7. PHẢI CHĂNG ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN NGÕ CỤT? (Tr 6:1-12)
Thật...
...thú vị khi đọc những diễn đạt khác nhau mà người ta sử dụng để mô tả sự vô ích. Sa-lô-môn ví sánh sự vô ích của đời người với bong bóng xà phòng (“hư không của sự hư không”) và với “sự bắt gió”. Tôi đã đọc những nhận định như “Vô ích như tưới nước một cây cột”, “Vô ích như cày đá”, Vô ích như hát những bài hát “cho một con ngựa chết” (hay “hát 2 lần cho một người điếc”, “Vô ích như nghiền nước bằng một cối giã” (hay “lấy nước trong một cái sàng”).
Trong bài thơ “The Task” (nhiệm vụ) của mình, tác-giả thánh ca William Cowper (“There is a fountain” có một suối nước) đã diễn tả sự vô ích như vầy:
-Công khó nhọc đổ những xô nước vào các giếng cạn.
-Và trở về già chẳng múc được gì.
Nếu Cowper còn sống hôm nay, ông có thể nhìn xem “xã hội xe ô-tô” của chúng ta và viết:
-Vô ích như người mù lái xe.
-Đi xuống những ngõ cụt đông đúc.
Phải chăng đời là một con đường đến ngõ cụt?
Đôi lúc nó dường như thế, đặc biệt khi chúng ta không đạt đến những mục tiêu của mình hay khi chúng ta đạt được mục tiêu mình nhưng không cảm thấy đủ trong thành tích của mình.
Hơn một người trong Kinh Thánh đã trở nên quá chán nản cuộc sống đến nỗi muốn chết hoặc mong mình chưa từng được sinh ra. Điều này kể đến Môi-se (Dân 11:15), Ê-li (IVua 19:14), Gióp (Giop 3:21; Giop 7:15), Giê-rê-mi (Giê 8:3; Giê 15:10) và Giô-na (Gion 4:3). Ngay cả sứ-đồ cao trọng Phao-lô cũng mất hy vọng về sự sống suốt một thời gian đặc biệt gay go trong cuộc đời của ông (IICôr 1:8-11).
Có lẽ vấn đề cơ bản là đời sống khiến chúng ta đối diện với quá nhiều bối rối mà chúng ta không thể hiểu được và quá nhiêu bối rối chúng ta không thể giải quyết. Để đời sống thật sự đem lại thỏa mãn, nó phải có ý nghĩa, khi nó không có ý nghĩa, chúng ta trở nên thất vọng. Nếu người ta không thể hiểu một mục đích nào đó trong đời sống, đặc biệt khi họ trải qua đau khổ sâu sắc, họ bắt đầu nghi ngờ Đức Chúa Trời và thậm chí không biết cuộc đời có đáng giá hay không.
Trong Tr 6:1-12 Sa-lô-môn bàn luận 3 vấn đề trong những bí ẩn của đời người: Sự giàu có mà không niềm vui mừng (c.1-6), sự lao khổ mà không có sự thỏa lòng (c.7-9) và những câu hỏi mà không có giải đáp (c.10-12).
1. Sự giàu có mà không niềm vui mừng (Tr 6:1-6)
Thật có vẻ như một bi kịch khi có mọi nguồn lực cho một đời thỏa lòng nhưng không thể hưởng được chúng vì lý do này hay lý do khác. Hơn một người đã làm việc cực nhọc và trông chờ một sự về hưu dễ chịu chỉ để bị đau tim hay trở thành một người bệnh tật hoặc một hạng mục thống kê. Hay có thể sự bình an của cuộc nghỉ hưu bị tiêu tan bởi một khủng hoảng trong gia đình bắt đầu rút cạn tiền bạc lẫn sức khỏe. Vì sao những điều này xảy ra?
