top of page

DÂN-SỐ KÝ (2)

KINH THÁNH

CỰU-ƯỚC

THỂ LOẠI

Các Sách Luật-Pháp (Môi-se) (5)



8. ĐI ĐẾN THẮNG LỢI – ĐÁNH BẠI QUÂN THÙ (Dan 21:1-35)


Thật...

...đáng chú ý khi nhiều người ngoại đạo có ý nghĩ sai lầm rằng đời sống Cơ-đốc nhân rất tẻ nhạt, buồn chán. Cùng bước đi với Chúa thì chúng ta làm sao có thể buồn chán khi Cha chúng ta trên trời đang bố trí sắp xếp nhiều kinh nghiệm sống để đem lại ích lợi cho chúng ta và cho vinh hiển Ngài?

Đối với người Cơ-đốc thì cuộc sống chính là trường học (Thi 90:12) mà ở đó chúng ta học được rất nhiều về Đức Chúa Trời và Lời Ngài, đồng thời chúng ta cũng nhận biết chính mình rõ hơn và thấy được mình cần phải tăng trưởng ra sao. Cuộc sống cũng sẽ trở thành diễn trường đấu và là chiến trường (He 12:1-29; IITi 2:1-5) nơi chúng ta phải trải nghiệm đức tin và phát triển những cơ bắp thuộc linh mạnh mẽ để có sức chạy đua và chiến đấu.


Lẽ thật này được minh họa rõ nét trong Dân 21:1-35, là phân đoạn Kinh Thánh ghi nhận sự quan tâm và kỷ luật của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài quá rõ ràng.


1. Quyền năng của Đức Chúa Trời (Dân 21:1-3)

Cuộc sống cứ tiếp diễn. Người Do-thái đã thương khóc A-rôn xong và sớm lên đường trở lại với cuộc chiến. A-rát là một thành của người Ca-na-an cách Hếp-rôn khoảng 20 dặm về phía nam, như vậy thế hệ mới của dân Y-sơ-ra-ên hiện đang phải đối mặt với cuộc xung đột đầu tiên là đương đầu với người Ca-na-an. Quân đội Do-thái sẽ phải mất ít nhất 7 năm mới đánh bại hết các dân trong Đất Hứa, do đó Đức Chúa Trời đã để cho họ phải tập dượt về quân sự một vài lần khi họ đang trên đường hành quân đến A-tha-rim. [57]


Tin tức về cuộc hành quân của Y-sơ-ra-ên đi từ Ê-díp-tô đến Ca-đe đã lan đi trước họ, và các nhà cầm quyền của những thành phố độc lập có chủ quyền như một nước ở trong và ở xung quanh xứ Ca-na-an sắp sửa tiếp đón những vị khách không mời mà đến này bằng cuộc chiến đấu. Hình như Y-sơ-ra-ên không hề chuẩn bị gì cho lần tấn công đầu tiên đó, cho nên có một số trong dân sự đã bị bắt làm tù binh, thế nhưng các vị lãnh đạo của họ liền mau chóng trở lại tìm Đức Giê-hô-va cầu xin Ngài giúp đỡ. Họ thề nguyện sẽ hủy diệt hết người Ca-na-an và những thành phố của dân ấy nếu Đức Chúa Trời ban cho họ chiến thắng.


“Diệt hết” có nghĩa là dành hết thứ gì đó cho Đức Giê-hô-va (Le 27:28-29; Phuc 7:2-6), là tuyệt diệt con người, phá huỷ hết các thành của họ và dâng hết tất cả các chiến lợi phẩm cho Chúa. Đây là điều mà Y-sơ-ra-ên đã làm tại Giê-ri-cô (Gio 6:17-21), vì A-can lấy những thứ thuộc về Đức Chúa Trời cho nên ông ta đã bị giết chết (Gios 7:1-26). [58]


Nền văn hóa của người Ca-na-an cực kỳ gớm ghiếc, tàn độc không tả xiết, đặc biệt là trong các hành vi lễ nghi tôn giáo của họ, và Đức Chúa Trời muốn những dân này phải biến mất khỏi thế gian.


Đức Chúa Trời ban cho Y-sơ-ra-ên chiến thắng quân thù và dân sự đã giữ đúng lời lời thề nguyện của mình với Chúa. Họ hủy diệt A-rát cùng các thành có liên thông với nó rồi đặt cho nó một tên mới: Họt-ma, nghĩa là “sự hủy diệt”. Trận đánh này hoàn toàn tương phản với sự thất bại mà Y-sơ-ra-ên đã nếm trải trước đó 38 năm khi họ tự nổ lực giao chiến với kẻ thù chứ không sự ban phước của Đức Chúa Trời (Dân 14:39-45). Lúc Giô-suê phân chia sản nghiệp cho các chi phái trong xứ Ca-na-an, ông dành vùng này cho Giu-đa (Gios 15:30) và Si-mê-ôn (19:1,4).


2. Ân huệ của Đức Chúa Trời (Dân 21:4-9)

Thắng lợi đầu tiên này chắc chắn rất khích lệ người Y-sơ-ra-ên, giống như ý trong câu “cất cánh bay cao như chim ưng” “chạy mà không mệt nhọc” (Es 40:31). Niềm khích lệ trong trận đánh sẽ đem lại khả năng chịu đựng bền bỉ trong cuộc đua.

Bởi vì dân Ê-đôm không chịu cho Y-sơ-ra-ên đi ngang qua lãnh địa của họ bằng con đường chính, do đó, Môi-se đã phải dẫn dân sự đi từ phía đông Ê-đôm và sau đó là từ phía bắc đi ngang qua vùng có địa hình rất khó khăn hiểm trở. Đứng trước những khó khăn trở ngại của cuộc hành quân không bao lâu, dân sự đã không chịu nổi nên lại bắt đầu lằm bằm oán trách. Chúng ta thật dễ dàng giành được thắng lợi trong trận đấu nhưng cũng dễ dàng đánh mất nó!


Dân sự phạm tội (Dân 21:5): Cơn giận dữ và tinh thần thiếu kiên nhẫn trong lòng dân sự đã sôi tràn ra thành những lời nói khó nghe chống nghịch lại Đức Chúa Trời và Môi-se. Cả trong thái độ lẫn lời nói của họ đều chất chứa sự khiêu khích Chúa (ICo 10:9), đó là điều hết sức nguy hiểm. Dân sự lại lằm bằm giống y như trước đó: Môi-se đem họ ra khỏi Ai-cập làm chi, để rồi giờ đây họ sẽ phải chết trong đồng vắng, ngoài bánh ma-na ra, sao chẳng có gì ăn cả. Hàng ngày, đang khi hành quân gặp phải nhiều khó khăn, dân sự quên đi lời Đức Chúa Trời đã hứa rằng họ chắc chắn sẽ được vào Đất Hứa và nhận lãnh chúng làm nơi ở của mình (Dân 15:1).

Kể từ lúc Xuất Khỏi Ai-cập không lâu, Y-sơ-ra-ên đã được Đức Chúa Trời ban bánh ma-na từ trời xuống cho cách dư dật luôn vào mỗi buổi sáng, và cứ như thế trong suốt 40 năm, Chúa đã nuôi dưỡng dân Ngài theo nhu cầu của họ. Ma-na là “thức ăn của thiên sứ” (Thi 78:25), nhưng rồi dân sự đã quá coi thường những phước hạnh này của họ đến nỗi họ phát ớn và ghét cay ghét đắng ma-na nên họ gọi chúng là “thứ thức ăn vô bổ” (Dân 11:4-6).


Theo sách Tin Lành Giăng đoạn 16, thì bánh ma-na đã được ban cho Y-sơ-ra-ên để làm đồ ăn mỗi ngày rất dư dật: đó chính là hình bóng Chúa Giê-xu Christ, Con của Đức Chúa Trời, là “Bánh Sự Sống” (c.32-40). Ma-na chỉ được ban cho Y-sơ-ra-ên mà thôi, còn Chúa Giê-xu đã đến để làm Chúa Cứu Thế của cả nhân loại.

Tất cả mọi tác dụng mà bánh ma-na có thể phát huy được là để duy trì sự sống, còn Chúa Giê-xu Christ thì ban chosự sống đó. Khi người Do-thái chê bai bánh ma-na, tức là họ đang khước từ Con của Đức Chúa Trời thực sự. Lại một lần nữa, Chúa thử dân sự Ngài, nhưng rồi họ đã quên đi sự thử ấy (Phuc 8:15-16).


Lời Chúa là “bánh từ trời” mà dân sự Chúa cần ăn hằng ngày nếu họ muốn thực hiện thành công cuộc hành hương đi về thiên quốc của mình (Mat 4:4). Cái cách chúng ta đối xử với Lời Chúa vào thì giờ đầu tiên của mỗi ngày cho thấy chúng ta có đầu phục Ngài và vâng theo Ngài hay không. Bước vào một ngày mới mà không ưu tiên ăn thức ăn là bánh ma-na đến từ thiên thượng thì e rằng chúng ta sẽ gặp phải thất bại và có nhiều điều thất vọng.


Dân sự bị trừng phạt (Dân 21:6):

Trong quá khứ, khi Y-sơ-ra-ên phạm tội, vinh quang của Đức Chúa Trời thường xuất hiệnvà tiếp theo sau đó là sự đoán phạt của Ngài. Còn lần này, chẳng hề có một sự cảnh báo nào. Sự đoán phạt đến bất thình lình khi Đức Giê-hô-va sai những con rắn độc đến giữa vòng dân sự.

Họ đã khước từ món quà của Ngài từ trời đến đem lại sự sống và sức khoẻ cho họ, cho nên giờ đây Ngài ban sự đau đớn khổ sở với sự chết từ đất đến cùng họ, và có rất nhiều đã chết. Từ “rực lửa” dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ “saraph” nghĩa là “đốt cháy” và cũng ngụ ý đến những thiên binh (sê-ra-phim) - những vật sống phục vụ trước ngai thánh của Đức Chúa Trời (Es 6:2,6).

Hình ảnh “Rực lửa” không phải là sự mô tả vẻ bề ngoài của các con rắn đó mà là chứng sưng viêm đau đớn do nọc độc của chúng gây ra. Những ai bị rắn cắn đều bị chết ngay và có vẻ như là họ không phải chết một cách nhẹ nhàng, êm thấm chút nào.

Tiền công của tội lỗi vẫn là sự chết.


Dân sự xưng nhận tội lỗi và nài xin khẩn thiết (Dan 21:7): Y-sơ-ra-ên lằm bằm oán trách, phản loạn rất nhiều lần, và có lần trước đó họ thú nhận, “Chúng ta đã phạm tội” (Dân 14:40), nhưng lần này là lần đầu tiên, sự thú nhận này của họ có vẻ thành thật. [59]


Trong quá khứ, Môi-se từng sấp mặt mình xuống trước Đức Chúa Trời và cầu xin giùm cho dân sự, còn bây giờ dân sự đã năn nỉ ông hãy cầu nguyện cho họ. Điều này có nghĩa là thế hệ mới này biết hướng lòng mình về Đức Giê-hô-va nhiều hơn chăng? Chúng ta hy vọng như thế.


Dân sự được giải cứu (Dân 21:8-9): Môi-se cầu nguyện cho dân sự nhưng Đức Giê-hô-va đã không trả lời theo như cách dân sự mong đợi. Thay vì khiến các con rắn độc kia mau lìa xa khỏi họ và chữa trị cho những người bị rắn cắn, Đức Chúa Trời đã hướng dẫn Môi-se chế tạo ra một con rắn bằng đồng rồi treo nó lên trên một cây trụ đặt ở một nơi mà tất cả dân sự đều có thể nhìn thấy. Nếu ai bị rắn cắn thì hãy nhìn lên con rắn đồng đó ắt sẽ được chữa lành ngay tức khắc.


Chúa Giê-xu từng dùng hình ảnh con rắn đồng này minh họa về sự chết của Ngài trên thập tự giá (Gi 3:14). (“Được treo lên” ) là cụm từ được người ta hay dùng trong thời đó ngụ ý về sự đóng đinh vào cây thập tự). Những sự so sánh giữa con rắn đồng trong thời Môi-se với Thập Hình Đấng Christ giúp chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa về ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Tất cả những ai đã bị nọc độc tội lỗi tiêm nhiễm đều sẽ phải chết vào một ngày nào đó và phải đối diện với sự đoán phạt (He 9:27), nhưng nếu họ nhìn vào Đấng Christ bởi đức tin thì Ngài sẽ cứu họ và ban cho họ sự sống đời đời.

Nhìn vào con rắn đồng, người ta sẽ được cứu khỏi sự chết thuộc thể, còn nhìn vào Đấng Christ thì chúng ta sẽ được cứu khỏi sự chết đời đời.


Nhưng tại sao Môi-se lại đúc ra mô hình con rắn – một loài vật gây chết chóc cho con người như vậy? Bởi vì trên thập tự giá, Chúa Giê-xu đã trở nên có tội thay cho chúng ta – là thứ đã kết án con người – và nhờ thân thể Ngài mang lấy sự chết thuộc linh cho chúng ta (IICo 5:21; Ro 8:3; Ga 3:13; IPhi 2:22-24).

Môi-se đã không che khuất con rắn đồng, nhưng ông treo nó lên trên một cây trụ cao rồi đặt cây trụ đó tại nơi mà tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy! tương tự, Chúa Cứu Thế chúng ta đã bị đóng đinh trên cây thập tự giữa thanh thiên bạch nhật một cách công khai, bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem, và hễ ai nghe Tin Lành đều có thể “nhìn thấy Ngài” và sẽ được cứu, “Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu” (Rô 10:13).


Môi-se không trồng cây trụ ở bên trong đền tạm hoặc thậm chí trong hành lang đền tạm, bởi vì không ai có thể được cứu bởi giữ Luật Pháp. Con rắn được treo lên là phương thuốc chữa bệnh duy nhất trong trại quân, giống y như Đức Chúa Giê-xu Christ là Đấng cứu Thế duy nhất cứu mọi tội nhân trên toàn hành tinh này (Công 4:12; Gi 14:6).

Không ai có thể nhìn vào con rắn đồng đó thay cho người khác; mỗi tội nhân sắp chết đều phải tự mình nhìn vào nó cho chính mình. Sự cứu rỗi của Đấng Christ ban cho là dành cho từng người và từng cá nhân một. Mỗi người trong chúng ta phải nhìn vào Đấng Christ bởi đức tin của chính mình. Việc người ta đã cố gắng nổ lực ra sao không thành vấn đề, bởi lẽ chẳng có người Do-thái nào đã có thể tự cứu lấy mình được. Ở đây sự cứu giúp duy nhất có thể có là do Đức Chúa Trời ban cho cách nhưng không bởi ân điển Ngài, và nếu bạn từ chối không đón nhận thì bạn chắc sẽ chết.


Tội lỗi và sự chết lẻn vào trong thế gian này qua cái nhìn (Sa 3:6), sự giải cứu duy nhất khỏi tội lỗi với sự chết đời đời bởi cái nhìn đức tin: “Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu! Vì ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác ” (Es 45:22 NKJV). Nhìn có nghĩa là đức tin được trải nghiệm, và phương pháp duy nhất để được cứu là bởi đức tin (Eph 2:8-19). Một người Do-thái sắp chết có lẽ biện luận rằng, “Đó là cách chữa trị thật ngu ngốc,” nhưng rốt cuộc người ấy đã được chữa lành (ICo 1:18-25).

Còn người Y-sơ-ra-ên sắp chết thì bảo, “Sao mà chữa trị đơn giản quá!”, nhưng rồi anh ta cũng đã được chữa khỏi.


Hãy tưởng tượng sự vui mừng quá đỗi trong trại quân ra sao khi có lời thông báo rằng đã có phương thuốc có khả năng chữa lành cho mọi người! Những người không được cứu khỏi chết là những người vì lý do nào đó đã không nhìn vào con rắn bởi đức tin, hoặc là những người đã không nhận biết phương cách chữa trị đó là hữu hiệu. Chúng ta cần rao ra tin tức tốt lành này, “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội” (ITi 1:15) là việc hết sức quan trọng.


3. Sự nhân từ của Đức Chúa Trời (Dân 21:10-21)

Sau khi rời khỏi chiến trường, Y-sơ-ra-ên tiếp tục hành quân tiến về phía bắc, băng ngang qua sông Xê-rết và đóng trại tại đó. Sau đó họ vượt qua sông Ạt-nôn đến gần bờ cõi dân A-mô-rít, đi dọc ranh địa phận giữa Mô-áp và A-mô-rít. Trong Dân 22:1-24, chúng ta sẽ gặp lại dân A-mô-rít và sẽ thấy họ lừa gạt xúi bẩy dân Y-sơ-ra-ên vào sự bất tuân với Đức Chúa Trời ra sao.


Trong Dân 21:14-15, chúng ta có sự mô tả về khu vực này, dựatheo tài liệu cổ được ký thuật với tên gọi là The Book of the Wars of the Lord (“Những Trận Đánh của Đức Giê-hô-va”). Cuốn sách đã bị thất lạc này có vẻ như là một bản trích yếu gồm những thông tin chi tiết về sự đi lại và những trận đánh của Y-sơ-ra-ên. [60]


Ở đây có trích dẫn sự mô tả vị trí địa lý khu vực Y-sơ-ra-ên đã đi ngang qua. Đó là địa hình không phải dễ đi, nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho dân sự Ngài sức mạnh và nghị lực giúp họ thực hiện được chuyến đi đó.


Khi họ đến Bê-re (có nghĩa là “giếng”), Đức Giê-hô-va đã lường trước nhu cầu của dân sự và hứa ban nước uống cho họ. (Xu 17:1-7; Dân 20:2-13; Dân 21:6)

“Chúng ta ăn gì đây?” và “Chúng ta sẽ uống gì?” dường như luôn luôn là những mối quan tâm thường trực của dân sự (Mat 6:24-34), tương tự như những mối quan tâm lo nghĩ của thiên hạ ngày nay vậy, cùng với nỗi lo “Chúng ta sẽ mặc gì?”. Nhưng trong dịp này, dân sự không có lằm bằm. Trái lại họ còn hát xướng!Theo như sự ký thuật này đề cập, đây là lần đầu tiên chúng ta thấy Y-sơ-ra-ên hát xướng ca ngợi Đức Chúa Trời vì Ngài đã giải phóng họ khỏi Ai-cập cách đó 40 năm (Xu 15:1-27).


