chúng tôi chắc chắn sẽ phát hiện ra và cho phép em đó thôi học. Nhưng tôi xin nhắc các em rằng cả Spurgeon và Moody đều đã lập trường Kinh Thánh, Campbell Morgan từng là hiệu trưởng của một trường Kinh Thánh và đi dạy nhiều nơi. Cho nên hãy lo chăm chỉ học đi”
Đức Chúa Trời có những cách khác nhau để đào tạo các đầy-tớ của Ngài, nhưng Ngài vẫn mong chờ thế-hệ trước truyền lại cho thế-hệ sau những lẽ-thật quý báu mà họ nhận được từ những người đi trước, “đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi” (Giu 1:3)
•Nhìn lại quá khứ.
Ghinh-ganh, Bê-tên, Giê-ri-cô, và sông Giô-đanh là những nơi quan-trọng trong lịch-sử Do-thái, mỗi nơi mang theo mình một sứ-điệp có ý nghĩa. Trước khi được cất lên trời. Ê-li muốn thăm tất cả nơi đó lần cuối và dẫn Ê-li-sê đi theo. Đức Chúa Trời đời đời của chúng ta không ngự những nơi đặc biệt nào đó, nhưng chúng ta, là những tạo vật của thời gian và lịch-sử, ần những điều mắt thấy được để giúp ghi nhớ và hiểu hơn về những việc Đức Chúa Trời đã làm cho dân-sự Ngài. Quá-khứ không phải là cái neo để giữ chúng ta lại nhưng là bánh lái để dẫn dắt chúng ta, và Đức Chúa Trời có thể dùng “những ký ức xác thực” nầy đề củng cố đức-tin của chúng ta.
Một thi-sĩ người Anh, W. H.Auden đã viết, “Con người là một tạo vật làm nên lịch-sử; con người không thể lập lại quá-khứ cũng không lãng quên nó”. Chúng ta cần phải nhớ rằng Đức Chúa Trời đã hành động trong quá-khứ và truyền lại điều quý báu nầy cho con cái và cháu chắt chúng ta (Thi 48:9; Thi 71:17-18; Thi 78:1-8,14; Thi 5:4). Đó là một trong chủ-đề chính trong lời trăn trối của Môi-se dành cho thế-hệ mới sắp bước vào Đất Hứa (Phuc 4:9-10; Phuc 6:4-9; Phuc 11:19-21; Phuc 29:29). Từ ”nhớ” được tìm thấy 14 lần trong sách Phục-truyền và từ “quên” được thấy ít nhất 9 lần.
•Ghinh-ganh (c.1) là nơi đầu tiên mà dân Y-sơ-ra-ên đã đóng trại sau khi họ vượt qua sông Giô-đanh và bước vào Đất Hứa (Gios 4:19-20). Chính tại đó những người nam Do-thái của thế-hệ mới đã giữ phép cắt-bì và chính thức trở thành “con của giao-ước” (Gios 5:2-9).
Ghinh-ganh là nơi của những khởi đầu mới và Ê-li muốn người kế-nhiệm ông phải ghi nhớ điều đó. Mỗi thế-hệ mới là một cơ-hội cho Đức Chúa Trời dấy lên những người lãnh đạo mới, mỗi lần dân-sự Ngài ăn-năn và trở lại với Ngài, Ngài có thể phục-hồi và làm mới họ. Trong thời gian đó, Ginh-ganh là trung tâm thờ-lạy thần-tượng (Os 4:15; Os 9:15; Os 12:11; Am 4:4; 5:5), nhưng Ê-li không từ bỏ nó.
•Từ Ghinh-ganh hai người đi đến Bê-tên (c.2-3), khoảng 15 dặm về phía tây Ghinh-ganh. Áp-ra-ham và cả Gia-cốp đã thờ-phượng ở đó (Sa 12:8; Sa 13:3). Chính tại Bê-tên, Gia-cốp đã thấy thiên sứ lên xuống trên một cái thang bắt từ đất đến trời. Ông còn nghe tiếng Chúa hứa sẽ ở cùng ông và gìn giữ ông (Sa 28:11-19). Bê-tên có nghĩa là “nhà của Đức Chúa Trời”, đó Gia-cốp thờ-phượng Đức Chúa Trời và hứa-nguyện sẽ vâng-phục Ngài.
