8. ĐI ĐẾN THẮNG LỢI – ĐÁNH BẠI QUÂN THÙ (Dan 21:1-35)
Thật...
...đáng chú ý khi nhiều người ngoại đạo có ý nghĩ sai lầm rằng đời sống Cơ-đốc nhân rất tẻ nhạt, buồn chán. Cùng bước đi với Chúa thì chúng ta làm sao có thể buồn chán khi Cha chúng ta trên trời đang bố trí sắp xếp nhiều kinh nghiệm sống để đem lại ích lợi cho chúng ta và cho vinh hiển Ngài?
Đối với người Cơ-đốc thì cuộc sống chính là trường học (Thi 90:12) mà ở đó chúng ta học được rất nhiều về Đức Chúa Trời và Lời Ngài, đồng thời chúng ta cũng nhận biết chính mình rõ hơn và thấy được mình cần phải tăng trưởng ra sao. Cuộc sống cũng sẽ trở thành diễn trường đấu và là chiến trường (He 12:1-29; IITi 2:1-5) nơi chúng ta phải trải nghiệm đức tin và phát triển những cơ bắp thuộc linh mạnh mẽ để có sức chạy đua và chiến đấu.
Lẽ thật này được minh họa rõ nét trong Dân 21:1-35, là phân đoạn Kinh Thánh ghi nhận sự quan tâm và kỷ luật của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài quá rõ ràng.
1. Quyền năng của Đức Chúa Trời (Dân 21:1-3)
Cuộc sống cứ tiếp diễn. Người Do-thái đã thương khóc A-rôn xong và sớm lên đường trở lại với cuộc chiến. A-rát là một thành của người Ca-na-an cách Hếp-rôn khoảng 20 dặm về phía nam, như vậy thế hệ mới của dân Y-sơ-ra-ên hiện đang phải đối mặt với cuộc xung đột đầu tiên là đương đầu với người Ca-na-an. Quân đội Do-thái sẽ phải mất ít nhất 7 năm mới đánh bại hết các dân trong Đất Hứa, do đó Đức Chúa Trời đã để cho họ phải tập dượt về quân sự một vài lần khi họ đang trên đường hành quân đến A-tha-rim. [57]
Tin tức về cuộc hành quân của Y-sơ-ra-ên đi từ Ê-díp-tô đến Ca-đe đã lan đi trước họ, và các nhà cầm quyền của những thành phố độc lập có chủ quyền như một nước ở trong và ở xung quanh xứ Ca-na-an sắp sửa tiếp đón những vị khách không mời mà đến này bằng cuộc chiến đấu. Hình như Y-sơ-ra-ên không hề chuẩn bị gì cho lần tấn công đầu tiên đó, cho nên có một số trong dân sự đã bị bắt làm tù binh, thế nhưng các vị lãnh đạo của họ liền mau chóng trở lại tìm Đức Giê-hô-va cầu xin Ngài giúp đỡ. Họ thề nguyện sẽ hủy diệt hết người Ca-na-an và những thành phố của dân ấy nếu Đức Chúa Trời ban cho họ chiến thắng.
“Diệt hết” có nghĩa là dành hết thứ gì đó cho Đức Giê-hô-va (Le 27:28-29; Phuc 7:2-6), là tuyệt diệt con người, phá huỷ hết các thành của họ và dâng hết tất cả các chiến lợi phẩm cho Chúa. Đây là điều mà Y-sơ-ra-ên đã làm tại Giê-ri-cô (Gio 6:17-21), vì A-can lấy những thứ thuộc về Đức Chúa Trời cho nên ông ta đã bị giết chết (Gios 7:1-26). [58]
Nền văn hóa của người Ca-na-an cực kỳ gớm ghiếc, tàn độc không tả xiết, đặc biệt là trong các hành vi lễ nghi tôn giáo của họ, và Đức Chúa Trời muốn những dân này phải biến mất khỏi thế gian.
Đức Chúa Trời ban cho Y-sơ-ra-ên chiến thắng quân thù và dân sự đã giữ đúng lời lời thề nguyện của mình với Chúa. Họ hủy diệt A-rát cùng các thành có liên thông với nó rồi đặt cho nó một tên mới: Họt-ma, nghĩa là “sự hủy diệt”. Trận đánh này hoàn toàn tương phản với sự thất bại mà Y-sơ-ra-ên đã nếm trải trước đó 38 năm khi họ tự nổ lực giao chiến với kẻ thù chứ không sự ban phước của Đức Chúa Trời (Dân 14:39-45). Lúc Giô-suê phân chia sản nghiệp cho các chi phái trong xứ Ca-na-an, ông dành vùng này cho Giu-đa (Gios 15:30) và Si-mê-ôn (19:1,4).
2. Ân huệ của Đức Chúa Trời (Dân 21:4-9)
Thắng lợi đầu tiên này chắc chắn rất khích lệ người Y-sơ-ra-ên, giống như ý trong câu “cất cánh bay cao như chim ưng” và “chạy mà không mệt nhọc” (Es 40:31). Niềm khích lệ trong trận đánh sẽ đem lại khả năng chịu đựng bền bỉ trong cuộc đua.
Bởi vì dân Ê-đôm không chịu cho Y-sơ-ra-ên đi ngang qua lãnh địa của họ bằng con đường chính, do đó, Môi-se đã phải dẫn dân sự đi từ phía đông Ê-đôm và sau đó là từ phía bắc đi ngang qua vùng có địa hình rất khó khăn hiểm trở. Đứng trước những khó khăn trở ngại của cuộc hành quân không bao lâu, dân sự đã không chịu nổi nên lại bắt đầu lằm bằm oán trách. Chúng ta thật dễ dàng giành được thắng lợi trong trận đấu nhưng cũng dễ dàng đánh mất nó!
• Dân sự phạm tội (Dân 21:5): Cơn giận dữ và tinh thần thiếu kiên nhẫn trong lòng dân sự đã sôi tràn ra thành những lời nói khó nghe chống nghịch lại Đức Chúa Trời và Môi-se. Cả trong thái độ lẫn lời nói của họ đều chất chứa sự khiêu khích Chúa (ICo 10:9), đó là điều hết sức nguy hiểm. Dân sự lại lằm bằm giống y như trước đó: Môi-se đem họ ra khỏi Ai-cập làm chi, để rồi giờ đây họ sẽ phải chết trong đồng vắng, ngoài bánh ma-na ra, sao chẳng có gì ăn cả. Hàng ngày, đang khi hành quân gặp phải nhiều khó khăn, dân sự quên đi lời Đức Chúa Trời đã hứa rằng họ chắc chắn sẽ được vào Đất Hứa và nhận lãnh chúng làm nơi ở của mình (Dân 15:1).
