top of page
1. ĐỜI NGƯỜI ĐÁNG SỐNG CHĂNG? (Tr 1:1-3)
Sa...
...-lô-môn than vãn rằng: “Hư không của sự hư không, thảy đều hư không”. Truyền-đạo khi viết về đời người “dưới mặt trời”. Từ này có nghĩa là “sự trống rỗng, vô ích, hư ảo, biến mất nhanh chóng và chẳng để lại gì đằng sau”.
Theo quan điểm con người (“dưới mặt trời”), đời người có vẻ phù phiếm và nó dễ khiến chúng ta bi quan. Nhà văn Do-thái Sholom Aleichem có lần đã mô tả đời người như “một chỗ sưng lên trên đỉnh của khối u, và như một cái nhọt trên đỉnh khối u đó”. Bạn hầu như có thể cảm nhận được định nghĩa đó.
Nhà thơ người Mỹ Carl Sandburg ví sánh đời người với “một cũ hành bạn bóc nó ra một lớp mỗi lần, và đôi khi bạn chảy nước mắt?” Và nhà soạn kịch người Anh George Bernard Shaw nói rằng đời người là “một chuỗi những điên rồ đầy cảm hứng”.
Khi bạn học văn chương Anh ở trường, có thể bạn đã đọc bài thơ của Mathew Arnold “Rugby Chapel” trong đó ông kể đến sự mô tả tối tăm này về đời người:
“Người ta đều chuyển động như cơn lốc. Đây đó, ăn và uống nói huyên thuyên, yêu rồi ghét, Thu góp rồi hoang phí, Nổi lên cao, bị quăng vào bụi rác. Nỗ lực cách mù quáng. Chẳng đạt được gì, và rồi họ chết”
Thật là một sự thư giản khi quay lưng với những quan điểm yếm thế này nghe Chúa Giê-xu phán: “Còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống, và được sự sống dư dật” (Gi 10:10). Hoặc đọc lời tuyên bố uy nghi của Phao-lô “Vậy hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (ICôr 15:58).
Đời người “không phải là vô ích” nếu nó bị bỏ qua và thường bị hiểu sai này.
Trước khi chúng ta bắt đầu học về sách Truyền-đạo, trước hết hãy làm quen với tác giả và mục đích ông viết sách này. Chúng ta cũng cần có một tóm lược về cuốn sách để có thể hiểu rõ hơn cách ông trả lời câu hỏi: “Đời người đáng sống chăng?”
1. Tác giả (Tr 1:1-3)
Không chỗ nào trong sách này tác giả cho biết tên mình, nhưng những mô tả công trình bày tỏ về bản thân và những từng trải của mình sẽ cho thấy rằng tác giả là vua Sa-lô-môn. Ông tự xưng là “con trai của Đa-vít” và “vua tại Giê-ru-sa-lem” (Tr 1:1,12), ông tuyên bố có nhiều của cải cùng sự khôn ngoan (Tr 2:1-11; Tr 1:13; IVua 4:20-34; IVua 10:1).
Để đáp ứng lời cầu nguyện khiêm nhường của Sa-lô-môn, Đức Chúa Trời hứa ban cho ông cả sự khôn ngoan, sự giàu có (IVua 3:3-15) và Ngài đã giữ lời hứa.
Mười hai lần trong sách Truyền-đạo, tác giả đề cập “vua” và ông đề cập thường xuyên những vấn đề về “thói quan liêu” (Tr 4:1-3; Tr 5:18; Tr 8:11; Tr 10:6-7).
Hãy nhớ rằng Sa-lô-môn đã cai trị một quốc gia lớn cần có một quân đội lớn thường trực và những cơ quan chính quyền ở phạm vi rộng. Ông xúc tiến nhiều công trình xây dựng đắt giá và sống xa hoa trong cung điện (IVua 9:10-28; IVua 10:1; IISu 1:13-17). Ai đó phải quản lý mọi sự lộng lẫy này của quốc gia và ai đó phải cầu nguyện cho nó!