“Bài Ca Giếng Nước” (Dân 21:16-18) được dân sự hát lên ca ngợi Đức Giê-hô-va đã chu cấp nước cho họ trong đồng vắng. Không có vẻ gì cho thấy là giếng nước đó do mấy người lãnh đạo dùng gậy của họ đào nên (NIV), bởi vì trong hoang mạc đầy cát ấy nếu muốn đào được giếng thì chắc chắn người ta phải cần dùng đến những dụng cụ chuyên môn hơn. Vì đây là bài ca, cho nên chúng ta hãy nhường chỗ cho sự biểu lộ đậm chất thơ. Chắc là sự việc như thế này, Đức Chúa Trời chỉ cho Môi-se biết chỗ có mạch nước, những người lãnh đạo dân sự liền dùi cây nọc hoặc thọc gậy xuống chỗ ấy khơi thông khiến mạch nước phun lên.


Dân sự vui mừng xiết bao vì Đức Giê-hô-va đã ban cho họ những nhu cầu có cần cho sự sống, và họ tìm thấy niềm vui thỏa trong sự ngợi khen Ngài về tấm lòng nhân từ của Ngài. nước là thứ quý báu trong hoang mạc, và người Do-thái đã không nhìn nhận ra điều đó, tương tự như thế ngày nay phần đông người ta cứ cho rằng nước là do tự nhiên mà có, cho nên họ tha hồ xài một cách hoang phí và làm ô nhiễm chúng.

Khi Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa bị con người loại ra khỏi khung cảnh này thì người ta đã không ngớt tự xem mình là những quản gia và là những khách hàng ích kỷ tiêu thụ sản phẩm Ngài để lại đó. Rồi đây có ngày Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt tất cả những ai đã tàn phá tinh cầu này (Kh 11:18).


Đây là chỗ rất hay mà chúng ta cần dừng lại chú ý đến những hình ảnh nói về Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta được tìm thấy trong thể văn tường thuật này. Chúng ta thấy Ngài qua hình ảnh ma-na là Bánh Sự Sống (Gi 6:1-71), giờ đây qua hình ảnh giếng nước, Ngài là Đấng ban cho chúng ta nước hằng sống (Gi 7:37-39).

Trong Kinh Thánh, nước uống là hình ảnh của Đức Thánh Linh, còn nước rửa là hình bóng về Lời Chúa (Eph 5:26-27). Nhưng trước lúc Chúa Giê-xu có thể sai Đức Thánh Linh đến thì Ngài đã phải chết trên thập tự giá (Gi 7:39), là hình ảnh đưa chúng ta đến với con rắn đồng đã được trên lên trong Dân 21:4-9 và trong Gi 3:14. Ma-na nhấn mạnh đến thân vị của Chúa, [61] con rắn đồng nhắc về sự đóng đinh Chúa, còn nước kia nói về sự thăng thiên của Ngài và việc Đức Thánh Linh được đổ ra.


4. Chiến thắng của Đức Chúa Trời (Dân 21:21-35)

Trước khi đến đồng bằng Mô-áp, người Y-sơ-ra-ên đã đánh hai trận chính dưới sự giúp sức của Đức Giê-hô-va nên họ thắng cả hai trận.


Đánh thắng dân A-mô-rít (Dân 21:21-32):

Đang khi tiếp tục cuộc hành trình, người Do-thái đi đến địa phận của dân A-mô-rít. Dân này là hậu duệ của Cham con trai Nô-ê, qua con trai Cham là Ca-na-an (Sa 10:6-15) và chúng ta không nên nhầm lẫn với dân Am-môn. Đức Chúa Trời cấm Y-sơ-ra-ên không được đánh nhau với dân Am-môn (Phuc 2:18-19) bởi vì họ có bà con với dân Giu-đa qua Lót cháu nội của Áp-ra-ham (Sa 19:30-38).


Có thời dân A-mô-rít cai trị nhiều khu vực rộng lớn ở vùng Mê-sô-bô-ta-mia và Sy-ri-a, nhưng trong thời Môi-se, lãnh thổ của họ đã thu hẹp lại nhiều. Dân A-mô-rít định cư ở bờ tây Biển chết, phía bắc của người Ê-đôm, giữa Ạt-nôn và sông gia-bốc.

Dưới cái nhìn của Đức Chúa Trời, họ là một dân tộc gian ác đầy sự gớm ghiếc, sẽ phải gặt lấy sự đoán phạt (Dân 15:16), Môi-se biết rõ rằng Chúa từng hứa sẽ ban cho Y-sơ-ra-ên chiến thắng đám dân độc ác này (Xu 23:23). Tuy nhiên, trước hết Môi-se đã cố gắng ngoại giao, như ông từng làm trước đó với dân Ê-đôm (Dân 20:14-22), cam đoan với Si-hôn vua xứ Hết-bôn rằng Y-sơ-ra-ên sẽ đến trong hòa bình và sẽ không gây rắc rối gì (Phuc 2:26-37).


Đức Giê-hô-va muốn Y-sơ-ra-ên chiếm lấy vùng đất phía đông sông giô-đanh, cho nên Ngài đã để cho vua Si-hôn tấn công Y-sơ-ra-ên. Thủ đô của Si-hôn ở tại Hết-bôn, thế nhưng vua và quân đội ông ta lại từ phía nam kéo đến Gia-hát, cách sông Ạt-nôn về hướng bắc khoảng 20 dặm, chúng ra mặt thách thức Y-sơ-ra-ên. Dân sự Đức Chúa Trời đã đánh bại chúng và chiếm lấy xứ từ Ạt-nôn đến sông Gia-bốc. Trước khi Y-sơ-ra-ên tiến vào Đất Hứa, phần lãnh thổ phía đông sông Giô-đanh này đã được phân chia cho Ru-bên, Gát và Ma-na-se (Dan 32:1-42).


Trong Dân 21:27-30, Môi-se trích dẫn “một bài ca chiến trận” của người A-mô-rít và áp dụng nó cho người Y-sơ-ra-ên. Nguyên thủy của bài ca này là dùng để hát xướng ca tụng kỷ niệm chiến thắng vĩ đại của dân A-mô-rít khi quân Si-hôn đánh bại Mô-áp, chiếm lấy các thành của họ vả bắt dân Mô-áp làm tù binh. Nhưng giờ đây chính quân Si-hôn và A-mô-rít là những kẻ đã thất trận. Quân Si-hôn đã đánh bại Kê-mốc, thần của người Mô-áp; còn bây giờ Đức Giê-hô-va đã đánh bại các thần của dân A-mô-rít! Sáu dòng đầu của bài ca này (c.27-28) mô tả Si-hôn thắng Mô-áp, còn hai dòng cuối (c.30) thì mô tả Y-sơ-ra-ên thắng Si-hôn. [62]


Trong bản văn của sách Dân-số ký, Môi-se được Đức Thánh Linh hướng dẫn ghi lại bài ca này và ứng dụng nó cho Y-sơ-ra-ên. Thực tế, tiên tri Giê-rê-mi cũng có trích dẫn một phần của bài ca này trong các lời tiên tri của ông khi ông đề cập đến sự đoán phạt Mô-áp (Gie 48:45-46). Như vậy có phải có nghĩa là dân sự Chúa ngày nay có thể mượn “những bài ca thế tục” để dùng vào trong các dịp thờ phượng Chúa cũng được chăng? Không, không phải như vậy, bởi vì Y-sơ-ra-ên đã dùng “bài ca với mục đích chế giễu” này nơi ngoài chiến trường chứ không phải dùng trong nơi thánh.

Môi-se đang viết lịch sử chứ không phải viết những vần thơ trữ tình, còn Giê-rê-mi thì viết lại những lời tiên tri.[63] có nhiều nhà thơ Cơ-đốc đã mượn những âm điệu giai vần ngoài đời khi sáng tác, [64]


Nhưng chúng ta sẽ gặp phải nguy hiểm khi chúng ta mượn những lời lẽ theo thế tục để trình bày sự ngợi khen và thợ phượng Đức Chúa Trời của chúng ta.


Đánh thắng dân Ba-san (Dan 21:33-35): Sau “cuộc càn quét” mở màn xung quanh vùng Gia-ê-xe, Y-sơ-ra-ên quay sang chú ý đến Ba-san, một vùng đất rất phì nhiêu màu mỡ nằm ở phía đông Biển hồ Ga-li-lê và phía nam núi Hẹt-môn. Trong thời Áp-ra-ham, có một dân tộc gọi là Rê-pha-im sinh sống ở đó (Sa 14:5). Óc, vua của dân Ba-san, đã chiến đấu với Y-sơ-ra-ên tại Ết-rê-i, một thành nằm cách Gia-ê-xe về hướng đông bắc khoảng 50 dặm, nhưng Đức Giê-hô-va có hứa chắc với Môi-se rằng Y-sơ-ra-ên sẽ chiến thắng trận này, và đúng như vậy.


Theo Gios 2:10, tin tức về chiến thắng này đã lan đến thành Giê-ri-cô gây nên nỗi kinh hoàng sợ hãi cho cư dân ở đó. E-xơ-ra có đề cập đến chiến thắng này trong lời cầu nguyện của ông (Ne 9:22) và các tác giả Thi-thiên cũng có nhắc đến trong những bài ca ngợi khen Chúa của họ (Thi 135:11; Thi 136:19-20). Vua Óc còn có thủ phủ tại Ách-ta-rốt (Phuc 1:4) và vua cai trị trên 60 thành (Gio 13:30), nhưng tất cả đều đã bị Y-sơ-ra-ên chiếm đóng và huỷ diệt hết, không để lại một ai sống sót (Dân 21:35; Phuc 3:1-11).


Trong cuộc chinh phục Ca-na-an, Y-sơ-ra-ên đã thực hiện theo chiến lược được mô tả ở Dân 21:32-35. Giô-suê phái các thám tử đi do thám xứ trước. Sau đó, ông tìm kiếm những sự hướng dẫn đặc biệt của Đức Chúa Trời cho mỗi cuộc tấn công, tuân theo các mệnh lệnh của Ngài bằng đức tin và cuối cùng đã chiến thắng. có hai lần Giô-suê không làm theo cách thức này nên ông đã bị thua trận (Gios 7:1-26; Gios 9:1-27).


Toàn bộ khu vực phía đông sông Giô-đanh lúc bấy giờ đã rơi vào tay Y-sơ-ra-ên và rốt cuộc nó đã được chuyển giao lại cho các chi phái Ru-bên, Gát và Ma-na-se (Dân 21:32; Phuc 29:7-8). Tuy nhiên, Y-sơ-ra-ên giờ đây sắp sửa đương đầu với dân Mô-áp dẫn đến một thảm kịch không dễ mô tả nổi khiến 24000 người Do-thái đã phải bỏ mạng.





THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP


Chuyện kể về Ba-la-am, một thầy bói thần bí được ghi lại trong Dân 22:1-25:18.Bởi vì đây là câu chuyện rất đầy đủ, cho nên chúng ta sẽ bước theo đại cương gợi ý được nêu lên dưới đây. Chương 9 bàn về Dân 22:1-23:26, còn chương 10 đề cập đến Dân 23:27-25:18.


I. Ba-la-am và ý chỉ của Đức Chúa Trời (Dân 22:1-35)

1. Yêu cầu của vua (Dân 22:1-20)

2. Sự phản kháng của con lừa (Dân 22:21-30)

3. Sự tiết lộ của thiên sứ (Dân 22:31-35)


II. Ba-la-am và sứ điệp của Đức Chúa Trời (Dân 22:36-24:25)

1. Lời tiên đoán thứ nhất – (Dân 22:26-23:12) một dân tộc được biệt riêng ra

2. Lời tiên đoán thứ hai – (Dân 23:13-26) một dân tộc sẽ đi chinh phục

3. Lời tiên đoán thứ ba – (Dân 23:27-24:14) một dân tộc thịnh vượng

4. Lời tiên đoán thứ tư – (Dân 24:15-19) một dân tộc thuộc về thiên thượng

5. Ba lời tiên đoán kết luận – (Dân 24:20-25)


III. Ba-la-am và dân sự của Đức Chúa Trời (Dân 25:1-18)

1. Tội lỗi của Y-sơ-ra-ên – (Dân 25:1-9)

2. Lòng can đảm của Phi-nê-a – (Dân 25:10-15)

3. Sự đoán phạt Ma-đi-an – (Dân 25:16-18)


IV. Ba-la-am và Hội Thánh ngày nay

1. Con đường Ba-la-am đã đi - (IIPhi 2:15)

2. Sự sai lạc của Ba-la-am - (Giu 1:11)

3. Học thuyết của Ba-la-am- (Kh 2:14)


Trước khi đi nghiên cứu chi tiết, có lẽ bạn nên đọc Dân 22:1-25:18 liền mạch để có được một bức tranh tổng thể. Cũng cần chú ý đến ba phần sách tham khảo quan trọng thuộc Kinh Thánh Tân-ước nằm ở phần IV của đại cương gợi ý trên, xin tham khảo thêm những phân đoạn sách trong Kinh Thánh Cựu-ước như: Dân 31:8 Phuc 4:3-4; Phuc 23:3-6; Gios 13:22; Gios 24:9-10; Ne 13:1-3.





9. NHỮNG SỰ THỐNG TRỊ VÀ CÁC THẾ LỰC –PHẦN I (Dan 22:1-23:26)


Vào đêm Lễ Vượt Qua, dân Y-sơ-ra-ên ra đi khỏi Ai-cập giống như những người lính đang hành quân đi chinh chiến vậy, và Đức Chúa Trời đã chôn vùi quân đội Ê-díp-tô đang truy đuổi theo dưới những làn nước sâu của Biển Chết. Ngoại trừ dân Ca-na-an là dân mà Y-sơ-ra-ên đã hấp tấp tấn công không theo ý chỉ đường lối của Đức Chúa Trời (Dân 14:39-45), còn lại hễ bất luận kẻ thù nào Y-sơ-ra-ên chạm trán thì họ đều đánh bại hết: Quân A-ma-lét (Xu 17:8-16), vua A-rát (Dân 21:1-3), quân A-mô-rít (c.21-25) và các lực lượng của Óc vua xứ Ba-san (c.33-35).


Nhưng khi Y-sơ-ra-ên đi đến đồng bằng Mô-áp, họ đã phải đối mặt với một loại kẻ thù khác, là kẻ giấu mình sau những dãy núi cao có khả năng chiêu tập các thế lực xấu xa hỗ trợ cho hắn ta. Sau khi đóng trại trong thung lũng thật bình yên, dân Y-sơ-ra-ên không hề nghĩ rằng Ba-la-am đang cố tình rủa sả họ để dân Mô-áp và dân Ma-đi-an có thể đánh bại họ. Cảnh tượng này nhắc chúng ta nhớ đến lời cảnh báo của Phao-lô trong Eph 6:12 “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy”.


Quỷ Sa-tan thường xuất hiện như sư tử rống vậy (IPhi 5:8), nhưng nếu nó bị thua, nó sẽ quay lại tấn công như con rắn đầy mưu ma quỷ quyệt (IICo 11:3). Hội thánh ngày nay luôn luôn phải chiến đấu chống lại kẻ thù rất mạnh là quân đội được tổ chức bao gồm những tà linh, thần dữ xấu xa độc ác đang ra sức chống đối, cừu địch lại dân sự Chúa và ngăn trở các công việc Ngài (Eph 6:10-20). [65] Đức Chúa Trời đã bảo vệ Y-sơ-ra-ên khỏi sự tấn công của “các vua chúa cường quyền và các thế lực tối tăm đời này” khi họ đóng trại tại đồng bằng Mô-áp.


Ở bài học nghiên cứu sau đây, chúng ta sẽ xem xét hai trong số bốn khía cạnh của đời sống và tư cách đạo đức của con người xấu xa kia, sẽ thấy chúng có liên quan đến Đức Chúa Trời với dân sự Ngài ra sao.


1. Ba-la-am và ý chỉ của Đức Chúa Trời (Dân 22:1-35)

Nhân vật chính trong vở kịch này là một thầy bói huyền. [66] bí tên là Ba-la-am, một người ngoại giáo sống tại nơi gọi là Phê-thô-rơ gần sông Ơ-phơ-rát (Dân 22:5; Phuc 23:4). Ông rất nổi tiếng là người có khả năng bói toán chính xác (có khả năng lĩnh hội kiến thức bí ẩn, đặc biệt là về tương lai) và niệm thần chú hiệu quả (dựa vào sức mạnh huyền bí để chúc phước hoặc rủa sả), ông luôn sẵn sàng bán sự phục vụ của công việc mình cho tất cả những ai trả tiền thù lao cho ông.


Yêu cầu của vua (Dân 22:1-22).

Dân Mô-áp và dân Ma-đi-an cảm thấy khiếp đảm khi họ nhìn thấy sự đông đảo hoành tráng của trại quân Y-sơ-ra-ên (“họ phủ khắp mặt đất”,c.5) và khi họ nghe kể về những chiến thắng của lực lượng vũ trang Y-sơ-ra-ên trên các dân tộc láng giềng (“đoàn dân đông nầy sẽ nuốt hết thảy chung quanh ta, khác nào con bò ăn cỏ trong đồng vậy”, c.4, NKJV). Ba-lác, vua Mô-áp đã không nhận ra rằng Đức Chúa Trời từng bảo Y-sơ-ra-ên không được tấn công Mô-áp (Phuc 2:9) bởi vì người Mô-áp có bà con với người Do-thái, là những hậu duệ của Lót – cháu nội của Áp-ra-ham (Sa 19:26-37).


Chiến tranh với vũ khí thường nằm ngoài vấn đề này. Mô-áp với Ma-đi-an cần sự giúp đỡ của ma quỷ, và Ba-la-am đã tiếp xúc với ma quỷ. Cuộc đối địch này sẽ đến một chương hồi khác như điều Donald Grey Barnhouse gọi là “cuộc chiến tranh vô hình”, là sự xung đột giữa Đức Chúa Trời với Sa-tan được bắt đầu kể từ khi Đức Chúa Trời rủa sả con rắn trong Vườn Ê-đen (Sa 3:13-15; Kh 12:1-18). Chắc hẳn Ba-la-am rất nổi danh là người đang hành nghề bói khoa với yêu thuật huyền bí tài tình, nếu không phải như thế thì Ba-lác đã không bận tâm đến quãng đường xa xôi [67] và giá cả khi vua cho sai mời Ba-la-am.


