top of page
7. PHẢI CHĂNG ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN NGÕ CỤT? (Tr 6:1-12)
Thật...
...thú vị khi đọc những diễn đạt khác nhau mà người ta sử dụng để mô tả sự vô ích. Sa-lô-môn ví sánh sự vô ích của đời người với bong bóng xà phòng (“hư không của sự hư không”) và với “sự bắt gió”. Tôi đã đọc những nhận định như “Vô ích như tưới nước một cây cột”, “Vô ích như cày đá”, Vô ích như hát những bài hát “cho một con ngựa chết” (hay “hát 2 lần cho một người điếc”, “Vô ích như nghiền nước bằng một cối giã” (hay “lấy nước trong một cái sàng”).
Trong bài thơ “The Task” (nhiệm vụ) của mình, tác-giả thánh ca William Cowper (“There is a fountain” có một suối nước) đã diễn tả sự vô ích như vầy:
-Công khó nhọc đổ những xô nước vào các giếng cạn.
-Và trở về già chẳng múc được gì.
Nếu Cowper còn sống hôm nay, ông có thể nhìn xem “xã hội xe ô-tô” của chúng ta và viết:
-Vô ích như người mù lái xe.
-Đi xuống những ngõ cụt đông đúc.
Phải chăng đời là một con đường đến ngõ cụt?
Đôi lúc nó dường như thế, đặc biệt khi chúng ta không đạt đến những mục tiêu của mình hay khi chúng ta đạt được mục tiêu mình nhưng không cảm thấy đủ trong thành tích của mình.
Hơn một người trong Kinh Thánh đã trở nên quá chán nản cuộc sống đến nỗi muốn chết hoặc mong mình chưa từng được sinh ra. Điều này kể đến Môi-se (Dân 11:15), Ê-li (IVua 19:14), Gióp (Giop 3:21; Giop 7:15), Giê-rê-mi (Giê 8:3; Giê 15:10) và Giô-na (Gion 4:3). Ngay cả sứ-đồ cao trọng Phao-lô cũng mất hy vọng về sự sống suốt một thời gian đặc biệt gay go trong cuộc đời của ông (IICôr 1:8-11).
Có lẽ vấn đề cơ bản là đời sống khiến chúng ta đối diện với quá nhiều bối rối mà chúng ta không thể hiểu được và quá nhiêu bối rối chúng ta không thể giải quyết. Để đời sống thật sự đem lại thỏa mãn, nó phải có ý nghĩa, khi nó không có ý nghĩa, chúng ta trở nên thất vọng. Nếu người ta không thể hiểu một mục đích nào đó trong đời sống, đặc biệt khi họ trải qua đau khổ sâu sắc, họ bắt đầu nghi ngờ Đức Chúa Trời và thậm chí không biết cuộc đời có đáng giá hay không.
Trong Tr 6:1-12 Sa-lô-môn bàn luận 3 vấn đề trong những bí ẩn của đời người: Sự giàu có mà không niềm vui mừng (c.1-6), sự lao khổ mà không có sự thỏa l òng (c.7-9) và những câu hỏi mà không có giải đáp (c.10-12).
1. Sự giàu có mà không niềm vui mừng (Tr 6:1-6)
Thật có vẻ như một bi kịch khi có mọi nguồn lực cho một đời thỏa lòng nhưng không thể hưởng được chúng vì lý do này hay lý do khác. Hơn một người đã làm việc cực nhọc và trông chờ một sự về hưu dễ chịu chỉ để bị đau tim hay trở thành một người bệnh tật hoặc một hạng mục thống kê. Hay có thể sự bình an của cuộc nghỉ hưu bị tiêu tan bởi một khủng hoảng trong gia đình bắt đầu rút cạn tiền bạc lẫn sức khỏe. Vì sao những điều này xảy ra?
Sa-lô-môn đề cập chủ đề này trong Tr 5:19 và ngụ ý về nó trong Tr 3:13. Đối với ông, đó là một nguyên tắc cơ bản mà không ai thực sự có thể vui hưởng những sự ban cho của Đức Chúa Trời khi xa cách Đức Chúa Trời là Đấng ban cho những món quà ấy.
Hưởng thụ những sự ban cho mà không có Đấng ban cho, là sự thờ thần tượng, và điều này không bao giờ có thể thỏa mãn lòng người. Sự hưởng thụ mà không có Đức Chúa Trời là sự phong phú và nó đem lại niềm vui mừng cùng sự thỏa lòng thật.