Kể từ lúc Xuất Khỏi Ai-cập không lâu, Y-sơ-ra-ên đã được Đức Chúa Trời ban bánh ma-na từ trời xuống cho cách dư dật luôn vào mỗi buổi sáng, và cứ như thế trong suốt 40 năm, Chúa đã nuôi dưỡng dân Ngài theo nhu cầu của họ. Ma-na là “thức ăn của thiên sứ” (Thi 78:25), nhưng rồi dân sự đã quá coi thường những phước hạnh này của họ đến nỗi họ phát ớn và ghét cay ghét đắng ma-na nên họ gọi chúng là “thứ thức ăn vô bổ” (Dân 11:4-6).
Theo sách Tin Lành Giăng đoạn 16, thì bánh ma-na đã được ban cho Y-sơ-ra-ên để làm đồ ăn mỗi ngày rất dư dật: đó chính là hình bóng Chúa Giê-xu Christ, Con của Đức Chúa Trời, là “Bánh Sự Sống” (c.32-40). Ma-na chỉ được ban cho Y-sơ-ra-ên mà thôi, còn Chúa Giê-xu đã đến để làm Chúa Cứu Thế của cả nhân loại.
Tất cả mọi tác dụng mà bánh ma-na có thể phát huy được là để duy trì sự sống, còn Chúa Giê-xu Christ thì ban chosự sống đó. Khi người Do-thái chê bai bánh ma-na, tức là họ đang khước từ Con của Đức Chúa Trời thực sự. Lại một lần nữa, Chúa thử dân sự Ngài, nhưng rồi họ đã quên đi sự thử ấy (Phuc 8:15-16).
Lời Chúa là “bánh từ trời” mà dân sự Chúa cần ăn hằng ngày nếu họ muốn thực hiện thành công cuộc hành hương đi về thiên quốc của mình (Mat 4:4). Cái cách chúng ta đối xử với Lời Chúa vào thì giờ đầu tiên của mỗi ngày cho thấy chúng ta có đầu phục Ngài và vâng theo Ngài hay không. Bước vào một ngày mới mà không ưu tiên ăn thức ăn là bánh ma-na đến từ thiên thượng thì e rằng chúng ta sẽ gặp phải thất bại và có nhiều điều thất vọng.
• Dân sự bị trừng phạt (Dân 21:6):
Trong quá khứ, khi Y-sơ-ra-ên phạm tội, vinh quang của Đức Chúa Trời thường xuất hiệnvà tiếp theo sau đó là sự đoán phạt của Ngài. Còn lần này, chẳng hề có một sự cảnh báo nào. Sự đoán phạt đến bất thình lình khi Đức Giê-hô-va sai những con rắn độc đến giữa vòng dân sự.
Họ đã khước từ món quà của Ngài từ trời đến đem lại sự sống và sức khoẻ cho họ, cho nên giờ đây Ngài ban sự đau đớn khổ sở với sự chết từ đất đến cùng họ, và có rất nhiều đã chết. Từ “rực lửa” dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ “saraph” nghĩa là “đốt cháy” và cũng ngụ ý đến những thiên binh (sê-ra-phim) - những vật sống phục vụ trước ngai thánh của Đức Chúa Trời (Es 6:2,6).
Hình ảnh “Rực lửa” không phải là sự mô tả vẻ bề ngoài của các con rắn đó mà là ch ứng sưng viêm đau đớn do nọc độc của chúng gây ra. Những ai bị rắn cắn đều bị chết ngay và có vẻ như là họ không phải chết một cách nhẹ nhàng, êm thấm chút nào.
Tiền công của tội lỗi vẫn là sự chết.
• Dân sự xưng nhận tội lỗi và nài xin khẩn thiết (Dan 21:7): Y-sơ-ra-ên lằm bằm oán trách, phản loạn rất nhiều lần, và có lần trước đó họ thú nhận, “Chúng ta đã phạm tội” (Dân 14:40), nhưng lần này là lần đầu tiên, sự thú nhận này của họ có vẻ thành thật. [59]
Trong quá khứ, Môi-se từng sấp mặt mình xuống trước Đức Chúa Trời và cầu xin giùm cho dân sự, còn bây giờ dân sự đã năn nỉ ông hãy cầu nguyện cho họ. Điều này có nghĩa là thế hệ mới này biết hướng lòng mình về Đức Giê-hô-va nhiều hơn chăng? Chúng ta hy vọng như thế.
• Dân sự được giải cứu (Dân 21:8-9): Môi-se cầu nguyện cho dân sự nhưng Đức Giê-hô-va đã không trả lời theo như cách dân sự mong đợi. Thay vì khiến các con rắn độc kia mau lìa xa khỏi họ và chữa trị cho những người bị rắn cắn, Đức Chúa Trời đã hướng dẫn Môi-se chế tạo ra một con rắn bằng đồng rồi treo nó lên trên một cây trụ đặt ở một nơi mà tất cả dân sự đều có thể nhìn thấy. Nếu ai bị rắn cắn thì hãy nhìn lên con rắn đồng đó ắt sẽ được chữa lành ngay tức khắc.
Chúa Giê-xu từng dùng hình ảnh con rắn đồng này minh họa về sự chết của Ngài trên thập tự giá (Gi 3:14). (“Được treo lên” ) là cụm từ được người ta hay dùng trong thời đó ngụ ý về sự đóng đinh vào cây thập tự). Những sự so sánh giữa con rắn đồng trong thời Môi-se với Thập Hình Đấng Christ giúp chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa về ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Tất cả những ai đã bị nọc độc tội lỗi tiêm nhiễm đều sẽ phải chết vào một ngày nào đó và phải đối diện với sự đoán phạt (He 9:27), nhưng nếu họ nhìn vào Đấng Christ bởi đức tin thì Ngài sẽ cứu họ và ban cho họ sự sống đời đời.
Nhìn vào con rắn đồng, người ta sẽ được cứu khỏi sự chết thuộc thể, còn nhìn vào Đấng Christ thì chúng ta sẽ được cứu khỏi sự chết đời đời.
