top of page

DÂN-SỐ KÝ (1)

KINH THÁNH

CỰU-ƯỚC

THỂ LOẠI

Các Sách Luật-Pháp (Môi-se) (5)



1. THỨ TỰ QUY ĐỊNH TRONG TRẠI QUÂN (Dân 1:1-4:49; Dân 9:1-14)


Một...

...tổ chức kinh doanh nọ có tên mật mã là “Chiến Dịch Overlord”. Tên này nghe quen thuộc hơn với hình thức “Ngày Đổ Bộ” (D-Day) – mồng 6 tháng 6 năm 1943, khi các lực lượng Liên Minh kéo quân đổ bộ lên “Bãi biển Omaha” báo hiệu cuộc chiến tranh ở Châu Âu đã bắt đầu kết thúc. Đó là tiếng kèn tập hợp vang lên lớn nhất triệu tập các binh sĩ trong quân đội cùng với mọi trang thiết bị của họ trong lịch sử chiến tranh. Sử gia Samuel Eliot Morison đã viết: “Các lực lượng Liên Minh gồm có lính bộ, lính thuỷ và những ban ngành phục vụ hỗ trợ cả thảy là 2.800.000 người ở Anh quốc.”[1]


Môi-se cũng đã nói về việc phát động “Chiến Dịch Overlord” của chính mình, và khát khao lớn nhất của ông là Đức Giê-hô-va, Chúa Tể của các cơ binh, quả thật là Chúa luôn cai trị trên tất cả mọi công trình sự nghiệp. Có hơn 2.000.000 người Do-thái cùng nhau tiến về Ca-na-an, chinh phục các cư dân ở đó, chiếm lấy đất, và vui hưởng sản nghiệp thừa kế như đã được hứa của họ. Nhưng trước khi xảy ra tất cả những điều này, Môi-se đã phải tổ chức tập hợp những người trước đó vốn là nô lệ vừa được hưởng tự do chỉ được một năm. Ấy là một công việc không phải dễ.


Sự chuẩn bị của Môi-se cho cuộc chinh phục gồm có bốn phần: tổ chức kỷ niệm Lễ Vượt Qua (Dân 9:1-14), kiểm tra quân số các chiến binh (phân đoạn 1), tổ chức thiết lập các chi phái (phân đoạn 2), và phân công nhiệm vụ cho các thầy tế lễ (phân đoạn 3-4).


1. Tổ chức kỷ niệm Lễ Vượt Qua (Dân 1:1-54) (Dân 9:1-14)

Các sự kiện được ghi nhận trong Dân 1-6 nhằm giới thiệu trước cho những điều được mô tả cụ thể trong Dân 7:1-6,15. Bây giờ chúng ta đang đến với năm thứ hai của lịch sử dân tộc Y-sơ-ra-ên (Dân 1:1; Dân 9:1). Đền tạm được dựng lên vào ngày đầu tiên của tháng thứ nhất (Xu 40:2,17).

Các tộc trưởng của mười hai chi phái bắt đầu mang lễ vật đến dâng trong ngày đó (Dân 7:1), công việc này kéo dài 12 ngày (c.78). Vào ngày thứ 13, người Lê-vi được thanh tẩy và dự phần lễ biệt riêng họ ra thánh (Dân 8:1-26),vào ngày thứ 14 thì người Do-thái cử hành Lễ Vượt Qua (Dân 9:1-14).


Giữ Lễ Vượt Qua lần thứ hai (Dân 9:1-5):

Đó đúng là thời điểm dân Y-sơ-ra-ên được trả tự do hai năm và họ tổ chức lễ kỷ niệm về cái đêm kinh hoàng mà Đức Chúa Trời đã giải phóng họ thoát khỏi xích xiềng nô lệ tại Ai-cập, “Ấy là một đêm người ta phải giữ cho Đức Giê-hô-va” (Xu 12:42, NKJV).

Khi nhìn lại quá khứ, dân sự sẽ rất ngưỡng mộ những gì Đức Chúa Trời đã làm cho họ, và họ có thể dạy cho con cái họ biết “ngày độc lập” của Y-sơ-ra-ên có ý nghĩa trọng đại như thế nào (Dân 12:26-28; Dân 13:8-16). Trừ phi các bậc cha mẹ thường nhắc nhở con cái họ nhớ về những điều Đức Giê-hô-va đã làm, nếu không thì thế hệ con cháu kế tiếp của họ sẽ không còn giữ đức tin nữa (Phuc 6:1-9; IITi 2:2).


Theo Xu 12:1-50, mỗi gia đình phải giết một con chiên rồi đem quay nó trên lửa cho chín, sau đó ăn nó chung với bánh không men và rau đắng (Dân 9:11). Việc dùng bánh không men vì hai lý do là lý do thực tế và lý do biểu tượng.

Lý do thực tế là vì dân Do-thái đã phải chuẩn bị rời khỏi Ê-díp-tô bất kỳ lúc nào, cho nên họ không thể chờ cho bột lên men được.

Còn lý do biểu tượng liên quan đến vấn đề là, đối với người Do-thái thì men làm cho bột nở tượng trưng cho điều xấu; và dân Do-thái phải là một dân tộc thánh khiết tất cả men làm bánh phải được đem ra khỏi nhà họ trước Lễ Vượt Qua và cứ thế trong suốt tuần lễ kế tiếp (ICo 5:1-8; Mat 16:6,12; Ga 5:9). Rau đắng nhắc người Do-thái nhớ về cảnh nô lệ khốn nạn, tàn khốc của họ còn làm nô lệ ở Ê-díp-tô.


Đối với Cơ-đốc nhân ngày nay, Lễ Vượt Qua nói về Chúa Giê-xu Christ, Chiên con của Đức Chúa Trời, Đấng đã chết vì cớ tội lỗi nhân loại (Gi 1:29; ICo 5:7; Es 53:7; IPhi 1:19; Kh 5:6). Hễ ai tin Ngài thì sẽ được cứu chuộc khỏi tội lỗi (IPhi 1:18; Ro 8:34; Eph 1:7; He 9:12) và được công nhận có quyền kế tự thuộc linh trong Đấng Christ (Eph 1:3).

Trong bữa tiệc của Lễ Vượt Qua cuối cùng với các môn đồ Ngài, Chúa Giê-xu đã lập nên lễ gọi là Bữa Tiệc của Chúa (Tiệc Thánh, Lễ Ban Thánh Thể ) để khích lệ dân sự Ngài luôn nhớ đến Ngài. Tiệc Thánh nhắc chúng ta rằng Đấng Christ đã hy sinh cả mạng sống Ngài và đổ huyết ra để cứu chuộc chúng ta (Mat 26:26-30; Mac 14:22-25; Lu 22:17-20) và rồi đây sẽ có ngày Ngài trở lại đón chúng ta (ICo 11:23-24; ITe 4:13-18).


Tình huống bất ngờ (Dân 9:6-12):

Bất kỳ ai khi bị ô uế đều phải bị đuổi ra ngoài doanh trại, bởi vì sự ô uế mang tính chất lây lan (Dân 5:1-2). Điều này có nghĩa là những ai bị ô uế sẽ bị cấm tham dự Lễ Vượt Qua.tình huống mới này đòi hỏi cần có sự hiểu biết mới, do đó Môi-se quay sang kêu cầu Đức Chúa Trời giúp đỡ (Gia 1:5). Vì đó là Lễ Vượt Qua của Chúa, cho nên chỉ có Chúa mới có thể thay đổi được các luật lệ mà thôi.


Đức Chúa Trời đã đáp lại bằng ân điển và lòng thương xót: Hễ ai bị ô uế hoặc không có mặt ở nhà trong Lễ Vượt Qua vào tháng thứ nhất thì có thể tham dự lễ tiệc vào ngày thứ 14 của tháng thứ hai, nhưng họ phải cẩn thận tuân thủ theo những lời chỉ dạy thánh tượng tự của Chúa trong Xu 12:1-50.

Đức Chúa Trời không hề thiết lập thêm một Lễ Vượt Qua nào khác nữa, nhưng Ngài chỉ cho phép Lễ Vượt Qua nguyên thủy của Ngài được tổ chức, cử hành vào một thời điểm khác mà thôi. Thịt con sinh tế không được xem như thức ăn bình thường (“phải ăn hết sạch sẽ”) và không được làm gãy xương nào của chiên con dùng làm con sinh đó cả (Gi 19:31-37).


Có hai điều cảnh báo (Dân 9:13-14):

Điều đặc biệt cần phải nghĩ đến về phía Chúa như vậy có lẽ dẫn đến tình trạng một số ít người trong dân Y-sơ-ra-ên đã bắt đầu khiêu khích, đối đầu lại với những lời giáo huấn thánh đã được quy định trong Lễ Vượt Qua, do đó Đức Chúa Trời phán bảo Môi-se hãy cảnh cáo họ phải luôn tuân giữ các luật lệ nguyên thủy, đối với cả tháng thứ nhất và tháng thứ hai.

Bất cứ người Do-thái nào có đủ điều kiện dự Lễ Vượt Qua ở tháng thứ nhất nhưng lại không dự,mà lại có ý định để dự vào tháng thứ hai cho thuận tiện hơn thì người đó ắt sẽ bị Chúa trừng phạt. Từ “truất khỏi” có nghĩa là gì đã không được giải thích ở đây; có lẽ nó có nghĩa là bị loại ra khỏi doanh trại, hoặc cũng có thể có nghĩa là bị xử tử.

Tương tự Lễ Vượt Qua là lễ có tính chất quan trọng đối với người Do-thái, thì Tiệc Thánh cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi Cơ-đốc nhân ngày nay (ICo 11:28-30).


Điều thứ hai cần cảnh báo đối với những khách trọ là ngoại kiều sống trong trại quân nhưng không được sinh ra dưới thời Giao-ước của Áp-ra-ham và không được thừa nhận bằng dấu hiệu cắt bì. Họ cho rằng có lẽ Lễ Vượt Qua vào tháng thứ hai không phải hạn chế và nghiêm ngặt khắc khe như ở tháng thứ nhất, tuy nhiên họ đã nhầm. Nếu người ngoại muốn giữ Lễ Vượt Qua với người Do-thái thì họ phải theo đạo của người Do-thái (Xu 12:19,43).


Một bi kịch khủng khiếp: Đây là Lễ Vượt Qua cuối cùng mà người Do-thái đã cử hành mãi cho đến khi Giô-suê dẫn họ tiến vào Đất Hứa vào khoảng chừng 40 năm sau (Gios 5:10). Vì sự vô tín và sự dấy loạn của họ tại Ca-đe Ba-nê-a (Dân 13:1-14:45), cho nên giờ đây dân sự những ai từ 20 tuổi sắp lên đều bị Đức Chúa Trời loại ra và họ phải chết trong cuộc hành trình nơi đồng vắng của Y-sơ-ra-ên.

Khi Giô-suê lãnh đạo thế hệ mới đi vào xứ Ca-na-an, tất cả những người nam đều nhận được dấu hiệu của giao ước và Đức Chúa Trời đã khôi phục họ lại trong ân điển tốt lành của Ngài (Gios 5:2-9). đó là sự bắt đầu mới đối với Y-sơ-ra-ên trong nơi ở mới của họ.


2. Kiểm tra quân số và tu bộ các chiến sĩ (Dân 1:1-54)

Vào tháng thứ hai của năm thứ nhì, tức vừa tròn 13 tháng sau khi Xuất khỏi Ai-cập, Y-sơ-ra-ên phải bắt đầu chuẩn bị cho cuộc chiến. Nếu Sáng-thế ký là sách viết về những sự khởi đầu, sách Xuất Ê-díp-tô ký viết về sự cứu chuộc thì kế tiếp sách Dân-số ký là sách viết về cuộc chiến.

Người Do-thái đang ở trong lãnh địa của quân thù, họ đang hành quân tiến về vùng đất mà Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ giúp đỡ họ chinh phục được, họ phải tổ chức, chuẩn bị tinh thần cho cuộc đối đầu và xung đột sắp xảy ra. Cụm từ “đi ra trận được” đã được dùng 14 lần trong phân đoạn Kinh Thánh này. Nếu Đức Chúa Trời kiểm tra quân số và tu bộ các Cơ-đốc nhân trong Hội thánh ngày nay theo khả năng của họ để tiến hành cuộc chiến thuộc linh, thì hãy tưởng tượng xem chúng ta sẽ có một đội quân khổng lồ hùng mạnh biết chừng nào.


Nội quy được ban hành (Dân 1:1-3):

Có trên 150 lần trong sách Dân-số ký được ký thuật rằng Đức Chúa Trời phán dạy Môi-se và ban cho ông những chỉ thị để ông chỉ dạy lại cho dân sự. Quả thực, Dân-số ký đã mở ra với những lời Đức Chúa Trời phán dạy đầy tớ Ngài, và nó đóng lại với sự nhắc nhở rằng Chúa đã phán dạy Y-sơ-ra-ên qua Môi-se (Dân 36:13). Một trong những tên theo tiếng Hê-bơ-rơ dành cho sách này là “Và Ngài Đã Phán”, dựa theo ý của Dân 1:1. [2]


Nếu Đức Chúa Trời không bày tỏ ý chỉ của Ngài, thì Y-sơ-ra-ên sẽ chẳng biết phải làm gì và không biết đóng trại ở đâu, “Chúa cậy tay Môi-se và A-rôn, Mà dẫn dắt dân sự Ngài như một đoàn chiên” (Thi 77:20, NKJV).


Đức Chúa Trời truyền lịnh cho Môi-se và A-rôn cùng với những tộc trưởng của các chi phái hãy thống kê hết những người nam có đủ khả năng đầu quân để phục vụ quân đội. Quân đội Y-sơ-ra-ên được hình thành không phải dựa vào những người lính tình nguyện mà thôi, nhưng nó chiêu tập hết thảy mọi người nam nào hễ từ 20 tuổi trở lên, khoẻ mạnh, có thân hình tráng kiện thì đều có thể đăng ký vào quân ngũ để phục vụ Chúa và nhân dân. [3]

Có một số người lấy làm bối rối bởi sự nhấn mạnh về chiến tranh nhiều chỗ trong Kinh Thánh, thậm chí có một vài giáo phái không dùng đến những bài Thánh Ca ca ngợi người lính, chẳng hạn như bài “Tinh Binh Giê-xu Tiến Lên!” (Thánh Ca 314). Thế nhưng chúng ta không tìm thấy những nỗi sợ và sự khủng hoảng của dân sự. “Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ” (Xu 15:3) khi cuộc chiến xảy ra để Ngài trừng phạt tội lỗi và trừ khử tội ác.

Các dân mà Y-sơ-ra-ên đã tiêu diệt ở Ca-na-an là những dân đã sống đời sống đạo đức suy đồi với nếp sống ô trọc đầy tội lỗi gớm ghiếc, họ phạm tội khước từ nguồn sáng của Đức Chúa Trời và Ngài đã phải chịu đựng họ rất lâu (Sa 15:13-16; Ro 1:18-32). Ngày nay có ai đi lên án một bác sĩ phẩu thuật nào đó sao lại lấy khối u ung thư gây chết người ra khỏi cơ thể của bệnh nhân không? Song, đó là điều Đức Chúa Trời đã làm cho xã hội khi Ngài dùng Y-sơ-ra-ên đoán phạt các dân tộc suy đồi ở Ca-na-an.


Hơn nữa, hình ảnh đội quân này thường xuyên được dùng trong Kinh Thánh Tân-ước, ngay cả Chúa Giê-xu cũng đã dùng (Mat 16:18) và đặc biệt là Phao-lô dùng trong (Ro 8:31; Eph 6:10-18; IICo 10:3-5; ICo 9:7; IITi 2:1-4).

Đời sống Cơ-đốc nhân là một chiến trường chứ không phải là một sân chơi, lúc nào chúng ta cũng phải chiến đấu với kẻ thù nào đó để giành lại lãnh thổ cho Đức Chúa Trời. Chúa đã tuyên bố trước rằng cuộc chiến của chúng ta với Sa-tan là một cuộc chiến vốn có từ rất lâu (Sa 3:15) và chúng ta không thể có thái độ trung lập trong trận chiến thuộc linh này, vì Chúa Giê-xu đã nói: “Ai không ở với Ta thì nghịch cùng Ta” (Mat 12:30).


Những vị lãnh đạo được chọn (Dân 1:4-6):

Môi-se và A-rôn được giao nhiệm vụ điều tra dân số qua các tộc trưởng do họ chỉ định cho mỗi chi phái. Những tộc trưởng này cũng được nêu tên trong Dân 2:1-34; Dân 7:1-89; Dân 10:1-36. Chẳng có gì khó khăn để thực hiện việc thống kê này vì dân tộc được tổ chức thành các đơn vị theo những đại gia đình, theo họ hàng (thị tộc) và theo từng chi phái (bộ lạc) (Gios 7:14), có nhiều vị lãnh đạo giám sát cai quản cho từng đơn vị gồm 10, 100 và 1000 người Y-sơ-ra-ên (Xu 18:21).

Hãy chú ý Na-ha-sôn (Dân 1:7) thuộc dòng dõi Đa-vít (Ru 4:20-22) và do đó người là một tổ tiên của Đấng Christ (Mat 1:4). Cũng hãy chú ý việc cá nhân mỗi người phải cho biết mình thuộc họ hàng tông tộc nào (Dân 1:18) nhằm loại ra những người không đủ tư cách gia nhập vào quân đội của Đức Giê-hô-va.


Những con số được ghi nhận (Dân 1:17-26):

Những con số ở đây được làm tròn với số lớn nhất xấp xỉ cả trăm ngàn, ngoại trừ dòng dõi Gát chỉ xấp xỉ năm mươi ngàn (c.24-25). Tổng cộng tất cả các chiến binh tuổi từ 20 trở lên là 603.550 người (v.46). Trừ Giô-suê và Ca-lép ra, còn hết thảy những người này đều đã chết cả trong những năm Y-sơ-ra-ên đi lưu lạc trong đồng vắng. Cuộc điều tra dân số lần thứ hai được tổng cộng 601.730 người (Dân 26:51), là đội quân đã tiến vào Đất Hứa và nhận lấy sản nghiệp này.


Người Lê-vi được biệt riêng ra (Dân 1:47-54):

Ba con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri (Sa 46:11); Môi-se và A-rôn là hậu duệ của Kê-hát (Dân 3:14-24) và A-rôn là thầy tế lễ thượng phẩm đầu tiên.Chỉ có các con trai A-rôn được phép phục vụ công tác tại bàn thờ (c.1-4) và người Lê-vi được phân công thi hành chức vụ tế lễ của mình. Dưới sự giám sát,chỉ đạo của thầy tế lễ thượng phẩm, người Lê-vi có nhiệm vụ tháo dỡ đền tạm chứng cớ khi trại quân cần di dời đi, họ có bổn phận vận chuyển nhiều thứ khác nhau gồm những dụng cụ, đồ đạc, bình chậu thuộc về đền tạm trong thời gian hành quân, và sau đó họ lại dựng đền tạm chứng cớ lên tại nơi đóng trại mới.


Người Lê-vi dựng lều ở chung quanh đền tạm chứng cớ nằm ở vị trí trung tâm của trại quân, gồm có Kê-hát ở phía nam, Mê-ra-ri phía bắc và Ghẹt-sôn phía tây. Môi-se và A-rôn dựng trại ở phía đông, tại cổng đền tạm. Bằng cách này, người Lê-vi đã bảo vệ trại quân không cho người ngoài vô phận sự xâm nhập vào trong trại được, và thêm nữa là họ ở phía trước đền tạm như vậy nên họ có thể nhìn thấy cụm mây làm dấu hiệu dẫn đường cho trại quân biết hướng dời đi.


Vì chức vụ thầy tế lễ của họ theo sự phân công quan trọng như vậy, cho nên người Lê-vi đã được miễn trừ nghĩa vụ quân sự. Đền tạm là công trình mấu chốt quan trọng nhất trong toàn bộ trại quân, và chỉ có các thầy tế lễ và người Lê-vi mới có thể được đến gần phục vụ coi sóc nó. Do đó, họ không phải đăng tên vào danh sách đi quân dịch của quân đội quốc gia. Công việc thờ phượng và công việc đi chiến đấu dường như không hề liên quan với nhau, thế nhưng trong cái nhìn của Đức Chúa Trời thì chúng lại đi đôi với nhau.

Một trong những đề tài chính của sách Khải-huyền là cuộc chiến của Đức Chúa Trời chống lại quyền lực tối tăm của ma quỷ trên đất và sự thờ phượng được Ngài chấp nhận trên thiên đàng. Trừ phi dân sự Chúa tỏ ra xứng đáng với Chúa trong sự thờ phượng của họ, nếu không, họ sẽ không tài nào đối mặt nổi với kẻ thù của họ và sẽ đánh không lại chúng trong trận chiến, “Sự ngợi khen Đức Chúa Trời ở trong miệng họ, Thanh gươm hai lưỡi bén ở trong tay họ” (Thi 149:6).


3. Tổ chức bố trí các chi phái (Dan 2:1-34)

Khi trụ mây di chuyển phía trên đền tạm cho biết trại quân sẽ phải đi đâu, thì thật là trở ngại nếu dân sự không kịp dỡ trại nhanh để có thể xúc tiến cuộc hành quân ngay và hiệu quả, do vậy cần phải có một vài hình thức nào đó về thứ tự quy định trong trại quân. “Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (ICo 14:40) là lời khuyên răn nhắc nhở dành cho dân sự Đức Chúa Trời ở mọi thời đại, “Vả, Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình” (c.33).


Chúng ta thấy rằng Môi-se và A-rôn, với các thầy tế lễ và người Lê-vi, đã đóng trại ở ngay xung quanh đền tạm. Mỗi chi phái đều được chỉ định ở tại một vị trí đặc biệt nào đó đối với trại quân, và cũng như đối với đền tạm; vì Đức Chúa Trời ngự ở giữa trại quân, và vị trí đóng trại của mỗi chi phái do Chúa bố trí.


Giu-đa, I-sa-ca và Sa-bu-lôn,tất cả đều là hậu tự của Lê-a, đóng trại ở phía đông, với quân số tổng cộng là 186.400 người. Vì lối đi vào đền tạm nằm phía ấy, cho nên cần có một đội quân đông đảo nhất ở đó để bảo vệ nó là điều quan trọng. Ru-bên, Si-mê-ôn và Gát đóng trại ở phía nam của đền tạm với quân số là 151.450 người. Ép-ra-im và Ma-na-se, hậu duệ của Giô-sép, đóng trại ở phía tây đền tạm, cùng với Bên-gia-min, tổng cộng quân số là 108.100 người. Như vậy, tất cả các hậu duệ của Ra-chên đã cùng đóng trại với nhau. Phía bắc đền tạm có Đan, A-se và Nép-ta-li với sĩ số là 157.600 người.


Hễ khi nào trại quân dời đi, thì hòm giao ước được các thầy tế lễ khiêng đi trước. Kế đó là các chi phái Giu-đa,I-sa-ca, và Sa-bu-lôn đi kế tiếp, theo sau là người của họ hàng Ghẹt-sôn và Mê-ra-ri lo vận chuyển những vật dụng đồ đạc thuộc về đền tạm (các khung trại,màn trướng và các tấm bạt). Tiếp theo là Ru-bên, Si-mê-ôn và Gát, có người của họ hàng Kê-hát lo vận chuyển các vật dụng thuộc về đền tạm theo sau. Ép-ra-im,Ma-na-se, và Bên-gia-min đi kế tiếp, còn Đan, A-se và Nép-ta-li phải đi hậu binh. Đội quân đông đảo nhất là 186.400 chiến sĩ đi trước dẫn đường và đội quân hùng hậu kế tiếp là 157.600 chiến sĩ đi hậu vệ.


Cả 12 chi phái phải hết sức cẩn thận không được đóng trại quá gần đền tạm, vì khu vực đó chỉ dành cho các thầy tế lễ và người Lê-vi (Dân 2:2). Nếu ai liều lĩnh dám đến gần nơi ấy ắt sẽ bị xử tử (Dan 1:51). Đồng thời, mỗi chi phái phải ở trong trại quân mình và mỗi họ hàng phải ở bên ngọn cờ mình (c.52 Dân 2:2). Trong Kinh Thánh không có chỗ nào nói cho chúng ta biết về màu sắc cờ xí của các chi phái này hoặc về những hình ảnh biểu tượng được vẽ trên chúng, do vậy, chúng ta đừng phí công vô ích để phỏng đoán chúng sẽ như thế nào.

Truyền thống người Do-thái gợi ý rằng màu sắc đó giống như màu của 12 viên ngọc quý dát trên tấm bảng đeo ngực của thầy tế lễ thượng phẩm vậy (Xu 28:15-29), thế nhưng chúng ta không chắc có đúng như vậy không. Truyền thống Do-thái cũng cho biết có bốn hình biểu tượng của các chi phái như trong Exe 1:10 và xem (Kh 4:7) gồm có hình sư tử là biểu tượng cho chi phái Giu-đa, hình con bò biểu tượng cho Ru-bên và hình chim ưng biểu tượng cho chi phái Đan. Nhưng những điều này không được chỗ nào trong Kinh Thánh khẳng định cả.


Với khung cảnh ban ngày có trụ mây trôi lơ lững phía trên đỉnh giữa của trại quân, và ban đêm thì trở thành trụ lửa rực cháy lên toả sáng, còn các doanh trại của 12 chi phái thì được bố trí tại những địa điểm khác nhau theo sự chỉ định, chắc hẳn trại quân Y-sơ-ra-ên lúc ấy trở nên một cảnh tượng hết sức hoành tráng đẹp đẽ. Khi tiên tri Ba-la-am nhìn thấy cảnh trí trại quân này từ trên những ngọn núi cao, ông đã thốt lên:

“Hỡi Gia-cốp! Trại ngươi tốt dường bao!

Hỡi Y-sơ-ra-ên! Nhà tạm ngươi đẹp biết mấy!

Nó trương ra như trũng núi,

Khác nào cánh vườn ở nơi mé sông,

Tợ cây trầm hương mà Đức Giê-hô-va đã trồng,

Tỉ như cây hương nam ở nơi mé nước” (Dân 24:5-6 NIV).


Trong chương trình của Đức Chúa Trời, Y-sơ-ra-ên và Hội thánh là hai thành phần khác nhau (ICo 10:32), nhưng chúng ta không thể không xem trại quân Y-sơ-ra-ên là một sự minh họa cho hình ảnh của Hội thánh Chúa trong thế gian này: là những người hành hương theo Chúa, có vinh quang Ngài ở giữa mọi sự và có Ngài hiện diện dẫn đường. Y-sơ-ra-ên là một dân tộc hiệp nhất trong Đức Chúa Trời và hiệp một với nhau. Tuy nhiên, họ lại được Đức Chúa Trời thừa nhận họ theo từng nhóm, từng chi phái độc lập, mỗi chi phái có cờ riêng với sắc thái và biểu tượng riêng, được bố trí ở vị trí đặc biệt riêng, và tất cả cùng hành quân ra đi theo mệnh lệnh của Chúa.


4. Phân công nhiệm vụ (Dân 2:1-34) (Dân 3:1-4:49)

Hai phân đoạn này hoàn toàn nói về người Lê-vi là những người phục sự Đức Chúa Trời qua công việc và nhiệm vụ của thầy tế lễ tại đền tạm. Môi-se ký thuật lại hai lần kiểm tra số người Lê-vi, một lần là gồm những người nam từ một tháng tuổi trở lên và lần nữa là gồm những người từ 20 tuổi trở lên, và đồng thời phân công chức phận cho họ. Người Lê-vi không được quyền thừa kế Đất Hứa nhưng họ được nuôi sống bằng những phần mười của các của lễ dâng mà dân sự đã đem dâng cho Chúa (Dân 18:20-24).


Các thầy tế lễ (Dân 3:1-4): Các thầy tế lễ là những hậu tự của A-rôn –thầy tế lễ thượng phẩm đầu tiên, họ gồm bốn người: Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và I-tha-ma (Xu 6:23). Na-đáp và A-bi-hu mang sự thờ phượng trái lẽ vào trong nơi thánh nên đã bị Đức Chúa Trời giết chết (Le 10:1-20) [4] Ê-lê-a-sa giữ chức tổng trưởng của người Lê-vi (Dân 3:32) và cuối cùng ông được thay cha mình làm thầy thầy tế lễ thượng phẩm (Dân 20:22-29). I-tha-ma được nhận các sinh tế về các của lễ bởi có công chỉ đạo, xây dựng đền tạm và quản lý, hướng dẫn họ hàng Ghẹt-sôn với họ hàng Mê-ra-ri (Dân 4:28,33). Làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời thật là ý nghĩa bởi vì thầy tế lễ là những đầy tớ được Chúa xức dầu và đặc biệt là được dâng mình cho sự vinh hiển Ngài (Xu 28:1-29:46).


Đặc ân dành cho người Lê-vi (Dân 3:5-1): Đức Chúa Trời xem Y-sơ-ra-ên là con trai đầu lòng của Ngài (Xu 4:22). Ngài giữ lại các con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên trong ngày Lễ Vượt Qua, còn các con trai đầu lòng của Ê-díp-tô thì Ngài giết hết (Dân 11:1-7; Dân 12:29-30).Vì lý do này, mà mọi giống đực đầu lòng của Y-sơ-ra-ên, dù là con người hay súc vật, đều thuộc về Đức Giê-hô-va và phải được chuộc tội bằng một sinh tế nào đó (Dân 13:1-2,11-13; Dân 22:29-30; Dân 34:19-20; Lu 2:7,22-23).


Hết thảy quốc gia Y-sơ-ra-ên phải đều là “vương quốc chỉ toàn các thầy tế lễ” trước mặt Đức Chúa Trời (Xu 19:5-6), và Ngài đã lập ra chức thầy tế lễ đặc biệt để giúp dân sự Ngài tuân theo luật lệ Ngài và làm chứng cho sự nhân từ Ngài. Người Lê-vi được Chúa ban cho đặc ân đảm nhiệm chức phận thầy tế lễ,thay cho các con trai đầu lòng đã được chuộc tội của Y-sơ-ra-ên là những người thuộc về Đức Chúa Trời. Người Lê-vi đã làm điều này cho Chúa và các thầy tế lễ làm những công việc phục sự Chúa mà đáng lý ra các con trưởng nam của dân sự sẽ phải làm, do đó người Lê-vi đã thi hành chức vụ ở vị trí của họ.


Sự điều tra quân số người Lê-vi và giao nhiệm vụ cho họ (Dân 3:14-4:49): Người Lê-vi được điều tra dân số hai lần khác nhau. Lần thứ nhất, Môi-se thống kê tất cả những người nam từ một tháng tuổi trở lên để đảm bảo đủ số lượng người thay thế cho hết thảy con đầu lòng trong Y-sơ-ra-ên.Có 7.500 trưởng nam thuộc họ hàng Ghẹt-sôn (3:22), 8.600 trưởng nam thuộc họ hàng Kê-hát (c.28) và 6.200 thuộc họ hàng Mê-ra-ri (c.33-34), tổng cộng là 22.000 trưởng nam người Lê-vi. [5]

Khi Môi-se kê sổ các con trưởng nam trong Y-sơ-ra-ên, ông đếm được 22.273 người (c.40-43), như vậy bị dư ra 273 người nam mà người Lê-vi không có đủ để thay thế đại diện họ trong nơi thánh. Số 273 người nam này đã phải được chuộc tội bằng cách mỗi người phải trả năm đồng bạc, và người ta đưa số tiền này cho A-rôn để ông dùng vào công tác phục vụ, coi sóc đền tạm.


Lần thống kê thứ hai là thống kê hết tất cả những người Lê-vi tuổi từ 30 đến 50 có khả năng làm việc phục vụ trong nơi thánh (Dân 4:1-3,21-23,29-30) và có tổng cộng 8.580 người (c.46-49). Theo Dân 8:24, thì người Lê-vi bắt đầu công tác phục vụ Chúa từ tuổi 25, vì vậy hình như những người trẻ hơn đã phải trải qua giai đoạn huấn luyện tập sự 5 năm để chuẩn bị bước vào công việc mình. Họ phải học hỏi rất nhiều về các của lễ và công tác phục vụ đền tạm, vì khi thực thi công việc mà nếu họ vấp phải sai lầm nào đó thì rất là nguy hiểm. Về sau này, Đa-vít đã hạ độ tuổi cho người bắt đầu là từ 20 (ISu 23:24-25).


-Họ hàng Ghẹt-sôn (Dân 3:21-26; Dân 4:21-28,38-41) được thống kê là 7.500 người trong đó có 2.630 người đủ khả năng phục vụ (Dân 4:40). Họ đóng trại ở cuối phía đông đền tạm dưới sự chỉ dẫn của Ê-li-a-sáp. Trách nhiệm của họ là vận chuyển những tấm bạt (tấm tăng), màn trướng với những bức rèm và dàn khung của đền tạm, cùng những đồ đạc vật dụng thuộc về đền tạm; để làm công việc này, họ được giao cho hai chiếc xe kéo và bốn con bò (Dân 7:7). I-tha-ma là thầy tế lễ lo giám sát chỉ đạo họ hành sự.


-Họ hàng Kê-hát (Dân 3:27-32 Dan 4:1-20,34-37) được kê sổ là 8.600 người trong đó có 2.750 người đủ khả năng phục vụ (Dân 4:36). họ đóng trại ở phía nam đền tạm và Ê-li-phan là người lãnh đạo họ. Họ có nhiệm vụ vận chuyển đồ đạc thuộc về nơi thánh, và Dân 4:1-20 đã giải thích rõ công việc này của họ. Khi nào trại quân sắp sửa dời đi, thì A-rôn và các con trai người sẽ đi vào nơi thánh lấy tấm màn xuống phủ lên trên hòm bảng chứng. Họ phủ như vậy để bảo vệ lớp ngoài của hòm và kế tiếp họ phủ thêm lên bên ngoài một tấm vải màu xanh. Sau đó họ xỏ hai cái đòn khiêng bằng gỗ qua những cái khoen móc trên hòm để cho bốn người đàn ông có thể khiên hòm đi trước đoàn dân đang hành quân.