Câu 2 có thể mô tả một tình trạng giả thuyết, hay nó có thể xảy ra với ai đó mà Sa-lô-môn biết. Sự kiện Đức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn, của cải, sự giàu sang và vinh dự (IISu 1:11) khiến cho sự ghi chép này thậm chí có ý nghĩa hơn đối với ông. Thật may mắn cho một người không thiếu gì cả, nhưng khốn khổ thay cho người ấy nếu người ấy không thể hưởng những phước hạnh của đời sống.
Điều gì ngăn cản người này? biết khi nào người ấy sẽ chết. Khi người ấy cuối cùng đã chết, những bà con còn sống của hưởng thụ cuộc sống? Có lẽ sự rắc rối trong gia đình (Ch 15:16-17; Ch 17:1), hoặc bệnh hoạn, hoặc sự chết (Lu 12:20). Người được mô tả trong c.2 không có người thừa kế, vì vậy một người lạ thâu tóm của cải và hưởng nó. Tất cả dường như quá vô ích.
Sa-lô-môn đang nói gì với chúng ta?
“H ãy vui hưởng những phước hạnh của Đức Chúa Trời, bây giờ và cảm tạ Ngài về mọi điều gì Ngài ban cho bạn và sử dụng nó tất cả vì vinh hiển Ngài.”
Câu 3-6 chắc chắn đề cập đến một trường hợp giả thuyết, vì không ai sống đến 2.000 năm, và không mọi hôn nhân 1 chồng 1 vợ nào có thể sinh sản 100 con. (Con trai của Sa-lô-môn là Rô-bô-am có 88 người con, nhưng ông có 18 vợ và 60 cung phi. Cha nào, con nấy. (Tr 11:21).
Người Truyền-đạo rõ ràng thổi phồng ở đây để tạo quan điểm của ông: cho dù bạn có bao nhiêu, nếu bạn không có năng lực để hưởng nó, bạn có thể giống như chưa bao giờ sanh ra.
Đây là một người có những tiềm lực dư dật và một gia đình đông đúc, 2 điều này đối với một người Do-thái thời Cựu-ước là những dấu hiệu về đặc ân của Đức Chúa Trời. Nhưng gia đình người ấy không yêu mến người, vì khi người chết, người không được than khóc. Đó là ý nghĩa của câu “người chết chẳng được chôn” (Giê 22:18-19). Bà con của người ấy ở xung quanh người ấy chỉ để sử dụng tiền bạc của người (Giê 5:11) và họ thắc mắc chẳng người ấy hầu như không thể chờ đợi việc đọc di chúc.
• Người giàu này thật sự nghèo nàn.
Ví lý do nào đó, có lẽ bệnh hoạn, người không thể hưởng thụ tiền bạc của mình. Và người không thể vui hưởng gia đình đông đúc của mình vì chẳng có tình yêu trong gia đình. Họ thậm chí không khóc khi người chết. Kết luận của Sa-lô-môn là người này tốt hơn chưa bao giờ sinh ra hoặc bị sảo thai (Giop 3:1-26).
Giữa vòng dân Do-thái thời bấy giờ, một đứa trẻ bị sảo thai luôn không được đặt tên. Như vậy, nó sẽ không được nhớ đến. Người ta có cảm giác rằng điều này an ủi cha mẹ mau quên nỗi buồn rầu của họ.
“Đứa con sảo ra hư không, ra đi trong sự tối tăm, và tên của nó bị vùi lấy trong sự tối tăm” (c.4 NIV).
Trong chức vụ mục sư của tôi, những cha mẹ và ông bà có lòng tan vỡ đôi lúc đã hỏi: “Vì sao Đức Chúa Trời lại cho phép đứa trẻ này được hoài thai nếu nó sẽ không sống?” Sa-lô-môn đã hỏi: “Vì sao Đức Chúa Trời cho phép người này có của cải và một gia đình lớn nếu người không thể hưởng được điều đó?”
Một số người sẽ lý luận rằng sự tồn tại đó tốt hơn sự không tồn tại và một đời sống khó khăn tốt hơn là không có đời sống vào cả.