Nhưng tại sao Môi-se lại đúc ra mô hình con rắn – một loài vật gây chết chóc cho con người như vậy? Bởi vì trên thập tự giá, Chúa Giê-xu đã trở nên có tội thay cho chúng ta – là thứ đã kết án con người – và nhờ thân thể Ngài mang lấy sự chết thuộc linh cho chúng ta (IICo 5:21; Ro 8:3; Ga 3:13; IPhi 2:22-24).
Môi-se đã không che khuất con rắn đồng, nhưng ông treo nó lên trên một cây trụ cao rồi đặt cây trụ đó tại nơi mà tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy! tương tự, Chúa Cứu Thế chúng ta đã bị đóng đinh trên cây thập tự giữa thanh thiên bạch nhật một cách công khai, bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem, và hễ ai nghe Tin Lành đều có thể “nhìn thấy Ngài ” và sẽ được cứu, “Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu” (Rô 10:13).
Môi-se không trồng cây trụ ở bên trong đền tạm hoặc thậm chí trong hành lang đền tạm, bởi vì không ai có thể được cứu bởi giữ Luật Pháp. Con rắn được treo lên là phương thuốc chữa bệnh duy nhất trong trại quân, giống y như Đức Chúa Giê-xu Christ là Đấng cứu Thế duy nhất cứu mọi tội nhân trên toàn hành tinh này (Công 4:12; Gi 14:6).
Không ai có thể nhìn vào con rắn đồng đó thay cho người khác; mỗi tội nhân sắp chết đều phải tự mình nhìn vào nó cho chính mình. Sự cứu rỗi của Đấng Christ ban cho là dành cho từng người và từng cá nhân một. Mỗi người trong chúng ta phải nhìn vào Đấng Christ bởi đức tin của chính mình. Việc người ta đã cố gắng nổ lực ra sao không thành vấn đề, bởi lẽ chẳng có người Do-thái nào đã có thể tự cứu lấy mình được. Ở đây sự cứu giúp duy nhất có thể có là do Đức Chúa Trời ban cho cách nhưng không bởi ân điển Ngài, và nếu bạn từ chối không đón nhận thì bạn chắc sẽ chết.
Tội lỗi và sự chết lẻn vào trong thế gian này qua cái nhìn (Sa 3:6), sự giải cứu duy nhất khỏi tội lỗi với sự chết đời đời bởi cái nhìn đức tin: “Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu! Vì ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác ” (Es 45:22 NKJV). Nhìn có nghĩa là đức tin được trải nghiệm, và phương pháp duy nhất để được cứu là bởi đức tin (Eph 2:8-19). Một người Do-thái sắp chết có lẽ biện luận rằng, “Đó là cách chữa trị thật ngu ngốc,” nhưng rốt cuộc người ấy đã được chữa lành (ICo 1:18-25).
Còn người Y-sơ-ra-ên sắp chết thì bảo, “Sao mà chữa trị đơn giản quá!”, nhưng rồi anh ta cũng đã được chữa khỏi.
Hãy tưởng tượng sự vui mừng quá đỗi trong trại quân ra sao khi có lời thông báo rằng đã có phương thuốc có khả năng chữa lành cho mọi người! Những người không được cứu khỏi chết là những người vì lý do nào đó đã không nhìn vào con rắn bởi đức tin, hoặc là những người đã không nhận biết phương cách chữa trị đó là hữu hiệu. Chúng ta cần rao ra tin tức tốt lành này, “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội” (ITi 1:15) là việc hết sức quan trọng.
3. Sự nhân từ của Đức Chúa Trời (Dân 21:10-21)
Sau khi rời khỏi chiến trường, Y-sơ-ra-ên tiếp tục hành quân tiến về phía bắc, băng ngang qua sông Xê-rết và đóng trại tại đó. Sau đó họ vượt qua sông Ạt-nôn đến gần bờ cõi dân A-mô-rít, đi dọc ranh địa phận giữa Mô-áp và A-mô-rít. Trong Dân 22:1-24, chúng ta sẽ gặp lại dân A-mô-rít và sẽ thấy họ lừa gạt xúi bẩy dân Y-sơ-ra-ên vào sự bất tuân với Đức Chúa Trời ra sao.
Trong Dân 21:14-15, chúng ta có sự mô tả về khu vực này, dựatheo tài liệu cổ được ký thuật với tên gọi là The Book of the Wars of the Lord (“Những Trận Đánh của Đức Giê-hô-va”). Cuốn sách đã bị thất lạc này có vẻ như là một bản trích yếu gồm những thông tin chi tiết về sự đi lại và những trận đánh của Y-sơ-ra-ên. [60]
Ở đây có trích dẫn sự mô tả vị trí địa lý khu vực Y-sơ-ra-ên đã đi ngang qua. Đó là địa hình không phải dễ đi, nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho dân sự Ngài sức mạnh và nghị lực giúp họ thực hiện được chuyến đi đó.
Khi họ đến Bê-re (có nghĩa là “giếng”), Đức Giê-hô-va đã lường trước nhu cầu của dân sự và hứa ban nước uống cho họ. (Xu 17:1-7; Dân 20:2-13; Dân 21:6)
“Chúng ta ăn gì đây?” và “Chúng ta sẽ uống gì?” dường như luôn luôn là những mối quan tâm thường trực của dân sự (Mat 6:24-34), tương tự như những mối quan tâm lo nghĩ của thiên hạ ngày nay vậy, cùng với nỗi lo “Chúng ta sẽ mặc gì?”. Nhưng trong dịp này, dân sự không có lằm bằm. Trái lại họ còn hát xướng!Theo như sự ký thuật này đề cập, đây là lần đầu tiên chúng ta thấy Y-sơ-ra-ên hát xướng ca ngợi Đức Chúa Trời vì Ngài đã giải phóng họ khỏi Ai-cập cách đó 40 năm (Xu 15:1-27).
“Bài Ca Giếng Nước” (Dân 21:16-18) được dân sự hát lên ca ngợi Đức Giê-hô-va đã chu cấp nước cho họ trong đồng vắng. Không có vẻ gì cho thấy là giếng nước đó do mấy người lãnh đạo dùng gậy của họ đào nên (NIV), bởi vì trong hoang mạc đầy cát ấy nếu muốn đào được giếng thì chắc chắn người ta phải cần dùng đến những dụng cụ chuyên môn hơn. Vì đây là bài ca, cho nên chúng ta hãy nhường chỗ cho sự biểu lộ đậm chất thơ. Chắc là sự việc như thế này, Đức Chúa Trời chỉ cho Môi-se biết chỗ có mạch nước, những người lãnh đạo dân sự liền dùi cây nọc hoặc thọc gậy xuống chỗ ấy khơi thông khiến mạch nước phun lên.