Nhiều năm sau, Gia-cốp trở lại Bê-tên, giống như Áp-ra-ham (Sa 13:3) có sự bắt đầu mới trong sự bước đi với Chúa (Sa 35:1-29). Vua Giê-rô-bô-am đã dựng con bò vàng tại Bê-tên và khiến nó trở thành nơi thờ thần-tượng (IVua 12:26-32; Am 3:14; Am 4:4-6), nhưng Ê-li nhìn xa hơn tình-trạng thờ thần-tượng hiện tại của nó để thấy lúc nó là một nơi phước hạnh và được phục-hồi.
Tại Bê-tên, các học trò nói với Ê-li-sê về sự ra đi của thầy mình. Có lẽ họ nghĩ rằng mình biết một điều mà chưa ai biết, một thái-độ khá đặc biệt ở một số sinh viên. Cảnh tượng nầy lập lại khi Ê-li và Ê-li-sê đến Giê-ri-cô (c.5). Trong cả 2 thành nầy, Ê-li-sê khéo léo cho các học viên tin rằng ông đã biết chuyện gì sắp xảy ra, nhưng việc họ bàn tán chỉ làm buồn thêm cho cảnh chia tay. Cách tiếp cận của họ với việc Đức Chúa Trời đang làm chỉ đơn thuần xuất phát từ tâm trí, nhưng đối với Ê-li-sê, việc thầy mình ra đi gây cho ông sự buồn khổ trong lòng. Dấu hiệu của một học viên chân-chính của trường Kinh Thánh là có tấm lòng nóng cháy, không phải một cái đầu hiểu biết nhiều (Lu 24:32; ICôr 8:1).
Hai người đi về phía tây 15 dặm đến Giê-ri-cô, chiến thắng đầu tiên của Giô-suê ở Đất Hứa diễn ra ở đây (Gios 5:13-6:17). Đây cũng là nơi A-can không vâng-lời và lấy đi những chiến lợi phẩm lẽ ra thuộc về một mình Đức Chúa Trời, tội-lỗi nầy làm Y-sơ-ra-ên thất bại ở A-hi (Gios 7:1-26). Chắc chắn chiến thắng diệu kỳ tại Giê-ri-cô giúp cho Y-sơ-ra-ên biết được cách thu phục xứ đó: nhận-lệnh Đức Chúa Trời, vâng phục chúng bởi đức-tin dù chúng có vẻ ngu dại như thế nào; dâng mọi sự vinh-quang cho một mình Đức Chúa Trời.
Hai lần Giô-suê không vâng-theo cách thức nầy và ông đã kinh-nghiệm sự thất bại (Gios 7:1-26; Gios 9:1-27). Giô-suê đã rủa sả những ai xây lại thành Giê-ri-cô (Gios 6:26), nhưng trong thời trị vì của vua gian ác A-háp, thành ấy được xây lại (IVua 16:24). Giê-ri-cô sẽ nhắc Ê-li-sê nhớ đến chiến thắng bởi đức-tin, bi kịch của tội-lỗi và sự oai nghiêm của Đức Giê-hô-va, là Đấng đáng được mọi sự vinh-hiển.
Ê-li và Ê-li-sê đi 5 dặm về phía đông đến sông Giô-đanh, chắc chắn họ đang nhớ lại và bàn luận về khúc Kinh Thánh Gios 1:1-4:24. Đức Giê-hô-va phân rẽ Biển Đỏ để dân-sự Ngài thoát ra khỏi Ê-díp-tô (Xu 12:1-15:27), và sau đó Ngài lại phân-rẽ sông Giô-đanh để họ bước vào vùng đất của họ.
Tự do có ích gì khi bạn không nhận được cơ-nghiệp của mình? Khi dân-sự bước theo sau hòm giao-ước, Đức Giê-hô-va phân-rẽ lòng sông và dân-sự bước qua như đi trên đất khô! Để ghi nhớ phép-lạ nầy, Giô-suê xây một bia kỷ niệm ở giữa sông và một bia ở trên bờ. Không có gì quá khó đối với Đức Chúa Trời, vì với Ngài, mọi chuyện điều có thể! Và Ê-li đã lập lại phép-lạ lớn đó!
