...Giê-rô-bô-am II, vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên, đến Ô-sê, vua cuối cùng của Y-sơ-ra-ên, không có vua nào được gọi là “tốt”. Tuy nhiên, nước Giu-đa cũng không hơn gì, vì trong số 20 vua cai-trị sau khi đất nước bị chia cắt, chỉ có 8 vua được gọi là “tốt” [36] Trong phần nầy của sách II Các-vua, chúng ta sẽ gặp 5 vị vua của Y-sơ-ra-ên, sẽ biết bản-tính xấu xa và những việc làm gian ác của họ. 4 vua trong số đó bị ám sát! Sa-lum chỉ cai-trị được một thánh, Xa-cha-ri được 6 tháng, và Phê-ca-hia được khoảng 2 năm. Mê-na-hem, vua gian ác nhất, cai-trị được khoảng 10 năm, và Phê-ca được 12 năm. Khi Vương Quốc phía Bắc sa chân vào chỗ hủy diệt, các vua của nó đã đẩy ngày đoán-phạt của Đức Chúa Trời càng nhanh đến. Đức Chúa Trời thường ban cho một đất nước những người lãnh đạo mà nó đáng nhận được.
• Xa-cha-ri (IIVua 15:8-12).
Có 19 người trong Kinh Thánh có tên là Xa-cha-ri; người nầy là con trai của Giê-rô-bô-am II, vua vĩ đại cuối cùng của nước Y-sơ-ra-ên ở phía bắc. Xa-cha-ri không có tài chính trị như cha mình và ông quyết định theo gương xấu của người cùng tên với cha mình, Giê-rô-bô-am I. Xa-cha-ri là chắt của Giê-hu và vì vậy là người cuối cùng của triều đại đó. Đức Chúa Trời hứa với Giê-hu rằng con cháu ông sẽ cai-trị trên ngôi trong 4 đời (IIVua 10:30) và lời-hứa nầy đã thành hiện thực.
Xa-cha-ri là vua, không phải vì tính lương thiện, tài năng hay sự nổi tiếng, hưng vì ông được may mắn sinh ra trong một gia đình của vua. Chỉ có hai điều được ghi lại về ông: ông gian ác trong mặt Đức Chúa Trời, và bị Sa-lum ám sát nơi công khai, và sau đó Sa-lum chiếm ngôi vua. Xa-cha-ri lên ngôi chỉ được 6 tháng, và cái chết của ông đã kết thúc triều đại Giê-hu.
• Sa-lum (IIVua 15:13-15).
Chúng ta biết rất ít về người nầy. Ông đã tổ chức mưu sát Xa-cha-ri; ông cai-trị chỉ được 1 tháng; và ông là nạn nhân của một âm-mưu lật đổ và ám sát khác.
“Ai đào hầm sẽ té xuống đó; Kẻ nào lăn đá, đá sẽ trở đè lại nó” (Ch 26:27).
Sa-lum bị Mê-na-hem giết chết; Mê-na-hem là một trong quan tổng binh của Sa-lum tại Tiệt-sa, thủ đô ban đầu của Sa-ma-ri (IVua 14:17; IVua 15:21,33). Nếu Sa-lum có con cháu, chúng sẽ không thể chấp nhận việc đó. Về Sa-lum có gì để tự hào?
•Mê-na-hem (IIVua 15:6-22)
Vì ông là người được dân chúng kính sợ và có quân đội riêng, Mê-na-hem cai-trị được khoảng 10 năm và chết tự nhiên. Vì dân ở Típ-sắc (một thành không thể xác định) không thừa nhận vương quyền của ông, ông đã tiến đánh thành ấy và giết chết những kẻ thù của ông. Ông là người tàn bạo, bắt chước theo tập tục của người Sy-ri, mổ bụng những người đàn bà có nghén (c.16 IIVua 8:12, điều nầy đã được tiên-tri Ô-sê cảnh báo (Os 13:16).
Khi quân A-si-ri xâm lược xứ. Mê-na-hem thu thuế tất cả những người giàu mỗi người năm mươi siếc-lơ bạc và nộp cống cho vua A-si-ri (Tiếc-la-Phi-lê-se) 37 tấn bạc. Quân A-si-ri rút lui nhưng 20 năm sau họ trở lại và chiếm toàn bộ xứ. Trong trường hợp đó, chắc chắn Đa-vít đã tin-cậy Đức Chúa Trời và chiến đấu với A-si-ri và giành chiến thắng; nhưng chính sách của Mê-na-hem là thỏa hiệp và giảng hòa.
•Phê-ca-hia (IIVua 15:23-26).
Con trai của Mê-na-hem lên kế vị ngai vàng nhưng chỉ trị vì được 2 năm. Cha ông từng là một quan tổng binh và đã ám sát vua Sa-lum, và Phê-ni-ca lại bị giết chết ngay trong cung điện bởi Phê-ca, cũng là một quan tổng binh, và rồi phê-ca nầy lên làm vua. Chi-tiết Phê-ca được 50 người từ Ga-la-át hỗ trợ cho thấy ông từng là một chỉ huy quân đội ở phía tây sông Giô-đanh. [37] Rất có thể Phê-ca-hia và Phê-ca không thống nhất với nhau về chính sách mà Y-sơ-ra-ên phải theo liên-quan đến dân A-si-ri, Phê-ca-hia, giống như Mê-na-hem cha mình, muốn làm dân A-si-ri hài lòng và cống nộp cho họ bất cứ gì họ muốn, trong khi Phê-ca, một nhà quân sự, cứng rắn với dân A-si-ri và có thiện ý với dân Sy-ri.
•Phê-ca (IIVua 15:27-31).
Nhờ sự bảo vệ của quân đội mình Phê-ca có thể cai-trị 20 năm. Khi một nhà quân sự kế-vị, rất khó lật đổ được ông ta. Dù Mê-na-hem luôn làm vừa lòng dân A-si-ri, họ vẫn xâm lược Y-sơ-ra-ên với 4 chiến dịch (738,734,733 và 732) không chỉ thu phục được nhiều thành phố quan-trọng mà còn chiếm được nhiều phần lãnh thổ từ Ha-mát đến Nép-ta-li ở phương bắc đến Ga-la-át và Ga-li-lê.
Dân A-si-ri cũng chiếm luôn Phi-li-tin đến nam dãi Ga-za, và Đa-mách ở Sy-ri. Nhiều người Do-thái và Phi-li-tin bị lưu-đày đến A-si-ri. Phê-ca bị Ô-sê, con của Ê-la, giết chết; Ô-sê là người ủng hộ A-si-ri trong quan-điểm chính trị. Chúng ta sẽ biết nhiều hơn về Ô-sê trong IIVua 17:1-41. Ông cai-trị khoảng 9 năm và có thể đã bị lưu-đày đến A-si-ri và qua đời ở đó (IIVua 17:1; IIVua 18:10-11) [38]
5. Giô-tham, vị vua đạo đức (IIVua 15:32-38) (IISu 27:1-9)
Giô-tham, con trai Ô-xia, lên ngôi khi được 25 tuổi và cai-trị trong 16 năm (IISu 27:1). Ông đồng nhiếp chính với cha sau khi Ô-xia mắc bệnh phung vì tội bước vào bên trong đền thánh. Giô-tham được xem là vua tốt, dù A-cha con trai ông là vua xấu xa. Thật ra, từ Giô-tham, vua thứ 11 của Giu-đa, đến Xê-đê-kia, vua thứ 20 và là vua cuối cùng của Giu-đa, chỉ có Giô-tham, Ê-xê-chia và Giô-si-acó thể được gọi là các vua tốt.
Đó là 3 trong số 10 vị vua. Đức Giê-hô-va giữ cho ngọn đèn Đa-vít chiếu sáng ở Giê-ru-sa-lem trong những năm đó, nhưng có lúc Ngài phải phó dân-sự Ngài vào tay ba-by-lôn để trừng-phạt họ vì những tội-lỗi họ đã phạm.
Giống như Ô-xia, Giô-tham vừa là nhà xây dựng vừa là một chiến binh. Ông cho sửa lại các tường thành Giê-ru-sa-lem và Cữa Thượng của đền thờ. Ông cũng xây các thành ở các ngọn núi thuộc vùng Giu-đê và những đồn lũy và tháp canh trong những khu vực rừng rậm. Quân đội của ông đối mặt với quân Y-sơ-ra-ên và Sy-ri, và ông đã đại thắng trước dân Am-môn và bắt họ phải cống nộp hàng năm gần 4 tấn bạc và 62 giạ lúa mạch và cũng chừng ấy lúa mì (IISu 27:5).
“Vậy, Giô-tham trở nên cường thạnh, bởi vì người đi đường chánh đáng trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời mình” (IISu 27:6). Chúng ta không biết ông còn làm được bao nhiêu điều tốt nữa nếu ông được sống lâu hơn.
Trong lịch sử Do-thái chúng ta thường bắt gặp người cha tin-kính sinh ra đứa con bất-kính và người cha bất kính lại sinh được đứa con tin-kính. Vua tốt Giô-sa-phát sinh ra vua xấu Giô-ram, nhưng vua bất kính Giô-ách lại giao đất nước cho đứa con trai (A-ma-xia), cháu nội (Ô-xia), và cháu cố (Giô-tham), là những người tin-kính. Tuy nhiên, con trai của Giô-tham là A-cha không phải là vua tốt và tin-kính Chúa, nhưng ông đã sinh ra vua tốt Ê-xê-chia; Ê-xê-chia nầy sinh ra Ma-na-se, lại là vua gian ác hơn hết – và ông có thời gian cai trị dài 55 năm! Tiên-tri Ê-xê-chi-ên ở Ba-by-lôn đã đối diện với tình huống nầy trong đoạn 18 của lời tiên-tri của ông.
Đức Chúa Trời tể-trị trong những ân-tứ Ngài ban cho các cá nhân và các nước. Đức Giê-hô-va nhẫn nhịn dân sự Ngài suốt trong những ngày gian ác và khó khăn, và Ngài thành-tín giữ những lời-hứa của Ngài với Đa-vít. Nhưng thời gian đó đã qua. Sau khi A-cha qua đời, chỉ Ê-xê-chia và Giô-si-a tôn-trọng Lời Đức Chúa Trời và vâng-phục ý muốn Ngài. Nhưng dù con người nhiều lần phạm-tội và thất bại, Đức Giê-hô-va vẫn bảo vệ những người tin-kính còn sót lại trong đất nước, và từ những dân sót đó, ấng Mê-si-a sẽ bước vào thế-gian.
“Từ trước vô cùng Ngài đã thông biết những việc đó” (Công 15:18).
9. CÂU CHUYỆN VỀ HAI VƯƠNG QUỐC (IIVua 16:1-17:41; IISu 28:1-27)
Một câu châm-ngôn của người Anh nói, “Hãy lưu ý bạn là ai, từ đâu đến, bạn làm gì và sẽ đi đâu.” Hai điều đầu tiên cần lưu ý thật dễ trả lời đối với Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, vì cả 2 nước nầy đều nói, “Chúng tôi là tuyển dân của Đức Chúa Trời, con cháu của tổ-phụ Áp-ra-ham”. Đến ý thứ 3, cả hai vua sẽ phải th ừa nhận, “Chúng tôi đã làm theo những gì người tiền-nhiệm gian ác của chúng tôi đã làm”.
Vua A-cha của Giu-đa không theo gương tốt của Đa-vít, Ô-sê, vua Y-sơ-ra-ên, mà bắt chước các vua xấu xa đi trước. Họ có quyền tự-do quyết định, nhưng họ không thể tự thay đổi hậu quả của những quyết định đó”, điều nầy dẫn chúng ta đến ý thứ 4, “Bạn sẽ đi đâu?”. Đối với cả 2 vua, câu trả lời của Đức Chúa Trời rất rõ: “Ngươi và dân-sự ngươi đang tiến nhanh đến sự đoán-phạt và đổ nát”. Những lời của Sa-lô-môn sắp được chứng-minh trong cả 2 nước: “Sự công-bình làm cho nước cao-trọng; song tội-lỗi là sự hổ thẹn cho các dân-tộc” (Ch 14:34).
1. Giu-đa, một nước thỏa hiệp (IIVua 16:1-20) (IISu 28:1-27)
A-cha là con trai của Giô-tham, vị vua tốt, và là cha của Ê-xê-chia, một vị vua rất tốt, nhưng chính ông không phải là một người tốt và tin-kính Chúa. Thay vì tìm kiếm và làm thao ý muốn của Đức Chúa Trời, A-cha bắt chước các vua gian ác của Y-sơ-ra-ên và cả những tập tục của dân ngoại bang A-si-ri [39].
Ông còn làm theo những cách thờ-phượng kinh khủng của dân ngoại và đem dâng chính con trai mình làm của lễ (IISu 23:3 viết từ “con cái” ở số nhiều) cho thần ngoại bang, Ba-anh hoặc Mô-lóc, một tập tục bị Luật pháp Môi-se ngăn cấm (Lê 18:21; Phuc 18:10).
Mỗi con trai Do-thái phải được chuộc bằng một của lễ và vì vậy thuộc về Đức Giê-hô-va (Xu 13:1-22; Dân 18:14-16). Làm sao con trai thuộc về Đức Chúa Trời lại bị làm tế-lễ cho thần-tượng? Nhưng A-cha là người thỏa hiệp cả trong các sinh hoạt tôn-giáo và mối quan-hệ chính trị của ông.
•Thỏa hiệp chính trị (IIVua 16:5-9; IISu 28:5-21).
Phê-ca, vua Y-sơ-ra-ên, và Rê-xin, vua Sy-ri, muốn A-cha hiệp với họ chống lại A-si-ri, nhưng A-cha từ chối vì ông là người ủng hộ A-si-ri.
Thật ra, ông nhờ-cậy A-si-ri thay vì tin Đức Giê-hô-va. Để trả thù, Sy-ri và Y-sơ-ra-ên lên kế hoạch lật đổ A-cha khỏi ngai vàng và đem một vua bù nhìn khác lên thay, nhưng Đức Giê-hô-va b ảo vệ ngai Đa-vít, dù A-cha không đáng được như vậy (Về toàn bộ câu chuyện nầy, xin đọc Ês 7:1-9:20).
Theo IISu 28:5-8, chính Đức Giê-hô-va đã sai hai vua nầy chống nghịch Giu-đa, để trừng-phạt A-cha vì tội-lỗi của ông ta. Phê-ca và Rê-xin gây nhiều thiệt hại cho Giu-đa nhưng họ không thể chiếm được Giê-ru-sa-lem. Một trong các con trai A-cha bị giết chết, ùng với hai quan chức quan-trọng khác. Những kẻ thù xâm lược đã giết hàng ngàn binh lính và bắt hàng ngàn tù binh về Sa-ma-ri. Gần như Y-sơ-ra-ên đang nuốt chửng Giu-đa!