Sô-lô-môn giải quyết vấn đề bằng cách bỏ qua những ranh giới gốc của 12 chi phái Y-sơ-ra-ên và chia quốc gia thành “12 khu vực thuế”, Mỗi khu vực được quản lý bởi một quan giám sát (IVua 4:7-19). Đúng lúc, cả hệ thống trở nên ngột ngạt và thối nát, Sau khi Sa-lô-môn chết, dân sự nài xin sự giảm nhẹ (IISu 10:1-19). Khi bạn nghiên cứu sách Truyền-đạo, bạn nhận thức được quá trình của sự bóc lột và đàn áp này.
Vua Sa-lô-môn khởi đầu sự cai trị của ông với tư cách một đầy tớ khiêm nhường của Chúa, tìm kiếm sự khôn ngoan và sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời (IVua 3:5-15). Khi về già, lòng ông đã xa rời Đức Giê-hô-va để đến với những tà thần của nhiều bà vợ mà ông đã lấy ở đất ngoại bang (IVua 11:1).
Những cuộc hôn nhân này bị thúc đẩy chủ yếu bởi chính trị, không phải tình yêu, khi Sa-lô-môn tìm kiếm những sự liên minh với các nước lân cận Y-sơ-ra-ên. Thật ra, nhiều điều Sa-lô-môn làm như thể đem vinh quang cho Y-sơ-ra-ên thực tế trái ngược với Lời Đức Chúa Trời (Phuc 17:14-20).
Không giá trị tiền bạc hay quyền thế nào có thể ngăn cản sự chín mùi thầm lặng nhưng chắc chắn của sự xét đoán thiêng liêng.
Nhà truyền-giáo người Ê-cốt nổi tiếng Alexander Whyte nói rằng “con sâu bí mật… đang gặm nhấm dần nội các triều đình mà Sa-lô-môn đã dựa vào”.
Những năm cuối của vua thật khốn khổ vì Đức Chúa Trời rút bàn tay chúc phước của Ngài (IVua 11:1-43) và duy trì ngai vàng của Sa-lô-môn chỉ vì lời hứa của Ngài cùng Đa-vít. Sau khi Sa-lô-môn chết đất nước bị phân chia và nhà Đa-vít chỉ còn lại 2 chi phái, Giu-đa và Bên-gia-min.
Sách Truyền-đạo có vẻ là loại sách mà một người nào đó viết gần giống với đời sống, phản ánh những từng trải của đời người và những bài học được rút ra. Sa-lô-môn có thể đã viết sách Châm-ngôn (Ch 1:1; IVua 4:32) và Nhã-ca (Nha 1:1) suốt những năm ông trung tín bước đi với Đức Chúa Trời. Và gần cuối đời ông viết sách Truyền-đạo. Không có ghi chép nào cho thấy Sa-lô-môn đã ăn năn và trở lại với Chúa, nhưng sứ-điệp của ông trong sách Truyền-đạo gợi ý rằng ông đã làm vậy.
Ông viết sách Châm-ngôn theo quan điểm của một giáo sư khôn ngoan (Ch 1:1-6) và sách Nhã-ca theo quan điểm của một vị vua đang yêu (Nha 3:7-10). Nhưng khi viết sách Truyền-đạo, ông tự xưng là “người truyền-đạo” (Tr 1:1,2,12; Tr 7:27; Tr 12:8-10).
Từ Hê-bơ-rơ là “koheleth” và là danh hiệu dành cho một người phát ngôn chính thức triệu tập một cuộc họp (IVua 8:1). Từ Hy-lạp cho “cuộc họp” là ekklesia, và từ này cho chúng ta đề tựa tiếng Anh của sách là Ecclesiastes (Truyền-đạo).
Nhưng người truyền-đạo này làm nhiều việc hơn là triệu tập một cuộc họp và diễn thuyết. Từ “koheleth” mang theo nó ý niệm về sự tranh luận không phải với người nghe mà với chính mình. Ông giới thiệu một chủ đề, bàn luận nó theo nhiều quan điểm, và rồi đi đến một kết luận thực tiễn.
Sách Truyền-đạo có vẻ là một tập hợp ngẫu nhiên của những ý niệm hỗn tạp về những chủ đề khác nhau, nhưng Sa-lô-môn bảo đảm với chúng ta rằng điều ông viết là một tuần tự (Tr 12:9).
Bây giờ chúng ta hãy xem xét mục đích và tiến triển của sách.