Tương tự như hòm bảng chứng được che phủ bảo vệ, các vật dụng đồ đạc cũng được che phủ bảo vệ theo cách như vậy. Trước hết, họ che phủ bàn để bánh trần thiết, kế tiếp là các chân đèn và bàn thờ xông hương bằng đồng, và cuối cùng là bàn thờ dùng về của lễ thiêu. Đủ loại các bình, chậu và nhiều đồ dùng của trại cũng được che đậy, bao bọc lại. Mỗi thứ vật dụng thánh thích hợp cho các nhân viên mang vác, khuân đi và người của họ hàng Kê-hát đã khiêng các đồ đạc vật dụng trên vai của họ. [6]


Mọi đồ đạc phải được che phủ lại là điều cần thiết và quan trọng vì sợ rằng sẽ có người Lê-vi nào đó tò mò nhìn vào thì tự mình người ấy sẽ phải lãnh nhận sự đoán phạt của Đức Chúa Trời (c.16-20). Ê-lê-a-sa con trai của A-rôn chịu trách nhiệm về công việc của họ hàng Kê-hát (Dân 3:32), và ông còn có nhiệm vụ vận chuyển dầu để dùng thắp đèn,hương liệu dùng cho việc xông hương trên bàn thờ bằng vàng, bột dùng cho của lễ chay hằng hiến và dầu xức thánh (Dân 4:16).


Người nhà dòng họ Ghẹt-sôn và dòng họ Mê-ra-ri được giao cho mấy chiếc xe bò để chuyên chở những đồ đạc, vật dụng nặng, còn người nhà dòng họ Kê-hát thì không (Dân 7:1-9). Những vật dụng thánh của đền tạm phải được các đầy tớ thánh của Đức Chúa Trời khiêng trên vai. Khi Đa-vít đưa hòm giao ước vào Giê-ru-sa-lem, ông không tuân thủ luật định này, và điều đó đã dẫn đến cái chết của a-xa (IISa 6:1-23). Người của họ hàng Kê-hát là những người phải làm công việc khuân vác nặng, nhưng những gánh nặng của họ là quý báu là rất quan trọng đối với dân sự, và công việc ấy của họ vốn do Đức Chúa Trời giao phó. Chắc chắn họ đã nhận biết được việc họ khiêng vác các vật dụng đồ đạc thánh thuộc về nơi thánh trên vai họ đi khắp trong đồng vắng là một đặc ân đối với họ.


-Họ hàng Mê-ra-ri (Dân 3:33-37; Dân 4:29-33,42-45) được thống kê là 6.200 người trong đó có 3.200 người đủ tuổi phục vụ (c.44). Họ đóng trại ở phía bắc đền tạm dưới sự lãnh đạo của Xu-ri-ên. Họ có một công việc đặc biệt khó khăn bởi vì họ phải khiêng những tấm ván nặng nề của đền tạm, những cây xà ngang, cột trụ và những lỗ trụ bằng bạc dùng để luồn các cột trụ vào. Dĩ nhiên là Môi-se đã giao cho họ bốn cái cộ và tám con bò kéo xe để giúp họ thi hành công việc (Dan 7:8). I-tha-ma con trai của A-rôn chịu trách nhiệm giám sát công việc của họ.


Tất cả những thông tin cho biết về chức phận của người Lê-vi như vậy đã nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời của chúng ta luôn quan tâm đến từng chi tiết nhỏ và Ngài muốn dân sự mà Ngài đã chọn Ngài thực hiện các công việc Ngài theo cách Ngài hoạch định. Không có thứ gì trong trại quân của Y-sơ-ra-ên bị bỏ lại do vô tình hay hữu ý của con người cả. Mỗi người Lê-vi và mỗi thầy tế lễ đều biết rõ trách nhiệm của mình và mong ước “hầu việc Chúa với lòng kính sợ” (He 12:28). Coi sóc đền tạm là công việc nghiêm túc và quan trọng, là vấn đề liên quan đến sự sống chết chứ không phải chuyện đùa.


Những phân đoạn Kinh Thánh này cũng nhắc nhở chúng ta rằng mỗi người đều phải mang những gánh nặng nhưng cách thức không ai giống ai. Họ hàng Ghẹt-sôn và họ hàng Mê-ra-ri có thể chất các gánh nặng của họ lên xe bò kéo đi, nhưng họ hàng con cháu Kê-đát lại phải mang lấy gánh nặng của họ trên đôi vai mình. Có một số gánh nặng mà chúng ta có thể chia sẻ (Ga 6:2), nhưng cũng có một số gánh nặng mà chỉ có chúng ta mới có thể mang nổi mà thôi (c.5). [7]


Cuối cùng, chúng ta phải lưu ý rằng Đức Chúa Trời của chúng ta chấp nhận sự tổ chức, nhưng sự tổ chức chỉ là những phương tiện đưa đến mục đích nào đó chứ bản thân nó không phải là điều quan trọng.Một trong những đồng sự của tôi tại Hội thánh Moody rất thích nói câu này: “Hãy nhớ rằng, Hội thánh là một cơ thể sống chứ không phải là một tổ chức!”. Nhưng tôi nhắc anh ta rằng nếu như cơ thể sống đó không có tổ chức sắp xếp ắt thì nó sẽ chết!

Đúng vậy, Hội thánh là một cơ thể sống thuộc linh, nhưng nó cũng là một tổ chức. Nếu một đội quân không có tổ chức thì nó sẽ không thể chiến đấu đánh bại kẻ thù được; nếu một gia đình không có tổ chức trật tự, thì gia đình ấy ắt sẽ không kinh nghiệm được gì ngoại trừ sự hỗn loạn và rối rắm,lộn xộn.


Đức Chúa Trời đang chuẩn bị cho dân sự Ngài để chiến đấu với các dân kẻ thù và đánh bại chúng. Trại quân phải có thứ tự và công việc của đền tạm phải có tổ chức là điều rất quan trọng. Mặc khác, nếu sự thờ phượng không đẹp lòng Đức Chúa Trời thì cuộc chiến của dân sự ắt sẽ đi đến thất bại.


Chúng ta đang sống trong thời đại không giống như thời đại được mô tả trong sách Các Quan-xét, là khi mà “mọi người cứ làm theo ý mình tưởng là phải” (Cac 17:6; Cac 18:1; Cac 19:1; Cac 21:25). Nhưng lời của Đức Chúa Trời phán bảo dân sự Ngài thì hoàn toàn ngược lại: “Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi tại trên núi” (He 8:5, NKJV Xu 25:40).


Khi công việc Chúa được thực hiện theo ý Ngài, trong sự vâng theo lẽ thật của Ngài, thì chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ thiếu ơn phước của Ngài.

-Dân 3:1-51; xem giải nghĩa 2:1-34.

-Dân 4:1-49; xem giải nghĩa 2:1-34.





2. SỰ BIỆT RIÊNG RA VÀ CÁC NGHI LỄ – PHẦN I (Dân 5:1-7:89)


Khi Mohandas K. Grandhi là một nhà lãnh đạo tôn giáo ở Ấn-độ, có một nhà truyền giáo hỏi ông rằng theo ông thì trở ngại lớn nhất cản trở các cuộc truyền giáo của đạo Cơ-đốc là gì, Grandhi đáp: “là những Cơ-đốc nhân”.


Cho dù chúng ta không thích câu trả lời này của ông ta, nhưng chúng ta bắt buộc phải đối mặt với thực tế rằng dân sự Đức Chúa Trời thường hay xen vào ngăn trở công việc Ngài. Không có chỗ nào minh họa rõ cho điều này hơn là ở trong sách Dân-số ký chỗ chúng ta đọc thấy dân Y-sơ-ra-ên cứ tái phạm tội bất tuân đối với Đức Chúa Trời và Ngài đã phải chịu đựng việc đó mãi.

Điều này giải thích lý do tại sao Đức Chúa Trời đã đề ra một số luật lệ thiết thực và đơn giản dễ hiểu áp dụng vào đời sống hằng ngày trong trại quân của Y-sơ-ra-ên. Y-sơ-ra-ên là tuyển dân của Đức Chúa Trời,được Ngài biệt riêng ra khỏi các dân tộc khác, và Đức Chúa Trời muốn họ phải sống khác với cách sống trước đây họ đã sống. Vậy Chúa muốn họ trở thành một dân tộc như thế nào?


1. Một dân tộc thánh sạch (Dân 5:1-31)

Vì có sự hiện diện đầy vinh quang của Đức Chúa Trời ngự trong trại quân của Y-sơ-ra-ên (Dân 5:3; Xu 29:45) cho nên trại quân phải được tinh khiết và thánh sạch trong cái nhìn của Chúa. “Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời các ngươi, và các ngươi sẽ làm dân ta”là lời phán hứa của Ngài (Le 26:12 NKJV), và lời hứa ân điển này đã đưa đến trách nhiệm nghiêm túc sau: “vì ta là Thánh, nên các ngươi phải nên Thánh” (Dan 11:44-45) [8]


Khái niệm “sạch” và “không sạch” trở nên rất quan trọng trong đời sống hàng ngày ở Y-sơ-ra-ên. Tính sạch sẽ có liên quan nhiều hơn đến vấn đề vệ sinh cá nhân; nó liên quan đến việc được Đức Chúa Trời chấp nhận về những gì người ta ăn, những thứ người ta mặc và cách thức biểu lộ tư cách đạo đức của bản thân mỗi người ra sao ở tại gia đình riêng và tại những nơi công cộng.

Người Y-sơ-ra-ên đã sống với đức tin ngay từ thở còn trong bụng mẹ, và Đức Chúa Trời thường dùng những hình ảnh quen thuộc để dạy dỗ họ về lẽ thật thuộc linh. Ngài ví sánh tội lỗi với những dịch bịnh, so sánh sự ô uế và sự thánh khiết với sức khoẻ và sự sạch sạch sẽ (Le 11:1-15:33). Những người không sạch sẽ bị đuổi ra khỏi trại quân cho đến khi họ phải thực hiện một số nghi lễ tẩy uế theo quy định.


Từ ngữ “bị ô uế” được dùng 9 lần trong Dân-số ký đoạn 5, và có ba hình thức bị ô uế được mô tả như sau.


Bị ô uế thân thể (Dan 5:1-4): Nhiều học giả không đồng ý với những điều nói về bệnh phong cùi (bệnh phung) trong thời cổ đại như vậy, và có một số cách dịch hiện đại hơn đó là “bệnh lây nhiễm về da”. Nhưng cho dù gọi nó ở hình thức gì đi nữa thì bệnh phong cùi vẫn là một căn bệnh ghê sợ vì nó khiến cho người bệnh bị xem là ô uế, là không sạch thực sự. Những người bị bệnh này phải sống bên ngoài trại quân,và nếu có ai đó đến gần họ thì họ phải la lên rằng “Ô uế! Ô uế!” (Lê 13:1-59).Nếu họ được chữa lành rồi, họ phải trải qua một tiến trình tẩy uế rất là nhiêu khê trước khi họ được chấp nhận vào trại quân trở lại (Dan 14:1-57).


Nhóm bị ô uế thứ hai là những người có cơ thể tiết ra chất dịch (Dân 15:1-33). Sự tiết chất dịch đó có thể là do tự nhiên (c.16-18,25-30),hoặc do bất thường (c.1-15,19-24), nhưng dù ở trường hợp nào đi chăng nữa thì điều đó cũng đã làm cho người ta không được sạch sẽ. Một số sự tiết dịch như vậy có lẽ do nguyên nhân bởi các bệnh lây truyền đường sinh dục gây ra hoặc do bị các bệnh nhiễm trùng khiến người bệnh có nguy cơ lây nhiễm cho người khác,vì vậy cần phải tách họ riêng ra ngoài để bảo vệ sức khoẻ và sự lành mạnh cho cộng đồng trong trại quân.


Nhóm thứ ba bao gồm những người tiếp xúc với xác chết bất kể là xác người hay xác thú vật. Luật lệ quy định liên quan đến việc bị ô uế bởi xác chết được giải thích rõ ràng trong Dân 19:11-12 và trong Lê 21:1-4. Xác súc vật chết đã bị thối rửa hoặc bị chương sình lên sẽ có nguy cơ gây dịch bệnh lây lan, còn xác người chết thì bị xem là ô uế, không sạch. Những ai bắt tay vào công việc chôn cất, mai táng những người thân yêu của mình thì sẽ bị ô uế theo hình thức lễ nghi suốt một tuần lễ và họ phải trải qua nghi thức tẩy uế trước khi được nhận vào trại quân trở lại.


Mặc dù vấn đề sức khoẻ và vấn đề vệ sinh có liên quan đến những luật lệ này, nhưng mục đích cơ bản của chúng là nhằm dạy dỗ người Do-thái ý nghĩa của sự cách ly và sự thánh khiết. Y-sơ-ra-ên sẽ phải là một dân tộc thánh khiết, và nếu họ biết vâng theo Lời Đức Chúa Trời trong mọi lĩnh vực của cuộc sống họ thì chắc chắc họ sẽ trở thành được như vậy.

Dân sự Chúa ngày nay cần khắc cốt ghi tâm câu này: “Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta” (IICo 7:1).


Khi Chúa Cứu Thế của chúng ta thi hành chức vụ trên đất, Ngài cố tình lờ đi luật định về sự không sạch và Ngài đã tiếp xúc với người phung (Lu 5:12-15), nhiều người có bịnh tật cũng đã chạm đến Ngài (Lu 8:43-48), và thậm chí Ngài còn đụng đến cả xác chết nữa (Lu 7:11-17; Lu 8:49-56). sự tiếp xúc của vị Bác Sĩ Đại Tài này đã đem đến sự chữa lành cho nhiều bệnh nhân nhưng điều đó vẫn không hề làm ô uế Con của Đức Chúa Trời. Chính lúc Ngài chết trên thập tự gí thì Ngài đã mang lấy mọi sự ô uế của chúng ta vcùng với “bệnh tật” gớm ghê của tội lỗi chúng ta (IPhi 2:24; Es 53:4-6).


Sự làm ô uế giữa cá nhân với nhau (Dân 5:5-10): Hễ ai phạm tội gây tổn hại cho người khác thì phải nhận tội và phải bồi thường cho người ta (Le 6:1-7; Le 7:1-10). Chỉ thừa nhận tội mình đã làm không thôi thì chưa đủ, phải nói là “cho tôi xin lỗi” rồi sau đó còn phải bồi thường bằng một lễ vật dâng lên cho thầy tế lễ. Người có lỗi phải bồi hoàn cho phía người bị hại (hoặc người có liên quan hay là thầy tế lễ) một khoản tiền tương đương số tiền hay tài vật đã thất thoát cộng thêm 20 % giá trị nữa của khoản bồi thường ấy. Bằng cách này, Đức Giê-hô-va đã dạy cho dân sự Ngài biết tội lỗi đã gây cho người khác đau lòng thế nào và nó phải bị trả giá ra sao, rằng sự ăn năn thật đòi hỏi phải có sự bồi thường thiệt hại tử tế, đàng hoàng.


Nhưng còn có liên quan đến một tác nhân khác nữa. Y-sơ-ra-ên sắp sửa phải đối mặt với kẻ thù mình, nếu mọi người xung khắc với nhau vì không nhất trí về các bộ phận và phương pháp tấn công trong trận đánh thì họ sẽ không có sự đoàn kết hiệp một. Các chiến sĩ sẽ thờ ơ với nhau và không quan tâm gì đến Đức Chúa Trời là điều khiến họ đi đến thất bại. Sự đoàn kết hiệp một bắt đầu khi mỗi người ở trong sự ổn định trật tự đối với Chúa và với nhau.


 Sự làm ô uế trong đời sống vợ chồng (Dân 5:11-31): Tính chung thủy trong hôn nhân là là viên đá làm nền tảng cho mọi xã hội, vì khi gia đình đi lên vững vàng thì quốc gia cũng đi lên vững vàng. Trong Y-sơ-ra-ên, phạm tội gian dâm là tội không những làm ô uế người có liên quan mà còn làm ô uế cả đất nước của họ nữa, đó là tội mà Đức Chúa Trời rất ghê tởm (Le 18:20,24-29).Tội tà dâm là tội bị tử hình. Nếu sự phạm tội đó được chứng minh là có thực sự,thì cả hai kẻ nam nữ cùng phạm tội tà dâm ấy sẽ bị người ta ném đá cho đến chết (Phuc 22:22-24).


Giả sử có một người chồng nọ nghi ngờ vợ mình không chung thủy với mình nhưng anh ta không có chứng cớ chứng minh cho điều đó thì sao? Anh ta có thể làm gì? Nếu sự nghi ngờ của anh không đúng, thì những ý nghĩ ngờ vực đó trong anh sẽ cứ âm ỉ mãi khiến anh và vợ anh cùng gia đình anh ngày càng thêm bị dày vò, khổ sở, tức tối. Còn nếu sự ngờ vực của anh đúng, thì có phải chính tội lỗi vợ anh gây ra đã đưa đến sự nghi ngờ đó – hoặc thậm chí đem sự rối loạn – vào trong gia đình anh chứ còn gì nữa? Để giúp giải quyết vấn đề khó xử này, Đức Chúa Trời đã đưa ra sự kiểm tra sau đây.


Chúng ta hãy nhìn vào thủ tục đầu tiên và sau đó xem xét những vấn đề có liên quan đến sự kiểm tra này. [9]


-Thứ nhất, người chồng đưa vợ mình đến gặp thầy tế lễ tại cửa đền tạm và mang theo sinh tế dùng làm của tế lễ đến đó (Dân 5:15-16). Sự kiểm tra này được thực hiện công khai cho nhiều người có thể chứng kiến và nghe. Thầy tế lễ sẽ trình người vợ kia ra trước mặt Đức Chúa Trời, bởi vì chỉ có Chúa là Quan Tòa duy nhất xét xử vụ này (c.15-16 Le 5:1-13). Cụm từ “trước mặt Đức Giê-hô-va” được tìm thấy bốn lần trong phân đoạn này (Dân 5:16,18,25,30), và danh Ngài được đề cập đến hai lần trong lời thề (c.21). Của lễ có thể là thứ tầm thường rẻ tiền nhất mà người nghèo cũng có khả năng chuẩn bị được, nó được trình lên mà không cần phải có dầu với trầm hương. Cả hai vợ chồng đứng trước mặt Đức Chúa Trời với dáng vẻ đáng thương nhất của người nghèo.


-Thứ hai, thầy tế lễ sẽ lấy nước từ chậu nước dùng để rửa tội đổ vào một chậu đất rồi hốt bụi đất từ nền nhà đền tạm bỏ vào đó khuấy lên (c.17). Có lẽ bụi đất đó là hình ảnh nhắc nhở về sự xuất thân từ địa vị thấp hèn của loài người (Sa 2:7) và kết cuộc cuối cùng của họ là sự chết mà thôi (Thi 22:15).


-Thứ ba, thầy tế lễ sẽ làm cho tóc người vợ đó sổ tung ra, rồi để cho tóc ấy xõa dài xuống trông như thể cô ta đang có tang vậy (Dân 5:18). Thường thì tóc phụ nữ được coi là danh dự của họ và chúng phải được trùm kín lại, nhưng trong hành đồng này, người vợ ấy phải trình danh dự mình ra trước mặt Đức Giê-hô-va và không được giấu diếm gì với Ngài (ICo 11:15). Cùng lúc đó, thầy tế lễ sẽ đặt của tế lễ vào hai lòng bàn tay nàng.


-Thứ tư, thầy tế lễ bắt nàng thề trước mặt Đức Giê-hô-va (Dan 5:19) và kế tiếp tuyên ra những lời rủa sả trói buộc lời thề đó (c.20-22). Nàng phải xác quyết sự xét xử công minh chính trực của Đức Chúa Trời bằng cách nói “A-men! A-men!”, có nghĩa “tin là sẽ xảy ra đúng như vậy”.


-Thứ năm, thầy tế lễ viết những lời rủa sả vào một cuộn giấy rồi bỏ nó vào trong nước đắng vò qua vò lại cho nó phai sạch những chữ viết ấy đi (c.23).


-Thứ sáu, người vợ kia phải uống nước đắng đó (c.24). Từ “đắng”, được dùng năm lần trong đoạn sách này (c.18-19,23-24), nhưng ở đây không phải nói đến vị đắng của nước mà là ngụ ý đến sự ảnh hưởng tác động của nước khi nó vào trong cơ thể người nữ ấy. Nếu cô ta phạm tội thực sự, thì Đức Chúa Trời sẽ khiến cho người phải chịu đau đớn đắng cay.


-Thứ bảy, khi người nữ đó uống nước đắng rồi, thầy tế lễ liền lấy của lễ từ tay nàng trình ra trước mặt Chúa. Nếu cô ta quả thật có phạm tội, thì các kết quả của lời cô ta đã thề sẽ được chứng minh. Còn nếu cô ta đã mang thai, thì sẽ bị hư thai; hoặc cô ta sẽ bị vô sinh trong suốt phần đời còn lại của mình. Cô ta sẽ cứ phải cảm thấy đau đớn thể xác vì những hậu quả khủng khiếp do tội lỗi mình gây ra và phải sống với những hậu quả ấy suốt cho đến lúc lìa đời.

Dĩ nhiên, đối với một người vợ Do-thái nếu bị tình trạng vô sinh thì đó là một thảm kịch, vì công việc quan trọng nhất của người vợ trong cuộc đời là sinh sản cho chồng mình những đứa con thừa tự để nối dõi tông đường cho chồng trong Y-sơ-ra-ên (Sa 30:1-2; Ru 4:14). [10]


Bây giờ chúng ta hãy xem xét một số vấn đề liên quan đến nghi lễ này. Không có ký thuật nào trong Kinh Thánh cho biết có người chồng hoặc người vợ đã bị rủa sả cụ thể nào từng bị áp dụng sự kiểm tra này. Có lẽ sự tồn tại của luật lệ này đã cho thấy có một rào cản ngăn chặn tội tà dâm và là lời cảnh cáo rằng hễ ai phạm tội đó sẽ bị phát hiện.Ở đây rõ ràng còn có một số “rào chắn” liên quan khiến người chồng sẽ do dự không thể vội chạy đến với thầy tế lễ và yêu cầu vợ mình phải đi đến đó để chịu sự kiểm tra.


Để bắt đầu sự kiểm tra này, vì đó là một việc phải thực hiện công khai, người ta thi hành tại cửa đền tạm, và sau đó thì cả trại quân đều sẽ biết hết. Vậy có người chồng nào lại muốn phơi bày những vấn đề rắc rối lộn xộn trong quan hệ hôn nhân vợ chồng của mình ra trước bàn dân thiên hạ chứ? Đặc biệt là khi người chống ấy không thể biết chắc kết quả của cuộc thử thách, kiểm tra vợ mình sẽ như thế nào? [11]


Hơn nữa, những điều được phơi bày ra đó rồi sẽ nói lên cái gì về người chồng cũng như người vợ kia. Nếu người chồng yêu thương vợ mình và hết sức đau lòng vì sự bội bạc của cô ta như vậy,thì cớ sao người chồng ấy lại nỡ đem phơi bày cô ta ra giữa thiên hạ? Nhưng nếu người chồng không yêu thương vợ mình và chỉ muốn gây đau đớn cho cô ấy, thì anh ta có thể bị bối rối và chứng minh sai. Một người chồng khôn ngoan sẽ biết suy nghĩ thấu đáo và cân nhắc kỹ càng trước khi đưa vợ mình đi chịu xét xử theo cách này.


Còn người chồng cũng sẽ phải sống với các hậu quả mình gây ra. Nếu những sự nghi ngờ của anh ta được chứng minh là không đúng, thì anh ta phải chủ động xin lỗi vợ mình và phải làm công việc xây dựng lại mối quan hệ vợ chồng. (Nhưng tại sao anh ta lại không bị xử phạt như thế nào đó vì đã nghi ngờ và kết tội sai cho vợ mình?). Nếu cô ta bị phát hiện là có phạm tội, thì người chồng ấy cũng phải tiếp tục sống với cô ta, thế còn kẻ tình nhân của cô ta thì sao, cả việc cô ta phải chịu đựng những hậu quả về thể xác do sự rủa sả và tiếng xấu của cô ta nữa. Cô ta sẽ không bao giờ có thể sinh nở con cái cho người chồng ấy, thế nhưng người chồng lại vẫn phải chu cấp nuôi dưỡng nàng cùng các con cái nàng đã sinh ra cho anh ta trước khi nàng phạm tội.


Có nhiều câu hỏi gây bối rối liên quan đến tập tục lễ nghi này, nhưng ở đây chúng ta không nên đi chệch ra ngoài sứ điệp chính: Đức Chúa Trời muốn có sự thánh khiết trong hôn nhân, và những người chồng người vợ không thể thoát khỏi những hậu quả đau đớn cay đắng do thiếu sự chung thuỷ trong đời sống tình cảm vợ chồng với nhau. Đức Chúa Trời có thể tha cho người phạm tội tà dâm (Gi 8:1-11) và những người chồng người vợ cũng có thể cùng nhau làm lại từ đầu trong Chúa. Tuy nhiên, tội gian dâm ngoại tình thường gây đau khổ đắng cay cho mọi người và đôi khi người ta thấy thật khó sống nổi với những hậu quả của tội lỗi này cho dù đã được tha thứ.


2. Một dân tộc được biệt riêng ra (Dân 6:1-21)

Đừng nhầm lẫn giữa từ “Nazirite” (Na-xi-rê) với từ “Nazarene” (Na-xa-ren). Chúa Giê-xu được gọi là người Na-xa-ren bởi vì Ngài đến từ thành Na-xa-rét, một thành phố mà dân Giu-đa rất xem thường, kỳ thị (Gi 1:43-46) [12] Từ Na-xi-rê có nguồn gốc từ tiếng Hê-bơ-rơ nghĩa là “hãy biệt riêng mình ra, hãy tận hiến”. Chúa Giê-xu không phải là người Na-xi-rê vì Ngài đã đụng đến xác chết và có uống rượu nho là cả hai thứ đều bị cấm đối với người Na-xi-rê.


Sự biệt riêng được mô tả (Dan 6:1-8): Người Na-xi-rê là những người nam hoặc người nữ Do-thái tự nguyện dâng mình hoàn toàn cho Đức Giê-hô-va để làm trọn lời thề của người Na-xi-rê là biệt riêng hẳn mình ra cho Ngài. (Theo bản dịch KJV, những từ “hãy biệt riêng ra” “sự biệt riêng ra” được dùng 16 lần trong phân đoạn Kinh Thánh này).

Lời thề của người Na-xi-rê chứa đựng cả hai phương diện tích cực lẫn tiêu cực: về mặt tích cực, nó có nghĩa là được dành riêng ra để tận hiến cho Đức Chúa Trời;còn về phương diện tiêu cực nó có nghĩa là họ phải kiêng khem tất cả những gì mà Đức Chúa Trời không cho phép. Mỗi người Na-xi-rê có một mục đích khác nhau trong quyết định của mình, nhưng hết thảy họ đều mong muốn làm vinh hiển Đức Giê-hô-va và vâng theo Lời Ngài. Họ không tách mình ra khỏi xã hội nhưng thay vào đó họ làm những chứng cớ cho người khác nhận biết được tầm quan trọng của việc dâng mình hoàn toàn cho Chúa là thế nào. Họ phải giữ lời thề của mình trong suốt một thời gian có kỳ định đặc biệt (Cong 21:23-27) và vì mục đích đặc biệt nào đó.


Lời thề của người Na-xi-rê liên quan đến ba trách nhiệm sau.

-Thứ nhất, họ không được uống rượu, nước nho ép, giấm, và kể cả những thức uống có men gây kích thích, họ không được ăn trái nho tươi, nho khô, và thậm chí cũng không được ăn cả cái vỏ trái nho và hạt nho!

-Thứ hai, họ phải để tóc dài là dấu hiệu cho biết họ đã dâng mình cho Đức Chúa Trời một cách đặc biệt. Còn người nữ Na-xi-rê thì đã để tóc dài sẵn, có lẽ họ xõa tóc ra và không chải chuốt gì hết mà cứ để mặc cho nó luộm thuộm một chút để làm một dấu hiệu cho sự biệt riêng của họ.Thứ ba, họ không bao giờ được đụng đến xác chết, cho dù đó là những người thân yêu hay bà con của mình.


Sự biệt riêng đã bị làm ô uế (Dan 6:9-12): Không ai ngoài Đức Chúa Trời mới có khả năng tể trị kiểm soát những hoàn cảnh cuộc sống chúng ta, và người Na-xi-rê có thể tình cờ bị làm ô uế. Nếu điều đó xảy ra,người ấy phải đợi một tuần lễ và đến ngày thứ bảy thì anh ta phải cạo đầu. Vì khoảng thời gian biệt riêng ra đã bị chấm dứt bất ngờ, và tóc là dấu hiệu của sự biệt riêng ra đó, cho nên tóc bị ô uế phải được cạo bỏ đi. Tuy nhiên, tóc đã được cạo bỏ ấy không có ý nghĩa gì trong thành phần của lễ đối với người Na-xi-rê nào đã hoàn thành lời thề nguyện của mình (c.18).


Vào ngày thứ tám, người Na-xi-rê vừa được nói đến ở trên đi gặp thầy tế lễ tại bàn thờ bằng đồng và dâng lên những sinh tế về các của lễ theo luật định: sinh tế là một con chim dùng cho của lễ chuộc tội, sinh tế là hai con chim thì dùng cho của lễ thiêu, và một con chiên làm con sinh dùng cho của lễ về sự mắc lỗi.

Sau khi điều này được thực hiện sẽ cho phép người đó tái biệt riêng mình ta cho Đức Giê-hô-va và lại có sự bắt đầu mới. Đó chính là cơ hội thứ hai để họ làm trọn sự thề nguyện của họ đối với Đức Chúa Trời. Cơ-đốc nhân ngày nay cần phải nhận ra rằng không có sự thất bại nào là vĩnh viễn cả.

Một Mục sư Giáo hội Trưởng Nhiệm là Alexander Whyte (1837-1921) có nói: “Đời sống Cơ-đốc nhân chiến thắng là chuỗi những sự bắt đầu mới”.


Sự biệt riêng được hoàn thành (Dan 6:13-21): Người Na-xi-rê đã thực hiện thành công khoảng thời gian họ biệt mình riêng ra đến lúc họ đem các của lễ đến với thầy tế lễ và dâng chúng cho Đức Giê-hô-va. [13] Trước hết, thầy tế lễ dâng tế lễ gồm một chiên con cái giáp năm dùng cho lễ chuộc tội, bởi vì khoảng thời gian biệt riêng mình ra của người Na-xi-rê đã không làm cho họ trở nên vô tội. Sau đó, thầy tế lễ dâng con sinh là một chiên con đực giáp năm dùng về của lễ thiêu, tượng trưng sự biệt riêng hoàn toàn cho Đức Giê-hô-va.

Thầy tế lễ dâng tiếp một chiên đực cùng với giỏ bánh không men làm của lễ thù ân (lễ thông công), cặp theo của lễ chay và của lễ quán. Bánh không men và của lễ thù ân về sau này trở thành một phần trong trong bữa ăn thông công tại đền tạm là bữa ăn để người đi thờ phượng Chúa có cơ hội chia sẻ với nhau. Theo luật Lê-vi, thầy tế lễ nhận được phần chia cho mình từ các của lễ dâng, vì đây là cách để Hội thánh Chúa chu cấp nuôi sống cho họ.


Một trong những phần quan trọng nhất của nghi lễ là việc cạo đầu của người Na-xi-rê và bỏ tóc được cạo đó trên bàn thờ nằm bên dưới của lễ thù ân. Đây là lễ vật đặc biệt dâng lên cho Đức Giê-hô-va bởi vì tóc dài tượng trưng cho lời thề của người Na-xi-rê như thế là do Chúa quy định và giờ thì nó đã được hoàn nguyện xong xuôi. Vì họ đã làm theo đúng những sự chỉ dạy, cho nên giờ đây họ được phép uống rượu.[14]


Không ai có thể được cứu nhờ đã lập lời thề gì đó và giữ lời thề ấy. Sự cứu rỗi là đặc ân của Đức Chúa Trời ban cho kẻ tin cách nhưng không, chứ không phải là phần thưởng chỉ dành cho những ai xứng đáng. Tuy nhiên, có một số người được Chúa hướng dẫn đã lập lời thề với Chúa, thì họ sẽ không nhận gì từ Chúa mà chỉ dâng điều gì đó cho Ngài, và hễ những sự thề nguyện của họ không mâu thuẩn với Kinh Thánh thì Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho họ (Thi 22:25; Thi 50:14; Thi 61:5,8; Thi 76:11; Thi 116:14). Thường thì người ta thề nguyện với Chúa chỉ khi nào họ nhờ Ngài giải cứu họ ra khỏi gian truân, nguy hiểm (Thi 66:14; Gion 2:9), và rồi có không ít người vội quên đi những lời hứa nguyện của họ khi họ đã được Chúa giải cứu xong nên lại cảm thấy dễ chịu thoải mái. Nhưng thật nguy hiểm cho những ai đã hứa nguyện với Chúa điều gì đó mà không giữ lời (Tr 5:1-7).


3. Một dân tộc được chúc phước (Dan 6:22-27)

Các thầy tế lễ được ban cho đặc quyền phục vụ tại bàn thờ và thi hành chức vụ tại trong nơi thánh, bên cạnh đó họ còn được phép nhân danh Đức Chúa Trời chúc phước cho dân sự Ngài. Ngày nay chúng ta vẫn đang dùng cách chúc phước này, vì chúng ta được phép dùng cách đó cũng như Y-sơ-ra-ên ngày xưa vậy. Hội thánh được chúc phước với “đủ mọi thứ phước thiêng liêng” trong Chúa Giê-xu Christ (Eph 1:3) và chúng ta có thể nhận lãnh sự chúc phước này qua Ngài.


Nếu nói đến một dân tộc nào đó đã từng được chúc phước thì ấy chính là dân tộc Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời kêu gọi họ trong ân điển Ngài, giải cứu họ khỏi ách nô lệ, ban cho họ Lời thánh của Ngài, ban cho họ Đất Hứa, ngự ở giữa vòng họ trong nơi thánh; và Ngài còn ban cho họ nhiều ơn phước mà các dân tộc khác không hề có được. Dĩ nhiên, phước hạnh lớn lao nhất trong số tất cả các phước hạnh là qua dân tộc Y-sơ-ra-ên Ngài đã sai Con Ngài đến thế gian, vì “sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến” (Gi 4:22; Ro 9:1-5).


