top of page
1. ĐỜI NGƯỜI ĐÁNG SỐNG CHĂNG? (Tr 1:1-3)
Sa...
...-lô-môn than vãn rằng: “Hư không của sự hư không, thảy đều hư không”. Truyền-đạo khi viết về đời người “dưới mặt trời”. Từ này có nghĩa là “sự trống rỗng, vô ích, hư ảo, biến mất nhanh chóng và chẳng để lại gì đằng sau”.
Theo quan điểm con người (“dưới mặt trời”), đời người có vẻ phù phiếm và nó dễ khiến chúng ta bi quan. Nhà văn Do-thái Sholom Aleichem có lần đã mô tả đời người như “một chỗ sưng lên trên đỉnh của khối u, và như một cái nhọt trên đỉnh khối u đó”. Bạn hầu như có thể cảm nhận được định nghĩa đó.
Nhà thơ người Mỹ Carl Sandburg ví sánh đời người với “một cũ hành bạn bóc nó ra một lớp mỗi lần, và đôi khi bạn chảy nước mắt?” Và nhà soạn kịch người Anh George Bernard Shaw nói rằng đời người là “một chuỗi những điên rồ đầy cảm hứng”.
Khi bạn học văn chương Anh ở trường, có thể bạn đã đọc bài thơ của Mathew Arnold “Rugby Chapel” trong đó ông kể đến sự mô tả tối tăm này về đời người:
“Người ta đều chuyển động như cơn lốc. Đây đó, ăn và uống nói huyên thuyên, yêu rồi ghét, Thu góp rồi hoang phí, Nổi lên cao, bị quăng vào bụi rác. Nỗ lực cách mù quáng. Chẳng đạt được gì, và rồi họ chết”
Thật là một sự thư giản khi quay lưng với những quan điểm yếm thế này nghe Chúa Giê-xu phán: “Còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống, và được sự sống dư dật” (Gi 10:10). Hoặc đọc lời tuyên bố uy nghi của Phao-lô “Vậy hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (ICôr 15:58).
Đời người “không phải là vô ích” nếu nó bị bỏ qua và thường bị hiểu sai này.
Trước khi chúng ta bắt đầu học về sách Truyền-đạo, trước hết hãy làm quen với tác giả và mục đích ông viết sách này. Chúng ta cũng cần có một tóm lược về cuốn sách để có thể hiểu rõ hơn cách ông trả lời câu hỏi: “Đời người đáng sống chăng?”
1. Tác giả (Tr 1:1-3)
Không chỗ nào trong sách này tác giả cho biết tên mình, nhưng những mô tả công trình bày tỏ về bản thân và những từng trải của mình sẽ cho thấy rằng tác giả là vua Sa-lô-môn. Ông tự xưng là “con trai của Đa-vít” và “vua tại Giê-ru-sa-lem” (Tr 1:1,12), ông tuyên bố có nhiều của cải cùng sự khôn ngoan (Tr 2:1-11; Tr 1:13; IVua 4:20-34; IVua 10:1).
Để đáp ứng lời cầu nguyện khiêm nhường của Sa-lô-môn, Đức Chúa Trời hứa ban cho ông cả sự khôn ngoan, sự giàu có (IVua 3:3-15) và Ngài đã giữ lời hứa.
Mười hai lần trong sách Truyền-đạo, tác giả đề cập “vua” và ông đề cập thường xuyên những vấn đề về “thói quan liêu” (Tr 4:1-3; Tr 5:18; Tr 8:11; Tr 10:6-7).
Hãy nhớ rằng Sa-lô-môn đã cai trị một quốc gia lớn cần có một quân đội lớn thường trực và những cơ quan chính quyền ở phạm vi rộng. Ông xúc tiến nhiều công trình xây dựng đắt giá và sống xa hoa trong cung điện (IVua 9:10-28; IVua 10:1; IISu 1:13-17). Ai đó phải quản lý mọi sự lộng lẫy này của quốc gia và ai đó phải cầu nguyện cho nó!
Sô-lô-môn giải quyết vấn đề bằng cách bỏ qua những ranh giới gốc của 12 chi phái Y-sơ-ra-ên và chia quốc gia thành “12 khu vực thuế”, Mỗi khu vực được quản lý bởi một quan giám sát (IVua 4:7-19). Đúng lúc, cả hệ thống trở nên ngột ngạt và thối nát, Sau khi Sa-lô-môn chết, dân sự nài xin sự giảm nhẹ (IISu 10:1-19). Khi bạn nghiên cứu sách Truyền-đạo, bạn nhận thức được quá trình của sự bóc lột và đàn áp này.
Vua Sa-lô-môn khởi đầu sự cai trị của ông với tư cách một đầy tớ khiêm nhường của Chúa, tìm kiếm sự khôn ngoan và sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời (IVua 3:5-15). Khi về già, lòng ông đã xa rời Đức Giê-hô-va để đến với những tà thần của nhiều bà vợ mà ông đã lấy ở đất ngoại bang (IVua 11:1).
Những cuộc hôn nhân này bị thúc đẩy chủ yếu bởi chính trị, không phải tình yêu, khi Sa-lô-môn tìm kiếm những sự liên minh với các nước lân cận Y-sơ-ra-ên. Thật ra, nhiều điều Sa-lô-môn làm như thể đem vinh quang cho Y-sơ-ra-ên thực tế trái ngược với Lời Đức Chúa Trời (Phuc 17:14-20).
Không giá trị tiền bạc hay quyền thế nào có thể ngăn cản sự chín mùi thầm lặng nhưng chắc chắn của sự xét đoán thiêng liêng.
Nhà truyền-giáo người Ê-cốt nổi tiếng Alexander Whyte nói rằng “con sâu bí mật… đang gặm nhấm dần nội các triều đình mà Sa-lô-môn đã dựa vào”.