Đây là lúc tốt nhất để điểm lại những nét tương đồng giữa Môi-se và Ê-li. Cả 2 đều phân-rẽ nước, Môi-se với Biển Đỏ (Xu 14:16,21,26) và Ê-li với sông Giô-đanh. Cả hai đều gọi lửa từ trời (Xu 9:24; Lê 9:24; Dân 11:1; Dân 16:35), cả 2 đều thấy Đức Chúa Trời ban đồ ăn, Môi-se với ma-na (Xu 16:1-36) và chim cút (Dân 11:1-35), còn Ê-li với dầu, bột cho người đàn bà góa và cả đồ ăn cho riêng ông (IVua 17:1-6).
Trong xứ Ê-díp-tô, Môi-se cầu-nguyện và Đức Chúa Trời khiến thời tiết thay đổi, Ê-li cầu-nguyện thì Đức Chúa Trời làm dừng cơn mưa và sau ba năm Ngài ban mưa lại. Môi-se truyền dạy luật-pháp cho dân Y-sơ-ra-ên và Ê-li đã kêu-gọi họ ăn-năn trở về với Đức Chúa Trời hằng sống.
Cả hai đều có liên-quan đến núi (Si-na-i và Cạt-mên) và cả 2 đều có những hành-trình đi qua đồng vắng. Cả hai người đều có một kết cuộc thật đặc biệt: Đức Chúa Trời đã chôn Môi-se trong một hang đá mà không ai có thể tìm thấy và Đức Chúa Trời mang Ê-li về trời bằng cơn gió lốc.
Cả Môi-se và Ê-li đều có mặt với Chúa Giê-xu trên Núi Hóa Hình (Mat 17:4; Mac 9:5; Lu 9:33). Ê-li là một tấm gương sáng cho các tín-hữu noi theo khi đến lúc phải rời xa thế giới nầy, hoặc là bởi cái chết hoặc trong sự hoan hỉ của Hội thánh. Ông không ngồi chờ và không làm gì, nhưng ông đã đi viếng thăm 3 trường tiên-tri và chắc chắn đã dạy dỗ các sinh viên . Ông không nói với người kế-nhiệm mình rằng, “Ta sẽ bỏ ngươi lại” và nhấn mạnh vào tính tiêu cực của nó, nhưng nói , “Ta sẽ đến Bê-tên – đến Giê-ri-cô – đến Giô-đanh” và tiếp tục bận rộn cho đến lúc Đức Chúa Trời gọi ông về. Hơn nữa, ông đã không hỏi người kế-nhiệm mình cho ông điều gì, vì chúng ta không thể mang gì từ đất về thiên-đàng (ITim 6:7), nhưng thay vì vậy ông muốn cho Ê-li-sê một đặc ân trước khi ra đi [2]
Một trong những đặc ân lớn nhất mà chúng ta có thể để lại là một đầy-tớ được chuẩn bị của Đức Chúa Trời để sẳn sàng thay thế vị-trí của chúng ta.
3. Đức Chúa Trời ban thưởng cho người hầu việc Ngài (IIVua 2:7-12)
Khi Ê-li và Ê-li-sê đứng gần mé sông Giô-đanh, 50 môn đồ của các tiên tri đứng cách xa đó quan sát 2 người. Họ biết rằng Ê-li sẽ ra đi trong hôm đó (c.3,5), nhưng họ không biết ông đi như thế nào hoặc lúc nào Đức Chúa Trời sẽ gọi ông. Chắc chắn chỉ một mình Ê-li-sê thật sự nhìn thấy cảnh Ê-li được cất lên trời (c.10), và sau khi tiên-tri ấy biến mất, 50 học viên nầy nghĩ rằng ông ta không thật sự lìa xa họ (c.16-18).