Đức Giê-hô-va dấy lên một tiên trong Y-sơ-ra-ên [40]. Để cảnh cáo quân Sa-ma-ri rằng việc bặt người Giu-đa làm phu-tù như vậy là vi-phạm luật-pháp của Đức Chúa Trời và Ngài sẽ trừng-phạt họ. Dù thế nào thì dân Giu-đa và dân Sa-ma-ri đều có chung một dòng dõi, dòng dõi của Áp-ra-ham. Tiên-tri Ô-bết (không phải là người trong IIVua 15:8) chỉ ra 3 lỗi mà quân Y-sơ-ra-ên đã vi-phạm.
-Thứ nhất, họ đã nổi giận với dân Giu-đa và tùy tiện bắt và giết chết họ.
-Thứ hai, họ bắt các anh chị em mình làm nô-lệ và điều nầy đã đi ngược với luật-pháp Đức Chúa Trời (Lê 25:39).
Khi làm như vậy, họ tỏ-ra không kính-sợ Đức Chúa Trời và như vậy buộc Ngài phải trừng-phạt họ (IISu 28:9-11). Đúng, Đức Chúa Trời đã nổi giận với Giu-đa (IISu 28:9,25), nhưng có nguy cơ Ngài sẽ nổi giận với Y-sơ-ra-ên vì cách họ đối đãi với Giu-đa (IISu 28:11-13). Sau sứ-điệp của Ô-bết, một số lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên đã dừng lại và xác nhận lời tiên-tri nói và khuyên quân lính không phạm-tội nghịch cùng Đức Chúa Trời và các anh chị em của họ.
Một điều đặc biệt đã xảy ra: dân-sự chấp nhận sứ-điệp của Đức Chúa Trời, ăn-năn, và thay đổi cách cư xử đối với những tù nhân. Dân Y-sơ-ra-ên không chỉ cho họ đồ ăn, áo mặc và săn sóc người bị thương và suy nhược, mà họ còn trả lại những của cải đã cướp được từ Giu-đa.
Đây là một ví-dụ của “người Sa-ma-ri nhân lành” trên cấp độ quốc gia (Lu 10:25-37), và nó nhắc chúng ta nhớ sự nhân-từ của của Ê-li-sê đối với các binh lính Sy-ri đến bắt ông (IIVua 6:15-23). Khi các tù nhân (cùng với những của cải) được trở về Giu-đa, họ lành nhân-chứng sống về ân-điển và sự tốt lành của Đức Giê-hô-va, nhưng không thấy ch ép rằng A-cha đã hướng dẫn dân-sự thờ-phượng, ngợi-khen và tạ-ơn Đức Giê-hô-va.
Sự-kiện nầy còn mang một thông-điệp khác cho người Giu-đa: sẽ đến lúc dân Ba-by-lôn xâm lược xứ và bắt hàng ngàn người lưu-đày đến Ba-by-lôn. Kinh-nghiệm nầy với Y-sơ-ra-ên có gì đó giống như “một sự diễn tập” đối với dân Giu-đa, nhưng Ba-by-lôn không đối đãi với họ như Y-sơ-ra-ên đã làm. Hầu hết những những bị lưu-đày đến Ba-by-lôn đều đã chết tại đó, và sau 70 năm, chỉ một nhóm người yếu đuối còn sót lại sẽ trở về xây sửa đền thờ và nổ lực dựng lại đất nước.
Đức Giê-hô-va vẫn trừng-phạt các nước ngày nay như Ngài đã làm ngày xưa không? Dĩ nhiên dân Do-thái thuộc về dân giao-ước, dù giờ đây nó bị chia cắt thành hai nước; và họ có bổn-phận phải vâng-giữ giao-ước của Đức Giê-hô-va. Nhưng về các nước không có mối quan-hệ giao-ước với Đức Giê-hô-va thì sao? Tiên-tri A-mốt nói rõ rằng Đức Chúa Trời biết tội-lỗi của các dân ngoại và bắt họ phải chịu trách-nhiệm (Am 1:1-2:16). Đức Chúa Trời không bao giờ ban luật-pháp Ngài với các dân ngoại (Thi 147:19-20), nhưng những điều khoản của luật-pháp đó được ghi khắc trong lòng của tất cả loài người (Rô 2:12-16), vì vậy người Ngoại bang không biết vâng-lời là phạm-tội trước mặt Đức Chúa Trời.
Khi bạn đọc Cựu-ước, bạn thấy Đức Chúa Trời trừng-phạt Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sa 18:1-19:38), Ê-díp-tô (Xu 1:1-14:31), các nước Ngoại bang ở trong và xung quanh Ca-na-an ( Dân 31:1-32:42; Gios 1:1-12:24), và cả Ba-by-lôn (Giê 50:1-51:64). Tuy nhiên, vì dân Do-thái biết Đức Chúa Trời chân-thần và hằng sống và họ còn có chứng nhân của luật-pháp Ngài, họ càng chịu trách-nhiệm nhiều hơn. Thật buồn cho Y-sơ-ra-ên bội đạo và Giu-đa không thể là ánh sáng cho các nước, giờ đây họ tỏ ra quan-tâm đến việc vâng-theo sứ-điệp của Đức Chúa Trời. Giu-đa có đền thờ, luật-pháp, và chức tế-lễ, nhưng họ không có Đức Giê-hô-va.
“Nước nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình, dân-tộc nào được Ngài chọn làm cơ-nghiệp mình có phước thay!” (Thi 33:12).
•Thỏa hiệp tôn-giáo (IIVua 16:10-18; IISu 28:22-25). Không những Y-sơ-ra-ên và Sy-ri tấn công Giu-đa, Đức Chúa Trời còn đem Ê-đôm và Phi-li-tin chống nghịch Giê-ru-sa-lem. A-cha sai sứ-giả đến cầu viện vua A-si-ri. Lời lẽ trong thư của ông đầy xu nịnh và tâng bốc mà ngày nay chúng ta sẽ gọi là “bợ đỡ”.
Ông tự nhận mình là “tôi-tớ”, là “con trai” của Tiếc-la-Phi-lê-se, một thái-độ chưa từng thấy ở dòng dõi Đa-vít đối cùng vua ngoại bang. Để tâng bốc vua A-si-ri hơn, A-cha lấy của cải của đền thờ, cung điện và của các hoàng tử để dâng cho vua A-si-ri.
Thật sự A-cha đã biến Giu-đa thành một nước chư-hầu chịu dưới sự kiểm soát và bảo vệ của A-si-ri. A-cha không có đức-tin sống động nơi Đức Giê-hô-va và đặt lòng tin của mình nơi quân đội của A-si-ri, và vì điều nầy ông đã phải trả giá rất đắt. Đúng là A-si-ri đã đánh bại Sy-ri, nhưng sau đó tiếc-la-Phi-lê-se triệu tập “con trai” và là “đầy-tớ” của ông đến Đa-mách để khai trình và nhận lệnh. Qua những ngày đó, các nước rất e ngại các vua Giu-đa và quân đội của họ!
Vua Ô-xia đã cố tình xen vào việc của đền thờ và Đức Giê-hô-va đã phạt ông bệnh phung, nhưng thầy tế-lễ U-ri lại làm theo tất cả những gì vua ra lệnh, dù như vậy là bất-tuân luật-pháp Môi-se. Chúng ta không biết chắc việc bắt chước kiểu bàn thờ của dân ngoại hoàn toàn là ý của A-cha hay là lệnh của vua A-si-ri.
Có lẽ Tiếc-la-Phi-lê-se muốn bàn thờ nầy được đặt trong đền thờ của người Do thái để nhắc vua và cả dân Diu-đa nhớ rằng giờ đây họ phải chịu phục dưới quyền lực của A-si-ri. A-cha không hết lòng thờ-phượng Đức Giê-hô-va, vì chắc chắn bàn thờ nầy được dựng lên chỉ để thỏa mãn tính kiêu-ngạo của ông. Ông sẽ có một bàn thờ của vua giống như bàn thờ ở Đa-mách! Cuối cùng bàn thờ theo ý của Đức Chúa Trời bị đẩy sang một bên.
Tất cả điều nầy là một bức tranh mô-tả những gì thường xảy ra trong cộng đồng Cơ-đốc ngày nay: một vài người nhìn thấy có điều gì đó ngoài thế-gian “phù hợp” với công việc của Đức Chúa Trời, và Hội thánh bắt đầu bắt chước thế-gian. Môi-se được lệnh phải dựng đền tạm theo lời Đức Chúa Trời chỉ dẫn ông trên núi (Xu 25:40; Xu 26:30; Hêb 8:5) và cũng như vậy đền thờ phải được xây theo những kế-hoạch mà Đức Chúa Trời vẽ ra cho Đa-vít (IISu 28:11,12,19). Người Do-thái không bầu ra một ban xây dựng và trưng-cầu ý kiến cho dự án. Nhưng ngày nay, Hội thánh trở nên giống thế-gian đến nổi thật khó phân biệt được họ.
A.W.Tozer đã viết,
Ngoài một số tội-lỗi gớm ghiếc, ngày nay những tội của thế-gian không ăn-năn lại được phần đông những Cơ-đốc nhân “được tái-sanh” chấp nhận. Những Cơ-đốc nhân trẻ chọn cho mình những mẫu thần-tượng đáng ghê tởm và cố bắt chước cho càng giống họ càng tốt. Những lãnh đạo tôn-giáo chấp nhận những kỷ sảo quảng cáo, nói khoát, lừa phỉnh và phóng đại không biết xấu hổ ngày nay được đem vào như một thủ tục bình thường trong nhà thờ. Xu hướng đạo đức không phải là xu hướng của Tân-ước nhưng là xu hướng của Hoollywood và Broadway. [41].
A-cha nghĩ rằng Đức Giê-hô-va sẽ đẹp lòng với những của lễ được dâng trên bàn thờ mới lộng lẫy nầy, nhưng ông đã sai. Đức Giê-hô-va không muốn của lễ; Ngài cần sự vâng-lời (ISa 15:22-23) và A-cha thờ phượng các thần của dân ngoại (IISu 28:23). Không có lửa từ trời thiêu các của lễ trên bàn thờ của dân ngoại (Lê 9:24), vì Đức Giê-hô-va khước từ nó.
Những vật trang trí lạ mắt trong nhà thờ ngày nay có thể làm giáo-dân thích thú và hoan nghênh, nhưng chúng không khai trí cho hội chúng và tôn-vinh Đức Chúa Trời. Nhà thờ trở thành một rạp hát, sự thờ-phượng thành ra buổi trình diễn, bài giảng là một tiết mục biểu diễn, và hội chúng trở thành khán-giả. Tất cả những điều nầy không làm vinh-hiển Đức Chúa Trời nhưng làm hài lòng người ta.
Nhưng thay bàn thờ của Đức Chúa Trời thành bàn thờ của người ngoại chỉ là bước khởi đầu. Vua A-cha còn “dời” biển bằng đồng và 10 táng đồng dùng để kê mưới cái chậu rửa các của lễ (ISu 28:17; IVua 7:23-40). Ông ta cần nhiều kim loại quý giá cho mục đích riêng của mình, nên ông lấy của Đức Chúa Trời. Nhưng để làm vui lòng vua A-sa-ri. A-cha đã dời lối vào cho riêng ông trong đền thờ và đặt những bệ cho ngai của ông trong đền thờ. Lúc bấy giờ Tiêc-la-Phi-lê-se đang điều khiển, không phải vua A-cha.
Tuy nhiên, vua không bao giờ có thể thay đổi cách bố trí đền thờ theo ý mình nếu không có sự hợp tác của thầy tế-lễ cả U-ri (IIVua 16:10,11,15,16). Khi vua Ô-xia chống lại Lời Đức Chúa Trời và bước vào đền thờ, thầy tế-lễ cả A-xa-ria cùng 80 thầy tế lễ khác đã bắt ông ta dừng lại được (IISu 16:16); nhưng U-ra và các thầy tế-lễ của ông đã thỏa hiệp, không vâng-theo Luật-pháp của Môi-se và nhượng bộ vua.
Khi thỏa hiệp được lần đầu, sẽ có lần thứ hai và hơn nữa; vì những người yếu đuối như U-ri đã cho những lãnh đạo mình tuỳ tiện hành động, cái ác có cơ-hội chiến thắng. A-cha không chỉ thay chỗ bàn thờ và lấy đi miếng trám bằng kim loại khỏi các vật dụng, ông còn lấy tất cả chén, đóng của đền thờ, và lập các bàn thờ ngoài đường phố Giê-ru-sa-lem (ISu 28:24-25). “Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao?” (ICôr 5:6; Ga 5:9).
Một khi chúng ta để cho thế-gian xâm nhập vào mối thông-công trong Hội thánh, nó sẽ bành trướng, làm ô uế mối thông-công đó và cuối cùng biến mất. Mãi cho đến khi con trai ông là Ê-xê-chia lên ngôi, đền thờ mà A-cha là ô uế mới được mở cửa trở lại cho sự thờ-phượng Đức Chúa Trời (IISu 29:1-29).
Khi A-cha băng hà, ông được chôn ở Giê-ru-sa-lem nhưng không được chôn chung trong các lăng mộ của các vua (IIVua 16:19-20; IISu 28:26-27). Về mặt nầy, ông đi chung với Giô-ram (IISu 21:20), Giô-ách (IISu 24:25) và Ô-xia (IISu 26:23), còn có Ma-na-se sẽ cùng với họ (IISu 33:20). Sự vô-tín và bất-trung của A-cha đã gây nhiều thiệt hại cho nước Giu-đa, và Ê-xê-chia, con trai ô
2. Y-sơ-ra-ên, một nước bị đánh chiếm (IIVua 16:1-20) (IIVua 17:1-41 18:9-12)
Ô-sê là vua cuối cùng của vương quốc phía bắc Y-sơ-ra-ên, vì trong thời của ông (722 T.C.), quân A-si-ri xâm chiếm xứ, bắt nhiều người đi lưu-đày và đưa người Ngoại bang thuộc các nước A-si-ri từng chinh phục vào sống ở Y-sơ-ra-ên. Nước Y-sơ-ra-ên trở thanh nước Sa-ma-ri, lấy tên của thủ đô, và dân cư của nó không còn là dân Do-thái thuần chủng nhưng là dân pha tạp giữa nhiều dân-tộc.