Những năm cuối của vua thật khốn khổ vì Đức Chúa Trời rút bàn tay chúc phước của Ngài (IVua 11:1-43) và duy trì ngai vàng của Sa-lô-môn chỉ vì lời hứa của Ngài cùng Đa-vít. Sau khi Sa-lô-môn chết đất nước bị phân chia và nhà Đa-vít chỉ còn lại 2 chi phái, Giu-đa và Bên-gia-min.
Sách Truyền-đạo có vẻ là loại sách mà một người nào đó viết gần giống với đời sống, phản ánh những từng trải của đời người và những bài học được rút ra. Sa-lô-môn có thể đã viết sách Châm-ngôn (Ch 1:1; IVua 4:32) và Nhã-ca (Nha 1:1) suốt những năm ông trung tín bước đi với Đức Chúa Trời. Và gần cuối đời ông viết sách Truyền-đạo. Không có ghi chép nào cho thấy Sa-lô-môn đã ăn năn và trở lại với Chúa, nhưng sứ-điệp của ông trong sách Truyền-đạo gợi ý rằng ông đã làm vậy.
Ông viết sách Châm-ngôn theo quan điểm của một giáo sư khôn ngoan (Ch 1:1-6) và sách Nhã-ca theo quan điểm của một vị vua đang yêu (Nha 3:7-10). Nhưng khi viết sách Truyền-đạo, ông tự xưng là “người truyền-đạo” (Tr 1:1,2,12; Tr 7:27; Tr 12:8-10).
Từ Hê-bơ-rơ là “koheleth” và là danh hiệu dành cho một người phát ngôn chính thức triệu tập một cuộc họp (IVua 8:1). Từ Hy-lạp cho “cuộc họp” là ekklesia, và từ này cho chúng ta đề tựa tiếng Anh của sách là Ecclesiastes (Truyền-đạo).
Nhưng người truyền-đạo này làm nhiều việc hơn là triệu tập một cuộc họp và diễn thuyết. Từ “koheleth” mang theo nó ý niệm về sự tranh luận không phải với người nghe mà với chính mình. Ông giới thiệu một chủ đề, bàn luận nó theo nhiều quan điểm, và rồi đi đến một kết luận thực tiễn.
Sách Truyền-đạo có vẻ là một tập hợp ngẫu nhiên của những ý niệm hỗn tạp về những chủ đề khác nhau, nhưng Sa-lô-môn bảo đảm với chúng ta rằng điều ông viết là một tuần tự (Tr 12:9).
Bây giờ chúng ta hãy xem xét mục đích và tiến triển của sách.
2. Mục đích (Tr 1:1-3)
Sa-lô-môn đặt chìa khóa cho sách Truyền-đạo ngay cửa trước: “Người truyền-đạo nói: Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. Các việc lao khổ của loài người làm ra dưới mặt trời, thì được ích lợi chi?” (Tr 1:2-3). Chỉ trong trường hợp chúng ta bỏ sót nó, ông đặt chìa khóa tương tự ở cửa sau (Tr 12:8). Trong những câu này, Sa-lô-môn giới thiệu một số từ và nhóm từ chủ chốt được sử dụng nhiều lần trong sách Truyền-đạo, vì vậy chúng ta nên làm quen với chúng.
• Hư không của sự hư không.
Chúng ta đã để ý rằng Sa-lô-môn sử dụng từ “hư không” 38 lần trong sách này. Đó là từ Hê-bơ-rơ “hevel” nghĩa là “sự trống rỗng, sự vô ích, sự hư ảo”. Tên “A-bên” có lẽ đến từ từ này (Sa 4:2). bất cứ điều gì biến mất nhanh chóng và không để lại chỉ đằng sau và không làm thỏa lòng đều là “hevel”, hư không. Một trong những giáo sư ngôn ngữ của tôi tại thần học viện đã định nghĩa “hevel” là “bất cứ cái gì còn lại sau khi bạn phá vỡ một bong bóng xà phòng”.
Dù xem xét của cải, công việc, sự khôn ngoan hay thế giới của mình, Sa-lô-môn đều đi đến kết luận buồn bã như nhau. Tất cả là “hư không và sự phiền toái của linh hồn” (Tr 2:11). Tuy nhiên, đây không phải là kết luận sau cùng của ông, nó cũng không phải là sứ-điệp duy nhất ông dành cho độc-giả mình. Chúng ta sẽ khám phá nhiều hơn về điều đó sau này.
• Dưới mặt trời
Bạn sẽ tìm thấy nhóm từ quan trọng này 29 lần trong sách Truyền-đạo và cùng với nó là nhóm từ “dưới trời” (Tr 1:13; Tr 2:3; Tr 3:1).
Nó định nghĩa quan điểm của tác giả khi ông nhìn cuộc đời theo một khía cạnh con người và không nhất thiết theo quan điểm trên trời. Ông áp dụng sự khôn ngoan và kinh nghiệm của riêng mình vào hoàn cảnh phức tạp của con người và tìm cách làm cho đời người có ý nghĩa. Sa-lô-môn viết dưới sự thần cảm của Thánh Linh (Tr 12:10-11; IITim 3:16), vì vậy điều ông viết là điều Đức Chúa Trời muốn dân sự Ngài có.
Nhưng khi chúng ta nghiên cứu, chúng ta phải nhớ quan điểm của Sa-lô-môn: ông đang xem xét đời người “dưới mặt trời”.
Trong tác phẩm “Unfolding Message of the Bible” của mình (sứ-điệp bày tỏ của Kinh Thánh), G. Campell Morgan tóm tắt đầy đủ quan điểm của Sa-lô-môn: “Người này đã sống trải qua mọi kinh nghiệm ấy dưới mặt trời, chẳng quan tâm điều gì ở trên mặt trời… cho đến khi xảy ra một sự thay đổi mà qua đó ông đã hiểu toàn bộ cuộc đời. Và có cái gì đó ở trên mặt trời. Đó là chỉ khi một người đánh giá điều ở trên mặt trời cũng như điều ở dưới mặt trời hầu cho mọi sự dưới mặt trời được hiểu trọn ánh sáng thật của chúng” (Fleming H.Revell Company, 1961, trang 229).