Dân sự vui mừng xiết bao vì Đức Giê-hô-va đã ban cho họ những nhu cầu có cần cho sự sống, và họ tìm thấy niềm vui thỏa trong sự ngợi khen Ngài về tấm lòng nhân từ của Ngài. nước là thứ quý báu trong hoang mạc, và người Do-thái đã không nhìn nhận ra điều đó, tương tự như thế ngày nay phần đông người ta cứ cho rằng nước là do tự nhiên mà có, cho nên họ tha hồ xài một cách hoang phí và làm ô nhiễm chúng.
Khi Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa bị con người loại ra khỏi khung cảnh này thì người ta đã không ngớt tự xem mình là những quản gia và là những khách hàng ích kỷ tiêu thụ sản phẩm Ngài để lại đó. Rồi đây có ngày Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt tất cả những ai đã tàn phá tinh cầu này (Kh 11:18).
Đây là chỗ rất hay mà chúng ta cần dừng lại chú ý đến những hình ảnh nói về Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta được tìm thấy trong thể văn tường thuật này. Chúng ta thấy Ngài qua hình ảnh ma-na là Bánh Sự Sống (Gi 6:1-71), giờ đây qua hình ảnh giếng nước, Ngài là Đấng ban cho chúng ta nước hằng sống (Gi 7:37-39).
Trong Kinh Thánh, nước uống là hình ảnh của Đức Thánh Linh, còn nước rửa là hình bóng về Lời Chúa (Eph 5:26-27). Nhưng trước lúc Chúa Giê-xu có thể sai Đức Thánh Linh đến thì Ngài đã phải chết trên thập tự giá (Gi 7:39), là hình ảnh đưa chúng ta đến với con rắn đồng đã được trên lên trong Dân 21:4-9 và trong Gi 3:14. Ma-na nhấn mạnh đến thân vị của Chúa, [61] con rắn đồng nhắc về sự đóng đinh Chúa, còn nước kia nói về sự thăng thiên của Ngài và việc Đức Thánh Linh được đổ ra.
4. Chiến thắng của Đức Chúa Trời (Dân 21:21-35)
Trước khi đến đồng bằng Mô-áp, người Y-sơ-ra-ên đã đánh hai trận chính dưới sự giúp sức của Đức Giê-hô-va nên họ thắng cả hai trận.
• Đánh thắng dân A-mô-rít (Dân 21:21-32):
Đang khi tiếp tục cuộc hành trình, người Do-thái đi đến địa phận của dân A-mô-rít. Dân này là hậu duệ của Cham con trai Nô-ê, qua con trai Cham là Ca-na-an (Sa 10:6-15) và chúng ta không nên nhầm lẫn với dân Am-môn. Đức Chúa Trời cấm Y-sơ-ra-ên không được đánh nhau với dân Am-môn (Phuc 2:18-19) bởi vì họ có bà con với dân Giu-đa qua Lót cháu nội của Áp-ra-ham (Sa 19:30-38).
Có thời dân A-mô-rít cai trị nhiều khu vực rộng lớn ở vùng Mê-sô-bô-ta-mia và Sy-ri-a, nhưng trong thời Môi-se, lãnh thổ của họ đã thu hẹp lại nhiều. Dân A-mô-rít định cư ở bờ tây Biển chết, phía bắc của người Ê-đôm, giữa Ạt-nôn và sông gia-bốc.
Dưới cái nhìn của Đức Chúa Trời, họ là một dân tộc gian ác đầy sự gớm ghiếc, sẽ phải gặt lấy sự đoán phạt (Dân 15:16), Môi-se biết rõ rằng Chúa từng hứa sẽ ban cho Y-sơ-ra-ên chiến thắng đám dân độc ác này (Xu 23:23). Tuy nhiên, trước hết Môi-se đã cố gắng ngoại giao, như ông từng làm trước đó với dân Ê-đôm (Dân 20:14-22), cam đoan với Si-hôn vua xứ Hết-bôn rằng Y-sơ-ra-ên sẽ đến trong hòa bình và sẽ không gây rắc rối gì (Phuc 2:26-37).
Đức Giê-hô-va muốn Y-sơ-ra-ên chiếm lấy vùng đất phía đông sông giô-đanh, cho nên Ngài đã để cho vua Si-hôn tấn công Y-sơ-ra-ên. Thủ đô của Si-hôn ở tại Hết-bôn, thế nhưng vua và quân đội ông ta lại từ phía nam kéo đến Gia-hát, cách sông Ạt-nôn về hướng bắc khoảng 20 dặm, chúng ra mặt thách thức Y-sơ-ra-ên. Dân sự Đức Chúa Trời đã đánh bại chúng và chiếm lấy xứ từ Ạt-nôn đến sông Gia-bốc. Trước khi Y-sơ-ra-ên tiến vào Đất Hứa, phần lãnh thổ phía đông sông Giô-đanh này đã được phân chia cho Ru-bên, Gát và Ma-na-se (Dan 32:1-42).
Trong Dân 21:27-30, Môi-se trích dẫn “một bài ca chiến trận” của người A-mô-rít và áp dụng nó cho người Y-sơ-ra-ên. Nguyên thủy của bài ca này là dùng để hát xướng ca tụng kỷ niệm chiến thắng vĩ đại của dân A-mô-rít khi quân Si-hôn đánh bại Mô-áp, chiếm lấy các thành của h ọ vả bắt dân Mô-áp làm tù binh. Nhưng giờ đây chính quân Si-hôn và A-mô-rít là những kẻ đã thất trận. Quân Si-hôn đã đánh bại Kê-mốc, thần của người Mô-áp; còn bây giờ Đức Giê-hô-va đã đánh bại các thần của dân A-mô-rít! Sáu dòng đầu của bài ca này (c.27-28) mô tả Si-hôn thắng Mô-áp, còn hai dòng cuối (c.30) thì mô tả Y-sơ-ra-ên thắng Si-hôn. [62]
Trong bản văn của sách Dân-số ký, Môi-se được Đức Thánh Linh hướng dẫn ghi lại bài ca này và ứng dụng nó cho Y-sơ-ra-ên. Thực tế, tiên tri Giê-rê-mi cũng có trích dẫn một phần của bài ca này trong các lời tiên tri của ông khi ông đề cập đến sự đoán phạt Mô-áp (Gie 48:45-46). Như vậy có phải có nghĩa là dân sự Chúa ngày nay có thể mượn “những bài ca thế tục” để dùng vào trong các dịp thờ phượng Chúa cũng được chăng? Không, không phải như vậy, bởi vì Y-sơ-ra-ên đã dùng “bài ca với mục đích chế giễu” này nơi ngoài chiến trường chứ không phải dùng trong nơi thánh.
