...là một điều khó hiểu được bao bọc trong một bí mật bên trong một người khó hiểu”. Trong một bài diễn thuyết phát thanh ngày 1/10/1939, đó là cách ông Winston Churchill mô tả những hành động của người Nga trong thời của ông. Nhưng điều ông nói về những hành động của người Nga có thể được áp dụng cho Sam-sôn, vị quan xét cuối cùng, vì cách cư xử của ông là “một điều khó hiểu được bao bọc trong một bí mật bên trong một người khó hiểu.”
Sam-sôn thuộc dạng không thể đoán trước được và không thể tin cậy được vì ông phân tâm, và “một người phân tâm không ổn định trong mọi việc của mình” (Gia 1:8). Người ta thường nói rằng “khả năng lớn nhất là tính có thể tin cậy được” và bạn có thể tin cậy nơi Sam-sôn để không thể trông mong gì được.
Can đảm trước những người đàn ông, Sam-sôn đã yếu đuối trước những người đàn bà và không thể cưỡng lại việc cho họ biết những bí mật của mình. Được Thánh Linh Đức Chúa Trời ban năng lực, ông đã nộp thân thể mình cho những tham muốn của thể xác. Được kêu gọi để tuyên chiến với dân Phi-li-tin, ông đã kết thân với kẻ thù và thậm chí tìm cách cưới một người nữ Phi-li-tin. Ông tham gia những cuộc chiến của Chúa ban ngày, và bất tuân những điều răn của Chúa ban đêm. Được đặt cho cái tên Sam-sôn, có nghĩa là “nắng”, ông đã kết thúc trong sự tối tăm, bị làm mù lòa bởi chính kẻ thù mà ông tưởng đã chinh phục.
Bốn chương trong sách Các Quan-xét được dành cho lịch sử về Sam-sôn. Trong Cac 13:14 chúng ta được giới thiệu về “nắng” và cha mẹ ông, và chúng ta thấy ánh sáng lung linh khi Sam-sôn đùa với tội lỗi. Trong Các 15:16 ánh sáng tắt và Sam-sôn chết như một người t ử đạo dưới sự đổ nát của một đền thờ ngoại đạo, một kết thúc đáng buồn đối với một đời sống đầy hứa hẹn (1).
Chúng ta hãy mở album gia đình của Sam-sôn và nghiên cứu ba bức tranh của Sam-sôn được chụp đầu tiên trong sự nghiệp của ông.
1. Đứa trẻ với lời hứa khó tin (Cac 13:1-23)
Hãy xem xét lời hứa lớn lao được bao bọc trong con người tên Sam-sôn này.
• Ông có một dân tộc để bảo vệ (Cac 13:1).
Với sự đều đặn tẻ nhạt mà chúng ta đã đọc nhóm từ này trong sách Các quan xét (Cac 3:7,12;4:1-2;6:1;10:6-7), và ở đây nó xuất hiện lần cuối. Nó giới thiệu thời kỳ áp bức dài nhất mà Đức Chúa Trời giáng cho dân sự Ngài, 40 năm thống trị của dân Phi-li-tin.
Dân Phi-li-tin (2) ở giữa vòng “dân biển” là những người trong thế kỷ thứ 12 TC đã di trú từ một vùng của Hy-lạp đến đồng bằng ven biển của Ca-na-an. Dân Do-thái đã không thể chiếm địa phận đó suốt cuộc chinh phạt xứ của họ (Gios 13:1-2). Khi bạn nghiên cứu bản đồ, bạn sẽ để ý rằng đời sống dân tộc tập trung quanh năm thành chính: Ách-đốt, Ga-xa, Ách-kê-lôn, Gít, và Éc-rôn (ISa 6:17). Xứ giữa vùng đồi của Y-sơ-ra-ên và đồng bằng ven biển được gọi là “Shephelah”, nghĩa là “vùng thấp”, và nó phân cách Phi-li-tin với Y-sơ-ra-ên. Sam-sôn được sinh ra ở Xô-rê-a, một thành hay chi phái Đan gần biên giới Phi-li-tin, và ông thường vượt biên giới đó để hầu việc Đức Chúa Trời hoặc để thỏa mãn những khao khát của mình.