• Ích lợi.
-Từ Hê-bơ-rơ “yitron” thường được dịch là “ích lợi”, được sử dụng 10 lần trong sách Truyền-đạo (Tr 1:3; Tr 11:13) (excelleth) Tr 3:9; Tr 5:9,16; Tr 7:12 (sự trội hơn) Tr 10:10,11 (tốt hơn). Nó được sử dụng đâu đó trong Cựu-ước, và ý nghĩa cơ bản của nó là “những gì còn lại trội hơn”. Nó có thể được dịch là “thặng dư, thuận lợi, lãi”.
-Từ “ích lợi” đúng là phản nghĩa với “sự hư không”. Sa-lô-môn hỏi: “Dưới ánh sáng của những rắc rối và những nan đề của đời người, đâu là ích lợi của sự sống? Có được gì chăng?”
• Lao khổ.
Có ít nhất 7 từ Hê-bơ-rơ khác nhau được dịch là “lao khổ” trong bản dịch của chúng ta, và từ này là “amal” được sử dụng 23 lần trong Truyền-đạo. Nó có nghĩa là “làm việc khó nhọc đến độ kiệt quệ nhưng kinh nghiệm chỉ một chút hoặc không có sự hoàn thành nào trong công việc của mình”. Nó mang theo những ý niệm về sự buồn rầu, khốn khổ, thất vọng và mệt mỏi. Môi-se đã bày tỏ ý nghĩa của từ này trong Phuc 26:7 và Thi 90:10.
Dĩ nhiên, được nhìn chỉ “dưới mặt trời”, dù công việc hằng ngày của một người dường như vô ích và nặng nề, nhưng tín-hữu Cơ-đốc có thể luôn tuyên bố ICôr 15:58 và lao động một cách vui vẻ trong ý muốn của Đức Chúa Trời, biết rằng công lao mình “không phải là vô ích trong Chúa”.
• Loài người.
Đây là từ Hê-bơ-rơ quen thuộc “A-đam” (Sa 1:26 Sa 2:7,19) và chỉ về con người được tạo nên từ đất (“adama” trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ: Sa 2:7 Sa 3:19), đến từ đất và trở về với đất sau khi chết. Sa-lô-môn sử dụng từ này 49 lần khi ông xem xét “loài người dưới mặt trời”.
Đây là những từ cơ bản được tìm thấy trong các câu mở đầu sách Truyền-đạo, nhưng có thêm một số từ then chốt mà chúng ta cần xem xét.
• Xấu (evil).
Từ này được dùng 31 lần và trong bản dịch King Jame nó cũng đư ợc dịch là “sore” (Tr 1:13; Tr 4:8 (buồn phiền), “hurt” (làm hại) (Tr 5:13; Tr 8:9), “mischievous” (tác hại) (Tr 10:13), “grievous” (đau khổ) (Tr 2:17) “adversity” (bất hạnh) (Tr 7:14) ‘nickedness” (độc hại) (Tr 7:15) và “misery” (khốn khổ) (Tr 8:6).
Nó trái ngược với ‘tốt” và bao phủ vô số sự việc: sự đau đớn, buồn rầu, nghịch cảnh và tai họa. Đó là một trong những từ ưa dùng của Sa-lô-môn để mô tả đời người như ông thấy “dưới mặt trời”.
• Sự vui mừng.
Mặc dù có những tự đương đầu đau buồn của mình với thế gian và những vấn đề của nó, Sa-lô-môn không giới thiệu chủ nghĩa bi quan hay hoài nghi. Đúng hơn, ông khuyên chúng ta có óc thực tế về đời người, chấp nhận những sự ban cho của Đức Chúa Trời và vui hưởng chúng (Tr 2:24; Tr 3:12-15,22; Tr 5:18-20; Tr 8:15 Tr 9:7-10; Tr 11:9-10).
Suy cho cùng, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta “được hưởng mọi vật dư dật” (ITim 6:17). Những từ có liên quan đến sự vui mừng được sử dụng ít nhất là 17 lần trong Truyền-đạo. Sa-lô-môn không nói: “Hãy ăn, uống, cưới gả, vì ngày mai ngươi chết!”. Ngược lại, ông khuyên chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời và vui hưởng điều mình có hơn là phàn nàn về những gì mình không có. Đời người ngắn ngủi và đời người khó nhọc, vì vậy hãy tận dụng nó trong khi bạn có thể.
• Sự khôn ngoan.
Vì là một trong những sách của sự khôn ngoan thời Cựu-ước, Truyền-đạo có điều gì đó nói về sự khôn ngoan lẫn sự ngu dại. Có ít nhất 32 lần đề cập đến “kẻ ngu dại” với “sự ngu dại”, và ít nhất 5 lần về “sự khôn ngoan”.
Vua Sa-lô-môn là người khôn ngoan nhất (IVua 4:31) và ông đã áp dụng sự khôn ngoan này khi ông tìm cách hiểu mục đích đời người “dưới mặt trời”. Người truyền-đạo này tìm cách làm một triết-gia, nhưng cuối cùng, ông phải kết luận “khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài” (Tr 12:13).
• Đức Chúa Trời.