Ba-lác dựa vào hai thứ để gây áp lực tác động đến Ba-la-am khiến ông chịu đến giúp vua: thứ nhất là đoàn đại biểu rất gây ấn tượng gồm những nhân vật quan trọng là các bậc trưởng lão của Ma-đi-an và Mô-áp, thứ hai là của cải họ mang theo để trả công cho Ba-la-am. Ba-la-am là người được thuê làm việc rất rạch ròi, cho nên điều ông quan tâm trước hết là tiền (IIPhi 2:15). Mặc dù ông từ chối lời mời của Ba-lác hai lần, khiến chúng ta cứ tưởng ông đang ở trong đường lối của Đức Chúa Trời nhưng thực ra ông đang khéo léo xảo quyệt để có thể đi tới Mô-áp nhận tiền thù lao của mình.


Trong thời đó, người ta tin rằng mỗi dân tộc đều có vị thần riêng của họ, và Ba-la-am biết rõ Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của dân tộc Y-sơ-ra-ên. Do đó, ông đi đến tìm xem ý Chúa nói gì về những lời mời gọi của Ba-lác. [68] Chính Đức Chúa Trời là Đấng đã đến với Ba-la-am chứ không phải tự thân Ba-la-am là người đưa Đức Chúa Trời đến với ông, và Chúa đã không cho phép ông nhận lời mời đó. Ngài cho biết ý Ngài rất rõ ràng: “Ngươi chớ đi với chúng nó, chớ rủa sả dân nầy, vì dân nầy được ban phước” (Dan 22:12, NIV).

Ba-la-am biết nếu không có Đức Chúa Trời bên cạnh, thì ông sẽ không thực hiện được kết quả công việc mình, do đó ông nói với phái đoàn kia là ông không thể đi với họ được. Tuy nhiên, ông đã không cho họ biết lý do là, Y-sơ-ra-ên không thể bị rủa sả bởi vì Đức Chúa Trời đã chúc phước cho họ rồi. Nếu ông nói ra điều này với phái đoàn thì e rằng ông sẽ đặt một dấu chấm hết cho cuộc đàm phán và các vị lãnh sự kia chắc có lẽ không bao giờ quay về Phê-thô-rơ nữa.


Quyết không nản lòng từ bỏ ý định đánh bại Y-sơ-ra-ên, vua Ba-lác lại phái một đoàn đại biểu khác thậm chí đông hơn gồm các sứ thần có quyền cao chức trọng hơn những người trước đến cùng Ba-la-am hứa hẹn với ông sẽ trả cho ông bất kỳ công giá nào ông muốn, thêm nữa là vua sẽ ban cho ông danh cao vọng trọng trong triều đình. Sau khi biết được ý Chúa đối với vấn đề này, Ba-la-am đáng lý ra phải từ chối thậm chí không cần phải xem xét lời đề nghị lần thứ hai này thì mới phải, đàng này, vị thầy bói thuê ấy lại vẫn tiếp tục nuôi hy vọng sẽ tìm cách nào đó để phá hỏng ý chỉ của Đức Chúa Trời. Dưới ánh sáng của sự việc này cho thấy Ba-la-am thậm chí rất quan tâm đến lời đề nghị thứ hai đó của vua, lời ông nói trong câu 18 chỉ là lời hết sức giả dối. Ngoài môi miệng, Ba-la-am tỏ ra vâng lời Chúa, nhưng trong lòng ông thì rất thèm thuồng tiền bạc và hy vọng Đức Chúa Trời sẽ thay đổi ý định của Ngài.


Đức Chúa Trời đến cùng Ba-la-am phán dạy ông hãy đi với phái đoàn kia nếu như sáng mai họ đến kêu ông đi (c.2). [69] Chúa dặn Ba-la-am: “nhưng chỉ hãy làm theo lời ta sẽ phán”. Thế nhưng sáng hôm sau, Ba-la-am không đợi phái đoàn đến, mà ông lại tự cỡi lừa đi tới nơi họ đang đóng trại, cho thấy ông đã làm theo ý riêng của mình. Quyết định này, cùng với sự tham lợi trong lòng Ba-la-am khiến Đức Giê-hô-va nổi giận. Ba-la-am đang hành động chẳng khác nào con ngựa và con lừa (Thi 32:9): ông lật đật chạy xông lên phía trước của Đức Chúa Trời đồng thời lúc đó đã ngu xuẩn từ chối vâng theo những lời chỉ dạy rất rõ ràng của Chúa.

Ông biết rằng Y-sơ-ra-ên đã được Chúa chúc phước, vậy mà ông còn hy vọng sẽ có thể rủa sả dân tộc Do-thái ấy để kiếm cho mình của cải và những sự vọng trọng theo lời nhà vua đã hứa với ông. Ông đúng là một kẻ giả hình và ăn ở hai lòng.


Sự phản kháng của con lừa (Dan 22:22-30): Đức Chúa Trời nổi giận khi Ba-la-am coi thường ý chỉ của Chúa và đã để cho lòng tham muốn tiền bạc chế ngự, điều khiển. Chúng ta đôi lúc cũng hay dùng cụm từ “những con vật không biết nói”, nhưng trong trường hợp này con vật đó lại còn thông minh sáng suốt hơn cả chủ nó và hai đầy tớ của tên chủ ấy! Nó nhìn thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đang cầm gươm đứng ngáng lối đi; bằng cách nép sang một bên, nó đã cứu mạng Ba-la-am. Cả ba lần nó đổi đường đi thì lần nào nó cũng bị chủ đánh. Ba-la-am không kìm chế được cơn giận; và nếu lúc ấy ông có vũ khí trong tay chắc là ông đã giết chết con vật trung thành đó của mình mất. Phi-e-rơ gọi nó là “sự điên cuồng của người tiên tri đó” (IIPhi 2:16).


Tại sao Ba-la-am không kinh ngạc khi con vật của mình lại “nói được tiếng người ta” như thế? (c.16, NIV). Chắc chắn đây không phải là chuyện xảy ra thường ngày đối với một thầy bói chuyên nghiệp như ông. Sa-tan đã cất tiếng nói qua con rắn khi nó lừa dối Ê-va (Sa 3:1 đến hết đoạn IICo 11:3), có khả năng trong quá khứ bọn ma quái của quỷ Sa-tan đã trò chuyện với Ba-la-am qua các con vật. Đối với một người đã biến trở nên hết sức ti tiện thấp hèn trong cuộc sống thì Đức Chúa Trời buộc phải dùng những con vật cục súc để thông báo cho kẻ ấy biết ý nghĩ của Ngài thế nào.


Sự tiết lộ của thiên sứ (Dân 22:31-35):

Chính Đức Chúa Trời đã mở miệng và mở mắt cho con lừa, Ngài cũng mở mắt cho Ba-la-am nữa khiến ông có thể nhìn thấy thiên sứ dáng vẻ uy nghi đáng kinh sợ đang cầm bảo kiếm trong tay đứng giữa đường. Cuối cùng Ba-la-am cũng đã làm được một điều đúng là sấp mặt xuống trước thiên sứ Đấng vừa bảo cho ông biết con lừa đã cứu mạng ông. thiên sứ cảnh cáo Ba-la-am rằng ông đang liều lĩnh dấn thân một cách thiếu suy nghĩ trên con đường lầm lạc dẫn đến sự hư mất, và Ba-la-am xin quay trở về nhà.


Những lời ông nói “Tôi đã phạm tội” không phải là bằng chứng của sự ăn năn thật lòng. Pha-ra-ôn (Xu 9:27), Vua Sau-lơ (ISa 15:24,30; ISa 26:21), và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt (Mat 27:4) tất cả đều đã thốt lên những lời như vậy nhưng rốt cuộc họ đều không trở lại với Chúa để nhận sự thương xót của Ngài. Thử hỏi có giá trị gì khi bạn nói ra những lời nghe có vẻ rất sùng đạo nhưng lòng dạ bạn thì lại đang tiếp tục hướng đến sự phạm tội? Hãy lắng nghe Đa-vít nói (IISa 12:13; Thi 54:4; IISa 24:10,17; ISu 21:8,17) hoặc nghe Đứa Con Hoang Đàng nói gì nếu bạn muốn nghe sự xưng tội thành khẩn, thật lòng.


Trong ý muốn có dụng ý của Đức Chúa Trời, Ngài cho phép Ba-la-am tiếp tục chuyến đi của ông, nhưng Ngài dặn ông chỉ được nói ra những sứ điệp nào Ngài ban cho ông mà thôi. Ở lần thứ nhất này, Ba-la-am nhận ra rằng ông sẽ gặp nhiều rắc rối hơn nếu ông mạo hiểm đi rủa sả một dân tộc chỉ nhằm để kiếm cho mình một số tiền. Khi Chúa dùng con lừa quở trách chủ nó, tức là Ngài đã dùng Ba-la-am để bày tỏ những lẽ thật quan trọng về Y-sơ-ra-ên và về Đấng Mê-si-a đã được hứa ban của Y-sơ-ra-ên. [70]


2. Ba-la-am và sứ điệp của Đức Chúa Trời (Dân 22:1-35) (Dân 22:36-24:25)

Việc vua Ba-lác tỏ ra nóng lòng muốn gặp vị thầy bói nọ cho thấy vua hết sức nôn nóng muốn khởi binh tấn công Y-sơ-ra-ên ngay. Tại sao Ba-la-am đã trì hoãn sự đến của mình như vậy? Chẳng phải lời đề nghị của Ba-lác không đủ hấp dẫn ông ta sao? Có phải ông ta đã không nhận ra tính chất nghiêm trọng của tình hình lúc ấy? Ba-la-am không biện hộ cho mình và cũng không giải thích cho các hành động của mình, nhưng ông có nói rõ ràng rằng tất cả những gì ông có thể làm là tuyên ra những lời nào Đức Chúa Trời sẽ ban cho ông. Nhà vua dâng tế lễ cho thần Ba-anh của mình và có lẽ vua đã ban cho Ba-la-am một số bộ phận nội tạng của con sinh tế như là sự thưởng công cho việc bói toán của ông.


Lời tiên đoán thứ nhất (Dân 22:39-23:12):

Sáng hôm sau, Ba-lác dẫn Ba-la-am đến Ba-mốt Ba-anh (là “những nơi cao của thần Ba-anh” ) nơi họ có thể nhìn thấy trại quân Y-sơ-ra-ên và dâng thêm tế lễ cho thần Ba-anh. Ba-la-am dùng những của tế lễ này như một phần của sự dùng bùa chú để bói toán (Dân 24:1) ông đã không đợi sứ điệp của Đức Chúa Trời đến như Ngài có bảo ông trước đó. Trong ân điển và sự thương xót của Ngài, Đức Chúa Trời đã dùng con người xấu xa gian ác này và Ngài cam tâm chịu đựng sự ăn ở hai lòng của hắn ta bởi vì Ngài cần tuyên ra một sứ điệp đặc biệt về dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.


Sứ điệp Đức Chúa Trời ban cho Ba-la-am nhấn mạnh một số lẽ thật căn bản về dân Y-sơ-ra-ên.

-Thứ nhất, Đức Chúa Trời đã ban phước đặc biệt cho dân Y-sơ-ra-ên và họ không thể bị rủa sả (Dân 23:7-8). Đây là một phần trong giao ước của Ngài đã lập với Áp-ra-ham (Sa 12:1-3) và điều ấy đã được ứng nghiệm xuyên suốt lịch sử của họ. Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt bất cứ kẻ thống trị nào hay là bất luận quốc gia nào gây cho dân sự Ngài đau khổ, khốn đốn, kể cả Ai-cập, A-si-ri, Ba-by-lôn và Đức Quốc Xã.


Không hề có dân tộc nào được Đức Chúa Trời ban phước giống như Y-sơ-ra-ên, Ngài không những ban phước cho họ về đời sống vật chất và ban cho họ sự bảo vệ thánh, mà Ngài còn chủ yếu ban cho họ rất nhiều ơn phước thuộc linh để họ chia sẻ lại cho toàn thế giới. Phao-lô có kể ra một vài ơn phước trong số ấy ở Ro 9:1-5. Y-sơ-ra-ên đã đem lại cho thế giới sự nhận biết về Đức Chúa Trời hằng sống chân thật, về Lời Chúa đã được viết ra, và về Đức Chúa Giê-xu Christ là Chúa Cứu Thế của nhân loại.


-Lẽ thật nền tảng thứ hai của Ba-la-am là dân Do-thái là dân tộc đã được Đức Chúa Trời chọn do đó dân này cần phải được biệt riêng ra khỏi các dân tộc khác (Dan 23:9). Đức Giê-hô-va có lần đã tuyên bố như vậy với Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i (Xu 19:5-6), và những luật lệ mà Ngài ban cho họ tại núi Si-na-i có thể giúp họ sống đời sống của một dân tộc đặc biệt. Trong sứ điệp từ giã Y-sơ-ra-ên của Môi-se, ông cũng có nhấn mạnh tính độcnhất vô nhị của Y-sơ-ra-ên đó là một dân tộc của Chúa (Phu 4:20; Phu 14:2,21; Phu 26:18-19; Phu 32:8-9; Phu 33:3,28-29) ông nhắc họ luôn hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời đã chọn họ bởi vì Ngài yêu thương họ (Dan 7:6-8). Xin xem thêm Le 20:26; IVua 8:52-53; Am 3:2; Es 43:21.


Sự cám dỗ ghê gớm đối Y-sơ-ra-ên là mong muốn được trở nên giống các dân tộc khác, đây là điều dẫn họ đến với sự sa ngã và sự lưu đày.

Thay vì vui sướng thỏa lòng với tính chất đặc biệt độc đáo của mình là một dân tộc thuộc về Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật, đằng này họ lại đi tập tành bắt chước các dân láng giềng trong sự thờ phượng và cách ăn nết ở của họ, cho nên Đức Chúa Trời buộc lòng phải sửa trị họ.

Thay vì để cho Đức Chúa Trời tể trị họ như là Vua của họ, đằng này họ lại đi cầu xin một vua “giống như tất cả các dân tộc khác vậy” (ISa 8:5), việc này đã đưa dân tộc rơi vào đủ thứ rắc rối và nguy nan khốn đốn.


Thật đáng buồn thay, có nhiều người trong Hội thánh ngày nay vẫn có ý nghĩ sai lầm là phải trở nên giống như thế gian mới tiếp xúc được với thế gian. Họ quên rằng Hội thánh là dân sự của Chúa, một dân tộc đặc biệt đã được cứu bởi ân điển Ngài. Thay vì duy trì sự biệt riêng ra (IICo 6:14-7:1), họ lại ra sức bắt chước người đời (IGi 2:15-17 Ro 12:2), do đó càng ngày người ta càng khó nhận ra điểm khác biệt giữa dân sự Đức Chúa Trời với các dân khác trong thế gian. Vì vậy, Campbell Morgan đã nhắc nhở chúng ta: “Khi Hội thánh còn rất nhỏ bé so với gian, thì ấy là lúc Hội thánh đã làm nhiều điều nhất cho thế gian”.


Sự nhấn mạnh thứ ba của Ba-la-am là tính chất đông đảo, rộng lớn của trại quân Y-sơ-ra-ên dẫu rằng ông chỉ đang nhìn thấy một phần nhỏ của nó (Dân 22:41). Từ “đất” mà ông đã dùng nhắc chúng ta nhớ lại những lời Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham và các hậu duệ của người rằng họ sẽ trở nên đông đúc vô số kể như cát bụi trên đất vậy (Sa 13:16; Sa 28:14). Các dân các nước hết thịnh rồi suy, còn dân dân tộc Y-sơ-ra-ên mmặc dù gặp rất nhiều gian truân nhưng họ không bao giờ bị tuyệt diệt cả. Thay vào đó, ngày nay họ lại càng trở nên đông đúc và người ta thấy họ ở khắp nơi trên thế giới.


Ba-la-am được phái đến rủa sả Y-sơ-ra-ên, tuy nhiên ông đã kết thúc lời tiên đoán của mình bằng sự tuyên bố rằng ông muốn được giống như Y-sơ-ra-ên “Người công chánh thác thể nào, tôi nguyện thác thể ấy Cuối cùng người nghĩa làm sao, tôi nguyện cuối cùng tôi làm vậy!” (Dan 23:10). Bạn sẽ không chết với cái chết của người công chính trừ phi bạn sống đời sống của người công chính, đó là điều mà Ba-la-am đã không sẵn sàng thực hiện. Ông đã để tình yêu tiền bạc của mình điều khiển, khống chế đời sống ông đến nỗi ông sẽ phải làm bất cứ việc gì miễn là kiếm được tiền của. Ba-la-am đã chết với cái chết của kẻ ác khi Y-sơ-ra-ên đánh bại dân Ma-đi-an (Dân 31:8), kết thúc cuộc đời ông là sự đoán phạt đời đời.


Khi Ba-lác cằn nhằn về lời tiên đoán thứ nhất của Ba-la-am,ông chỉ có sự đáp lại duy nhất rằng: đó là những lời đến từ Đức Chúa Trời và đó là những gì ông bắt buộc phải nói. Đáng lý ra Ba-la-am đã bịa đặt ra những lời rủa sả nào đó để lừa Ba-lác, thế nhưng Đức Chúa Trời đã không cho phép ông làm điều ấy, vì những lời tiên đoán đó sẽ có ngày trở thành một phần trong Lời thánh của Đức Chúa Trời.


Lời tiên đoán thứ hai (Dân 23:13-26):

Để khích lệ Ba-la-am làm những gì mà ông đã được thuê làm - rủa sả Y-sơ-ra-ên -Ba-lác đề nghị vị thầy bói thuê của mình hãy nói về một viễn cảnh khác. Vua đưa ông lên đỉnh núi Phích-ga là nơi họ lại dâng tế lễ lần nữa cho các thần của họ (Dân 23:13-14; Phuc 34:1-4). Thực tế là Ba-la-am đã có tham gia vào các lễ nghi huyền bí của người ngoại giáo và điều đó chứng tỏ trong lòng ông có sự gian ác. Ông tuyên Lời Chúa ra và ước ao được chết như người công bình chết, ông nghĩ không cần phải dùng đến bùa chú cả và kết giao với Sa-tan nữa (Dan 24:1). Ông là kẻ ăn ở hai lòng với tham muốn kiếm được thật nhiều tiền bạc như có thể bằng cách tiếp thị những kỹ năng, mánh lới của mình.