Việc nhân danh Ba Ngôi Đức Chúa Trời gợi ý rằng Đức Chúa Trời của chúng ta là Đấng có Ba Ngôi hiệp một: là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Linh. Đức Chúa Cha là Đức Giê-hô-va (Thi 110:1), cũng là Đức Chúa Con (Ro 10:9), và là Đức Thánh Linh (IICo 3:17). Bạn sẽ gặp Đức Chúa Trời Ba Ngôi này trong Mat 3:16-17; Mat 28:19-20; Gi 3:34-35; IICo 13:14, và còn ở nhiều chỗ khác nữa trong Kinh Thánh. Eph 1:3-14 thực sự là một bản Thánh Ca ca ngợi Đức Chúa Trời Ba Ngôi là Đức Chúa Cha (c.3-6), Đức Chúa Con (c.7-12) và Đức Chúa Thánh Linh (c.13-14).


Những đại từ trong sự ban phước này ở dạng số ít, có nghĩa là các ơn phước của Đức Chúa Trời thường đến với chúng ta một cách cá nhân; nhưng có một đại từ số nhiều trong Dân 6:27, “thì ta đây sẽ ban phước cho dân đó” Đức Chúa Trời ban phước cho dân tộc Y-sơ-ra-ên bằng cách Ngài ban phước cho từng cá nhân, và qua đó bằng cách ban phước cho cả dân tộc, Ngài sẽ ban phước cho toàn thế giới. Đức Chúa Trời có hứa với Áp-ra-ham rằng “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn, ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước” (Sa 12:2, NIV). Chúng ta hãy ban phước cho thế giới này bằng cách chia sẻ lẽ thật của Đức Chúa Trời cho họ, thường thì hãy bắt đầu với một người nào đó vào dịp nào đó.


Chúng ta cần đến những phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã liệt kê ra ở đây: được Chúa đoái xem, phù hộ, chăm sóc; được Ngài chiếu sáng mặt Ngài trên chúng ta và làm ơn cho chúng ta cách dư dật luôn; được Ngài chú ý đến và đáp lời khi chúng ta kêu cầu; và kết quả của mọi phước hạnh trên, chúng ta sẽ được hưởng sự bình an của Chúa trong lòng chúng ta.

Sự bình an (Shalom) là một trong những từ rất hay trong từ vựng tiếng Hê-bơ-rơ, nó còn có nghĩa mở rộng hơn đó là nói về việc không có sự xuất hiện bão tố và những rắc rối, gian nan phiền toái xung quanh chúng ta. Nó nói về sự yên tĩnh trong tâm hồn chúng ta, về sức khoẻ thuộc linh và sự trưởng thành thuộc linh, là sự đáp ứng đầy đủ cho những nhu cầu đòi hỏi trong cuộc sống, và đó là sự biểu hiện của tinh thần khoẻ mạnh vượt lên trên mọi hoàn cảnh sống.

George Morrison định nghĩa “sự bình an” là “trạng thái chiếm hữu những nguồn vui đầy đủ sung mãn”, đây cũng chính là ý mà Phao-lô đã nghĩ đến khi ông viết trong Phi 4:6-20.


4. Một dân tộc rộng lượng, hào phóng (Dân 7:1-89)

Vào ngày đầu tiên của tháng thứ nhất trong năm thứ hai, sau khi Y-sơ-ra-ên được giải phóng khỏi Ai-cập, thì đền tạm chứng cớ được dựng lên và được tổ chức lễ khách thành dâng cho Đức Giê-hô-va (Xu 40:1-38). Trong ngày đó, 12 chi phái của Y-sơ-ra-ên bắt đầu mang những lễ vật đặc biệt đến dâng cho Chúa để các thầy tế lễ và người Lê-vi có mà dùng trong sự phục vụ coi sóc đền tạm. Dân sự dâng hiến rất rời rộng, hào phóng để có kinh phí xây dựng đền tạm (Dân 25:1-8; Dân 35:4-36:7), và giờ đây họ lại đang đóng góp công sức vào để duy trì đền tạm cũng như để đảm bảo được vai trò hoạt động của nó.


Khi chúng ta đọc lướt qua phân đoạn Kinh Thánh Xu 25:1-40 dài dằng dặc này (là phân đoạn Kinh Thánh dài nhất trong các sách Ngũ Kinh), có thể chúng ta sẽ có ấn tượng rằng nội dung của nó không chứa đựng gì ngoại trừ sự nhắc đi nhắc lại, trong 12 ngày liên tiếp, tộc trưởng của từng chi phái đem các lễ vật giống hệt nhau đến dâng. Nhưng chúng ta không nên đi xa vấn đề Đức Chúa Trời đặc biệt lưu ý đến từng lễ vật, từng vị tộc trưởng, từng chi phái trong từng ngày liên tục. Thực tế, mỗi tộc trưởng được đề cập đến hai lần, vào lúc vừa bắt đầu bài ký thuật và vào lúc kết thúc.

Chúng ta đã gặp các vị tộc trưởng này trong Dân 1:5-16; Dân 2:3-32. Sự sắp xếp thứ tự giữa vòng các vị ấy cũng giống như thứ tự đã được sắp đặt cho Y-sơ-ra-ên vào bất kỳ khi nào họ ra đi đến đóng trại ở một nơi mới nào đó.


Chúng ta không thể tính toán được giá cả và giá trị của các lễ vật này là bao nhiêu theo vật giá thời nay, nhưng có một điều rõ ràng rằng đây là sự dâng hiến rất rộng rãi hào phóng và rất có giá trị. Chắc chắn 12 vị tộc trưởng nọ đã cùng nhau họp lại bàn bạc quyết định sẽ dâng thứ gì, sau đó họ tạo điều kiện cho từng chi phái của mình đóng góp, dâng hiến. Những lễ vật dân sự đem dâng vừa có giá trị lớn vừa hữu ích, điều này cho thấy họ có tấm lòng rộng rãi và họ rất thực tế.

Những cái dĩa, bát, chậu bằng bạc và những chén bằng vàng (theo bản dịch KJV là muỗng), rất cần cho công việc của các thầy tế lễ trong đền tạm, và còn dùng để đựng bột với các hương liệu. Dĩ nhiên, 21 con vật dùng để làm con sinh cho các của lễ mà mỗi vị tộc trưởng của từng chi phái đã đem đến dâng sẽ đại diện tượng trưng cho một số tiền lớn đáng kể, tổng cộng có đến 252 con súc vật!


Sự việc Đức Chúa Trời lưu tâm đến và ghi nhận lại từng tên người dâng với từng tên lễ vật cho thấy Ngài luôn dành tình yêu thương và sự quan tâm đến mỗi cá nhân con cái Ngài. Ngài biết hết tên của tất cả chúng ta (Gi 10:3) và Ngài đã ghi hết chúng theo từng tên một vào bản danh sách trên Thiên Đàng của Ngài (Lu 10:20; Phi 4:3). Khi chúng ta đứng trước mặt Ngài, Ngài sẽ nhìn thấy chúng ta theo từng cá nhân một, “ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự khen ngợi mình đáng lãnh” (ICo 4:5) và “ai nấy sẽ nhận phần thưởng tùy theo việc mình đã làm” (ICor 3:8). Như vậy, không ai sẽ bị Chúa bỏ sót và không người nào sẽ bị lạc mất trong đám đông.


Đa-vít có giữ danh sách tên “những người hùng” của mình (IISa 23:8-39), và Phao-lô đã gởi những lời chào thăm và ngưỡng mộ đến các bạn bè của ông tại Rô-ma (Ro 16:1-27), ông kể tên 26 người một cách đặc biệt và đề cập đến hai người với cách thức rất giản dị mộc mạc. Đa-vít là một chiến binh vĩ đại, thế nhưng ông ắt sẽ phải ở vị trí nào nếu không có những người hùng của ông bên cạnh? Phao-lô là một sứ đồ lừng danh và cũng là nhà truyền giáo tài ba xuất chúng, nhưng ông cũng phải cần có những trợ thủ đắc lực để giúp ông làm tốt công việc nhà Chúa.


Tương tự dân sự thời cổ đại của Ngài, Đức Chúa Trời mong muốn dân sự ngày nay của Ngài cũng phải được thánh sạch, được biệt riêng ra, “và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian” (Gia 1:27). Campbell Morgan nói rằng khi Hội thánh còn rất nhỏ bé so với gian, thì ấy là lúc Hội thánh đã làm nhiều điều nhất cho thế gian.

Chúng ta là những người được Đức Chúa Trời ban phước, và với những ơn phước này chúng ta phải có bổn phận, nghĩa vụ trở thành nguồn phước cho nhiều người khác nữa. Đức Chúa Trời muốn chúng ta hãy trở nên những người có tấm lòng rời rộng, hào phóng, hổ trợ cho Hội thánh địa phương và giúp cho công việc Chúa trên khắp thế giới theo sự hướng dẫn của Ngài.


Đức Chúa Trời có thể kỳ vọng,trông mong gì ở chúng ta không?





3. SỰ BIỆT RIÊNG RA VÀ CÁC NGHI LỄ – PHẦN II (Dân 8:1-26; Dân 9:15- Dân 10:10)


Chúng ta vẫn còn đang xem xét những sự kiện xảy ra trong trại quân của Y-sơ-ra-ên tại Núi Si-na-i vào ngày đền tạm được dựng lên và được khánh thành dâng cho Đức Giê-hô-va (Dân 7:1; Xu 40:2,17). Đó là ngày đầu tiên của tháng thứ nhất trong năm thứ hai sau khi Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô.


Mọi sự trong trại quân Y-sơ-ra-ên đã được thực hiện đâu vào đó theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Trong nơi thánh của đền tạm, phía trước bức màn, Môi-se thưa chuyện với Đức Chúa Trời và Ngài đã phán bảo ông từ nắp thi ân (Dân 7:89). Sau đó, Môi-se sẽ truyền lại những chỉ thị, mệnh lệnh của Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên, “Đức Giê-hô-va đối diện phán cùng Môi-se, như một người nói chuyện cùng bạn hữu mình” (Xu 33:11, NKJV).


Có hai điều liên quan đến ở đây: sự mặc khải thánh của Đức Chúa Trời và chức vụ lãnh đạo thánh do Ngài chỉ định.

Hết thảy dân tộc Y-sơ-ra-ên phải là một dân giữ chức tế lễ thánh cho Đức Chúa Trời (Dân 19:6; IPhi 2:5,9) [15] và Ngài đã ban cho dân Ngài những vị lãnh đạo thuộc linh (Eph 4:11-16), những vị lãnh đạo này sẽ được người ta tôn trọng và vâng lời (Dân 12:6-8; He 13:7-9,17).

Trong Hội thánh ngày nay, Đức Chúa Trời không phán bảo rành rành với dân sự Ngài như Ngài đã phán bảo Môi-se; nhưng khi dân sự Ngài cùng hiệp lại với nhau thờ lạy Ngài, cầu nguyện, và học Lời Ngài, thì Ngài sẽ bày tỏ cho biết ý muốn Ngài, “hãy xem xét mọi việc, điều chi lành thì giữ lấy” (ITe 5:21).

Đức Chúa Trời phán bảo Môi-se ba vấn đề quan trọng: trông coi việc đèn đóm (Dân 8:1-4), biệt riêng người Lê-vi ra thánh (c.5-26), và tuân theo hướng đẫn của Ngài khi dân sự tiến về xứ Ca-na-an (Dân 9:15-10:10).


1. Sự trông coi việc đèn đóm (Dân 8:1-4)

Đền tạm được phân chia thành hai nơi: nơi chí thánh có vinh quang Đức Chúa Trời ngự trên nắp thi ân đặt trên hòm bảng chứng, và nơi thánh được ngăn ra riêng biệt cách nơi chí thánh bởi bức màn. Có ba thứ đồ dùng trong nơi thánh, đó là bàn dùng để 12 ổ bánh, bàn xông hương bằng vàng nằm phía trước bức màn, và chân đèn vàng dùng để thắp sáng bảy ngọn đèn. [16]


Khi đền tạm được khách thành dâng cho Đức Giê-hô-va, vinh quang Ngài đã chuyển đến ngự vào trong (Xu 40:34-35) và lửa của Ngài đã loè ra thiêu hóa các của lễ dâng trên bàn thờ (Lê 9:23-24). Nhưng Đức Chúa Trời đã không thắp lên bảy ngọn đèn để trên chân đèn bằng vàng trong nơi thánh. Công việc này thuộc về nghĩa vụ và bổn phận của A-rôn, thầy tế lễ thượng phẩm, vì ông ta và các con trai ông cùng những hậu tự của họ sẽ phải có trách nhiệm theo quy định là trông nom các chân đèn, xếp các tim (bấc) đèn cho ngay ngay ngắn thứ tự, châm dầu thánh vào bình dầu, và đảm bảo lúc nào chúng cũng luôn cháy sáng (Xu 25:31-40; Xu 27:20-21; Xu 37:17-24; Lê 24:1-3).


Vì trong nơi thánh không có cửa sổ nào cả, cho nên chỗ phát ra ánh sáng duy nhất chính là chân đèn làm bằng vàng đặt ở phía bên trái của bàn thờ xông hương trước bức màn. Chúng ta không được cho biết kích thước của chân đèn, nhưng chúng ta có sự mô tả về nó. Nó được làm bằng từng miếng vàng ròng dát mỏng, nặng khoảng 75 pound, có sáu nhánh đèn chỉa ra từ thân chân đèn và có một ống thông ở chính giữa. Các nhánh này được trang trí thành “những bầu và hoa” rất đẹp (Xu 25:33 NIV). Ở phần chân của mỗi nhánh đèn giáp với ống thông nằm chính giữacó một ngọn đèn được thắp sáng bởi dầu ô-liu của dân Y-sơ-ra-ên (Dân 27:20-21). [17]


Chắc chắn A-rôn chính là người đã lấy lửa từ bàn thờ châm vào bảy ngọn đèn để thắp sáng chúng lên. Kể từ đó trở đi, ông cùng với các con trai mình có bổn phận cắt tỉa những tim đèn lên và cứ vào mỗi buổi sáng rồi buổi tối họ phải lo đổ dầu vào đèn cho đầy khi họ đến xông hương trên bàn thờ (Dân 30:7-8). Nếu không có ánh sáng của các ngọn đèn này, thì Ê-đôm rằng các thầy tế lễ sẽ không thấy đường để làm công việc mình trong nơi thánh. Những lời chỉ dẫn ở đây đã đưa ra thêm một nét mô tả mới rất nổi bật: A-rôn đã xoay các ngọn đèn “hướng ra phía trước trên phía trước chân đèn” (Dân 8:3 NIV) để ánh sáng sẽ chiếu ra soi trên bàn để bánh trần thiết và soi sáng khắp trong nơi thánh.


Chân đèn này biểu thị cho điều gì vậy? vì đền tạm, các vật dụng trang thiết bị cùng công việc và sự phục vụ của nó ngụ ý nói về thân vị và công tác của Chúa Giê-xu Christ (Hêb 9:1-28), cho nên chân đèn chắc chắn là hình ảnh tượng trưng cho Chúa Giê-xu Christ – Sự Sáng của trần gian (Gi 8:12).

“Đức Chúa Trời là sự sáng” (IGi 1:5), và chỉ có cách nhờ sự mặc khải của Ngài thì chúng ta mới có thể thấy và hiểu được lẽ thật thuộc linh.


Chân đèn ở đây là sự nhắc nhở các thầy tế lễ rằng Y-sơ-ra-ên đã được kêu gọi hãy làm ánh sáng chiếu soi ra thế giới người ngoại (Es 42:6 49:6). Trừ phi dân Y-sơ-ra-ên phải vâng lời Đức Chúa Trời và thờ lạy Ngài như Ngài đã phán dạy, nếu không, ánh sáng chứng cớ của họ ắt sẽ bị lu mờ và cuối cùng sẽ bị tắt lịm. Và đúng là đã xảy ra như vậy, một phần của trách nhiệm này thuộc về các thầy tế lễ (Ca 4:13). Chỉ có duy nhất Đức Chúa Trời mới có thể nhìn thấy các thầy tế lễ khi họ thi hành chức phận mình trong nơi thánh, đó là điều khích lệ họ vâng lời và kính sợ Chúa.


Nhưng trước khi chúng ta đi qua sự phán xét Y-sơ-ra-ên, chúng ta cần biết sự sáng chứng cớ của các Hội thánh ngày nay đã và đang toả sáng ảnh hưởng sâu rộng đến cỡ nào?

“Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự, hầu cho anh em ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống,chiếu sáng như đuốc trong thế gian” (Phi 2:14-16 NKJV Mat 5:14-16).

Chân đèn chung đại diện tượng trưng cho Y-sơ-ra-ên, còn các Hội thánh địa phương thì được mô tả như những chân đèn nhánh và có Chúa Giê-xu ở giữa họ, Ngài cai trị, kiểm soát họ và ban cho họ những lời cảnh cáo cùng những lời khuyên răn dạy bảo (Kh 1:12-20). Nếu ánh sáng của Hội thánh không chiếu ra theo như lẽ tự nhiên của nó, thì Đức Chúa Trời sẽ cất đi chân đèn ở đó (Kh 2:5). Đối với Ngài thì ở thành phố nào đó thà không có Hội thánh nào cả còn hơn là có nhưng Hội thánh ấy lại không yêu kính Ngài cho nên họ sẽ có thể đưa ra những lời chứng dối biết đâu được.


Dầu dùng cho việc thắp đèn tượng trưng cho Thánh Linh của Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất có quyền ban cho chúng ta quyền năng để chúng ta làm chứng cho Chúa Giê-xu Christ thật kết quả (Xa 4:1-4; Cong 1:8). Một Hội thánh nếu được đầy dẫy Đức Thánh Linh thì Hội thánh đó có thể đối mặt với mọi trở lực và tiếp tục can đảm làm chứng cho Chúa Giê-xu Christ (Cong 4:23-33).


2. Sự biệt riêng người Lê-vi ra thánh (Dan 8:5-16)

Nếu A-rôn và các con trai ông là những “tăng lữ chính thức” trong trại quân, phục vụ tại bàn thờ trong đền tạm,thì người Lê-vi chính là “những người thế tục được biệt riêng ra”, được ban cho đặc quyền làm thầy tế lễ trong chức vụ của mình. Họ được chọn ra từ “giữa vòng con cái Y-sơ-ra-ên” (c.6,14,16,19) làm sự thay thế cho các con trưởng nam là những người thuộc về Đức Giê-hô-va (Dân 8:16-18; Dân 3:40-51; Xu 13:1-22).

Người Lê-vi thuộc về Đức Chúa Trời (Dân 8:14) và Ngài đã ban cho họ quyền làm thầy tế lễ như đó là một đặc ân đặc biệt của Ngài dành cho họ (c.19).

Người Lê-vi có trách nhiệm coi sóc đền tạm, dỡ trại xuống mỗi khi dân sự hành quân, khiêng vác chuyên chở trại đi trong suốt cuộc hành quân, và sau đó lại dựng trại lên trở lại tại nơi đóng trại mới.


Vì họ có bổn phận hầu việc Đức Chúa Trời tại đền tạm, cho nên người Lê-vi phải được biệt riêng ra cho Ngài. Thứ nhất, họ được thanh tẩy bởi nước (c.5-7), nhưng không giống các thầy tế lễ khác, họ chỉ được rưới nước lên sơ trên người cmà thôi chứ không phải được tắm ướt hết cả người (Xu 29:4).Có khả năng Môi-se và A-rôn đã rưới nước lên người cho 22.000 người Lê-vi (Dân 3:39) dưới hình thức tập thể chứ không phải theo từng nhóm. Đồng thời, cùng với sự thanh tẩy này, người Lê-vi còn phải cạo hết lông tóc trên cơ thể mình (Le 14:8-9) và phải giặt giũ sạch áo xống mình. (Khi được thánh hóa dâng mình cho Đức Chúa Trời, các thầy tế lễ được ban cho những quần áo đặc biệt để mặc và không đòi hỏi phải cạo lông tóc như vậy xem Xu 25:5-9)[18]


Người Lê-vi được trình dâng trước mặt Đức Chúa Trời như “những của lễ sống” (Dân 8:8-14; Ro 12:1). Những vị tộc trưởng của các chi phái đại diện cho cả quốc gia, đặt tay họ trên người Lê-vi như một hành động của sự biệt riêng và nói thế này: “Các ông là những người thay mặt cho tất cả chúng tôi, hãy hầu việc Đức Giê-hô-va vì cớ chúng tôi”. Lần lượt, người Lê-vi đặt tay họ trên hai con bò đực con, một con là con sinh dùng cho của lễ chuộc tội và con còn lại dùng cho của lễ thiêu. Đúng là nước không thôi thì không thể làm tinh sạch tội lỗi người ta được, do vậy cũng cần đến huyết để thanh tẩy. Của lễ thiêu nói về sự tận hiến hoàn toàn cho Đức Giê-hô-va.


Kể từ khi những hành động được mô tả này thực hiện xong,người Lê-vi được phép bắt đầu phục vụ, hầu việc Chúa và được giao nhiệm vụ làm thầy tế lễ trong với công tác khác nhau tại đền tạm (Dân 8:15-26). Dân 4:3 tuyên bố rằng công việc của họ được bắt đầu khi họ 30 tuổi, nhưng Dân 8:24 thì nói là khi họ 25 tuổi. Có khả năng người Lê-vi phải học việc trong 5 năm trước khi bước vào thi hành mọi công việc của chức vụ mình tại đền tạm, bởi vì chắc chắn có nhiều việc quan trọng mà họ cần phải học hỏi trước. Khi người Lê-vi tròn 50 tuổi, họ được miễn không phải làm những công việc vất vả căng thẳng của bổn phận nữa, nhưng họ vẫn được phép làm thầy tế lễ nếu cần thiết. [19]


Có một số nguyên tắc thực tiễn liên quan đến sự hầu việc Chúa của Cơ-đốc nhân nổi lên từ sự dâng mình của người Lê-vi. Trước hết, chính Đức Chúa Trời đã chọn, trang bị và thánh hóa dân sự Ngài, sửa soạn họ sẵn sàng cho những công việc thuộc linh, và chúng ta phải chấp nhận ý chỉ, đường lối Ngài. Các thầy tế lễ chịu trách nhiệm về những công việc của đền tạm còn người Lê-vi làm trợ lý, cộng sự giúp đỡ họ. Mọi thầy tế lễ đều xuất thân từ dòng dõi A-rôn, không có người Lê-vi nào được phép đứng vào vị trí của một thầy tế lễ. Người Lê-vi không được phục vụ tại bàn thờ,không được mặc áo xống dành cho thầy tế lễ, và cũng không được vào trong nơi thánh (Dân 3:10,38; Dân 4:15-20; Dân 18:1-7; Xu 28:1; Xu 29:9).


Cho dù có những sự khác biệt như vậy nhưng vẫn không làm cho người Lê-vi giảm giá trị và cũng không làm giảm điýy nghĩa và tầm quan trọng của công việc họ. Về sau đó, có một vài người Lê-vi cố tình phạm vào chức thầy tế lễ, nên đã bị Đức Chúa Trời trừng phạt nghiêm khắc (Dân 16:1-17:13).

Chẳng có lý do gì để chúng ta kiêu hãnh, tự hào vì mình là một thầy tế lễ hay phải mắc cỡ, hổ thẹn vì mình là một người Lê-vi, bởi vì dù chúng ta ở vị trí nào thì đó thảy đều là do lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời mà chúng ta mới được như vậy (Gi 3:27; ICo 4:7). Trong sự hầu việc Chúa, không được có sự ganh đua, tranh cạnh nào cả, vì “ai nấy sẽ nhận phần thưởng tùy theo việc mình đã làm” (ICo 3:5-8).


Nguyên tắc thứ hai là những người làm công việc Chúa trước hết phải ưu tiên hầu việc, phục vụ Chúa rồi sau đó mới phục vụ dân sự Ngài. Các đầy tớ của Đức Chúa Trời phải là “những của lễ sống”, “như một của lễ đưa qua đưa lại cho Đức Giê-hô-va” (Dân 8:13; Ro12:1). Chúng ta hãy hầu việc Chúa bằng cách phục vụ dân sự Chúa,và những chỉ thị, mệnh lệnh mà chúng ta tuân theo phải được đến từ Ngài, “vì tình yêu mến Đức Chúa Jêsus mà chúng tôi xưng mình là tôi tớ của anh em” (IICo 4:5). Chúa giao cho chúng ta làm công việc gì không quan trọng, quan trọng là ở chỗ chúng ta phải vui vẻ và hết lòng mà làm công việc ấy cho Ngài.


Cuối cùng, cả người Lê-vi và các thầy tế lễ đều có nhiệm vụ và bổn phận bảo vệ nơi thánh của Đức Chúa Trời không cho những kẻ vô phận sự xâm nhập vào (Dân 8:19; Dân 1:53). Các thầy tế lễ và người Lê-vi đóng trại ở ngay sát chung quanh khu vực đền tạm và làm công tác bảo vệ ngăn cản không cho những kẻ muốn xâm phạm vào nơi thánh kẻo e làm khuấy động và mời gọi sự trừng phạt của Đức Chúa Trời đến chăng. Vì vậy ngày nay, những người lãnh đạo trong các Hội thánh địa phương phải sốt sắng bảo vệ bầy chiên đừng để người ta phá hoại Hội thánh,

“Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc” là lời Phao-lô nhắc nhở khuyên răn các vị lãnh đạo Hội thánh Ê-phê-sô (Cong 20:28 NKJV), và ông cảnh báo cho họ biết rằng nhiều kẻ thù nguy hiểm sẽ dấy lên từ cả bên ngoài Hội thánh lẫn bên trong nội bộ của Hội thánh (c.29-31). Các đầy tớ của Đức Chúa Trời cần phải luôn có tinh thần cảnh giác và hãy can đảm đương đầu với những kẻ thù chống đối lại lẽ thật của Đức Chúa Trời.


3. Bước theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời (Dân 8:1-26) ( Dân 9:15-10:10)

Dân Y-sơ-ra-ên là một dân tộc hành hương, họ đi thành đoàn vượt qua đồng hoang như một đội quân hùng hậu, và họ thường xuyên cần có sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Đích đến của họ là Đất Hứa, Đức Chúa Trời đã giải phóng họ khỏi Ai-cập và Ngài phán hứa sẽ đem họ vào trong nơi họ sẽ được thừa kế làm sản nghiệp với điều kiện họ phải tin cậy Ngài và làm theo ý Ngài.


Việc nhận biết được ý Chúa và làm theo ý Ngài là điều tối quan trọng để khiến cho đời sống Cơ-đốc nhân trở nên trọn vẹn và kết quả.

Giê-rê-mi đã đúng khi ông nói: “Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi biết đường của loài người chẳng do nơi họ, người ta đi, chẳng có quyền dẫn đưa bước của mình” (Gie 10:23).Con cái Chúa nào thất bại thì thường hay nói: “Ví bằng Chúa muốn”, là câu nói cho thấy tình trạng thất vọng và thất bại của họ (Gia 4:13-17).


Ngày nay, để giúp đỡ chúng ta quyết định và làm theo ý Chúa, chúng ta cần phải có Đức Thánh Linh ở cùng (Ro 8:26-27; Cong 16:6-7), cần có Lời Chúa đi trước chúng ta ( Thi 119:105), cần được Chúa Cứu Thế là Đấng Trung Bảo tể trị trên chúng ta và hành động vì cớ chúng ta (Ro 8:28-34;).

Để dẫn dắt Y-sơ-ra-ên trong cuộc hành trình của họ, Đức Chúa Trời đã ban cho họ trụ mây vào ban ngày và trụ lửa vào ban đêm (Dân 9:15-23;); và mỗi khi Ngài muốn thông báo cho dân sự biết ý Ngài, Ngài đã ra lệnh cho các thầy tế lễ hãy thổi vang hai ống loa bằng bạc lên (Dân 10:1-10;).


Trụ mây và trụ lửa (Dân 9:15-23): Trụ mây lạ lùng này xuất hiện lần đầu tiên tại Cuộc Xuất Ai-cập (Xu 13:21-22;) và nó đã đồng hành với Y-sơ-ra-ên suốt cuộc hành trình của họ (Ne 9:19;) [20]


Khi nào Y-sơ-ra-ên dựng trai lên, thì trụ mây này liền dừng lại và treo lơ lững ở tầm trên cao ngang chỗ đền tạm nằm chính giữa trại quân, nó chứng tỏ cho dân sự biết rằng Đức Chúa Trời đang ở cùng họ cả ngày lẫn đêm (Dân 9:17; tiếng Hê-bơ-rơ diễn tả điều này bằng từ shekinah) và sẽ dẫn dắt họ từng ngày từng lúc, từng bước từng giờ. Đó thật là một cảnh tượng đẹp đẽ uy nghi biết bao!


Bạn sẽ thấy cụm từ “theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va” được dùng 7 lần trong đoạn sách này (c.18,20,23). Lúc này, trụ mây di chuyển theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời; Ngài không cần đến những lời cố vấn của các vị lãnh đạo hoặc của dân sự (Es 40:13-14). Dân sự Chúa cũng không tài nào đoán được Đức Chúa Trời sẽ làm gì kế tiếp. Có lẽ hễ đêm đến thì trụ mây nán lại suốt đêm và đến sáng thì lại di chuyển tiếp, cũng có khi nó dừng lại hai ngày,hoặc một tháng và thậm chí có thể một năm. Việc trụ lửa di chuyển ngày hay đêm không thành vấn đề, điều quan trọng là dân Do-thái phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng nhổ trại rời khỏi đó và bước đi theo.


Thật lý thú biết bao khi chúng ta thấy trụ mây lạ lùng này mang ánh sáng đến cho dân Y-sơ-ra-ên nhưng lại đem lại sự tối tăm cho các kẻ thù của họ (Xu 14:19-20). Về phương diện này, trụ mây tượng trưng cho Lời Chúa, bởi vì những ai không nhận biết Đấng Christ bởi đức tin thì rõ ràng sẽ không hiểu được Lời Ngài muốn nói gì (ICôr 3:12-16). Để nhận biết được ý nghĩ của Đức Chúa Trời, chúng ta phải đầu phục ý muốn và đường lối Ngài, và bước đầu tiên là hãy đặt niềm tin cứu rỗi nơi Đức Chúa Giê-xu Christ (Eph 2:8-9). Kế đó, bạn hãy bước ra khỏi bóng tối và bước vào sự sáng tuyệt diệu của Đức Chúa Trời (Gi 3:18-21; IPhi 2:9; IICôr 4:6; Co 1:13).


Các thầy tế lễ và người Lê-vi, là những người đã sống ở gần đền tạm, có lẽ họ đã được phân công canh giữ cả ngày lẫn đêm để kịp nhận biết khi nào thì trụ mây di chuyển. Nếu chúng ta thật lòng muốn làm theo ý Chúa, thì lúc nào chúng ta cũng phải chú tâm quan sát và nhạy bén cảnh giác. Từ vựng mà Kinh Thánh Tân-ước dùng nói về thái độ nhạy bén cảnh giác này cùng với sự trông mong hết lòng là từ “hãy tỉnh thức” (Mat 24:42; Mat 25:13; ICôr 16:13; ITe 5:6; IPhi 4:7).


Chúa Giê-xu tự bảo mình là “sự sáng của thế gian” (Gi 8:12), và Ngài hứa với những ai bước theo (tin cậy) Ngài rằng họ sẽ không bao giờ đi trong nơi tối tăm. Chúng ta có đặc ân vĩ đại là “được bước đi trong sự sáng” và được vui hưởng mối tương giao với Chúa và với dân sự Ngài (IGi 1:4-10).

Bước đi trong sự tối tăm có nghĩa là đi ra ngoài đường lối Chúa, xa rời các ơn phước Ngài, và đang bị sự trừng phạt của Ngài đe dọa. Tại sao bạn lại sống trong bóng tối và sự tối tăm khi bạn có thể được Đức Chúa Trời chiếu sáng mặt Ngài trên đời sống mình? (Dân 6:24-26).


Những ống loa kèn trompet bằng bạc (Dan 10:1-10) [21].

Chính các thầy tế lễ chứ không phải người Lê-vi đã thổi lên hai khí cụ này, mặc dù người Lê-vi mới là những nhạc sĩ chính thức của dân sự (ISu 23:30; ISu 25:1-3). Hai cái kèn này được sử dụng không phải cho dịp thờ phượng mà là để kịp thời loan báo cho trại quân Y-sơ-ra-ên biết về những mệnh lệnh của Chúa. [22]. Các vị lãnh đạo và dân sự không những lúc nào cũng phải dán mắt lưu tâm đến trụ mây ở phía trên đền tạm, mà họ còn phải luôn luôn để tai chú ý lắng nghe những tiếng kèn vang lên nữa.


Nếu Môi-se muốn triệu tập cả hội chúng và hết thảy các nhà lãnh đạo của dân sự lại, thì ông sẽ dùng tiếng kèn làm tín hiệu báo cho họ biết phải tập trung. Tiếng của hai kèn cùng vang lên một lúc là triệu tập dân sự, còn nếu chỉ nghe tiếng của một kèn thì các cấp lãnh đạo phải mau họp lại.

Hễ khi nào trại quân dời đi, thì những kèn này sẽ được thổi lên phát tín hiệu cho cứ ba chi phái hiệp làm một biết mà xuất hành, bắt đầu từ chi phái Giu-đa, I-sa-ca và Sa-bu-lôn ở cuối phía đông của đền tạm. Những kèn này còn được dùng để thổi lên báo động truyền lệnh cho các chiến sĩ biết để chuẩn bị, sẵn sàng xung trận (Dân 31:1-6; IISu 13:13-15). Dân 10:9 mô tả tiếng kèn này như lời cầu nguyện trước mặt Đức Chúa Trời để Ngài sẽ ban cho dân sự Ngài chiến thắng trong trận đánh đó.


Sau khi quốc gia được thiết lập trong Đất Hứa, việc thổi vang lên những tiếng kèn này trở nên quan trọng vì đó là điều nhắc nhở dân sự Chúa nhớ đến các lễ hội trọng thể đặc biệt theo các kỳ định của lịch sinh hoạt trong đạo chúng ta ( c.10). Lễ Hội Thổi Kèn đánh dấu sự khởi đầu của những sự kiện tôn giáo đặc biệt vào tháng thứ bảy trong năm như là: Ngày đại Lễ Chuộc Tội và Lễ Lều Tạm (Dân 29:1-39; Le 23:23-43; Thi 81:3). Kèn sẽ được thổi vang lên thông báo cho dân Do-thái biết về các kỳ lễ trọng thể đã đến, kể cả việc báo hiệu cho sự bắt đầu của Năm Hân Hỉ (Le 25:8-12).