Sa-lô-môn đề cập Đức Chúa Trời 40 lần và luôn sử dụng “Elohim” chớ không hề dùng từ “Jehovah”. Elohim (“Đức Chúa Trời” trong Kinh Thánh tiếng Anh) là Đức Chúa Trời toàn năng, Đức Chúa Trời vinh hiển của sự sáng tạo Đấng thực hiện quyền tối thượng. Jehovah (“Chúa” trong Kinh Thánh tiếng Anh) là Đức Chúa Trời của giao-ước, Đức Chúa Trời của sự mạc khải. Đấng tự hữu đời đời nhưng giữ mối liên hệ của chính Ngài với loài người tội lỗi một cách nhân từ. Vì Sa-lô-môn đang đề cập riêng biệt điều ông thấy “dưới mặt trời”, nên ông sử dụng từ Elohim.
Trước khi đi qua sự nghiên cứu này về từ vựng của Truyền-đạo, chúng ta nên lưu ý rằng sách có nhiều đại từ nhân xưng. Vì là một chuyện tự thuật, sách này phải được nghĩ như vậy. Sa-lô-môn là con người lý tưởng để viết sách này, vì ông có sự giàu sang, khôn ngoan và những cơ hội cần thiết để thực hiện “những thí nghiệm” cần có cho sự nghiên cứu này về ý nghĩa đời người.
Đức Chúa Trời không làm cho vua Sa-lô-môn bất tuân vì vậy ông đã có thể viết sách này, nhưng Ngài đã sử dụng những từng trải của Sa-lô-môn để chuẩn bị cho ông làm công tác này.
3. Phân tích (Tr 1:1-3)
Hãy để ý những chỗ Sa-lô-môn khuyên chúng ta vui hưởng cuộc đời và thỏa lòng với những gì Đức Chúa Trời phân định cho chúng ta.
• Chủ đề: Đời người có thực sự đáng sống chăng?
• Câu gốc: Tr 1:1-3; Tr 12:13-14.
A. Vấn đề được tuyên bố (Tr 1:1-2:26).
-Đời nguời không đáng sống! Hãy xem xét.
(1). Sự đơn điệu của đời người (Tr 1:4-11).
(2). Sự hư không của đời người (Tr 1:12-18).
(3). Sự vô ích của của cải (Tr 2:1-11).
(4). Tính chắc chắn của sự chết (Tr 2:12-23).
-Hãy vui hưởng cuộc đời (Tr 2:24).
B. Vấn đề được bàn luận (Tr 3:1-10:20).
-Ông xem xét mỗi lý luận trên.
(1). Sự đơn điệu của đời người (Tr 3:1-5:9).
a. Hãy nhìn lên (Tr 3:1-8).
b. Hãy nhìn vào trong (Tr 3:9-14).
c. Hãy nhìn phía trước (Tr 3:9-14).
d. Hãy nhìn quanh (Tr 4:1-5:9).
-Hãy vui hưởng cuộc đời (Tr 3:12-15,22).
(2). Sự vô ích của của cải (Tr 5:10-6:12).
-Sử dụng của cải (Tr 5:10-17).
-Hưởng thụ của cải (Tr 5:18-6:12).
-Hãy vui hưởng cuộc đời (Tr 5:18-20).
(3). Sự hư không của khôn ngoan (Tr 7:1-8:17).
a. Chúng ta hãy làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn (Tr 7:1-10).
b. Chúng ta hãy nhìn cuộc đời rõ ràng hơn (Tr 7:11-18).
c. Chúng ta hãy đối diện với cuộc đời mạnh mẽ hơn (Tr 7:19-8:17).
-Hãy vui hưởng cuộc đời (Tr 8:15).
(4). Tính chắc chắn của sự chết (Tr 9:1-10:20).
a. Sự chết không thể tránh khỏi (Tr 9:1-10).
b. Cuộc đời không thể đoán trước (Tr 9:11-18).
c. Hãy coi chừng kẻ ngu dại (Tr 10:1-20).
-Hãy vui hưởng cuộc đời (Tr 9:7-10).
C. Vấn đề được khẳng định (Tr 11:1-12:14).
(1). Hãy sống bằng đức tin (Tr 11:1-6).
(2). Hãy vui hưởng cuộc đời bây giờ (Tr 11:7-12:8).
(3). Hãy sửa soạn cho sự xét đoán (Tr 12:9-14).
-Hãy vui hưởng cuộc đời (Tr 11:9-10).
Trong Tr 12:8-12 Sa-lô-môn giải thích thể nào ông đã viết sách này ông tìm ra những lời hay nhất và sắp xếp chúng theo thứ tự tốt nhất. Khi ông viết, ông kể đến “những gậy nhọn” đâm vào chúng ta trong suy nghĩ cùng chúng ta và “những cái đinh” mà trên đó treo một số kết luận thực tiễn. Hãy ghi nhớ điều này khi bạn nghiên cứu. Công việc của ông được Đức Chúa Trời thần cảm vì ông được hướng dẫn bởi “một Đấng chăn giữ ” (Thi 80:1).
4. Ứng dụng (Tr 1:1-3)
Ứng dụng thực tiễn của sách này cho chúng ta ngày nay là gì? Phải chăng sách Truyền-đạo chỉ là một vật triển lãm thú vị trong một viện bảo tàng tôn giáo, hay nó có một sứ-điệp cho con người trong thời đại vũ trụ?
• Sứ-điệp của nó dành cho hôm nay.
Xét cho cùng, xã hội mà Sa-lô-môn nghiên cứu 1.000 năm trước sự Giáng sinh của Đấng Christ không quá khác biệt với thế giới của chúng ta ngày nay. Sa-lô-môn đã thấy sự bất công đối với người nghèo (Tr 4:1-3), những quan điểm chính trị cong quẹo (Tr 5:8), những lãnh đạo bất tài (Tr 10:6-7), những người có tội được phép phạm tội thêm (Tr 8:11), chủ nghĩa vật chất (Tr 5:10) và một khao khát về “thời tốt đẹp đã qua” (Tr 7:10).
Nó có vẻ hợp thời phải không?