Đức Chúa Trời đã ban nhiều ơn phước cho dân-sự Ngài, nhưng giờ đây những ơn phước đó đã rơi vào tay của A-si-ri và Ba-by-lôn. Dân Do-thái có một Đức Chúa Trời hằng sống, nhưng họ thay Ngài bằng những thần-tượng hay chết. Xứ xở giàu có của họ bị các nước thù địch chiếm giữ, dân-sự bị lưu-đày, và cuối cùng Giê-ru-sa-lem và đền thờ cũng bị phá hủy (586 T.C). Đức Chúa Trời trong sự nhân-từ của Ngài vẫn gìn giữ số dân trung-tín còn sót lại để ngọn đuốc luôn chiếu sáng và Ngài có thể làm trọn những lời Ngài đã hứa với dân-sự Ngài.
•Y-sơ-ra-ên mất người lãnh đạo (IIVua 17:1-5).
Ô-sê đã ám sát Phê-ca và chiếm ngôi (IIVua 15:29-31). Tiếc-la-Phi-lê-se đã qua đời và bấy giờ Sanh-ma-na-sa V làm vua A-si-ri, và Ô-sê phục tùng và nộp cống cho vua A-si-ri ấy. Tuy nhiên, Ô-sê bí mật kết ước với Ê-díp-tô để chiêu mộ họ đánh trận cho Y-sơ-ra-ên và giúp Y-sơ-ra-ên bẻ gãy sự kìm kẹp của A-si-ri.[42].
Ngay cả khi Áp-ra-ham lánh sang Ê-díp-tô vì cơn đói kém, ông và vợ ông chỉ chuốc lấy phiền phức (Sa 12:10), những lãnh đạo khác của Do-thái cũng nhờ Ê-díp-tô giúp đỡ nhưng vô ích. (Sa 26:2; Dân 14:1-4; Phuc 17:16; Ês 30:1-2; Ês 31:1). Các tín-đồ ngay nay cũng vậy, họ xây sang nhờ thế-gian giúp đỡ thay vì chờ đợi Đức Giê-hô-va và tin-cậy Ngài. Khi Sanh-ma-na-sa phát hiện được âm mưu đó, ông đã bắt giam Ô-sê và ngai vàng của Y-sơ-ra-ên phải bỏ trống. [43].
Vào năm 725, Sanh-ma-na-sa tiến hành vây hãm Sa-ma-ri. Nhưng sau đó ông băng hà (hoặc bị giết chết) và quan tổng binh của ông, Sa-gôn lên thay. Cuộc bao vây nầy kéo dài 3 năm, và năm 722, hành Sa-ma-ri đành phải đầu hàng. A-si-ri đã chiếm được các chi phái ở bờ tây sông Giô-đanh r ồi (ISu 5:24-26), nên giờ đây họ chiếm được toàn bộ đất nước ngoại trừ Giu-đa, và Giu-đa rồi cũng rơi vào tay Ba-by-lôn.
•Y-sơ-ra-ên mất đất (IIVua 17:6; IIVua 18:9-12).
Như chúng ta đã biết, chính sách của A-si-ri là bắt dân Y-sơ-ra-ên đi lưu-đày và thay vào đó là những tù binh của các nước khác. [44]. Giao-ước của Đức Chúa Trời với dân-sự Ngài nói rõ rằng sự không vâng-lời của họ sẽ khiến họ thất bại trong chiến tranh (Phuc 28:25,49-50,52), bị đàn áp và làm nô-lệ (Phuc 28:29,33,48,68) và bị giam cầm (Phuc 28:36,43,63-68) và tất cả điếu đó đã xảy ra cho Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
Đất của họ thuộc về Đức Chúa Trời (Lê 25:2,23,38) và dân-sự là “quản gia” của Ngài. Không chỉ đất thuộc về Đức Chúa Trời, con người cũng thuộc về Ngài (Lê 25:55). Họ sẽ có được đất và hưởng những ơn phước của nó miễn là họ gìn giữ những điều khoản trong giao-ước của Ngài, nhưng sự bất-tuân nhiều lần của họ đã khiến cho đất của họ bị trừng-phạt. Đó chính xác là những gì đã xảy ra.
Vì tội-lỗi của dân-sự trong suốt thờ các quan xét, 7 nước khác nhau đã xâm chiếm xứ, cướp sản vật, bắt dân sự làm nô-lệ ngay trên đất nước của chính mình. Sau khi đất nước chia cắt, Y-sơ-ra-ên bị A-si-ri chiếm đóng và Giu-đa rơi vào tay Ba-by-lôn. Đức Chúa Trời luôn giữ những điều khoản trong giao-ước của Ngài.
•Y-sơ-ra-ên không vâng giữ luật-pháp (IIVua 17:7-17).
Những câu Kinh Thánh nầy giống như một bảng cáo-trạng mà bị cáo của nó là nước Y-sơ-ra-ên ở phía bắc. Luập pháp là một đặc ân Đức Chúa Trời ban cho dân Do-thái, vâng giữ luật-pháp tức làm theo ý muốn của Ngài, họ sẽ được Đức Chúa Trời ban phước và bảo vệ. Nhưng họ đã quên Đức Chúa Trời đã giải cứu họ khỏi Ê-díp-tô và cho họ được tự-do thể nào.
Họ quên rằng luập-pháp Môi-se dạy họ không được thờ thần-tượng mà phải phá hủy các thần-tượng, đền miễu và những nơi cao (Phuc 7:7,13). Y-sơ-ra-ên bắt đầu thờ các thần-tượng nơi bí mật (c.9), nhưng dần dần việc đó trở nên công-khai, và Giê-hô-va được xem như một trong số nhiều các thần đó. Đức Giê-hô-va sai các tiên-tri khuyên bảo và cảnh cáo dân-sự, nhưng ít ai chịu quan-tâm.
Như các tổ-phụ của họ, dân Do-thái cứng cổ và cứng lòng; họ không vâng-theo Đức Chúa Trời (Phuc 9:6,13; Phuc 10:12-22; Nêh 9:16,17,29; Thi 106:1-48). Vì chúng ta có xu hướng giống chúa mà mình thờ-phượng (Thi 115:8), dân-sự đã trở nên “hư-không” (rỗng tuyếch, vô ích) vì họ thờ các thần hư-không (c.5). Thật vậy, họ đã xây sang các thần-tượng và làm tượng bò con vàng trong khi Môi-se trò chuyện với Đức Chúa Trời trên núi Si-na-i (Xu 32:1-35).
Sau khi đất nước bị chia cắt, vua Giê-rô-bô-am làm 2 tượng bò vàng cho dân chúng thờ-lạy (IVua 12:25). Thường thường, chính con cái là người phải chịu khổ vì tội-lỗi của cha mẹ chúng, vì những người cha Do thái đã đưa con trai và con gái mình qua lửa để dâng cho các thần ngoại bang.
•Y-sơ-ra-ên oán giận Đức Chúa Trời của họ (IIVua 17:18-33).
Cơn giận của Đức Giê-hô-va là cơn giận thánh;không nên so sánh cơn giận của Ngài với tính nóng giận của một con trẻ. Đức Chúa Trời đã nín chịu dân-sự Ngài quá lâu và Ngài ban ơn dư dật để đem họ trở về với Ngài, nhưng họ cứng lòng không chịu. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời xuất phát từ tình yêu-thương, sự đau lòng.
Chính là sự đau lòng của người cha khi muốn điều tốt nhất cho con cái mình, nhưng họ thích đi theo ý riêng. Những câu Kinh Thánh nầy cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã chia cắt dân-sự Ngài thành hai nước Y-sơ-ra-ên và Giu-đa vì Ngài muốn bảo vệ triều đại Đa-vít trước sự thờ thần-tượng trong Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, tôn-giáo giả hình và do con người nghĩ ra của Giê-rô-bô-am đã tiêm nhiễn vào Giu-đa, và chỉ bởi ân-điển của Đức Chúa Trời số dân sót trung-tín được gìn giữ.
Cụm từ “kính-sợ Đức Giê-hô-va” có nghĩa là “thờ-phựơng Đức Giê-hô-va theo Luật-pháp Môi-se” (c.25,28,32,34). Sự pha trôn tôn-giáo giữa nhiểu dân-tộc đã sinh ra một thuyết mà chúng ta ngày nay gọi là ”Đa nguyên luận”.
-Thứ nhất, dân Do-thái không thờ-phương Đức Chúa Trời, và Ngài trừng-phạt họ vì sự bất-tín của họ (c.25).
-Dân Do-thái thờ Đức Giê-hô-va chung với các thần của các người khác. Đức Chúa Trời không chia xẻ sự thờ-phượng với các thần giả khác, vì vậy dĩ nhiên Đức Chúa Trời nổi giận. Mọi dân trên đất phải ăn-năn, xây bỏ các thần giả và trở về củng Đức Giê-hô-va; nhưng thay vì vậy, dân-sự của Đức Chúa Trời chấp nhận các thần giả của các nước khác.
Vua A-si-ri tin rằng mỗi vị thần có liên-hệ với một xứ xở mà dân-tộc đó xuất thân, và như vậy, những cư-dân mới không biết cách thờ-phượng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Họ không thể nào học tập người Y-sơ-ra-ên còn để lại vì những người đó đang thờ tượng bò vàng từ thờ Giê-rô-bô-am. Vua A-si-ri bắt một trong các thầy tế-lễ Do-thái gởi về Y-sơ-ra-ên dạy cho người ta biết cách thờ-phượng “thần của xứ”.
Nhưng thầy tế-lễ nầy đi đến Bê-tên, nơi có đền thờ tượng bò con vàng! Chúng ta không rõ thầy tế-lễ nầy ta biết bao nhiêu về đức-tin thật của người Do-thái và ông ta đã dạy những gì, nhưng tình hình dường như không chút sáng sủa.
Ngày nay nhiều người hoan nghênh “liên hiệp các tôn-giáo trên thế giới” nhưng Đức Giê-hô-va ghê tởm nó. Trong chế độ quân chủ, chúng ta học chấp nhận “đa nguyên luận”, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta tán thành nó hoặc tin rằng tất cả tôn-giáo đều ngang hàng nhau.
Ở Mỹ, tất cả tôn-giáo đều bình đẳng trước luật-pháp và có thể tự-do sinh hoạt tôn-giáo, nhưng Cơ-đốc nhân vẫn tin rằng “Chẳng có sự cứu-rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (Công 4:12).
Chúa Giê-xu không chấp nhận tôn-giáo của người Sa-ma-ri vì “sự cứu sự cứu-rỗi bởi người Giu-đa mà đến” (Gi 4:19-24). Những người Do-thái được ở lại xứ mình đã tự chọn cho mình những thầy tế-lễ và bỏ qua những tiêu chuẩn được Đức Chúa Trời thiết lập qua Môi-se (c.32). Dân chúng lập ra những cơ cấu tổ chức tôn-giáo và hội nhập với cơ cấu mới trong tín-nguỡng của những người láng giềng mới xung quanh họ. Có một kiều gì đó chung cho mọi người, không kể ban tin gì và thờ-phượng như thế nào, miễn là bạn có tôn-giáo (c.29-33). Ban có thấy điều nầy quen thuộc không?
•Y-sơ-ra-ên không thuộc bài học của mình (IIVua 17:34-41).
Người ta thường nói rằng một điều chúng ta học được từ lịch sử đó là chúng ta đừng học theo lịch-sử. Dù Đức Chúa Trời có dùng cách gì để trừng-phạt và cảnh tỉnh họ, dân sự vẫn thờ-phượng Đức Chúa Trời chung với các thần khác, và làm theo ý riêng của mình. Họ quên lịch-sử của họ không dân-sự Đức Chúa Trời được giải phóng khỏi ách nô-lệ của người Ê-díp-tô. Họ quên những luật-pháp và giao-ước của Đức Chúa Trời, đặc biệt những điều răn của Ngài về sự thờ thần-tượng (Xu 20:1-6). Giống nhiều Cơ-đốc nhân tự xưng ngày nay, dân Y-sơ-ra-ên thờ-phượng Chúa khi nào họ thấy vui, nhưng họ cũng dành sự tôn-kính cho các thần giả của các dân-tộc khác nữa.
Cuối cùng điều gì đã xảy ra cho 10 chi phái không biết vâng lời nầy? Chúng ta nghe nói về “mười chi phái lạc mất của Y-sơ-ra-ên”, nhưng Kinh Thánh không bao giờ dùng cụm từ nầy. Nhiều người trong 10 chi phái đó đã đồng hóa với các dân được người A-si-ri đem vào xứ, và việc ấy đã sinh ra dân Sa-ma-ri. Nhưng trong Kinh Thánh không có bằng-chứng cho thấy 10 chi Y-sơ-ra-ên “lạc mất”.
Từ lâu trước khi A-si-ri chiếm được Vương Quốc Phía Bắc, những người tín-kính Chúa trong 10 chi phái ấy đã chuyển đến Giu-đa và vẫn giữ lòng trung-kiên với Đức Giê-hô-va ( IVua 12:1-33 16:20; IISu 11:5-16; IISu 19:4-10). Vua Ê-xê-chia tin-kính đã mời những tín-đồ chân-chính đến Giu-đa và thờ-phượng Đức Chúa Trời theo như Kinh Thánh dạy, và nhiều người đã đáp ứng lời mới đó (IISu 30:1-14,25-27). Những cải cách của Giô-si-a có những ảnh hưởng l ớn đến người Do-thái (IISu 34:1-7,33; IISu 35:17-19).
Dù Chúa Giê-xu có nói, “những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên” (Mat 10:5-6), Tân-ước không biết gì về “chi phái lạc mất của Y-sơ-ra-ên”. (Mat 4:12-16; Lu 2:36-38) Phao-lô nói về “mười hai chi phái chúng tôi” (Công 26:7) và Gia-cơ viết thư “cho mười hai chi phái ở tan lạc” (Gia 1:1). Nếu chúng ta hiểu Kh 7:1-8 theo nghĩa đen, thì trong những ngày sau rốt, Đức Giê-hô-va sẽ tìm được dân-sự từ những chi phái Y-sơ-ra-ên.
Sứ-điệp chính của đoạn Kinh Thánh bi-kịch nầy đó là sự thờ-phượng thần-tượng dẫn đến những hành-vi suy đồi, những hành-vi suy đồi đó kéo theo sự xử-phạt của Đức Chúa Trời. Những lãnh đạo không vâng-lời và thỏa hiệp cả các vua và những thầy tế-lễ không thể nào dạy người ta Lời Đức Chúa Trời, và mỗi thế-hệ mới sinh ra, dân-tộc càng đi xa khỏi Đức Chúa Trời. Rồi đến một ngày, cơn giận Đức Chúa Trời giáng trên dân-sự Ngài, và đó là lúc kết thúc một thể-chế chính trị được biết với cái tên Y-sơ-ra-ên, Vương Quốc Phía Bắc.
-IIVua 17:1-41; xem giải nghĩa IIVua 16:1-20.