Sam-sôn xét đoán Y-sơ-ra-ên “trong thời kỳ dân Phi-li-tin” (Cac 15:20) nghĩa là hai mươi năm trong chức vụ của ông là suốt bốn mươi năm thống trị của Phi-li-tin. Tấn sĩ Leon Wood ghi niên hiệu khởi đầu sự áp bức của Phi-li-tin khoảng năm 1095 TC và kết thúc vào năm 1055 TC với chiến thắng của Y-sơ-ra-ên tại Mích-ba (ISa 7:1-17). Khoảng giữa thời kỳ này xảy ra cuộc chiến A-phéc khi Y-sơ-ra-ên bị dân Phi-li-tin đánh bại một cách nhục nhã và mất hòm giao ước cùng ba thầy tế lễ (ISa 4:22). Tiến sĩ Wood gợi ý rằng chức quan xét của Sam-sôn bắt đầu khoảng thời gian bi kịch tại A-phéc và công việc chính của ông là quấy rầy dân Phi-li-tin và ngăn trở họ tràn vào xứ thành công và đi dọa dân sự (3).
Đáng chú ý rằng không có chứng cớ nào được trình bày trong bản văn cho thấy Y-sơ-ra-ên đã kêu cầu Đức Chúa Trời về sự giải cứu bất cứ lúc nào suốt 40 năm thống trị của Phi-li-tin. Dân Phi-li-tin đã lột vũ khí của dân Do-thái (ISa 13:19-23) và vì vậy chẳng sợ gì về một cuộc nổi dậy. Cac 15:9-13 cho thấy rằng dân Do-thái rõ ràng bằng lòng với số phận của họ và không muốn Sam-sôn “lắc lư chiếc thuyền”. Thật đáng sợ cách chúng ta có thể nhanh chóng quen với ách nô lệ và biết cách chấp nhận hiện trạng. Nếu dân Phi-li-tin hà khắc hơn đối với dân Do-thái, có lẽ dân Do-thái sẽ cầu xin Đức Giê-hô-va giúp đỡ.
Không giống đa số các quan xét trước, Sam-sôn đã không giải cứu dân sự ông khỏi sự thống trị ngoại bang nhưng ông bắt đầu công việc giải cứu mà những người khác sẽ hoàn thành (Cac 13:5). Là một anh hùng mạnh mẽ và không thể đoán trước được, Sam-sôn đã làm sợ hãi và gây rối cho dân Phi-li-tin (Cac 16:24) và ngăn trở họ tàn phá Y-sơ-ra-ên như những quốc gia xâm lược khác đã làm. Nhưng sẽ cần những lời cầu nguyện của Sa-mu-ên (ISa 7:1-17) và những cuộc chinh phạt của Đa-vít (IISa 5:17-25) để hoàn thành công việc mà Sam-sôn đã bắt đầu và cho Y-sơ-ra-ên chiến thắng hoàn toàn trên dân Phi-li-tin.
• Ông có một Đức Chúa Trời để hầu việc (Cac 13:2-5).
Chi phái Đan vốn là xứ được phân định gần kề Giu-đa và Bên-gia-min, kéo dài đến Biển Địa Trung Hải (Gios 19:40-48). Tuy nhiên, vì dân Đan không thể đuổi cư dân ven biển được, nên chi phái này đã đặt lại vị trí mới và đi đến phía Bắc (Cac 18:1-19:30), dù một số người ở lại trong địa phương ban đầu. Xô-rê-a cách Giê-ru-sa-lem khoảng mười lăm dặm ở trong vùng đồi gần biên giới Phi-li-tin.
Khi Đức Chúa Trời muốn làm điều gì thật sự lớn lao trong thế giới của Ngài, Ngài không sai một đạo quân ngoài một thiên sứ. Thiên sứ này thường thăm viếng một cặp vợ chồng và hứa ban cho họ một đứa con. Kế hoạch lớn lao của Ngài về sự cứu rỗi đã bắt đầu tiến hành khi Ngài gọi Áp-ra-ham Sa-ra và ban cho họ Y-sác. Khi Ngài muốn giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ của dân Ê-díp-tô, Đức Chúa Trời đã ban em bé Môi-se cho Am-ram với Giô-kê-bết (Xu 6:20) và khi trong những năm sau đó Y-sơ-ra-ên hết sức cần sự phục hưng. Đức Chúa Trời đã ban em bé Sa-mu-ên cho An-ne (ISa 1:1-28). Khi thời điểm trọn đã đến, Đức Chúa Trời đã ban Hài nhi Giê-xu cho Ma-ri, và em bé đó đã lớn lên để chịu chết trên thập tự giá vì tội lỗi của thế gian.