Sa-lô-môn có thể đồng ý với họ, vì “con chó sống tốt hơn con sư tử chết” (Tr 9:4). Nhưng vấn đề Sa-lô-môn đối diện không phải là sự tồn tại liệu tốt hơn sự không tồn tại hay không, nhưng là vấn đề liệu có mục đích nào đó phía sau toàn bộ kế hoạch dường như bất quân bình của những sự việc hay không. Khi ông xem xét đời người “dưới mặt trời” ông không thể tìm được lý do vì sao một người phải được ban cho của cải nhưng bị tước đi năng lực hưởng thụ chúng.
Khả năng vui hưởng đời sống xuất phát t ừ bên trong. Đó là vấn đề về tính cách chớ không phải hoàn cảnh. Phao-lô đã viết cho những người Phi-líp rằng: “Tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy” (Tr 4:11). Từ Hy-lạp “autarkes” được dịch là “thỏa lòng” mang ý nghĩa “tự kiềm chế, đầy đủ, không cần gì từ bên ngoài”.
Phao-lô đã mang bên trong mọi tiềm lực cần thiết để dối diện với đời sống một cách dạn dĩ và chiến thắng những khó khăn. “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng Christ ban sức cho tôi” (Phi 4:13 NKJV).
Người 2.000 tuổi và đứa trẻ sảo thai, đều kết thúc ở cùng mộ nơi - phần mộ. Một lần nữa, người Truyền-đạo đối diện với thính-giả của ông bằng tính chắc chắn của sự chết và sự vô ích của đời sống không có Đức Chúa Trời. Ông chuẩn bị cho họ về “kết luận của vấn đề” khi ông tóm lược bài giảng và khích lệ họ tin cậy Đức Chúa Trời (Tr 11:9-12:14).
2. Sự lao khổ mà không có sự thỏa lòng (Tr 6:7-9)
Sa-lô-môn đã nói về người giàu, giờ đây ông bàn luận hoàn cảnh của người nghèo. Người giàu và người nghèo đều lao động để sống. Chúng ta phải tạo ra thực phẩm và kiếm tiền để mua nó. Người giàu có thể khiến tiền bạc làm việc cho mình. Nhưng người nghèo phải sử dụng cơ bắp nếu người ấy và gia đình người ấy muốn ăn. Nhưng thậm chí sau mọi công lao động này, chẳng có sự ngon miệng của người nào được thỏa mãn đầy đủ.
Tại sao một người ăn? Hầu cho người ấy có thể thêm những năm cho đời mình. Nhưng có gì tốt cho tôi để thêm những năm vào đời mình nếu tôi không thêm cuộc đời vào những năm của tôi? Tôi giống như loài chim mà tôi quan sát ở sân sau. Chúng trải qua những giờ thức giấc để kiếm thức ăn hoặc trốn tránh kẻ thù. Những con chim này thật sự không sống, chúng chỉ đang tồn tại. nhưng chúng đang thực hiện những mục đích mà bởi đó Đấng Tạo Hóa dựng nên chúng và chúng thậm chí hót lên điều đó!
Sa-lô-môn không gợi ý rằng làm việc hay ăn uống là điều sai. Nhiều người vui mừng làm 2 việc đó. Nhưng nếu đời sống chỉ bao gồm làm việc và ăn uống, vậy chúng ta đang bị điều khiển bởi sự ngon miệng và điều đó gần như đặt chúng ta ngang hàng loài vật. Nói về thiên nhiên, tự sinh tồn có thể là luật đầu tiên của sự sống, nhưng chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, phải sống cho điều gì đó cao hơn (Gi 12:20-28). Tuy sự sáng tạo mới (IICôr 5:17), tự sinh tồn có thể là luật đầu tiên của sự chết (Mac 8:34-38).
Hai câu hỏi trong c.8 đều được trả lời “không!”
Nếu tất cả những gì bạn làm là sống để làm thỏa mãn sự ngon miệng của mình, vậy người khôn ngoan chẳng có lợi thế gì hơn kẻ ngu muội, người nghèo cũng không có lợi gì khi tìm cách làm cho hoàn cảnh mình khá hơn và học cách thân thiện với người giàu. Sa-lô-môn không xem thường sự học vấn hay sự tự tiến bộ. Ông chỉ nói rằng những điều này tự chúng không thể khiến cho đời sống giàu hơn. Chúng ta phải có điều gì đó cao trọng hơn để sống vì nó.