Sa-lô-môn đề cập chủ đề này trong Tr 5:19 và ngụ ý về nó trong Tr 3:13. Đối với ông, đó là một nguyên tắc cơ bản mà không ai thực sự có thể vui hưởng những sự ban cho của Đức Chúa Trời khi xa cách Đức Chúa Trời là Đấng ban cho những món quà ấy.
Hưởng thụ những sự ban cho mà không có Đấng ban cho, là sự thờ thần tượng, và điều này không bao giờ có thể thỏa mãn lòng người. Sự hưởng thụ mà không có Đức Chúa Trời là sự phong phú và nó đem lại niềm vui mừng cùng sự thỏa lòng thật.
Câu 2 có thể mô tả một tình trạng giả thuyết, hay nó có thể xảy ra với ai đó mà Sa-lô-môn biết. Sự kiện Đức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn, của cải, sự giàu sang và vinh dự (IISu 1:11) khiến cho sự ghi chép này thậm chí có ý nghĩa hơn đối với ông. Thật may mắn cho một người không thiếu gì cả, nhưng khốn khổ thay cho người ấy nếu người ấy không thể hưởng những phước hạnh của đời sống.
Điều gì ngăn cản người này? biết khi nào người ấy sẽ chết. Khi người ấy cuối cùng đã chết, những bà con còn sống của hưởng thụ cuộc s ống? Có lẽ sự rắc rối trong gia đình (Ch 15:16-17; Ch 17:1), hoặc bệnh hoạn, hoặc sự chết (Lu 12:20). Người được mô tả trong c.2 không có người thừa kế, vì vậy một người lạ thâu tóm của cải và hưởng nó. Tất cả dường như quá vô ích.
Sa-lô-môn đang nói gì với chúng ta?
“Hãy vui hưởng những phước hạnh của Đức Chúa Trời, bây giờ và cảm tạ Ngài về mọi điều gì Ngài ban cho bạn và sử dụng nó tất cả vì vinh hiển Ngài.”
Câu 3-6 chắc chắn đề cập đến một trường hợp giả thuyết, vì không ai sống đến 2.000 năm, và không mọi hôn nhân 1 chồng 1 vợ nào có thể sinh sản 100 con. (Con trai của Sa-lô-môn là Rô-bô-am có 88 người con, nhưng ông có 18 vợ và 60 cung phi. Cha nào, con nấy. (Tr 11:21).
Người Truyền-đạo rõ ràng thổi phồng ở đây để tạo quan điểm của ông: cho dù bạn có bao nhiêu, nếu bạn không có năng lực để hưởng nó, bạn có thể giống như chưa bao giờ sanh ra.
Đây là một người có những tiềm lực dư dật và một gia đình đông đúc, 2 điều này đối với một người Do-thái thời Cựu-ước là những dấu hiệu về đặc ân của Đức Chúa Trời. Nhưng gia đình người ấy không yêu mến người, vì khi người chết, người không được than khóc. Đó là ý nghĩa của câu “người chết chẳng được chôn” (Giê 22:18-19). Bà con của người ấy ở xung quanh người ấy chỉ để sử dụng tiền bạc của người (Giê 5:11) và họ thắc mắc chẳng người ấy hầu như không thể chờ đợi việc đọc di chúc.
• Người giàu này thật sự nghèo nàn.
Ví lý do nào đó, có lẽ bệnh hoạn, người không thể hưởng thụ tiền bạc của mình. Và người không thể vui hưởng gia đình đông đúc của mình vì chẳng có tình yêu trong gia đình. Họ thậm chí không khóc khi người chết. Kết luận của Sa-lô-môn là người này tốt hơn chưa bao giờ sinh ra hoặc bị sảo thai (Giop 3:1-26).
Giữa vòng dân Do-thái thời bấy giờ, một đứa trẻ bị sảo thai luôn không được đặt tên. Như vậy, nó sẽ không được nhớ đến. Người ta có cảm giác rằng điều này an ủi cha mẹ mau quên nỗi buồn rầu của họ.