Những em bé vốn yếu ớt, nhưng Đức Chúa Trời sử dụng những sự yếu của thế gian để đánh bại sự mạnh mẽ (ICo 1:26-28). Những em bé phải có thời gian để lớn lên, nhưng Đức Chúa Trời kiên nhẫn và không bao giờ chậm trễ trong việc thực hiện ý muốn Ngài. Mỗi em bé Đức Chúa Trời ban là món quà từ Đức Chúa Trời, một khởi đầu mới và mang theo nó tiềm năng to lớn. Thật là một bi kịch khi chúng ta sống trong một xã hội xem em bé trong tương lai như một mối đe dọa thay vì một phép lạ, một kẻ xâm phạm thay vì một di sản.
Chúng ta có mọi lý do để tin “thiên sứ của Đức Giê-hô-va” Đấng thăm viếng vợ của Ma-nô-a là Chúa Giê-xu Christ, Con Đức Chúa Trời (Sa 22:1-18; 31:11-13; Xu 3:1-6; Cac 6:11-24). Giống như Sa-ra (Sa 18:9-15), An-ne (ISa 1:1-28) và Ê-li-sa-bét (Lu 1:5-25), vợ của Ma-nô-a son sẻ và chưa bao giờ mong có một đứa con. Vì chính người mẹ là người sẽ có ảnh hưởng lớn nhất trên đứa con, cả trước và sau khi ra đời, nên thiên sứ long trọng giao cho bà điều phải làm.
Giống như Giăng Báp-tít, Sam-sôn sẽ là một Na-xi-rê từ trong lòng mẹ (Lu 1:13-15). Từ Na-xi-rê đến từ một từ Hê-bơ-rơ có nghĩa là “biệt riêng hiến dâng”. Nhưng Na-xi-rê là người trong một khoảng thời gian nhất định nào đó, dâng mình cho Chúa một cách đặc biệt. Họ kiêng uống rượu và các thứ uống mạnh, họ tránh chạm đến xác chết, và như một dấu hiệu của sự dâng mình, họ để tóc dài. Những luật có liên quan đến lời thề nguyện Na-xi-rê được trình bày trong Dân-số ký.
Vợ của Ma-nô-a phải thận trọng vật gì bà ăn và uống vì chế độ ăn uống của bà sẽ ảnh hưởng đến đứa con trai Na-xi-rê tương lai của bà và có thể làm ô uế đứa con ấy. Thật quá tệ khi mọi người mẹ tương lai không thực hành lời cảnh cáo. Vì trong những năm gần đây, phương tiện truyền tin cho chúng ta biết về những hậu quả đáng buồn rằng các trẻ sơ sinh chịu khổ khi mẹ chúng sử dụng thuốc lá, rượu, thuốc ngủ suốt thai kỳ. Lời thề nguyện Na-xi-rê của Sam-sôn không phải là điều gì đó do ông tự nguyện thực hiện: Đức Chúa Trời đã ban điều đó cho ông, và mẹ ông là một phần của của lời thề nguyện về sự dâng hiến. Bà không chỉ phải tránh bất cứ thứ gì liên quan đến nho, mà bà còn phải tránh những thức ăn không tinh sạch đối với dân Do-thái (Le 11:1-47; Phuc 14:3-20).
Thông thường, một lời thề nguyện Na-xi-rê được dành cho một khoảng thời gian giới hạn, nhưng trong trường hợp của Sam-sôn, lời thề nguyện phải kéo dài trọn đời ông (Cac 13:7). Đây là điều mà Ma-nô-a và vợ ông sẽ phải dạy cho con trai họ, và họ cũng sẽ phải giải thích vì sao họ không cắt tóc con trai mình. Những yêu cầu của Đức Chúa Trời là dành cho đứa trẻ này, và đó là bổn phận của cha mẹ để rèn luyện đứa trẻ cho công việc Đức Chúa Trời đã sai đứa trẻ ấy làm.