Cách đây 1 thế kỷ, khi nước Mỹ bắt đầu trải qua sự thịnh vượng và phát triển, nhà tự-nhiên học người Mỹ Henry David Thoreau đã cảnh cáo rằng con người đang sáng chế ra “phương tiện cải tiến cho mục đích không cải tiến”. Ông đã thấy thế giới chúng ta ngày nay. Chúng ta c ó thể gởi tin tức đi khắp thế giới trong vài giây, nhưng chúng ta có điều gì quan trọng để nói?
Chúng ta có thể chuyển đi những hình ảnh thậm chí từ mặt trăng, nhưng màn hình TV của chúng ta bị ô nhiễm bởi bạo lực, tình dục, quảng cáo rẻ tiền, và thậm chí thú giải trí rẻ tiền hơn.
Câu 9 là sự dịch giải của Sa-lô-môn về câu tục ngữ quen thuộc: “Có 1 con chim ở trong tay đáng giá như 2 con chim ở bụi cây”. Sa-lô-môn nói: “Thà có một chút và thật sự hưởng có hơn là mơ nhiều và chẳng bao giờ đạt được”. Những điều mơ tưởng có một cách để trở thành những ác mộng nếu chúng ta không đạt đến những hiểu biết bằng thực tế.
Phải chăng Sa-lô-môn cho chúng ta biết rằng mơ những giấc mơ lớn hay có 1 hoài bão mãnh liệt muốn thực hiện điều gì đó trong cuộc sống là sai lầm? Dĩ nhiên là không, nhưng chúng ta phải cẩn thận để hoài bão của chúng ta được thôi thúc bởi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chớ không phải đề cao bản thân.
Nếu chúng ta nghĩ những thành tích của mình sẽ tự động đem lại sự thỏa lòng, thì chúng ta sai lầm. Sự thỏa lòng thật đến khi chúng ta làm theo ý muốn Đức Chúa Trời từ tấm lòng (Êph 6:6). Chúa Giê-xu phán: “Đồ ăn của ta, tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài” (Gi 4:31 NASB).
Vâng, trong ý muốn của Đức Chúa Trời có thể có của cải với sự vui hưởng và công lao động với sự thỏa lòng. Nhưng chúng ta phải chấp nhận kế hoạch của Đức Chúa Trời cho đời sống mình, nhận lấy những sự ban cho của Ngài cách biết ơn, và vui hưởng từng ngày như Ngài có thể giúp chúng ta. “Chúa sẽ chỉ cho tôi biết con đường sự sống, trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc, tại bên hữu Chúa có điều vui sướng mãi mãi” (Thi 16:11).
3. Những câu hỏi không có giải đáp (Tr 6:10-12)
Đến đây, Sa-lô-môn đã nói rằng cuộc đời là một con đường đến ngõ cụt đối với 2 hạng người: những người có của cải nhưng không có sự vui mừng và những người lao nhọc nhưng không có sự thỏa lòng.
Nhưng ông đã tìm cách chỉ ra rằng hạnh phúc thật không phải là kết quả tự động của việc tạo nên một cách sống tốt đẹp. Nếu bạn dành cuộc đời mình chỉ để đeo đuổi hạnh phúc, bạn sẽ khốn khổ. Tuy nhiên, nếu bạn dành cuộc đời mình để làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, bạn sẽ tìm thấy hạnh phúc.
Nhà viết tiểu-luận kiêm nhà-thơ người Anh Joseph Ađison (1672-1718) đã viết: “Những yếu tố cần thiết cao đẹp cho hạnh phúc trong đời này là việc gì đó để làm, ai đó để yêu và điêù gì đó để hy vọng”. Addison có lẽ đã không ngĩ đến Cơ-đốc giáo khi ông viết như thế, nhưng chúng ta có cả 3 điều đó trong Chúa Giê-xu Christ!
• Nhà Truyền-đạo chưa chấm dứt.
Ông biết rằng đời người cũng là một con đường đến ngõ cụt cho một hạng người thứ 3 người cần có những giải đáp cho mọi nghi vấn của đời sống. Sa-lô-môn không lên án sự chất vấn chân thật vì sách Truyền-đạo là sự ghi chép vê sự chất vấn của chính ông trong ý nghĩa của đời sống.