Nếu bạn chưa từng tin Chúa Giê-xu là Cứu Chúa của mình, vậy sách này giục giã bạn làm điều đó mà không trì hoãn. Vì sao? Vì dù của cải, học thức và thanh thế bạn có ra sao, cuộc đời không có Đức Chúa Trời là vô ích. Bạn chỉ đang “đuổi bắt gió” nếu bạn mong tìm thấy sự thỏa lòng và sự thành đạt cá nhân trong những điều thuộc về thế gian, Chúa Giê-xu đã hỏi: “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình thì có ích gì?” (Mac 8:36).
Sa-lô-môn đã làm thử nghiệm bằng cuộc đời và khám phá rằng không có sự thỏa lòng lâu dài trong cải của, vui thú, quyền lực hay thanh thế. Ông đã có tất cả, nhưng cuộc đời ông rỗng tuếch! Bạn và tôi không cần thiết phải lặp lại những thử nghiệm này. Chúng ta hãy chấp nhận những kết luận của Sa-lô-môn và tránh nỗi đau lòng cùng khốn khổ phải chịu khi bạn thử nghiệm trong phòng thí nghiệm của cuộc đời. Những thí nghiệm này đắt giá và một trong số chúng đã có thể tỏ ra đáng chết người.
Khi bạn thuộc về gia đình của Đức Chúa Trời nhờ đức tin nơi Con Đức Chúa Trời, cuộc đời không còn đơn điệu: nó là một cuộc mạo hiểm hằng ngày xây dựng tính cách và giúp bạn có thể phục vụ người khác để quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Thay vì thực hiện những quyết định trên cơ sở sự khôn ngoan hư không của thế gian này, bạn sẽ có sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời dành sẵn cho mình (Gia 1:5).
Nói đến của cải và lạc thú, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta “hưởng mọi vật dư dật” (ITim 6:17) “Phước lành của Đức Giê-hô-va làm cho giàu có Ngài chẳng thêm sự đau lòng gì lẫn vào” (Ch 10:22). Của cải cùng lạc thú của thế gian không làm thỏa lòng và sự tìm kiếm quyền lực cùng địa vị là vô ích. Trong Chúa Giê-xu Christ, chúng ta có mọi điều chúng ta cần cho sự sống của sự chết, thời gian và sự vĩnh cửu.
Nếu có một chân lý được Sa-lô-môn nhấn mạnh trong sách này, đó là tính chắc chắn của sự chết. Dù Sa-lô-môn hưởng thụ hay hoàn thành điều gì, bóng kinh khiếp của sự chết luôn ám ảnh ông. Nhưng Chúa Giê-xu đã đánh bại sự chết và là “sự s ống lại của sự sống” (Gi 11:25). Sự đắc thắng về sự sống lại của Ngài có nghĩa là “công khó không vô ích trong Chúa” (ICôr 15:58).
Nếu bạn không biết Chúa Giê-xu là Cứu Chúa mình, vậy mọi điều bạn làm và sống vì chúng cuối cùng sẽ hư mất. Và bạn cũng sẽ hư mất. Nhưng đức tin trong Chúa Giê-xu đem đến cho bạn món quà của sự sống đời đời và đặc quyền hầu việc Ngài cùng những năm đầu tư của bạn vào những gì còn lại đời đời.
Vì vậy, sứ-điệp đầu tiên của sách Truyền-đạo là: hãy quay lưng với sự vô ích của tội lỗi và thế gian, hãy đặt đức tin của bạn nơi Chúa Giê-xu (Gi 3:16; Êph 2:8-10).
Nhưng nếu bạn là một người tin Chúa Giê-xu và đã nhận món quà của sự sống đời đời, Sa-lô-môn hỏi bạn: “Bạn đang sống cho Chúa hay cho những điều thuộc thế gian?” Hãy nhớ, Sa-lô-môn đã biết Đức Chúa Trời và được Ngài chúc phước rất nhiều, nhưng ông đã từ bỏ Chúa và đi theo lối riêng của mình. Không có gì lạ khi ông trở nên bi quan và hoài nghi khi nhìn cuộc đời! Ông đã không có cái nhìn của Đức Chúa Trời vì ông đã không sống cho những mục đích của Đức Chúa Trời.
Có hơn một người tự xưng là Cơ-đốc nhân đã theo gương xấu của Sa-lô-môn và bắt đầu sống cho những điều thuộc về thế gian. Phao-lô đã viết về một trong những cộng sự của ông trong chức vụ “Đê-ma đã lìa bỏ ta rồi, tại người ham hố đời này” (IITim 4:10). Sứ-đồ Giăng đã cảnh cáo: “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa” (IGi 2:16) và Gia-cơ khuyên chúng ta giữ mình “cho khỏi sự ô uế của thế gian” (Tr 1:27).
Khi bạn bắt đầu sống cho thế gian thay vì cho ý muốn của Đức Chúa Trời, bạn bắt đầu nhìn cuộc đời theo quan điểm sai lầm: “dưới mặt trời” chớ không phải “trên mặt trời”. Thay vì tìm kiếm những điều ở trên cao (Côl 3:1), bạn bắt đầu nhắm vào những điều ở dưới thấp. Ảo tưởng sai lầm này chẳng bao lâu khiến bạn chọn những giá trị sai lầm và bạn dừng việc sống cho những sự đời đời. Kết quả là sự thất vọng và thất bại, cách điều trị duy nhất là sự ăn năn và xưng nhận tội lỗi (IGi 1:9).
Sách Truyền-đạo cũng chứa đựng một sứ-điệp cho tín-hữu trung thành muốn hầu việc Chúa và có một cuộc đời được đáp ứng trong Chúa Giê-xu. Sa-lô-môn nói: “Đừng vùi đầu bạn vào trong đống cát và giả vờ như những nan đề không tồn tại. Chúng thật tồn tại đấy! Hãy đối diện cuộc đời cách thành thật, nhưng hãy nhìn cuộc đời theo quan điểm của Đức Chúa Trời. Những triết lý của loài người sẽ làm bạn thất bại.