• Ông có một gia đình để tôn trọng (Cac 13:6-23).
Vợ của Ma-nô-a lập tức cho chồng bà biết về sự viếng thăm và sứ điệp của vị khách lạ, dù không ai trong số họ biết rằng vị khách ấy là Chúa (c. 16). Ma-nô-a cho rằng vị ấy là “một người của Đức Chúa Trời”, có lẽ một tiên tri đến thăm viếng và ông cầu nguyện để Chúa sẽ sai người ấy trở lại, chúng ta không khỏi có ấn tượng với sự tận tụy của vợ chồng này đối với nhau và đối với Chúa. Thời kỳ các quan-xét là một thời kỳ về sự bỏ đạo và tình trạng vô chính phủ, nhưng Đức Chúa Trời vẫn hành động qua họ.
Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện của Ma-nô-a và cho ông một cơ hội để đặt một câu hỏi quan trọng mà thiên sứ của Chúa chưa bao giờ trả lời: “Khi nào những lời của ông được ứng nghiệm, đâu là luật lệ cho đời sống và công việc của đứa trẻ?” (c. 12 NIV). Luật Cựu-ước không chỉ trình bày những chỉ dẫn có liên quan đến người Na-xi-rê cùng thức ăn tinh sạch và không tinh sạch, mà còn cho các cha mẹ biết cách nuôi dạy con cái (Phuc 6:1-25). Không cần thiết để Chúa trình bày cho Ma-nô-a và vợ ông những chỉ dẫn khi Lời của Đức chúa Trời đã cho họ biết điều gì phải làm. Vị sứ giả chỉ lặp lại lời cảnh báo mà người đã ban cho vợ của Ma-nô-a.
Muốn làm một chủ nhà tốt và đáng cảm kích, Ma-nô-a yêu cầu vị khách chờ đợi trong lúc ông và vợ ông chuẩn bị một bữa ăn cho người (Cac 6:18-19; Sa 18:1-8). Lời đáp khó hiểu của vị khách lạ đó là người sẽ không ăn thức ăn của họ nhưng sẽ cho phép họ dâng một của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. Xét cho cùng, đứa con trai được hứa ban của họ là một món quà từ Đức Chúa Trời, và họ nợ Chúa sự thờ phượng cùng sự tạ ơn.
Nhưng Ma-nô-a tự nhủ, “nếu ta không thể tôn trọng người này của Đức Chúa Trời bây giờ có lẽ ta có thể làm điều đó trong tương lai khi những lời của người trở thành sự thật và đứa con trai được sinh ra” (Chú ý ràng Ma-nô-a tin lời rao báo và nói rằng “khi” chớ không phải “nếu”). Ma-nô-a sẽ phải biết tên của người ấy, để ông có thể tìm đến người sau chín tháng, nhưng người ấy không muốn cho biết tên mình ngoại trừ nói rằng tên ấy “diệu kỳ” (Sa 32:29). Đây chính là lời được dùng để định danh Đấng Mê-si-a trong Es 9:6 nó được dịch là “diệu kỳ” trong Cac 13:19 của KIV, (NIV nói; “sự gây kinh ngạc”).
Thông thường, những người Do-thái thờ phượng đem của lễ họ đến bàn thờ đền tạm ở Si-lô, nhưng vì “người Đức Chúa Trời” ra lệnh cho Ma-nô-a dâng của lễ thiêu, nên làm việc ấy tại đó có thể được cho phép, bằng cách dùng một hòn đá làm bàn thờ. Bất ngờ, vị khách thăng thiên trong ngọn lửa! Chỉ khi ấy Ma-nô-a và vợ ông mới khám phá rằng vị khách của họ là một thiên sứ từ Đức Giê-hô-va. Điều này khiến Ma-nô-a hoảng sợ, vì dân Do-thái tin rằng không ai có thể nhìn lên Đức Chúa Trời và sống (Cac 6:19-23). Sử dụng ý thức thông thường, vợ của Ma-nô-a thuyết phục ông tin rằng họ không thể chết và thực hiện những lời hứa của Đức Chúa Trời cùng một lúc.