2. Mục đích (Tr 1:1-3)
Sa-lô-môn đặt chìa khóa cho sách Truyền-đạo ngay cửa trước: “Người truyền-đạo nói: Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. Các việc lao khổ của loài người làm ra dưới mặt trời, thì được ích lợi chi?” (Tr 1:2-3). Chỉ trong trường hợp chúng ta bỏ sót nó, ông đặt chìa khóa tương tự ở cửa sau (Tr 12:8). Trong những câu này, Sa-lô-môn giới thiệu một số từ và nhóm từ chủ chốt được sử dụng nhiều lần trong sách Truyền-đạo, vì vậy chúng ta nên làm quen với chúng.
• Hư không của sự hư không.
Chúng ta đã để ý rằng Sa-lô-môn sử dụng từ “hư không” 38 lần trong sách này. Đó là từ Hê-bơ-rơ “hevel” nghĩa là “sự trống rỗng, sự vô ích, sự hư ảo”. Tên “A-bên” có lẽ đến từ từ này (Sa 4:2). bất cứ điều gì biến mất nhanh chóng và không để lại chỉ đằng sau và không làm thỏa lòng đều là “hevel”, hư không. Một trong những giáo sư ngôn ngữ của tôi tại thần học viện đã định nghĩa “hevel” là “bất cứ cái gì còn lại sau khi bạn phá vỡ một bong bóng xà phòng”.
Dù xem xét của cải, công việc, sự khôn ngoan hay thế giới của mình, Sa-lô-môn đều đi đến kết luận buồn bã như nhau. Tất cả là “hư không và sự phiền toái của linh hồn” (Tr 2:11). Tuy nhiên, đây không phải là kết luận sau cùng của ông, nó cũng không phải là sứ-điệp duy nhất ông dành cho độc-giả mình. Chúng ta sẽ khám phá nhiều hơn về điều đó sau này.
• Dưới mặt trời
Bạn sẽ tìm thấy nhóm từ quan trọng này 29 lần trong sách Truyền-đạo và cùng với nó là nhóm từ “dưới trời” (Tr 1:13; Tr 2:3; Tr 3:1).
Nó định nghĩa quan điểm của tác giả khi ông nhìn cuộc đời theo một khía cạnh con người và không nhất thiết theo quan điểm trên trời. Ông áp dụng sự khôn ngoan và kinh nghiệm của riêng mình vào hoàn cảnh phức tạp của con người và tìm cách làm cho đời người có ý nghĩa. Sa-lô-môn viết dưới sự thần cảm của Thánh Linh (Tr 12:10-11; IITim 3:16), vì vậy điều ông viết là điều Đức Chúa Trời muốn dân sự Ngài có.
Nhưng khi chúng ta nghiên cứu, chúng ta phải nhớ quan điểm của Sa-lô-môn: ông đang xem xét đời người “dưới mặt trời”.
Trong tác phẩm “Unfolding Message of the Bible” của mình (sứ-điệp bày tỏ của Kinh Thánh), G. Campell Morgan tóm tắt đầy đủ quan điểm của Sa-lô-môn: “Người này đã sống trải qua mọi kinh nghiệm ấy dưới mặt trời, chẳng quan tâm điều gì ở trên mặt trời… cho đến khi xảy ra một sự thay đổi mà qua đó ông đã hiểu toàn bộ cuộc đời. Và có cái gì đó ở trên mặt trời. Đó là chỉ khi một người đánh giá điều ở trên mặt trời cũng như điều ở dưới mặt trời hầu cho mọi sự dưới mặt trời được hiểu trọn ánh sáng thật của chúng” (Fleming H.Revell Company, 1961, trang 229).
• Ích lợi.
-Từ Hê-bơ-rơ “yitron” thường được dịch là “ích lợi”, được sử dụng 10 lần trong sách Truyền-đạo (Tr 1:3; Tr 11:13) (excelleth) Tr 3:9; Tr 5:9,16; Tr 7:12 (sự trội hơn) Tr 10:10,11 (tốt hơn). Nó được sử dụng đâu đó trong Cựu-ước, và ý nghĩa cơ bản của nó là “những gì còn lại trội hơn”. Nó có thể được dịch là “thặng dư, thuận lợi, lãi”.
-Từ “ích lợi” đúng là phản nghĩa với “sự hư không”. Sa-lô-môn hỏi: “Dưới ánh sáng của những rắc rối và những nan đề của đời người, đâu là ích lợi của sự sống? Có được gì chăng?”