Hãy sử dụng sự khôn ngoan Đức Chúa Trời ban cho bạn, nhưng đừng cho rằng mình giải quyết được mọi vấn đề và giải đáp được mọi câu hỏi. Điều quan trọng là vâng phục ý muốn của Đức Chúa Trời và vui hưởng mọi điều Ngài ban cho bạn. Hãy nhớ sự chết sắp đến – vậy hãy sửa soạn! ”
Có lẽ sứ-điệp này được tóm tắt hay nhất trong lời cầu nguyện của Môi-se: “Vậy xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày của chúng tôi, hầu cho ch úng tôi được lòng khôn ngoan” (Thi 90:12).
Tôi đã mở đầu chương này bằng cách trích dẫn một số ẩn dụ để mô tả “đời người”, và tôi muốn trích dẫn một ẩn dụ nữa. Đó là lời của nhà văn tiểu thuyết nổi tiếng người Mỹ Peter De Vries: “Cuộc đời là một siêu xa lộ chật ních với những lối rẽ gây lúng túng mà trên đó một người có trách nhiệm giảm tốc theo hướng mình đến”.
Điều đó không cần thiết xảy ra với bạn! Vua Sa-lô-môn đã khảo sát toàn diện con đường này và cho chúng ta một bản đồ có căn cứ để đi theo. Và nếu chúng ta làm theo Lời Đưc Chúa Trời, chúng ta sẽ thoả lòng.
Bạn sẵn sàng cho chuyến đi chưa?
Cuộc đời đối với bạn sẽ là gì? Hư không hay đắc thắng?
2. SỐNG TRONG NHỮNG QUỸ ĐẠO (Tr 1:4-18)
Black Elk, chức sắc tôn giáo người người Sioux đã nói: “Mọi điều mà một người da đỏ làm đầu ở trong một quỹ đạo. Thậm chí các mùa cũng tạo nên một quỹ đạo lớn trong sự thay đổi của chúng và luôn trở về lại nơi cũ của chúng. Đời của một người là một quỹ đạo từ thời thơ ấu trở về thời thơ ấu…”
Có lẽ bạn nghĩ Black Elk đã nghiên cứu chương đầu của sách Truyền-đạo ngoại trừ một thực tế: bao thế kỷ qua, những người đàn ông và đàn bà khôn ngoan ở các quốc gia và các nền văn hóa khác nhau đã suy gẫm các bí mật về “những quỹ đạo của đời người.” Mỗi khi bạn sử d ụng những nhóm từ như “chu trình cuộc đời” hay “Bánh xe số mạng” hoặc “đáo vòng”, bạn đang tham dự với Sa-lô-môn và Black Elk cùng nhiều người khác trong việc chọn một quan điểm hoàn toàn về cuộc đời và tự nhiên.
Nhưng quan điểm “tuần hoàn” này về cuộc đời đã là một gánh nặng cho Sa-lô-môn. Vì nếu đời chỉ là phần của một chu kỳ lớn mà chúng ta không có sự điều khiển nào trên nó, thì đời đáng sống chăng? Nếu chu kỳ này được lặp lại mùa này sang mùa khác, thế kỷ này sang thế kỷ khác, thì vì sao chúng ta không thể hiểu được nó và giải thích nó? Sa-lô-môn đã suy gẫm những câu hỏi này khi ông nhìn vào chu kỳ của đời người “dưới mặt trời” và ông đi đến 3 kết luận ảm đạm: không có gì thay đổi (Tr 1:4-7) không có gì mới mẻ (Tr 1:8-11) và không có gì hiểu nổi (Tr 1:12-18).
1. Không có gì thay đổi (Tr 1:4-7)
Trong phân đo ạn này, Sa-lô-môn tiếp cận vấn đề với tư cách một khoa học gia và nghiên cứu “bánh xe thiên nhiên” quanh ông, đất, mặt trời, gió và nước. (Điều này nhắc chúng ta nhớ đến những “phần tử” xa xưa của trái đất, không khí, lửa và nước). Ông bị bất ngờ bởi sự thật rằng các dòng dõi con người đến và đi còn các vật của thiên nhiên vẫn còn lại.
Có “sự thay đổi” chung quanh nhưng không có gì thật sự thay đổi. Mọi vật chỉ là phần của “bánh xe thiên nhiên” và góp phần vào sự đơn điệu của đời người. Vì vậy, Sa-lô-môn hỏi: “Đời người đáng sống chăng?”
Sa-lô-môn đã trình bày 4 mảnh chứng cớ chứng minh rằng không có gì thật sự thay đổi.
• Trái đất (c.4)
Theo quan điểm con người, không có gì dường như vĩnh cửu và lâu bền hơn hành tinh chúng ta sống. Khi chúng ta nói rằng có cái gì đó “xác thật như thế giới”, chúng ta đang lặp lại sự tin tưởng của Sa-lô-môn nơi sự vĩnh cửu của hành tinh trái đất. Với mọi sự đa dạng của nó, thiên nhiên không thay đổi trong hoạt động của nó, để chúng ta có thể khám phá “các định luật” của nó và đặt chúng vào chỗ hoạt động cho chúng ta. Thật ra, chính “tính có căn cứ” này là cơ sở cho khoa học hiện đại.
Thiên nhiên là vĩnh cửu, nhưng con người thì tạm thời, chỉ là một khách hàng hương trên đất. Cuộc hành hương của con người là một chuyến đi ngắn, vì sự chết cuối cùng sẽ đòi người. Ngay từ đâu sách, Sa-lô-môn đã giới thiệu một chủ đề được đề cập thường xuyên trong sách Truyền-đạo sự ngắn ngủi của đời người và tính chắc chắn của sự chết.