Lời tiên đoán thứ nhất diễn tả Y-sơ-ra-ên là một tuyển dân có được là bởi tình yêu của Đức Chúa Trời, lời tiên đoán thứ hai trình bày họ là một dân tộc đang đi chinh phục nhờ bởi sự thành tín của Ngài. Đức Chúa Trời là Đấng không hề nói dối, vì thế tất cả những lời hứa và các giao ước của Ngài đều chắc chắn; Ngài là Đấng không hề thay đổi, cho nên bản chất của Ngài sẽ luôn luôn là như vậy. Ngài không yếu đuối, ngược lại Ngài luôn có khả năng làm thành những lời phán hứa của Ngài; không ai có thể thao túng Ngài hay kiểm soát Ngài được. [71] Đức Chúa Trời luôn ở cùng dân Y-sơ-ra-ên và là vua của họ cai trị họ.


Chính Đức Chúa Trời đã ban cho Y-sơ-ra-ên nhiều thắng lợi,bắt đầu từ cuộc xuất hành của họ khỏi Ê-díp-tô. Dân tộc giống như một con bò đang sung sức và giống như sư tử đang trong tư thế rình mồi đề vồ lấy chúng và giết đi. Do đó, không có phép thuật phù thuỷ nào có thể chống nghịch lại dân sự Chúa một cách thành công bởi vì Đức Chúa Trời luôn hành động trong họ và qua họ, “Việc Đức Chúa Trời làm lạ là dường nào!” (Dan 23:23, NKJV).


Khi Đức Chúa Trời xem xét Y-sơ-ra-ên, Ngài không thể nào chấp nhận những điều tội lỗi trái với luân thường đạo lý và những kẻ ác, cho nên Ngài có lý do để đoán phạt chúng. Y-sơ-ra-ên là “một vương quốc của thầy tế lễ và là một dân tộc thánh” (Dân 19:6), dẫu vậy Ngài vẫn buộc phải trừng phạt họ về tội vô tín và tội bất tuân của họ. Cơ-đốc nhân ngày nay cũng chính là tuyển dân của Đức Chúa Trời (Eph 1:4), được ẩn núp trong Đấng Christ (Co 3:3), được mặc lấy sự công bình Ngài (IICo 5:17,21) và được đồng ngồi với Ngài trên thiên đàng (Eph 2:4-6). Bởi vì chúng ta được “ở trong Đấng Christ”, cho nên Đức Chúa Trời xem chúng ta là tuyển dân đặc biệt của chính Ngài (IPhi 2:5,9-10), vì vậy Ngài sẽ luôn tương giao với chúng ta.


Lại một lần nữa, Đức Chúa Trời đã biến sự rủa sả thành sự chúc phước! Những trận chiến mà dân sự Chúa ngày nay đang chiến đấu chẳng phải là chiến đấu với thịt và huyết trên đất này, bèn là chiến đấu với các tà linh của quỷ Sa-tan trên các từng trời (Eph 6:10-24), và chúng ta không thể nào chiến thắng chúng bằng sức mạnh của chính chúng ta.

Trước hết chúng ta phải tự nhìn nhận mình là dân sự của Chúa, đã được Ngài mua bằng huyết của Đấng Christ, đang được Đức Thánh Linh ngự trong lòng, và chúng ta hãy nhờ Đấng Christ “mà thắng hơn bội phần” (Ro 8:37). “Mọi khí giới của Đức Chúa Trời” là sự bảo vệ chúng ta, và những khí giới chính của chúng ta chính là Lời Chúa và sự cầu nguyện (Eph 6:13-20; Cong 6:4).


Y-sơ-ra-ên tiếp tục đồng hành với Chúa và vâng theo ý chỉ Ngài, nên họ luôn được chiến thắng và Chúa đã làm nhiều việc lạ lùng kỳ diệu trên đời sống họ, “vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian, và sự thắng hơn thế gian,ấy là đức tin của chúng ta” (IGi 5:4 NKJV).

-Dan 22:36-41; xem giải nghĩa Dan 22:1-35.

-Dan 23:1-26; xem giải nghĩa Dan 22:1-35.





10. NHỮNG SỰ THỐNG TRỊ VÀ CÁC THẾ LỰC-PHẦN II (Dan 23:27-25:18)


1. Ba-la-am và sứ điệp của Đức Chúa Trời (Dân 23:27-30) (Dân 23:27-24:25)

Ba-lác dẫn Ba-la-am lên đỉnh núi Phê-ô, một ngọn núi được đồng nhất hoá với thần Ba-anh của người ngoại giáo (Dân 25:3,5; Phuc 4:3; Thi 106:28-29; Os 9:10). Những bàn thờ được lập lên và các con sinh được dâng lên cúng tế như thường lệ tại đó, nhưng lần này Ba-la-am đã không cố tình dùng đến phép thuật bùa chú của mình. Thay vào đó, ông chăm chú nhìn ra trại quân Y-sơ-ra-ên và Thần Linh của Đức Chúa Trời giáng trên ông, ban cho ông lời tiên đoán thứ ba.


Lời tiên đoán thứ ba (Dân 23:27-24:14): Sự nhấn mạnh ở đây là tinh thần mãn nguyện của dân sự Chúa ở tại chính quê hương mình. Cuộc chinh phục Ca-na-an đã kết thúc (Dân 24:8-9), các kẻ thù của họ đã bị đánh bại, và Y-sơ-ra-ên đang vui hưởng sự thịnh vượng sung túc mà Chúa đã ban cho họ trong “xứ đượm sữa và mật”. Đất Hứa là vùng đất lý tưởng với nguồn nước dư dật, một thứ quan trọng ở phương Đông, và những nơi Y-sơ-ra-ên đang cư ngụ đã trở nên ổn định tựa như hoa cỏ đẹp đẽ cùng với cây cối tốt tươi trong vườn vậy. Trong xứ người ta thấy có sự tươi đẹp và nét phồn thịnh có được là bởi các ơn phước Chúa.


Trong lời tiên đoán thứ hai, Ba-la-am nhìn thấy Đức Chúa Trời là Vua Y-sơ-ra-ên (Dân 23:21), còn lần này ông thấy dân tộc được cai trị bởi chính vua của họ là người vĩ đại hơn A-gát (Dân 24:7). Vì cái tên A-gát (cũng gọi là A-ga) còn xuất hiện vào nhiều thế kỷ sau đó (ISa 15:9), cho nên có lẽ ấy là tên có liên quan đến chức vụ của các bậc cầm quyền người A-ma-léc, chẳng hạn như là “Pha-ra-ôn” ở Ai-cập và “A-bi-mê-léc” ở Ghê-ra (Sa 20:26). Khi Y-sơ-ra-ên đang trên đường đến núi Si-na-i, dân A-bi-mê-léc đã tấn công họ và bị những lời cầu nguyện của Môi-se cùng với binh sĩ của giô-suê đánh bại, về sau dân A-ma-léc trở thành kẻ thù không đội trời chung của dân Do-thái (Xu 17:8-16).


Vua Do-thái nào đã được đề cập đến trong lời tiên tri này? Dĩ nhiên là không phải vua Sau-lơ, người đã thất bại khi tiến công tiêu diệt dân A-ma-léc và còn bị chết cách nhục nhã. Có thể đó là vua Đa-vít, nhưng chắc chắn không phải chỉ về Đức , Đấng “cao hơn hết các vua trên đất” (Thi 89:27).

Dường như đây là lời tiên tri kép, vì trong thời trị vì của Chúa Giê-xu Christ trên vương quốc thuộc Đấng Mê-si-a như đã hứa, thì xứ của Y-sơ-ra-ên sẽ giống như Vườn Ê-đen vậy (Es 35:1-10).


Ba-la-am nhắc lại những hình ảnh con bò và sư tử (Dân 24:8-9; Dân 23:22,24), ông kết thúc lời tiên đoán này của mình bằng câu trích dẫn từ giao-ước của Đức Chúa Trời lập với Áp-ra-ham (Dân 24:9; Sa 12:3; Dân 27:29). Ba-lác không ưa những lời Ba-la-am vừa nói, đặc biệt là sự đe doạ rằng vua sẽ bị rủa sả nếu vua rủa sả Y-sơ-ra-ên. Vua bảo thầy bói kia hãy về nhà đi, vì Ba-la-am không làm đúng công việc vua yêu cầu cho nên ông đã không được trả tiền công. Vì Ba-la-am đã lắng nghe tiếng Chúa và chỉ truyền đạt lại Lời Chúa,cho nên vua Ba-lác kết luận rằng Chúa đã cản Ba-la-am nhận lãnh phần thưởng của mình!


Ba-la-am đồng ý trở về nhà, nhưng đợi cho đến sau khi ông ban phát ra lời tiên đoán thứ tư. Tuy nhiên, Ba-la-am vẫn cứ nán lại với Ba-lác đủ thì giờ tổ chức sắp đặt một bữa yến tiệc đầy cám dỗ dẫn đến việc làm ô uế dân Y-sơ-ra-ên và đánh bại họ. Ba-la-am không thể rủa sả Y-sơ-ra-ên nhưng ông có thể cám dỗ làm hại họ.


Lời tiên đoán thứ tư (Dân 24:15-19): Lời giới thiệu của phần tiên đoán thứ tư này tương tự như lời giới thiệu ở phần tiên đoán thứ ba (c.3,4), nhấn mạnh rằng những gì Ba-la-am đã nhìn thấy và nghe được đều đến từ Đức Chúa Trời.

Điều này tác động mạnh đến nỗi nó đã khiến cho vị thầy bói ấy phải sấp mình xuống đất. Có lẽ bạn tưởng rằng kinh nghiệm được ở cùng Đức Chúa Trời hằng sống đáng nhớ đó chắc hẳn đã đem Ba-la-am đến sự đầu phục Chúa và có đức tin nơi Ngài, tuy nhiên không phải như vậy. Điều ấy chỉ cho thấy một kẻ vô tín vẫn có thể đến gần với sự nhận biết Chúa như thế nào nhưng thực tâm kẻ ấy vẫn khước từ lẽ thật ra sao (Mat 7:15-23) [72]


Khải tượng này rất vắn tắt và có mục đích; nó tập trung về sự đến của Đấng Mê-si-a của Y-sơ-ra-ên và những sự chinh phục của Ngài “trong những ngày sau rốt” (Dân 24:14). Hình ảnh ngôi sao và cây phủ việt tượng trưng cho vương quyền và sự trị vì của Đấng Mê-si-a (Sa 49:10; Kh 22:16), câu “Đấng ra từ Gia-cốp sẽ cầm quyền” chắc chắn là nói về Đấng Mê-si-a (Dân 24:19; Thi 72:8; Xa 9:10; Kh 1:6).

Trong khi đó một phần của sự hiện thấy này có lẽ đã được ứng nghiệm chút chút ở những cuộc chinh phục của Đa-vít, còn Chúa Giê-xu Con Đa-vít sẽ làm cho chúng ứng nghiệm hoàn toàn khi Ngài trở lại đánh bại các kẻ thù nghịch Ngài và thiết lập vương quốc của Ngài trên đất này (Kh 19:11-20:6).


Nhưng vị thầy bói kia không dừng lại ở đó. Lúc ông đứng trên đỉnh núi Phê-rơ, ông có những sự hiện thấy liên quan đến các dân tộc khác và ông đã tiên đoán được số phận của họ. A-ma-léc (Dân 24:20) là dân tộc đầu tiên tấn công Y-sơ-ra-ên sau khi họ xuất khỏi Ê-díp-tô (Xu 17:8-16), nhưng rồi cuối cùng họ đã bị Đa-vít đánh bại và tiêu diệt hoàn toàn (ISa 27:8-9; IISa 8:11-12). Kê-nít (Dân 24:21-22) là dân du mục rày đây mai đó sống giữa vòng những người Ma-đi-an. [73]

Họ sống trên các vùng núi cao, nhưng “cái tổ” của họ đã không bảo vệ nổi họ khỏi bị người A-si-ri xâm lược và bắt họ làm phu tù. Số phận của các dân tộc đều luôn nằm trong tay Đức Chúa Trời (Cong 17:24-28), và không có dân tộc nào hoặc cá nhân nào có thể còn sống sót mà không nhờ bởi sự thương xót của Ngài (Dân 24:23).


Những lời tiên tri trong câu 25 rất khó cắt nghĩa, nhưng như tiến sĩ Roland B. Allen khẳng định: “Hễ có một dân tộc dấy lên thay thế cho một dân tộc nào đó, thì lúc ấy mới biết số phận bất hạnh của dân tộc kia ra sao. Trái lại, dân Y-sơ-ra-ên luôn được ban phước hạnh và họ còn có lời hứa chắc chắn về Đấng giải cứu họ là Đấng cuối cùng sẽ chiến thắng…” [74]

Điều đáng chú ý ở đây là Đức Chúa Trời đã ban sự hiện thấy này cho một kẻ thầy bói ngoại giáo chứ không phải ban cho một tiên tri Do-thái thực thụ. Nhưng Ngài cai trị theo đường lối và ý tưởng Ngài, đường lối và ý tưởng Ngài thì luôn cao hơn đường lối và ý tưởng của chúng ta (Es 55:8-11).

-Dân 24:1-25; xem giải nghĩa Dân 23:27-30.


2. Ba-la-am và dân sự Đức Chúa Trời (Dân 25:1-18)

Câu “Đoạn, Ba-la-am đứng dậy đi về bổn xứ” (Dân 24:25, NIV) không được giải thích là ông có quay trở lại núi Phê-rơ ngay sau đó hay không, bởi vì Ba-la-am cũng nằm trong số những kẻ bị đã giết khi Y-sơ-ra-ên tàn sát dân Ma-đi-an (Dân 31:8). “Bổn xứ” ở đây có nghĩa là nơi Ba-la-am đang trú ngụ lúc ông đi gặp Ba-lác.


Tội lỗi của Y-sơ-ra-ên (Dân 25:1-5).

Ba-la-am không thể rủa sả Y-sơ-ra-ên được, nhưng ông biết cách làm ô uế họ và đẩy họ vào sự phạm tội nghiêm trọng đến nỗi Đức Giê-hô-va buộc phải đoán phạt họ. Ba-la-am gợi ý Ba-lác (Dân 31:16) hãy triệu tập dân Mô-áp và dân Ma-đi-an lại rồi cho tổ chức một bữa yến tiệc tôn giáo thật thịnh soạn để tỏ lòng tôn kính thần Ba-anh, đồng thời hãy mời dân Do-thái đến cùng dự.

Dĩ nhiên bữa đại tiệc đó có liên quan đến việc thờ hình tượng và những sự hũ bại, suy đồi đạo đức rất gớm ghiếc, ghê tởm, là những hành vi vi phạm vào giao ước của Y-sơ-ra-ên đã lập với Đức Chúa Trời. Nhưng Mô-áp có bà con với người Do-thái qua Lót cháu nội Áp-ra-ham, còn người Ma-đi-an là đồng minh của người Mô-áp,cho nên không có lý do gì để người Do-thái không “ăn ở hòa thuận với hàng xóm láng giềng” của mình cả. Ba-la-am không không có khả năng lôi kéo ma quỷ, nhưng ông đã cám dỗ được xác thịt và rủ rê mời chào người Do-thái đến tham dự để “họ tự mình thưởng thức” tại bữa tiệc thờ cúng thần Ba-anh Phê-rơ.


Đây là trường hợp đầu tiên được ký thuật trong Kinh Thánh nói về việc Y-sơ-ra-ên thờ lạy thần Ba-anh, nhưng chắc chắn đó không phải là lần cuối cùng. Ba-anh là vị thần chính trong số các tà thần của người Ca-na-an và đặc biệt đây là thần có nhiệm vụ, khả năng ban mưa và sự sinh sản cho chúng sinh.

Mãi cho đến khi ra khỏi Ba-by-lôn thì Y-sơ-ra-ên vẫn là một dân nông nghiệp; mỗi khi gặp hạn hán, họ lại thường quay sang xin thần Ba-anh xin cứu giúp thay vì cầu xin Đức Giê-hô-va. Các nghi lễ xin khả năng sinh sản của người Ca-na-an có liên quan đến cả hai phái nam lẫn nữ xúi giục cám dỗ họ thực hiện hành vi thông dâm với đủ cách đủ kiểu quan hệ tình dục vô đạo đức. Cả việc thờ hình tượng và sự suy đồi đạo đức này đều bị Luật Pháp Đức Chúa Trời cấm cản (Xu 20:1-5,14).


Chắc bạn hy vọng người Do-thái nhớ lại kinh nghiệm đáng kinh sợ của họ tại núi Si-na-i khi họ bước vào sự thiết lập giao ước với Đức Chúa Trời. Những tưởng họ cũng sẽ nhớ lại việc thờ hình tượng của dân tộc tại Si-na-i khi A-rôn chế đúc ra một con bò con bằng vàng Đức Chúa Trời đã trừng phạt dân tộc (Dân 32:1-35). sự kiện đó cũng có liên quan đến cả việc thờ hình tượng lẫn sự sự suy đồi đạo đức. Y-sơ-ra-ên là một dân tộc đặc biệt, “một dân tộc chỉ toàn là thầy tế lễ” của Đức Chúa Trời, cho nên họ không được có những hành động và thói ăn nết ở hoà lẫn với người Mô-áp và người Ma-đi-an vốn là những dân ngoại, họ cũng không được thờ lạy các thần giả dối của các dân ấy.


Đức Giê-hô-va sai tai vạ đến bắt đầu giết chết dân chúng,và Môi-se phải bắt tay hành động. Theo mệnh lệnh của Chúa, ông truyền bảo các quan án trong từng cchi phái hãy giết những người nào cầm đầu dẫn Y-sơ-ra-ên vào sự phạm tội gớm ghê này, và hãy bêu xác họ lên để cảnh cáo những người còn lại. Nhưng có một hành động đặc biệt của sự đoán phạt đã giúp làm cho tai vạ dừng lại và cứu mạng những người còn lại của dân tộc.


Lòng can đảm của Phi-nê-a (Dân 25:6-15): Xim-ri,một người lãnh đạo của chi phái Si-mê-ôn (c.14), ông không chỉ tham dự bữa tiệc thờ cúng hình tượng mà còn đưa một người nữ Ma-đi-an tên là Cốt-bi về trại quân Y-sơ-ra-ên công khai dẫn nàng vào trong lều của ông ngay trước mắt Môi-se và những người Y-sơ-ra-ên đang khóc tại cửa hội mạc. [75] Đây là tội ỷ quyền ỷ thế rất trân tráo không thể nào tha thứ được. Xim-ri là quan trưởng của Y-sơ-ra-ên còn Cốt-bi là con gái của một quan trưởng, do đó có lẽ họ nghĩ rằng vì họ có địa vị xã hội như vậy nên họ có quyền phạm tội.