10. LẬP VUA –PHẦN I (IIVua 18:1-20:11; IISu 29:1-31:21; IISu 32:24-26; Es 38:1-22)
Tên Ê-xê-chia có nghĩa là “Đức Giê-hô-va làm mạnh dạn” và suốt 29 năm trị-vì của mình (715-687), Vua Ê-xê-chia cần sức lực của Đức Chúa Trời để làm thành mọi nhiệm-vụ của mình.
Giống như A-sa (IVua 15:11), Giô-sa-phát (IVua 22:43), và Giô-si-a (IIVua 22:2), ông học theo gương Đa-vít, có nghĩa là dù Ê-xê-chia không phải là người hoàn hảo, nhưng ông cố hết sức vâng-phục Đức Giê-hô-va và làm đẹp lòng Ngài. Ông là một trong rất ít vị vua dẹp hết được những nơi cao và xóa sổ được sự thờ-lạy thần-tượng trên các ngọn đồi. Ông đã khôi-phục sự thờ-phượng trong đền thờ và khuyến-khích dân-sự cả Giu-đa và Y-sơ-ra-ên đến đền thờ Giê-ru-sa-lem thờ-phượng Đức Chúa Trời.
Chúa đã dặn rằng phải có một trung tâm thờ-phượng và nơi đó chính là Giê-ru-sa-lem (Phuc 12:1-32).
Những sự-kiện diễn ra trong cuộc đời Ê-xê-chia không được Kinh Thánh ghi lại theo trật tự thời gian.
Hầu hết những học-giả đều nhất trí rằng những sự-kiện được chép trong Ês 38:1-22; Ês 39:1-8 về bệnh tật của ông và việc ông tiếp các đại-sứ Ba-by-lôn xảy ra trước khi quân A-si-ri xâm lược (Ês 36:1-37:38). Chúng ta sẽ xét đến điều nầy khi chúng ta nghiên-cứu về cuộc đời và chức-vụ của Ê-xê-chia và cố gắng kết hợp các sách Các-vua, Sử-ký và Êsai.
1. Ê-xê-chia, nhà cải cách (IIVua 18:4) (IISu 29:3-31:21)
Lưu ý rằng II Các-vua chỉ có một câu mô-tả những cải cách của Ê-xê-chia (IIVua 18:4), trong khi II Sử-ký dành 3 đoạn để nói về phần đời quan-trọng nầy của ông. Tuy nhiên, II Các-vua đề-cập việc vua Ê-xê-chia hủy con rắn đồng là Môi-se đã làm như thế nào (Dân 21:5-9), nhưng trong Sử-ký không nhắc đến chuyện nầy. Con rắn là một di tích mang tính tôn-giáo, nó đạt đến vị-trí của một thần-tượng. “Nê-hu-tan” có nghĩa là “một miếng đồng, một vật bằng đồng”.
Với bản-tính con người, người ta dễ muốn tôn-sùng những di tích mang tính tôn-giáo dù chúng không có quyền lực gì. Ê-xê-chia là người có đức-tin; ông tin cậy Đức Chúa Trời hằng sống và vâng-theo luật-pháp của Ngài, và ông không muốn dân-sự thờ-lạy một hình ảnh chết và vô-dụng.
•Ông dọn sạch đền thờ (IISu 29:3-19).
Ê-xê-chia không chần chừ khi đưa Giu-đa trở về thờ-phượng Đức Chúa Trời chân-thần và hằng sống. A-cha, cha của ông, đã làm ô uế và cuối cùng đóng cửa đền thờ, rồi bãi bỏ chúc-vụ của người Lê-vi (IISu 28:24).
Ê-xê-chia ra-lệnh cho các thầy tế-lễ thanh tẩy chính mình để dọn đền thờ và khôi-phục sự thờ-phượng mà Đức Giê-hô-va phán truyền qua Môi-se.
Dân Y-sơ-ra-ên ở phía bắc đã bỏ sự thờ-phượng trong đền thờ và vì vậy họ bị mất nước, và A-cha làm ô uế và bỏ hoang đền thờ nên dân Giu-đa phải chịu trừng-phạt, bị Sy-ri, Ê-đôm và Phi-li-tin xâm lược. Sự thờ-phượng trong đền thờ như là trung tâm đầu não của dân Do-thái, nếu việc đó sai trật, mọi việc khác cũng sẽ sai trật.
Nhưng Ê-xê-chia không chỉ quan-tâm đến kế hoạch thanh tẩy đền thờ, vì ông có dự định tái cung hiến đền thờ và còn muốn dân-sự bước vào giao-ước của Đức Giê-hô-va (c.10).
14 người lãnh đạo được nêu tên trong câu 12-14 là những người làm gương và mở đường cho sự khởi đầu mới cho chức-vụ trong đền thờ. Nếu các lãnh đạo thuộc-linh không ngay thẳng với Đức Chúa Trời, làm sao Ngài có thể ban phước cho dân-sự?
Tất cả 3 dòng dõi người Lê-vi có những người đại diện, Ma-hát và Giô-ên từ dòng Kê-hát, Kích và A-xa-ria từ dòng Ma-ra-ri, Giô-a và Ê-đen từ dòng Ghẹt-sôn (Dân 3:1-4:49). Chi-tộc Ê-lít-sa-phan thuộc dòng Kê-hát (Dân 3:30) và có tiếng tốt vì sự trung-tín hầu-việc của họ.
Họ có Shim-ri và Giê-i-ên làm đại diện. Những người được kể tên sau đây nằm trong ban nhạc như A-sáp (từ Ghẹt-sôn), Hê-man (từ Kê-hát) hoặc Giê-đu-thun (từ Mê-ra-ri), những người có tài đánh đàn, ca hát và hướng dẫn buổi thờ-phượng. Vua Ê-xê-chia biết rằng phải có âm nhạc và sự ca-ngợi trong sự thờ-phượng nếu không Đức Chúa Trời không đep lòng. Những người hướng dẫn hoặc những giúp đỡ họ phải thanh-tẩy chính mình trư ớc mặt Đức Giê-hô-va để Ngài có thể sử dụng họ thanh-tẩy đền thờ.
Vào ngày mùng một tháng giêng, họ bắt tay sửa sang đền thờ, bắt đầu từ Nơi Chí Thánh và Nơi Thánh. Họ thu gom rác cùng những mãnh tượng vỡ ném chúng xuống trũng Xết-rôn, và thiêu hủy chúng. Sau khi thanh-tẩy bên trong đền thờ họ tiếp tục lau dọn hành lang.
Họ đã dọn sạch bàn thờ ngoại giáo mà A-cha lập, và đặt bàn thờ của Đức Giê-hô-va thật đúng chỗ (IIVua 16:10). Người Lê-vi cũng lau rửa những khí dụng dùng trong các nghi lễ và đặt chúng vào chỗ thích hợp. Mất 16 ngày để công việc của họ hoàn tất, như vậy họ đã bỏ qua ngày Lễ Vượt Qua, vì lễ ấy nhằm ngày 14 tháng giêng. Tuy nhiên, Ê-xê-chia đã tổ chức lễ Vượt Qua trong suốt tháng 2 (đoạn 30)
Nếu chúng ta muốn làm phục-sinh công việc của Đức Chúa Trời, chúng ta phải bắt đầu từ việc thanh-tẩy. Qua nhiều năm, những cá nhân và Hội thánh có thể dần dần tích tụ nhiều “rác” trong khi xao lãng những yếu-tố cần thiết trong sự thờ-phượng. Không cần phải làm việc gì mới mẽ để chúng ta kinh-nghiệm ơn phước mới từ Thiên Chúa, nhưng chúng ta chỉ cần trở lại “những việc cũ” và làm chúng cho thật tốt. Nếu chúng ta xưng tội-lỗi mình (IISu 7:14), thắp đèn, dâng hương (một hình ảnh của sự cầu-nguyện, Thi 141:1-2), và dâng chính cuộc đời mình làm của lễ sống (c.7 Rô 12:1-2). Đức Giê-hô-va sẽ thấy và nghe và sẽ ban phước cho chúng ta.
•Ông cung hiến đền thờ (IISu 29:20-36).
Vua và các quan chức trong thành gặp nhau tại đền thờ và dâng các của lễ cho Đức Giê-hô-va. Họ dâng các của lễ cho đất nước (Giu-đa và Y-sơ-ra-ên), đền thờ, và người Giu-đa nói riêng. Những của lễ chuộc-tội được dâng lên để chuộc-tội cho dân-sự, và các tiên-tri cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa (c.24 “cả Y-sơ-ra-ên”). Các của lễ thiêu tượng-trưng cho sự tận hiến cho Đức Giê-hô-va.
Khi các của lễ được dâng cho Đức Giê-hô-va, ban nhạc cất tiếng đàn và hát để ngơi-khen Đức Chúa Trời, theo sự dạy dỗ của Đa-vít, dùng những bài hát của Đa-vít, chơi những nhạc cụ của Đa-vít (c.25-27,30; ISu 23:5-6)
Nhưng đây không phải một buổi cung hiến đền thờ chỉ được tổ chức cho vua và những người lãnh đạo, vì hội chúng đã thanh tẩy chính cuộc đời họ và đặt chúng lên bàn thờ dâng cho Chúa (c.28-36). Họ đem đến rất nhiều của lễ, có đến ba ngàn con chiên được dâng làm của lễ thiêu.
Phần của lễ thù ân được những người đến thờ-phượng giữ lại để cùng ăn chung với gia đình như một bửa tiệc thông-công. Ê-xê-chia đã noi gương Sa-lô-môn khi ông cung hiến đền thờ hơn 200 năm trước (IVua 8:62). Đây là thời gian rất vui vẻ của vua và dân-sự. Hãy nhớ rằng có nhiều người tin-kính Chúa từ nước bội đạo Y-sơ-ra-ên phương bắc (giờ là Sa-ma-ri) đã lánh sang Giu-đa để họ có thể thờ-phượng Đức Giê-hô-va theo Luật-pháp Môi-se, nên lễ cung hiến nầy có mặt tất cả các chi phái.
•Ông tổ chức lễ Vượt Qua (IISu 30:1-27).
Mỗi năm 3 lần, người Do-thái phải đến Giê-ru-sa-lem để dự các lễ quan trọng, lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần, và lễ Lều Tạm (Xu 23:14-17; Xu 34:22-24). Đối với Cơ-đốc Nhân ngày nay, lễ Vượt Qua nói về sự chết của Chúa Cứu Thế, hiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng đã chịu chết vì chúng ta (ICôr 5:7; Gi 1:29).
Vào lễ Ngũ Tuần, Đức Thánh Linh đã giáng trên Hội thánh đầu tiên (Công 2:1-42) và lễ Lều Tạm nói về vương quốc tương lai khi Chúa Giê-xu cai-trị và chúng ta sẽ đồng cai-trị với Ngài (Xa 14:1-21).
Lễ Vượt Qua kỷ niệm sự giải cứu dân Do-thái khỏi ách nô-lệ của Ê-díp-tô; vì vậy nó là một lễ của cả dân-tộc. Vì lý-do nầy mà Ê-xê-chia đã mời dân Do-thái từ cả Giu-đa và Y-sơ-ra-ên (Sa-ma-ri) đến Giê-ru-sa-lem dự lễ. Luật-pháp Môi-se có một điều khoản cho phép tổ chức lễ Vượt Qua vào tháng 2 (Dân 9:6-13), và Ê-xê-chia đã tận dụng điều khoản nầy. Đền thờ cả các thầy tế-lễ và người Lê-vi đều chưa sẳn sàng cho lễ vào tháng giêng (c.1-3).
Điểm nhấn mạnh trong lời mời là “cả Y-sơ-ra-ên” (c.5-6) và không chỉ có dân Giu-đa. Từ thời Sa-lô-môn, vả không có lễ Vượt Qua nào cho cả dân-tộc, và Ê-xê-chia muốn thống nhất dân-tộc về mặt thuộc-linh dù họ đang bị chia cắt về mặt chính trị. Vương Quốc Phía Bắc (Sa-ma-ri) chịu dưới sự cai-trị của A-si-ri và dân Do-thái sót lại đang sống ở đó đã thờ-lạy những thần-tượng của các nước Ngoại bang. Họ cần phải trở về với Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp (c.6).
Dân Do-thái có chung một tổ-phụ và chung một sự thờ-phượng, và phải đến lúc đặt Đức Chúa Trời lên trên hết, quên đi những khác biệt và những ký ức đã qua. Từ được lập đi lập lại “trở lại” cho thấy được tấm-lòng của Ê-xê-chia (c.6,9). Nếu cả dân-tộc trở lại ăn-năn với Đức Chúa Trời, Ngài sẽ lại ban phước cho họ. Ê-xê-chia dựa vào lời của Sa-lô-môn trong IISu 7:14 để viết lên lời mời của mình.
Tiếc thay, dân-sót đang chịu dưới sự cai-trị của A-si-ri cứng đầu ý như các tổ-phụ của họ khi Đức Chúa Trời đối mặt với họ trong đồng vắng. Đây là một cơ-hội để có một khởi đầu mới và làm vinh-hiển Đức Giê-hô-va bằng cách tìm kiếm ơn thương-xót, ân-điển và lòng nhân-từ của Ngài (c.9), nhưng hầu hết những người ở ngoài Giu-đa đều khước từ lời mời đó. Họ chế giễu Ê-xê-chia và trêu chọc các sứ-giả của ông, nhưng qua việc làm đó, họ đã khước từ ơn phước của Đức Giê-hô-va dành cho họ.
Tuy nhiên, có một số người đã can-đảm không nghe theo gia đình và bạn bè và đi đến Giê-ru-sa-lem để dự lễ, trong số đó có những người đến từ các chi phái phía bắc như A-se, Ma-na-se, và Sa-bu-lôn. Họ trải qua một quảng đường rất xa để đến Giê-ru-sa-lem với tấm-lòng khiêm-hạ, và tìm kiếm ơn phước của Đức Giê-hô-va. Đức Chúa Trời ban cho những người đến thờ phượng ở đó có đồng một lòng và đồng một ý để cho chính Đức Giê-hô-va là trung tâm của sự-kiện mà không phải là kế-hoạch chính trị nào đó.
•Kỳ lễ ấy được mô-tả trong IISu 30:13-27.
Dân sự đã dẹp các bàn thờ mà vua A-cha đã lập ở Giê-ru-sa-lem (c.14) vì có thể sẽ không có sự thờ-phượng cách thống nhất nếu họ không gặp nhau tại một bàn thờ được chuẩn bị sẳn ở sân đền thờ. Thật nghịch lý khi dân-sự nhiệt tình thờ-phượng Đức Giê-hô-va, trong khi các thầy tế-lễ và người Lê-vi không thánh-sạch và vì vậy không thể phục-sự tại bàn thờ! Nhưng họ cứu chữa được tình hình và đem của lễ thiêu để được dâng cho Chúa hàng ngày (Xu 29:38-43; Dân 28:1-8).