Đúng hơn, Sa-lô-môn nói: “Có một số câu hỏi về đời sống mà không ai có thể giải đáp. Nhưng sự ngu dốt của chúng ta không nên được sử dụng như một cớ cho sự hoài nghi hoặc sự vô tín. Trái lại, sự ngu dốt của chúng ta phải khích lệ chúng ta có đức tin nơi Đức Chúa Trời. Xét cho cùng, chúng ta không sống bởi những giải thích, chúng ta sống bởi những lời hứa”.
Chính từng trải của tôi trong chức vụ mục sư cho thấy hầu hết những giải thích không giải quyết được những vấn đề cá nhân hay khiến người ta cảm thấy dễ chịu hơn. Khi nhà vật lý học giải thích quang tuyến X cho một bệnh nhân, lời giải thích của ông không đem lại sự lành bệnh, dù chắc chắn đó là bước cần thiết cho sự hồi phục.
Ông Gióp hoạn nạn cứ lý luận với Đức Chúa Trời và đòi hỏi một sự giải thích cho cảnh ngộ của ông. Đức Chúa Trời không bao giờ trả lời những câu hỏi của ông, vì tri thức trong đầu không bảo đảm sự chữa lành cho tấm lòng. Điều đó chỉ đến khi chúng ta đặt đức tin nơi những lời hứa của Đức Chúa Trời.
• Không đi vào chi tiết lớn, trong những c.10-12.
Sa-lô-môn đề cập đến 5 câu hỏi mà con người thường đặt ra.
Vì “điều gì sắp đến sẽ đến”, tại sao nhọc lòng thực hiện những quyết định? Tất cả đã chẳng được định trước đó sao? “Phàm điều gì có trước thì đã được đặt tên từ lâu rồi, loài người sẽ ra thể nào thì đã được biêt trước rồi” (c.10a NIV). Đối với suy nghĩ của người Do-thái, đặt tên cho một sự vật gì giống như ấn định tính cách của nó và khẳng định sự việc đó thật sự ra sao. Suốt sự sáng tạo, Đức Chúa Trời đã đặt tên cho các vật Ngài tạo dựng, và không ai thay đổi được những sắp đặt đó. “Sự sáng” là “sự sáng”, chớ không phải “sự tối tăm”, “Ngày” là “ngày” chớ không phải “đêm” (Ês 5:20).
Tên của chúng ta là “loài người” A-đam, “từ đất” (Sa 2:7). Không ai có thể thay đổi sự thật, chúng ta đến từ đất và sẽ trở về đất (Sa 3:19). “Loài người” với bất cứ tên nào khác s ẽ vẫn là “loài người”, được tạo từ bụi đất và cuối cùng sẽ trở về cùng bụi đất.
Sự kiện Đức Chúa Trời đặt tên mọi vật không có nghĩa rằng thế giới của chúng ta là một nhà tù và chúng ta không có sự tự do hành động. Chắc chắn Đức Chúa Trời có thể thực hiện những mục đích thiêng liêng của Ngài mà không cần sự hợp tác của chúng ta, nhưng Ngài mời gọi chúng ta đồng công với Ngài.
Chúng ta hợp tác với Đức Chúa Trời khi chúng ta chấp nhận những tên gọi Ngài đã ban cho các sự vật: tội lỗi là tội lỗi, sự vâng lời là sự vâng lời, lẽ thật là lẽ thật. Nếu chúng ta thay đổi những tên gọi này, chúng ta sẽ đi vào một thế giới ảo tưởng và mất cảm giác với thực tế. Đây là nơi mà nhiều người ngày nay đang sống.
Chúng ta được tự do để quyết định và chọn lựa thế giới của mình, nhưng chúng ta không được tự do để thay đổi hậu quả. Nếu chúng ta chọn một thế giới ảo tưởng, chúng ta bắt đầu sống bằng những sự thay thế, và không thể có sự thỏa lòng trong một thế giới của những sự thay thế.
“Và đây là sự sống đời đời mà họ có thể biết Cha, Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Giê-xu Christ là Đấng Cha đã sai đến” (Gi 17:3 NASB).
“Chúng ta biết rằng Con Đức Chúa Trời đã đến, và đã ban cho chúng ta sự hiểu biết, đặng chúng ta biết Đấng Chân Thật và chúng ta ở trong Đấng Chân Thật, trong Con Ngài là Chúa Giê-xu. Ấy chính Ngài là Đức Chúa Trời Chân Thật và là sự sống đời đời” (IGi 5:20 NASB).