Phi-nê-a cháu nội của A-rôn rời khỏi buổi nhóm cầu nguyện và đi theo sau cặp nam nữ ấy, thế rồi ông đã dùng giáo mình đâm chết cả hai người đó ngay trong lều họ. việc này khiến cho tai vạ dừng lại, nhưng có 24.000 người đã phải chết trước đó (Sa 4:3-4).[76] Tương tự Áp-ra-ham khi ông dâng Y-sác (Sa 22:1-24 Gia 2:21-24), Phi-nê-a đã chứng minh đức tin của ông bằng những hành động cụ thể, và điều đã “kể ông là người công bình” (Thi 106:28-31).


Phi-nê-a có lòng sốt sắng như vậy là vì ông kính sợ Đức Giê-hô-va, cho nên Chúa đã ban phần thưởng đặc biệt là chức tế lễ đời đời cho chính ông và hậu duệ của ông.Phi-nê-a không hề biết gì về phần thưởng này trước khi ông hành động, vì thế động cơ của ông không mang tính ích kỷ. Ông được thúc giục hành động vì ông có lòng sốt sắng kính sợ Chúa và thẩm quyền của Luật Pháp Ngài. Phi-nê-a đã đi cùng Môi-se khi Y-sơ-ra-ên tấn công người Ma-đi-an (Dân 31:5-6), vì vậy ông không sợ hãi khi ra trận.

Ông còn có nhiệm vụ là nhân viên gác cổng đền tạm và ông luôn thi hành công tác này trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời (ISu 9:20).Việc bảo vệ nơi thánh của Đức Chúa Trời là công việc đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao, và chắc chắn Phi-nê-a là người rất can đảm làm tốt công việc ấy.


Sự đoán phạt Ma-đi-an (Dân 25:16-18): Đức Chúa Trời tuyên bồ rằng người Ma-đi-an được xem là kẻ thù nghịch của Y-sơ-ra-ên và phải bị tiêu diệt. Ký thuật của Môi-se cho thấy điều này đã được ứng nghiệm trong Dân 31:1-24. Như chúng ta đã thấy, Ba-la-am, người đề xướng ra bữa tiệc cũng đã bị giết lúc đó.


Những ai lên án Đức Giê-hô-va và Kinh Thánh về sự tàn sát các dân tộc này đều là những người đã không hiểu rằng Đức Chúa Trời trước đó đã hết sức kiên nhẫn chịu đựng các dân gian ác ấy hàng bao thế kỷ (Sa 15:16) và Ngài cũng đã rộng lượng ban cho họ cơ hội ăn năn hối cải. Ngài bày tỏ chính Ngài cho họ biết qua thiên nhiên (Ro 1:8-32; Thi 19:1-14), và họ đã có nghe nói đến những sự đoán phạt của Ngài giáng trên Ê-díp-tô là thể nào (Gios 2:8-14).

Những hành vi tôn giáo của họ hết sức bất nhân, tục tĩu rất ghê tởm, và chỉ có một cách để Đức Chúa Trời có thể cất đi ung nhọt gớm ghiếc ấy là Ngài phải xoá hết toàn bộ nền văn hoá này. Y-sơ-ra-ên có một công việc quan trọng cần làm cho Chúa, và sự hiện diện của những dân tộc gian ác kia chỉ là sự cám dỗ người Do-thái phạm tội mà thôi.


3. Ba-la-am và Hội thánh ngày nay (Dân 25:1-18)

Là dân sự Chúa ngày nay, chúng ta không nên nghĩ rằng những gì được tường thuật lại trong Kinh Thánh Cựu-ước đơn thuần là những câu chuyện lịch sử xa xưa rất lý thú chỉ để cho chúng ta đọc mà thôi. Mãi cho đến khi Kinh Thánh Tân-ước được viết ra, thì Kinh Thánh Cựu-ước vẫn là bản Kinh Thánh duy nhất mà Hội thánh Chúa ở thế kỷ đầu tiên đã dùng; nhờ nó mà họ được khích lệ và được khai sáng. Những sự kiện này trong lịch sử Do-thái được dùng làm những sự cảnh cáo chúng ta không được bất tuân với Đức Chúa Trời (ICo 10:1-13), đồng thời khích lệ chúng ta hãy xây dựng đức tin (He 11:1-40) và hy vọng của mình (Ro 15:4).


Ba-la-am được ba tác giả khác nhau trong Kinh Thánh Tân-ước đề cập đến: Phi-e-rơ (IIPhi 2:15-16), Giu-đe (Giu 1:11) và Giăng (Kh 2:14).


Con đường Ba-la-am đã đi (IIPhi 2:15-16):

Sách II Phi-e-rơ đoạn 2 tập trung nói về sự nguy hiểm của các giáo sư giả khi họ lén lút thâm nhập vào trong Hội thánh rồi dẫn đưa con cái Chúa đi đến chỗ sai lạc. Phi-e-rơ hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt những kẻ lừa gạt đó (c.3), nhưng ông cũng cảnh báo Cơ-đốc nhân chúng ta phải có cái nhìn thuộc linh sáng suốt để khỏi bị các tà thuyết thu phục. Những giáo sư giả này như Ba-la-am dù họ biết đường đúng cần phải đi nhưng họ lại không đi, họ có lòng tham vô đáy, và họ đã dẫn người ta đi vào sự suy đồi đạo đức (c.14). Thực vậy, khi bạn đọc phân đoạn Kinh Thánh này, bạn sẽ thấy những tính chất tiêu biểu đó của Ba-la-am đã được phơi bày rất rõ.


“Con đường Ba-la-am đã đi” là cách sống của ông, đó là một người hành nghề bói toán và cũng là một tiên tri giả. Động cơ của ông là để kiếm tiền, và ông đã tận dụng mọi cơ hội mình có không phải để hầu việc Chúa mà là để thoả mãn sự tham muốn của cải vật chất của mình. Mặt khác, ông đã tự bán mình cho sự thê mướn của kẻ nào trả giá cao nhất cho ông. Ông lợi dụng “đạo” chỉ để kiếm tiền và để che đậy lòng tham muốn đầy tội lỗi của mình mà thôi. Ông còn lợi dụng “đạo” để dụ dỗ người ta vào sự phạm tội.


Ba-la-am biết Đức Chúa Trời không hề muốn ông đi cùng với phái đoàn sứ thần đó và không được hầu việc cho vua Ba-lác, nhưng ông đã mưu mô thủ đoạn lẩn quanh ý chỉ đã được Đức Chúa Trời tuyên bố và đi đến Mô-áp. Một nhà truyền giáo người Anh tên là F. W. Robertson nói rằng, “Ông ta đi đến với Chúa chỉ để nhận nhiệm vụ của mình đã được thay đổi, chứ không phải đến để học”[77]

Những gì Ba-la-am đã nói ra qua môi miệng ông không quan trọng, quan trọng là vấn đề ông đang che giấu nhưng thực sự ông không thể che giấu được Đức Chúa Trời chút nào. Nếu Chúa không cho phép có sự cai trị trên đời sống của một người nào đó, thì Ngài sẽ luôn thắng thế và hoàn thành các mục đích của Ngài giống như nhau cả, nhưng còn kẻ đầy tớ bất tuân kia chính là kẻ thua. Đức Chúa Trời dùng “con vật câm” để quở trách Ba-la-am và cố điều khiển ông đi trên con đường đúng,nhưng tấm lòng Ba-la-am không bao giờ thay đổi. Việc nhìn thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va có lẽ làm ông khiếp sợ, nhưng điều đó vẫn không khiến ông đầu phục và tin cậy Chúa. Ba-lác hứa ban cho ông nhiều của cải và ông quyết đi đến đó để nhận bằng con đường này hoặc con đường khác.


Có khi nào chúng ta đi trên “con đường Ba-la-am đã đi” không? Đó là lúc chúng ta cố tình phản loạn, chống lại ý chỉ của Đức Chúa Trời đã được Ngài tiết lộ và ra sức làm thay đổi nó. Khi chúng ta có những động cơ hành động ích kỷ và hỏi, “Tôi phải làm gì để thoát ra khỏi con đường ấy?” là khi chúng ta khiến cho người khác phạm tội để chúng ta có thể kiếm lợi cho mình. Có lẽ Phao-lô đã nghĩ đến Ba-la-am khi ông viết ITi 6:9-10, những lời rất cần cho chúng ta ngày nay.

“Đạo” là “Con đường kinh doanh béo bở” ngày nay và rất dễ để cho các giáo sư, các nhạc sĩ, các nhân viên, các nhà văn và nhiều người khác nữa trong những ban ngành của Hội thánh ngày càng quan tâm tới để kiếm tiền và để được nổi danh hơn là để tìm kiếm các giá trị thuộc linh cùng những phẩm chất Cơ-đốc.


Sự sai lạc của Ba-la-am (Giu 1:11): Tương tự Phi-e-rơ, Giu-đe viết những lời cảnh báo Hội thánh về các giáo sư giả (c.3-4). Thực vậy, thư Giu-đe là sự phản hồi của những điều Phi-e-rơ đã viết trong II Phi-e-rơ đoạn 2, vì thế, Chúa đã ban cho chúng ta lời cảnh báo kép. Điều này cho chúng ta thấy các giáo sư giả thật nguy hiểm biết chừng nào, chúng ta phải có trách nhiệm lớn lao ra sao trong việc nhận biết và đánh bại bọn họ. Thật đáng buồn thay, có nhiều tự xưng mình là cdtn nhưng lại chẳng quan tâm gì đến các giáo huấn của Kinh Thánh và dễ dàng sa ngã trở thành nạn nhân của các thế lực và những sự tác động của bọn dị giáo.

Có một sự thật không được biết đến là hiện vẫn đang có nhiều thành viên tham gia các buổi thờ phượng sai trật lại là những người thuộc các Hội thánh chính thống. Những người thờ phượng này không hề cố gắng tìm kiếm cho được những linh hồn hư mất, bởi vì họ không có sứ điệp về sự cứu rỗi dành cho những người bị hư mất. thay vào đó,họ lại bắt những người mới tin Chúa đưa vào trong xích xiềng nô lệ (c.18-19).


Sự sai lạc của Ba-la-am là ông không chỉ nghĩ rằng ông có thể bất tuân với Đức Chúa Trời và trốn thoát khỏi Ngài, mà ông còn nghĩ rằng những người mà ông đã dụ dỗ đi vào trong tội lỗi ấy chắc chắn cũng sẽ trốn thoát được với ông. Các giáo sư giả trong thời Phi-e-rơ và Giu-đe cũng đã nhắm vào các con mồi là những người thiếu hiểu biết và cố tình dẫn họ đi vào tội lỗi (c.10,13,18; Giu 1:4,8,18-19) và ở mọi thời đại thì những việc này đều được che đậy dưới lớp áo choàng bên ngoài là “đạo”. Nếu sự xấu xa nhất là sự làm hư hỏng sai lạc điều tốt đẹp cao cả nhất thì những giáo sư giả này quả thật chính là những kẻ phạm tội tày đình nhất, vì họ lợi dụng niềm tin Cơ-đốc như một chiếc áo choàng để che đậy các công việc gian ác xấu xa của họ.


Dĩ nhiên, “phần thưởng” là động lực ở phía sau những việc họ làm (c.11), và điều này có nghĩa là một số thứ như: tiền bạc, quyền lực cai trị người khác, sự nổi tiếng, và những sự khoái lạc xác thịt của cá nhân. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đã lợi dụng chức vụ của mình để tư lợi (Gi 12:6) nhưng kết cuộc là sự tự vẫn.


Học thuyết của Ba-la-am (Kh 2:14): Đây là giáo huấn Ba-la-am đã ứng dụng khi ông khuyến dụ dân Y-sơ-ra-ên tham dự vào bữa tiệc thờ cúng hình tượng tại Phê-rơ Ba-anh và phạm vào những tội suy đồi đạo đức với người Ma-đi-an (Dân 25:1-18). Có câu nhấn mạnh cho điếu đó là, “Hễ nhập gia phải tuỳ tục. Đừng làm ra vẻ mình là người thiêng liêng quá, hỡi những người theo chủ nghĩa biệt lập. Hãy là người hàng xóm tốt và là người bạn dễ thương. Nói tóm lại, bạn đang sống trong một xã hội của những người theo thuyết đa nguyên, cho nên bạn cần phải học biết cách tôn trọng cái cách mà người ta tin và sống đó nhé!”. Nhưng theo quan điểm của Đức Chúa Trời, thì những gì Y-sơ-ra-ên đã làm đã sự thỏa hiệp và vi phạm giao ước mà họ đã lập với Chúa tại Si-na-i.


Vấn đề tại Phích-ga là các giáo sư giả đã thâm nhập trà trộn vào Hội thánh và phỉnh dỗ dân sự dự tiệc tại các đền thờ thờ lạy hình tượng. [78] Như tại Ba-anh Phê-rơ, tội của dân sự là thông đồng với thần tượng và làm những điều đồi bại vô đạo đức, nhưng các giáo sư giả đã không trình bày chúng theo cách ấy. Họ dạy rằng ân điển Đức Chúa Trời ban cho dân Ngài là cứ tự do phạm tội, Giu-đe gọi đó là “đổi ơn Đức Chúa Trời chúng ta ra việc tà ác” (Giu 1:4 Ro 6:1-23).


Dân Do-thái là tuyển dân của Đức Chúa Trời, được biệt riêng ra khỏi các dân khác để hầu việc và làm vinh hiển Ngài. Họ không được thờ lạy các thần của các dân láng giềng của họ và không được tham gia vào các lễ hội của dân ngoại. Khi họ vào Đất Hứa, Y-sơ-ra-ên đã phải phá dỡ các đền thờ am miếu của bọn dân ngoại xuống và hủy phá những tượng chạm (Phuc 7:1-20; Gios 23:1-16), vì sợ rằng họ sẽ bị cám dỗ xây khỏi Đức Chúa Trời hằng sống chân thật và bắt đầu học đòi bắt chước những người hàng xóm trần tục kia. Thật đáng buồn thay, điều ấy chính xác đã xảy ra kể từ sau khi Giô-suê chết (Cac 2:10-3:6).


Học thuyết của Ba-la-am là giả dối vì nó chủ trương cho phép người đã được cứu sống giống như người chưa được cứu, rằng ân điển của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta là chúng ta được quyền bất tuân Luật Pháp Ngài. Xuyên suốt Cựu-ước, sự thỏa hiệp với việc thờ hình tượng của Y-sơ-ra-ên được gôi là “sự thông dâm” và “sự mại dâm”, vì dân tộc đã được Đức Giê-hô-va “cưới” tại núi Si-nai rồi. (Gie 2:19-20; Gie 3:1-11; Exe 16:23; Os 1:1-2:32). Hình ảnh “cuộc hôn nhân” tương tự như vậy cũng được áp dụng đối cho Đấng Christ và Hội thánh trong thời Tân-ước (IICo 11:1-4; Eph 5:22-23; Gia 4:4; Kh 19:6-9). Con cái Chúa mà đi thỏa hiệp với tội lỗi thì người chồng hoặc người vợ phạm tội tà dâm vậy.


Bất luận có sự dạy dỗ nào dễ dàng cho phép phạm tội thì đó đều là tà thuyết, bởi vì Lời Chúa được ban cho chúng ta để khiến chúng ta sống đời sống thánh khiết (ITi 6:3-4; Tit 1:1). Phao-lô nhấn mạnh nhu cầu trong Hội thánh là cần có “những học thuyết đúng đắn, hợp lẽ”, tức là “đạo lành” (ITi 1:10; IITi 4:3; Tit 1:9; 2:1). [79]

Phao-lô đã ví sánh tà thuyết giống như sự phát triển di căn của căn bệnh ung thư vậy (IITi 2:17, NKJV).


Khi Y-sơ-ra-ên giết chết Ba-la-am cách đây hàng bao thế kỷ,họ vẫn không triệt tiêu được những lời dối giả mà ông ta đã để lại trong thế gian, những lời dối giả đó lại tiếp tục tác động đến dân Do-thái sau khi họ đã chinh phục Ca-na-an (Gios 22:15-18). Những lời dối giả này cũng đang tác động đến từng cá nhân con cái Chúa và các Hội thánh ngày nay, đồng thời căn bệnh ung thư là sự thoả hiệp sẽ làm cho chúng ta không còn dạn dĩ làm chứng cho Chúa và nó còn tiêu hủy sức mạnh thuộc linh của chúng ta nữa (IICo 6:14-7:1).


Chúng ta cần chú ý lời cảnh báo của F.W. Robertson: “Hỡi anh em yêu dấu, hãy cẩn thận! Hãy dè chừng khi có ai đó thường luôn miệng nói những lời hay ý đẹp, những lẽ thật chính thống, thế nhưng trong lòng người ấy chỉ chứa toàn những điều xấu xa đồi bại!”. [80]

“Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết,

Vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra.” (Ch 4:23 NKJV).





11. SỰ KHỞI ĐẦU MỚI (Dân 26:1-29:39; Dân 36:1-13)


Sự chuyển tiếp từ phân đoạn Kinh Thánh 25 đến phân đoạn 26 nhắc chúng ta nhớ lại sự chuyển tiếp từ phân đoạn 14 đến phân đoạn 15, vì trong cả hai trường hợp trên Đức Giê-hô-va đều chuyển từ sự đoán phạt thành sự thương xót, từ sự sửa trị thành sự phán hứa.

Tại Ca-đe Ba-nê-a và tại Ba-anh Phê-ô,Y-sơ-ra-ên đều có phạm tội trọng và Đức Chúa Trời đã sửa phạt họ, nhưng bởi ân điển Ngài, Ngài đã tha thứ cho sự bất tuân của họ và ban cho họ một sự khởi đầu mới. E-xơ-ra là thầy thông giáo đã nhấn mạnh lẽ thật này trong lời cầu nguyện xưng tội của mình khi ông nói, “hỡi Đức Chúa Trời của chúng tôi ôi! Thật Chúa chẳng có phạt chúng tôi cho đáng như tội chúng tôi, và đã ban cho chúng tôi được phần sót lại dường này” (Exe 9:13, NKJV); Đa-vít cũng có cảm nhận như vậy nên ông viết, “Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi. Cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi” (Thi 103:10 NIV).