Tương tự dân sự Đức Chúa Trời trong Cựu-ước, con cái Chúa ngày nay cũng đang chờ “tiếng kèn thổi vang lên” làm tín hiệu triệu tập mọi người cùng nhau hiệp lại dưới quyền Chúa Giê-xu theo như lời Đức Chúa Trời đã tuyên bố về cuộc chiến chống lại thế giới tội ác, là thế giới sắp sửa đón cơn đoán phạt của Ngài (ITe 4:13-18 ICo 15:51-57). Cho đến kỳ đó, chúng ta vẫn là những người đang hành hương trong đồng hoang là thế gian này, vậy hãy bước theo những sự chỉ dẫn của Ngài và hết lòng trung tín hầu việc Ngài.


4. Tổ chức kỷ niệm Lễ Vượt Qua (Dan 9:1-14)

Các sự kiện được ghi nhận trong Dân 1-6 nhằm giới thiệu trước cho những điều được mô tả cụ thể trong Dân 7:1-6:15. Bây giờ chúng ta đang đến với năm thứ hai của lịch sử dân tộc Y-sơ-ra-ên (1:1 9:1). Đền tạm được dựng lên vào ngày đầu tiên của tháng thứ nhất (Xu 40:2,17). Các tộc trưởng của mười hai chi phái bắt đầu mang lễ vật đến dâng trong ngày đó (Dân 7:1), công việc này kéo dài 12 ngày (c.78). Vào ngày thứ 13, người Lê-vi được thanh tẩy và dự phần lễ biệt riêng họ ra thánh (Dân 8), vào ngày thứ 14 thì người Do-thái cử hành Lễ Vượt Qua (Dân 9:1-14).


Giữ Lễ Vượt Qua lần thứ hai (Dan 9:1-5):

Đó đúng là thời điểm dân Y-sơ-ra-ên được trả tự do hai năm và họ tổ chức lễ kỷ niệm về cái đêm kinh hoàng mà Đức Chúa Trời đã giải phóng họ thoát khỏi xích xiềng nô lệ tại Ai-cập, “Ấy là một đêm người ta phải giữ cho Đức Giê-hô-va” (Xu 12:42 NKJV). Khi nhìn lại quá khứ, dân sự sẽ rất ngưỡng mộ những gì Đức Chúa Trời đã làm cho họ, và họ có thể dạy cho con cái họ biết “ngày độc lập” của Y-sơ-ra-ên có ý nghĩa trọng đại như thế nào (Dân 12:26-28; Dân 13:8-16). Trừ phi các bậc cha mẹ thường nhắc nhở con cái họ nhớ về những điều Đức Giê-hô-va đã làm, nếu không thì thế hệ con cháu kế tiếp của họ sẽ không còn giữ đức tin nữa (Phuc 6:1-9; IITi 2:2).


Theo Xuất Ê-díp-tô Ký 12, mỗi gia đình phải giết một con chiên rồi đem quay nó trên lửa cho chín, sau đó ăn nó chung với bánh không men và rau đắng (Dân 9:11). Việc dùng bánh không men vì hai lý do là lý do thực tế và lý do biểu tượng. Lý do thực tế là vì dân Do-thái đã phải chuẩn bị rời khỏi Ê-díp-tô bất kỳ lúc nào, cho nên họ không thể chờ cho bột lên men được.

Còn lý do biểu tượng liên quan đến vấn đề là, đối với người Do-thái thì men làm cho bột nở tượng trưng cho điều xấu; và dân Do-thái phải là một dân tộc thánh khiết Tất cả men làm bánh phải được đem ra khỏi nhà họ trước Lễ Vượt Qua và cứ thế trong suốt tuần lễ kế tiếp (ICo 5:1-8; Mat 16:6,12; Ga 5:9). Rau đắng nhắc người Do-thái nhớ về cảnh nô lệ khốn nạn, tàn khốc của họ còn làm nô lệ ở Ê-díp-tô.


Đối với Cơ-đốc nhân ngày nay, Lễ Vượt Qua nói về Chúa Giê-xu Christ, Chiên con của Đức Chúa Trời, Đấng đã chết vì cớ tội lỗi nhân loại (Gi 1:29; ICo 5:7; Es 53:7; IPhi 1:19; Kh 5:6). Hễ ai tin Ngài thì sẽ được cứu chuộc khỏi tội lỗi (IPhi 1:18; Ro 8:34; Eph 1:7; He 9:12) và được công nhận có quyền kế tự thuộc linh trong Đấng Christ (Eph 1:3).

Trong bữa tiệc của Lễ Vượt Qua cuối cùng với các môn đồ Ngài, Chúa Giê-xu đã lập nên lễ gọi là Bữa Tiệc của Chúa (Tiệc Thánh, Lễ Ban Thánh Thể ) để khích lệ dân sự Ngài luôn nhớ đến Ngài. Tiệc Thánh nhắc chúng ta rằng Đấng Christ đã hi sinh cả mạng sống Ngài và đổ huyết ra để cứu chuộc chúng ta (Mat 26:26-30; Mac 14:22-25; Lu 22:17-20) và rồi đây sẽ có ngày Ngài trở lại đón chúng ta (ICo 11:23-24; ITe 4:13-18).


Tình huống bất ngờ (Dan 9:6-12):

Bất kỳ ai khi bị ô uế đều phải bị đuổi ra ngoài doanh trại, bởi vì sự ô uế mang tính chất lây lan (Dân 5:1-2). Điều này có nghĩa là những ai bị ô uế sẽ bị cấm tham dự Lễ Vượt Qua. Tình huống mới này đòi hỏi cần có sự hiểu biết mới, do đó Môi-se quay sang nhờ Đức Chúa Trời giúp đỡ (Gia 1:5). Vì đó là Lễ Vượt Qua của Chúa, cho nên chỉ có Chúa mới có thể thay đổi được các luật lệ mà thôi.


Đức Chúa Trời đã đáp lại bằng ân điển và lòng thương xót: Hễ ai bị ô uế hoặc không có mặt ở nhà trong Lễ Vượt Qua vào tháng thứ nhất thì có thể tham dự lễ tiệc vào ngày thứ 14 của tháng thứ hai, nhưng họ phải cẩn thận tuân thủ theo những lời chỉ dạy thánh tượng tự của Chúa trong Xu 12:1-50. Đức Chúa Trời không hề thiết lập thêm một Lễ Vượt Qua nào khác nữa, nhưng Ngài chỉ cho phép Lễ Vượt Qua nguyên thủy của Ngài được tổ chức, cử hành vào một thời điểm khác mà thôi. Thịt con sinh tế không được xem như thức ăn bình thường (“phải ăn hết sạch sẽ”) và không được làm gãy xương nào của chiên con dùng làm con sinh đó cả (Gi 19:31-37).


Có hai điều cảnh báo (Dan 9:13-14):

-Điều đặc biệt cần phải nghĩ đến về phía Chúa như vậy có lẽ dẫn đến tình trạng một số ít người trong dân Y-sơ-ra-ên đã bắt đầu khiêu khích, đối đầu lại với những lời giáo huấn thánh đã được quy định trong Lễ Vượt Qua, do đó Đức Chúa Trời phán bảo Môi-se hãy cảnh cáo họ phải luôn tuân giữ các luật lệ nguyên thủy, đối với cả tháng thứ nhất và tháng thứ hai.

Bất cứ người Do-thái nào có đủ điều kiện dự Lễ Vượt Qua ở tháng thứ nhất nhưng lại không dự, mà lại có ý định để dự vào tháng thứ hai cho thuận tiện hơn thì người đó ắt sẽ bị Chúa trừng phạt. Từ “truất khỏi” có nghĩa là gì đã không được giải thích ở đây; có lẽ nó có nghĩa là bị loại ra khỏi doanh trại, hoặc cũng có thể có nghĩa là bị xử tử. Tương tự Lễ Vượt Qua là lễ có tính chất quan trọng đối với người Do-thái, thì Tiệc Thánh cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi Cơ-đốc nhân ngày nay (ICo 11:28-30).

-Điều thứ hai cần cảnh báo đối với những khách trọ là ngoại kiều sống trong trại quân nhưng không được sinh ra dưới thời Giao-ước của Áp-ra-ham và không được thừa nhận bằng dấu hiệu cắt bì. Họ cho rằng có lẽ Lễ Vượt Qua vào tháng thứ hai không phải hạn chế và nghiêm ngặt khắc khe như ở tháng thứ nhất, tuy nhiên họ đã nhầm. Nếu người ngoại muốn giữ Lễ Vượt Qua với người Do-thái thì họ phải theo đạo của người Do-thái (Xu 12:19,43).


Một bi kịch khủng khiếp: Đây là Lễ Vượt Qua cuối cùng mà người Do-thái đã cử hành mãi cho đến khi Giô-suê dẫn họ tiến vào Đất Hứa vào khoảng chừng 40 năm sau (Gios 5:10). Vì sự vô tín và sự dấy loạn của họ tại Ca-đe Ba-nê-a (Dân 13:1-14:45), cho nên giờ đây những ai từ 20 tuổi sắp lên đều bị Đức Chúa Trời loại ra và họ phải chết trong cuộc hành trình nơi đồng vắng của Y-sơ-ra-ên. Khi Giô-suê lãnh đạo thế hệ mới đi vào xứ Ca-na-an, tất cả những người nam đều nhận được dấu hiệu của giao ước và Đức Chúa Trời đã khôi phục họ lại trong ân điển tốt lành của Ngài (Gios 5:2-9). Đó là sự bắt đầu mới đối với Y-sơ-ra-ên trong nơi ở mới của họ.


5. Bước theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời (Dan 9:1-14) (Dân 9:15-10:10)

Dân Y-sơ-ra-ên là một dân tộc hành hương, họ đi thành đoàn vượt qua đồng vắng như một đội quân hùng hậu, và họ thường xuyên cần có sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Mục tiêu của họ là Đất Hứa, Đức Chúa Trời đã giải phóng họ khỏi Ai-cập và Ngài phán hứa sẽ đem họ vào trong nơi họ sẽ được thừa kế làm sản nghiệp với điều kiện họ phải tin cậy Ngài và làm theo ý Ngài.


Việc nhận biết được ý Chúa và làm theo ý Ngài là điều tối quan trọng để khiến cho đời sống Cơ-đốc nhân trở nên trọn vẹn và kết quả.

Giê-rê-mi đã đúng khi ông nói: “Hỡi Đức Giê-hô-va,tôi biết đường của loài người chẳng do nơi họ, người ta đi, chẳng có quyền dẫn đưa bước của mình” (Gie 10:23). Con cái Chúa nào thất bại thì thường hay nói: “Ví bằng Chúa muốn”, là câu nói cho thấy tình trạng thất vọng và thất bại của họ (Gia 4:13-17).


Ngày nay, để giúp đỡ chúng ta quyết định và làm theo ý Chúa, chúng ta cần phải có Đức Thánh Linh ở cùng (Rô 8:26-27; Công 16:6-7), cần có Lời Chúa đi trước chúng ta (Thi 119:105), cần được Chúa Cứu Thế là Đấng Trung Bảo tể trị trên chúng ta và hành động vì cớ chúng ta (Ro 8:28-34). Để dẫn dắt Y-sơ-ra-ên trong cuộc hành trình của họ, Đức Chúa Trời đã ban cho họ trụ mây vào ban ngày và trụ lửa vào ban đêm (Dân 9:15-23) và mỗi khi Ngài muốn thông báo cho dân sự biết ý Ngài, Ngài đã ra lệnh cho các thầy tế lễ hãy thổi vang hai ống loa bằng bạc lên (Dân 10:1-10).


Trụ mây và trụ lửa (Dân 9:15-23): Trụ mây lạ lùng này xuất hiện lần đầu tiên tại Cuộc Xuất Ai-cập (Xu 13:21-22) và nó đã đồng hành với Y-sơ-ra-ên suốt cuộc hành trình của họ (Nêh 9:19) [23]


Khi nào Y-sơ-ra-ên dựng trai lên, thì trụ mây này liền dừng lại và treo lơ lững ở tầm trên cao ngang chỗ đền tạm nằm chính giữa trại quân, nó chứng tỏ cho dân sự biết rằng Đức Chúa Trời đang ở cùng họ cả ngày lẫn đêm (Dân 9:17) tiếng Hê-bơ-rơ diễn tả điều này bằng từ (shekinah) và sẽ dẫn dắt họ từng ngày từng lúc, từng bước từng giờ. Đó thật là một cảnh tượng đẹp đẽ uy nghi biết bao!


Bạn sẽ thấy cụm từ “theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va” được dùng 7 lần trong đoạn sách này (c.18,20,23). Lúc này, trụ mây di chuyển theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời; Ngài không cần đến những lời cố vấn của các vị lãnh đạo hoặc của dân sự (Es 40:13-14). Dân sự Chúa cũng không tài nào đoán được Đức Chúa Trời sẽ làm gì kế tiếp. Có lẽ hễ đêm đến thì trụ mây nán lại suốt đêm và đến sáng thì lại di chuyển tiếp, cũng có khi nó dừng lại hai ngày, hoặc một tháng và thậm chí có thể một năm. Việc trụ lửa di chuyển ngày hay đêm không thành vấn đề, điều quan trọng là dân Do-thái phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng nhổ trại rời khỏi đó và bước đi theo.


Thật lý thú biết bao khi chúng ta thấy trụ mây lạ lùng này mang ánh sáng đến cho dân Y-sơ-ra-ên nhưng lại đem lại sự tối tăm cho các kẻ thù của họ (Xu 14:19-20). Về phương diện này, trụ mây tượng trưng cho Lời Chúa,bởi vì những ai không nhận biết Đấng Christ bởi đức tin thì rõ ràng sẽ không hiểu được Lời Ngài muốn nói gì (ICo 3:12-16). Để nhận biết Đức Chúa Trời, chúng ta phải đầu phục ý muốn và đường lối Ngài, và bước đầu tiên là hãy đặt niềm tin cứu rỗi nơi Đức Chúa Giê-xu Christ (Eph 2:8-9). Kế đó, bạn hãy bước ra khỏi bóng tối và bước vào sự sáng tuyệt diệu của Đức Chúa Trời (Gi 3:18-21; IPhi 2:9; IICo 4:6; Co 1:13).


Các thầy tế lễ và người Lê-vi, là những người đã sống ở gần đền tạm, có lẽ họ đã được phân công canh giữ cả ngày lẫn đêm để kịp nhận biết khi nào thì trụ mây di chuyển. Nếu chúng ta thật lòng muốn làm theo ý Chúa, thì lúc nào chúng ta cũng phải chú tâm quan sát và nhạy bén cảnh giác. Từ vựng mà Kinh Thánh Tân Ước dùng nói về thái độ nhạy bén cảnh giác này cùng với sự trông mong hết lòng là từ “hãy tỉnh thức” (Mat 24:42; Mat 25:13; ICo 16:13; ITe 5:6; IPhi 4:7).


Chúa Giê-xu tự bảo mình là “sự sáng của thế gian” (Gi 8:12), và Ngài hứa với những ai bước theo (tin cậy) Ngài rằng họ sẽ không bao giờ đi trong nơi tối tăm. Chúng ta có đặc ân vĩ đại là “được bước đi trong sự sáng” và được vui hưởng mối tương giao với Chúa và với dân sự Ngài (IGi 1:4-10). Bước đi trong sự tối tăm có nghĩa là đi ra ngoài đường lối Chúa, xa rời các ơn phước Ngài, và đang bị sự trừng phạt của Ngài đe dọa. Tại sao bạn lại sống trong bóng tối và sự tối tăm khi bạn có thể được Đức Chúa Trời chiếu sáng mặt Ngài trên đời sống mình? (Dân 6:24-26).


Những ống loa (kèn trompet) bằng bạc (Dân 10:1-10) [24]. Chính các thầy tế lễ chứ không phải người Lê-vi đã thổi lên hai khí cụ này, mặc dù người Lê-vi mới là những nhạc sĩ chính thức của dân sự (ISu 23:30 ISu 25:1-3). Hai cái kèn này được sử dụng không phải cho dịp thờ phượng mà là để kịp thời loan báo cho trại quân Y-sơ-ra-ên biết về những mệnh lệnh của Chúa. [25] Các vị lãnh đạo và dân sự không những lúc nào cũng phải dán mắt lưu tâm đến trụ mây ở phía trên đền tạm, mà họ còn phải luôn luôn để tai chú ý lắng nghe những tiếng kèn vang lên nữa.


Nếu Môi-se muốn triệu tập cả hội chúng và hết thảy các nhà lãnh đạo của dân sự lại, thì ông sẽ dùng tiếng kèn làm tín hiệu báo cho họ biết phải tập trung. Tiếng của hai kèn cùng vang lên một lúc là triệu tập dân sự, còn nếu chỉ nghe tiếng của một kèn thì các cấp lãnh đạo phải mau họp lại. Hễ khi nào trại quân dời đi, thì những kèn này sẽ được thổi lên phát tín hiệu cho cứ ba chi phái hiệp làm một biết mà xuất hành, bắt đầu từ chi phái Giu-đa, I-sa-ca và Sa-bu-lôn ở cuối phía đông của đền tạm. Những kèn này còn được dùng để thổi lên báo động truyền lệnh cho các chiến sĩ biết để chuẩn bị, sẵn sàng xung trận (Dân 31:1-6; IISu 13:13-15). Dân 10:9 mô tả tiếng kèn này như lời cầu nguyện trước mặt Đức Chúa Trời để Ngài sẽ ban cho dân sự Ngài chiến thắng trong trận đánh đó.


Sau khi quốc gia được thiết lập trong Đất Hứa, việc thổi vang lên những tiếng kèn này trở nên quan trọng vì đó là điều nhắc nhở dân sự Chúa nhớ đến các lễ hội trọng thể đặc biệt theo các kỳ định của lịch sinh hoạt trong tôn giáo của họ ( c.10). Lễ Hội Thổi Kèn đánh dấu sự khởi đầu của những sự kiện tôn giáo đặc biệt vào tháng thứ bảy trong năm như là: Ngày đại Lễ Chuộc Tội và Lễ Lều Tạm (Dân 29:1-39; Le 23:23-43; Thi 81:3). Kèn sẽ được thổi vang lên thông báo cho dân Do-thái biết về các kỳ lễ trọng thể đã đến, kể cả việc báo hiệu cho sự bắt đầu của Năm Hân Hỉ (Le 25:8-12).


Tương tự dân sự Đức Chúa Trời trong Cựu-ước, con cái Chúa ngày nay cũng đang chờ “tiếng kèn thổi vang lên” làm tín hiệu triệu tập mọi người cùng nhau hiệp lại dưới quyền Chúa Giê-xu theo như lời Đức Chúa Trời đã tuyên bố về cuộc chiến chống lại thế giới tội ác,là thế giới sắp sửa đón cơn đoán phạt của Ngài (ITe 4:13-18; ICo 15:51-57). Cho đến kỳ đó, chúng ta vẫn là những người đang hành hương trong đồng hoang là thế gian này, vậy hãy bước theo những sự chỉ dẫn của Ngài và hết lòng trung tín hầu việc Ngài.

-Dan 9:15-23; xem giải nghĩa Dan 8:1-14.

-Dan 10:1-9; xem giải nghĩa Dan 8:1-14.





4. HÀNH TRÌNH TIẾN VỀ MÔ-ÁP (Dân 10:11-12:16)


Dân Y-sơ-ra-ên đóng trại tại Núi Si-na-i khoảng chừng 11 tháng. Họ đến đó vào tháng thứ ba sau cuộc giải phóng khỏi Ê-díp-tô (Xu 19:1), và bây giờ là nhằm tháng thứ hai của năm thứ hai. Trong suốt thời gian đó, Luật Pháp Đức Chúa Trời được ban bố ra,đền tạm được xây dựng xong và đã được khánh thành. Môi-se đã cử hành lễ thụ phong và biệt riêng ra thánh các thầy tế lễ và những người Lê-vi, ông cũng đã tu bộ binh sĩ, tổ chức bố trí các chi phái đâu vào đó hẳn hoi. Y-sơ-ra-ên giờ đây đang là một dân tộc sẵn sàng hành động.


Tuy nhiên, lịch sử về 38 năm kế tiếp của Y-sơ-ra-ên (Dân 10:11-22:1) mới là phần quan trọng nhất ký thuật lại sự vô tín và thất bại của họ.


Đó là những năm trời ròng rã dân sự chống đối Môi-se và dấy loạn chống nghịch lại ý chỉ đường lối của Đức Chúa Trời. Vì sự bất tuân của Y-sơ-ra-ên tại Ca-đe Ba-nê-a, khiến cho họ phải đi lưu lạc trong đồng vắng 38 năm, bỏ lại đằng sau họ hàng loạt những mộ phần nối đuôi nhau khi thế hệ lớn tuổi của dân sự đều đã chết hết. Thuộc trong số của thế hệ đó chỉ còn sót lại Giô-sua và Ca-lép được đi vào miền Ca-na-an mà thôi.


Ngược lại, 10 phân đoạn đầu của sách Dân-số ký ký thuật những hành động của dân tộc cho thấy họ có vâng lời Đức Chúa Trời. “Dân Y-sơ-ra-ên làm y như mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se vậy” (Dan 1:54) là câu chủ chốt được nhắc đi nhắc lại trong những phân đoạn Kinh Thánh này (Dân 2:34; Dân 3:16,51; Dân 4:49; Dân 5:4; Dân 8:3,20,22; Dân 9:5,23). Khi vâng lời Đức Chúa Trời, Y-sơ-ra-ên nhận được mọi sự và không phải mất thứ gì; tuy nhiên, họ đã không tin cậy Chúa và từ chối làm theo các mạng lệnh Ngài. Không phải mãi cho đến Dân-số ký 26 thì bức tranh đó mới thay đổi, khi Môi-se thực hiện cuộc điều tra dân số thế hệ mới và sửa soạn họ tiến vào xứ, đánh bại quân thù và thừa kế sản nghiệp của mình.


Chúng ta hãy xem xét ba khía cạnh cuộc sống của Y-sơ-ra-ên khi dân tộc bắt đầu bước vào cuộc hành trình, và chúng ta hãy học tập ý nghĩa của việc nhận biết ý Chúa và làm theo ý Ngài như thế nào.


1. Xuất hành theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời (Dan 10:11-36)

Khi trụ mây phía trên đền tạm di chuyển, các thầy tế lễ liền thổi kèn lên rồi cùng với người Lê-vi dở trại xuống, mọi người sửa soạn ra đi. Khi ở núi Si-na-i, họ cảm thấy thật dễ chịu,thoải mái vì họ chỉ ở tại chỗ suốt gần cả năm và không phải đối mặt với sự ra đi hết ngày này sang ngày nọ đầy gian nan vất vả như vầy. Chiến thắng vĩ đại nhất của Đức Chúa Trời trên Ê-díp-tô là Ngài đã làm mới lại tâm thần họ, và mỗi buổi sáng khi họ cùng nhau đi lượm Ma-na, họ đều được nhắc nhở rằng vì lòng nhân từ thương xót mà Đức Chúa Trời đã nuôi dưỡng, chu cấp cho mọi nhu cầu của họ như vậy.


Tuy nhiên sản nghiệp thừa kế của họ không phải là Núi Si-na-i; mà đó là Đất Hứa, “xứ đượm sữa và mật” mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho dân sự Ngài. Giờ là lúc họ phải đến đó. Khi chúng ta cảm thấy được dễ chịu, thoải mái hơn thì chúng ta lại càng ngại sự thay đổi; nhưng sẽ không có sự phát triển nếu không có thử thách và nếu không có thử thách thì sẽ khống có thay đổi. Sự thoải mái dễ chịu thường sẽ dẫn đến tính tự mãn, và tính tự mãn là kẻ thù của tính chất và sự tăng trưởng thuộc linh. Trong mỗi kinh nghiệm mới mẻ của cuộc sống, sẽ xảy ra một trong hai điều sau:hoặc chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ khiến chúng ta được trở nên nổi bật bởi những công việc tốt việc thiện của chúng ta, hoặc chúng ta tin cậy Ma quỷ thì nó sẽ khiến chúng ta xuất đầu lộ diện với những công việc xấu việc ác.


Đoàn người xuất hành rất trật tự (Dân 10:11-28): Các chi phái đều đã có người lãnh đạo (Dân 1:1-54) và họ đều biết là phải ra đi theo hàng ngũ thật trật tự (Dan 2:1-34), vì vậy tất cả những gì các thầy tế lễ phải làm lúc này là thổi kèn lên để phát tín hiệu cho từng chi phái biết hãy sửa soạn ra đi nhập vào cuộc hành trình chung. Bước theo trụ mây, Người Lê-vi khiêng hòm giao ước đi trước dẫn đường (Dân 10:33-36; Ne 9:12; Thi 78:14). Hòm giao ước là ngai của Đức Chúa Trời (Thi 80:1; Thi 99:1 NIV), Đức Giê-hô-va ngự trên đó để cai trị dân sự Ngài. Ngài đang dẫn đường họ, “Chúa cậy tay Môi-se và A-rôn mà dẫn dắt dân sự Ngài như một đàn chiên” (Thi 77:20 NKJV).


Giu-đa, I-sa-ca, và Sa-bu-lôn dẫn đầu cuộc hành quân,đi theo sau là người Ghẹt-sôn và người Mê-ra-ri khiêng đền tạm theo quy định. Kế tiếp là Ru-bên, Si-mê-ôn và Gát, theo sau họ là người Kê-hát khiêng các đồ đạc trang thiết bị của đền tạm đi ở khoảng giữa đoàn người. Đó là khoảng cách an toàn nhất để bảo vệ các dụng cụ trang thiết bị có giá trị quý báu đó. Những chi phái Ép-ra-im, Ma-na-se và Bên-gia-min theo sau kế tiếp rồi đến chi phái Đan, A-se với Nép-ta-li. “Bọn dân tạp” là những người không thuộc về bất kỳ chi phái nào đi ở hậu quân (Dân 11:4 Xu 12:38).


Vị trí trong cuộc hành quân của từng chi phái không phải tự chọn mà là bắt buộc theo chỉ thị của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Nếu chi phái Đan hoặc chi phái A-se cảm thấy chán nản vì phải ở phía cuối đoàn người nên họ đề nghị được đi lên phía trước, thì Môi-se sẽ từ chối đáp ứng yêu cầu của họ, vì ý Chúa trong vấn đề này là kiên định, không thay đổi được. Dân Y-sơ-ra-ên không phải đang trên đường đi giải trí hay du ngoạn ngắm cảnh. Họ là một doàn quân đang đi chinh phục lãnh thổ của kẻ thù theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va Vạn Quân. Mỗi chi phái là một bộ phận của đội quân Đức Chúa Trời (Dân 28:1-31 “đơn vị” NIV), và mỗi đơn vị phải đóng quân tại nơi họ được quy định.


Mời gọi nhiều người khác cùng ra đi (Dân 10:29-32): Hô-báp là anh vợ của Môi-se, con trai Ra-u-ên cũng là Giê-trô (Xu 2:15-3:1) [26] Hình như lúc ấy Giê-trô đã chết nên Hô-báp lo quản trị gia đình. Môi-se muốn những người anh em bên vợ cùng ra đi với Y-sơ-ra-ên và nhận hưởng những phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho dân sự Ngài, nhưng Hô-báp từ chối lời mời gọi ấy. Ông thích ở lại quê hương mình với dân tộc mình hơn là ra đi như vậy. Tại sao ông lại có thể hy sinh sự sung sướng, yên ổn cho một tương lai không biết trước được sẽ ra sao như thế?


Còn Môi-se biết rõ rằng Đức Giê-hô-va đang ở cùng Y-sơ-ra-ên và Ngài sẽ ban tương lai cho những ai tin cậy Ngài và tuân theo luật lệ Ngài. Có lẽ, còn bởi lý do sau mà Môi-se đã đưa ra lời mời gọi đặc biệt này: vì Hô-báp nắm rõ vị trí địa hình ở đó, cho nên ông có thể giúp đỡ Y-sơ-ra-ên trong chuyến hành trình đi vào đồng vắng ấy. Chắc hẳn Hô-báp đã đồng ý với kế hoạch này, bởi vì nhiều năm sau đó chúng ta tìm thấy hậu duệ của ông có sống cùng với người Y-sơ-ra-ên (Cac 1:16; Cac 4:11). Chắc chắn họ đã có sự xuất phát tốt đẹp hơn khi họ trở thành một phần của dân sự Đức Chúa Trời.


Những người nghiên cứu Kinh Thánh không đồng ý với nhau việc không biết Môi-se đúng hay sai khi ông đề nghị Hô-báp hãy làm “con mắt“ của Y-sơ-ra-ên lúc họ đi vào đồng vắng. Nói tóm lại, phải chăng dân tộc đã không được trụ mây và hòm giao ước của Đức Giê-hô-va dẫn đường? Phải chăng Chúa đã không phán bảo Môi-se và bày tỏ cho ông biết ý Ngài? Sau đó tại sao loài người lại còn phát thảo ra thêm kế hoạc dẫn đường nữa trong khi họ đã có rất nhiều sự giúp đỡ từ thiên thượng như vậy?


Nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời không phải là quá ít ỏi hay là nhằm triệt tiêu khả năng và trách nhiệm của họ. Y-sơ-ra-ên không cần phải có Hô-báp đưa đường chỉ lối họ phải đi đến đâu và phải cắm trại ở chỗ nào; bởi vì đã có Đức Chúa Trời lo điều đó rồi. Còn sự am hiểu của Hô-báp về tình hình vùng đất đó lại càng giúp họ đưa ra nhiều quyết định khác nữa khi họ di chuyển từ nơi này đến nơi khác.

Charles Spurgeon nói: “Theo tôi nghĩ, có lẽ chúng ta nên học hỏi ở điều này, rằng trong khi chúng ta đang tìm kiếm sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời qua sự bày tỏ của Ngài, nhiều lúc chúng ta hay tìm đến những sự chỉ bảo và hướng dẫn theo lẽ thường tình của chính chúng ta, là những sự chỉ dẫn mà Chúa đã tỏ cho bản thân chúng ta biết mà thôi”. [27] Chúng ta đừng “dựa vào khả năng hiểu biết” của chính mình (Ch 3:5-6), và cũng cố tình làm điều đó. Đức Chúa Trời muốn chúng ta hành động thật khôn ngoan với niềm tin chắc chắn, và Cơ-đốc nhân có ý thức thuộc linh ắt sẽ biết cách vận dụng tâm trí mình hướng tới ý chỉ của Đức Chúa Trời (Ro 12:2).


Nhưng chúng ta cũng đừng bỏ qua động cơ chính khiến Môi-se hành động là: ông đã mời gọi nhiều người khác nữa hãy cùng ra đi với Y-sơ-ra-ên để nhận hưởng các phước hạnh của Đức Chúa Trời sắm sẵn cho họ. Hội thánh ngày nay là những người đang hành hương trên đất (IPhi 1:1; IPhi 2:11), họ đang đi về Thiên Đàng, và họ có được đặc ân mời gọi nhiều người khác nữa cùng đi với chúng ta. Cuộc hành trình này không phải đơn giản, thoải mái, nhưng hiện tại Đức Chúa Trời đang ban phước cho dân Ngài, và Ngài sẽ hằng còn ban phước cho họ đời đời.Vậy, rốt lại chúng ta sẽ mời gọi được bao nhiêu người đi cùng chúng ta?


Sự làm vinh hiển Đức Giê-hô-va (Dân 10:33-36): Ở đây có gợi ý rằng Môi-se và A-rôn đã đi phía trước các chi phái (bộ lạc), ngay đàng sau hòm bảng chứng. Mỗi lần trụ mây phát tín hiệu di chuyển thì các chi phái tập trung lại, rồi Môi-se cầu nguyện với Đức Chúa Trời xin Ngài dẫn đường và ban cho họ thắng lợi. lúc cả dân tộc dừng lại đóng trại, Môi-se cầu nguyện xin Đức Chúa Trời lại hiện diện ở cùng dân sự Ngài trong đền tạm. Hòm giao ước được đặt trong nơi chí thánh còn trụ lửa thì dừng lại phía trên trại quân. [28]


Y-sơ-ra-ên đã khởi hành rồi dừng lại bao nhiêu lần trong cuộc hành trình này là điều không thành vấn đề, quan trọng ở chỗ là Môi-se đã thực hiện đi thực hiện lại những lần cầu nguyện như vậy. [29] Môi-se muốn dân sự biết rằng Đức Chúa Trời chứ không phải ông là người chịu trách nhiệm về dân tộc, và Y-sơ-ra-ên là đội quân phải biết nhờ vào sức Chúa mới chiến thắng. Tương tự lời cầu khẩn và chúc phước tại buổi nhóm sinh hoạt thờ phượng của một Hội thánh nọ, những lời cầu nguyện này đã trở nên quen thuộc với dân Do-thái, nhưng những lời cầu nguyện tóm tắt này rất cần thiết cho sự tăng trưởng để thành một dân tộc của Y-sơ-ra-ên. Môi-se ưu tiên đặt Đức Chúa Trời lên trên hết trong đời sống dân sự; và nếu người Do-thái biết lưu tâm đến điều này, thì chắc chắn họ sẽ tránh được những tội lỗi màvề sau này chúng đã đem đến cho họ biết bao điều khốn nạn, đau khổ.


2. Sự lằm bằm đầy tớ Đức Chúa Trời (Dân 11:1-35)

Vì tội lỗi mà lòng người có xu hướng quên đi các ơn phước Chúa, không quan tâm đến những lời Ngài đã phán hứa, và tìm thấy sự thiếu sót trong sự dự phòng, sắm sẵn của Ngài, “Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài. Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!” (Thi 107:8,15,21,31).