Trong suốt thời trị-vì của vua A-cha, sự thờ-phượng trong đền thờ bị gián đoạn, à các thầy tế-lễ cho tự phép mình sống không xứng đáng với chức-vụ hầu-việc nơi bàn thờ; nhưng giữa thời gian Ê-xê-chia lên ngôi và lễ Vượt Qua, họ đã có thời gian dọn mình.
Nhưng nhiều người bình thường trong cộng đồng lớn ấy cũng không thánh-sạch (Xu 12:14-16; Xu 13:6-10), có lẽ vì họ vội vã rời khỏi nhà hoặc họ bị dính dơ trên được đến Giê-ru-sa-lem (Dân 9:9-10). Nhưng Ê-xê-chia biết rằng Đức Chúa Trời quan-tâm đến tấm-lòng của người đến thờ-phượng Ngài, và không phải những chi-tiết của buổi lễ, và ông cầu-xin Chúa thanh tẩy và chấp nhận họ (ISa 15:22-23; Ês 1:1-17; Os 6:6; Mi 6:6-8; Mac 12:32-33).
Đức Chúa Trời nhậm lời cầu-nguyện của ông, vì Ngài cần tấm-lòng, không cần nghi thức tôn-giáo. Nếu có bất kỳ người theo chủ nghĩa hợp pháp nào trong hội chúng, họ chắc rất khó chịu, nhưng thái-độ của họ không làm mất đi ơn phước của Đức Chúa Trời. (Lu 18:9-14; Thi 51:10-11,15-16). Nếu dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay dọn lòng mình để thờ-phương Ngài giống như họ chưng diện quần áo, Đức Giê-hô-va sẽ ban ơn dư dật cho Hội thánh Ngài.
Quá phước hạnh và vui-mừng, nên Ê-xê-chia và dân-sự quyết định kéo dài kỳ lễ một tuần nữa, và vua đã dâng nhiều của lễ và như vậy chu-cấp đồ ăn cho dân-sư. Tấm gương của vua thúc đẩy các lãnh đạo Giu-đa đem thêm của lễ đến và mọi người đều được ăn no. Sự dâng hiến rời rộng nầy xuất phát từ sự thờ-phượng Đức Chúa Trời cách tự nhiên và tấm-lòng biết ơn Ngài. Khi Sa-lô-môn khánh thành đền thờ, ông cũng giữ chân hội-chúng thêm một tuần sau (IVua 7:8-9)
Ông tiến cử và tổ chức các ban trong đền thờ (IISu 31:1-21). Trước khi tuần thứ hai kết thúc và dân-sự trở về nhà mình, các thầy tế-lễ chúc phước cho dân-sự theo ý lời phán dặn của Đức Chúa Trời trong Dân 6:22-27 và họ rời Giê-ru-sa-lem với đầy-dẫy những ơn phước của Đức Giê-hô-va. Họ mang theo những ơn phước ấy về nhà, rồi tiếp tục vâng-theo Đức Chúa Trời thiêu hủy những thần-tượng ở Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im và Ma-na-se. Có lòng phấn khởi ngợi-khen Đức Chúa Trời trong hai tuần của kỳ lễ trọng thể ấy là một chuyện, nhưng khi trở về nhà vẫn tiếp tục sống trong ơn phước của người đã được gặp Chúa là một chuyện khác.
Vua Ê-xê-chia biết rằng những ơn phước của lễ Vượt Qua sẽ không còn mãi nếu dân-sự không được thường xuyên dự phần thờ-phượng Chúa tại đền thờ. Thật tuyệt vời khi có những ngày lễ Giáng sinh long trọng hoặc một vài ngày lễ lớn nào đó, nhưng bạn không thể sống được khi một năm chỉ được ăn vài lần.
Vì lý-do đó, Ê-xê-chia đã làm theo lời dạy của Đa-vít (ISu 23:26) và tổ chức các phần việc trong đền thờ cho các thầy tế-lễ và người Lê-vi. Ông đã làm gương tốt qua việc đều đặn dâng các của lễ trong bầy của mình hàng ngày và hàng tháng. Vua Ê-xê-chia đã tìm kiếm Đức Giê-hô-va và làm mọi sự cho Ngài bằng tất cả tấm-lòng mình (c.21)
Sau khi phân việc và tổ chức các ban ngành trong đền thờ, Ê-xê-chia cũng nhắc nhở dân-sự trung-tín dân phần mười cho đền thờ để cung-ứng cho các thầy tế-lễ và người Lê-vi (c.4; Dân 18:8-32; Phuc 12:1-19; Phuc 14:22-29). Ông cũng xây các nhà kho trong đền thờ để thâu trử những của lễ và chọn ra những người có uy tín để quản-lý việc phân phát đồ ăn.Các thầy tế-lễ, người Lê-vi và gia đình họ sống nhờ vào những của dâng đó (Nêh 13:1-14). Vua đặc biệt quan tâm đến những đứa trẻ mới dứt sữa (c.16,18). Ông không muốn bất kỳ tôi-tớ nào của Đức Chúa Trời hoặc gia đình của họ phải thiếu ăn.
Vào tháng 3 (Tháng Năm/tháng Sáu), là tháng thu hoạch lúa, dân-sự đem lúa dâng cho đền thờ và các thầy tế-lễ và người Lê-vi trữ vào kho. Suốt tháng 7 (Tháng Chín/tháng Mười), là mua thu hoạch nho, những trái nho và rượu nho tiếp tục được đem vào kho của đền thờ.
Giống như những của dâng dùng để dựng đền tạm (Xu 36:5-7) và xây đền thờ (ISu 9:1-20), của dâng phần muời và những của dâng khác được đem đến đền thờ mới rất nhiều, vượt quá sự mong đợi của vua. Người hết lòng thờ-phượng Chúa luôn là người dâng hiến rời rộng, nhất là khi những người lãnh đạo của họ làm gương tốt, và Giu-đa không là ngoại lệ.
2. Ê-xê-chia, nhà thương thuyết (IIVua 18:7-16)
Giu-đa là nước chư hầu của A-si-ri từ thời A-cha, cha của Ê-xê-chia (IIVua 16:7-18). Khi Sa-gôn, vua A-si-ri, tử trận, và San-chê-ríp lên ngôi, đây là cơ-hội để Ê-xê-chia cỡi bỏ cái ách đó. San-chê-ríp bận quan tâm đến những vấn-đề khác trong nước mình, nên Ê-xê-chia không nộp triều cống hàng năm. Giu-đa đã thắng dân Phi-li-tin, nên nước nầy đang thấy mình đủ mạnh. Trong năm 722 T.C., A-sa-ri tấn công Y-sơ-ra-ên và chiếm thành Sa-ma-ri, và điều nầy có nghĩa là quân đội A-si-ri lúc bấy giờ đang đóng quân sát Giu-đa.
Vào năm 715 T.C., San-chê-ríp xâm lược Giu-đa và tiến thẳng đến Giê-ru-sa-lem.[45]. Đức-tin của Ê-xê-chia không đủ mạnh, ông quá nhún nhường trước vua A-sa-ri và nộp đủ cống mà ông đã nợ 7 tấn bạc và một tấn vàng. Một phần của cải đó lấy từ kho riêng của vua, nhưng thật thất-vọng khi phần còn lại vua đã lấy từ kho của đền thờ. Ông đã học theo cha mình (IIVua 16:8). Vua Đa-vít không thương thuyết với các kẻ thù mình hoặc tìm cách mua chuộc họ; ông ta tấn công và đánh bại họ. Dĩ nhiên, San-chê-ríp rút quân khỏi Giu-đa, nhưng ông ta nuôi ý đồ quay trở lại.
Theo các sử gia, đây là sự-kiện quan-trọng tiếp theo trong cuộc đời Ê-xê-chia. Nó xảy ra 15 năm trước khi ông băng hà năm 687 T.C., như vậy sự-kiện vua bệnh và được chữa lành, và sự viếng thăm của các đại-sứ A-si-ri, xảy ra năm 702 T.C.. Một năm sau, A-sa-ri trở lại tấn công Giê-ru-sa-lem
Có phải căn bệnh của Ê-xê-chia là một hình-phạt mà Đức Chúa Trời giáng trên ông vì đã thỏa hiệp với A-si-ri? Câu Kinh Thánh IISu 32:24 cho chúng ta biết rằng vua đã bắt đầu kiêu-ngạo và đó là cách Đức Chúa Trời hạ ông xuống. Sự-kiện tiên-tri Ê-sai đến thăm ông với một sứ-điệp trọng thể cho thấy kinh-nghiệm nầy thật sự quan-trọng như thế nào, vì vua sắp phải chết.
“Hãy trối lại cho nhà ngươi” liên-quan nhiều đến việc chon người kế-vị. Ê-xê-chia lên ngôi lúc 25 tuổi (IIVua 18:2) và băng hà năm 687.
Ma-na-se, con trai ông, lên ngôi năm 687 ở tuổi 22, vậy Ma-na-se sinh năm 709 và khi tiên-tri Ê-sai đến thăm Ê-xê-chia và báo rằng ông sắp chết thì Ma-na-se được 7 tuổi. Giô-ách lên ngôi lúc 7 tuổi (IIVua 11:4), nhưng ông có Giê-hô-gia-đa, thầy tế-lễ tin kính, bên cạnh cố-vấn. Rõ ràng ngôi Đa-vít đang trong nguy biến.
Phản ứng của Ê-xê-chia là quay mặt vô vách và cầu-nguyện với Đức Chúa Trời [46]. Nếu câu nói của ông trong IIVua 20:3 và Ês 38:2 nghe như một lời kiêu-ngạo, hãy nhớ rằng Ê-xê-chia chỉ đang đòi hỏi lời-hứa trong IISu 6:16-17. Lời-hứa nầy là một phần trong giao-ước ân-điển của Đức Giê-hô-va với Đa-vít và con cháu Đa-vít (IISa 7:1-17), và Ê-xê-chia chỉ đang nhắc Đức Chúa Trời rằng ông đã trung-tín vâng-theo Luật-pháp của Ngài. Nói cách khác, với tư cách là một hậu-duệ trung-tín của Đa-vít, ông “đáng” được sống. Thông-điệp của Đức Chúa Trời cho vua qua Ê-sai nhấn mạnh tầm quan trọng của vua Đa-vít và sự tồn tại của con cháu Đa-vít trên ngôi Giê-ru-sa-lem.
Đức Chúa Trời nhậm lời cầu-nguyện của Ê-xê-chia và bảo tiên-tri Ê-sai đến gặp Ê-xê-chia đề báo tin ông ta sẽ được chữa lành và nói cho ông ta biết 2 lời-hứa lớn của Đức Chúa Trời dành cho ông ta.
Thứ nhất, vua sẽ được lành và 3 ngày nữa có thễ đến dự buổi thờ-phượng trong đền thờ; và thứ hai, nếu A-si-ri quay trở lại, Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ và giải cứu thành Giê-ru-sa-lem. Lưu ý, Ê-xê-chia bị bệnh trước khi quân của San-chê-ríp xâm lược lần thứ hai. Để cho vua tin ch ắc nới những lời-hứa nầy, Đức Chúa Trời ban cho ông một dấu lạ: bóng giọi trên trắc ảnh A-cha (một đồng hồ mặt trời lớn) lui lại 10 độ. Khi mặt trời lặn, bòng sẽ dài hơn theo tự nhiên, nhưng bất thình lình, bóng trở nên ngắn hơn. Có phải Đức Chúa Trời giữ cho trái đất ngừng quay hay chỉ vì cái bóng lùi lại? Đức Chúa Trời không giải thích phép-lạ của Ngài và đối với chúng ta, thật không khôn-ngoan khi thay Ngài giải thích nó.
Đức Chúa Trời trừng-phạt chúng ta chỉ vì Ngài yêu chúng ta và muốn chúng ta đừng cãi lời Ngài và đánh mất những ơn phước của Ngài (Hêb 12:1-11). Trừng-phạt không phải là một quan tòa nghiêm khắc khi ông ta trừng-trị tội-phạm. Nó là bổn-phận của một người cha yêu-thương khi ông muốn đem lại những điều tốt đẹp nhất cho con cái, vì Cha chúng ta trên trời muốn chúng ta “nên giống như hình bóng Con Ngài” (Rô 8:29).
4. Ê-xê-chia, người ca ngợi (IIVua 18:7-16) (Ês 38:9-22).
Tiên tri Ê-sai viết lại bài thi-thiên mà Ê-xê-chia đã làm sau khi ông được chữa lành và được ban cho thêm 15 năm sống trên đất (Ês 38:9-20). Có thể Ê-xê-chia còn viết những bài thơ khác (c.20) vì chúng ta thấy có câu “các người của Ê-xê-chia” trong Ch 25:1. Tiêu-đề nầy cho biết vua Ê-xê-chia đã “hương dẫn” những học-giả viết Kinh Thánh và chép lại các bản thảo [47]. Bài thi-thiên nầy được Ê-xê-chia viết trong khi nhớ lại căn bệnh và sự được chữa lành của mình với những hình ảnh thật sống động, nó dạy chúng ta rất nhiều về sự sống và cái chết. Điều nầy đặc biệt đúng trong bản dịch NIV.
Ê-xê-chia nhìn thấy cuộc đời giống như một hành trình mà đích đến của nó là cái chết, hoặc “Âm-phủ” (c.10). Ông đang sống trong những ngày quan-trọng nhất của cuộc đời và sắp đánh mất những ngày tháng còn lại. (Ê-xê-chia lúc này khoảng 37 hoặc 38 tuổi). Có lẽ ông đang nhớ đến Thi 139:16, trong đó Đa-vít nói rằng Đức Chúa Trời đã ghi vào sách của Ngài số ngày của mỗi người. Ê-xê-chia oán than vì ông sắp từ bỏ cuộc đời và không còn được nhìn thấy bạn bè thân quyến. [48] Lưu ý rằng trong thời gian nầy người ta chưa hiểu về sự sống đời-đời, thế giới trung gian và Sự Sống Lại (IITi 1:10).
Nhưng cái chết không phải là điểm cuối của cuộc hành trình; nó giống như việc dời trại (c.12). Phao-lô đã dùng hình ảnh cái trại (nhà tạm) theo cách tương tự (IICôr 5:1-4) và Phi-e-rơ cũng vậy (IIPhi 1:13-14). Nhưng Ê-xê-chia cũng mô-tả cái chết gần kề của mình như miếng vải bị cuốn lại (c.12).