Mọi đứa trẻ sinh ra trong một gia đình tin kính đều mang trách nhiệm tôn trọng thanh danh của gia đình. Đời sống mâu thuẫn của Sam-sôn đã đem đến sự nhục nhã cho nhà cha ông cũng như nó đã đem đến sự sỉ nhục cho danh của Chúa. Những người bà con của Sam-sôn đã phải kéo xác ông ra khỏi đống đổ nát của đền thờ Phi-li-tin và đem xác về nhà để chôn cất (Cac 16:31). Theo một ý nghĩa nào đó, đó là một ngày chiến thắng trên những kẻ thù của Đức Chúa Trời, nhưng đó cũng là một ngày thất bại đối với gia đình của Sam-sôn.
2. Nhà vô địch với sức mạnh không thể đánh bại (Cac 13:24-25)
Đứa bé đã ra đời và được đặt tên là Sam-sôn, nghĩa là “nắng” hay “sự rực rỡ”. Chắc chắn ông đã đem đến ánh sáng và niềm vui cho Ma-nô-a cùng vợ ông, những người nghĩ họ sẽ không bao giờ có một gia đình, và ông cũng bắt đầu đem đến ánh sáng cho Y-sơ-ra-ên suốt những ngày tối tăm trong sự áp bức của Phi-li-tin. Trong khi những quan xét khác được nói rằng họ được mặc bởi Thần của Đức Chúa Trời (Cac 3:10;6:34;11:29), chỉ Sam-sôn được nói rằng “Đức Giê-hô-va ban phước cho người” (Cac 13:24; Lu 1:80 2:52). Bàn tay Đức Chúa Trời ở trên ông cách đặc biệt.
Bí mật về sức mạnh to lớn của Sam-sôn là lời thề nguyện Na-xi-rê của ông, được tượng trưng bằng tóc không cạo của ông (Cac 16:17) và nguồn sức mạnh đó là Thánh Linh của Đức Chúa Trời (Cac 13:25;14:6, 19;15:14). Chúng ta không được cho biết rằng cơ thể của Sam-sôn đặc biệt khác với cơ thể của người khác, dù ông có thể giống những người mạnh mẽ được mô tả trong các sách chuyện Kinh Thánh. Có lẽ khi ông bước vào những năm thiếu niên, lúc một đứa con trai Do-thái trở thành một “con trai của luật pháp”, thì ông bắt đầu bày tỏ khả năng đáng kinh ngạc của mình.
Chỉ một ít đại công của Sam-sôn được ghi lại trong sách Các Quan-xét: giết sư tử bằng tay không (Cac 14:5-6), giết ba mươi người Phi-li-tin (c. 19), bắt ba trăm con cáo (hoặc chó rừng) và cột đuốc vào đuôi chúng (Cac 15:3-5) bứt dây trói (Cac 15:14;16:9,12,14), giết một ngàn người bằng hàm lừa (Cac 15:15), đem cửa thành ra khỏi Ga-xa (Cac 16:3), và phá hủy đền thờ Phi-li-tin (c. 30). Cac 16:24 cho thấy ông đã thực hiện nhiều chiến công hơn những chiến công được liệt kê ở trên, những chiến công đã gây thiệt hại cho dân Phi-li-tin.
Khi bạn suy gẫm sự ghi chép về cuộc đời của Sam-sôn, bạn có cảm tưởng rằng ông là một chàng trai trích đùa với một tính hài hước, và đôi khi ông không xem trọng những tài năng và công việc của mình. Một tính hài hước là một điều tốt đẹp để có, nhưng nó phải được quân bình với sự tận tụy nghiêm túc cho những điều thuộc về Chúa. “Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách kính sợ, và mừng rỡ cách run rẩy” (Thi 2:11). Sứ mạnh của Sam-sôn là một vũ khí để chiến đấu và là một công cụ để xây dựng, không phải là một món đồ chơi để chơi.