Dân Do-thái lằm bằm (Dân 11:1-3). Lịch sử tự thân nó đã lặp lại chính nó. Sau buổi nhóm thờ phượng ngợi khen Chúa rất quy mô, đông đảo bên Biển Đỏ được ba ngày, người dân Do-thái đã quay sang lằm bằm, phàn nàn Môi-se và Đức Chúa Trời bởi vì họ không có nước uống (Xu 15:22-27). Giờ đây, sau khi rời khỏi núi Si-na-i được ba ngày (Dân 10:33), dân Do-thái lại lằm bằm tiếp. Phải có đức tin mới có thể chấp nhận được sự dẫn dắt theo ý của Đức Chúa Trời (Ro 8:28), và đức tin của dân Y-sơ-ra-ên thì không mạnh mẽ gì.


Vì dân sự đã đóng trại tại một chỗ gần cả năm, do đó có lẽ việc yêu cầu họ ra đi cùng với sự buồn tẻ của vị trí địa hình địa vật đã khiến họ nản chí, mệt mỏi. Bản dịch NIV dịch là Dân 11:1 là “Vả, dân sự bèn lằm bằm, và điều đó chẳng đẹp tai Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va nghe, cơn thạnh nộ Ngài nổi lên, lửa của Đức Giê-hô-va cháy phừng phừng giữa dân sự và thiêu hóa đầu cùng trại quân” Nhưng cho dù bất kỳ nguyên nhân gì đi nữa, thì Đức Chúa Trời cũng đã nghe được những lời lẽ chống nghịch và tội lỗi này của họ, Ngài liền nổi giận nên giết chết những kẻ bất trung, vô ơn bạc nghĩa. [30] “Lửa của Đức Giê-hô-va” có thể được mô tả là những tia chớp sáng lòe bởi sấm sét (Xu 9:23-24), và thực tế là sự đoán phạt đã giáng trên dân sự và nó đang ở bên ngoài trại quân và cho thấy có lẽ “những dân tạp” chính là nguyên cớ đưa đến sự lằm bằm trong dân sự (Dân 11:4).


Khi tôi bước vào thi hành chức vụ mục sư của mình không bao lâu, tôi nhận thấy Dân 11:2 cho biết rằng: dân sự tuy đã lằm bằm Đức Chúa Trời và những người lãnh đạo thuộc linh rất nhiều, vậy mà rốt cuộc họ cũng đã chạy đến những vị lãnh đạo đó cầu cứu giúp đỡ! Môi-se thật nhân từ độ lượng biết bao khi ông cầu thay giùm cho dân sự, và đó là hình ảnh giống Đức Chúa Giê-xu Christ của chúng ta biết chừng nào! “Song Đức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài” (Lu 23:34). Khi Y-sơ-ra-ên phạm tội vài ba lần, nhờ Môi-se cầu thay mà Đức Chúa Trời đã trì hoãn sự trừng phạt của Ngài. Lại có lần, Môi-se thậm chí muốn tự nguyện chết để Y-sơ-ra-ên có thể được tha thứ khỏi bị trừng phạt (Xu 32:30-35).


Đám dân tạp lằm bằm (Dân 11:4-9): Chỉ có một chỗ này trong Kinh Thánh, từ vựng “asapsup” theo tiếng Hê-bơ-rơ đã được dùng, mô tả “sự hỗn tạp, lộn xộn”, “những người có thành tích bất hảo” là những người đã rời khỏi Ai-cập đi cùng dân Y-sơ-ra-ên (Xu 12:38). [31] Lý do tại sao đám dân tạp đó rời Ai-cập đã không được giải thích ở đây. Một phần trong số họ vì lo sợ sự đoán phạt của Đức Chúa Trời sắp xảy đến nên đối với họ để được an toàn nhất là họ nên đi cùng dân Do-thái (Xu 9:20). Một số đầy tớ và nô lệ có lẽ đã nhìn thấy sự ra đi của Y-sơ-ra-ên lần này là cơ hội cho họ thoát khỏi Ê-díp-tô trong khi nhiều người chỉ biết nghĩ đến việc chôn mình ở đó cho đến chết. Một số khác có lẽ có xu hướng tích cực hơn, nhưng bởi vì họ không có đức tin nơi Đức Chúa Trời, cho nên tấm lòng họ không bao giờ được biến đổi (He 4:1-2).


Cho dù sự khởi đầu của họ như thế nào đi nữa, thì “đám dân tạp” kia cũng chính là nguyên nhân khiến Môi-se và dân tộc Y-sơ-ra-ên phải rơi vào gian truân khốn đốn vô cùng, và ngày nay những người dân tạp tương tự như vậy cũng thường hay đem đến lắm vấn đề cho các đầy tớ của Đức Chúa Trời và dân sự Ngài. Trong câu chuyện ẩn dụ về Cỏ Lùng (Mat 13:24-30,36-43), Chúa Giê-xu dạy dỗ rằng bất cứ nơi nào Chúa “gieo trồng” các con cái thật của Ngài, thì cũng sẽ có ma quỷ xuất hiện gieo trồng xuống nơi đó những con người giả mạo giống con cái Chúa thật như đúc. Sa-tan là kẻ hay bắt chước và cũng là kẻ thường lén lút lẻn vào (Giu 1:4; IIPhi 2:1-2), là điều giải thích cho lý do tại sao Phao-lô đã cảnh báo Hội thánh về “mấy người anh em giả” (Ga 2:4; IICo 11:26), về những người phục vụ giả (c.13 đến hết đoạn) và về Phúc-Âm giả (Ga 1:6-9).


Trải qua nhiều năm thi hành chức vụ, tôi học được rằng không phải những kẻ thù bên ngoài Hội thánh địa phương mà là chính những kẻ giả vờ trà trộn ở bên trong nội bộ Hội thánh đã phá hoại Hội thánh (Cong 20:28-30; IIIGi 1:9-11). Những kẻ không mời mà đến này có lẽ đã trà trộn vào Hội thánh và hành động y như thể họ là dân sự Đức Chúa Trời vậy, nhưng họ hoàn toàn không có lòng khao khát thuộc linh; và cuối cùng ý đồ của họ sẽ bị bóc trần ra (IGi 2:18-19).


Dân Do-thái kinh nghiệm được sáu buổi sáng lạ lùng trong một tuần lễ nọ khi “bánh từ trời rơi xuống” (Thi 78:24; Thi 105:40) trong trại quân và chu cấp nuôi nấng tất cả họ đủ dùng hằng ngày. Có lẽ vì họ bị đám dân tạp kia tác động, xúi giục khiến họ chán ăn những đồ ăn thường ngày của họ và họ muốn thay đổi, cải thiện bữa ăn của Đức Chúa Trời đã ban cho họ (Dân 11:8). Họ muốn ăn những thứ mà họ đã ăn ở Ê-díp-tô. Họ quên đi ách nô lệ ở đó và chỉ nhớ đến những thứ làm họ hài lòng thích chí là thịt mà thôi!


Thật đúng là bi kịch khi những người tự xưng mình là Cơ-đốc nhân trong Hội thánh nhưng lại thèm muốn những thứ thuộc về đời này thay vì khát khao bánh ma-na từ trời là Lời Chúa (Gi 6:66-69; Mat 4:4). Trong sự cố gắng thu hút và làm hài lòng “đám dân tạp”, nhiều Hội thánh đã biến các nơi thánh của họ thành những nhà hát và biến các công việc của họ làm trong nhà Chúa thành những sự trình diễn, còn việc thờ phượng Chúa thì trở thành việc giải trí, tiêu khiển. Ngay trong thời mình, Phao-lô đã có đề cập đến đám người ô hợp này (Phi 3:17-21), vì vậy đó không phải là điều mới mẻ gì.


Tuy nhiên, thật là nguy hại khi chúng ta lằm bằm Chúa, tấn công đầy tớ Ngài và đòi “những sự thay thế thuộc linh” khác để thỏa mãn những thèm muốn mang tính xác thịt của chúng ta. Những kẻ hay lằm bằm trong Y-sơ-ra-ên cuối cùng đã bị Đức Chúa Trời trừng phạt và Phao-lô đã dùng hình ảnh họ làm sự cảnh cáo cho các Hội thánh ngày nay (ICo 10:10), “Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự” (Phi 2:14). Tấm lòng vô ơn sẽ khiến người ta dễ dàng vi phạm tất cả mọi thứ tội lỗi (Ro 1:2-32).


Môi-se than thở về sự kêu gọi của mình (Dân 11:10-15): Môi-se trước đó đã vui mừng ca hát ngợi khen Đức Giê-hô-va vì đã được thắng lợi (Dân 10:35-36), nhưng giờ đây ông đang than thở một cách cay đắng về công việc mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông làm. Không gì làm cho các đầy tớ Chúa nản lòng nhụt chí nhiều hơn là việc họ bị dân sự lên án chỉ trích sao họ bất công và lằm bằm, phàn nàn về những phước hạnh Chúa đã ban. [32]


Đây là lần thứ nhất trong số hai lần là khi thái độ trên của dân sự đã khiến cho Môi-se phạm tội (Dân 20:1-13).Sau khi chúng ta đã biết dân Y-sơ-ra-ên cứng lòng và bất trung như thế nào,thì chúng ta sẽ không khỏi ngạc nhiên sao Môi-se lại không thường hay nản lòng!


Thật đáng buồn khi thấy một vĩ nhân của Đức Chúa Trời nài xin Ngài hãy cất mạng sống của ông đi bởi vì người cảm thấy rằng sự kêu gọi thánh mà Chúa đã gọi ông giờ đây chỉ là một gánh nặng bởi lẽ vì sự đó mà Đức Chúa Trời đã làm đau lòng ông và khiến ông trở thành con người khốn khổ. Môi-se đã đánh mất cái nhìn tương lai của mình, rời mắt mình khỏi Chúa và chỉ lo nhìn vào chính mình, và chỉ muốn làm điều gì đó thật dễ dàng, hanh thông mà thôi trong những hoàn cảnh khó khăn, gian nan của cuộc sống. Câu “Tôi không thế một mình gánh hết” của Môi-se nhắc nhở chúng ta nhớ đến lúc Đức Chúa Trời kêu gọi ông và Ngài quả quyết rằng ông sẽ là người giúp đỡ của Ngài (Xu 3:11-12). Nhưng ít ra thì Môi-se cũng đã biết trao gánh nặng của mình cho Chúa và tiếp thu những sự chỉ dạy của Ngài (IPhi 5:7).


Môi-se nhận được sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời (Dân 11:16-35): Đức Chúa Trời đã giúp Môi-se giải quyết hai vấn đề khó khăn sau: một người chăn bầy cần phải biết làm thế nào trước hội chúng quá đông đảo như vậy và làm sao để có thể chu cấp đầy đủ bữa ăn cho tất cả mọi người. Cả hai vấn đề này đã phát xuất từ lúc họ còn ở tạm tại Ê-díp-tô và sinh ra những thèm muốn những thức ăn của những người chủ của họ. Giờ đây, dân Do-thái quên bén đi những ngày mình đã từng làm nô lệ và chỉ còn nhớ đến thức ăn “miễn phí” mà thôi.


Để giải quyết vấn đề thứ nhất, (c.16-17,24-30), Đức Chúa Trời truyền bảo Môi-se hãy chọn ra 70 trưởng lão tin kính giúp đỡ ông coi sóc các công việc thuộc linh trong trại quân. Môi-se đã lập lên các vị lãnh đạo giúp đỡ dân sự dàn xếp các cuộc tranh luận của họ (Xu 18:1-27), và những vị lãnh đạo mới này chắc chắn phải có đời sống thuộc linh hơn hẳn dân sự. Nói tóm lại, cốt lõi của mọi vấn đề đều nằm ở lòng người và trừ khi nào lòng người được Chúa biến đổi, nếu không thì bản chất và hành vi của họ sẽ không bao giờ thay đổi được.


Có đến 68 người trong số 70 thành viên nhóm họp tại đền tạm đã được Đức Chúa Trời ban cho quyền năng của Đức Thánh Linh để họ có thể trợ giúp Môi-se làm các công việc của ông. [33]


Sự thờ lạy Đức Chúa Trời của họ là bằng chứng cho thấy họ đã nhận lãnh được Đức Thánh Linh thực sự (Công 2:11; Công 10:44-46; Công 19:1-7; Eph 5:18-20). Lý do tại sao Ên-đát và Mê-đát không có mặt trong buổi nhóm hiệp này đã không đuợc giải thích, nhưng vì họ đã không bị Đức Chúa Trời sửa trị cho nên chúng ta không xem sự vắng mặt của họ là vấn đề quan trọng cần bàn đến. Ít nhất họ đã không bỏ lỡ bất kỳ ơn phước nào. Giô-suê tỏ ra bực mình khi thấy họ nhận lãnh được Đức Thánh Linh, nhưng Môi-se thì lại cảm thấy dễ chịu. Dường như ông đã lấy lại được bình tĩnh và thái độ bao dung rộng lượng như thường lệ khi ông nói, “Ôi! Chớ chi cả dân sự của Đức Giê-hô-va đều là người tiên tri, và chớ chi Đức Giê-hô-va ban Thần của Ngài cho họ!”.


Không phải chỉ có Môi-se là đầy tớ duy nhất của Đức Chúa Trời phải đối diện với vấn đề “tranh giành quyền độc tôn thuộc linh” này. Giăng Báp-tít đã từng đối phó với điều đó (Gi 3:26-30) và Chúa Giê-xu cũng vậy (Lu 9:46-50), Phao-lô cũng thế (Phi 1:15-18). Tuy nhiên, Giô-suê có cảm tưởng rằng Môi-se và Đức Chúa Trời đã đánh mất điều gì đó qua việc cho phép hai người này nhận lãnh Đức Thánh Linh. Chúng ta gặp Giô-suê lần đầu tiên trong Kinh Thánh khi ông đang lãnh đạo quân đội Y-sơ-ra-ên đánh thắng người A-ma-lét (Xu 17:8-16). Sau đó chúng ta lại gặp ông trên núi Si-na-i với Môi-se (Xu 24:13 32:17), và giờ đây chúng ta còn được cho biết ông vốn là đầy tớ của Môi-se (Dan 11:28). Về sau này, ông trở thành người kế nhiệm Môi-se.


Vấn đề thứ hai cần giải quyết là phải kiếm đủ thịt để cung cấp cho toàn dân tộc (c.18-23,31-35 Xu 16:1-13). Chắc chắn người Do-thái đã không giết mổ bầy gia súc của mình bởi vì nếu làm vậy họ sẽ bị rơi vào tình trạng thiếu thốn cơ cực. Bằng cách sai một cơn gió nổi lên, Đức Chúa Trời đã đem chim cút tới ngay trại quân với một lượng dày lên cách mặt đất ba feet; dân Do-thái phải bỏ ra hai ngày một đêm để bắt số chim cút đó và giết thịt chúng. [34]


Mười hô-me thịt chim này (Dân 11:32) sẽ tương đương với 60 giạ thịt! Nhưng Đức Chúa Trời bảo, ắt hẳn sẽ có đủ thịt cho họ ăn suốt một tháng (c.19-20).


Khi Đức Chúa Trời thực sự muốn đoán phạt người ta, Ngài sẽ để cho họ làm theo ý riêng họ (Ro 1:24,26,28), “Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó cầu xin, Nhưng sai bệnh tổn hại linh hồn chúng nó” (Thi 106:15 NLT). Dân Do-thái bắt đầu tham ăn thịt, thấy sung sướng quá đỗi vì sự thèm ăn của mình đã được đáp ứng thỏa mãn; nhưng sự trừng phạt của Đức Chúa Trời đã giáng xuống giết chết nhiều người trong số họ (Dân 11:33; Thi 78:23-31; ICôr 10:10). Môi-se gọi đó là nơi “người ta chôn dân sự sanh lòng tham muốn”,và chỗ những mồ mả này là nơi kỷ niệm cho hiểm họa của lời cầu nguyện thế này: “nhưng xin không theo ý Cha mà là ý con được nên!”.


Đức Giê-hô-va cảnh cáo Y-sơ-ra-ên rằng cách thức họ đã đối xử với ma-na hằng ngày sẽ là thử thách sự vâng lời của họ đối với Lời Ngài (Xu 16:4; Phuc 8:3). qua việc khước từ bánh ma-na, Y-sơ-ra-ên cho thấy họ đã thực sự khước từ Chúa (Dân 11:20 NIV), và chính thái độ nổi loạn này đã khơi dậy, mời chào sự đoán phạt của Đức Chúa Trời. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng cách thức chúng ta đối xử với Lời Chúa cũng chính là cách thức chúng ta đối xử với chính Ngài. Không quan tâm đến Lời Chúa, xem Lời Ngài không cẩn thận, hoặc không hết lòng vâng theo Lời Ngài ắt sẽ khiêu khích sự trừng phạt của Đức Chúa Trời (He 12:5-11). Thay vì lo đầu tư nuôi dưỡng những thứ thuộc về thế gian này là điều dẫn đến sự chết, chúng ta hãy trau dồi nuôi dưỡng niềm khát khao Lời thánh của Chúa (Giop 23:12; Thi 1:1; Gie 15:16; Mat 4:4; Lu 10:38-42; IPhi 2:1-3).


3. Bị trì hoãn vì sự sửa phạt của Đức Chúa Trời (Dân 12:1-16)

Những người nắm quyền lãnh đạo về thuộc linh trong Hội thánh luôn biết rằng thường hay xảy ra một lần hai hoặc ba vấn đề cùng lúc. Tại sao vậy? Bởi vì Sa-tan vẫn đang sống và hành động ráo riết (IPhi 5:8-9), thêm vào đó bản chất tội lỗi của con người tự nhiên luôn chống đối lại ý muốn thánh và đường lối của Đức Chúa Trời (Ga 5:16-17). Hễ khi nào Chúa giúp bạn giải quyết ổn thỏa xong một vấn đề nào đó thì lại có vấn đề khác xuất hiện.


Lời buộc tội sai (Dân 12:1-3): Môi-se, A-rôn, và Mi-ri-am ở cùng một nhóm được Đức Chúa Trời sai đi giúp đỡ dẫn dắt dân tộc Y-sơ-ra-ên (Mi 6:4). Chúa dùng Mi-ri-am cứu đời sống một người em trai của bà (Xu 2:1-10), và bà còn là một nữ tiên tri hướng dẫn phụ nữ Do-thái thờ phượng Đức Chúa Trời (Xu 15:20-21). [35]


A-rôn là anh cả trong gia đình (Dân 7:7), ông được Đức Chúa Trời chọn không những chỉ để hỗ trợ Môi-se đối phó với Pha-ra-ôn (Dân 4:10-17) mà còn hầu việc Chúa với cương vị là thầy tế lễ thượng phẩm nữa. Mọi người trong Y-sơ-ra-ên đều biết rằng Môi-se, A-rôn, và Mi-ri-am thảy đều là các đầy tớ được Đức Chúa Trời tuyển chọn, nhưng chỉ có Môi-se làm lãnh đạo mà thôi.


Có ba chứng cớ cụ thể đưa đến kết luận rằng Mi-ri-am là người cầm đầu cuộc nổi loạn của gia đình này: Bà được đề cập lần thứ nhất trong Dân 12:1 động từ “nói hành” ngụ ý nói rằng chỉ có đàn bà mới làm chuyện đó, và trong vụ này Đức Chúa Trời đã trừng phạt riêng một mình Mi-ri-am mà thôi. Bà không bắt đầu công kích Môi-se bằng cách lên án ông về quyền hành ông đang nắm giữ mà là gièm pha ông về người vợ của ông (Hầu hết những ai lên án phê bình chỉ trích các đầy tớ Chúa thì đều hiếm mà đưa ra được những lý do thích đáng giải thích cho sự bất đồng, phê phán đó của họ). Chắc là sau khi Sê-phô-ra chết, Môi-se đã cưới một người vợ nữa, và có thể người vợ đó đã làm cho Mi-ri-am cảm thấy bị đe dọa. Cũng vậy, khi Đức Chúa Trời sai Thần Linh Ngài giáng trên 70 trưởng lão, có lẽ Mi-ri-am liền cảm thấy lo sợ quyền hành của mình sẽ bị suy giảm phần nào.


Chỉ cần Môi-se đừng cưới bất luận một người đàn bà nào từ các dân tộc người Ca-na-an, thì chắc chắn cuộc hôn của ông sẽ được Đức Giê-hô-va chấp thuận (Xu 34:12-16). Trong Kinh Thánh, “Cút” thường được dùng ngụ ý về một giống dân sống gần Ê-díp-tô, nhưng bản Kinh Thánh KJV đã dịch nhầm từ vựng Hê-bơ-rơ này thành “Ê-ti-ô-bi”. Vì lý do đó, một số bản dịch Kinh Thánh khác dạy rằng do người vợ mới này thuộc dân tộc khác cho nên đã không được chấp nhận. Theo William S. LaSor thì, “Không có bằng chứng nào, và cũng không có chỗ nào trong Kinh Thánh hoặc trong các tài liệu mở rộng ngoài Kinh Thánh, ủng hộ và đồng tình với quan điểm cho rằng Ham cùng với hậu duệ của mình là người da đen cả”. [36]


Cuối cùng, Mi-ri-am cũng đã cho thấy thật sự của vấn đề bà lằm bằm chỉ trích là: Lẽ nào chỉ có Môi-se mới làm được phát ngôn nhân cho Đức Chúa Trời sao? Còn Mi-ri-am và A-rôn sao lại không có quyền tuyên Lời Chúa ra ư? Vì thắc mắc về quyền hạn và ý chỉ của Đức Chúa Trời, cho nên Mi-ri-am và A-rôn đã hành động chẳng khác nào đám dân Y-sơ-ra-ên kia! Tuy nhiên, Môi-se đã không trả lời họ và cũng chẳng tự thanh minh, biện hộ gì cho mình cả; ông đã nhờ Đức Chúa Trời biện hộ thay cho ông. Đây là một bằng chứng cho thấy sự nhu mì, khiêm hòa của ông; nhu mì không có nghĩa là yếu đuối nhu nhược mà đó là sức mạnh được kiểm soát, kìm chế. [37]


Sự đoán phạt diễn ra nhanh chóng (Dân 12:4-10): Đức Chúa Trời đã nghe được những lời của họ, Ngài nhìn thấy những động cơ xấu xa trong lòng họ, và Ngài liền hành động thật mau lẹ vì Ngài e rằng tội lỗi ấy của họ sẽ lan tràn trong dân sự, bởi vì khi những người lãnh đạo phạm tội thì các hậu quả họ gây ra đó có thể trở thành đại hoạ cho lê dân bá tánh. Hãy chú ý trong câu 4 có ba cái tên được lặp lại theo thứ tự như trong câu 1. Đức Chúa Trời luôn luôn xếp Môi-se lên hàng đầu! Ngài gọi cả ba người đến tại hội mạc, phán bảo với hai người (Mi-ri-am và A-rôn), rồi Ngài tuyên bố trừng phạt chỉ một người – là Mi-ri-am.


Đức Chúa Trời cho biết rõ ràng rằng Môi-se là người còn hơn cả một tiên tri, bởi vì Chúa thường hay trò chuyện trao đổi với ông một cách cá nhân và thậm chí Ngài còn bày tỏ cho mỗi mình ông thấy cả vinh quang Ngài nữa (Xu 19:16-19; Xu 24:17-18; Xu 34:5-11). Mi-ri-am và A-rôn mỗi người đều đã được Chúa phân công, giao thác nhiệm vụ, còn riêng Môi-se là nhà lãnh đạo do chính Chúa chọn cho Y-sơ-ra-ên và không ai có thể chiếm đoạt vị trí đó của ông. Chính Đức Chúa Trời đã ban cho Môi-se địa vị và quyền hành, vì lòng dạ xấu xa độc ác cho nên Mi-ri-am đã không chấp nhận vai trò và vị trí của người em trai mình. Đức Chúa Trời trừng phạt Mi-ri-am khiến bà bị bịnh phung rất đau đớn khổ sở.


Lời khẩn cầu gây xúc động (Dân 12:11-13).

A-rôn biết rõ ý nghĩa của bịnh phung này, nên ông năn nỉ Môi-se xin giùm cho Mi-ri-am và cho cả ông nữa, theo như đại từ ông dùng ở số nhiều là: “Chúng ta đã phạm tội”. A-rôn là thầy tế lễ thượng phẩm vẫn thường hay cầu xin giùm cho Y-sơ-ra-ên, thế mà giờ đây ông lại đang cần đến một người khác xin giùm cho ông! Giờ thì lại còn bằng chứng về tính khiêm nhu của Môi-se, ông đã cầu nguyện xin cho chị mình; và Đức Giê-hô-va đã cất đi căn bịnh đau đớn đó khỏi bà.


Sự trì hoãn gây lúng túng (Dan 12:14-16):

Mặc dầu Mi-ri-am đã được chữa lành, nhưng bà ta phải bị ở bên ngoài trại quân 7 ngày (Le 13:1-6; Le 14:1-8; Le 15:8) bởi vì bà đã bị ô uế. Điều này có nghĩa đã gây xấu hổ cho Mi-ri-am, vì cả trại quân đều biết điều gì xảy ra với bà. Nhưng nó còn có nghĩa gây trì hoãn cho dân sự, cho cả trại quân, bắt họ phải chờ bà ta được phục hồi rồi họ mới có thể đi tiếp được. Kẻ phạm tội nổi loạn luôn luôn là nguyên nhân níu kéo và làm chậm tiến trình của dân sự Đức Chúa Trời.


Có một điều rất quan trọng đối với người lãnh đạo thuộc linh là, nếu họ càng được người ta tôn trọng thì trách nhiệm của họ lại càng nặng nề hơn. Và còn là điều nghiêm trọng đối với ai cố tình chiếm đoạt quyền hạn mà Đức Chúa Trời đã ban cho người khác, “Kẻ (người có quyền cao hơn) có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ ” (ITi 5:20 NKJV). Chúa Giê-xu cảnh cáo rằng kẻ thù chúng ta có thể chính là những người nhà của mình (Mat 10:34-36; Mi 7:6).


“Hãy vâng lời kẻ dắt dẫn anh em và chịu phục các người ấy- bởi các người ấy tỉnh thức về linh hồn anh em, dường như phải khai trình, hầu cho các người ấy lấy lòng vui mừng mà làm xong chức vụ mình, không phàn nàn chi, vì ấy chẳng ích lợi gì cho anh em” (He 13:17).


“Hãy nhớ lại điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi làm cho Mi-ri-am dọc đường, khi các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô” (Phuc 24:9 NKJV).





5. KHỦNG HOẢNG TẠI CA-ĐE (Dan 13:1-14:45)


Tại Ca-đe Ba-nê-a, thuộc biên giới Ca-na-an, dân Y-sơ-ra-ên đã ngu xuẩn để vuột mất cơ hội tiến vào Đất Hứa và quyền hưởng sản nghiệp thừa tự của mình. Thất bại đầy tính bi kịch này đã làm cho cái tên “Ca-đe” này trở thành đồng nghĩa với sự thua trận và mất cơ hội. Sự suy vi của Y-sơ-ra-ên tại Ca-đe là điều nhắc nhở chúng ta ngày nay phải luôn nhớ cho rằng nếu chúng ta coi thường ý Chúa và đường lối Ngài thì thật là nguy hiểm. Có khi bạn sẽ phải cứ đuổi theo phần đời còn lại của mình trong sự lang thang vớ vẩn một cách vô ích mãi cho đến lúc lìa đời.


Mặc dù có những điều như một số bài Thánh Ca của chúng ta ca ngợi, Ca-na-an vẫn không phải là hình ảnh của thiên đường. Chắc chắn trên thiên đường sẽ không hề có trận chiến nào cả! Hơn nữa, Ca-na-an còn là bức tranh sản nghiệp thừa kế mà Đức Chúa Trời đã có dự định dành cho mỗi con cái Chúa ngày nay, là công việc Ngài luôn mong muốn chúng ta hãy làm, và là nơi Ngài muốn chúng ta chiếm lấy. Phao-lô gọi đó là “việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Eph 2:10 NKJV). Đức Giê-hô-va có kế hoạch hoàn hảo cho từng con cái Ngài, nhưng chúng ta có thể nhận lãnh được các phước hạnh này chỉ bởi đức tin và sự vâng lời mà thôi.


Tương tự dân Y-sơ-ra-ên cách đây nhiều thế kỷ qua, có nhiều Cơ-đốc nhân ngày nay đang bước đi bởi mắt thấy chứ không phải bởi đức tin, và do đó họ đã thất bại không hưởng được những điều tốt đẹp phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho họ. Họ không thể nói như Đa-vít đã nói, “Tôi may được phần cơ nghiệp ở trong nơi tốt lành: Phải,tôi có được cơ nghiệp đẹp đẽ” (Thi 16:6 NKJV). Vậy Y-sơ-ra-ên đã làm gì tại Ca-đe khiến đem lại thất bại nhục nhã cho mình như thế? Họ đã phạm ít nhất năm tội kêu réo gây lộn xộn om sòm, và con cái Chúa ngày nay cũng có thể phạm những tội tương tự và họ cũng phải nhận lãnh thất bại nhục nhã giống như sự thất bại của dân Y-sơ-ra-ên ngày đó vậy.


1. Sự nghi ngờ Lời Chúa (Dân 13:1-25)

Đức Chúa Trời giải phóng dân sự Ngài ra khỏi Ê-díp-tô để họ có thể tiến vào Đất Hứa và nhận lãnh các phước hạnh mà Ngài đã sắm sẵn cho họ. Bốn mươi năm sau, thế hệ mới của Y-sơ-ra-ên vẩn còn được lời Môi-se nhắc nhở rằng, “Ngài đã đem chúng ta ra khỏi xứ ấy, để dẫn vào xứ Ngài đã thề cùng tổ phụ chúng ta, để ban cho chúng ta” (Phuc 6:23; Exe 20:6). Đức Giê-hô-va có hứa ban xứ cho hậu tự của Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp (Sa 12:7; Sa 13:15; Sa 17:8; Sa 28:13; Sa 35:12) và Ngài cũng đã tái xác nhận lời hứa đó qua Môi-se (Xu 3:8,17; Xu 6:4,8; Xu 13:5; Xu 33:3).


Thậm chí, Đức Giê-hô-va còn nhắc lại với dân sự những lời Ngài đã hứa đó khi họ dỡ trại tại Si-na-i để ra đi (Phu 1:6-8) và khi họ đến Ca-đe (c.20-21). Lời hứa của Đức Chúa Trời chính là chứng thư hợp pháp của Y-sơ-ra-ên đối với xứ và đó cũng là sự bảo đảm của Ngài với họ rằng họ sẽ đánh bại các kẻ thù mình. Lời hứa của Đức Chúa Trời là tất cả mọi sự mà dân Y-sơ-ra-ên cần, nhưng họ đã đi nghi ngờ Lời Ngài và bắt đầu bước đi bởi mắt thấy chứ không phải bởi đức tin.


Họ bước đi những bước đầu tiên trong sự luỡng lự nghi ngờ khi họ đề nghị Môi-se hãy để cho họ đi điều tra do thám xứ trước lúc toàn thể dân tộc tiến vào giáp mặt với kẻ thù trên chiến trường (1:22 Gia 1:5-8).Môi-se đồng ý với đề nghị của họ (Phuc 1:23) và lợi dụng sự cho phép của Chúa mà tiến hành kế hoạch đó (Dân 13:1-3). Tuy nhiên, có vẻ như là Đức Chúa Trời đang để cho người Do-thái đi theo đường riêng của họ không phải vì lý do con đường họ chọn đi là đúng, mà là vì Ngài muốn dạy cho họ một bài học. Họ cần học bài học tin cậy vào Lời Chúa, làm theo ý chỉ Ngài và đường lối Ngài chứ không phải làm theo ý họ (Ch 3:5-6).


Mười hai thám tử được chọn ra gồm những đấng nam nhi vốn là những người lãnh đạo khác nhau được kể tên trong Dân 1:1-2:34; Dân 7:1-89; Dân 10:1-36. Những thám tử này chắc chắn là những người trẻ tuổi cho nên họ mới có thể chịu đựng nổi những cơn lạnh rét buốt xương và những nguy hiểm xảy ra trong quá trình họ đi do thám xứ. Chúng ta gặp Ca-lép lần thứ nhất trong Dan 13:6, nhưng ông còn được đề cập đến 31 lần nữa trong Kinh Thánh Cựu-ước. Ông và Giô-suê là những thành viên duy nhất của thế hệ lớn tuổi được đi vào Đất Hứa. Tất cả những người còn lại của thế hệ đó đều đã chết hết trong đồng vắng.


Chúng ta gặp Giô-suê lần đầu tiên trong Kinh Thánh là một vị tướng lĩnh tài ba của Y-sơ-ra-ên (Xu 17:8-16), đã đánh bại dân A-ma-lét, và ông còn là người giúp việc cho Môi-se (Xu 24:13; Dân 11:28). Cuối cùng ông trở thành người kế nhiệm Môi-se (Dân 27:15-20) và lãnh đạo Y-sơ-ra-ên chinh phục được Đất Hứa. Tên tộc của ông là Hô-sê, nghĩa là “sự cứu rỗi”, nhưng Môi-se đã đổi tên ấy thành “Giô-suê” có nghĩa “Đức Giê-hô-va là sự cứu rỗi”. Đó là tên có ý nghĩa khích lệ đức tin những người chiến sĩ và nhắc nhở họ rằng Đức Giê-hô-va đang chiến đấu vì họ.


Mười hai thám tử đi được khoảng 500 dặm trong suốt 40 ngày họ thực hiện cuộc do thám Ca-na-an, nhưng họ chẳng khám phá ra được thứ gì cả vì Chúa đã không nói cho họ biết! Họ có biết tên các dân ngoại đang sống trong xứ đó (Sa 15:18-21), rằng đó là một vùng đất tốt (Xu 3:8) màu mỡ, đượm sữa và mật (c.8,17). Họ nhìn thấy những trái cây dị thường của xứ và họ đã khiêng về một chùm nho khổng lồ cho dân sự cùng xem. Thậm chí họ còn đến thăm Hếp-rôn là nơi các tù trưởng của Y-sơ-ra-ên đã được chôn chung với vợ họ (Dân 13:22; Sa 23:2,19; Sa 49:29-31; Sa 50:13). Đây là sự nhắc nhở về đức tin của Áp-ra-ham, I-sác,Gia-cốp và Giô-sép đã khích lệ niềm tin của chính họ đặt nơi Chúa phải không? Cả 10 trong số 12 thám tử đó đều trả lời là không.