Họ đã chứng-kiến Ê-li rẻ nước sông Giô-đanh và lấp nước lại, họ thấy Ê-li làm phép-lạ ấy nhiều lần, nhưng họ không thấy được điều mà Ê-li-sê thấy khi cơn gió lốc đưa Ê-li lê trời. 50 người đó là những khán-giả chỉ xem được một phần, nhưng Ê-li-sê là người dự phần vào phép-lạ đó và là người kế-nhiệm chức-vụ của Ê-li.
Ê-li không cho người kế-nhiệm mình ba điều ước; ông chỉ yêu cầu người kế-nhiệm nói ra điều gì mình ao ước nhất. Mọi lãnh đạo đều có những quyền ưu tiên của mình, và Ê-li-sê có sẳn câu trả lời: ông ta muốn được thần của thầy ông cảm-động ông bội phần.
Lời nầy không có ý xin Đức Thánh Linh trong ông nhiều hơn bội phần, hay xin cho chức-vụ của ông được lớn gấp 2 lần chức-vụ của Ê-li, nhưng cho ông được Thánh linh thúc đẩy nhiều hơn. Lời cầu xin nầy dựa vào Phuc 21:17, luật thừa kế của con trai đầu lòng.
Dù có nhiều “môn đồ của các tiên tri”, Ê-li-sê vẫn xem mình là “con trai đầu lòng” của Ê-li, là người đáng được nhận phần gấp đôi như Môi-se đã quy định.
Như một con trai đầu lòng phục-vụ cha mình, Ê-li-sê đã đồng đi với Ê-li và quan tâm đến nhu-cầu của Ê-li (IIVua 3:11; IIVua 19:21), nhưng phần thừa kế mà ông muốn chỉ là được thần của thầy cảm động ông gấp 2 lần để khích-lệ ông, giúp ông trung-tín, có đức-tin nơi Đức Chúa Trời và vâng-theo ý muốn Ngài. Khi nói lên điều nầy, Ê-li-sê đang tiếp nhận chức-vụ tiên-tri mà Ê-li đã khởi sự và tuyên-bố rằng với sự giúp sức của Đức Chúa Trời, ông sẽ thi hành chức-vụ ấy một cách hoàn hảo.
Ê-li thành thật nói với bạn mình rằng đặc ân đó không tùy thuộc vào chính ông, vì chỉ có Đức Giê-hô-va có thể làm được điều đó. Tuy nhiên nếu Đức Giê-hô-va cho Ê-li-sê nhìn thấy cảnh ông được cất lên, thì đó là bằng-chứng cho thấy lời cầu xin của ông được nhậm. Rồi chuyện đó đã xảy ra! Khi hai người đang bước đi và trò chuyện với nhau, một cổ xe bằng lửa được kéo bởi những con ngựa lửa đáp xuống ở giữa họ, và một cơn gió lốc đưa Ê-li đi khuất-và Ê-li-sê nhìn thấy việc đó xảy ra!
Điều nầy có nghĩa là lời cầu-xin của ông được chấp nhận và Đức Giê-hô-va đã trang bị cho ông để tiếp tục chức-vụ của Ê-li. Ê-li chắc chắn là “tiên-tri về lửa” vì Kinh Thánh ghi lại ít nhất 3 lần ông đã gọi lửa từ trời (IVua 18:38; IIVua 1:10,12), nên thật hợp lý khi Đức Chúa Trời sai ngựa lửa và xe lửa đến đưa đầy-tớ của Ngài đi trong vinh-quang.
Phản-ứng của Ê-li-sê là thái-độ đau buồn, như người con trai khóc khi mất đi người cha yêu dấu. Nhưng ông đã tỏ-lòng kính-trọng đối với Ê-li khi ông gọi Ê-li là “xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên!” (c.12). Một người sánh ngang với cả một đội quân! Trong giao-ước của Ngài với Y-sơ-ra-ên, Đức Giê-hô-va hứa rằng nếu dân-sự vâng lời Ngài, Ngài sẽ giúp sức cho để 100 người Y-sơ-ra-ên có thể thắng 1000 người của quân thù (Lê 26:6-8), Môi-se hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ khiến một người có thể đánh đuổi 1000 người và 2 người có thể đánh đuổi 10.000 người (Phuc 32:30). Một người bước đi với Đức Chúa Trời sẽ như một đội quân.