Môi-se đang viết lịch sử chứ không phải viết những vần thơ trữ tình, còn Giê-rê-mi thì viết lại những lời tiên tri.[63] có nhiều nhà thơ Cơ-đốc đã mượn những âm điệu giai vần ngoài đời khi sáng tác, [64]
Nhưng chúng ta sẽ gặp phải nguy hiểm khi chúng ta mượn những lời lẽ theo thế tục để trình bày sự ngợi khen và thợ phượng Đức Chúa Trời của chúng ta.
Đánh thắng dân Ba-san (Dan 21:33-35): Sau “cuộc càn quét” mở màn xung quanh vùng Gia-ê-xe, Y-sơ-ra-ên quay sang chú ý đến Ba-san, một vùng đất rất phì nhiêu màu mỡ nằm ở phía đông Biển hồ Ga-li-lê và phía nam núi Hẹt-môn. Trong thời Áp-ra-ham, có một dân tộc gọi là Rê-pha-im sinh sống ở đó (Sa 14:5). Óc, vua của dân Ba-san, đã chiến đấu với Y-sơ-ra-ên tại Ết-rê-i, một thành nằm cách Gia-ê-xe về hướng đông bắc khoảng 50 dặm, nhưng Đức Giê-hô-va có hứa chắc với Môi-se rằng Y-sơ-ra-ên sẽ chiến thắng trận này, và đúng như vậy.
Theo Gios 2:10, tin tức về chiến thắng này đã lan đến thành Giê-ri-cô gây nên nỗi kinh hoàng sợ hãi cho cư dân ở đó. E-xơ-ra có đề cập đến chiến thắng này trong lời cầu nguyện của ông (Ne 9:22) và các tác giả Thi-thiên cũng có nhắc đến trong những bài ca ngợi khen Chúa của họ (Thi 135:11; Thi 136:19-20). Vua Óc còn có thủ phủ tại Ách-ta-rốt (Phuc 1:4) và vua cai trị trên 60 thành (Gio 13:30), nhưng tất cả đều đã bị Y-sơ-ra-ên chiếm đóng và huỷ diệt hết, không để lại một ai sống sót (Dân 21:35; Phuc 3:1-11).
Trong cuộc chinh phục Ca-na-an, Y-sơ-ra-ên đã thực hiện theo chiến lược được mô tả ở Dân 21:32-35. Giô-suê phái các thám tử đi do thám xứ trước. Sau đó, ông tìm kiếm những sự hướng dẫn đặc biệt của Đức Chúa Trời cho mỗi cuộc tấn công, tuân theo các mệnh lệnh của Ngài bằng đức tin và cuối cùng đã chiến thắng. có hai lần Giô-suê không làm theo cách thức này nên ông đã bị thua trận (Gios 7:1-26; Gios 9:1-27).
Toàn bộ khu vực phía đông sông Giô-đanh lúc bấy giờ đã rơi vào tay Y-sơ-ra-ên và rốt cu ộc nó đã được chuyển giao lại cho các chi phái Ru-bên, Gát và Ma-na-se (Dân 21:32; Phuc 29:7-8). Tuy nhiên, Y-sơ-ra-ên giờ đây sắp sửa đương đầu với dân Mô-áp dẫn đến một thảm kịch không dễ mô tả nổi khiến 24000 người Do-thái đã phải bỏ mạng.
THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP
Chuyện kể về Ba-la-am, một thầy bói thần bí được ghi lại trong Dân 22:1-25:18.Bởi vì đây là câu chuyện rất đầy đủ, cho nên chúng ta sẽ bước theo đại cương gợi ý được nêu lên dưới đây. Chương 9 bàn về Dân 22:1-23:26, còn chương 10 đề cập đến Dân 23:27-25:18.
I. Ba-la-am và ý chỉ của Đức Chúa Trời (Dân 22:1-35)
1. Yêu cầu của vua (Dân 22:1-20)
2. Sự phản kháng của con lừa (Dân 22:21-30)
3. Sự tiết lộ của thiên sứ (Dân 22:31-35)
II. Ba-la-am và sứ điệp của Đức Chúa Trời (Dân 22:36-24:25)
1. Lời tiên đoán thứ nhất – (Dân 22:26-23:12) một dân tộc được biệt riêng ra
2. Lời tiên đoán thứ hai – (Dân 23:13-26) một dân tộc sẽ đi chinh phục
3. Lời tiên đoán thứ ba – (Dân 23:27-24:14) một dân tộc thịnh vượng
4. Lời tiên đoán thứ tư – (Dân 24:15-19) một dân tộc thuộc về thiên thượng
5. Ba lời tiên đoán kết luận – (Dân 24:20-25)
III. Ba-la-am và dân sự của Đức Chúa Trời (Dân 25:1-18)
1. Tội lỗi của Y-sơ-ra-ên – (Dân 25:1-9)
2. Lòng can đảm của Phi-nê-a – (Dân 25:10-15)
3. Sự đoán phạt Ma-đi-an – (Dân 25:16-18)
IV. Ba-la-am và Hội Thánh ngày nay
1. Con đường Ba-la-am đã đi - (IIPhi 2:15)
2. Sự sai lạc của Ba-la-am - (Giu 1:11)
3. Học thuyết của Ba-la-am- (Kh 2:14)
Trước khi đi nghiên cứu chi tiết, có lẽ bạn nên đọc Dân 22:1-25:18 liền mạch để có được một bức tranh tổng thể. Cũng cần chú ý đến ba phần sách tham khảo quan trọng thuộc Kinh Thánh Tân-ước nằm ở phần IV của đại cương gợi ý trên, xin tham khảo thêm những phân đoạn sách trong Kinh Thánh Cựu-ước như: Dân 31:8 Phuc 4:3-4; Phuc 23:3-6; Gios 13:22; Gios 24:9-10; Ne 13:1-3.