Hãy để ý một điều nữa, Sam-sôn là một người cô đơn, không giống các quan xét trước, ông không bao giờ “tập hợp quân” và tìm cách hiệp nhất Y-sơ-ra-ên trong việc ném bỏ ách của Phi-li-tin. Trong hai mươi năm ông đóng vai trò người vô địch, nhưng ông đã không đóng vai người lãnh đạo. Joseph Parker đã nói rằng Sam-sôn là “một con voi về sức mạnh nhưng là một em bé về sự yếu đuối”. Chúng ta có thể thêm vào rằng khi nói về chức lãnh đạo, ông là một con chiên lạc mất!
3. Người có tính cách không thể tin cậy (Cac 14:1-20)
Theo He 11:32 Sam-sôn là một người có đức tin, nhưng ông chắc chắn không phải là một người trung tín. Ông không trung tín với sự dạy dỗ của cha mẹ ông, với lời thề nguyện Na-xi-rê, hay những luật lệ của Chúa, không mất thời gian lây để Sam-sôn đánh mất mọi sự Chúa đã ban cho ông, ngoại trừ sức mạnh to lớn của ông, và cuối cùng ông cũng mất sức mạnh đó.
Ông đánh mất sự tôn trọng của mình đối với cha mẹ (Cac 14:1-4). Chúa đã ban cho Sam-sôn một di sản tin kính, và ông đã được dạy dỗ để tôn trọng Chúa, nhưng khi Sam-sôn rơi vào tình yêu, ông không muốn nghe cha mẹ mình khi họ cảnh cáo ông. Sam-sôn đã lang thang bốn dặm trong địa phận của kẻ thù nơi ông bị một người nữ Phi-li-tin quyến rũ và quyết định cưới nàng. Dĩ nhiên, điều này trái với luật pháp Đức Chúa Trời (Xu 34:12-16; Phuc 7:1-3; IICo 6:14-18).
Sam-sôn đang sống bởi ngoại cảnh chớ không bởi đức tin. Ông bị điều khiển bởi “tư dục của mắt” (IGi 2:16) hơn là bởi luật pháp của Chúa. Điều quan trọng đối với Sam-sôn không phải là làm đẹp lòng Chúa, thậm chí không phải là làm đẹp lòng cha mẹ ông, nhưng làm đẹp lòng chính ông (Cac 14:3, 7; IICo 5:14-15).
Khi Đức Chúa Trời không được cai trị trong đời sống chúng ta. Ngài tể trị và thực hiện ý muốn Ngài bất chấp những quyết định của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta là người thua cuộc để chống lại Ngài, nhưng Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành những mục đích của Ngài với chúng ta hoặc bất chấp chúng ta (Exo 4:10-14). Sam-sôn lẽ ra phải đến một cuộc chiến thay vì đến một lễ cưới, nhưng Đức Chúa Trời sử dụng sự kiện này để cho Sam-sôn cơ hội tấn công kẻ thù. Bởi sự kiện này, Sam-sôn đã giết ba mươi người (Cac 14:19) đốt mùa màng của kẻ thù (Cac 15:1-5), giết những người Phi-li-tin (c. 7-8) và giết 1. 000 người khác nữa (c. 15). Sam-sôn đã không vạch kế hoạch cho những việc này, nhưng Đức Chúa Trời đã thực hiện chúng như vậy.
• Ông đã đánh mất sự biệt riêng Na-xi-rê (Cac 14:5-9).
Khi Sam-sôn cùng cha mẹ ông đi xuống Thim-na để sắp đặt cho hôn nhân, có vẻ rằng Sam-sôn đã rời con đường chính (và cha mẹ ông) rồi đi một đường vòng vào trong vườn nho, và ở đó một con sư tử đã tấn công ông. Vườn nho là một nơi nguy hiểm đối với một người không được xem là có việc gì để làm với trái nho (Dan 6:1-4). Phải chăng Đưc Chúa Trời đã sai con sư tử đến như một sự cảnh cáo cho Sam-sôn rằng ông đang đi trên con đường sai lạc? Thánh Linh đã ban cho Sam-sôn sức mạnh để đánh bại kẻ thù, nhưng Sam-sôn cứ ở trên con đường bất tuân của ông để vào địa phận kẻ thù và một lễ cưới bất hợp pháp.