Cuộc do thám xứ có lẽ là ý tưởng hay xuất phát từ cái nhìn quân sự truyền thống, nhưng nó không phải là cái nhìn thuộc linh. Đức Chúa Trời đã sẵn sàng ban cho họ vùng đất đó và Ngài ra lịnh cho họ hãy tiến vào chiếm lấy nó. Ngài hứa ban cho họ chiến thắng, vì vậy tất cả những gì họ phải làm bây giờ là chỉ việc “hãy tin và vâng theo” mà thôi. Đức Giê-hô-va sẽ đi trước họ và đánh tan các quân thù của họ (Dân 10:33-36), nhưng dân sự bắt buộc phải bước đi bằng đức tin mới được. Và họ đã thất bại ở điểm này đây. Họ nghi ngờ rằng Đức Chúa Trời vẫn dư sức giữ lời hứa Ngài và chắc chắn sẽ cho họ ban xứ đó.


2. Sự ngã lòng của con dân Chúa (Dân 13:1-25) (Dân 13:26-33; Phuc 1:26-28)

Có ai đó định nghĩa ủy ban là “một nhóm người mà nếu riêng từng người thì chẳng thể làm được trò trống gì và chẳng quyết định được gì cho tập thể hành động cả”. Bởi vì họ thiếu đức tin cho nên tất cả các thám tử ngoại trừ Ca-lép và Giô-suê đã ngã lòng nhụt chí không muốn tiến vào xứ và chiến đấu với quân thù nữa, sự sợ hãi, nản lòng của họ nhanh chóng lan ra trong trại quân. Tính nghi ngờ đã biến thành sự vô tín và sự vô tín thì thường dẫn đến dấy loạn chống nghịch Chúa (Dân 14:9; He 3:16-19).


Thật gây chú ý biết bao khi 10 thám tử kia nhận định Ca-na-an là “xứ mà người đã sai chúng tôi đi” (Dân 13:27) và là “Xứ mà chúng tôi đã đi khắp” (c.32), chứ đó không phải là “xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta đang ban cho chúng ta”. Bởi vì 10 thám tử này đang bước đi bởi mắt thấy chứ họ không thực sự tin vào các lời hứa của Đức Chúa Trời. Họ nhìn vào dân bản xứ và bắt gặp những người khổng lồ; họ nhìn vào các thành phố của người Ca-na-an và trông thấy những bức tường thành cao ngất với các cổng được khóa chặt chắc chắn; họ nhìn vào chính mình và nhận thấy bản thân họ chẳng khác nào những con châu chấu bé nhỏ mà thôi.

Giá như họ quan sát mọi sự đó bằng đức tin họ đặt nơi Đức Chúa Trời thì chắc hẳn họ sẽ thấy có một Đấng đầy quyền năng đánh bại mọi kẻ thù của họ và dưới mắt Ngài thì các dân trên thế giới này chỉ là những con châu chấu không hơn không kém (Es 40:22), “Chúng ta không thể” là tiếng kêu của kẻ vô tín (Dân 13:31), nhưng, “đối với Chúa chúng ta tất cả mọi sự đều có thể ” (Dân 3:17; Phi 4:13).


Những điều Giăng Gardner nói về vũ đài chính trị có thể được ứng dụng vào chiến trường thuộc linh và bước đi bằng đức tin của Cơ-đốc nhân: “Chúng ta cứ phải liên tục đối diện với hàng loạt các cơ hội lớn được ngụy trang một cách rực rỡ chói lòa và đó là những vấn đề không thể nào giải quyết được”. Đức tin không được thử nghiệm thì không thể là đức tin thật, và Đức Chúa Trời thường hay thử nghiệm đức tin chúng ta để giúp chúng ta đảm bảo tính chân thực của nó (IPhi 1:1-9) và làm cho nó tăng trưởng, “Đức tin trước hết là đến từ tai nghe”, A. W. Tozer đã nói như vậy, “chứ không phải đến từ khả năng nhận thức chín chắn”. “Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng” (Ro 10:17, NKJV).


Đối với thế gian vô tín, họ cảm thấy vô lý khi đi tin vào một Đức Chúa Trời mà họ chưa bao giờ gặp hoặc nghe tiếng nói, còn chúng ta thì có tất cả các bằng cớ khiến chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng đáng tin cậy và có quyền năng hoàn thành những gì Ngài nói Ngài sẽ làm. Những gì Ngài hứa, Ngài đều có thể thực hiện được cả (Dân 4:21).

Y-sơ-ra-ên đã chứng kiến những việc Chúa làm đối với dân Ê-díp-tô và dân A-ma-lét (Xu 17:8-16), nên họ thấy chắc chắn Ngài sẽ không để cho dân sự thất bại đâu. sự vô tín rất nguy hiểm bởi vì nó sẽ khiêu khích thách thức bản chất của Đức Chúa Trời và nó sẽ nổi loạn chống nghịch lại ý muốn Ngài, “Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài (Đức Chúa Trời)” (He 11:6), “phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi” (Ro 14:23).

Môi-se nhắc nhở dân sự nhớ lại những gì Đức Chúa Trời đã từng làm cho họ (Phu 1:29-33), thế nhưng họ vẫn tiếp tục lằm bằm mãi. Họ cứ khăng khăng cho rằng tốt nhất là nên quay về Ê-díp-tô trở lại với đời sống nô lệ trước đây vậy.

-Dan 13:26-33; xem giải nghĩa Dân 13:1-25


3. Sự bất chấp ý chỉ của Chúa (Dân 14:1-10)

Trong trại quân Y-sơ-ra-ên, sự vô tín và sự ngã lòng lan ra nhanh chóng từ người này sang người nọ, trước khi dẫn đến tình cảnh, “Cả hội chúng bèn cất tiếng la lên, và dân sự khóc lóc trong đêm đó” (c.1, xin chú ý thêm c.2,10).

Ngày hôm sau, cả hội chúng lên tiếng phê bình, chỉ trích Môi-se và A-rôn, rồi họ khóc lóc than thở sao lại không chết đi cho xong ở Ê-díp-tô hay ở trong đồng vắng cũng được. Khi bạn chỉ lo mải mê nhìn như dán mắt vào chính mình và hoàn cảnh mình, bạn sẽ đánh mất cái nhìn về tương lai, sẽ nói nhiều lời và làm nhiều điều buồn cười, lố bịch.


Tuy nhiên, dân Do-thái có một phần ký thuật thật dài về việc họ lằm bằm chống lại Đức Giê-hô-va với các vị lãnh tụ của họ, và họ đã bị đoán phạt vì điều đó. Họ bắt đầu lằm bằm kêu ca ngay từ đêm họ xuất khỏi Ê-díp-tô khi họ sợ hãi tin chắc rằng quân đội của Pha-ra-ôn sẽ tiêu diệt họ (Xu 14:10-14). Lúc Y-sơ-ra-ên đi vào đồng vắng Su-rơ, họ cằn nhằn oán trách vì không có nước uống (Xu 15:22-27), sau đó lại phàn nàn vì họ không còn có những bữa ăn ngon mà họ đã được ăn ở Ê-díp-tô hôm nào (Xu 16:1-36),

“Ôi! Chớ chi chúng tôi đã chết trong xứ Ê-díp-tô!” là lời than van nơi cửa miệng của họ. Tại Rê-phi-dim, dân sự đã lấy đá ném Môi-se vì họ không có nước uống (Xu 17:1-7), và tại Tha-bê-ra, một số người trong dân sự lằm bằm nên đã bị lửa thiêu chết (Dân 11:1-3). Sau đó không lâu, đám dân tạp lại sách động dân Do-thái đòi ăn thịt, Môi-se cảm thấy chán nản, thất chí vô cùng nên ông chỉ muốn chết quách cho rồi (c.4 đến hết đoạn).


Tại hầu hết các Hội thánh,thường vẫn có đôi ba người thường xuyên có thói quen hay lằm bằm, nói xấu, phê bình những người lãnh đạo thuộc linh, đôi khi họ cũng có bị kỷ luật; nhưng ở đây chỉ vì lòng vô tín của chính họ mà họ lại đang cùng nhau khóc lóc kêu rêu như thế! họ không chịu thừa nhận sự thất bại của mình; thay vào đó, họ lại đi đổ lỗi cho Đức Chúa Trời và quyết định chọn ra một lãnh tụ mới cho mình và quay về Ai-cập (Dân 14:3-4). Đây đúng là sự nổi loạn chống nghịch lại ý Chúa.


Khi con cái Chúa ở trong đường lối Ngài thì sẽ không có sự lằm bằm nào, cho dù họ có gặp phải những hoàn cảnh khó khăn đến mấy đi chăng nữa. Đường lối Chúa sẽ không bao giờ dẫn chúng ta đi đến những nơi mà Chúa sẽ không thể ban nổi ân điển cho chúng ta hay không đủ quyền năng được bảo vệ chúng ta. Nếu chúng ta thường cầu nguyện hằng ngày thế này, “Xin ý cha được nên!” và nếu chúng ta bước đi trong sự thuận phục, thìchúng ta còn để lằm bằm than trách về điều gì nữa? Đời sống thuộc linh hay lằm bằm là bằng cớ của tấm lòng vô ơn và ý chí không thuận phục. Khi lằm bằm, chúng ta sẽ dám bảo rằng chúng ta biết nhiều hơn cả Đức Chúa Trời về điều gì là tốt nhất dành cho dân sự Ngài! “Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự” (Phi 2:14 NIV; ICo 10:10).


Trong trại quân có bốn người có đức tin - Môi-se, A-rôn,Ca-lép, và Giô-suê - họ đã cố thay đổi hoàn cảnh. Môi-se và A-rôn sấp mặt xuống cầu nguyện xin với Đức Chúa Trời là công việc họ vẫn thường làm trong những năm đầu trước đó (Dân 16:4,22,45; Dân 20:6; Dân 22:31),còn Ca-lép và Giô suê thì nói với dân sự và bảo đảm với họ rằng đoàn quân Do-thái có thể dễ dàng chiếm được xứ bởi vì Đức Chúa Trời ở cùng họ. Hai người này nhìn thấy tội lỗi thực sự của dân tộc chính là: sự dấy loạn chống nghịch lại Chúa.


Mười thám tử vô tín tranh cãi nhau, họ quả quyết xứ Ca-na-an chắc chắn sẽ “nuốt chửng” dân Do-thái (Dân 13:32), nhưng Giô-suê và Ca-lép nhìn thấy dân Ca-na-an mới chính là “bánh” để đoàn quân Do-thái “nuốt chửng” thì có (Dân 14:9). Dân Do-thái không ưa gì những điều Giô-suê và Ca-lép nói đó nên đã lấy đá ném hai người cùng với Môi-se và A-rôn nữa (c.10). Khi chúng ta bước đi bằng mắt thấy chứ không phải bằng đức tin, chúng ta sẽ không đủ nhận thức nhận biết những người bạn thực sự của chúng ta là ai, và chúng ta có thể sẽ quay sang đối đầu chống nghịch lại những người đã hết lòng giúp đỡ chúng ta nhiều nhất.


Ý chỉ Đức Chúa Trời là sự biểu lộ tình yêu Ngài dành cho dân sự Ngài, vì các chương trình kế hoạch Ngài đưa ra đều phát xuất từ tấm lòng của Ngài (Thi 33:11). Ý định của Ngài không phải là trừng phạt chúng ta mà là nuôi dưỡng chăm sóc (Gi 4:31-34); không phải gông cùm gây cho chúng ta đau đớn mà là những sợi dây yêu thương (Thi 2:3), nhưng những sợi dây yêu thương ràng buộc sẽ cột chặt chúng ta vào lòng Ngài để Ngài có thể dẫn dắt chúng ta đi đúng đường (Os 11:4). Những kẻ dấy loạn chống nghịch lại đường lối của Đức Chúa Trời đang phủ nhận sự khôn ngoan cả thể của Ngài, nghi ngờ tình yêu Ngài, và đang khiêu khích Chúa trừng phạt họ. Đôi khi Đức Chúa Trời phải “mắc một cái hàm thiếc và thắng dây cương” vào những kẻ nổi loạn để không chế họ và kiểm soát họ (Thi 32:8-9), đó là điều chẳng dễ chịu và thú vị chút nào.


Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhận biết ý Chúa (Cong 22:14), hiểu được ý Ngài (Eph 5:17), lấy làm vui thích thỏa lòng về đường lối Ngài (Thi 40:8) và hết lòng vâng theo ý muốn Ngài (Eph 6:6). Khi chúng ta đầu phục Chúa,tin cậy Chúa và vâng theo Ngài, chúng ta sẽ “nếm biết“ được ý muốn tốt lành của Ngài là thế nào (Ro 12:1-2). Thánh Linh Chúa sẽ trải Lời Ngài ra cho chúng ta hiểu được để giúp chúng ta nhận thức rõ điều Chúa muốn chúng ta làm là gì. Nhưng quan trọng hơn cả là chúng ta phải có thhiện chí vâng theo Lời Chúa, nếu không Ngài sẽ không chỉ dạy cho chúng ta biết được điều chúng ta cần biết là điều gì (Gi 7:17). F.W. Robertson, một mục sư truyền giáo người Anh đã đúng khi ông nói rằng “sự vâng lời là cơ quan ngôn luận của sự hiểu biết thuộc linh. Nếu chúng ta không thiện chí vâng Lời Chúa,thì Ngài cũng sẽ không buộc mình phải tiết lộ cho chúng ta biết được ý muốn Ngài là gì”.


4. Sự xứng đáng với cơn đoán phạt của Chúa (Dan 14:11-13)

Đã nhiều lần, sự kiêu ngạo của Y-sơ-ra-ên trỗi lên khiêu khích Đức Chúa Trời trong đồng vắng, và Ngài đã đáp lại điều đó bằng sự đoán phạt (Phuc 6:16; Thi 78:17-18,41,56; Thi 95:8-11; Thi 106:1-48). Giống như đứa trẻ ngu ngốc, dân Do-thái dường như không bao giờ có thể tiếp thu nổi bài học của mình. thay vì làm hài lòng Chúa là Đấng đã làm cho họ rất nhiều điều, họ lại đi chọc tức Ngài nổi giận và khích bác Ngài ra tay.


Sự kêu xin giùm (Dân 14:11-19):

Tương tự như ông đã làm khi Y-sơ-ra-ên thờ lạy con bò bằng vàng (Xu 32:1-35), lần này Môi-se lại phải cầu xin giùm cho dân sự để làm nguôi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Đối với lần thứ hai này, Đức Chúa Trời cho biết Ngài sẽ tạo nên một dân tộc mới từ Môi-se và Ngài sẽ tiêu diệt hoàn toàn những người Do-thái lúc ấy (Dan 14:11), nhưng Môi-se không đồng ý. điểm nổi bật của những người lãnh đạo vĩ đại và có lòng tin kính Chúa là họ chỉ luôn luôn lo nghĩ đến việc đem lại những gì tốt đẹp cho dân chúng chứ không phải cho cá nhân họ. Thực vậy, Môi-se thậm chí còn muốn chịu chết để dân tộc Y-sơ-ra-ên khỏi bị Đức Chúa Trời tiêu diệt (Xu 32:32; Ro 9:1-3).


Môi-se biện luận với Chúa và trước hết ông lý sự rằng nếu Y-sơ-ra-ên bị Chúa tiêu diệt thì vinh quang Chúa sẽ bị lu mờ. Các dân khác có nghe về những điều Đức Chúa Trời đã làm tại Ai-cập, nhưng giờ đây nếu Chúa hủy diệt Y-sơ-ra-ên thì họ sẽ không còn kính sợ Ngài nữa. Họ sẽ bảo thế này, “Chúa đã đem được Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, vậy mà giờ đây Chúa lại không đem nổi vào trong xứ. Điều này có nghĩa là các thần của Ca-na-an mạnh hơn Đức Giê-hô-va!” Sự quan tâm lớn nhất của Môi-se lúc bấy giờ là làm sao để Đức Chúa Trời được vinh hiển trước các dân các nước.


Môi-se đưa ra sự biện luận thứ hai nói về giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với các quan trưởng trước đó nhiều năm (Dân 14:6). Chúa có phán hứa với Áp-ra-ham, I-sác và Gia-cốp rằng Ngài sẽ ban cho họ xứ cho nên bây giờ Ngài không thể không giữ lời (Sa 13:17; Sa 15:7-21; Sa 28:13; Sa 35:12).


Còn ở lần biện luận thứ ba, Môi-se chỉ ra bản chất của Đức Chúa Trời và trưng dẫn lại những gì chính Ngài đã từng tuyên bố với ông trên Núi Si-na-i (Dan 14:17-18; Xu 34:6-7). Bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời thánh khiết, do đó bắt buộc Ngài phải trừng phạt tội lỗi, nhưng vì Ngài cũng là Đức Chúa Trời nhân từ giàu lòng thương xót, cho nên Ngài hay tha thứ. Vậy, Ngài sẽ giải quyết tình trạng khó xử tiến thoái lưỡng nan này ra làm sao đây? Bằng cách Ngài ban chính Con Ngài để chịu chết trên cây thập tự, trả giá cho tội lỗi của cả thế gian. Vì thập tự giá này, Đức Chúa Trời công bình mà cũng chính là Đấng biện hộ cho tất cả những ai tin đến Đức Chúa Giê-xu Christ (Ro 3:21-31). Ngài luôn giữ đúng luật pháp thánh và bản chất của Ngài và Ngài sẽ sẵn lòng tha thứ cho những tội nhân nào ăn năn tin nhận Chúa Giê-xu Christ.


Đức Chúa Trời bởi ân điển và lòng thương xót đã tha thứ tội lỗi, nhưng trong sự tể trị thánh của Ngài, Ngài thường cho phép tội lỗi đó gây ảnh hưởng tồi tệ đáng buồn trên đời sống các tội nhân. Ngài không buộc các con cái phải gánh chịu trách nhiệm của cha mẹ mình,nhưng chúng có thể bị đau khổ vì tội lỗi của các bậc cha mẹ đã phạm. Vì có nhiều gia đình Do-thái thường bao gồm hai hoặc ba thế hệ cùng sống với nhau, điều này có nghĩa là cả đại gia đình sẽ phải chịu đau khổ vì tội lỗi của ông bà tổ tiên họ.


Sự tranh luận cuối cùng của Môi-se nhằm xin Chúa tha thứ cho Y-sơ-ra-ên là thực tế trước đó Đức Giê-hô-va đã tha thứ cho dân sự Ngài nhiều lần (Dân 14:19), “Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi,

Cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi” (Thi 103:10 NKJV; Exe 9:13). Việc Chúa tha thứ cho chúng ta không phải là sự khuyến khích chúng ta tiếp tục phạm tội, bởi vì Chúa sẽ trừng phạt những ai nổi loạn chống nghịch Ngài. Ngài tha thứ cho chúng ta để chúng ta hết lòng kính sợ Ngài (Thi 130:4) và không còn ý định phạm tội nữa (Gi 8:10-11).


Sự tha thứ (Dan 14:20-22):

Đức Chúa Trời bảo đảm với Môi-se rằng quả thật Ngài đã tha thứ cho tội lỗi họ (c.20), nhưng Ngài sẽ phải ngăn chặn họ phạm tội kẻo tội lỗi ấy đưa họ đến với những hậu quả khủng khiếp khó lường được. Những người Y-sơ-ra-ên nổi loạn không quan tâm đến vinh quang Chúa, cho dầu chính vinh quang của Ngài đã dẫn đường họ đi mỗi ngày và nán lại phía trên đền tạm mỗi đêm. Đức Chúa Trời muốn dùng Y-sơ-ra-ên để làm cho Ngài được vinh hiển khắp thế giới này (c.21 Thi 72:19; Es 6:3; Es 2:14), thế nhưng họ đã thất bại một cách tệ hại.


Sự sửa phạt (Dan 14:23-38): Sự đoán phạt của Đức Chúa Trời gồm ba phần:

(1) Cả dân tộc sẽ phải đi lưu lạc suốt 38 năm trường, do đó họ mất 40 năm ở trong đồng vắng, các thám tử phải đi do thám xứ mỗi ngày trong suốt 40 ngày.

(2) Thời gian đó, thế hệ những người lớn tuổi kể từ tuổi 20 trở lên, sẽ phải chết hết chứ ai không được vào xứ cả, ngoại trừ Ca-lép và Giô-suê.

(3) Mười thám tử vô tín kia sẽ bị giết chết vì họ đã đi phao tin đồn nhảm (c.36-38).


Dân Do-thái than khóc kêu ca muốn chết trong đồng vắng cho rồi (c.2), và họ lằm bằm rằng rồi đây con cái họ chắc sẽ bỏ mạng ở Ca-na-an (c.3); nhưng Đức Chúa Trời tuyên bố con cái họ sẽ sống tại Ca-na-an còn những người trưởng thành thì sẽ phải chết trong đồng vắng! Vì môi miệng của chính họ mà Đức Chúa Trời đã đưa sự đoán phạt tới. [38]


Hãy cẩn thận về những gì bạn nói với Chúa khi bạn lằm bằm, bởi vì Ngài có thể cất bạn đi vì những lời đó không chừng! Cuối cùng, sự đoán phạt khủng khiếp nhất của Đức Chúa Trời là Ngài cứ để cho họ tự đi theo đường riêng của họ.


Môi-se đã dẫn một đoàn người đưa tang dài nhất thế giới ra đi, còn Giô-suê và Ca-lép thì chứng kiến thế hệ của họ chết bỏ thây. [39] Nhưng Ca-lép và Giô-suê đã được lời phán hứa của Đức Chúa Trời khích lệ rằng cả hai người họ đều sẽ được vào trong xứ và hưởng được sản nghiệp thừa kế đó. Chính sự bảo đảm này đã khiến họ có sức chịu đựng trong suốt những ngày hành quân đầy gian nan của dân tộc, một sự rèn luyện giúp Ca-lép lẫn Giô-suê không vi phạm lỗi lầm gì. Niềm hy vọng đầy phước hạnh về sự tái lâm của Đấng Christ luôn khích lệ dân sự Chúa ngày nay hãy vướt lên trên mọi gian truân thử thách mà chúng ta đã, đang và sẽ trải qua trên bước đường chúng ta đi hành hương.


5. Sự bất tuân mạng lịnh Đức Chúa Trời (Dân 14:1-13) (Dân 14:39-45; Phuc 1:41-46)

(Dân 14:11-13). Vào ngày kế tiếp su sự thất bại thảm hại của mình, dân Do-thái được thông báo hãy tiếp tục ra đi thành một đoàn người dài dằng dặc vượt qua đồng vắng (Dân 14:25), thế nhưng dân chúng không chịu nghe. Sự vô tín, tính hay lằm bằm cùng với thái độ hay nổi loạn là những điều rất kinh khủng gây ra nhiều rắc rối tưởng chừng không bao giờ dứt trong đời sống kẻ nào dung dưỡng chúng, “Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau. Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã” (Ch 16:18 NKJV).


Chắc trong dân Y-sơ-ra-ên đã “có một sự thảm sầu rất lớn” (Dân 14:39) và họ thú nhận, “chúng tôi có phạm tội” (c.40), [40] nhưng “sự thảm sầu” này chỉ là hối hận chứ không phải sự ăn năn thật. Dân Do-thái ân hận vì những hậu quả do tội lỗi họ gây ra chứ không phải hối hận vì chính bản thân họ đã phạm tội. Y-sơ-ra-ên nổi loạn chống nghịch lại Đức Chúa Trời và cướp đoạt sự vinh hiển Ngài, tuy nhiên họ bày tỏ ra tấm lòng đau thương thống hối hoặc sầu thảm vì đã phạm tội. Không giống Môi-se và A-rôn, họ đã không sấp mặt xuống tìm kiếm sự giúp đỡ của Chúa. Thay vào đó, họ đi từ sự nổi loạn đến sự kiêu căng ngạo mạn và đã tự dựa vào sức mình quyết đánh lại kẻ thù.


Thừa nhận tội lỗi không giống như xưng tội mình ra và trở về với Chúa tìm kiếm sự thương xót của Ngài. Dân Do-thái tưởng rằng họ có thể lập lại một sự bắt đầu mới bởi vì hiển nhiên Chúa sẽ ban sự tha thứ cho họ, nhưng họ đã nhầm. Đức Chúa Trời đã tha thứ tội lỗi họ,tuy vậy, Ngài cũng đã lập ra một kế hoạch mới làm trì hoãn cuộc chinh phục Đất Hứa của họ kéo dài gần 40 năm. Một dân tộc vô tín lại thêm có thái độ kiêu căng ngạo mạn sẽ không bao giờ đánh bại được các dân thế tục ở Ca-na-an. Nếu Y-sơ-ra-ên không hiểu đúng về Chúa, thì họ sẽ không bao giờ công nhận sự giúp đỡ của Chúa khi họ tìm kiếm để chinh phục xứ. [41]


Cả Môi-se lẫn hòm giao ước đều không rời khỏi trại quân (Dân 10:33-36), trụ mây không dời khỏi đền tạm, và những cái kèn bằng bạc cũng không được thổi lên. Vậy mà đoàn quân tạm thời kia lại dám đi ra chiến đấu! Từ được dịch “cố ý” trong Dân 14:44 có nguồn gốc từ tiếng Hê-bơ-rơ nghĩa là “lên mình”, là “kiêu căng ngạo mạn, tự cho mình là quan trọng”. Quân lính Y-sơ-ra-ên tỏ ra rất kiêu ngạo, “Chúng tôi sẽ đi lên chiến trận”, và họ đã được Chúa trả lời bằng sự cảnh cáo, “ta không ngự giữa các ngươi” (Phuc 1:41-42 NIV). Cho dù con người có ra sức nổ lực cách mấy đi chăng nữa nhưng không được Đức Chúa Trời ban phước cho thì cũng vô ích mà thôi, vì Chúa Giê-xu có phán rằng, “Không có Ta các ngươi chẳng làm chi được” (Gi 15:6).


Lời báo trước của Đức Giê-hô-va đã thành sự thật và đội quân Y-sơ-ra-ên đã bị thất bại nhục nhã. Không chỉ có dân A-ma-lét mà cả dân Ca-na-an nữa cũng đã đánh cho các lực lượng Y-sơ-ra-ên tan tác khi Y-sơ-ra-ên tấn công họ, họ còn tiếp tục truy sát đạo binh Y-sơ-ra-ên chạy về hướng bắc 100 dặm, xa tới tận Họt-ma. Đó là một ngày đáng buồn cho các hậu duệ của Áp-ra-ham, I-sác và Gia-cốp.


Tất cả các kinh nghiệm tại Ca-đe Ba-nê-a đã dạy chúng ta bài học rằng không gì thay thế được đức tin đặt nơi những lời phán hứa của Đức Chúa Trời và sự tuân theo các mạng lịnh Ngài. Đức tin là chỉ đơn giản vâng theo Đức Chúa Trời bất kể chúng ta cảm thấy thế nào,nhìn thấy điều gì, hoặc chúng ta có thể nghĩ đến chuyện gì. Khi dân sự Chúa tin cậy vâng lời, Ngài sẽ rất hài lòng và lấy làm vui thích thực hiện nhiều công việc lạ lùng để đáp lại sự tin cậy vâng lời đó , bởi vì việc ấy sẽ làm vinh hiển danh Ngài.


Henry L. Mencken, một người Mỹ theo thuyết bất khả tri, là chủ bút của một tờ báo định nghĩa đức tin như sau, “đó là tin vào những chuyện không thể xảy ra được một cách thật phi lý”. Mark Twain viết về đức tin thế này, “đó là tin những điều bạn biết là không tài nào xảy ra”. Cả hai định nghĩa trên đều sai.


D. L. Moody, một nhà truyền giáo có nói rằng, “Đức tin thật là sự yếu đuối của loài người nương dựa vào sự mạnh mẽ của Đức Chúa Trời”. Hãy đón nhận Chúa qua Lời Ngài và chứng minh điều đó bằng cách làm theo những gì Ngài bảo chúng ta .

Y-sơ-ra-ên thất bại là ở chỗ đó.

Chúng ta đừng bắt chước theo gương họ!

-Dan 14:1-45; xem giải nghĩa Dan 14:1-13





6. VỀ VẤN ĐỀ NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN (Dân 15:1-17:13)


Những sự kiện được mô tả trong các phân đoạn Kinh Thánh này có lẽ đã xảy ra ngay sau thất bại đầy bi kịch của Y-sơ-ra-ên tại Ca-đe Ba-nê-a, và rõ ràng chúng ta đã cho thấy dân sự vẫn không học được bài học phải tin cậy vâng lời như thế nào. Không hiểu sao Đức Giê-hô-va lại loại bỏ thế hệ lớn tuổi hơn và tạo lập một thế hệ mới chỉ toàn là những người trẻ.


Đức Chúa Trời có lời quan trọng khích lệ thế hệ trè đó, “Khi các ngươi vào xứ mà ta ban cho các ngươi đặng ở” (Dân 15:1-2 NIV). Thế hệ trẻ này phải đương đầu với 38 năm đi lang thang lưu lạc,nhưng Đức Giê-hô-va cam đoan rằng sẽ có một ngày họ được vào xứ thừa hưởng sản nghiệp thừa kế của mình. Những người con cháu này phải chịu đau khổ vì cớ tội lỗi của cha mẹ ông bà tổ tiên họ và phải tham gia vào đoàn người đưa tang dài nhất trong lịch sử nhân loại.


Thế hệ lớn tuổi hơn của dân Y-sơ-ra-ên thường hay không chịu đầu phục quyền năng của Lời Chúa cũng như quyền hành của các nhà lãnh đạo vốn đã được Chúa chỉ định. Cơ-đốc nhân ngày nay cũng phạm phải những tội lỗi tương tự, và nhiều hậu quả xảy đến là những chứng cớ cho điều đó: nhiều Hội thánh bị phân hóa, chia rẽ, nhiều gia đình trở nên bất thường, nhiều cá nhân con cái Chúa trở nên bất tuân đi lang thang hết nhà thờ này đến nhà thờ nọ mà chẳng làm được gì kết quả cho Chúa cả. Trừ phi chúng ta đầu phục Lời Chúa và các vị lãnh đạo đã được Chúa chọn (He 13:7-9,17), nếu không, chúng ta sẽ không thể nào nhận được sản nghiệp thừa tự trong Đấng Christ cả (Eph 2:10) và sẽ không thực hiện thành công kết quả những việc Chúa muốn chúng ta làm.


1. Quyền năng của Lời Chúa (Dân 15:1-41)

Đức Giê-hô-va muốn thế hệ mới tiến vào Đất Hứa và hưởng lấy xứ nhiều năm, nhưng niềm vui sướng phước hạnh đó sẽ tùy thuộc vào sự vâng Lời Chúa của họ. [42] Môi-se đã ban cho họ bốn lời chỉ giáo đặc biệt mà Cơ-đốc nhân ngày nay cũng cần phải lưu ý đến.


Hãy làm đẹp lòng Đức Giê-hô-va (Dân 15:1-21). Cụm từ, “dâng một của lễ có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va” được tìm thấy 5 lần trong đoạn kinh này (c.3,7,10,13-14) và có nghĩa là, “hương vị làm hài lòng Chúa”. Năm của lễ căn bản theo luật Môi-se gồm có của lễ thiêu, của lễ chay, của lễ thù ân, của lễ chuộc tội, và của lễ chuộc sự mắc lỗi (Le 1:1-7:38). Ba của lễ đầu là những của lễ có “mùi thơm”, được chế biến dâng lên làm hài lòng Chúa, còn của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi không có “mùi thơm” bởi vì chúng được dùng giải quyết cho vấn đề mắc lỗi và phạm tội, và đối với Chúa khi nói đến tội thì không gì có thể làm hài lòng Ngài.


Của lễ thiêu tượng trưng tiêu biểu việc người thờ phượng Chúa dâng mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời, vì con sinh được thiêu hoàn toàn trên bàn thờ. Của lễ chay (gổm ngũ cốc) nói về việc người thờ phượng Chúa dâng hiến công sức và thành quả lao động của họ cho Chúa,còn của lễ thù ân tiêu biểu cho mối tương giao phước hạnh vui vẻ và sự biết ơn Chúa về những ơn phước của Ngài. [43]


Các của lễ được bàn đến trong những câu này là những sự biểu lộ tự nhiên của lòng kính mến và biết ơn Chúa. Cùng với những của lễ này, người thờ phượng được chỉ dạy dâng 1/10 ê-pha bột lọc [44]


Bột loại ngon trộn chung với khoảng một lít dầu, một phần được để trên bàn thờ và phần còn lại thì cho thầy tế lễ. Người đến thờ phượng cũng mang tới một lít rượu cho thầy tế lễ dùng đổ ra trên nền bàn thờ chỗ huyết con sinh tế bị đổ ra. Đối với những con sinh lớn hơn thì lượng bột, dầu và rượu cũng được tăng theo với tỉ lệ cân đối.


Dân Do-thái vẫn chưa trở thành dân nông nghiệp mãi cho đến khi họ định cư trong xứ, sau đó họ chỉ chuyên trồng nho, trồng cây ô-li-ve, và canh tác các loại cây ngũ cốc. Thêm vào với bột, dầu và rượu dùng để làm của lễ, người đến thờ phượng Chúa còn phải mang tới dâng cho Ngài bông trái thành quả của sự lao động như là chứng cớ của sự nhân từ Ngài.Ngày nay, chúng ta đem tiền bạc đến dâng cho Chúa, và chúng ta sẽ không kiếm được tiền nếu như Ngài đã không ban cho chúng ta công ăn việc làm và khả năng làm việc (Phuc 8:18).


Cơ-đốc nhân ngày nay xem bột mịn ngon là hình ảnh Chúa Giê-xu Christ, là Bánh Hằng Sống (Gi 6:1-71), Đấng đã phó dâng chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời vì cớ chúng ta, “như một thức hương có mùi thơm” (Eph 5:2). Bột mịn cũng được xem như sự nhận biết Đức Chúa Trời là cội nguồn của tất cả lương thực nuôi sống chúng ta. Dầu tượng trưng Đức Thánh Linh (Xa 4:1-14), và rượu nhắc chúng ta hãy luôn thỏa vui nơi Chúa (Thi 104:15) [45] Chắc chắn Chúa sẽ rất hài lòng khi dân sự tự động tạ ơn Ngài về những phước hạnh thuộc thể lẫn thuộc linh mà Ngài đã thành tín ban cho họ hết sức rời rộng và dư dật.