9. NHỮNG SỰ THỐNG TRỊ VÀ CÁC THẾ LỰC –PHẦN I (Dan 22:1-23:26)
Vào đêm Lễ Vượt Qua, dân Y-sơ-ra-ên ra đi khỏi Ai-cập giống như những người lính đang hành quân đi chinh chiến vậy, và Đức Chúa Trời đã chôn vùi quân đội Ê-díp-tô đang truy đuổi theo dưới những làn nước sâu của Biển Chết. Ngoại trừ dân Ca-na-an là dân mà Y-sơ-ra-ên đã hấp tấp tấn công không theo ý chỉ đường lối của Đức Chúa Trời (Dân 14:39-45), còn lại hễ bất luận kẻ thù nào Y-sơ-ra-ên chạm trán thì họ đều đánh bại hết: Quân A-ma-lét (Xu 17:8-16), vua A-rát (Dân 21:1-3), quân A-mô-rít (c.21-25) và các lực lượng của Óc vua xứ Ba-san (c.33-35).
Nhưng khi Y-sơ-ra-ên đi đến đồng bằng Mô-áp, họ đã phải đối mặt với một loại kẻ thù khác, là kẻ giấu mình sau những dãy núi cao có khả năng chiêu tập các thế lực xấu xa hỗ trợ cho hắn ta. Sau khi đóng trại trong thung lũng thật bình yên, dân Y-sơ-ra-ên không hề nghĩ rằng Ba-la-am đang cố tình rủa sả họ để dân Mô-áp và dân Ma-đi-an có thể đánh bại họ. Cảnh tượng này nhắc chúng ta nhớ đến lời cảnh báo của Phao-lô trong Eph 6:12 “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy”.
Quỷ Sa-tan thường xuất hiện như sư tử rống vậy (IPhi 5:8), nhưng nếu nó bị thua, nó sẽ quay lại tấn công như con rắn đầy mưu ma quỷ quyệt (IICo 11:3). Hội thánh ngày nay luôn luôn phải chiến đấu chống lại kẻ thù rất mạnh là quân đội được tổ chức bao gồm những tà linh, thần dữ xấu xa độc ác đang ra sức chống đối, cừu địch lại dân sự Chúa và ngăn trở các công việc Ngài (Eph 6:10-20). [65] Đức Chúa Trời đã bảo vệ Y-sơ-ra-ên khỏi sự tấn công của “các vua chúa cường quyền và các thế lực tối tăm đời này” khi họ đóng trại tại đồng bằng Mô-áp.
Ở bài học nghiên cứu sau đây, chúng ta sẽ xem xét hai trong số bốn khía cạnh của đời sống và tư cách đạo đức của con người xấu xa kia, sẽ thấy chúng có liên quan đến Đức Chúa Trời với dân sự Ngài ra sao.
1. Ba-la-am và ý chỉ của Đức Chúa Trời (Dân 22:1-35)
Nhân vật chính trong vở kịch này là một thầy bói huyền. [66] bí tên là Ba-la-am, một người ngoại giáo sống tại nơi gọi là Phê-thô-rơ gần sông Ơ-phơ-rát (Dân 22:5; Phuc 23:4). Ông rất nổi tiếng là người có khả năng bói toán chính xác (có khả năng lĩnh hội kiến thức bí ẩn, đặc biệt là về tương lai) và niệm thần chú hiệu quả (dựa vào sức mạnh huyền bí để chúc phước hoặc rủa sả), ông luôn sẵn sàng bán sự phục vụ của công việc mình cho tất cả nh ững ai trả tiền thù lao cho ông.
• Yêu cầu của vua (Dân 22:1-22).
Dân Mô-áp và dân Ma-đi-an cảm thấy khiếp đảm khi họ nhìn thấy sự đông đảo hoành tráng của trại quân Y-sơ-ra-ên (“họ phủ khắp mặt đất”,c.5) và khi họ nghe kể về những chiến thắng của lực lượng vũ trang Y-sơ-ra-ên trên các dân tộc láng giềng (“đoàn dân đông nầy sẽ nuốt hết thảy chung quanh ta, khác nào con bò ăn cỏ trong đồng vậy”, c.4, NKJV). Ba-lác, vua Mô-áp đã không nhận ra rằng Đức Chúa Trời từng bảo Y-sơ-ra-ên không được tấn công Mô-áp (Phuc 2:9) bởi vì người Mô-áp có bà con với người Do-thái, là những hậu duệ của Lót – cháu nội của Áp-ra-ham (Sa 19:26-37).
Chiến tranh với vũ khí thường nằm ngoài vấn đề này. Mô-áp với Ma-đi-an cần sự giúp đỡ của ma quỷ, và Ba-la-am đã tiếp xúc với ma quỷ. Cuộc đối địch này sẽ đến một chương hồi khác như điều Donald Grey Barnhouse gọi là “cuộc chiến tranh vô hình”, là sự xung đột giữa Đức Chúa Trời với Sa-tan được bắt đầu kể từ khi Đức Chúa Trời rủa sả con rắn trong Vườn Ê-đen (Sa 3:13-15; Kh 12:1-18). Chắc hẳn Ba-la-am rất nổi danh là người đang hành nghề bói khoa với yêu thuật huyền bí tài tình, nếu không phải như thế thì Ba-lác đã không bận tâm đến quãng đường xa xôi [67] và giá cả khi vua cho sai mời Ba-la-am.
Ba-lác dựa vào hai thứ để gây áp lực tác động đến Ba-la-am khiến ông chịu đến giúp vua: thứ nhất là đoàn đại biểu rất gây ấn tượng gồm những nhân vật quan trọng là các bậc trưởng lão của Ma-đi-an và Mô-áp, thứ hai là của cải họ mang theo để trả công cho Ba-la-am. Ba-la-am là người được thuê làm việc rất rạch ròi, cho nên điều ông quan tâm trước hết là tiền (IIPhi 2:15). Mặc dù ông từ chối lời mời của Ba-lác hai lần, khiến chúng ta cứ tưởng ông đang ở trong đường lối của Đức Chúa Trời nhưng thực ra ông đang khéo léo xảo quyệt để có thể đi tới Mô-áp nhận tiền thù lao của mình.
Trong thời đó, người ta tin rằng mỗi dân tộc đều có vị thần riêng của họ, và Ba-la-am biết rõ Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của dân tộc Y-sơ-ra-ên. Do đó, ông đi đến tìm xem ý Chúa nói gì về những lời mời gọi của Ba-lác. [68] Chính Đức Chúa Trời là Đấng đã đến với Ba-la-am chứ không phải tự thân Ba-la-am là người đưa Đức Chúa Trời đến với ông, và Chúa đã không cho phép ông nhận lời mời đó. Ngài cho biết ý Ngài rất rõ ràng: “Ngươi chớ đi với chúng nó, chớ rủa sả dân nầy, vì dân nầy được ban phước” (Dan 22:12, NIV).