Vài tuần lễ sau đó, khi Sam-sôn trở lại để thỉnh cầu cô dâu của ông một lần nữa ông đi vào trong vườn nho. Lần này để nhìn chiến tích của ông và có lẽ hả hê về chiến thắng của mình. Tội lỗi của ông bắt đầu bằng “tư dục của xác thịt” và “tư dục của mắt” và giờ đây nó kể đến “sự kiêu ngạo của đời sống” (IGi 2:16). Khi Sam-sôn ăn mật ông từ xác sư tử, ông đã bị ô uế bởi một xác chết, và phần dâng hiến Na-xi-rê của ông đã bị hủy hoại. Thật ra, hai phần ba lời thề nguyện của ông giờ đây đã mất vì ông đã làm ô uế chính mình bằng cách đi vào vườn nho và bằng cách ăn thực phẩm từ một xác chết.
• Ông đánh mất sự điều khiển của lưỡi mình (Cac 14:10-18).
Vì Sam-sôn đã không đem theo bất cứ người nào đi với ông để phục vụ như “các bạn của chàng rễ” (Mat 9:15 NKJV), dân Phi-li-tin đã tập họp ba mươi người để làm công việc này cho ông. Những người này có thể cũng đã phục vụ như lính canh cho dân Phi-li-tin. Vì tiếng tăm của Sam-sôn đã đặt trước ông, và họ không bao giờ biết chắc ông sẽ làm gì kế tiếp. Vì không khí chắc đã căng thẳng vào đầu buổi tiệc, nên Sam-sôn tìm cách làm cho mọi sự náo nhiệt bằng cách đưa ra một câu đố. Đáng buồn mà nói, ông đã đặt câu đố từ kinh nghiệm tội lỗi mình! Ông đã không xem quan trọng việc ông vi phạm những lời thề nguyện Na-xi-rê của mình. Bất tuân Đức Chúa Trời là cũng đủ tệ hại, nhưng khi bạn làm trò đùa từ đó, bạn đã chìm xuống những độ sâu mới của tính vô cảm về thuộc linh.
Sẽ là một điều đắt giá để ba mươi vị khách cung cấp cho Sam-môn sáu mươi bộ quần áo, vì vậy họ hết sức muốn biết câu trả lời cho câu đó. Sự trông cậy duy nhất của họ là tranh thủ sự giúp đỡ của vợ Sam-sôn. Vì vậy họ dọa giết nàng và đốt nhà cha nàng nếu nàng không cung cấp câu trả lời trước khi tuần lễ kết thúc. Sam-sôn đã tuyệt đối chối từ cho nàng biết, nhưng vào ngày thứ bảy, ông đã mủi lòng.
Vì hôn nhân phải được hoàn tất vào ngày thứ bảy, có lẽ điều đó có gì liên hệ với nó. Trước tiên, người nữ Phi-li-tin dụ dỗ ông (Cac 14:1), sau đó nàng điều khiển ông (c. 17) và rồi nàng phản bội ông (c. 17) là cách thế gian luôn đối xử với tín đồ thỏa hiệp. Sam-sôn có thể giết sư tử và biết dây thừng, nhưng ông không thể chiến thắng sức mạnh những giọt nước mắt của một người đàn bà.
Chúng ta không biết vợ ông cảm thấy thế nào khi bị so sánh với một con bò con? Châm ngôn này đơn giản nghĩa là “Bạn không thể làm được điều nào bạn đã làm nếu bạn không phá những luật lệ”, vì các bò cái không được dùng cho việc cày bừa. Vì các vị khách đã chơi gian, nên về mặt chuyên môn, Sam-sôn có thể từ chối trả giải thưởng, nhưng ông hào hiệp đồng ý giữ lời hứa của mình. Có lẽ ông đã nhận ra rằng đời sống của vợ ông đã bị đe doạ và ông không muốn đặt nàng và gia đình nàng vào cảnh hiểm nghèo lần nữa.
Những ai không thể điều khiển lưỡi mình thì không thể điều khiển thân thể mình (Gia 3:2), và trong trường hợp của Sam-sôn, những hậu quả của sự thiếu kỷ luật này thật tai hại.
• Sam- sôn đã mất bình tĩnh (Cac 14:19-20).