Những cá nhân và gia đình đến và đi, các quốc gia và đế chế nổi lên rồi sụp đổ, nhưng không có gì thay đổi, vì thế giới vẫn y nguyên.
Thomas Carlyle gọi lịch sử là “một vở kịch vĩ đại, được diễn trên sân khấu của thời gian, có mặt trời thay cho đèn và sự vĩnh hằng thay cho một tấm phông”.
Sa-lô-môn sẽ nói thêm rằng y phục và phong cảnh có thể thay đổi. Thỉnh thoảng, nhưng diễn viên và kịch bản vẫn không có gì thay đổi cho lắm, và điều đó là “xác thật như thế giới”.
• Mặt trời (c.5)
Giờ đây chúng ta di chuyển từ chu kỳ của sự ra đời và sự chết trên đất đến chu kỳ của ngày và đêm trên trời. “xác thật như thế giới” được thay thế bằng “chắc chắn như đêm đến sau ngày!”. Sa-lô-môn phác họa mặt trời mọc ở phương Đông và “vẽ” (bản dịch nguyên văn) đường đi của nó qua bầu trời trong việc đeo đuổi chân trời phía Tây. Nhưng nó hoàn thành điều gì bằng hành trình thường nhật này? Mọi sự vận động và sức nóng này là vì mục đích gì? Nói đến các từng trời, một ngày giống như ngày khác và các từng trời vẫn y nguyên.
• Gió
Từ sự di chuyển của mặt trời theo hướng Đông-Tây có thể thấy được rõ ràng, Sa-lô-môn quay sang sự chuyển động của gió theo hướng Bắc-Nam không thể thấy được. Ông không đưa ra một diễn thuyết về vật lý học của gió. Đúng hơn, ông nhận định rằng gió chuyển động không đổi, theo “những đường vòng” mà con người không thể hiểu hoặc lập biểu đồ một cách đầy đủ. Chúa chúng ta đã phán với Ni-cô-đem: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi ….chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu” (Gi 3:8).
Quan điểm của Sa-lô-môn như vầy: gió di chuyển không đổi và thay đổi hướng, nhưng nó vẫn là gió! chúng ta nghe và cảm nhận nó, và chúng ta hiểu nó làm gì, nhưng qua bao thế kỷ, gió không thay đổi chu kỳ và đường vòng của nó. Con người đến và đi, nhưng gió bất biến cứ tiếp tục vận hành mãi mãi.
• Biển (c.7)
Sa-lô-môn mô tả ở đây “chu kỳ nước” giúp duy trì sự sống trên hành tinh chúng ta. Các khoa học gia cho chúng ta biết rằng bất cứ lúc nào cũng có 97 % tổng lượng nước trên trái đất có mặt ở các đại dương. Và chỉ 0,0001% ở trong không khí, sẵn sàng cho cơn mưa (bấy nhiêu là đủ cho 10 ngày mưa). Sự hợp tác của mặt trời và gió tạo khả năng bay hơi và chuyển động của hơi ẩm, và điều này giữ cho nước “tuần hoàn”. Nhưng biển không bao giờ thay đổi! Sông ngòi và mưa đổ nước ra biển, nhưng biển vẫn y nguyên.
Vì vậy, dù chúng ta nhìn xem trái đất hoặc các tầng trời, gió hoặc nước, chúng ta cũng đi đến một kết luận như nhau: thiên nhiên không thay đổi. Có sự chuyển động nhưng không có sự gia tăng, không có gì ngạc nhiên khi Sa-lô-môn nêu sự đơn điệu của đời người làm lý lẽ đầu tiên của ông để chứng minh rằng đời chẳng đáng sống (Tr 1:4-11).
Tất cả những điều này là thật chỉ khi bạn nhìn cuộc đời “dưới mặt trời” và đặt Đức Chúa Trời ở ngoài bức tranh. Khi ấy thế giới trở nên một hệ thống khép kín đồng dạng, không thể biết trước, không thể thay đổi. Nó trở thành một thế giới nơi không có sự trả lời cầu nguyện và không có những phép lạ, vì không điều gì có thể làm gián đoạn chu trình của thiên nhiên. Nếu có một Đức Chúa Trời trong loại thế giới này, Ngài không thể hành động thay chúng ta vì Ngài bị giam cầm trong “những luật của thiên nhiên” không thể bị hoãn lại.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời thật sự xâm nhập được thiên nhiên để thực hiện những việc lớn lao và kỳ diệu! Ngài nghe và trả lời cầu nguyện cùng hành động thay dân sự Ngài. Ngài giữ mặt trời lại để Giô-suê có thể kết thúc một cuộc chiến quan trọng (Gios 10:6-14), và Ngài khiến mặt trời di chuyển ngược lại làm một dấu hiệu cho vua Ê-xê-chia (Ês 38:1-8).
Ngài rẽ Biển Đỏ và sông Giô-đanh cho dân Y-sơ-ra-ên (Xu 14:1-31; Gios 3:1-4:24). Ngài “tắt” mưa cho Ê-li (IVua 17:1-24) và “mở” lại (Gia 5:17-18). Ngài làm lặng gió và sóng biển cho các môn-đồ (Mac 4:35-41) và trong tương lai, sẽ sử dụng sức mạnh của thiên nhiên để đem đến sự kinh hãi và sự phán-xét cho những người trên đất (Kh 6:1-17).
Khi bạn bởi đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa mình, và Đức Chúa Trời trở nên Cha trên trời của bạn, bạn không còn sống trong một “hệ thống khép kín” của những chu trình đơn điệu bất tận nữa. Bạn có thể hát lên cách vui mừng rằng: “Đây là thế giới của Cha tôi!” và biết Ngài sẽ đáp ứng mọi nhu cầu của bạn khi bạn tin cậy Ngài (Mat 6:25-34). Cơ-đốc nhân sống trong thế giới này như những khách hành hương, không phải những tù nhân, và vì vậy họ vui mừng và xác tín.