4. Đức Chúa Trời xem trọng đức-tin (IIVua 2:13-25)
Ê-li đã ra đi và Ê-li-sê không còn nhờ người giúp đỡ được nữa, nhưng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên vẫn ở trên ngôi của Ngài. Từ đó trở đi, đức-tin của Ê-li-sê sẽ để ông tiếp xúc trực tiếp với quyền-năng của Đức Chúa Trời và giúp ông hoàn tất công việc của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên.
Trong 3 phép-lạ được ghi lại ở đây, mỗi phép-lạ đều có những sứ-điệp thuộc-linh mà ngày nay chúng ta cần hiểu rõ.
•Đi qua sông (IIVua 2:13-18).
Tại sao Ê-li ra khỏi Đất hứa và đi đến bên kia sông Giô-đanh? Có phải ông từ bỏ xứ mình và dân-sự mình? Chắc chắn cơn gió lốc của Đức Chúa Trời có thể đưa ông về trời dễ dàng lúc ở Bê-tên hoặc Giê-ri-cô. Nói một cách nghiêm túc, Ê-li vẫn còn ở trong lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên khi ông đi qua sông, vì Ru-bên, Gát và nửa chi phái Ma-ma-se có đất của họ ở bờ tây sông Giô-đanh.
Nhưng có điều cần lưu ý hơn, khi Ê-li-sê qua bờ tây sông Giô-đanh, Ê-li buộc ông phải tin-cậy Đức Chúa Trời để qua sông trở lại mà về xứ mình! Người kế nhiệm của Ê-li giờ không giống như Giô-suê: ông phải tin Đức Chúa Trời có thể và sẽ phân-rẽ nước cho ông. Những học viên đang đứng xa quan-sát giờ chắc ngạc nhiên lắm trước việc mà người lãnh đạo mới của họ sẽ làm.
Khi nắm lấy áo tơi của Ê-li, Ê-li-sê muốn nói rõ rằng ông đã nhận trách-nhiệm của vị tiên-tri vĩ đại đi trước ông và tiếp tục chức-vụ của ông ta. Qua việc dùng áo tơi phân-rẽ nước sông Giô-đanh, ông đang tuyên bố rằng đức-tin của ông không đặt nơi người thầy đã ra đi nhưng nơi Đức Chúa Trời hằng sống. Chắc chắn chúng ta phải tôn-trọng những ký ức và những thành tựu của người thầy đã ra đi.
“Hãy nhớ những người dắt dẫn mình, đã truyền-đạo Đức Chúa Trời cho mình; hãy nghĩ xem sự cuối cùng đời họ là thể nào, và học đòi đức-tin họ” (Hêb 13:7). Nhưng quá nhiều người sáng lập quá cố và những lãnh đạo quá cố vẫn còn có sức ảnh hưởng của họ từ trong phần mộ, những người kế-nhiệm của họ rất khó khăn để có những thay đổi cần thiết cho những người đang sống.
Ê-li-sê không mắc sai lầm nầy, vì ông cầu-xin chính Đức Chúa Trời của Ê-li giúp ông và Ngài xem trọng đức-tin đó. Ê-li-sê không phải là một bản sao vô tính của Ê-li, nhưng hai người có một điểm chung: họ đều tin nơi Đức Chúa Trời chân thần và hằng sống. Đó là lý-do Hêb 13:7 dạy chúng ta phải nhớ những người dẫn dắt mình và “học đòi đức-tin họ”.
Phép lạ vượt qua sông Giô-đanh của Ê-li-sê không chỉ bày tỏ quyền-năng của Đức Chúa Trời và đức-tin của đầy tớ Ngài, mà là một lời tuyên-bố cho các môn-đồ của các tiên-tri biết rằng Ê-li-sê là người lãnh đạo mới của họ. Khi Đức Chúa Trời rẽ sông Giô-đanh cho dân Y-sơ-ra-ên đi qua, Ngài dùng phép-lạ đó để tạo uy tín cho Giô-suê và tuyên-báo bàn tay Ngài đang ở trên người lãnh đạo mới (Gios 3:7-8; Gios 4:14).