Ông đã đi hai mươi dặm đến Ách-ca-lôn nên tin tức về vụ giết người sẽ không đến Thim-na quá sớm. Trò đùa của ông về sư tử và mật ong đã không còn là một trò đùa, vì nó dẫn đến cái chết của 30 người có những bộ quần áo mà Sam-sôn đã tịch thu. Sam-sôn quá giận dữ đến nỗi ông thậm chí không hoàn tất hôn nhân nhưng trở về Xô-rê-a và ở với cha mẹ ông. Trong khi ông ở xa Thim-na, vợ ông đã bị trao cho một người thân nhất của ông. Chúa đã sử dụng chiều hướng của những sự kiện này để thúc đẩy Sam-sôn quyết định chiến đấu với dân Phi-li-tin thay vì mua vui cho họ.
Nếu Sam-sôn thành công trong cách của ông và cưới một người nữ Phi-li-tin, mối liên hệ dó sẽ làm hỏng công việc Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông làm. Những tín đồ ngày nay bước vào những quan hệ không thánh khiết đều đang phạm tội và cũng ngăn công việc của Chúa (IICo 6:14-18). Nếu Sam-sôn tìm kiếm sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời, Chúa sẽ chỉ dẫn cho ông. Ngược lại, Sam-sôn đã đi con đường riêng của ông, và Chúa phải tể trị những quyết định ích kỷ của ông.
“Ta sẽ chỉ dẫn ngươi và dạy ngươi trong con đường ngươi phải đi, ta sẽ hướng dẫn ngươi bằng mắt ta. Chớ như con ngựa hoặc như con la, là vật không có sự hiểu biết, phải bị cầm giữ bằng hàm khớp và dây cương, bằng chẳng chúng nó sẽ không đến gần ngươi” (Thi 32:8, 9 NKJV). Nếu chúng ta nhìn mặt Chúa bởi đức tin, Ngài có thể hướng dẫn chúng ta bằng mắt Ngài, cách mà các cha mẹ hướng dẫn con cái họ. Nhưng nếu chúng ta quay lưng với Ngài, Ngài phải đối xử với chúng ta như con vật và cầm giữ chúng ta. Sam-sôn đang lao về phía trước một cách mãnh liệt như con ngựa hoặc bướng bỉnh lùi lại như con la, và Đức Chúa Trời phải đối phó với ông.
9. ÁNH SÁNG ĐÃ TẮT (Cac 15:1-16:32)
Đời sống của Sam-sôn minh họa lẽ thật xưa rằng một khởi đâu tốt không bảo đảm một kết thúc tốt. Nhà thơ người Mỹ Henry Wodswort Long Fellow đã nói: “Nghệ thuật khởi đầu là vĩ đại, nhưng nghệ thuật kết thúc vĩ đại hơn”. Đó là lý do Sa-lô-môn đã viết: “Cuối cùng của một việc hơn sự khởi đầu của nó” (Tr 7:8 NIV).
Lúc khởi đầu của sự nghiệp mình, Sam-sôn đã hầu việc trong một sự sáng chói của vinh quang, nhưng ánh sáng băt đầu lung linh khi ông đầu hàng những đam mê của mình. Trong những cảnh cuối của đời ông, chúng ta thấy ánh sáng của Sam-sôn cuối cùng tắt, và nhà vô địch mù lòa kết thúc ở chỗ bị chôn trong đống gạch vụn của một đền thờ ngoại đạo. Như vậy, ông đã giết nhiều người trong sự tử đạo của mình hơn số ông đã giết suốt thời kỳ làm quan xét của ông, nhưng sẽ khác biết bao nếu ông trước hết chiến thắng bản thân trước khi ông tìm cách chiến thắng những kẻ thù của Chúa. Spurgeon đã nói: “Cả đời của ông là một chuỗi phép lạ và sự ngu dại”.
Chúng ta hãy xem những cảnh cuối trong đời Sam-sôn và học từ đó lý do ông đã không kết thúc tốt đẹp.
1. Sam-sôn trả thù cho mình (Cac 15:1-8)
Sự đam mê thậm chí dường như điều khiển đời sống Sam-sôn. Phương châm của ông là