• Lao khổ.
Có ít nhất 7 từ Hê-bơ-rơ khác nhau được dịch là “lao khổ” trong bản dịch của chúng ta, và từ này là “amal” được sử dụng 23 lần trong Truyền-đạo. Nó có nghĩa là “làm việc khó nhọc đến độ kiệt quệ nhưng kinh nghiệm chỉ một chút hoặc không có sự hoàn thành nào trong công việc của mình”. Nó mang theo những ý niệm về sự buồn rầu, khốn khổ, thất vọng và mệt mỏi. Môi-se đã bày tỏ ý nghĩa của từ này trong Phuc 26:7 và Thi 90:10.
Dĩ nhiên, được nhìn chỉ “dưới mặt trời”, dù công việc hằng ngày của một người dường như vô ích và nặng nề, nhưng tín-hữu Cơ-đốc có thể luôn tuyên bố ICôr 15:58 và lao động một cách vui vẻ trong ý muốn của Đức Chúa Trời, biết rằng công lao mình “không phải là vô ích trong Chúa”.
• Loài người.
Đây là từ Hê-bơ-rơ quen thuộc “A-đam” (Sa 1:26 Sa 2:7,19) và chỉ về con người được tạo nên từ đất (“adama” trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ: Sa 2:7 Sa 3:19), đến từ đất và trở về với đất sau khi chết. Sa-lô-môn sử dụng từ này 49 lần khi ông xem xét “loài người dưới mặt trời”.
Đây là những từ cơ bản được tìm thấy trong các câu mở đầu sách Truyền-đạo, nhưng có thêm một số từ then chốt mà chúng ta cần xem xét.
• Xấu (evil).
Từ này được dùng 31 lần và trong bản dịch King Jame nó cũng được dịch là “sore” (Tr 1:13; Tr 4:8 (buồn phiền), “hurt” (làm hại) (Tr 5:13; Tr 8:9), “mischievous” (tác hại) (Tr 10:13), “grievous” (đau khổ) (Tr 2:17) “adversity” (bất hạnh) (Tr 7:14) ‘nickedness” (độc hại) (Tr 7:15) và “misery” (khốn khổ) (Tr 8:6).
Nó trái ngược với ‘tốt” và bao phủ vô số sự việc: sự đau đớn, buồn rầu, nghịch cảnh và tai họa. Đó là một trong những từ ưa dùng của Sa-lô-môn để mô tả đời người như ông thấy “dưới mặt trời”.
• Sự vui mừng.
Mặc dù có những tự đương đầu đau buồn của mình với thế gian và những vấn đề của nó, Sa-lô-môn không giới thiệu chủ nghĩa bi quan hay hoài nghi. Đúng hơn, ông khuyên chúng ta có óc thực tế về đời người, chấp nhận những sự ban cho của Đức Chúa Trời và vui hưởng chúng (Tr 2:24; Tr 3:12-15,22; Tr 5:18-20; Tr 8:15 Tr 9:7-10; Tr 11:9-10).
Suy cho cùng, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta “được hưởng mọi vật dư dật” (ITim 6:17). Những từ có liên quan đến sự vui mừng được sử dụng ít nhất là 17 lần trong Truyền-đạo. Sa-lô-môn không nói: “Hãy ăn, uống, cưới gả, vì ngày mai ngươi chết!”. Ngược lại, ông khuyên chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời và vui hưởng điều mình có hơn là phàn nàn về những gì mình không có. Đời người ngắn ngủi và đời người khó nhọc, vì vậy hãy tận dụng nó trong khi bạn có thể.
• Sự khôn ngoan.
Vì là một trong những sách của sự khôn ngoan thời Cựu-ước, Truyền-đạo có điều gì đó nói về sự khôn ngoan lẫn sự ngu dại. Có ít nhất 32 lần đề cập đến “kẻ ngu dại” với “sự ngu dại”, và ít nhất 5 lần về “sự khôn ngoan”.
Vua Sa-lô-môn là người khôn ngoan nhất (IVua 4:31) và ông đã áp dụng sự khôn ngoan này khi ông tìm cách hiểu mục đích đời người “dưới mặt trời”. Người truyền-đạo này tìm cách làm một triết-gia, nhưng cuối cùng, ông phải kết luận “khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài” (Tr 12:13).
•