Ba-la-am biết nếu không có Đức Chúa Trời bên cạnh, thì ông sẽ không thực hiện được kết quả công việc mình, do đó ông nói với phái đoàn kia là ông không thể đi với họ được. Tuy nhiên, ông đã không cho họ biết lý do là, Y-sơ-ra-ên không thể bị rủa sả bởi vì Đức Chúa Trời đã chúc phước cho họ rồi. Nếu ông nói ra điều này với phái đoàn thì e rằng ông sẽ đặt một dấu chấm hết cho cuộc đàm phán và các vị lãnh sự kia chắc có lẽ không bao giờ quay về Phê-thô-rơ nữa.
Quyết không nản lòng từ bỏ ý định đánh bại Y-sơ-ra-ên, vua Ba-lác lại phái một đoàn đại biểu khác thậm chí đông hơn gồm các sứ thần có quyền cao chức trọng hơn những người trước đến cùng Ba-la-am hứa hẹn với ông sẽ trả cho ông bất kỳ công giá nào ông muốn, thêm nữa là vua sẽ ban cho ông danh cao vọng trọng trong triều đình. Sau khi biết được ý Chúa đối với vấn đề này, Ba-la-am đáng lý ra phải từ chối thậm chí không cần phải xem xét lời đề nghị lần thứ hai này thì mới phải, đàng này, vị thầy bói thuê ấy lại vẫn tiếp tục nuôi hy vọng sẽ tìm cách nào đó để phá hỏng ý chỉ của Đức Chúa Trời. Dưới ánh sáng của sự việc này cho thấy Ba-la-am thậm chí rất quan tâm đến lời đề nghị thứ hai đó của vua, lời ông nói trong câu 18 chỉ là lời hết sức giả dối. Ngoài môi miệng, Ba-la-am tỏ ra vâng lời Chúa, nhưng trong lòng ông thì rất thèm thuồng tiền bạc và hy vọng Đức Chúa Trời sẽ thay đổi ý định của Ngài.
Đức Chúa Trời đến cùng Ba-la-am phán dạy ông hãy đi với phái đoàn kia nếu như sáng mai họ đến kêu ông đi (c.2). [69] Chúa dặn Ba-la-am: “nhưng chỉ hãy làm theo lời ta sẽ phán”. Thế nhưng sáng hôm sau, Ba-la-am không đợi phái đoàn đến, mà ông lại tự cỡi lừa đi tới nơi họ đang đóng trại, cho thấy ông đã làm theo ý riêng của mình. Quyết định này, cùng với sự tham lợi trong lòng Ba-la-am khiến Đức Giê-hô-va nổi giận. Ba-la-am đang hành động chẳng khác nào con ngựa và con lừa (Thi 32:9): ông lật đật chạy xông lên phía trước của Đức Chúa Trời đồng thời lúc đó đã ngu xuẩn từ chối vâng theo những lời chỉ dạy rất rõ ràng của Chúa.
Ông biết rằng Y-sơ-ra-ên đã được Chúa chúc phước, vậy mà ông còn hy vọng sẽ có thể rủa sả dân tộc Do-thái ấy để kiếm cho mình của cải và những sự vọng trọng theo lời nhà vua đã hứa với ông. Ông đúng là một kẻ giả hình và ăn ở hai lòng.
• Sự phản kháng của con lừa (Dan 22:22-30): Đức Chúa Trời nổi giận khi Ba-la-am coi thường ý chỉ của Chúa và đã để cho lòng tham muốn tiền bạc chế ngự, điều khiển. Chúng ta đôi lúc cũng hay dùng cụm từ “những con vật không biết nói”, nhưng trong trường hợp này con vật đó lại còn thông minh sáng suốt hơn cả chủ nó và hai đầy tớ của tên chủ ấy! Nó nhìn thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đang cầm gươm đứng ngáng lối đi; bằng cách nép sang một bên, nó đã cứu mạng Ba-la-am. Cả ba lần nó đổi đường đi thì lần nào nó cũng bị chủ đánh. Ba-la-am không kìm chế được cơn giận; và nếu lúc ấy ông có vũ khí trong tay chắc là ông đã giết chết con vật trung thành đó của mình mất. Phi-e-rơ gọi nó là “sự điên cuồng của người tiên tri đó” (IIPhi 2:16).
Tại sao Ba-la-am không kinh ngạc khi con vật của mình lại “nói được tiếng người ta” như thế? (c.16, NIV). Chắc chắn đây không phải là chuyện xảy ra thường ngày đối với một thầy bói chuyên nghiệp như ông. Sa-tan đã cất tiếng nói qua con rắn khi nó lừa dối Ê-va (Sa 3:1 đến hết đoạn IICo 11:3), có khả năng trong quá khứ bọn ma quái của quỷ Sa-tan đã trò chuyện với Ba-la-am qua các con vật. Đối với một người đã biến trở nên hết sức ti tiện thấp hèn trong cuộc sống thì Đức Chúa Trời buộc phải dùng những con vật cục súc để thông báo cho kẻ ấy biết ý nghĩ của Ngài thế nào.
• Sự tiết lộ của thiên sứ (Dân 22:31-35):
Chính Đức Chúa Trời đã mở miệng và mở mắt cho con lừa, Ngài cũng mở mắt cho Ba-la-am nữa khiến ông có thể nhìn thấy thiên sứ dáng vẻ uy nghi đáng kinh sợ đang cầm bảo kiếm trong tay đứng giữa đường. Cuối cùng Ba-la-am cũng đã làm được một điều đúng là sấp mặt xuống trước thiên sứ Đấng vừa bảo cho ông biết con lừa đã cứu mạng ông. thiên sứ cảnh cáo Ba-la-am rằng ông đang liều lĩnh dấn thân một cách thiếu suy nghĩ trên con đường lầm lạc dẫn đến sự hư mất, và Ba-la-am xin quay trở về nhà.