“Đứa con sảo ra hư không, ra đi trong sự tối tăm, và tên của nó bị vùi lấy trong sự tối tăm” (c.4 NIV).
Trong chức vụ mục sư của tôi, những cha mẹ và ông bà có lòng tan vỡ đôi lúc đã hỏi: “Vì sao Đức Chúa Trời lại cho phép đứa trẻ này được hoài thai nếu nó sẽ không sống?” Sa-lô-môn đã hỏi: “Vì sao Đức Chúa Trời cho phép người này có của cải và một gia đình lớn nếu người không thể hưởng được điều đó?”
Một số người sẽ lý luận rằng sự tồn tại đó tốt hơn sự không tồn tại và một đời sống khó khăn tốt hơn là không có đời sống vào cả.
Sa-lô-môn có thể đồng ý với họ, vì “con chó sống tốt hơn con sư tử chết” (Tr 9:4). Nhưng vấn đề Sa-lô-môn đối diện không phải là sự tồn tại liệu tốt hơn sự không tồn tại hay không, nhưng là vấn đề liệu có mục đích nào đó phía sau toàn bộ kế hoạch dường như bất quân bình của những sự việc hay không. Khi ông xem xét đời người“dưới mặt trời” ông không thể tìm được lý do vì sao một người phải được ban cho của cải nhưng bị tước đi năng lực hưởng thụ chúng.
Khả năng vui hưởng đời sống xuất phát từ bên trong. Đó là vấn đề về tính cách chớ không phải hoàn cảnh. Phao-lô đã viết cho những người Phi-líp rằng: “Tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy” (Tr 4:11). Từ Hy-lạp “autarkes” được dịch là “thỏa lòng” mang ý nghĩa “tự kiềm chế, đầy đủ, không cần gì từ bên ngoài”.
Phao-lô đã mang bên trong mọi tiềm lực cần thiết để dối diện với đời sống một cách dạn dĩ và chiến thắng những khó khăn. “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng Christ ban sức cho tôi” (Phi 4:13 NKJV).
Người 2.000 tuổi và đứa trẻ sảo thai, đều kết thúc ở cùng mộ nơi - phần mộ. Một lần nữa, người Truyền-đạo đối diện với thính-giả của ông bằng tính chắc chắn của sự chết và sự vô ích của đời sống không có Đức Chúa Trời. Ông chuẩn bị cho họ về “kết luận của vấn đề” khi ông tóm lược bài giảng và khích lệ họ tin cậy Đức Chúa Trời (Tr 11:9-12:14).
2. Sự lao khổ mà không có sự thỏa lòng (Tr 6:7-9)
Sa-lô-môn đã nói về người giàu, giờ đây ông bàn luận hoàn cảnh của người nghèo. Người giàu và người nghèo đều lao động để sống. Chúng ta phải tạo ra thực phẩm và kiếm tiền để mua nó. Người giàu có thể khiến tiền bạc làm việc cho mình. Nhưng người nghèo phải sử dụng cơ bắp nếu người ấy và gia đình người ấy muốn ăn. Nhưng thậm chí sau mọi công lao động này, chẳng có sự ngon miệng của người nào được thỏa mãn đầy đủ.
Tại sao một người ăn? Hầu cho người ấy có thể thêm những năm cho đời mình. Nhưng có gì tốt cho tôi để thêm những năm vào đời mình nếu tôi không thêm cuộc đời vào những năm của tôi? Tôi giống như loài chim mà tôi quan sát ở sân sau. Chúng trải qua những giờ thức giấc để kiếm thức ăn hoặc trốn tránh kẻ thù. Những con chim này thật sự không sống, chúng chỉ đang tồn tại. nhưng chúng đang thực hiện những mục đích mà bởi đó Đấng Tạo Hóa dựng nên chúng và chúng thậm chí hót lên điều đó!