Tại sao không đồng ý với Đức Chúa Trời?
Chúng ta không thể chống đối Ngài và thắng hơn, phải không? “…người không thể cãi trả với Đấng mạnh hơn mình” (c.10b). Từ được dịch là “cãi trả” cũng có nghĩa là “tranh luận” Sa-lô-môn dường như nói: “không có lợi” khi lý luận với Đức Chúa Trời hay cãi trả với Đức Chúa Trời. Đây là cách mà đời sống vốn như vậy, vì thế chỉ nên chấp nhận nó và để Đức Chúa Trời sử dụng cách của Ngài. Bạn không thể thắng, và thậm chí nếu bạn thật nghĩ mình thắng, cuối cùng bạn sẽ thua?
Nhưng đây là một quan điểm tiêu cực về ý muốn của Đức Chúa Trời. Nó gây ấn tượng rằng ý muốn Đức Chúa Trời là một điều khó khăn và đau khổ mà phải được tránh né bất cứ giá nào. Chúa Giê-xu nói rằng ý muốn của Đức Chúa Trời là đồ ăn nuôi dưỡng và làm thỏa lòng Ngài (Gi 4:32-34). Đó là thịt, không phải thuốc.
Ý muốn Đức Chúa Trời xuất phát từ tấm lòng của Đức Chúa Trời và là một bày tỏ về tình yêu của Đức Chúa Trời (Thi 33:11). Điều gì Đức Chúa Trời muốn đối với chúng ta, là tốt nhất cho chúng ta vì Ngài biêt chúng ta nhiều hơn chúng ta biết bản thân mình.
Tại sao bất cứ ai cũng muốn làm theo “ý mình” chỉ vì đặc quyền thực hiện sự “tự do?” Khăng khăng theo ý riêng của chúng ta chẳng phải là sự tự do gì cả, đó là thứ ràng buộc tệ hại nhất. Thật ra, sự phán-xét khủng khiếp nhất mà chúng ta có thể trải qua trong đời này là để Đức Chúa Trời “lìa bỏ chúng ta” và để chúng ta theo ý riêng mình (Rô 1:24,26,28).
Đức Chúa Trời tự do hành động khi Ngài thấy tốt nhất. Ngài không phải là m ột tù nhân của những thuộc tính Ngài, sự sáng tạo của Ngài hay những mục đích đời đời của Ngài. Bạn và tôi có thể không hiểu cách Đức Chúa Trời thực hiện sự tự do của Ngài ra sao, nhưng không cần thiết để chúng ta biết cả.
Sự tự do lớn nhất của chúng ta đến khi chúng ta chìm đắm một cách ngọt ngào trong ý muốn của Đức Chúa Trời. Cha trên trời của chúng ta không cảm thấy bị đe dọa khi chúng ta chất vấn Ngài, tranh luận với Ngài, hay thậm chí vật lộn với Ngài, cho đến chừng chúng ta yêu mến ý chỉ của Ngài và muốn làm đẹp lòng Ngài.
Chúng ta thực hiện điều gì với mọi lời này?
Phải chăng việc nói về điều đó thì giải quyết được vấn đề? (c.11). Thật ra, có những lúc dường như chúng ta càng bàn luận 1 chủ đề, chúng ta càng thật sự hiểu nó ít hơn không phải lời nói lúc nào cũng đem lại sự sáng. Đôi lúc, chúng tạo ra những đám mây và thậm chí là sự tối tăm. “Càng nhiều lời, càng ít ý nghĩa” (c.11 NIV). Nhưng đây là điểm chúng ta cần Lời Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan mà chỉ mình Ngài mới có thể ban cho chúng ta. Nếu một số bàn luận có vẻ vô ích và tạo “hư không”, có những lúc khác khi cuộc nói chuyện dẫn chúng ta đến gần hơn với lẽ thật và với Chúa.
• Ai biết điều gì tốt cho chúng ta? (c.12).
Đức Chúa Trời biết! Và khôn ngoan thay cho người nào dành thời gian lắng nghe điều Đức Chúa Trời cần phán. Vâng, cuộc đời dường như phù du và hão huyền, như một bong bóng xà phòng (“trống rỗng”) hay như một cái bóng, nhưng “ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì cònlại đời đời” (IGi 2:17).