Còn của lễ quán, đã được đổ ra trên nền bàn thờ, tượng trưng cho đời sống được tuôn đổ cho Chúa. Trên thập tự giá, Chúa Giê-xu, “đã đổ mạng sống mình cho đến chết” (Es 53:12 NKJV) để hể bất cứ ai tin Ngài thảy đều có thể nhận được sự sống đời đời. Khi chúng ta hầu việc Đức Giê-hô-va với tinh thần tận hiến, chúng ta sẽ giống như “của lễ quán”, đời sống mình được đổ ra để phục vụ nhiều người khác nữa và để làm vinh hiển Chúa (Phi 2:17; IITi 4:6; IISa 23:14-17).


Những dân đồng minh sống giữa vòng người Do-thái được phép đem các của lễ có mùi thơm dâng cho Chúa (Dân 15:14-16), nhưng ở đây họ làm vậy cũng chẳng có ý nghĩa gì vì họ chưa chịu phép cắt bì (Xu 12:48). Ngay cả các nam nhi Do-thái cũng không được làm dấu của sự giao ước trong thời gian Y-sơ-ra-ên đi lưu lạc nhiều năm vì dân tộc đã nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời và phá vỡ giao ước với Ngài. Các nam nhi thuộc thế hệ mới đều được đánh dấu giao ước khi họ tiến vào Đất Hứa (Gios 5:1-8).


Cuối cùng, phụ nữ Y-sơ-ra-ên được truyền lịnh phải đem dâng một phần bột nhào cho Đức Giê-hô-va, dâng lễ hoa quả đầu mùa tượng trưng cho sự nhận biết Ngài là Chúa của đời sống họ (Dân 15:17-21), “Hãy lấy tài vật và huê lợi đầu mùa của con. Mà tôn vinh Đức Giê-hô-va” (Ch 3:9). Câu Kinh Thánh Cựu-ước này có nội dung như trong Mat 6:33.


Hãy tìm kiếm Chúa (Dân 15:22-29): Các của lễ này đã được mô tả trong Le 1:1-7:38 quan tâm đến vấn đề tội lỗi đã vi phạm, nhưng ở đây là nói về sự vi phạm không cố tình, là những điều mà người ta đáng lý ra đã không nên làm. Có lẽ đây là sự vi phạm chung có liên quan đến toàn dân tộc (Dân 15:24-26)hoặc đó chỉ là sự vi phạm của cá nhân nào đó (c.27-29). Dân sự mặc dù phạm tội nhưng lại không nhận ra tình trạng của mình, và đó cũng là tội, bắt buộc họ phải giả quyết nó. “Tôi đã không biết” là câu sẽ chẳng có ý nghĩa giá trị gì tại ngai của Đức Chúa Trời.


Những kẻ phạm tội phải đến với con đường mà Chúa đã vạch ra để Ngài có thể tha thứ cho họ và phục hồi họ, đưa họ đến với mối tương giao và phước hạnh. Nếu cả dân tộc đều phạm tội,thì họ phải đem đến một con bò con dùng làm của lễ thiêu (sự dâng mình), cùng với của lễ quán theo quy định và của lễ chay, họ cũng phải dùng một con dê đực làm của lễ chuộc tội (sự chuộc tội). Còn hễ cá nhân nào phạm tội thì người đó phải đem đến một dê cái vừa giáp năm tuổi để làm của lễ chuộc tội. Đức Chúa Trời hứa tha thứ cho những ai thực sự hết lòng tìm kiếm Ngài bằng đức tin (c.25-26,28). Dĩ nhiên, có sự tha thứ không phải vì nhờ vào huyết con sinh,nhưng là nhờ bởi Đấng Christ đã đổ huyết Ngài ra thay cho các tội nhân,làm ứng nghiệm đầy đủ ý nghĩa tượng trưng của các con sinh tế này (He 10:1-18).


Đôi khi chúng ta phạm tội chống nghịch Chúa qua những việc chúng ta làm, và thỉnh thoảng bởi những điều chúng ta không làm (Lu 7:36-50). Những tội vi phạm do vô tình không phải tự nhiên được tha thứ ngay bởi vì chúng ta vô tâm nên mới quên các mạng lịnh Chúa; những tội lỗi này phải được xưng ra với Chúa lúc chúng ta xưng nhận những tội vi phạm do lầm lỡ (IGi 1:9). [46] Việc Đức Chúa Trời tha thứ cho những tội lỗi vi phạm do không cố ý không có nghĩa là Ngài đã “dễ dãi với tội lỗi”, bởi lẽ huyết vẫn phải được đổ ra trước khi tội nhân có thể được tha thứ.


Hãy kính sợ Chúa (Dân 15:30-36): Đối với tội “quá kiêu căng, tự phụ” tức là tội kiêu ngạo, cố tình không tuân theo luật lệ Chúa, thì chúng ta nên biết rõ rằng sẽ có liên quan đến những hiểm họa khôn lường. Từ này trong tiếng Hê-bơ-rơ theo nghĩa đen có nghĩa là “phạm tội với bàn tay giơ lên cao” tức là khi người ta đưa nắm đấm của mình ra dứ dứ trước mặt Đức Chúa Trời và thách thức Ngài làm điều gì đó. Hễ những ai “Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó” (Ro 3:18) thì chắc chắn họ sẽ phạm những tội kiêu căng tự phụ này.


Đức Chúa Trời truyền lịnh hãy loại bỏ những kẻ phạm tội trên ra khỏi dân tộc, nghĩa là phải lấy đá ném họ cho đến chết. Họ là những người không chỉ bất tuân Luật Pháp Đức Chúa Trời mà còn bất chấp ý Chúa và coi thường Lời Ngài. Không có của lễ nào được Chúa ban ra để chuộc tội cho những tội ỷ quyền ỷ thế lên mặt kiêu ngạo coi người khác không ra gì như vậy, do đó sẽ không thể có sự tha thứ được Chúa chấp thuận tại bàn thờ. [47]


Môi-se ghi nhận một ví dụ về tội kiêu ngạo, xem thường Luật lệ Chúa, đó là chuyện kể lại việc có một người nọ đi lượm nguyên liệu chất đốt vào ngày Sa-bát (Dân 15:32-36).


Chắc chắn người này vốn biết rõ các mạng lịnh Chúa (Xu 20:8-11; Xu 31:12-17), và như vậy tức là anh ta đã cố tình không tuân theo chúng. Hình như anh ta đi lượm củi để về nhóm bếp đun nấu, và đó chính là hành động chống lại Luật Pháp Chúa không được phép đốt lửa lên trong ngày Sa-bát (Xu 35:1-3). Đây là một kinh nghiệm mới mẻ đối với dân Do-thái, vì thế Môi-se đã tìm kiếm ý chỉ của Chúa, và Ngài nói với ông hãy bảo dân sự lấy đá ném kẻ phạm tội láo xược này cho đến chết.


Thật nguy hiểm cho những Cơ-đốc nhân nào phát biểu rằng, “Tôi sẽ đi đi dẫn đầu và cứ việc phạm tội, bởi vì sau đó, tôi có thể xin Chúa tha thứ cho tôi!”. Họ bắt gặp lời hứa của Chúa trong (IGi 1:9) và họ liền tách rời câu Kinh Thánh ấy ra đem ứng dụng cho mình sau khi họ cố ý bất tuân với Đức Chúa Trời.


Những ai tự xưng mình là Cơ-đốc nhân mà lại cố tình phạm tội thì có lẽ đó chẳng phải Cơ-đốc nhân (Ro 6:1-23; IGi 3:7-10; IGi 5:1-5,18) còn những ai là con cái Chúa thật sự nhưng lại nuôi dưỡng, dung túng thái độ sống cẩu thả thì họ sẽ bị Đức Chúa Cha sửa phạt cho đến chừng nào họ đầu phục ý muốn Ngài mới thôi (He 12:3-15). Khi sắp sửa qua đời, Nhà thơ Heine người Đức có nói, “Chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ tha thứ cho tôi vì đó là công việc của Ngài mà!”, không những ông đã hiểu được sự khủng khiếp của tội lỗi ra sao mà ông cũng chẳng rõ giá cao phải trả cho ân điển của Đức Chúa Trời cỡ nào.


Hãy luôn nhớ đến Chúa (Dan 15:37-41): Một đời sống bận rộn chắc chắn luôn có nhiều nhu cầu đòi hỏi, và cũng có nhiều sự sao lãng, vì thế Đức Chúa Trời đã ban cho dân sự Ngài một cách đơn giản là họ cần luôn nhớ phải có bổn phận tuân theo Luật Pháp của Ngài. Ngài bắt buộc họ đính những núm tua rua lên phía trên của áo choàng ngoài của họ, các tua rua đó phải được dệt bằng chỉ màu xanh da trời. Những tua áo này luôn nhắc nhở rằng dân Do-thái là dân tộc giao-ước của Đức Chúa Trời và họ không giống với bất cứ dân tộc nào khác (Phu 22:12 Xa 8:23 Mat 23:5). Những người Do-thái chính thống thời nay đều vẫn có đính những tua rua này trên khăn choàng dùng khi cầu nguyện của họ.


Vào buổi sáng mỗi khi ăn mặc như vậy, người Do-thái sẽ nhìn thấy các núm tua rua đó thì họ ắt sẽ được nhắc nhở rằng họ là dân sự của Đức Chúa Trời, phải có bổn phận làm theo ý chỉ của Ngài. Có lẽ những sợi chỉ màu xanh kia sẽ nhắc họ nhớ Đức Chúa Trời của họ đang ở trên trời nhìn thấy tất cả những gì họ đã làm. Khi họ đi dạo đâu đó ban ngày, họ sẽ nhìn thấy các tua áo đó thì họ sẽ nhớ đến các mạng lịnh Chúa, và đồng thời khi sắp sửa đi ngủ vào ban đêm cũng vậy.

Ban ngày cho dù họ có trông thấy bao nhiêu thần tượng đi chăng nữa cũng không thành vấn đề, vì chỉ có Đức Giê-hô-va duy nhất, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên Đấng đã giải cứu họ thoát khỏi Ai-cập, cho nên họ phải thờ lạy và hầu việc một mình Ngài mà thôi, “Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, Chớ quên các ân huệ của Ngài.” (Thi 103:2).


2. Thẩm quyền của các đầy tớ Chúa (Dan 15:1-41) (Dan 16:1-17:13)

Khi bạn ôn lại lịch sử Y-sơ-ra-ên, từ Ê-díp-tô đến Ca-na-an, bạn sẽ khám phá ra hễ lúc nào dân tộc chống đối lại quyền lãnh đạo của Môi-se và A-rôn thì y như rằng họ đều rơi vào trong gian truân, khốn đốn. Bất cứ khi nào Đức Chúa Trời thấy cần xây dựng đức tin của dân sự Ngài, thì Ngài thường hay đem họ vào trong những hoàn cảnh khó khăn nan giải, và những lúc ấy dân sự liền phản loạn chống nghịch Môi-se với A-rôn, đổ lỗi tại hai người mà giờ đây họ mới bị rơi vào cảnh ngộ khốn khổ tuyệt vọng như vậy, thế rồi họ đưa ra ý định muốn trở về lại Ê-díp-tô.


Những phân đoạn Kinh Thánh này ký thuật hai sự thách thức đối với thẩm quyền lãnh đạo của Môi-se và A-rôn, thách thức thứ nhất là của người Lê-vi (Dân 16:1-35), và thách thức thứ hai là của toàn bộ phần dân tộc còn lại (c.41-50). Mỗi thách thức mang tính đối đầu này rõ ràng đã trở thành điều nhắc nhở người Do-thái về sự phản loạn của họ: những tấm đồng được dát mỏng dùng để bọc bàn thờ (c.36-40) và cây gậy của A-rôn đã nở hoa (Dân 17:1-13).


Sự đương đầu thứ nhất (Dân 16:1-35): Mặc dù đã được Đức Chúa Trời làm rất nhiều việc vì cớ họ và dạy dỗ họ, thế nhưng dân Y-sơ-ra-ên vẫn không phải là một dân tộc có suy nghĩ thuộc linh (Phuc 31:16-30). Họ vẫn tiếp tục chứa đựng hình ảnh Ê-díp-tô trong tim mình, và họ cứ thường xuyên thèm khát, mơ tưởng đến các thần tượng của họ trước đó ngay cả lúc họ đang hành quân vược qua đồng vắng (Am 5:25-26; Cong 7:42-43). Môi-se là một vị lãnh đạo tin kính Chúa, và dân Y-sơ-ra-ên nếu biết vâng theo những gì ông dạy dỗ, thì ắt hẳn họ đã trở thành một dân tộc tin kính như ông vậy.


1. Cô-rê, nhà lãnh đạo quý tộc (Dân 16:1-3):

Là một người Lê-vi thuộc dòng họ Kê-hát, cho nên Cô-rê chắc hẳn là nhà lãnh đạo tài ba vì ông có khả đã năng khích lệ, động viên, tuyển mộ được 250 “người có danh giá” từ các chi phái. Trên thực tế, đoạn sách này đã đưa ra bảng phả hệ của ông nhằm gợi ý rằng ông là một nhân vật quan trọng. Dân 27:3 cho biết về những người từ các chi phái khác nhau đều có tham gia vào cuộc phản loạn, vì vậy mưu đồ dấy loạn lúc bấy giờ đã mang tính toàn quốc.

Người nhà Kê-hát có nhiệm vụ khiêng các vật dụng trang thiết bị của đền tạm đi mỗi khi Y-sơ-ra-ên hành quân đến một nơi tạm trú mới, và họ đóng trại ở phía nam đền tạm, là phía bên kia của Gát, Si-mê-ôn và Ru-bên. Có lẽ điều này giải thích lý do tại sao Cô-rê lại có thể rủ rê lôi kéo được Đa-than, A-bi-ram và Ôn, cả ba đều là người của chi phái Ru-bên tham gia vào chiến dịch dấy loạn của ông.


Hễ khi nào bạn thấy có sự lằm bằm và sự phản loạn giữa vòng dân sự Đức Chúa Trời, thì thường thường sẽ có “lý do rõ ràng” hoặc “lý do được giấu kín nào đó”. Cô-rê đã công khai lằm bằm Môi-se và A-rôn về “công việc điều hành quản lý” của họ, rằng họ đã không tạo điều kiện cơ hội cho dân sự tham dự vào. Ông muốn có sự dân chủ hơn trong trại quân. Cuối cùng, Đức Chúa Trời đã ngự trong toàn bộ trại quân và tất cả dân tộc phải là “vương quốc toàn những thầy tế lễ” (Xu 19:3-6), cho nên ông thắc mắc, Môi-se và A-rôn là ai mà lại được cất nhắc lên làm lãnh đạo điều phối công việc người khác như thế? Còn lý do được giấu kín là Cô-rê rất muốn người Lê-vi cũng phải được có đặc quyền giống như Môi-se và A-rôn cùng các con trai ông vậy (Dân 16:10). Cô-rê không bằng lòng với sự phân công mà Chúa đã phân cho các thầy tế lễ; ông muốn trở thành một thầy tế lễ.


Dù đối với trại quân Y-sơ-ra-ên thời cổ đại hay là đối với một thành phố hiện đại nào đi chăng nữa, thì không hề có một xã hội nào có thể hoạt động được mà lại không cần đến sự tác động lệ thuộc qua lại. [48] Phải có ai đó chịu trách nhiệm trông nom coi sóc. Cha mẹ có quyền trong gia đình, thầy cô giáo có quyền nơi trường lớp, các nhân viên quản lý chịu trách nhiệm giám sát hướng dẫn trong các nhà máy, công ty, xí nghiệp, còn những cán bộ dân sự thì có quyền ở cấp thành phố hoặc quốc gia (Ro 13:1-13; IPhi 2:11-25). Khi trật tự kỷ cương này bị phá vỡ thì xã hội ắt sẽ rơi vào những khó khăn, rắc rối nghiêm trọng. Đức Chúa Trời chọn Môi-se làm lãnh đạo dân sự, A-rôn thì làm thầy tế lễ thượng phẩm, do đó hễ ai chống đối lại sự sắp xếp bố trí này tức là người đó đã nổi loạn chống nghịch lại ý chỉ và đường lối của Đức Chúa Trời, khiến đưa đến sự phân rẽ, phân hoá sâu sắc rất nguy hại trong nội bộ trại quân.


Những tham vọng ích kỷ của cá nhân muốn trở nên vĩ đại và có quyền hành trong tay là đề tài phổ biến trong Kinh Thánh, không biết có phải Cô-rê đã chống đối Môi-se và A-rôn cũng chỉ vì lý do trên hay không, Áp-sa-lôm thì coi thường cha mình (IISa 15:1-37), A-đô-ni-gia đòi mão miện (IVua 1:1-53), còn các môn đồ đã tranh luận với nhau xem ai là người vĩ đại hơn hết (Lu 22:44), hoặc Đi-ô-trép thì ưa thích có được quyền hành cao nhất trong Hội thánh địa phương (IIIGi 1:9-10). Vậy, vị trí quan trọng nhất trong đời sống Cơ-đốc nhân là vị trí do Đức Chúa Trời chọn cho, là vị trí Ngài vốn sắm sẵn cho chúng ta và sửa soạn chúng ta cho ý muốn, đường lối Ngài.

Điều quan trọng ở đây không phải là cấp bậc địa vị mà là sự trung tín,làm tốt công việc Chúa muốn chúng ta phải làm. Mỗi thành viên của Hội thánh là chi thể của Đấng Christ cần phải có ân tứ thuộc linh để được Chúa sử dụng phục vụ nhiều người khác, do đó, mọi thành viên đều có vai trò quan trọng đối với Chúa và đối với Hội thánh (ICo 12:14-18).


2. Môi-se vị lãnh đạo rất khiêm nhu (Dân 16:4-11):

Như trước đây ông đã từng làm, giờ ông lại đang sấp mặt xuống trước Đức Giê-hô-va (Dân 14:5,22; Dân 16:22,45; Dân 20:6; Dân 22:31). Ông không tranh luận với Cô-rê cùng đám đông theo Cô-rê, nhưng ông cố gắng thay đổi suy nghĩ của họ, vì ông biết họ có mục đích muốn đoạt lấy chức thầy tế lễ, là việc mà Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ cho phép xảy ra. Chúa sẽ chỉ cho Cô-rê cùng với những kẻ theo ông ta biết rằng họ đã sai phạm ra sao, và sự kiêu ngạo của họ rốt cuộc rồi đây ắt sẽ dẫn họ đến với sự hủy diệt đã dành sẵn cho họ (Ch 16:18).


Môi-se đưa ra một thách thức đơn giản. Nếu Cô-rê cùng đám tùy tùng của ông quả thật là những thầy tế lễ được Đức Chúa Trời chấp nhận, thì họ hãy đem những lư hương của họ tới đền tạm xem thử Chúa có chấp thuận họ hay không. Chắc chắn những kẻ phản loạn này đều vẫn còn nhớ những gì đã xảy ra với Na-đáp và A-bi-hu khi hai người đó liều mạng đem “một thứ lửa lạ” đến trước mặt Đức Giê-hô-va (Le 10:1-20), nhưng sự cảnh cáo này vẫn không ngăn cản được họ.


3. Môi-se vị lãnh đạo nổi giận (Dân 16:12-17):

Môi-se gọi Đa-than và A-bi-ram đến họp, nhưng họ từ chối không đến. Chẳng thấy nói gì về Ôn cả, có lẽ ông đã khôn ngoan rút ra khỏi cuộc nổi loạn đó. Sự kiêu căng tự phụ của Đa-than và A-bi-ram đã gây ra rắc rối phiền phức vô cùng, họ không chỉ không vâng lời Môi-se nhưng còn đổ thừa tại ông mà dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội ở Ca-đe Ba-nê-a! Thậm chí họ còn gọi Ê-díp-tô là “xứ đượm sữa và mật”, đồng thời họ lên án Môi-se, cho rằng Môi-se đã tự tôn mình lên làm quan trưởng để “đè đầu cỡi cổ” dân sự.

Không phải nghi ngờ gì nữa, đúng là những người thiếu hiểu biết thuộc linh này đã ấp ủ trong lòng họ sự ghen ghét đố kỵ người khác và tham vọng muốn chiếm đoạt lấy chức vụ, địa vị lãnh đạo cho chính mình.


Một lần nữa, Môi-se đã không tranh cãi với những kẻ phản loạn; ông cầu nguyện với Chúa xin Ngài minh oan cho ông. Cơn giận của Môi-se không phải là sự cáu giận ích kỷ tư lợi; mà đó là cơn thịnh nộ chính đáng của một người thanh liêm chính trực chỉ mong muốn điều duy nhất là làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Có sự nổi giận vì lẽ công bình mà dân sự Chúa có lẽ đã cảm nhận được khi các tội nhân phủ nhận, gạt bỏ ý chỉ đường lối Chúa, và đi xúi giục cám dỗ nhiều người khác phạm tội nữa (Xu 32:19; IICo 11:29; Mac 3:5; Eph 4:26).


4. Đức Giê-hô-va là Quan Án công bình (Dan 16:18-35):

Sáng hôm sau, Cô-rê và những kẻ theo ông đã có mặt cùng với các lư hương, đến đứng trước mặt Môi-se với A-rôn tại lối cổng vào đền tạm, còn Đa-than và A-bi-ram cùng với gia đình thân bằng quyến thuộc của họ đứng tại các cửa lều trại ở phía nam đền tạm. Chúng ta có thể hình dung ra khung cảnh của bầu không khí yên lặng khủng khiếp đến rợn người đang bao trùm ở đó, một lát sau, vinh quang Đức Chúa Trời xuất hiện (Dân 14:10; Dân 20:6; Xu 16:10-12) và có tiếng của Chúa phán ra. Giờ khắc xử án của Chúa đã đến!


Môi-se và A-rôn, là những nhà lãnh đạo chân thật, liền sấp mặt xuống trước Chúa cầu xin giùm cho dân tộc.Nhưng tại sao vì tội lỗi của hai người này mà tất cả mọi người đều sẽ phải chết? Môi-se thường xuyên cầu xin giùm cho dân sự, nhưng có lẽ họ chẳng ưa thích những việc ông đã làm vì họ. Đối với cả lần trước lẫn lần này, Đức Chúa Trời thảy đều rất muốn tiêu diệt toàn bộ dân tộc, nhưng sự cầu xin giùm của Môi-se đã cứu sống họ (Dân 14:10-12; Xu 32:7-14).


Đức Chúa Trời cảnh báo dân Do-thái hãy mau rời xa các lều trại của Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram; liền sau đó có một cơn động đất xảy ra nuốt chứng những kẻ xấu xa kia cùng với người nhà của họ, thế rồi ngọn lửa từ Đức Chúa Trời đã huỷ diệt 250 người tự mình muốn trở thành thầy tế lễ (Dân 11:1-3; Le 10:1-7). [49]


Đức Chúa Trời cho biết rõ ràng rằng dân Do-thái phải chấp nhận những người lãnh đạo đã được Chúa chỉ định và phải tôn trọng quyền hạn của họ. Thật nguy hiểm cho những ai dám thách thức chỉ thị của Đức Chúa Trời và tự đề bạt mình lên làm lãnh đạo. Họ không những phản loạn chống nghịch Chúa (Dân 16:11) mà họ còn đối kháng lại với cuộc sống của chính họ (c.38). Tiến sĩ A. W. Tozer đã từng nói thế này, “Đừng bao giờ bước theo một nhà lãnh đạo nào cả cho đến lúc bạn nhìn thấy đầu ông ta đã được xức dầu phong chức”.


5. Ê-lê-a-sa thầy tế lễ trung tín (Dân 16:36-40).

Vì 250 lư hương kia đã được đem dâng cho Đức Giê-hô-va, cho nên chúng đã được thánh hoá, nhưng những kẻ bưng nó trên tay đều là những kẻ gian ác, do đó chúng sẽ không được sử dụng giống như các kim loại thông thường khác. Đức Chúa Trời phán bảo con trai A-rôn là Ê-lê-a-sa hãy gom chúng lại rồi đập dẹp ra hết dát thành những cái dĩa mỏng đem để trên bàn thờ dùng vào việc dâng của lễ thiêu.Những dĩa này sẽ là sự nhắc nhở sốt dẻo nhất đối với dân chúng rằng, “Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!” (Dan 10:31). Không biết những cái dĩa này có được dùng thay thế cho tấm vĩ lưới bằng đồng nguyên thuỷ mà người ta thường đặt các con sinh tế lên đó để thiêu, hay để đặt thêm thứ gì đó trên chúng, thì chúng ta không được nghe nói đến.


Khi Giu-đe viết những lời cảnh báo cho các Hội thánh thời nguyên sơ về những giáo sư giả, ông có dùng hình ảnh Cô-rê làm thí dụ minh họa, cùng với Ca-in và Ba-la-am nữa (Giu 1:11). [50] Từ vựng “Sự chống đối” (KJV; “sự phản loạn”, NIV) có nghĩa là “nói những lời nghịch mạng, chống đối bằng lời nói và qua hành động, là sự nổi loạn”. Trong sứ điệp giã từ của mình gởi cho các vị trưởng lão ở Ê-phê-sô (Cong 20:28-31), Phao-lô đã cảnh báo họ rằng rồi đây sẽ xuất hiện những kẻ kiêu căng tự phụ bắt bớ quyền hạn của họ tại các Hội thánh địa phương và những kẻ đó sẽ tự tôn mình lên làm lãnh đạo. Hình như càng ngày càng có nhiều Hội thánh nội bộ bị chia rẽ vì lý do giới lãnh đạo trong Hội thánh quá kiêu ngạo cùng với những giáo huấn sai trật giả dối của họ.


Sự đương đầu thứ hai (Dân 16:41-17:13): Sự chết chóc của trên 250 người kia ắt đã gieo vào lòng người dân Y-sơ-ra-ên nỗi kinh hoàng khủng khiếp, vậy mà vẫn, “Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó.” (Ro 3:18). Lúc bắt đầu chỉ có chừng vài trăm người nổi loạn, còn giờ đây sự lổi loạn đó đã trở nên mang tính chất toàn quốc!

Thay vì quỳ gối xuống kêu nài Đức Chúa Trời tha thứ và thương xót, đằng này, dân Do-thái lại bạo loạn chống đối Môi-se và A-rôn giống như Cô-rê vậy! Những người có tinh thần thế tục sẽ không thể nào hiểu thấu được ý nghĩa tâm linh của những việc Đức Chúa Trời đã làm bởi vì họ thiếu sự nhận thức thuộc linh (ICo 2:1-16). Dân tộc chỉ nhìn thấy những hành động của Chúa, còn Môi-se thì hiểu được các đường lối Ngài (Thi 103:7).


Một lần nữa, vinh quang Đức Giê-hô-va lại xuất hiện và sự đoán phạt của Chúa bắt đầu phá hủy người Y-sơ-ra-ên;do đó, ở lần thứ hai này trong suốt hai ngày, Môi-se và A-rôn đã sấp mặt xuống cầu xin giùm cho dân sự. A-rôn cầm lư hương, len lỏi vào trong từng hàng người đang hối hận day dứt, và ông “đứng giữa người sống và kẻ chết, thì tai vạ dừng lại.” (Dân 16:48). Khi đếm các tử thi, họ thấy có đến 14.700 người bỏ mạng vì họ đã ngu xuẩn phản loạn chống nghịch Chúa, “tiền công của tội lỗi là sự chết” (Ro 6:23).


Nói về lòng người thì điều gì đã khiến cho họ quá dễ dàng hùa theo đám đông bất tuân với Chúa? “Nhưng những gì mà kinh nghiệm và lịch sử đã dạy chúng ta đó là dân sự cùng với chính quyền các cấp của họ sẽ không bao giờ học hỏi được gì từ lịch sử, hoặc hành động dựa trên các nguyên tắc được suy luận từ nguồn gốc lai lịch của nó”. Hegel, một triết gia người Đức đã viết như vậy trong lời giới thiệu tác phẩm Philosophy of History (Tính triết lý trong lịch sử), và ông đã đúng. Có một điều chúng ta cần học hỏi từ lịch sử là chúng ta không nên học hỏi gì ở lịch sử, kể cả lịch sử Hội thánh.


1. Sự nhắc nhở thứ hai (Dân 17:1-13): Đức Chúa Trời đã có lần cho tất cả mọi người thấy rằng Ngài đã chọn A-rôn và các con trai người vào công tác phục vụ là những thầy tế lễ, cho nên hễ bất luận ai của bất cứ chi phái nào cố tình chiếm lấy chức vụ thầy tế lễ này thì kẻ đó ắt sẽ phải đón nhận cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.


Sự kiểm tra này rất đơn giản.

Tộc trưởng của từng bộ lạc đưa cho Môi-se một cây gậy có khắc tên của chi phái mình, và cả 12 cây gậy cộng thêm cây gậy của A-rôn nữa được đem để trước mặt Đức Giê-hô-va trong nơi chí thánh. Quả thật tất cả các chi phái đều được đề nghị chịu sự kiểm tra này và đúng là hết thảy đều có biểu hiện phản loạn. Cây gậy của người nào nứt mầm lên thì người có cây gậy đó đúng là người đã được Đức Chúa Trời chọn làm thầy tế lễ của dân sự. Ngày hôm sau, Môi-se đem hết gậy ra,ai nấy đều có thể nhìn thấy chỉ có gậy của A-rôn là có nứt lên mầm sự sống. Cây gậy A-rôn, “đã trổ hoa, nó có nứt mụt, sanh hoa và trái hạnh nhân chín” (c.8 NIV). Vậy, dân Y-sơ-ra-ên còn muốn có thêm chứng cớ gì nữa?


Nếu Môi-se đem gậy của A-rôn vào đặt trở lại trong nơi chí thánh, thế thì liệu đó có còn là sự nhắc nhở dân tộc rằng bộ tộc Lê-vi đúng là bộ tộc được biệt riêng để thi hành công tác tư tế? Về vấn đề này, các tộc trưởng của các chi phái cùng với rất nhiều người nữa đều đã nhìn thấy những cây gậy đó và họ có thể làm chứng rằng chỉ có duy nhất gậy A-rôn mới nứt ra mầm sống mà thôi.

Mỗi ngày, khi các tộc trưởng cầm gậy mình giơ lên thì họ sẽ được nhắc nhở Đức Chúa Trời đã chọn các con trai A-rôn làm công tác phục vụ tại bàn thờ. Hơn nữa, thầy tế lễ thượng phẩm A-rôn lúc nào cũng có thể mang gậy của chi tộc Lê-vi ra cho mọi người thấy đó là chứng cớ đời đời rằng chỉ có dòng dõi nhà A-rôn là dòng dõi duy nhất đã được Chúa chọn để đảm nhiệm chức thầy tế lễ mà thôi.


Như thường lệ, người Y-sơ-ra-ên đã phản ứng dữ dội khi họ nghe những tin tức cho rằng bất kỳ ai dám đến gần đền tạm thì sẽ bị giết chết (c.12-13 Dân 14:40-45). Ít ra thì họ phải nên lo sợ cơn đoán phạt của Chúa, vậy mà, họ chẳng thực lòng kính sợ Chúa chút nào.Nhưng sự hiện diện của đền tạm trong trại quân sẽ luôn là bằng chứng cơ bản cho người Do-thái, vì nó cho thấy Đức Giê-hô-va đang ở cùng với họ. Ngài sẽ dẫn đường họ vượt qua đồng vắng, đánh bại các kẻ thù của họ, tiếp nhận các của lễ họ dâng lên, và đồng ý sẽ tha thứ cho họ. Để làm cho họ bớt sợ hãi, trong những phân đoạn Kinh Thánh kế tiếp, Môi-se đã giải thích chức vụ của các thầy tế lễ và tầm quan trọng của đền tạm trong trại quân.


Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên ba sự nhắc nhở nhằm khích lệ họ vâng theo luật pháp Ngài và đầu phục ý muốn Ngài, đó là: những tua áo trên áo choàng ngoài của họ, những cái dĩa bằng đồng trên bàn thờ, và cây gậy của A-rôn đặt trong nơi chí thánh.

Để khích lệ động viên các Cơ-đốc nhân ngày nay hãy là những con cái Chúa biết vâng lời Ngài, Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta Lời Chúa (Gi 17:17), ban Đức Thánh Linh vào lòng chúng ta (ICo 6:19-20), và cả Tiệc Thánh nữa, nhằm nhắc nhở chúng ta luôn nhớ đến sự chết của Đấng Christ và sự tái lâm theo như đã hứa của Ngài (11:23-34 IGi 3:1-3), nhớ đến Chúa Cứu Thế là Đấng cầu thay cho chúng ta trên Thiên đàng (He 4:14-16 Ro 8:34).

Trước khi chúng ta đoán xét dân sự ngày xưa của Đức Chúa Trời, tốt hơn có lẽ là chúng ta nên suy xét chính tấm lòng mình trước xem thử chúng ta đã thực sự đầu phục quyền năng của Lời Chúa và đầu phục những người lãnh đạo do Chúa chọn hay chưa.

-Dan 16:1-49; xem giải nghĩa Dan 15:1-41.

-Dan 17:1-13; xem giải nghĩa Dan 15:1-41.





7. KHỦNG HOẢNG LẦN NỮA TẠI CA-ĐE (Dan 18:1-20:29)


Có lẽ Đức Giê-hô-va đã ban phát những lời dạy dỗ trong phân đoạn 18-19 lúc Y-sơ-ra-ên vẫn còn ở tại Ca-đe. Tuy nhiên, khi bạn đọc đến phân đoạn 20, bạn sẽ thấy Y-sơ-ra-ên đã mất trọn 38 năm đi lang thang và giờ đây lại trở về Ca-đe (Dan 20:1,16).


Chúng ta không thấy có ghi chép gì nhiều về những tháng năm lang thang lưu lạc của Y-sơ-ra-ên, mặc dầu Kinh Thánh có nêu tên những nơi họ dừng lại đóng trại như trong Dân 33:1-56. Mi-ri-am qua đời vào tháng thứ nhất thuộc năm thứ bốn mươi (Dân 20:1), khi dân tộc quay về Ca-đe; và A-rôn qua đời vào tháng thứ năm cũng trong năm ấy luôn (Dân 33:38). Còn Môi-se chết vào cuối năm thứ bốn mươi (Phuc 1:3), lúc bấy giờ, toàn bộ thế hệ lớn tuổi đều chết hết, ngoại trừ Giô-suê và Ca-lép là những người được phép vào xứ Ca-na-an.