Đức Chúa Trời “dệt” tôi trong lòng mẹ (Thi 139:13-16) trước khi chào đời, và suốt trong những ngày tôi sống trên đất, Ngài muốn dệt tôi thành một sản phẩm đẹp đẽ và có ích cho sự vinh-hiển của Ngài. Ê-xê-chia đang bị bỏ đi khi sản phẩm chưa hoàn thành. Đêm ngày vua lo-lắng và đau buồn như con chim yếu đuối đang bị sư tử đói rình vồ (c.13-14). Tất cả những gì ông có thể làm là than thở như chim bồ câu và khóc lóc như chím hét.
Trong câu 15, oàn cảnh đã thay đổi và ông dâng lời tạ-ơn Đức Chúa Trời vì ơn thương-xót của Ngài đã giải cứu ông khỏi hầm tối (c.17-18). Đức Chúa Trời không chỉ cứu mạng sống ông, Ngài tha-thứ tội-lỗi cho ông (c.17; Ês 43:25; Mi 7:19). Đức Giê-hô-va đã trừng-phạt vua vì sự kiêu-ngạo của ông (IISu 32:24), nhưng giờ đây vua hứa sẽ “ăn ở khiêm-nhường” trọn cuộc đời còn lại (c.15). Ê-xê-chia dâng cuộc đời mình để ngơi-khen Đức Chúa Trời và nói cho con cháu biết những gì Đức Chúa Trời đã làm cho ông. Có lẽ đó là lúc ông tổ chức nhóm “các người của Ê-xê-chia” để sao chép và bảo quản Kinh Thánh.
Tuy nhiên, Sự kiêu-ngạo của Ê-xê-chia đã trổi dậy một lần nữa và vua lại bị quở phạt.
11. LẬP VUA – PHẦN II (IIVua 18:17-19:36; IIVua 20:12-21; IISu 32:27-33; Ês 36:1-37:38; Ês 39:1-8)
Chúng ta đã biết vua Ê-xê-chia là một người cải cách thành công, ông đã thanh-tẩy đền thờ và phục-hồi chức-vụ của các thầy tế-lễ. Nhưng Ê-xê-chia, người thương thuyết, đã chịu thua A-si-ri và phải nộp cống để ngăn ngừa chiến tranh. Sau khi Đức Chúa Trời khiến ông bệnh nặng để ông hạ mình và kêu-cầu ơn thương-xót của Đức Chúa Trời. Tiếp theo chiến thắng đó, Ê-xê-chia vấp ngã một lần nữa khi tiếp đón các đại-sứ của Ba-by-lôn cách nồng hậu và cho họ xem những thứ mà họ không được quyền xem. Giai đoạn nầy trong cuộc đời Ê-xê-chia thật đáng trách.
Kinh Thánh mô-tả ma quỷ, kẻ thù của chúng ta, như con rắn và con sư tử (Sa 3:1; IICôr 11:1-4; IPhi 5:8-9). Sa-tan luôn đến bên chúng ta như con rắn để dụ dỗ chúng ta, nhưng nếu có không thành công, nó sẽ trở mặt thành con sư tử để cắn xé chúng ta. Đây là kinh-nghiệm của Ê-xê-chia.
-Thứ nhất, các đại-sứ của Ba-by-lôn đến Giê-ru-sa-lem đến thám thính xem Giu-đa giàu có và hùng mạnh như thế nào, và sau đó quân A-si-ri đến cướp phá xứ, chiến Giê-ru-sa-lem, và bắt dân Do-thái lưu-đày đến A-si-ri. Các đại-sứ lừa được vu Ê-xê-chi vì ông không tìm kiếm sự khôn-ngoan của Đức Chúa Trời qua tiên-tri Ê-sai, nhưng ông đã tìm kiếm Đức Chúa Trời khi quân A-si-ri đến xâm lược xứ, và Đức Chúa Trời ban cho ông chiến thắng.
•Sự kiêu-ngạo của Ê-xê-chia (IIVua 20:12-13; IISu 31:27-30; IISu 39:1-2).
Chúng ta đã biết rằng Ê-xê-chia mắc phải tính kiêu-ngạo (IISu 32:25-26). Căn bệnh thập tử nhất sinh của ông đã khiến ông hạ mình, nhưng sự viếng thăm của các đại-sứ Ba-by-lôn cho thấy rõ tội-lỗi cũ vẫn còn rất sống động. Các đại-sứ nầy đến thăm Giu-đa với 2 mục đích: (1) xem Giu-đa hùng mạnh đến đâu, và (2) tìm cách tác động để Ê-xê-chia đồng ý hiệp với Ba-by-lôn chống lại A-si-ri. Vì không biết 2 mục đích thật của họ, Ê-xê-chia nghĩ rằng được các đại-sứ của một nước lớn viếng thăm là một vinh hạnh lớn lao. Trong giai đoạn lịch-sử nầy, A-si-ri là một đế quốc mạnh nhất và Ba-by-lôn là đế quốc đang phát triển.
Tại sao Ê-xê-chia nên lo ngại Ba-by-lôn? Vì sẽ có một này A-si-ri lui vào hậu trường và Ba-by-lôn sẽ là thủ vai chính trong vùng Cận Đông. Từ năm 607 đến 586, Ba-by-lôn xâm lược Giu-đa, phá hủy Giê-ru-sa-lem và đền thờ, và bắt dân chúng đi lưu-đày. Ban đầu Ba-by-lôn đến như con rắn, sau nó nó hiện nguyên hình là một con sư tử.
Các đại-sứ đem theo những lễ vật đắt tiền từ vua Ba-by-lôn cùng với bức thư tay bày-tỏ niềm vui của vua khi hay tin Ê-xê-chia bình phục. Ê-xê-chia nên nhận ra Bê-rô-đác-Ba-la-đan thật sự không quan tâm đến sức khỏe của ông mà chỉ muốn ép Ê-xê-chia liên minh với nước Ba-by-lôn. Rất có thể các đại-sứ hết lời khen-ngợi nguồn tài nguyên và sự giàu có của Giu-đa để càng thổi phồng cái tôi của Ê-xê-chia. (IISu 32:27-30).
Ê-xê-chia đã dại dột dẫn họ đi tham quan khắp nơi và chỉ cho họ xem các kho tàng và kho vũ khí của mình. Có lẽ Ê-xê-chia có tài quản-lý những thầy thơ-ký và làm thơ hơn là lo các hoạt động chính trị của đất nước. Tất cả những gì Ê-xê-chia có là do Đức Chúa Trời ban cho và thuộc về Đức Chúa Trời, vậy sao ông lại khoác lác về chúng? Ông tạo ấn tượng tốt cho các đại-sứ nhưng ông làm Đức Chúa Trời buồn lòng và làm nguy hại cho đất nước và thành phố của mình.
Tính kiêu-ngạo là vũ khí chiến lược của Sa-tan trong chiến thuật chống nghịch Đức Chúa Trời và dân-sự Ngài. Chính Sa-tan đã phạm-tội kiêu-ngạo khi nó phản nghịch Đức Chúa Trời và muốn được người ta thờ-phượng và vâng-phục dù chỉ một mình Đức Chúa Trời xứng đáng được như vậy (Ês 14:12-15).
Tính kiêu-ngạo khiến chúng ta cướp đi của Đức Chúa Trời sự vinh-hiển chỉ thuộc về một mình Ngài. Tính kiêu-ngạo gây nên trong chúng ta một cảm giác an ninh giả tạo và điều đó dẫn chúng ta vào chỗ phạm-tội và thất bại.
Charles Spurgeon nói với dân-chúng ở London, “Chúng ta đừng nên tự hào vì chủng-tộc, màu da, chỗ ở hay ơn-huệ của mình”. Thật là một lời khuyên hay! William Barclay viết, “Tính kiêu-ngạo là nguyên nhân gây ra những tội khác, và là kẻ sinh ra tất cả những tội khác”
•Lời tiên-tri của Ê-sai (IIVua 20:14-18; IISu 29:3-8).
Ê-xê-chia lẽ ra nên bàn bạc với Ê-sai ngay khi biết tin các đại-sứ Ba-by-lôn sẽ đến Giê-ru-sa-lem. Khi tiên-tri Ê-sai biết các sứ-giả nước ngoài đến và đi rồi, ông đã ra mắt vua và hỏi 2 điều quan-trọng: “Họ đã nói gì và từ đâu đến?” Vua không trả lời câu thứ nhất, nhưng vua thừa nhận họ đến từ Ba-by-lôn. Những đại-sứ từ “một nước xa” đến Giu-đa để làm vua vui, và chắc chắn đã rất vui vì tìm được một đồng mình chống lại người A-si-ri.
Khi bạn đọc sách Ê-sai, bạn sẽ phát hiện được rằng tiên tri Ê-sai đã biết điều gì đó về tương lai của Ba-by-lôn (13-14; IIVua 20:1-10). Trong giai đoạn bấy giờ, cả dân sự đều biết A-si-ri đã là một nước hùng mạnh bậc nhất trên thế giới, còn Ba-by-lôn chỉ mới bắt đầu có tiếng tăm. A-si-ri đã đánh bại nước Y-sơ-ra-ên, nhưng chính Ba-by-lôn sẽ thâu tóm Giu-đa và Ês 39:5-7 là lời tiên-tri đầu tiên của Ê-sai nói rõ sự-kiện đó. Một thế kỷ sau khi Ê-xê-chia băng hà. Ba-by-lôn tiêu diệt Giê-ru-sa-lem và đền thờ, và một số hậu-tự của Ê-xê-chia bị bắt đi lưu-đày và của cải của ông cũng bị đem sang Ba-by-lôn.
• Sự kiên-nhẫn của Đức Chúa Trời (IIVua 20:19).
Phản ứng của Ê-xê-chia không phải là một sự thở phào vì thế hệ của ông được thoát khỏi sự trừng-phạt, nhưng đó là thái-độ chịu phục ý muốn của Đức Chúa Trời. Một lần nữa tính kiêu-ngạo của Ê-xê-chia bị đánh đổ (IISu 32:26). Đức Giê-hô-va đã nhẫn nại với Ê-xê-chia và vua không biết một thử thách lớn đang ở phía trước cuộc tấn công của A-si-ri vào Giê-ru-sa-lem.
Tuy nhiên, vua đã học được những bài học quý giá sau khi ngã bệnh và giải quyết không tốt chuyện các đại-sứ Ba-by-lôn. Đức Chúa Trời thật nhân-từ chuẩn bị chúng ta cho những gì Ngài dành sẳn cho chúng ta!
2. Ê-xê-chia, người chỉ huy (IIVua 18:17-37) (IISu 32:1-19; Ês 36:1-22)
“Sau các việc nầy và sự thành-tín nầy, thì San-chê-ríp loán đến trong xứ Giu-đa” (IISu 32:1). “Các việc nầy và sự thành-tín nầy” là công sức của Ê-xê-chia bỏ ra để thanh-tẩy đền thờ, các chức tế-lễ, người Lê-vi, và phục-hồi sự thờ-phượng chân-chính trong Giu-đa.
Người ta sẽ nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ ban-cho ông sự hòa bình sau những gì ông đã làm, nhưng Ngài đã cho quân A-si-ri tấn công vào Giu-đa và đe dọa Giê-ru-sa-lem. Ê-xê-chia trung-tín với Đức Giê-hô-va, nhưng dường như Ngài không thành-tín với ông ta.
Xét cho cùng, vua đã làm “những điều lành, ngay thẳng và chân thành, tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người” (IISu 31:20) và “người hết lòng mà làm” (c.21). Thế thì tại sao Đức Giê-hô-va không bảo vệ Giu-đa trước sự xâm lấn khác?
Alexander Maclaren nói, “Đây là điều khó hiểu trong Cựu-ước, làm thế nào mà người tốt thường gặp khó khăn, và người xấu thường găp thuận lợi”. [49]. Chúng ta có thể hiểu được lý-do Y-sơ-ra-ên bị A-si-ri tiêu diệt’ dù sao Y-sơ-ra-ên cũng đã thờ các thần-tượng và chống nghịch luật-pháp của Đức Chúa Trời.
Nhưng Giu-đa đã trở về với Chúa dưới sự lãnh đạo của Ê-xê-chia, và dù vua phạm một vài lỗi lầm, nhưng tấm-lòng của ông luôn trung-thành với Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Giê-hô-va có những mục đích thánh của Ngài để làm thành trong cuộc đời Ê-xê-chia và trong sự sống của đất nước.
Đối với Đức Chúa Trời, thật dễ để sai đội quân thiên sứ Ngài đế tiêu diệt 185.000 quân A-si-ri, nhưng khó khăn hơn để làm việc trong lòng của Ê-xê-chia và thay đổi ông thành một người sống bởi đức-tin. Khi chúng ta để Đức Chúa Trời hành động theo được lối của Ngài, những khó khăn thử thách trong cuộc sống ủng hộ chúng ta chứ không chống lại chúng ta, và chúng sẽ đem vinh-quang về cho Đức Chúa Trời. Vua cần biết rằng ông là người đứng thứ hai trong bộ máy lãnh đạo (Gios 5:13-15) và chỉ một mình Đức Chúa Trời là Đấng tể-trị.
•Sự chuẩn bị (IISu 32:1-8).
Ê-xê-chia biết rằng quân A-si-si chuẩn bị tấn công, nên ông triệu tập các lãnh đạo của mình để lên kế hoạch từng bước củng cố Giê-ru-sa-lem. Nhờ triệu tập tất cả các lãnh đạo, ông đã hiệp một họ trong sự thông cảm và chiến lược, một yếu-tố quan-trọng trong chiến tranh. Lịch sử A-si-ri chép rằng quân đội của họ đã chiếm 66 thành kiên cố ở Giu-đa trước khi đóng quân tại La-ki và lên kế-hoạch bao vây Giê-ru-sa-lem.
Ê-xê-chia cho chặn các khe nước cung-cấp cho khu vực bên ngoài thành để kẻ thù không thấy có nhiều nước. Ông đã cho đào một đường hầm dẫn nước từ sông Ghi-hôn đến thành Giê-ru-sa-lem (IIVua 20:20) để dân trong thành không phải chết khát. Cho đến ngay nay, đường hầm ấy là một di tích nổi tiếng cho du khách tham quan vùng Đất Thánh.
Ê-xê-chia cũng cho tu sửa và củng cố các vách thành, và xây thêm các tháp canh trên đó. Ông cũng xây thêm vách thứ hai bên ngoài và làm vững chắc “Mi-lô”, những gò cao để đở các vách thành (IIVua 11:8 IVua 11:27). Ông tổ chức đội quân, các quan tướng, cung cấp vũ khí cho họ, và động viên họ bằng lời nói. Ông đã mượn lời của Môi-se nói với Y-sơ-ra-ên và Giô-suê (Phuc 31:1-8) và của Đức Chúa Trời nói với Giô-suê (Gios 1:1-9; IIVua 6:16). Ê-xê-chia thật khôn-ngoan khi dùng lời của Đức Chúa Trời để khích-lệ binh lính của mình và nhắc họ nhớ những chiến công đã qua của dân-sự Đức Chúa Trời vì họ đã tin-cậy Đức Giê-hô-va.