A. W. Tozer từng nói rằng “Không phải chỉ cần một lá phiếu là chọn được một người lãnh đạo”, và ông ta đã đúng. Bất kể họ được đào tạo và chọn lựa như thế nào, những người lãnh đạo thuộc-linh chân-chính phải cho dân-sự mình tin chắc rằng mình đã được Đức Chúa Trời chọn lựa bằng cách bày-tỏ quyền-năng của Đức Chúa Trời trong đời sống mình. “Ấy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được” (Mat 7:20).
50 môn đồ của các tiên tri nhìn thấy Ê-li-sê đi qua sông như đi trên đất khô, họ không do dự phục-tùng ông và thừa nhận quyền lãnh đạo của ông vì quyền-năng của Đức Chúa Trời đã được thấy rõ ràng trong chức-vụ của ông.
Nhưng 50 học viên nầy không tin rằng người lãnh đạo cũ của họ đã được cất lên trời; họ cần một bằng-chứng xác thực. Đức Chúa Trời đã công khai cho biết Ê-li-sê là người lãnh đạo mới của họ, hế thì tại sao họ lại tìm kiếm Ê-li? Và tại sao Đức Giê-hô-va cất đầy-tớ Ngài trong cơn gió lốc chỉ để bỏ ông ta ở một nơi hoang vắng nào đó trong xứ?
Đó có phải là Đức Chúa Trời mà họ hầu-việc? Hơn nữa, các học viên ấy không thể nào tìm kiếm từng ngóc ngách của xứ, vậy thì tại sao họ tìm kiếm? Việc làm của họ thật buồn cười và Ê-li-sê để họ tìm kiếm như vậy chỉ vì ông quá bực mình với những câu hỏi lập đi lập lại của họ. Những người lãnh đạo mới không nên bực mình vì sự quan tâm mà dân-sự dành cho người lãnh đạo cũ. Khi những người tìm kiếm nầy trở về gặp Ê-li-sê tại Giê-ri-cô, ít nhất ông ta cũng có quyền nói với họ rằng, “Ta đã bảo với các ngươi như vậy rồi!”
•Chữa lành cho nước (IIVua 2:19-22).
Ê-li-sê không chỉ có được lòng trung-thành của các môn-đồ của những tiên-tri, và các lãnh đạo của Giê-ri-cô cũng kính-trọng ông và tìm kiếm sự giúp đỡ của ông. Chúng ta không ngạc nhiên khi nước tại Giê-ri-cô độc hại, đất nó chai cằn vì thành nầy đã bị rủa sả (Gios 6:26). Người Do-thái trong Cựu-ước nghĩ muối có liện-quan đến giao-ước của Đức Chúa Trời (Dân 18:19) và sự tinh-khiết của một cá nhân trong sự thờ-phượng (Lê 2:13).
Cụm từ “ăn muối” có nghĩa là “hiếu khách”, như vậy muối ngụ ý đến tình bạn và sự trung-thành giữa con người với nhau và giữa Đức Chúa Trời với con người. Muối không tinh lọc nước hay làm cho đất hết chai cứng; đó là công việc bởi tay Đức Chúa Trời. Phép-lạ nầy nhắc chúng ta về phép-lạ ở Ma-ra (“đắng”) khi Môi-se ném một cây gỗ xuống nước và nước hóa ra ngọt (Xu 15:22-26). Tại Ma-ra, Đức Chúa Trời mặc-khải cho dân-sự Ngài biết Ngài là “Giê-hô-va-Ra-pha - Đức Giê-hô-va chữa lành”.
Ngày nay nếu bạn đến thăm Giê-ri-cô, hướng dẫn viên sẽ chỉ cho bạn thấy “suối nước của Ê-li-sê” và mời bạn uống thử nước đó.
Một lần nữa chúng ta lại thấy một phép-lạ, nó nói về sự bắt đầu mới. Ê-li-sê đã đổ hết muối ra khỏi cái bình mới. Phép-lạ nầy là “một bài giảng sống động”