Dân sự Đức Chúa Trời thường rất cứng đầu, bướng bỉnh và hay nổi loạn, cho nên Chúa đã trừng phạt họ, mặc dầu họ bất tuân như vậy, nhưng Ngài vẫn luôn quan tâm chăm sóc họ, “Dầu vậy, Ngài cứu họ vì cớ danh Ngài, Hầu cho bày ra quyền năng của Ngài” (Thi 106:8). Hãy xem xét một số sự quan tâm của Chúa vì cớ dân sự Ngài được Ngài bày tỏ qua những lời chỉ dạy của Ngài và các biến cố được tìm thấy trong những phân đoạn Kinh Thánh này.


1. Việc bảo vệ nơi thánh (Dân 18:1-7)

Vì những sự đoán phạt của Đức Giê-hô-va giáng trên những kẻ phản loạn tại đền tạm (Dân 16:31-35)và việc Chúa đã bênh vực chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của A-rôn một cách lạ lùng như vậy (Dân 17:10-13), cho nên dân Y-sơ-ra-ên rất khiếp hãi khi có đền tạm trong trại quân, “Phàm ai đến gần đền tạm của Đức Giê-hô-va đều chết. Có lẽ chúng tôi phải chết hết sao?” (Dân 17:13 NIV), và họ đã kêu khóc lên như vậy. Quả thực, sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong trại quân của họ chính là điểm đặc biệt, phân biệt dân Y-sơ-ra-ên với các dân khác (Xu 33:1-16), vì Y-sơ-ra-ên là dân tộc duy nhất có sự vinh quang của Đức Chúa Trời hằng sống hiện diện với họ và đi trước họ (Ro 9:4).


Đức Chúa Trời đã trực tiếp phán với A-rôn (Dân 18:1,8,20) chính việc này đã làm cho chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của ông được tôn cao hơn. Chúa có cho biết rõ ràng rằng các thầy tế lễ lo đảm trách công vụ trong đền tạm và bảo vệ ngăn ngừa không để đền tạm bị người ta làm ô uế, người Lê-vi có trách nhiệm phân công bố trí các thầy tế lễ hành sự phục vụ tại đền tạm. [51] Hễ chừng nào các thầy tế lễ và người Lê-vi còn biết vâng giữ luật lệ này thì sẽ không có sự đoán phạt nào giáng trên dân sự cả (c.5).


Chức vụ và công việc tư tế của các thầy tế lễ rất quan trọng, vì nếu các thầy tế lễ không làm theo những sự chỉ dạy của Đức Chúa Trời, thì họ ắt phải chết. Nếu họ để cho ai đó vô phận sự đến gần đền tạm hoặc làm bất luận công việc gì tại đó thì họ sẽ bị Đức Chúa Trời giết chết. Họ sẽ gặp nguy hiểm nếu họ bất tuân trong cách ăn mặc (Xu 28:35,42-43) hoặc việc rửa ráy thường nhật (Dân 30:17-21).Đức Chúa Trời buộc A-rôn và các con trai người phải chịu trách nhiệm ngăn chặn không cho người ngoài xâm phạm nơi thánh và phạm vào chức tư tế của thầy tế lễ.


Chức tư tế là đặc quyền của Đức Chúa Trời ban cho Y-sơ-ra-ên, vì nếu không có các thầy tế lễ thì dân sự sẽ không thể nào đến gần Đức Chúa Trời được. Người Lê-vi là quà tặng của Đức Chúa Trời ban cho các thầy tế lễ, nhằm an ủi, phụ giúp các công việc có cần của họ để họ có thể dâng mình hoàn toàn cho sự phục vụ Chúa và phục vụ nhân dân. Trong Công-vụ các sứ-đồ 6, có 7 người thường được gọi là các chấp sự đều có mối liên hệ như nhau với các sứ đồ. Đối với công việc phục vụ ở bàn thì không gì gọi là mất phẩm giá cả, nhưng các sứ đồ còn có công việc quan trọng hơn phải làm.


Trong công tác lãnh đạo, mọi thứ có khi thành công nhưng cũng có lúc thất bại, A-rôn là người lãnh đạo một dòng họ chuyên lo về công việc tư tế. Ông phải chịu trách nhiệm giải trình với Đức Chúa Trời về những gì đã xảy ra tại nơi thánh. Đức Chúa Trời không ngự trong những Đền Thờ bởi tay người làm ra (Cong 7:48), nhưng Ngài ngự ở trong thân thể chúng ta bởi Đức Thánh Linh (ICo 6:19-20), và ở giữa vòng dân sự khi họ nhóm họp lại thờ phượng Ngài (ICor 3:16 đến hết đoạn). Chúng ta phải hết sức cẩn thận trong cách chúng ta đối xử với thân thể mình và trong những việc chúng ta làm đối với Hội thánh của Đức Chúa Giê-xu Christ, “Ví có ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ, vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, mà chính anh em là đền thờ” (c.17, NIV).


2. Việc chu cấp cho các đầy tớ Chúa (Dân 18:8-32)

Là những đầy tớ của Đức Chúa Trời, các thầy tế lễ và người Lê-vi rất xứng đáng được dân sự Chúa chu cấp nuôi nấng.Không giống như các chi phái khác, chi phái Lê-vi không có được quyền thừa kế Đất Hứa, vì Đức Giê-hô-va chính là cơ nghiệp của họ rồi (c.20 Phuc 10:8-9; Gios 13:14,33; Gios 14:13; Gios 18:7), và người Lê-vi sẽ được ban cho 48 thành để cư ngụ sinh sống (Dân 35:1-8; Gios 21:1-45) [52] Cả người Lê-vi lẫn các thầy tế lễ đều được chu cấp lương thực nhờ vào các sinh tế, của lễ, và những phần mười của dân sự dâng hiến.


Các thầy tế lễ (Dân 18:8-20): Đức Chúa Trời quy định các thầy tế lễ được chia phần từ các của lễ chay, của lễ chuộc tội, của lễ chuộc sự mắc lỗi, và của lễ thù ân (Le 6:14-7:38), cũng như lễ trái đầu mùa (Phuc 26:1-11) và từ những sinh tế là con vật đầu lòng của dân sự đem đến dâng cho Chúa.

Có một số trong những đồ ăn này chỉ được dành riêng cho các thầy tế lễ ăn mà thôi, nhưng phần lớn là được đem phân phát cho các gia đình của họ. Tuy nhiên, bất kỳ ai trong gia đình các thầy tế lễ đã ăn các sinh tế được người ta đem dâng cho Đức Chúa Trời thì đều phải được thanh tẩy theo lễ nghi và dùng những đồ ăn đó với lòng kính sợ Chúa, bởi vì những của lễ ấy đã được thánh hoá bằng cách đem trình cho Đức Chúa Trời.


Người Lê-vi (Dân 18:21-32): Họ được Chúa ban cho phần mười của dân sự đem đến dâng trong nơi thánh cho Chúa,vì 10 % của mọi sản vật sản phẩm mà chúng ta làm ra là thuộc về Chúa. Người Do-thái bắt buộc phải trả 3/10: 1/10 cho người Lê-vi (c.21-24), 1/10 “được ăn trước mặt Chúa” (Phuc 14:22-27), và 1/10 của sản vật cứ ba năm một lần để dùng ban cho người nghèo (Le 27:28-29). Người Lê-vi lần lượt đem 1/10 của những thứ họ nhận được dâng lên cho Chúa,và sau đó được đem cho thầy tế lễ thượng phẩm.


Nguyên tắc quy định này rất rõ ràng và thường được nhấn mạnh trong Kinh Thánh: Hễ ai hầu việc Đức Giê-hô-va và phục vụ dân sự Ngài thì sẽ được dân sự chu cấp của cải vật chất vốn là những ơn phước do Chúa ban cho họ, “vì người làm công đáng được tiền lương mình” (Lu 10:7 Mat 10:10), Chúa Giê-xu đã phán như vậy, và Phao-lô cũng có viết, “Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình” (ICo 3:14,NKJV). Phao-lô còn giải thích nguyên tắc này cụ thể hơn nữa trong Ga 6:6-10; Phi 4:10-19; ITi 5:17-18.


Người Do-thái không phải lúc nào cũng tuân giữ luật lệ này và đem dâng 1/10 cho Chúa, đó được xem là thành quả của công tác phục vụ tại đền tạm và bàn thờ, (Ne 10:35-39; Ne 12:44-47; Ne 13:10-14; Ma 1:6-2:9). Nếu các thầy tế lễ và người Lê-vi không có thức ăn để nuôi sống gia đình họ, thì họ bắt buộc phải rời khỏi nơi thánh để đi làm kiếm ăn trong nơi đồng ruộng (Ne 13:10). Thật đúng là bi kịch khi dân sự Chúa không còn yêu kính Chúa và nhà Chúa, nên họ không trung tín chu cấp đầy đủ cho nhà Ngài nữa.


Đức Chúa Trời muốn người Lê-vi đem 1/10 của những gì họ nhận được chia sẻ cho thầy tế lễ thượng phẩm (Dân 18:25-32). Có lần tôi gặp những người làm công tác phục vụ trong giáo hội Tin Lành của chúng ta nhưng họ chẳng dâng gì cho công việc Chúa cả vì họ cho rằng riêng bản thân họ được miễn không phải dâng hiến gì nữa. “Chúng tôi đang hầu việc Chúa và tất cả những gì chúng tôi có đều đã thuộc về Chúa hết rồi”, họ biện luận như vậy, nhưng lập luận đó của họ không đứng vững được. Người Lê-vi hầu việc Chúa toàn thời gian,tuy nhiên, họ cũng phải dâng 1/10 những gì họ nhận được.


Việc dâng phần mười không nhất thiết là một thông lệ được tuân thủ nghiêm ngặt, vì Áp-ra-ham và Gia-cốp đã dâng phần mười này hàng bao thế kỷ trước khi Luật Pháp Chúa ra đời (Sa 14:20; Sa 28:22). Nếu dân Do-thái ở dưới Giao-ước cũ mà vẫn có khả năng dâng 10 % lợi tức từ những sản phẩm sản vật của họ cho Đức Giê-hô-va như vậy thì lẽ nào Cơ-đốc nhân chúng ta ngày nay dưới giao-ước mới lại có thể dâng cho Chúa ít hơn sao? Đối với chúng ta, việc dâng phần mười chỉ mới là khởi đầu! Nếu chúng ta hiểu được ý nghĩa của IICo 8:1-9:15, thì chúng ta ắt sẽ thực hiện “việc ban cho vì lòng thương xót” này thậm chí còn gấp bội phần hơn cả là dâng phần mười nữa là đằng khác. [53]


3. Việc thanh tẩy những gì bị ô uế (Dan 19:1-22)

Trong đời sống hằng ngày của dân Do-thái, họ phải luôn để ý nhận biết phân biệt những gì là “sạch” và “không sạch”, vì điều này quyết định mối liên hệ của họ với Chúa và với người khác trong trại quân. Luật lệ của Chúa: “các ngươi phải nên thánh, vì ta là thánh” là câu được tìm thấy 8 lần trong Kinh Thánh (Le 11:44-45; Le 19:2; Le 20:7,26; Le 21:8; IPhi 1:15-16). Những luật định về sự “sạch và không sạch” được nêu ra rất chi tiết cụ thể trong Lê-vi ký 11-15, chỉ dẫn người Y-sơ-ra-ên nên được phép ăn những thức ăn nào, cách thức xử lý ra sao đối với những trường hợp thân thể bị tiết dịch và bị những bệnh lây nhiễm, và họ cần phải làm gì khi tiếp xúc với tử thi. Chắc chắn phải có một mục đích về vấn đề vệ sinh ở phía sau những luật lệ này, nhưng cũng có mục đích tâm linh là: nhằm chỉ dạy người Do-thái biết phân biệt giữa sự thánh khiết và tội lỗi để khích lệ họ bước đi một cách thánh sạch.


Sự chuẩn bị (Dân 19:1-10): Ở đây có một số nét tiêu biểu đặc biệt đề cập đến nghi lễ này. Con vật được chọn không phải là con đực; nó phải được giết chết ở bên ngoài trại quân ở chỗ cách xa đền tạm và bàn thờ; người giết con vật đó là một thường dân chứ không phải thầy tế lễ, không được làm đổ huyết con sinh ra trước mặt Đức Chúa Trời nhưng phải thiêu chúng cùng với xác con sinh; sau khi thiêu xong thì phải gom tro lại hòa với nước rồi dùng chúng vào việc thanh tẩy theo lễ nghi.


Thứ nhất, phải chọn con vật không tì vít,tật nguyền nào, có màu lông sắc hoe đỏ, chưa mang ách lần nào. Màu đỏ của lông có lẽ ám chỉ về huyết được đổ ra, nhưng có thể màu sắc này nói lên màu của bụi đất đã được Chúa dùng nắn tạo nên hình người đầu tiên (Sa 2:7). Tên “A-đam” có xuất xứ từ tiềng Hê-bơ-rơ: adamah nghĩa là “bụi đất màu đỏ”.


Ê-lê-a-sa, con trai A-rôn và cũng là người kế nhiệm ông đã dắt con bò cái tơ đó đi ra bên ngoài trại quân đến nơi để một người dân thường giết chết nó trước sự chứng kiến của ông vốn là một thầy tế lễ. Từ dùng nói về sự sát sinh con vật này không phải là từ dùng để nói về sự hiến tế con sinh, vì ở đây không có sự liên quan đến bàn thờ. Ê-lê-a-sa hứng một ít huyết của con vật rồi rảy huyết ấy về phía đền tạm bảy lần.


Sau đó, người ta đem thiêu xác con sinh cùng với huyết của nó, Từ dùng ở đây không phải là từ bình thường khi nói về “sự thiêu con sinh tế”. Trong khi đang thiêu con sinh, Ê-lê-a-sa liền quăng vào lửa đó ba thứ có ý nghĩa quan trọng: cây hương nam, chùm kinh giới (một loại cây thân xốp có tính chất hút nước) và tấm vải len màu đỏ sặm, là những thứ thường được dùng trong nghi lễ tẩy uế cho người bị bịnh phung đã được chữa lành (Le 14:4,6,49,51-52; Thi 51:7).


Vì lý do tiếp xúc với xác chết, cho nên Ê-lê-a-sa và người được phân công giết con bò cái tơ đó được coi là không sạch theo lễ nghi, sẽ phải tắm rửa mình mẩy và giặt giũ áo xống họ sạch sẽ trước khi trở lại trại quân vào buổi chiều tối. Có một người tinh sạch theo lễ nghi sẽ hốt tro sau khi thiêu con sinh ấy đổ vào một cái thùng rồi đem đặt tại một nơi sạch sẽ bên ngoài trại quân để dân sự có thể dùng được. Người hốt tro đó phải tắm rửa giặt giũ thật là sạch sẽ xong mới được phép trở lại trại quân.


Sự ứng dụng (Dân 19:11-22): Những tro này sẽ được người ta dùng như thế nào? Theo lễ nghi,người bị coi là ô uế nếu có tiếp xúc với xác chết (Dân 19:11-13), nếu ở trong lều có người chết (Dân 19:14-15), hoặc đụng phải bất kỳ thứ gì hay đồ vật nào đã bị ô uế (c.16), thì đều có thể được thanh tẩy hết ô uế nhờ dùng những tro này. Họ sẽ phải đợi ba ngày sau khi họ bị ô uế sau đó đi ra ngoài trại quân cùng với một người tinh sạch theo lễ nghi đến chỗ để tro ấy.

Người tinh sạch kia hòa một ít tro với nước trong một cái bình, nhúng chùm lá kinh giới vào nước đó rồi rảy nước ấy lên người đang bị ô uế. Việc này được thực hiện lặp đi lặp lại trong suốt bốn ngày cho đến ngày thứ bảy. Sau đó, những người đã được tinh sạch phải tắm rửa mình mẩy và giặt giũ áo xống mình sạch sẽ rồi đợi đến chiều tối mới được quay về trại quân.


Đây là một công việc được thực hiện rất nghiêm túc bởi vì nếu một người nào đó bị ô uế nhưng không chịu tẩy uế thì sẽ làm ô uế cả trại quân. Vì có sự hiện diện của Đức Chúa Trời ngự trong đền tạm (c.13,20) và Ngài luôn bước đi giữa vòng dân sự (Le 26:11-12; Phuc 23:12-14); cho nên trại quân phải được giữ thật thánh khiết. Nếu người nào không sạch mà không chịu tầy uế thì sẽ bị loại ra khỏi dân tộc (Dân 19:20) và bị ném đá cho đến chết.


Hội thánh Chúa ngày nay không phải lo về vấn đề không sạch theo nghi lễ hình thức nữa, nhưng chúng ta ghi lòng tạc dạ bài học của phân đoạn Kinh Thánh này rằng Đức Chúa Trời luôn muốn chúng ta hãy là những người sống thánh khiết. Chúng ta “hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta” (IICo 7:1).Đức Chúa Trời hứa tha thứ và làm sạch tội lỗi cho con cái Chúa nếu họ từ bỏ tội lỗi mình và xưng chúng ra với Ngài (IGi 1:9). Một con vật vô tội phải chết để được dùng vào việc thanh tẩy tội lỗi cho người Do-thái theo lễ nghi, nhưng Chiên Con của Đức Chúa Trời đã phải chết để thanh tẩy tội lỗi cho chúng ta (Gi 1:29; IPhi 1:18-23).


4. Việc sửa phạt những người lãnh đạo của Chúa (Dân 20:1-13)

Cái chết của Mi-ri-am chắc chắn có gây ảnh hưởng sâu sắc đến Môi-se và A-rôn. Chính Mi-ri-am là người đã được Đức Giê-hô-va dùng để cứu mạng sống của Môi-se khi ông còn là đứa trẻ, thậm chí bà đã sắp xếp trước để chính mẹ ruột của chị em bà được nuôi Môi-se lớn lên (Xu 2:1-25). Bà từng làm người hướng dẫn ban phụ nữ nhóm họp ngợi khen Chúa tại Biển đỏ (Xu 15:1-27) và cùng đồng cam cộng khổ với những người anh em của mình vượt qua nhiều thử thách gian nan trong hoang mạc.

Nhược điểm duy nhất của bà được ký thuật lại là việc bà đã chỉ trích Môi-se (Dân 12:1-16), nhưng thử hỏi có đầy tớ nào của Chúa lại không có hàng khối nhược điểm thiếu sót?


Một vấn đề xưa cũ (Dân 20:1-5): Đó là một phản xạ có điều kiện: bất cứ lúc nào người Y-sơ-ra-ên gặp phải khó khăn thử thách, họ đều lằm bằm, cằn nhằn với Môi-se và A-rôn rồi khóc lóc bảo rằng sao không để họ ở lại Ê-díp-tô. Những sự khó khăn gian nan vất vả sẽ đem lại điều tốt nhất hoặc điều tồi tệ nhất cho dân sự; chúng sẽ làm cho chúng ta trưởng thành hoặc sẽ khiến chúng ta trở nên trẻ con hơn (Gia 1:2-8). Những lời nói và thái độ của Y-sơ-ra-ên cho thấy rõ ràng rằng họ vẫn còn để tâm để trí mình ở Ai-cập. Hãy hình dung xem sẽ ra sao đối với một người xưng mình Cơ-đốc nhân nhưng vẫn cứ để lòng tơ tưởng đến thế gian (IGi 2:15-17) và hễ khi nào gặp sự cố gì thì liền quay lại thế gian nhờ giúp đỡ!


Một giải pháp thánh của Đức Chúa Trời (Dân 20:6-9): Đáng lý ra chính dân sự phải hạ mình xuống xưng nhận tội lỗi mình và tìm kiếm sự tha thứ của Đức Chúa Trời, nhưng đằng này,Môi-se và a-rôn đã phải sấp mặt xuống trước Chúa tìm kiếm sự khôn ngoan và sự giúp đỡ của Ngài (Dân 14:5; Dân 16:4,22,45; Dân 22:31). Những người lãnh đạo thuộc linh thường phải trả giá khi họ tìm kiếm sự phục vụ cho con dân Đức Chúa Trời, thế nhưng người ta vẫn không cảm kích điều ấy. Họ tiếp tục tái phạm tội lỗi như cũ,không chịu tin cậy Đức Chúa Trời và không vâng lời Ngài.


Môi-se đã từng dùng một cây gậy làm nhiều điều lạ lùng tại Ê-díp-tô, đặc biệt là dùng để rẽ Biển Đỏ ra. Tiếng Hê-bơ-rơ khi nói về “đá” tức là đề cập đến vách đá cao, là nơi dùng làm pháo đài, chứ không phải nói về một viên đá cuội. Đức Chúa Trời có khả năng giải quyết mọi vấn đề của chúng ta cho dù đó là những tình huống như thế nào đi chăng nữa,miễn là chúng ta tin cậy Ngài và làm theo ý chỉ, đường lối Ngài.


Tội bốc đồng (Dân 20:10-11): Vì bị dân sự khiêu khích, thay vì nói với tảng đá, Môi-se lại đập mạnh vào nó hai lần. Ông còn giận dữ gọi dân sự là “dân phản nghịch”, ông đã gây cho họ ấn tượng là chính ông với A-rôn đã chu cấp nước cho họ vậy. Đó là biểu hiện thái độ thù địch đáng trách của một người nhu mì nhất thế gian (Dân 12:3), cho thấy rằng chúng ta có thể thất bại ngay khi chúng ta mạnh mẽ cũng như lúc chúng ta yếu đuối.[54]


Môi-se chỉ là một con người, giống như chúng ta vậy, và chắc chắn ông đã bị yếu đuối vào lúc sắp kết thúc cuộc hành trình trong đồng vắng, khi đó ông chẳng còn nhìn thấy gì ngoại trừ sự vô tín và ông không còn nghe gì ngoại trừ sự lằm bằm. Thi 106:32-33 tuyên bố rằng chính dân sự đã khiêu khích Môi-se khiến ông nổi giận, và đó không phải là điều khó tin. Có lẽ ông không còn xúc cảm nữa bởi cái chết của chị ông. Chắc là ông rất đau buồn, bởi vì, khi dân sự lằm bằm, Đức Giê-hô-va đã không bày tỏ vinh quang Ngài ra cùng với sự đoán phạt như Ngài đã bày tỏ trước đó.


Nhưng bất kể là do động cơ nào đi chăng nữa theo cách nghĩ của chúng ta thì sự thật vẫn là sự thật rằng Môi-se đã không tôn kính Đức Giê-hô-va và không tuân lệnh Ngài. Bằng cách đập mạnh vào tảng đá, Môi-se đã phá tan hình bóng Đấng Mê-si-a là Đấng ban nước hằng sống cho dân sự Ngài (Xu 17:1-7; Gi 7:37-39). Chúa Cứu Thế của chúng ta đã ban chính mạng sống Ngài cho chúng ta trên thập tự giá một lần đủ cả chứ không cần phải bị đóng đinh (bị đập mạnh)lần nữa (He 9:26-28). Giờ đây tất cả những gì mà Cơ-đốc nhân phải làm chỉ còn là cầu xin mà thôi, và Đức Chúa Trời luôn ban Đức Thánh Linh Ngài cho họ.


Có một điều đáng chú ý ở đây là Đức Chúa Trời đã ban nước cho dân sự dẫu rằng lúc ấy Môi-se có những thái độ và hành động sai hoàn toàn! [55] “Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi. Cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi” (Thi 103:10, NKJV). “Hỡi Đức Giê-hô-va, nếu Ngài cố chấp sự gian ác, Thì, Chúa ôi! Ai sẽ còn sống?” (Thi 130:3, NKJV), Đức Chúa Trời trong ân điển Ngài nên Ngài đã ban cho dân sự Ngài mọi nhu cầu có cần, bởi Ngài là Đấng giàu lòng nhân từ hay thương xót, tuy nhiên Ngài đã không bỏ qua tội lỗi của Môi-se.


Sự kỷ luật thật đau đớn (Dân 20:12-13): Nhân dân được cứu giúp nhưng còn Môi-se thì bị kỷ luật dưới hình thức đau đớn vô cùng: ông sẽ không được phép vào Đất Hứa (Lu 12:48). Ông đã tự làm vinh hiển bản thân mình thay vì làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Một lần nữa, một hình bóng quan trọng trong Cựu-ước được đề cập đến, vì Luật Pháp (Môi-se) không thể ban cho chúng ta sản nghiệp thừa tự của chúng ta (Ga 3:18).

Giô-suê là hình bóng của Đức Chúa Giê-xu Christ Đấng đi chinh phục, và chỉ có ông mới có thể dẫn dắt dân sự đi vào nơi sản nghiệp thừa kế của họ (He 4:1-11). Nếu Môi-se đã cùng vào được xứ với dân sự thì ắt hẳn ông đã làm tiêu tan sứ điệp của sách Hê-bơ-rơ mất rồi! [56]


Lần thứ nhất Đức Chúa Trời ban nước cho Y-sơ-ra-ên, Môi-se gọi nơi đó là “Ma-sa và Mê-ri-ba” nghĩa là “sự thử nghiệm và sự cãi cọ”. Còn ở lần thứ hai này, Môi-se gọi chỗ ấy là “Mê-ri-ba” (“sự cãi trả”),nhưng chính Môi-se đã bị thử nghiệm, và ông đã làm hỏng cuộc thử nghiệm này. Có lần, Môi-se nài xin Đức Chúa Trời cho phép ông đi qua vùng bên kia sông Giô-đanh, nhưng Chúa không đồng ý (Phuc 3:23-29). Môi-se bày tỏ ra sự nhu mì của mình qua việc ông đã đón nhận kỷ luật của Chúa và tiếp tục lãnh đạo dẫn dắt dân sự.


5. Việc dẫn dắt dân sự Ngài (Dân 20:14-22)

Y-sơ-ra-ên lúc bấy giờ đang tiến về phía bắc đến đồng bằng Mô-áp (Dan 33:48) nơi Môi-se sẽ chuẩn bị một thế hệ mới để đi vào xứ. Tuyến đường dễ đi nhất là đi theo đại lộ của vua xứ Ê-đôm ngang qua lãnh thổ dân Ê-đôm, là tuyến đường giao thông thương mại chính thời bấy giờ. Dân Ê-đôm là những hậu tự của Ê-sau (Sa 36:1-43) và do đó họ có bà con với Y-sơ-ra-ên, vì Gia-cốp là em trai của Ê-sau.


Sau khi nắm biết tình hình lịch sử của cuộc xung đột giữa Ê-sau và Gia-cốp, Môi-se đã dùng sách lược ngoại giao khéo léo để xin phép được đưa dân sự đi ngang qua lãnh thổ Ê-đôm. Y-sơ-ra-ên trước đó đã đánh bại nhiều vua và nhiều dân tộc khác trên bước đường họ ra đi, và dân Ê-đôm có hay điều này, cho nên Môi-se tỏ ý với họ ông muốn có một cuộc hành quân trong hòa bình.Chúng ta có ấn tượngrằng Dân 20:14-17 là tư liệu được viết đầu tiên về việc vua Ê-đôm đã tiếp những nhà ngoại giao của Y-sơ-ra-ên sai đến. Trong khi vốn là một hoàng tử Ai-cập, Môi-se ắt hẳn rất rành về tất cả những vấn đề ngoại giao này.


-Thứ nhất, Môi-se nhấn mạnh một sự thật rằng dân Do-thái với dân Ê-đôm là những người anh em với nhau (c.14), và ông dùng cụm từ “tổ phụ chúng ta” hai lần (c.15). Sự đồng kế tự này ắt sẽ khiến cho những nhà cầm quyền Ê-đôm cảm động về tình nghĩa anh em giữa hai dân tộc.

-Sau đó, Môi-se nhắc người Ê-đôm nhớ lại những nỗi thống khổ và ách nô lệ của Y-sơ-ra-ên tại Ê-díp-tô và những sự giải cứu bằng phép lạ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho Y-sơ-ra-ên. Vì Chúa đã giải phóng họ và Ngài hiện đang dẫn đường họ đi,cho nên chắc chắn người Ê-đôm cũng sẽ muốn góp phần với Đức Giê-hô-va cho phép những người Do-thái bà con thân thuộc này đi ngang qua đất nước họ.


Tuy nhiên để cho khoảng từ hai đến ba triệu người cùng với bầy gia súc của họ đi ngang qua lãnh thổ của bạn không phải là chuyện đơn giản, bởi vì họ sẽ cần phải có đồ ăn thức uống để ăn uống nữa. Được Đức Giê-hô-va trực tiếp chỉ dẫn (Phuc 2:1-8), Môi-se cam đoan với dân Ê-đôm rằng dân sự ông sẽ trả tiền đầy đủ cho những đồ ăn thức uống đó và thậm chí sẽ không đi vào các cánh đồng nho của Ê-đôm đâu. Môi-se đang nổ lực hết sức để đảm bảo cho cuộc hành trình lúc ấy diễn ra trong hòa bình, thế nhưng dân Ê-đôm đã từ chối không chấp nhận lời đề nghị độ lượng này của ông. Môi-se cố gắng thêm lần thứ hai thuyết phục người Ê-đôm, nhưng những lời lẽ của ông lại càng khiêu khích sự chống đối gia tăng thêm mà thôi.


Gia-cốp và Ê-sau có gặp nhau và đã dàn xếp ổn thỏa những sự bất hòa của họ vào những năm trước đó (Sa 32:1-33:20), nhưng con cháu hậu tự của Ê-đôm thì cứ luôn luôn ấp ủ mối thù truyền kiếp của dòng họ cha ông mình. Nhiều năm sau đó, khi Giê-ru-sa-lem bị tấn công, dân Ê-đôm đã trợ giúp cho quân thù và thậm chí ngăn cản bước đường chạy trốn của những người dân Do-thái tị nạn (xem Áp-đia Thi 137:7). Đúng là bi kịch khi khi có mối thù truyền kiếp của gia đình dòng họ cứ được nuôi dưỡng từ thế hệ này sang thế hệ khác, tiêm nhiễm nọc độc thù oán vào tâm trí của nhiều người gây cảnh phân ly giữa tình anh em với nhau.


Lúc quân đội Ê-đôm kéo đến nơi ngáng đường, thì Y-sơ-ra-ên chỉ còn một cách khôn ngoan nhất là tìm con đường mới nào đó mà đi. Chắc chắn Đức Chúa Trời dư sức giúp Y-sơ-ra-ên tiêu diệt gọn quân Ê-đôm, nhưng việc đó không nằm trong kế hạoch của Ngài, “Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người” (Ro 12:18 NKJV). Đức Chúa Trời ắt sẽ xử lý người Ê-đôm khi thời điểm đến (xem sách Á-đia); còn trong lúc ấy, Y-sơ-ra-ên đã kiếm đường khác thích hợp và theo đó đi đến núi Hô-rơ. Chúng ta đến giờ vẫn không biết được núi Hô-rơ hiện ở đâu, nhưng chắc chắn ấy là nơi an táng A-rôn sau khi ông qua đời tại đó.


6. Việc duy trì chức thầy tế lễ (Dân 20:23-29)

Cả Môi-se lẫn A-rôn đều có chống nghịch Đức Chúa Trời khi Môi-se đập mạnh vào hòn đá, do đó không ai được vào Đất Hứa cả. Vào ngày đầu tiên của tháng thứ năm nhằm năm thứ bốn mươi (Dân 33:38), Môi-se, A-rôn, và Ê-lê-a-sa cùng nhau đi lên chỗ nào đó trên núi Hô-rơ, vì lúc ấy A-rôn sắp chết. Môi-se nói lời giã biệt người anh yêu dấu của mình và Ê-lê-a-sa đã bày tỏ lòng tôn kính cha mình. A-rôn hưởng thọ 123 tuổi (Dân 33:38-39).


Tuy nhiên, cái chết của A-rôn đã không làm gián đoạn công việc chức vụ của thầy tế lễ, vì Ê-lê-a-sa đã thay thế vị trí của ông. Như John Wesley từng nói, “Đức Chúa Trời đã chôn cất những người làm việc cho Ngài,còn công việc Ngài thì vẫn cứ luôn tiếp tục”. Theo Luật Pháp (Xu 29:29-30), Môi-se đã lấy lại các áo lễ của anh mình là A-rôn và mặc cho Ê-lê-a-sa. Có lẽ ông đã cử hành lễ xức dầu phong chức cho Ê-ê-a-sa để Ê-lê-a-sa nhận nhiệm vụ mới. Khi Môi-se và Ê-lê-a-sa trở lại trại quân mà không có A-rôn đi cùng, dân sự nhìn thấy Ê-lê-a-sa mặc áo choàng ngoài của thầy tế lễ thượng phẩm, thì họ hiểu rằng A-rôn đã qua đời rồi. Họ thương khóc A-rôn suốt 30 ngày đêm, bây giờ sự việc ấy đưa chúng ta bước vào tháng thứ sáu.


Ê-lê-a-sa là con trai thứ ba của A-rôn (Dân 3:2) hai con trai đầu là Na-đáp và A-bi-hu đã bị Đức Giê-hô-va giết chết vì họ làm ô uế đền tạm bằng một thứ lửa lạ (Le 10:1-20). Trước khi trở thành thầy tế lễ thượng phẩm, ông là một quan trưởng của người Lê-vi lo việc coi sóc đền tạm (Dân 3:32; Dân 4:16). Ông sẽ phụ tá Môi-se thực hiện cuộc điều tra dân số của thế hệ mới (Dân 26:1-3) và bổ nhiệm Giô-suê làm người kế nhiệm Môi-se (Dân 27:18-23). Khi Y-sơ-ra-ên chinh phục xứ, Ê-lê-a-sa giúp đỡ Giô-suê phân chia sản nghiệp cho từng chi phái (Dân 34:17; Gios 14:1; Gios 19:15).


Môi-se đã trải qua hai đám tang của người trong gia đình, hai sự đối đầu với những khủng hoảng trong trại quân, và một thất bại cá nhân tại Ca-đe; tuy nhiên, ông đã nhặt gậy của mình lên và trở lại tiếp tục làm việc ngay. Sự phục vụ của một Cơ-đốc nhân chiến thắng, cũng như đời sống hầu việc Chúa của một Cơ-đốc nhân chiến thắng luôn luôn là một chuỗi những sự khởi đầu mới. Chúng ta từng mắc phải những lỗi lầm gì không thành vấn đề, quan trọng là ở chỗ không nên bỏ cuộc quá sớm.



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page