•Cuộc đối đầu (IIVua 18:17-18; IISu 36:1-3).
Căn bệnh thập tử nhất sinh của Ê-xê-chia xảy ra năm 702 T.C và cũng khoảng thời gian đó các đại-sứ Ba-by-lôn đã đến thăm Giu-đa. Điều nầy có nghĩa là quân A-si-ri xâm lược xứ ngay sau đó một năm - 701 T.C. Ê-xê-chia còn 14 năm sống trên đất, ông không muốn sống trong cảnh giam cầm. Tuy nhiên, tiên-tri Ê-sai đã tiên-báo rằng vì Vua Đa-vít, Đức Chúa Trời sẽ giải cứu Giu-đa và gìn giữ Giê-ru-sa-lem (IIVua 20:6), nên Ê-xê-chia có một lời-hứa lớn để tin-cậy vào.
Dân sự của Đức Chúa Trời không sống nhờ sự giải thích, họ sống dựa trên những lời-hứa.
Quân A-si-ri chọn La-ki làm chỗ đóng quân, cách tây nam Giê-ru-sa-lem 30 dặm, và dẫn theo “một đạo binh mạnh” để tấn công Giê-ru-sa-lem. Ba vị quan của A-si-ri bảo Ê-xê-chia sai 3 người đến gặp họ để bàn những điều khoản cho sự đầu hàng. Những cái tên nầy không phải là tên riêng:
-Tạt-tan: quan tổng binh,
-Ráp-sa-ri: quan trưởng,
-và Ráp-sa-ke: quan tổng binh.
Những người đại diện cho Ê-xê-chia có Ê-li-a-kim, quan cai đền, Sép-na, thơ-ký, và Giô-a, quan thái-sử (Ês 22:15-25; Ês 36:3).
Họ gặp nhau chính tại nơi Ê-sai đối mặt với A-cha, cha của Ê-xê-chia, và căn dặn ông không được kết ước với A-si-ri (Ês 7:1-25; IIVua 16:5-9). Dù kết ước hay không, Ê-sai tiên-tri rằng A-si-ri sẽ trở lại, và lời của ông đã trở thành hiện thực.
Sáu người không chính thức đối thoại với nhau nhưng đứng cách xa nhau đủ để Ráp-sa-kê cất cao giọng. Dĩ nhiên, uân A-si-ri muốn dân trong thành nghe những gì họ nói và lo-sợ. Các quan tướng nầy không nói tiếng A-ram, ngôn ngữ thương mại thời bấy giờ, nhưng họ nói tiếng Hy-ba-lai quen thuộc (IIVua 18:26-27; IIVua 32:18; IIVua 36:11-12). Điều quan-trọng là các lãnh đạo A-si-ri biết tiếng Hy-bá-lai để họ có thể tiến hành chiến tranh tốt hơn. Các đầy-tớ của Đức Chúa Trời cần học theo điều nầy để có thể công-bố sứ-điệp bình-an.
Cần biết rõ ba “lời nói” nếu chúng ta muốn hiểu sự -iện nầy có tác động thế nào. Trước tiên, quan tổng binh Ráp-sa-kê nói với Ê-xê-chia và dân Do-thái và nhạo báng Đức Chúa Trời của họ (IIVua 18:17-36). Sau đó Ê-xê-chia đi đến đền thờ và thưa với Đức Chúa Trời về những lời quan tổng binh ấy đã nói (IIVua 19:1-9).
Cuối cùng, Đức Chúa Trời phán với Ê-xê-chia (qua tiên-tri Ê-sai) về sự đoán-phạt mà Ngài sẽ giáng trên dân A-si-ri (IIVua 19:20-34). Đức Chúa Trời luôn nói sau cùng.
Quan tổng binh là người khôn khéo, ông ta biết thêu dệt lời nói mình và làm cho ý nghĩa của nó chồng chéo lên nhau. Dĩ nhiên ông không quan tâm đến việc nói đúng sự thật, vì ông ta biết con người (kể cả người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem) sống dựa trên cái “dường như” thay vì trên cái “thật sự” và suy nghĩ bằng cảm xúc thay vì bằng trí khôn.
Ý chính của ông ta muốn nói là đức-tin (IIVua 18:19-20; IISu 32:10; IISu 36:4-5), và ông hỏi dân chúng, “Ngươi thật sự đang tin-cậy vào điều gì? Ai có thể giải cứu được ngươi?” Chú ý những từ ngữ được lập đi lập lại và cách ông ta xem thường Ê-xê-chia khi xưng vua San-chê-ríp là “vua lớn” (IIVua 18:19,28; Es 36:4,13). Điều Ráp-sa-kê không nhận ra là Đức Giê-hô-va là Vua Vĩ Đại và Ngài nghe mọi lời ông ta nói.
“Vì Đức Giê-hô-va Chí Cao thật đáng kinh; Ngài là Vua lớn trên cả trái đất” (Thi 47:2).
Giê-ru-sa-lem là “là kinh đô của Vua cao cả” (Thi 48:2), và chính Đức Giê-hô-va đã nói “Ta là Vua lớn” (Ma 1:14).
Vị quan tổng binh bắt đầu nêu ra những gì mà dân Giu-đa đang cậy vào, và đồng thời nói rõ rằng ai cũng sẽ thất bại. Ông ta bắt đầu với Ê-díp-tô (IIVua 18:21,24; Ês 36:6,9), và chắc chắn có những quan chức trong Giu-đa nghĩ rằng Pha-ra-ôn có thể giúp đỡ họ. Luôn có một nhóm người Ê-díp-tô hùng mạnh trong Giu-đa sau khi đất nước bị chia cắt, và tiên-tri Ê-sai đã đã cảnh cáo các lãnh đạo không được nhờ Ê-díp-tô giúp đỡ (Ês 30:1-7; Ês 31:1-3). Nhưng Ê-díp-tô không gì khác “cây sậy gãy” sẽ đâm thủng tay bạn nếu bạn dựa vào nó.[50].
Trong IIVua 18:22,30; IISu 32:12; Ês 36:7,10, quan tổng binh cố làm cho dân-chúng tin rằng họ không thể nương-cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ để được giải cứu. Làm sao họ có thể tin-cậy Giê-hô-va khi Ê-xê-chia đã dẹp sạch những bàn thờ của Giê-hô-va khỏi thành? Đức Giê-hô-va có đẹp lòng với việc làm của vua không? Quan tổng binh nầy biết dân Giê-ru-sa-lem không vui vì họ không còn được thờ-phượng ở các bàn thờ đặt ở những nơi cao mà phải đi đến đền thờ. Nhưng ông ta quá liều mạng khi dám nói rằng ông và quân A-si-ri đến Giê-ru-sa-lem vì vâng-theo mạng-lệnh của Đức Giê-hô-va (IIVua 18:25; IISu 36:10; IISu 35:21). Xét cho cùng, Đức Giê-hô-va đã dùng A-si-ri để trừng-phạt và tiêu diệt nước Y-sơ-ra-ên, thế thì tại sao Ngài không dùng A-si-ri thâu tóm Giu-đa?
Quan tổng binh ấy lại nói, nếu dân Giu-đa đang tin-cậy nơi sức mạnh quân sự của họ, họ sẽ gặp khó khăn vì họ không có đủ ngựa và kỵ binh. Nếu vua thương lượng với San-chê-ríp, quân A-si-ri sẽ mở vòng vây và dân-chúng được sống.
Đáp lại sự ngắt lời của Ê-li-a-kim, Sép-na, và Giô-a (IIVua 18:26), quan tổng binh đã đe dọa dân-chúng trong thành. Nếu họ không đầu hàng, họ sẽ đói và khát đến nỗi phải ăn phẩn mình và uống nước tiểu mình (IIVua 18:27; IISu 36:12). Trong 32:11 chép rằng quan tổng binh A-si-ri bắt đầu cảnh cáo dân-sự về cái chết đói và chết khát chắc chắn xảy đến nếu họ không đầu hàng.
Nhưng một năm trước đó, tiên-tri Ê-sai đã nói với Ê-xê-chia rằng Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ Giê-ru-sa-lem và tiêu diệt A-si-ri (IIVua 20:6; Ês 38:4-6), và vua đã loan truyền lời-hứa nầy cho cả dân-sự đều biết (IIVua 18:29-30). Một lần nữa, chúng ta ngạc nhiên vì quan tổng binh đã biết nhiều điều về Ê-xê-chia. Quan tổng binh ấy đang cố làm mọi thứ có thể để đánh đổ lòng tin của dân sự nơi vua của họ. Ráp-sa-kê vẽ ra một hình ảnh sáng lạng sẽ xãy ra nếu Giu-đa đầu hàng. Họ sẽ được sống yên bình trong sứ mình, rồi sẽ được chuyển đến sinh sống ở A-si-ri, một đất nước rất giống nước Giu-đa (IIVua 18:1-32; IISu 36:16-17).
Lý lẽ cuối cùng của quan tổng binh thật võ đoán và không hợp lý: không có một thần nào ở các nước đã bị thu phục có thể đánh bại San-chê-ríp, nên Giê-hô-va cũng sẽ thất bại (IIVua 18:33-35; IISu 36:18-20). Nhưng Giê-hô-va không giống các thần chết bất lực của các nước: Ngài là Đức Chúa Trời chân thần và hằng sống! Nghe theo lệnh của vua, dân chúng trong thành không nói một lời nào với quan tổng binh, và đó là cách tốt nhất để đáp lại những kẻ kiêu căng dám nhạo báng Đức Giê-hô-va và không biết gì về lẽ thật và sự vĩ đại của Ngài.
• Sự khiêm-nhường (IIVua 18:37-19:13; IISu 36:22-37:13).
Ba quan tướng rời vị trí trở về thành để nói cho Ê-xê-chia nghe những lời quan tổng binh A-si-ri đã nói. Hạ mình trước Đức Chúa Trời và tự biết mình bất-năng, 3 quan tướng xé quần áo mình và cầu-xin Đức Chúa Trời giúp đỡ. Họ kể lại cho vua những gì quan tổng binh A-sa-ri đã nói, và báo cáo của họ hẳn đã làm Ê-xê-chia đau lòng. Làm thế nào có người kiêu-căng như vậy và nhạo báng danh Đức Chúa Trời như vậy? Ráp-sa-kê đã sỉ nhục Đức Chúa Trời hằng sống vì liên-hệ Ngài với các thần hay chết của các nước.
Vua biết rằng ông cần lời khuyên của Đức Chúa Trời, nên ông sai các quan tướng đến gặp tiên-tri Ê-sai và xin ông cầu-nguyện và tìm kiếm sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời. (Đây là lần đầu tiên Ê-sai được đề-cập trong sách II Các vua). Lối nói ẩn dụ của vua về sự sinh đẻ cho thấy tình hình rất nguy khốn. Đứa bé đến ngày chào đời nhưng mẹ nó không đủ sức sinh nó ra, nên tính mạng của hai mẹ con đều bị đe dọa. Vua cũng biết rằng chỉ có dân-sót trong tuyển dân của Ngài trung-tín với Ngài (IIVua 19:4,30), nhưng vì dân-sót đó và vì Đa-vít, Đức Chúa Trời sẽ sẳn lòng ra tay.
•Ê-sai trấn-an Ê-xê-chia (Thi 46:1-3)
Vì Đức Giê-hô-va đã nghe lời báng bổ của Ráp-sa-kê và sẽ xử lý San-chê-ríp. Vua A-si-ri sẽ nghe một tin và Đức Giê-hô-va sẽ khiến tâm-thần ông kinh hãi đến nổi phải rút quân về nước. Tin tức đó là Tiệt-ha-ca, vua Ê-díp-tô [51], đang tiến đến Giu-đa, có nghĩa là San-chê-ríp sẽ phải đương đầu với 2 lực lượng (IIVua 19:9; IISu 37:9). Ông ta không muốn điều đó xảy ra nên cho rút quân và trở về La-ki để chuẩn bị chiến tranh. Tuy nhiên quan tổng binh đã có lời cuối với Ê-xê-chia, lần nầy ông đã viết một bức thư (IIVua 19:18-13 IISu 37:8,13) và chỉ lập lại những gì ông đã nói.
-IIVua 19:1-13; xem giải nghĩa IIVua 18-1-37.
3. Ê-xê-chia, người cầu-thay (IIVua 19:14-19) (IISu 32:20; Es 37:14-20)
Khi trước mắt ta là quang cảnh ảm đạm, hãy cố gắng lạc quan. Đó là những gì Ê-xê-chia làm khi ông nhận bức thư đầy những lời báng bổ từ vua A-sa-ri. Thường trong chức-vụ của tôi tôi phải mở các bức thư trước mặt Đức Chúa Trời và tin Ngài giải quyết tốt đẹp mọi chuyện và Ngài luôn luôn làm như vậy.
Ê-xê-chia không nhìn vào ngai vàng của mình và ngai vàng của “vua lớn” San-chê-ríp nhưng chú tâm đến ngai của Đức Chúa Trời, Đấng “vẫn ngự ở giữa các chê-ru-bim” (IIVua 19:15; IISu 37:14; Thi 80:1; Thi 99:1). Vì ông không phải là thầy tế-lễ cả, Ê-xê-chia không thể bước vào nơi Chí Thánh, nơi có hòm giao-ước với nắp thi-ân, nhưng ông có thể “bước vào” bằng đức-tin như các tín-đồ ngày nay (Hêb 10:19-25).
Ở mỗi đầu của nắp thi ân có một chê-ru-bim, và nắp thi ân là ngôi của Đức Chúa Trời ở trên đất (Xu 25:10-22). Không chỉ là Vua của Y-sơ-ra-ên và là Vua của các nước, Đức Giê-hô-va còn là Đấng Tạo Dựng nên trời và đất. Ê-xê-chia hết lòng thờ-phượng khi ông nhận biết sự vĩ đại của Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời chân-thần duy nhất. Đây là tấm gương cho chúng ta noi theo khi trình dâng cho Chúa những vấn-đề của mình. Khi chúng ta nhìn xem Đức Giê-hô-va và thấy được Ngài vĩ đại như thế nào, những vấn-đề của chúng ta chắc chắn được giải quyết.