• Có phải ai cũng biết điều gì sắp đến? (c.12b).
Dù các nhà chiêm-tinh, các tiên-tri, và các thầy bói tuyên bố điều gì, không ai biết tương lai trừ Đức Chúa Trời. Thật vô ích để suy đoán. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta đủ thông tin để khích lệ chúng ta, nhưng Ngài không phục vụ cho tính tò mò vu vơ.
Một điều chắc chắn là, sự chết sắp đến, và chúng ta nên tận dụng hết mức những cơ hội hiện tại của mình. Đó là một trong những chủ đề chính của sách Truyền-đạo.
Sa-lô-môn đã bàn luận 2 lý lẽ của ông rằng đời người không đáng sống: Sự đơn điệu của đời người Tr 3:1-5:9) và sự vô ích về của cải (Tr 5:10-6:12). Ông khám phá rằng đời người “dưới mặt trời” thật sự có thể đơn điệu và rỗng tuếch, nhưng nó nhất thiết không phải vậy nếu chúng ta kể đến Đức Chúa Trời trong đời sống mình. Đời sống là sự ban cho của Đức Chúa Trời đối với chúng ta, và chúng ta phải chấp nhận điều Ngài ban cho mình và vui hưởng nó torng khi có thể (Tr 3:12-15,22; Tr 5:18-20).
Sa-lô-môn sẽ tiếp tục xét đến lý lẽ thứ 3 của ông, sự hư ảo của sự khôn ngoan loài người (Tr 7:1-8:17), và bàn luận sự khôn ngoan có thể khiến đời sống tốt hơn hay không. Dù sự khôn ngoan không thể giải thích mọi vấn đề hay giải đáp mọi câu hỏi, nhưng nó vẫn là một bạn đồng minh đáng giá trên hành trình của đời sống.
8. CÁCH ĐỂ TRỞ NÊN TỐT HƠN (Tr 7:1-29)
“Nơi đâu sự dốt nát là niềm vui sướng, thì sự ngu xuẩn là khôn ngoan” Thomas Gray đã viết những lời thường được trích ẫn đó trong bài thơ của ông “Thơ ca ngợi một triển vọng từ xa của Đại học Eton”. Ông mô tả các sinh viên trên sân bóng và trong lớp học, vui hưởng đời sống vì chúng chẳng ý thức những gì ở phía trước.
Ôi, mặc cho số phận của mình
Các nạn nhân bé nhỏ chơi đùa!
Chúng không có ý thức về những bất hạnh sắp đến;
Cũng không quan tâm vượt quá hôm nay.
Kết luận của ông thật hữu-lý: ở giai đoạn đó trong đời sống, tốt hơn là ngu dốt và hạnh phúc, vì sẽ có nhiều thời gian về sau để trải qua những buồn phiền mà tri-thức có thể đem lại.
Vả lại! Tại sao chúng phải biêt số phận mình?
Vì sự buồn phiền chẳng bao giờ đến quá trễ;
Và hạnh phúc vụt bay quá nhanh.
Sự suy nghĩ sẽ hủy diệt thiên đường của chúng;
Không hơn gì, nơi đâu sự dốt nát là niềm vui sướng.
Thì sự ngu xuẩn là khôn ngoan.
Sa-lô-môn đã đi đến một kết luận tương tự khi ông lý luận trong Tr 1:12-18 rằng sự khôn ngoan không khiến cho đời người đáng sống. Ông viết trong Tr 1:18 “Vì nhiều khôn ngoan là nhiều phiền não, và ai thêm tri thức ắt thêm đau đớn”.
Nhưng rồi vua có cái nhìn kế tiếp ở vấn đề này và thay đổi những quan điểm của ông.
Trong Tr 7:1-8:17 ông bàn luận tầm quan trọng của sự khôn ngoan trong đời sống (“sự khôn ngoan” được tìm thấy 14 lần trong 2 chương này) và ông giải đáp câu hỏi được đặt ra trong Tr 6:12 “Vì ai biêt điều gì là tốt cho loài người trong đời này”. Người Truyền-đạo kết luận rằng dù sự khôn ngoan không thể giải thích mọi bí ẩn của đời sống, nhưng nó có thể thực hiện ít nhất 3 sự đóng góp cho đời sống chúng ta.
1. Sự khôn ngoan có thể làm cho đời sống tốt hơn (Tr 7:1-10)