Những lời ông nói “Tôi đã phạm tội” không phải là bằng chứng của sự ăn năn thật lòng. Pha-ra-ôn (Xu 9:27), Vua Sau-lơ (ISa 15:24,30; ISa 26:21), và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt (Mat 27:4) tất cả đều đã thốt lên những lời như vậy nhưng rốt cuộc họ đều không trở lại với Chúa để nhận sự thương xót của Ngài. Thử hỏi có giá trị gì khi bạn nói ra những lời nghe có vẻ rất sùng đạo nhưng lòng dạ bạn thì lại đang tiếp tục hướng đến sự phạm tội? Hãy lắng nghe Đa-vít nói (IISa 12:13; Thi 54:4; IISa 24:10,17; ISu 21:8,17) hoặc nghe Đứa Con Hoang Đàng nói gì nếu bạn muốn nghe sự xưng tội thành khẩn, thật lòng.
Trong ý muốn có dụng ý của Đức Chúa Trời, Ngài cho phép Ba-la-am tiếp tục chuyến đi của ông, nhưng Ngài dặn ông chỉ được nói ra những sứ điệp nào Ngài ban cho ông mà thôi. Ở lần thứ nhất này, Ba-la-am nhận ra rằng ông sẽ gặp nhiều rắc rối hơn nếu ông mạo hiểm đi rủa sả một dân tộc chỉ nhằm để kiếm cho mình một số tiền. Khi Chúa dùng con lừa quở trách chủ nó, tức là Ngài đã dùng Ba-la-am để bày tỏ những lẽ thật quan trọng về Y-sơ-ra-ên và về Đấng Mê-si-a đã được hứa ban của Y-sơ-ra-ên. [70]
2. Ba-la-am và sứ điệp của Đức Chúa Trời (Dân 22:1-35) (Dân 22:36-24:25)
Việc vua Ba-lác tỏ ra nóng lòng muốn gặp vị thầy bói nọ cho thấy vua hết sức nôn nóng muốn khởi binh tấn công Y-sơ-ra-ên ngay. Tại sao Ba-la-am đã trì hoãn sự đến của mình như vậy? Chẳng phải lời đề nghị của Ba-lác không đủ hấp dẫn ông ta sao? Có phải ông ta đã không nhận ra tính chất nghiêm trọng của tình hình lúc ấy? Ba-la-am không biện hộ cho mình và cũng không giải thích cho các hành động của mình, nhưng ông có nói rõ ràng rằng tất cả những gì ông có thể làm là tuyên ra những lời nào Đức Chúa Trời sẽ ban cho ông. Nhà vua dâng tế lễ cho thần Ba-anh của mình và có lẽ vua đã ban cho Ba-la-am một số bộ phận nội tạng của con sinh tế như là sự thưởng công cho việc bói toán của ông.
• Lời tiên đoán thứ nhất (Dân 22:39-23:12):
Sáng hôm sau, Ba-lác dẫn Ba-la-am đến Ba-mốt Ba-anh (là “những nơi cao của thần Ba-anh” ) nơi họ có thể nhìn thấy trại quân Y-sơ-ra-ên và dâng thêm tế lễ cho thần Ba-anh. Ba-la-am dùng những của tế lễ này như một phần của sự dùng bùa chú để bói toán (Dân 24:1) ông đã không đợi sứ điệp của Đức Chúa Trời đến như Ngài có bảo ông trước đó. Trong ân điển và sự thương xót của Ngài, Đức Chúa Trời đã dùng con người xấu xa gian ác này và Ngài cam tâm chịu đựng sự ăn ở hai lòng của hắn ta bởi vì Ngài cần tuyên ra một sứ điệp đặc biệt về dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
Sứ điệp Đức Chúa Trời ban cho Ba-la-am nhấn mạnh một số lẽ thật căn bản về dân Y-sơ-ra-ên.
-Thứ nhất, Đức Chúa Trời đã ban phước đặc biệt cho dân Y-sơ-ra-ên và họ không thể bị rủa sả (Dân 23:7-8). Đây là một phần trong giao ước của Ngài đã lập với Áp-ra-ham (Sa 12:1-3) và điều ấy đã được ứng nghiệm xuyên suốt lịch sử của họ. Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt bất cứ kẻ thống trị nào hay là bất luận quốc gia nào gây cho dân sự Ngài đau khổ, khốn đốn, kể cả Ai-cập, A-si-ri, Ba-by-lôn và Đức Quốc Xã.
Không hề có dân tộc nào được Đức Chúa Trời ban phước giống như Y-sơ-ra-ên, Ngài không những ban phước cho họ về đời sống vật chất và ban cho họ sự bảo vệ thánh, mà Ngài còn chủ yếu ban cho họ rất nhiều ơn phước thuộc linh để họ chia sẻ lại cho toàn thế giới. Phao-lô có kể ra một vài ơn phước trong số ấy ở Ro 9:1-5. Y-sơ-ra-ên đã đem lại cho thế giới sự nhận biết về Đức Chúa Trời hằng sống chân thật, về Lời Chúa đã được viết ra, và về Đức Chúa Giê-xu Christ là Chúa Cứu Thế của nhân loại.
-Lẽ thật nền tảng thứ hai của Ba-la-am là dân Do-thái là dân tộc đã được Đức Chúa Trời chọn do đó dân này cần phải được biệt riêng ra khỏi các dân tộc khác (Dan 23:9). Đức Giê-hô-va có lần đã tuyên bố như vậy với Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i (Xu 19:5-6), và những luật lệ mà Ngài ban cho họ tại núi Si-na-i có thể giúp họ sống đời sống của một dân tộc đặc biệt. Trong sứ điệp từ giã Y-sơ-ra-ên của Môi-se, ông cũng có nhấn mạnh tính độcnhất vô nhị của Y-sơ-ra-ên đó là một dân tộc của Chúa (Phu 4:20; Phu 14:2,21; Phu 26:18-19; Phu 32:8-9; Phu 33:3,28-29) ông nhắc họ luôn hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời đã chọn họ bởi vì Ngài yêu thương họ (Dan 7:6-8). Xin xem thêm Le 20:26; IVua 8:52-53; Am 3:2; Es 43:21.
Sự cám dỗ ghê gớm đối Y-sơ-ra-ên là mong muốn được trở nên giống các dân tộc khác, đây là điều dẫn họ đến với sự sa ngã và sự lưu đày.
Thay vì vui sướng thỏa lòng với tính chất đặc biệt độc đáo của mình là một dân tộc thuộc về Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật, đằng này họ lại đi tập tành bắt chước các dân láng giềng trong sự thờ phượng và cách ăn nết ở của họ, cho nên Đức Chúa Trời buộc lòng phải sửa trị họ.
Thay vì để cho Đức Chúa Trời tể trị họ như là Vua của họ, đằng này họ lại đi cầu xin một vua “giống như tất cả các dân tộc khác vậy”