2. Không có gì mới mẻ (Tr 1:8-11)
Nếu không có gì thay đổi, vậy thật có lý để kết luận rằng không có gì trong thế giới này mới mẻ cả: “kết luận lô-gic” này có thể đã làm thỏa mãn con người trong thời Sa-lô-môn, nhưng nó làm chúng ta hôm nay giật mình.
Xét cho cùng, chúng ta bị vây quanh và bị lệ thuộc bởi vô số những kỳ công mà khoa học hiện đại đã cung cấp cho chúng ta mọi thứ từ điện thoại cho đến các thiết bị điều hòa và những vị thuốc kỳ diệu. Bất cứ ai đã theo dõi Neil Armstrong bước đi trên mặt trăng, làm sao có thể đồng ý với Sa-lô-môn rằng không có gì mới dưới mặt trời?
Qua sự bàn luận này, Sa-lô-môn ngừng làm một khoa-học gia và trở nên một sử-gia. Chúng ta hãy theo dõi những bước trong lý luận của ông.
• Loài người muốn điều gì đó mới mẻ (c.8).
Tại sao? Vì mọi sự trong thế gian này cuối cùng đem đến sự mệt mỏi, và con người khao khát cái gì đó làm họ quên đi hoặc giải thoát họ. Họ giống như người A-thên trong thời Phao-lô, phí thời gian để “chỉ lo nói hoặc nghe việc mới lạ mà thôi” (Công 17:21).
Nhưng thậm chí đang khi họ nói, xem và nghe những “việc mới” này, họ vẫn không thỏa lòng với cuộc sống và sẽ làm hầu như bất cứ việc gì để tìm lối thoát. Dĩ nhiên, công nghiệp giải trí đem sự dễ chịu cho khao khát này của con người về tính mới lạ và lợi dụng sự khao khát ấy để kiếm lợi lớn.
Trong Tr 3:11 Sa-lô-môn giải thích lý do những người đàn ông và đàn bà không thỏa lòng với cuộc sống: Đức Chúa Trời đã đặt “sự đời đời ở nơi lòng họ” và không ai có thể tìm được sự bình an cùng thỏa lòng ở ngoài Ngài. Thánh Augustine đã cầu nguyện: “Chính Ngài đã dựng nên chúng con và lòng chúng con không yên cho đến khi chúng con yên nghỉ trong Ngài”.
Mắt không thể thỏa mãn cho đến khi nó nhìn thấy bàn tay của Đức Chúa Trời, và tai không thể thỏa mãn cho đến khi nó nghe tiếng Đức Chúa Trời. Chúng ta phải đáp ứng với lời mời gọi của Chúa mình bằng đức tin. “Hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ“ (Mat 11:28).
• Thế gian chẳng cung cấp điều gì mới (c.9-10).
Tiến sĩ H.A.Ironside, mục sư lâu năm của Hội thánh Chicago’s Moody, đã thường nói rằng: “Nếu nó mới, thì nó không thật và nếu nó thật, thì nó không mới”. Bất cứ điều gì mới đều đơn giản là một sự tái kết hợp của những cái cũ.
Con người không thể “sáng tạo” bất cứ điều gì mới vì con người là tạo vật, không phải Đấng Tạo Hóa. “Điều chi hiện có, đã có ngày xưa” (Tr 3:15). Thomas Alva Edison, một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất của thế giới, đã nói rằng những phát minh của ông chỉ “đưa ra những bí mật của thiên nhiên và áp dụng chúng vì hạnh phúc của nhân loại ”.
Chỉ Đức Chúa Trời mới có thể sáng tạo những điều mới, và Ngài bắt đầu bằng cách khiến tội nhân trở nên “những tạo vật mới khi họ tin Chúa Giê-xu đã cứu họ” (IICôr 5:17). Khi ấy họ có thể bước đi “trong đời mới” (Rô 6:4), hát lên một “bài hát mới” (Thi 40:3), và bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời bằng một “đường mới và sống” (Hêb 10:20). Ngày nào đó, họ sẽ vui hưởng “Trời mới và đất mới” (Kh 211). Khi Đức Chúa Trời phán: “Này, ta làm mới lại hết thảy muôn vật” (Kh 21:5).
• Vì sao chúng ta nghĩ các sự vật là mới (c.11).
Câu trả lời đơn giản là chúng ta có trí nhớ kém cỏi và chúng ta không đọc biên bản của cuộc họp trước (Tr 2:16; Tr 4:16; Tr 9:5). Người ta thường nói rằng người xưa đã đánh cắp mọi ý niệm tốt đẹp nhất của chúng ta và điều này đúng một cách đáng buồn.
Có một thanh niên đến gần tôi ở một hội nghị và hỏi rằng cậu ta có thể chia sẻ một số ý kiến mới cho nhiệm vụ thanh niên hay không. Cậu ta rất nhiệt tình khi phác họa chương trình của mình. Nhưng tôi càng lắng nghe, những ý kiến của cậu ấy càng trở nên quen thuộc. Tôi khích lệ cậu áp dụng những ý nghĩ của mình vào thực tiễn, nhưng rồi cho cậu biết rằng chúng tôi đã thực hiện tất cả những việc đó trong chương trình. “Tuổi trẻ cho Đấng Christ” trước khi cậu ta ra đời, và những cộng sự của chương trình đó vẫn đang thực hiện những việc ấy. Cậu ta hơi sửng sốt khám phá rằng thật sự chẳng có gì mới dưới mặt trời.
Dĩ nhiên, Sa-lô-môn viết về nguyên tắc cơ bản của đời người, chớ không về những phương pháp. Như cặp câu thơ quen thuộc diễn tả:
- Phương pháp thì nhiều, nguyên tắc lại ít.
- Phương pháp luôn đổi, nguyên tắc chẳng hề.