Khi Y-sơ-ra-ên nán lại trong đồng bằng Mô-áp, Môi-se đã thực hiện đầy đủ bốn nhiệm vụ quan trọng để chuẩn bị Y-sơ-ra-ên cho những những điều đã trình bày lúc đầu.


1. Tu bộ binh sĩ (Dân 26:1-51)

Vào thời điểm Y-sơ-ra-ên tiến đến thung lũng Xê-rết (Dân 21:12), thì thế hệ lớn tuổi của dân sự đều đã chết hết (Phuc 2:14-15), ngoại trừ còn lại Môi-se, Ca-lép và Giô-suê (Dân 26:63-65); sau đó chẳng bao lâu Môi-se cũng đã qua đời. Y-sơ-ra-ên thực hiện một sự khởi đầu mới, nhờ bởi sự thành tín và ơn thương xót của Đức Chúa Trời. đó là lúc họ thực hiện cuộc điều tra dân số của thế hệ mới và bắt đầu hướng về tương lai.


Môi-se có hai mục đích trong đầu khi ông thực hiện cuộc tu bộ dân số lần hai. [81] Ở lần tu bộ thứ nhất (Dân 1:1-46), Môi-se cần biết có bao nhiêu người nam có khả năng, từ hai mươi tuổi sắp lên và có thể phục vụ trong quân đội được. Mục đích thứ hai của lần tu bộ dân số này là để xem thử có bao nhiêu đất mà mỗi chi phái sẽ cần khi Y-sơ-ra-ên chiếm được Ca-na-an và nhận lấy sản nghiệp của mình (Dân 26:52-56). Giô-suê, Ê-lê-a-sa thầy tế lễ thượng phẩm và mười vị lãnh đạo đại diện cho các chi phái ở phía đông sông Giô-đanh lo công việc phân chia sản nghiệp cho từng chi phái (Dân 34:16-29).


Cuộc tu bộ dân số lần thứ nhất cho biết tổng cộng 603.550 chiến sĩ có khả năng ra trận được (Dân 1:45-46), còn cuộc điều tra dân số lần hai có tổng cộng 601.730 người (Dân 26:51), hơi suy giảm một chút. Khi xem xét bạn sẽ thấy cứ mỗi người giờ đây thay thế vào vị trí của từng người đã chết trong 38 năm về trước thì số dôi ra chỉ vẻn vẹn có 1.820 người mà thôi, con số này thật đáng chú ý. Như khi Đức Chúa Trời đã khiến cho dân Ngài đông lên vô số kể trong những năm họ chịu đựng đau khổ tại Ê-díp-tô (Xu 1:7,12), bấy giờ Ngài lại làm cho họ sinh sôi nẩy nở như vậy trong thời gian họ đi lang thang nơi đồng vắng. Đức Giê-hô-va luôn thành tín giữ trọn giao ước mà Ngài đã hứa (Sa 12:2 Sa 15:5; Sa 22:17).


Những chiến sĩ có khả năng ra trận chủ yếu là ở nằm ở các chi phái Gát, Si-mê-ôn và Ru-bên, với chi phái Ru-bên có số lượng đông nhất là từ khoảng 59.300 người đến 22.2000 người. Ba chi phái này cùng nhau đóng trại ở phía nam đền tạm có lẽ thế mà họ đã tác động ảnh hưởng xấu lẫn nhau. Đa-than và A-bi-ram thuộc chi phái Ru-bên đã tham gia vào cuộc bạo loạn của Cô-rê đưa đến gần 15.000 người phải mất mạng (Dân 26:9-11; Dân 16:35,49).

Có lẽ trong số những kẻ phản loạn có nhiều người thuộc chi phái đó. Cũng một thể ấy, Xim-ri kẻ đã phạm tội kiêu căng ngạo mạn trong vụ Ba-anh Phê-rơ (Dân 25:6-15) vốn là quan trưởng của chi phái Si-mê-ôn. Tấm gương xấu xa của ông có lẽ đã ảnh hưởng đến nhiều người khác của chi phái Si-mê-ôn khiến họ cũng thờ hình tượng và làm những việc vô đạo đức như người Ma-đi-an đã làm và địều đó đã đem lại sự chết chóc cho họ.


Giu-đa, I-sa-ca và Sa-bu-lôn đã cho quân cắm trại ở phía đông đền tạm, hết thảy họ đều cho thấy họ tăng dân số lên rất đáng kể. Thật là lạ khi Ép-ra-im đã bị thất thoát 8.000 người trong khi đó chi phái anh em của nó là Ma-na-se thì tăng lên 20.000 người.


Đáng lý ra Đức Chúa Trời đã sai các thiên sứ đến truy quét sạch sẽ dân Ca-na-an ra khỏi đất đó ngay tức khắc, tuy nhiên Ngài lại chọn cách là hành động thông qua con người vào một thời điểm nào đó. Chắc chắn Đức Chúa Trời đã và đang nhẫn nại chịu đựng dân sự Ngài rất lâu, và chúng ta có thể xem đó là một ân huệ lớn lao của Đức Chúa Trời và hãy cùng đồng công với Ngài trong sự hành động của Ngài.


2. Chuẩn bị nhận lãnh sản nghiệp (Dân 26:1-51). (Dân 26:52-27:11; Dân 36:1-13)

Y-sơ-ra-ên không vượt qua sông mà vào Đất Hứa, hiển nhiên là nhờ bởi Đức Chúa Trời mà Môi-se đã sửa soạn cho các chi phái chuẩn bị chiếm đất cho mình. (Những từ “thừa kế” hoặc “sản nghiệp” được dùng 12 lần trong phần này). Ngoại trừ làm ứng nghiệm mạng lịnh của Đức Chúa Trời là hãy tiêu diệt người Ma-đi-an (Dân 25:16-18; Dân 31:1-11), Y-sơ-ra-ên không phải đánh thêm trận nào nữa cho đến khi họ đến Giê-ri-cô. Dẫu rằng bản thân ông không được phép đi vào Đất Hứa nữa, tuy nhiên ông đã dành hết những tuần lễ cuối cùng của cuộc đời ông vào công việc chuẩn bị cho thế hệ mới đi vào Ca-na-an và chiếm lấy đất mà Đức Chúa Trời hứa ban cho họ.


Sản nghiệp của từng chi phái (Dân 26:52-56): Sau khi đất đã bị chiếm, Đức Chúa Trời ban nó cho phần dân còn lại của Ngài, Giô-suê, Ê-lê-a-sa, và đại diện của mười chi phái (Dân 34:16-29) sẽ bắt thăm để quyết định phần đất nào là của chi phái nào (Gios 14:1-19:51). Theo tự nhiên, căn cứ vào số lượng người của từng chi phái mà phân chia lượng đất cho họ. Theo ký thuật trong sách Giô-suê thì có một số chi phái vui vẻ nhận lấy phần sản nghiệp mình và bước vào công việc xây dựng “quê hương”, nhưng cũng có những chi phái thì lằm bằm về phần đất mà họ đã được chia, và họ đi ra chiếm thêm các lãnh địa khác nữa, “Theo như đức tin các ngươi phải được thành vậy” (Mat 9:29). [82]


 Sản nghiệp của người Lê-vi (Dân 26:57-62): Từ cuộc điều tra dân số lần thứ nhất đến cuộc điều tra dân số lần thứ hai, số người Lê-vi có gia tăng chút chút từ 22.000 người (Dân 3:39) đến 23.000 người (Dân 27:62). Người Lê-vi không được ban đất mà Y-sơ-ra-ên đã chiếm, trái lại, họ bị rải ra khắp quốc gia tại 48 thành (Dân 35:1-5; Gios 21:1-45). Có chuyện như vậy là bởi ít nhất ba lý do.


-Thứ nhất, sự tan lạc của người Lê-vi là để làm ứng nghiệm lời tiên tri của Gia-cốp lúc ông hấp hối rằng hậu tự của Lê-vi sẽ phân rải ra khắp xứ (Sa 49:1-7). Lê-vi và Si-mê-ôn đã dùng bạo lực đối đã với người Si-chem (Sa 34:1-31), và Gia-cốp cảm thấy an toàn hơn là nên phân tán các con trai Lê-vi ra khắp nơi.


-Thứ hai, bởi sự phân tán ra khắp xứ, người đã có cơ hội tốt hơn để dạy Luật Pháp của Đức Chúa Trời cho nhiều người hơn và tác động đến họ khiến họ tin cậy nơi Chúa. Các bậc cha mẹ phải có bổn phận dạy dỗ Lời Chúa cho con cái mình (Phuc 4:1-10; Phuc 6:6-15), còn trách nhiệm của các thầy tế lễ và người Lê-vi là dạy dỗ dân sự hiểu được Luật Pháp Đức Chúa Trời và những phước hạnh có được nhờ vâng thep Luật Pháp ấy (Le 10:11; IISu 15:3; IISu 17:7; Ma 2:4-7).


-Lý do thứ ba người Lê-vi khiến không được thừa kế sản nghiệp là vì chính Đức Chúa Trời đã là gia nghiệp của họ rồi (Dan 26:62). họ có đặc quyền được hầu việc Chúa với vai trò là những thấy tế lễ, và họ được chia các sinh tế về các của lễ cùng với những phần mười mà dân sự đem dâng cho Chúa (Dân 18:20; Phuc 10:9; Phuc 12:12; Phuc 14:27-29; Phuc 18:1-2; Gio 13:14,33). Người Lê-vi dâng mình hoàn toàn để hầu việc Chúa và phục vụ dân sự Ngài, họ sống bời đức tin, nhận lãnh các nhu cầu cho đời sống họ từ tay Đức Chúa Trời thông qua dân Ngài.


Sản nghiệp của gia đình (Dân 27:1-11): Vì đất thuộc về Đức Giê-hô-va (Le 25:23-28), cho nên người Do-thái không thể phân chia chúng hoặc sử dụng chúng theo ý họ thích. Việc duy trì giữ lấy đất từ thế hệ này sang thế hệ khác là việc quan trọng đối với từng gia đình và từng chi phái mà gia đình đó trực thuộc. [83]


Tương tự các quốc gia khác thời ấy, Y-sơ-ra-ên là một xã hội đầy dũng khí mạnh mẽ của đấng mày râu, và ông bà tổ tiên họ đã để lại rất nhiều tài sản cho con cháu họ là những nam nhi. Người con trưởng nam sẽ nhận 2/3 sản nghiệp và những người con trai còn lại sẽ nhận mỗi người 1/3 (Phuc 21:15-17). Nếu một người nào đó không có con trai,thì người ấy sẽ để tài sản của mình lại cho người bà con gần nhất với người mà phải là nam, chứ không chứ không phải để lại cho con gái người. Khi có một đứa con gái trong gia đình lấy chồng, thì nàng sẽ nhận được của hồi môn từ cha nàng và sẽ không còn được sống trong nhà cha nàng nữa. Của hồi môn đó chính là sản nghiệp của nàng.


Năm người con gái của Xê-lô-phát thuộc chi phái Ma-na-se,đã cho rằng luật lệ này không công bằng, nên họ đã kiến nghị Môi-se, Ê-lê-a-sa cùng các quan trưởng hãy tổ chức cuộc hội họp để thay đổi luật ấy. Tại sao tên cha của những người con gái này đã bị xoá khỏi Y-sơ-ra-ên chỉ vì mỗi một việc là do ông không có con trai? Lẽ nào chỉ vì ông không có con trai mà gia đình ông lại bị đối xử bất công vậy sao?


Là một người khôn ngoan, Môi-se liền dâng vấn đề cho Chúa,giống như ông đã làm đối với vấn đề của người phạm tội báng bổ Chúa (Le 24:10-16) và người đã vi phạm vào ngày Sa-bát (Dân 15:32-36). Đức Giê-hô-va đồng ý với đề nghị của năm người nữ kia và Ngài tuyên bố rằng nếu người cha nào không có con trai thì để lại gia nghiệp cho các con gái mình.Nếu người ấy không có đứa con nào thì người có thể giao lại đất của mình cho người bà con nào gần nhất với mình.


Quyết định này cho phép con gái cũng được hưởng quyền thừa kế, việc này giải quyết được một vấn đề nhưng lại tạo ra vấn đề khác, các nhà lãnh đạo chi phái Ma-na-se đã đem trình với Môi-se (Dân 36:1-13). Nếu một người nữ nào đó thừa kế đất của cha mình để lại mà ập gia đình với người ở chi phái khác, thì đất đó sẽ được xem là một phần gia sản của chồng nàng. Vào năm Hân Hỉ (Le 25:8-24), đất ấy sẽ không được trả trở về cho gia chủ ban đầu của nó,làm như vậy thì sẽ có chi phái nào đó bị lấy đi của cải tài sản vốn thuộc về nó.


Chắc hẳn Môi-se cũng đã trình dâng việc này cho Chúa bởi vì ông có thưa, “tùy theo lời của Chúa” (Dân 27:5). Giải pháp giải quyết cho vấn đề này là người nữ có gia nghiệp kia phải lập gia đình với người nam trong cùng chi phái với mình. Thủ tục đơn giản này sẽ cho phép người nữ lập gia đình đồng thời cũng giữ lại được tài sản của gia đình gốc mình tại chi phái ban đầu. Năm người nữ kia tuân thủ theo mạng lịnh đó và mỗi người đều lập gia đình với mỗi người anh trai con bác mình.


Có nhiều phép tắc tương tự như vẫy thật ra không còn cần thiết nữa trong xã hội thời nay, nhưng chúng lại rất quan trọng đối với dân sự Đức Chúa Trời thời xưa. Chúa là Đấng sở hữu đất và Ngài cho dân Ngài được quyền sử dụng nó cho đến chừng nào họ còn vâng lời Ngài. khi dân Do-thái quay sang thờ hình tượng và làm ô uế đất, Đức Chúa Trời đã để cho các dân khác xâm chiếm xứ và đánh cướp đi hết mọi sản vật (sách Các Quan-xét). Khi tội lỗi của Y-sơ-ra-ên trở nên cực kỳ tàn ác đến đỗi Đức Chúa Trời không thể chịu đựng nổi nữa, Ngài liền đuổi dân Do-thái ra khỏi xứ và họ đã bị bắt làm phu tù tại Ba-by-lôn. Họ học được bài học ở đây là phải biết quý trọng những gì Chúa đã ban cho họ.


Đối với người Do-thái ở Ca-na-an, họ chiếm xứ để xây dựng gia đìng, tìm kiếm lợi nhuận và có được sự an toàn cùng với nhiều nhu cầu khác cho cuộc sống. Các nhà tiên tri thường xuyên lên án nhửng người giàu nhờ việc họ ra sức tích cóp của cải bằng cách cướp lấy đất của người nghèo (Es 5:8-10; Mi 2:1-3; Ha 2:9-12). Cuộc sống lý tưởng đối với một người Do-thái thời Cựu-ước là anh ta có quyền sở hữu đất của mình và có thể ngồi dưới cây vả của chính mình vui hưởng niềm vui gia đình cùng với những bông trái thành quả do chính anh ta làm lụng mà có (IVua 4:25; Mi 4:4).


-Dân 26:52-65; xem giải nghĩa Dân 26:1-51.

-Dân 27:1-11; xem giải nghĩa Dân 26:1-51.


3. Tuyển chọn người lãnh đạo mới (Dân 27:12-23)

Mặc dù vẫn còn khoẻ mạnh, nhưng giờ đây Môi-se đã được 120 tuổi (Phuc 31:2; Phuc 34:7) đó là lúc ông sẽ phải rời khỏi sân khấu cuộc đời.

Ông đã trung tín lãnh đạo dẫn dắt Y-sơ-ra-ên suốt 40 năm (Cong 7:23,30; Xu 7:7), đã phải mang lấy nhiều gánh nặng của dân sự, cùng sẻ chia các chiến thắng với họ và dạy dỗ Luật Pháp của Đức Chúa Trời cho họ. Chúa với Môi-se thường hay đàm đạo với nhau như thể hai người bạn, và Ngài đã không hề giấu diếm đầy tớ Ngài bất kỳ điều gì.


Môi-se và xứ (Dân 27:12-14): Bởi vì Môi-se và A-rôn không kính trọng Đức Giê-hô-va tại Mê-ri-a, cho nên họ không được phép vào Đất Hứa cùng với thế hệ mới (Dân 20:2-13). Môi-se cứ van nài Chúa cho phép ông được vào xứ (Phuc 4:23-29), [84] nhưng Ngài không mủi lòng. Môi-se bị trừng phạt không phải chỉ vì tội kiêu ngạo và nổi giận tại Mê-ri-a mà còn vì tội ông đã hủy đi hình bóng như được giải thích diễn giải trong sách Hê-bơ-rơ. Không phải Luật Môi-se mà là chính Chúa Giê-xu đã ban cho chúng ta sản nghiệp thừa kế thuộc linh (Sách Giô-suê He 4:8 và phân đoạn trên). [85]


Sau khi Môi-se phân phát sứ điệp được ký thuật trong Phục-truyền Luật-lệ ký, ông được phép lên núi Nê-bô (núi Phích-ga), tại rặng núi A-ba-rim, và quan sát toàn cảnh xứ mà Y-sơ-ra-ên đã thừa hưởng (Phuc 32:48-52 Phuc 34:1-4). Nhiều thế kỷ sau đó, Môi-se và Ê-li đã đứng trên Núi Hóa Hình trong sự vinh quang khi họ trò chuyện với Chúa Giê-xu về cái chết sắp xảy đến của Ngài trên thập tự giá (Mat 17:1-8); như vậy cuối cùng thì ông cũng thực hiện được việc vào Đất Hứa.


Môi-se và Giô-suê (Dân 27:15-23): Có rất nhiều lần trong thời gian ông thi hành chức vụ mình,Môi-se đã phải tự chứng minh cho mình là một người lãnh đạo chân chính qua việc ông luôn quan tâm đến dân sự nhiều hơn là quan tâm đến bản thân mình. Có hai lần Đức Chúa Trời tỏ ý muốn hủy diệt dân Do-thái và bắt đầu gầy dựng nên một dân tộc mới với Môi-se nhưng Môi-se xin Chúa đừng làm vậy (Dân 14:11-19; Xu 32:7-14), và ông thường cầu xin giùm cho dân sự khi sắp xảy ra sự đoán phạt của Chúa. Ông bị người ta hiểu lầm, bị chỉ trích, suýt nữa còn bị ném đá, nhưng ông vẫn cứ hằng trung tín chăn dắt dân sự mình.