Vua có đang cưu mang một vấn-đề: đó là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phải được vinh-hiển trước mặt các dân trên thế giới. San-chê-ríp đã nhạo báng Đức Chúa Trời và Ê-xê-chia cầu xin Đức Chúa Trời thay mặt Giu-đa hành động để danh Ngài được cả sáng (Mat 6:9). Là một người Do-thái trung-tín, vua biết rằng các thần của các người chiến bại không phải là thần gì cả (Ês 2:20; Ês 40:19-20; Ês 41:7; Ês 44:9-20). Ông xin Đức Giê-hô-va giải cứu dân Giu-đa, không vì bản thân họ nhưng vì sự vinh-hiển của danh Ngài. [52]
Một số người thường tìm kiếm Chúa khi họ gặp khó khăn, nhưng những lúc bình thường Đức Giê-hô-va không bao giờ nghe tiếng của họ. Vua Ê-xê-chia không như vậy. Ông là người luôn tìm kiếm Đức Giê-hô-va để cầu xin Ngài ban ơn cho dân-sự. Ông tìm kiếm để biết Lời Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài, và điều nầy thêm sức cho ông trong lời cầu-nguyện. Phước thay cho các dân-tộc có những người lãnh đạo biết cầu-nguyện!
4. Ê-xê-chia, người chiến thắng (IIVua 19:20-37) (IISu 32:20-22; Ês 37:21-38)
Đức Giê-hô-va bảo tiên-tri Ê-sai truyền sứ-điệp của Ngài cho vua, là tiên-tri vâng-lời. Lời cầu-nguyện của Ê-xê-chia được nhậm gấp 3 lần: (1) Đức Chúa Trời sẽ giải cứu Giê-ru-sa-lem, (2) Đức Chúa Trời sẽ đánh bại quân A-si-ri và họ sẽ rút lui, và (3) Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ dân-sự và họ không phải chết đói. Nhưng Đức Chúa Trời cũng có lời quở trách San-chê-ríp vì sự kiêu-ngạo và báng bổ của ông ta.
Đức-tin của Ê-xê-chia được ban thưởng và lời cầu-nguyện của ông được nhậm.
•Quở trách (IIVua 19:20-28; IISu 37:22-29).
Đức Chúa Trời đã dùng A-si-ri để trừng phạt vương quốc phía bắc Y-sơ-ra-ên, và Đức Giê-hô-va đã cho San-chê-ríp thắng các nước khác, nhưng vua A-si-ri không bao giờ làm vinh-hiển Đức Chúa Trời. Thật vậy, quan tổng binh của ông ta còn sỉ nhục danh Đức Giê-hô-va (IIVua 19:4,16,22,24; IISu 37:4,17,23,24) và báng bổ Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Nhưng “gái đồng trinh Si-ôn” Giê-ru-sa-lem sẽ chê cười sự thất bại của A-si-ri. Đức Giê-hô-va đã dùng hình ảnh gái đồng trinh vì dân A-si-ri không thể chiếm đoạt thành và xâm phạm nó như cách những người lính ngoại bang đã làm với những người nữ bị lưu-đày. Nhưng Đức Giê-hô-va đối xử với A-si-ri như những con vật bị mũi và dắt đi.
Đức Giê-hô-va nói với Ráp-sa-kê và San-chê-ríp bằng những lời mà họ dùng để khoe-khoang về những chiến công của họ. Xe ngựa chủ yếu chạy treên đất bằng, nhưng họ khoác lác rằng xe của họ đã lên đến các núi cao ở Li-ban. Đất khô và sa mạc không ngăn được họ, cả sông suối cũng không. Những vua khác dùng thuyền bè để vượt sông, nhưng họ làm khô sông Nin và đi qua như đi trên đất khô. (Có phải ám chỉ đến Y-sơ-ra-ên tai sông Giô-đanh, Gios 4:1-5:15? Không có bằng chứng nào cho thấy A-si-ri từng chiếm xứ Ê-díp-tô.). Họ đánh sập các thành và giết chết dân chúng rồi chất họ thành đống như người ta chất cỏ khô, và không có gì có thể ngăm bước họ.
Nhưng chính Đức Giê-hô-va là Đấng vạnh ra những cuộc chinh-phục nầy và cho A-si-ri chiến thắng (IISu 37:26-27). Dân A-si-ri là vũ khí của Ngài để trừng-phạt Y-sơ-ra-ên và các nước khác và cũng để phạt cả Giu-đa. (Es 10:5-19). Cái búa thật ngu xuẩn khi khoác lác cùng người tiều phu, và San-chê-ríp đã ngu xuẩn như vậy khi giành về mình những công trạng mà Đức Chúa Trời đã làm! Thay vì làm vinh hiển Đức Chúa Trời, San-chê-ríp đã nỗi giận với Ngài (IIVua 19:27; IISu 37:28-29) và tự tâng bốc mình trước Đức Chúa Trời của thiên đàng. Dù những lãnh đạo ở thế gian có đưa ra lý lẽ hay lời bào chữa gì đi nữa cho những việc làm của họ, thì nguyên do chính là sự chống nghịch Đức Chúa Trời và Luật pháp của Ngài (Thi 2:1-6; Công 4:23-31). Nhưng Đức Giê-hô-va sẽ đối xử với dân A-si-ri như những con vật bị xỏ mũi và đát đi! Dân A-si-ri khét tiếng vì đã đối xử như vậy với các tù binh chiến tranh của họ, nhưng giờ họ chính là những nạn nhân.
• Sự cung ứng (IIVua 19:29; IISu 37:30).
Dân A-si-ri đã lấy của cải của Giu-đa, cướp đất và chiếm các thành của họ, và giờ đây họ đang bao vây Giê-ru-sa-lem. Lương thực có thể nuôi sống được bao lâu? Và nếu Giê-ru-sa-lem còn sống sót, họ phải mất bao lâu mới lấy lại được đất, trồng cây và thu hoạch?Quan tổng binh A-si-ri cảnh cáo rằng dân thành Giê-ru-sa-lem sẽ phải chết vì đói và khát nếu họ không đầu hàng A-si-ri (IISu 32:11).
Nhưng Chúa của mùa gặt đang cai trị. Tháng 9 và 10 là tháng gieo hạt, và tháng 3 và 4 là tháng thu hoạch.Vười cây ăn trái và vườn nho cho trái vào tháng 7 đến 9. Chắc chắn quân A-si-ri đến trong mùa thu hoạch và tịch thu hết lương thực. Trong tình cảnh dân A-si-ri tràn vào xứ và thành Giê-ru-sa-lem đang bị bao vây, dân sự không thể ra đồng làm việc; nhưng Đức Chúa Trời hứa rằng khi quân A-si-ri rút lui, thực phẩm sẽ tự mọc lên cho đến khi người ta có thể bắt đầu công việc đồng án của mình. Đức Chúa Trời không để cho dân sự Ngài chết đói.
Một số học giả nhận ra có mối liên quan giữa lời tiên tri nầy với Thi 126:1-6, một trong những “Bài ca đi lên từ bực”. Thi-thiên nầy nói đến sự giải cứu Giê-ru-sa-lem với nhiều kịch tính và bất ngờ, mà chắc chắn không phải xảy ra vào cuối kỳ đánh chiếm của người Ba-by-lôn.
Có thể nào trong lần giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi quân A-si-ri nầy Đức Chúa Trời đã giết 185.000 quân lính? Nếu như vậy, lời cầu nguyện trong Thi 126:4 thật thích hợp. Khi người ta ra đồng gieo hạt, họ sẽ khóc trong vui mừng vì đất nước được giải cứu, nhưng họ cũng khóc vì từ hạt giống họ đang gieo, con cái họ có được bánh ăn. Giống thì khan hiếm nhưng Đức Chúa Trời chăm sóc dân sự Ngài.
• Sự giải cứu (IIVua 19:28,30-37; IISu 32:21-22; IISu 37:31-38). Đức Chúa Trời hứa rằng Ngài sẽ giải cứu “dân sót” của Ngài khỏi tay các kẻ thù và họ sẽ “đâm rễ” và lại sinh bông trái. San-chê-ríp không bao giờ có thể bước vào thành, ông cũng không thể bắn một mũi tên nào vào nó, tấn công nó, hoặc đóng quân gần nó! Trong một đêm, một thiên sứ của Đức Chúa Trời đã giết 185.000 quân lính A-si-ri và chấm dứt sự vây hãm Giê-ru-sa-lem. Ráp-sa-kê đã khoác lác rằng một người lính tầm thường nhất của A-si-ri cũng mạnh hơn 2.000 lính kỵ Do-thái (IISu 36:8-9), nhưng khi Đức Giê-hô-va muốn giết sạch 185.000 lính A-si-ri, Ngài chỉ cần sai một thiên sứ của Ngài!
Đây là một thất bại nhục nhã của A-si-ri, nhưng sự kiện nầy đem lại vinh hiển cho Đức Giê-hô-va và làm rạng danh Ê-xê-chia (IISu 32:23; Thi 126:2-3). San-chê-ríp rút lui về nước, và bi một trong các con trai mình giết chết. Các thần của ông không thể giúp ông đánh thắng Giu-đa và cũng không bảo vệ ông khỏi tay của người nhà ông. Tại sao Đức Chúa Trời giải cứu dân sự Ngài? Vì sự vinh hiển của danh Ngài, dĩ nhiên, và vì Đa-vít là người Ngài yêu mến (IIVua 19:34). Tại sao ngày nay Ngài ban phước cho dân sự Ngài? Vì sự vinh hiển của chính Ngài và vì tình yêu Ngài dành cho Con Ngài là Đấng đã chết thay cho chúng ta.
• Sự chết (IIVua 20:20-21 IISu 32:27-33).
“Trong mọi việc Ê-xê-chia được hanh thông” (IISu 32:30). Nhờ sự ban phước của Đức Chúa Trời, Ê-xê-chia có được rất nhiều của cải, bầy gia súc, nhiều nhà kho lớn để thâu trữ lúa và chiếm lợi phẩm. “Ê-xê-chia nhờ cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên” (IIVua 18:5). Và “Đức Giê-hô-va ở cùng người; hễ người đi làm sự gì, đều được thành tựu” (IIVua 18:7). Ông là mẫu người được “phước” như trong Thi 1:1-6, người biết vâng Lời Chúa, suy gẫm nó và nương cậy nơi quyền năng của Đức Chúa Trời.
Ê-xê-chia không chỉ được Đức Chúa Trời giúp đỡ, mà còn được dân chúng yêu mến. Ông được chôn chung với các vua ở Giê-ru-sa-lem, “cả Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đều tôn kính người, lúc người thác” (IISu 32:33). Giống như tất cả chúng ta, Ê-xê-chia có những lúc sa ngã trong đức tin và thất bại, nhưng rõ ràng, ông là một trong những vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử Do-thái.
-IIVua 20:1-11; xem giải nghĩa IIVua 18:1-16.
-IIVua 20:12-19; xem giải nghĩa IIVua 18:17-37.
12. SẮP ĐẾN NGÀY CHUNG KẾT (IIVua 21:1-23:30; IISu 33:1-35:27)
“Chúng ta sống trong sự u minh của nền văn minh, ở giữa sự suy đồi vô cùng của văn hoá hiện đại”, nhà thần học lỗi lạc, Carl F. H. Henry, viết. “Những con thú lạ trong sách Đa-ni-ên và Khải-huyền dường như đã xuất hiện và đang hoành hành trên đất”. [53].
Những lời tương tự có thể cũng được viết về Giu-đa trong suốt 3 đời vua được đề cập trong đoạn nầy Ma-na-se, A-môn và Giô-sia. Dân Do-thái đã cho thế gian thấy một Đức Chúa Trời chân thần và hằng sống, nhưng lúc bấy giờ nhiếu người đã thờ phương các thần ngoại bang. Y-sơ-ra-ên cho thế gian biết các tiên tri và Kinh Thánh, nhưng hầu hết các vua Giu-đa không còn lắng nghe Lời Đức Chúa Trời nữa. Giô-si-a là vua Giu-đa cuối cùng.
Đức Giê-hô-va đã hứa gìn giữ ngai Đa-vít để Đấng Cứu Rỗi được hứa sẽ đến thế gian, nhưng giờ đây chính quyền Giu-đa đang rệu rã và sự tồn tại của đất nước đang trong cảnh nguy khốn. Tương lai của kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho thế gian hư mất tuỳ thuộc vào số dân sót trung tín, là những người kháng cự sự xâm nhập của văn hoá ngoại lai và giữ được lòng trung kiên đối với Đức Chúa Trời.
Lời hứa của Đức Chúa Trời không thay đổi: “Nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ” (IISu 7:14). Ba vua nầy đều học được điều gì đó về sự hạ mình. Na-ma-se biết hạ mình khi đã quá trễ (33:12,19) A-môn không bao giờ đầu phục Đức Chúa Trời (IISu 33:23); và Giô-si-a thật lòng hạ mình trước Đức Giê-hô-va và được Ngài sử dụng để cảnh tỉnh dân sự (IISu 34:19,27). A.W. Tozer đã viết, “Sự khiêm nhường thật là một điều lành mạnh; Người khiêm nhường chấp nhận sự thật về chính mình” [54].
Lại là một điều khó hiểu trong lịch sử theo Kinh Thánh; vua tin kính Ê-xê-chia lại sinh ra một con trai gian ác Ma-na-se. Nếu Ma-na-se sinh năm 709, như vậy ông được 7 tuổi khi vua cha được chữa làmh bệnh và phép lạ về cái bóng xảy ra. Ông được 8 tuổi khi 185.000 binh lính A-si-ri bị giết chết. Rõ ràng những phép lạ nầy không để lại ấn tượng gì trong lòng ông. Nhiều học giả nghĩ rằng Ma-na-se đã đồng nhiếp chính với cha mình trong khoảng 10 năm (697-687), từ 12-22 tuổi, và con trai nầy sống gần gũi với người cha tin kính của mình [55]. Nhưng ông ta lại trở thành vua gian ác nhất trong lịch sử Giu-đa; do đó người ta qui tội ông đã làm Vương Quốc phía Nam sụp đổ (IIVua 24:3; Gie 15:1-4).
• Sự gian ác của Ma-na-se (IIVua 21:1-15; IISu 33:1-10). Ông ta gian ác nhất nhưng lại trị vì lâu nhất trong lịch sử. Dường như Đức Chúa Trời đã cất tay Ngài khỏi nước Giu-đa và để mặc cho tất cả sự ô uế trong lòng họ tự nhiên tuôn ra. Trong bản tánh và đạo đức của mình, ông ta còn gian ác hơn người A-mô-rít mà Giô-sê đã đánh bại ở Ca-na-an, ột nước nổi tiếng là hung bạo và gian ác (IIVua 21:11; Sa 15:16).
Tất cả những gì người cha tin kính của mình đã phá dỡ, Ma-na-se đã xây lại vì ông dẫn dân sự trở lại thờ thần tượng, kể cả thờ thần Ba-anh. Ông cũng dựng một hình tượng đáng gớm ghiếc trong đền thờ của Đức Chúa Trời (IIVua 21:3; IISu 33:7,15), và ông còn cổ vũ dân sự