Sa-lô-môn không gợi ý rằng làm việc hay ăn uống là điều sai. Nhiều người vui mừng làm 2 việc đó. Nhưng nếu đời s ống chỉ bao gồm làm việc và ăn uống, vậy chúng ta đang bị điều khiển bởi sự ngon miệng và điều đó gần như đặt chúng ta ngang hàng loài vật. Nói về thiên nhiên, tự sinh tồn có thể là luật đầu tiên của sự sống, nhưng chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, phải sống cho điều gì đó cao hơn (Gi 12:20-28). Tuy sự sáng tạo mới (IICôr 5:17), tự sinh tồn có thể là luật đầu tiên của sự chết (Mac 8:34-38).
Hai câu hỏi trong c.8 đều được trả lời “không!”
Nếu tất cả những gì bạn làm là sống để làm thỏa mãn sự ngon miệng của mình, vậy người khôn ngoan chẳng có lợi thế gì hơn kẻ ngu muội, người nghèo cũng không có lợi gì khi tìm cách làm cho hoàn cảnh mình khá hơn và học cách thân thiện với người giàu. Sa-lô-môn không xem thường sự học vấn hay sự tự tiến bộ. Ông chỉ nói rằng những điều này tự chúng không thể khiến cho đời sống giàu hơn. Chúng ta phải có điều gì đó cao trọng hơn để sống vì nó.
Cách đây 1 thế kỷ, khi nước Mỹ bắt đầu trải qua sự thịnh vượng và phát triển, nhà tự-nhiên học người Mỹ Henry David Thoreau đã cảnh cáo rằng con người đang sáng chế ra “phương tiện cải tiến cho mục đích không cải tiến”. Ông đã thấy thế giới chúng ta ngày nay. Chúng ta có thể gởi tin tức đi khắp thế giới trong vài giây, nhưng chúng ta có điều gì quan trọng để nói?
Chúng ta có thể chuyển đi những hình ảnh thậm chí từ mặt trăng, nhưng màn hình TV của chúng ta bị ô nhiễm bởi bạo lực, tình dục, quảng cáo rẻ tiền, và thậm chí thú giải trí rẻ tiền hơn.
Câu 9 là sự dịch giải của Sa-lô-môn về câu tục ngữ quen thuộc: “Có 1 con chim ở trong tay đáng giá như 2 con chim ở bụi cây”. Sa-lô-môn nói: “Thà có một chút và thật sự hưởng có hơn là mơ nhiều và chẳng bao giờ đạt được”. Những điều mơ tưởng có một cách để trở thành những ác mộng nếu chúng ta không đạt đến những hiểu biết bằng thực tế.
Phải chăng Sa-lô-môn cho chúng ta biết rằng mơ những giấc mơ lớn hay có 1 hoài bão mãnh liệt muốn thực hiện điều gì đó trong cuộc sống là sai lầm? Dĩ nhiên là không, nhưng chúng ta phải cẩn thận để hoài bão của chúng ta được thôi thúc bởi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chớ không phải đề cao bản thân.
Nếu chúng ta nghĩ những thành tích của mình sẽ tự động đem lại sự thỏa lòng, thì chúng ta sai lầm. Sự thỏa lòng thật đến khi chúng ta làm theo ý muốn Đức Chúa Trời từ tấm lòng (Êph 6:6). Chúa Giê-xu phán: “Đồ ăn của ta, tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài” (Gi 4:31 NASB).
Vâng, trong ý muốn của Đức Chúa Trời có thể có của cải với sự vui hưởng và công lao động với sự thỏa lòng. Nhưng chúng ta phải chấp nhận kế hoạch của Đức Chúa Trời cho đời sống mình, nhận lấy những sự ban cho của Ngài cách biết ơn, và vui hưởng từng ngày như Ngài có thể giúp chúng ta. “Chúa sẽ chỉ cho tôi biết con đường sự sống, trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc, tại bên hữu Chúa có điều vui sướng mãi mãi”