Mặc dầu sắp qua đời, nhưng Môi-se vẫn không nghĩ đến bản thân mình mà chỉ lo nghĩ đến tương lai của dân tộc. Sự quan tâm lớn nhất của ông là xin Đức Chúa Trời ban cho dân Ngài một người lãnh đạo thuộc linh bởi vì họ là những con chiên (Dân 27:17; Thi 74:1; Thi 79:13; Thi 95:7; Thi 100:3; IISa 24:7), và chiên thì cần phải có người chăn (IVua 22:17; Xa 10:2; Mat 9:36; Mac 6:34).


Chắc chắn chúng ta không phải ngạc nhiên khi Giô-suê là người đã được Đức Chúa Trời chọn để thay vào chỗ của Môi-se, vì Giô-suê đã từng là người thân cận làm việc với Môi-se kể từ lúc dân tộc rời khỏi Ê-díp-tô. Ông là người đã lãnh đạo quân đội Do-thái đánh bại dân A-ma-lét (Xu 17:8-16), ông được bổ nhiệm làm người trợ lý cho Môi-se (Xu 24:13; Xu 33:11; Dân 11:28), ông cũng có đi cùng với Môi-se lên núi Si-na-i lúc Đức Chúa Trời ban Luật Pháp (c.13 Xu 32:17).

Là một trong số 12 thám tử, ông đã phối hợp với Ca-lép khích lệ động viên dân sự tiến vào Đất Hứa (Dan 14:6-9). Ông được đổ đầy Đức Thánh Linh (Dân 27:18 Phuc 34:9) và được rèn luyện tinh thần nghiêm khắc khi còn là nô lệ cho người Ê-díp-tô và khi hành quân trong đồng vắng. Nói chung về mọi mặt, ông là người rất hoàn hảo kế nhiệm Môi-se.


Môi-se nhận được sự kêu gọi mà sứ mệnh của mình một cách cá nhân tại đồng vắng của người Ma-đi-an (Xu 3:1-22), còn Giô-suê thì được Môi-se và thầy tế lễ thượng phẩm Ê-lê-a-sa bổ nhiệm công khai. Môi-se đặt tay mình trên người kế vị ông và trao cho quyền hạn mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông, và Ê-lê-a-sa dùng U-rim và Thu-mim giúp Giô-suê xác quyết đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời (Dân 28:30). Trong những tuần lễ tiếp theo, Môi-se giao trách nhiệm dần dần cho Giô-suê để dân sự nhận biết và học cách tôn trọng Giô-suê và vâng lời ông là người lãnh đạo đã được Đức Chúa Trời chọn. [86] Những lời uỷ nhiệm của Môi-se được tìm thấy trong Phuc 31:1-8, và Đức Chúa Trời đã ban cho Giô-suê sự khích lệ hơn nữa trong Gios 1:1-9.


Trong suốt những năm công tác cùng với Môi-se, Giô-suê đã học được một số nguyên tắc có giá trị về đời sống thuộc linh, những nguyên tắc đó ngày nay vẫn có thể áp dụng được. Khi bạn đọc sách Giô-suê, bạn sẽ thấy ông luôn quan tâm đến sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và sự an khang thịnh vượng của dân chúng, ông cũng rất cẩn thận vâng theo các mạng lịnh Chúa đã ban cho ông. Có hai lần Giô-suê không tìm kiếm ý Chúa, khiến ông đã đưa dân sự đến với thất bại nhục nhã (Dân 7:1-26; Dân 9:1-27), nhưng trong niềm tin, ông tin rằng đến giờ chót Đức Chúa Trời sẽ xoá đi những lỗi lầm của ông.


Dưới sự lãnh đạo của Giô-suê, dân tộc đã cùng nhau hành động đánh bại các dân ngoại ở Ca-na-an và sau đó thiết lập nên quốc gia Y-sơ-ra-ên. Trước lúc qua đời, Giô-suê cho gọi các nhà lãnh đạo đến và nhóm họp dân sự lại dâng mình và dâng gia đình mình cho Đức Giê-hô-va, ông khẳng định với họ, “nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va.” (Dân 24:15).


Một trong những trách nhiệm của người lãnh đạo Cơ-đốc ngày nay là phải nhìn thấy được vấn đề là thế hệ tiếp theo cần được trang bị để tiếp tục công việc Chúa (ITi 2:2). Mỗi Hội thánh địa phương sẽ là một thế hệ có khả năng bị tuyệt duyệt trừ phi chúng ta biết dạy dỗ huấn luyện, đào tạo ra những nhà lãnh đạo mới, nếu không chúng ta sẽ huỷ hoại mất tương lai của chính gia đình mình, của Hội thánh và của cả dân tộc.


4. Hướng đến sự thờ phượng (Dân 27:12-23) (Dân 28:1-29:39)

Kể từ lúc bắt đầu sống đời sống có quốc gia của mình, thì bí quyết thành công của Y-sơ-ra-ên chính là nhờ họ ở trong mối tương giao với Đức Chúa Trời được thể hiện bằng đức tin và sự vâng lời. Dân Do-thái là dân của giao ước Đức Chúa Trời, đã đượpc Ngài chọn để làm theo ý muốn và đường lối Ngài để cuối cùng đem lại Đấng Cứu Chuộc cho nhân loại. Từ khi dân Y-sơ-ra-ên định cư trong xứ, họ phải hết sức cẩn thận làm theo những lời chỉ dạy này, và họ thờ lạy Đức Giê-hô-va là Đấng Toàn Năng. Các dân ngoại sống xung quanh họ có thể nhìn thấy những hình thức thờ phượng của họ, nhưng Y-sơ-ra-ên phải đem dâng các của lễ một cách đúng đắn vào đúng thời điểm theo đúng cách thức, nếu không thì Đức Chúa Trời sẽ không ban phước cho họ (Gi 4:22).


Có một vài giáo huấn được ban ra ở đây thì trước đó đã được ban ra tại núi Si-nai, còn lại là những giáo huấn mới. Sự thờ phượng của họ được căn cứ vào lịch trình ghi lại những ngày đặc biệt đã được tóm lược trong Le 23:1-44, bắt đầu với lễ Sa-bát hằng tuần và kết thúc là lễ Lều Tạm. [87] Cụm từ “thức hương có mùi thơm” trong bản dịch KJV được dùng 7 lần trong hai phân đoạn Kinh Thánh này (Dân 28:2,6,8,13; Dân 29:2,6,8), được dịch là “hương vị làm hài lòng Ta” trong bản dịch NIV. Mỗi một của lễ được dâng lên với từng mục đích khác nhau, tuy nhiên mục tiêu cuối cùng của hết thảy cá của lễ là nhằm làm hài lòng Chúa và làm cho Ngài vui thích, Đức Chúa Trời tìm kiếm những người thờ phượng chân thật (Gi 4:23) và Ngài lấy làm vui thích về sự thờ phượng của dân sự có lòng kính mến Ngài.


Những của lễ hằng ngày (Dân 28:1-10): Cứ vào mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều, các thầy tế lễ phải dâng lên cho Chúa một con chiên con làm của lễ thiêu. Còn giáo huấn mới dạy rằng vào những ngày lễ Sa-bát, trong buổi sáng và buổi chiều, họ phải dâng lên hai con chiên con, (Xu 29:38-43; Le 1:1-17). của lễ thiêu tượng trưng sự dâng mình hoàn toàn cho Đức Giê-hô-va, và chúng ta nên bắt đầu mỗi và kết thúc mỗi ngày bằng việc dâng mình trọn vẹn cho Chúa (Ro 12:1-2). Đời sống Cơ-đốc nhân là “của lễ thiêu thường xuyên” dâng lên cho Chúa, nếu chúng ta không làm của lễ sống,thì chúng ta sẽ chỉ là của lễ chết mà thôi.


Những sinh tế phải dâng hàng tháng (Dân 28:11-15): Đây là chỉ dẫn mới cho các thầy tế lễ. Dân Do-thái dùng lịch ta (âm lịch), (Le 23:1-44) và “ngày trăng mới” được cả dân tộc tổ chức lễ hội rất vui vẻ sôi động (Dan 10:10 Thi 81:1-3)và ở từng cá nhân gia đình cũng có tổ chức nụa (ISa 20:5,18,24). Vào ngày thứ nhất của mỗi tháng, cùng với của lễ thiêu hằng ngày như thường lệ, các thầy tế lễ sẽ phải dâng thêm một của lễ thiêu nữa gồm có hai con bò tơ, một con cừu đực và bảy con chiên đực tuổi giáp năm, kèm theo của lễ chay và lễ quán. Cũng sẽ dùng một con dê đực làm sinh tế cho của lễ chuộc tội. Y-sơ-ra-ên sẽ phải thực hiện sự khởi đầu mới với mỗi tháng mới.


Các của lễ về những sự kiện tôn giáo hằng năm như thường lệ (Dân 28:16-29:40): Có năm sự kiện hằng năm khác nhau được kể ra ở đây, bắt đầu với Lễ Vượt Qua. Lễ Ngũ Tuần được tổ chức sau Lễ Vượt Qua 7 tuần (ngũ tuần có nghĩ là “ngày thứ 50” trong tiếng Hy-lạp), và còn được gọi là “Kỳ Lễ Của Các Tuần”.

Vào tháng bảy mỗi năm của người Do-thái thường được bắt đầu với Lễ Thổi Kèn (Dân 29:1-6; Le 23:23-25), báo hiệu sự khởi đầu cho một năm thường kỳ của người Do-thái (Rosh Hashana).

Vào ngày mồng mười tháng đó, Y-sơ-ra-ên cử hành Ngày Đại Lễ Chuộc Tội (Dân 29:7-11; Le 16:1-34; Le 23:26-32). Cách năm ngày sau đó, thì Lễ Lều Tạm sẽ được cử hành kéo dài một tuần lễ. Còn lễ hội mùa thu hoạch là thời gian vui vẻ của dân Do-thái, họ vào sống trong các căn lều để tưởng nhớ lại thời kỳ họ còn ở trong đồng vắng. Đối với từng sự kiện trong số những sự kiện đặc biệt này, các thầy tế lễ được chỉ dẫn dâng lên cho Chúa các của lễ thích hợp. Còn đối với Cơ-đốc nhân ngày nay, những sự kiện đặc biệt hằng năm này đều nói về Đấng Christ và về những việc Ngài đã làm cho chúng ta.


Lễ Vượt Qua (Dân 8:16-25; Xu 12:1-50): Lễ hội này được tổ chức vào ngày Y-sơ-ra-ên xuất khỏi Ê-díp-tô và nó còn đánh dấu cho sự bắt đầu một năm sinh hoạt tôn giáo của dân tộc (Xu 12:1-50 và chú ý c.2). Vào ngày 14 tháng đó, chủ hộ của mỗi gia đình đem giết một con chiên sau đó thiêu lên rồi ăn, nhưng vào ngày 15, các thầy tế lễ bắt buộc phải dâng trên bàn các của lễ theo kỳ định vào ngày trăng mới: của lễ thiêu gồm có hai con bò tơ, một con chiên đực, và bảy con chiên con đực, thêm một con dê đực nữa làm sinh tế cho của lễ chuộc tội. Các của lễ theo kỳ định được dâng giống nhau mỗi ngày trong suốt một tuần, là khoảng thời gian người Do-thái tổ chức Lễ Bánh Không Men và trút bỏ tất cả mọi dấu vết men khỏi từng gia đình họ.


Đối với con cái Chúa, Lễ Vượt Qua nói về sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá vì cớ tội lỗi nhân loại (Gi 1:29; ICo 5:7-8; IPhi 1:18-21; Kh 5:5-6). Men là hình ảnh tội lỗi, và dân sự được cứu chuộc của Đức Chúa Trời phải loại bỏ tội lỗi khỏi đời sống họ và họ phải là một dân tộc thánh khiết (ICo 5:1-8; Ga 5:7-9; Mat 16:6; Mac 8:15 Lu 12:1).


Lễ Ngũ Tuần (Dân 28:26-30; Le 23:15-22) được tổ chức cách năm mươi ngày sau Lễ Vượt Qua, tính từ Lễ Trái Đầu Mùa, là lễ được cử hành sau ngày Sa-bát tiếp theo sau Lễ Vượt Qua. [88] Thầy tế lễ dâng của lễ theo kỳ định cho ngày trăng mới và cho Lễ Vượt Qua. Cơ-đốc nhân tổ chức Lễ Ngũ Tuần là ngày Đức Thánh Linh giáng lâm như đã được hứa và làm phép Báp-têm cho kẻ tin để trở thành thân thể của Đấng Christ và ban quyền năng cho họ để họ thi hành chức vụ (Cong 1:1-5; Cong 2:1-4). Lễ Ngũ Tuần là ngày khai sinh ra Hội thánh.


Lễ Thổi Kèn (Dân 29:1-6; Le 23:23-25): Tiếng kèn được thổi lên vào ngày ngày thứ nhất của tháng thứ bảy báo hiệu sự bắt đầu một nămmới như thường lệ của Y-sơ-ra-ên. Trong ngày đó, người Do-thái không làm việc còn các thầy tế lễ thì lo dâng lên cho Chúa một của lễ thiêu gồm có một bò tơ đực, một chiên đực trưởng thành và bảy chiên con đực cùng với của lễ chuộc tội gồm một con dê đực.


Theo Dân-số ký đoạn 10, thì người ta thổi kèn vì một số lý do sau: để triệu tập mọi người nhóm hiệp lại (c.2), là tín hiệu báo động (c.5),hoặc làm thông tin thông báo xung trận (c.9). Ngày nay, người Do-thái hiện đang là một dân tộc bị tản lạc khắp nơi (Phuc 28; Le 26), nhưng rồi đây có ngày tiếng kèn kia sẽ vang lên kêu gọi họ trở về quê hương xứ sở của mình và sửa soạn họ cho sự tái lâm của Đấng Christ (Es 27:12-13; Mat 24:29,31). Khi tiếng kèn được thổi vang lên là lúc các Cơ-đốc nhân của Hội thánh Chúa đang chờ đợi Chúa được báo tin về sự tái lâm của Chúa Cứu Thế (ITe 4:13-18).


Ngày Đại Lễ Chuộc Tội (Dân 29:7-11; Le 16:1-36; Le 23:26-32): Đây là ngày lễ trọng thể nhất và thánh khiết nhất của Y-sơ-ra-ên, khi đó dân sự kiêng ăn và không làm bất cứ công việc nào hết. Thầy tế lễ dâng các của lễ theo kỳ định vào ngày đầu tháng, nhưng bản thân thầy tế lễ cũng sẽ được dâng lên để làm lễ chuộc tội cho chính mình theo nghi lễ được phát hoạ trong sách Lê-vi Ký đoạn 16. Đây là ngày duy nhất trong năm thầy tế lễ thượng phẩm được phép đi vào phía trong bức màn đến nơi chí thánh, nhưng ông phải mang theo lư hương đầy than đang cháy và huyết con sinh. Nghi lễ này trong Ngày đại Lễ Chuộc Tội mô tả công việc của Đức Chúa Giê-xu Christ khi Ngài chịu chết trên thập tự giá vì cớ tội lỗi chúng ta.


Lễ Lều Tạm (Dân 29:12-39; Le 23:33-43): Lễ hội mùa thu hoạch vui vẻ này bắt đầu sau Ngày Đại Lễ Chuộc Tội năm ngày và kéo dài một tuần lễ. Trong suốt tuần ấy, các thầy tế lễ dâng trên 200 sinh tế, bao gồm các của lễ thiêu hằng ngày (hai chiên con đực)là của lễ được dâng gấp đôi trong ngày Sa-bát. Lễ hội này hướng đến tương lai là khi Đức Chúa Trời sẽ làm ứng nghiệm lời hứa về vương quốc mà Ngài đã lập với Y-sơ-ra-ên và dân tộc sẽ vui hưởng xứ đẹp đẽ thịnh vượng của họ.


Cơ-đốc nhân ngày nay ít nhất cũng có thể hiểu được rằng có ba bài học rút ra từ các của lễ này.


-Thứ nhất, tất cả các của lễ đó đã được ứng nghiệm trong Đức Chúa Giê-xu Christ (He 10:1-18). Huyết con sinh tế không bao giờ có thể lấy đi được tội lỗi (c.1-4), nhưng huyết Đấng Christ thì sẽ làm cho chúng ta được sạch hết tội lỗi mình (IGi 1:7; Eph 1:7; Kh 1:5). Những sinh tế này được dâng giống nhau theo kỳ định thường xuyên; nhưng sinh tế là Đấng Christ tại đồi Gô-gô-tha thì được dâng lên chỉ một lần đủ cả để làm sự cứu rỗi đời đời cho chúng ta (He 9:24-28; He 10:11-14).


-Thứ hai, dân tộc không thể làm được gì nếu không có vai trò và công việc của các thầy tế lễ. Họ đại diện cho dân sự khi đến trước mặt Đức Chúa Trời và dâng các của lễ cho Ngài theo yêu cầu của Ngài. Ngày nay, Đức Chúa Giê-xu Christ chính là thầy tế lễ thượng phẩm đang ở trên trời của các Cơ-đốc nhân (He 4:14-16) và “vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” He 9:25). Sinh tế của Ngài tại đồi Gô-gô-tha là sinh tế cứu cánh mang tính chất quyết định, giờ đây Ngài là thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta, là Đấng Cầu Thay cho chúng ta (IGi 2:1-3), và cũng là Đấng Trung Bảo của chúng ta hiện đang ở trên thiên đàng (ITi 2:5; He 8:6 12:24).


-Thứ ba, những sinh tế này rất có giá trị. Chưa tính các phần sinh tế mà người ta đem dâng trong thì giờ thờ phượng cá nhân của họ, thì nội số chiên con đực đã bị giết vào ngày Lễ Vượt Qua đã là vô số kể rồi, mỗi năm các thầy tế lễ dâng 113 con bò đực tơ, 32 chiên đực trưởng thành và 1.086 chiên con đực! Nếu dân sự Đức Chúa Trời ở dưới Luật Pháp mà còn có khả năng dâng hiến cho Chúa được như thế, thì thử hỏi chúng ta là những người đã nếm trải được ơn thương xót của Ngài sẽ có thể dâng cho Ngài được bao nhiêu!


Chúng ta thật biết ơn vô cùng hệ thống tục lệ các của lễ được dâng cho Chúa thời xưa như vậy nay đã được ứng nghiệm trong Đức Chúa Giê-xu cả rồi, và giờ chúng ta có được đặc ân ra mắt Chúa bất cứ lúc nào nhờ bởi “đường mới và sống” (He 10:19-25).Là những thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể đem dâng lên cho Ngài các của lễ thuộc linh của chúng ta (IPhi 2:5,9) đó là: thân thể chúng ta (Ro 12:1-2),những người được thu phục về cho Đấng Christ (Ro 15:1-16:27), tiền bạc và những món quà bằng hiện vật (Phi 4:18), sự thờ phượng và sự ngợi khen (He 13:15), những việc lành việc thiện (c.16), tấm lòng tan vỡ (Thi 51:17), và lời cầu nguyện khẩn thiết rất tin quyết (Thi 141:1-2).


Chúng ta hãy noi theo Đa-vít không dâng cho Chúa những gì vô giá trị (IISa 24:24; Ma 1:6-11).

-Dan 28:1-31; xem giải nghĩa Dan 27:12-23.

-Dan 29:1-39; xem giải nghĩa Dan 27:12-2.





12. CHUẨN BỊ CHO CUỘC CHINH PHỤC (Dan 30:1-35:34)


Suốt 40 năm, Y-sơ-ra-ên đã đi từ nơi này đến nơi khác, họ là một dân tộc du mục đã đi đến Đất Hứa của mình. Họ sớm đi vào chinh phục đất đó và thiết lập nên quốc gia của chính mình, vì trách nhiệm này mà họ phải được chuẩn bị. Những phân đoạn Kinh Thánh cuối cùng của sách Dân-số ký, cùng với sách Phục-truyền Luật-lệ ký, đã ghi lại những lời chỉ dạy của Đức Chúa Trời qua Môi-se ban cho dân sự để sửa soạn họ cho kinh nghiệm mới mẻ đầy thách thức này.

Vì Y-sơ-ra-ên phải trở thành một dân thánh để làm vinh hiển Đức Chúa Trời, cho nên họ phải chấp nhận và áp dụng những nguyên tắc căn bản do Môi-se đề ra, và những nguyên tắc này vẫn còn cứ tiếp tục được duy trì trong các cộng đồng cùng với các quốc gia ngày nay.


1. Những lời thiêng liêng (Dân 30:1-6)

Trong Le 27:1-34, Môi-se có đề cập đến vấn đề hứa nguyện tự dâng mình và dâng tài sản cho Chúa, nhưng ở đây ông nói về những lời thề hứa cá nhân và chúng sẽ gây ảnh hưởng ra sao đối với các mối quan hệ. Phân đoạn Kinh Thánh cho biết rõ ràng rằng gia đình là nền tảng của quốc gia, rằng phải có quyền hành và sự phục tùng trong gia đình, lẽ thật đó là sự nối kết xã hội lại với nhau.


Có điều khác nhau giữa “sự hứa nguyện” và “lời thề”, nhưng cả hai đều được xem là không được vi phạm. Sự hứa nguyện là lời hứa sẽ làm việc gì đó cho Chúa, còn lời thề là lời hứa sẽ không làm điều gì đó. Bất luận người nào đó đã hứa nguyện hoặc thề rồi thì phải giữ lời, bởi vì những gì người đó đã nói ra là “nói với Chúa”. Khi dân sự quên rằng Đức Chúa Trời luôn nghe những gì họ nói, thì họ bị cám dỗ đi lừa gạt người khác, và những lời nói dối là nguyên nhân khiến cho kết cấu xã hội bị xé toạc ra từng mảnh (Phuc 23:21; Thi 76:11; Tr 5:1-70).


Khi những người nam đã hứa nguyện với Chúa, thì họ phải giữ lời và không ai có thể tự ý huỷ bỏ lời mình đã hứa, nhưng những người phụ nữ thì sao? Môi-se đề cập đến vấn đề thề thốt của những người nữ còn độc thân tại nhà họ (Dân 30:3-8), những phụ nữ trước đó đã từng lập gia đình (c.9) và những người đàn bà hiện đã lập gia đình (c.10-15). Nguyên tắc căn bản ở đây là nếu người nữ nào đang ở dưới quyền của cha mình hoặc chồng mình, thì người cha đó hoặc người chồng đó phải chấp thuận lời thề ấy cũng như sẽ có quyền hủy bỏ của nàng.


Đối với thiếu nữ chưa lập gia đình đang còn ở tại nhà mình (Dân 30:3-8): Nếu người cha của nàng có nghe được những lời nàng thề mà ông không có ý kiến gì, thì nàng phải giữ lời thề đó và thực hiện nó. Quyền không chỉ thể hiện qua lời nói mà còn thể hiện bằng sự im lặng. Trong trường hợp này, im lặng có nghĩa là đồng ý. Nhưng nếu người cha cho biết ông không chấp thuận lời thề ấy thì nó phải bị hủy bỏ. Còn nếu sau đó nàng đính hôn và vị hôn phu của nàng không có ý kiến gì về lời thề đó của nàng thì nàng phải giữ lời mình đã thề,thậm chí sau khi kết hôn, chồng nàng không chấp thuận, mà cho dù cha nàng có chấp thuận đi chăng nữa thì các lời thề ấy của nàng cũng sẽ bị hủy bỏ. Chính Chúa sẽ giải thoát nàng khỏi những sự ràng buộc có liên quan đến lời thề đó.


Đối với đàn bà góa và người đã li dị chồng (Dân 30:9): Theo Chúa thì những người này đã từng trải và đã trưởng thành cho nên họ có thể có những quyết định khôn ngoan, mặc dầu tuổi tác và kinh nghiệm không phải lúc nào cũng là yếu tố đem lại sự khôn ngoan. Nếu họ hứa nguyện với Chúa thì họ phải làm thành những lời hứa ấy. Môi-se không giải thích điều gì sẽ xảy ra nếu họ kết hôn lần nữa. Vì ở đây không có sự giới hạn đặc biệt nào cả,cho nên chúng ta có thể kết luận rằng những lời thề nguyện của họ thậm chí cả người chồng mới của họ cũng sẽ không có quyền hủy bỏ được.


 Đối với phụ nữ có chồng (Dân 30:10-16):

Nếu người chồng nghe những lời thề của nàng mà không ý kiến gì thì những lời thề đó sẽ trở nên ràng buộc vì im lặng có nghĩa là đồng ý, chấp thuận. Còn nếu người chồng công khai không đồng ý với những lời thề ấy và cấm đoán chúng thì chúng sẽ bị hủy bỏ. Tuy nhiên, nếu anh ta thay đổi ý định sau khi đã đồng ý, thì anh ta (chứ không phải người vợ) phải trả tiền phạt vì đã khiến nàng từ bỏ lời thề thiêng liêng của mình, và điều này có nghĩa là anh ta phải đem dâng một của lễ chuộc tội cho Đức Giê-hô-va (Le 5:4).


Có một vài lẽ thật quan trọng đã được viết ra để hình thành luật lệ này, chứ chí ít không phải là nhờ ở tài ăn nói. Đưa ra một lời hứa nguyện nào đó là tự ràng buộc mình vào với Chúa, cho dù người ta có nhận biết được điều đó hay không. Nền tảng xã hội ngày nay đang bị xói mòn bởi vì có nhiều lời hứa không được giữ, bất kể đó là những hợp đồng làm ăn chính thức công khai, những lời thề ước trong hôn nhân, những cam kết hiệp định về chính trị, hay là những lời của người đứng ra làm chứng. Chúng ta mong đợi Chúa giữ lời Ngài đã hứa, và Ngài cũng luôn trông đợi chúng ta giữ lời mình đã hứa. Tính chân thật là chất hàn gắn liên kết xã hội lại với nhau.


Lẽ thật thứ hai là tính chất quan trọng của quyền hạn và sự phục tùng trong xã hội cũng như trong gia đình. Mặc dù tất cả mọi người đều được tạo dựng một cách bình đẳng trước mặt Đức Chúa Trời và trước Luật Pháp, nhưng ở đây vẫn có nhiều mức độ quyền hạn và trách nhiệm mà chúng ta phải lưu ý (Eph 5:18-6:9). Người hầu gái chưa lập gia đình khi còn ở trong nhà cha mình phải chịu sự giám sát, quản chế của cha, còn khi đã lập gia đình rồi thì phải lệ thuộc chồng mình. Trước khi thề nguyện, người hầu gái cần có sự tư vấn của cha mình còn khi đã có chồng thì cần sự chỉ dẫn của chồng, nếu chỉ mới đính hôn thì sẽ phải xin ý kiến hôn phu của mình. Các mối quan hệ này đem đến những trách nhiệm, và hễ vội vàng đưa ra những lời cam kết thiếu khôn ngoan thì ắt sẽ lãnh nhận hậu quả là điều có thể phải trả giá đắt (Ch 20:25; Phuc 5:1-6).


2. Niềm tin chiến thắng (Dân 31:1-54)

Dân Y-sơ-ra-ên đã sai trật vì có dính líu với dân Ma-đi-an tại Ba-anh Phê-ô, còn dân ấy thì sai trật vì đã nghe theo những lời khuyến dụ tư vấn của Ba-la-am ra sức huỷ diệt Y-sơ-ra-ên. Hễ ai rủa sả Y-sơ-ra-ên thì sẽ bị Đức Chúa Trời rủa sả lại (Sa 12:1-3), và thời điểm đó đã đến là lúc Đức Chúa Trời trừng phạt người Ma-đi-an (Dân 16:1-18:32) [89] Trận đánh này sẽ là “cuộc tổng dợt có trang phục y như thật” chuẩn bị diễn tập cho các trận đánh mà Y-sơ-ra-ên sẽ đánh tại đất Ca-na-an. Nhưng đây cũng chính là trận đánh cuối cùng của Môi-se; kế đó ông sẽ gặp “kẻ thù sau chót” của mình là sự chết (ICo 15:26).


Trận đánh (Dan 31:1-10):

Trận đánh này là một phần của “cuộc thánh chiến” mà Đức Giê-hô-va đã tuyên bố chống nghịch lại người Ma-đi-an vì dân ấy đã dẫn Y-sơ-ra-ên đi vào tội lỗi. Chắc chắn Y-sơ-ra-ên phải chịu trách nhiệm về việc họ đã bất tuân đối với Đức Chúa Trời, tham gia cúng thờ hình tượng và làm những việc đồi bại vô đạo đức, cho nên Chúa phải trừng trị họ, còn dân Ma-đi-an là kẻ đầu têu gây nên những sự phạm tội như thế, do đó phải bị trừng phạt là điều hiển nhiên (Mat 18:7).

Hội thánh Chúa hiện nay không có lệnh của Chúa cho phép nhúng tay vào “các cuộc thánh chiến” (Gi 18:10-11,36) bởi vì kẻ thù của chúng ta không phải là thịt và huyết (Eph 6:10-24) và khí giới của chúng ta chính là linh năng từ Đức Chúa Trời (IICo 10:1-6). Gươm của Đức Thánh Linh là vũ khí duy nhất mà chúng ta cần phải dùng để phát huy sức mạnh chính nghĩa của Đấng Christ (Eph 6:17-18).


Chúng ta hãy xem đây là kiểu mẫu những trận giao chiến về quân sự mà Y-sơ-ra-ên sẽ phải trải qua tại Ca-na-an: Y-sơ-ra-ên sẽ nhận được những lời chỉ dẫn của Đức Chúa Trời và nhờ Chúa đi trước họ đem lại chiến thắng cho họ. Chúng ta được biết rằng Giô-suê là người lãnh đạo quân đội, còn Phi-nê-na con trai thầy tế lễ thượng phẩm , cũng có mặt ở đó cùng với các thầy tế lễ lo khiêng hòm giao ước đi và thổi kèn vang lên (Dan 10:1-10). chính Phi-nê-a là người tỏ ra rất can đảm và hết lòng tôn kính Đức Chúa Trời khi tội lỗi ở Ba-anh Phê-ô xâm nhập vào trại quân Y-sơ-ra-ên (Dân 25:7-15).


Đây quả là một chiến thắng vĩ đại của Chúa vì tất cả mọi người nam trong dân Ma-đi-an đều bị giết chết, thế nhưng chẳng hề có một người lính Do-thái nào bị chết trong trận chiến ấy cả (Dân 31:7,48-49). Rất nhiều tướng tá của kẻ thù bị giết chết trong trận đánh đó, sau trận đánh, Giô-suê giết luôn năm vua của người Ma-đi-an, giết cả Xu-rơ cha của Cốt-bi là người nữ đã cùng Xim-ri phạm tội trong trại quân Y-sơ-ra-ên (Dân 25:14-15). Ba-la-am, kẻ chủ mưu bày ra những sự cám dỗ tại Ba-anh Phê-ô cũng đã bị giết chết (Dân 31:8,16). Y-sơ-ra-ên thiêu hủy hết các thành quách phố xá của dân Ma-đi-an và chiếm lấy lãnh thổ của họ, sau đó giao nó cho chi phái Ru-bên (Gios 13:15-23).


Sự tẩy uế (Dân 31:12-24): Vì không tuân theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời, các anh em binh sĩ Y-sơ-ra-ên không chịu tiêu diệt triệt để hết tất cả dân Ma-đi-an, nhưng họ đã bắt dẫn phụ nữ và trẻ con đem về làm tù binh. Việc này khiến Môi-se nổi giận, vì sự có mặt của đám đàn bà con gái Ma-đi-an trong trại quân Y-sơ-ra-ên đã tạo thêm cơ hội cho sự phạm tội là điều suýt hủy diệt Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên vừa thắng trận xong nhưng giờ đây họ lại đang ở trong mối hiểm họa sắp đánh mất chiến thắng của mình, một lỗi lầm mà dân sự Đức Chúa Trời một lần nữa lại tái phạm như họ đã phạm xuyên suốt trong nhiều thế kỷ trước đó.


Môi-se ra lịnh giết hết bọn trẻ em trai và tất cả đàn bà con gái nào không còn đồng trinh. Những người nữ nào còn đồng trinh thì được giữ lại làm đầy tớ hầu hạ người ta. [90] Hễ những người lính nào đã bị ô uế trên chiến trường do có đụng đến các xác chết, thì họ đều bắt buộc phải được tẩy uế theo luật định (Dân 19:11-13), Môi-se cũng áp dụng luật này đối với các tù binh là nữ mà giờ đây họ đã có thiện chí sống theo luật của người Do-thái. Những của cải tài vật vô số kể mà người ta đã lấy được của dân Ma-đi-an cũng được đem tẩy uế toàn bộ bằng lửa hoặc bằng nước, phải mất cả tuần lễ mới hoàn thành xong công việc tẩy uế này.


Cho dù ở trong thời bình hay thời chiến, thì vấn đề quan trọng đối với dân Y-sơ-ra-ên vẫn là họ phải luôn luôn giữ mối tương giao thánh khiết với Đức Giê-hô-va. Họ phải biết phân biệt điều thánh khiết và bất khiết, họ không được phép thoả hiệp, lẫn lộn. Công việc tẩy uế kéo dài suốt một tuần lễ này sẽ nhắc nhở 12.000 chiến sĩ và dân chúng trong trại quân rằng họ ắt sẽ phải đương đầu với nhiều nguy hiểm tại Ca-na-an, bởi vì những nguy hiểm ấy không chỉ là các kẻ thù mà còn là những kẻ phạm tội bất khiết thường hay cám dỗ khuyến dụ họ và làm ô uế họ. Môi-se muốn đề phòng ngăn chặn không để xảy ra thất bại nữa như ở Ba-anh Phê-ô.


Những chiến lợi phẩm trong trận đánh (Dân 31:25-47): Số người và gia súc mà dân Y-sơ-ra-ên đã cướp được là những chiến lợi phẩm chiến tranh được đem phân chia như sau: Các anh em chiến sĩ nhận một nửa, dân chúng ở lại trong trại nhận một nửa, và cả quân lẫn dân đều phải trích một phần của mình ra dâng cho Đức Chúa Trời. Vì nói cho cùng, chính Chúa là Đấng đã ban chiến thắng cho họ. Hết thảy quân binh được lịnh phải đem dâng cho Chúa một 1/500 là người hoặc gia súc, tổng cộng được 840 phần; còn quần chúng thì dâng 1/50 là người hoặc gia súc, tổng cộng được 8.400 phần.

Số gia súc và người này được giao cho thầy tế lễ thượng phẩm Ê-lê-a-sa để dùng vào các công việc có cần của đền tạm. Đám phụ nữ được giao cho công việc trợ giúp các thầy tế lễ và người Lê-vi (Xu 38:8; ISa 2:22), là những người mà chúng ta tin chắc rằng đám phụ nữ ấy sẽ học biết được về Đức Chúa Trời hằng sống chân thật của Y-sơ-ra-ên và vâng theo Ngài.


Lễ vật đặc biệt (Dân 31:48-54): Vì chỉ có 12.000 người ra trận tấn công dân Ma-đi-an (c.5),cho nên ắt hẳn là tối đa cũng chỉ có chừng 132 quan tướng mang những lễ vật đặc biệt đến cùng Môi-se để dâng chúng cho Chúa. Tuy nhiên, có thể một vài người chỉ huy nào đó phải gánh trách nhiệm quản lý chỉ đạo quân số vượt hơn 100 binh sĩ theo quy định. Khi các quan tướng kiểm tra sĩ số lính của mình sau khi đánh giặc trở về, họ nhận thấy rằng không hề thiếu,mất một người lính Y-sơ-ra-ên nào cả! Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm được phép lạ như thế và các quan tướng Y-sơ-ra-ên muốn bày tỏ lòng biết ơn Chúa của họ ra với Ngài.

Họ liền chọn ra một lễ vật đặc biệt trong số những chiến lợi phẩm mà họ đã nhận được về phần mình rồi đem dâng lễ vật ấy vào nơi thánh của Đức Chúa Trời. Chúng ta cần có thứ gì đó đem làm những lễ vật dâng cho Chúa vì đó là bổn phận của chúng ta, hơn thế nữa là bởi vì chúng ta yêu Chúa và ngưỡng mộ những điều Ngài đã làm cho chúng ta.


Khi các quan tướng bảo họ sẽ dâng lễ vật cho Chúa “đặng chuộc tội” cho mình trước mặt Chúa (c.50), ý họ muốn nói rằng lễ vật bằng vàng ấy của họ có thể sẽ giúp cứu được linh hồn họ chăng (Thi 49:6-9; IPhi 1:18-19). Theo Xu 30:11-16, cứ mỗi lần có cuộc điều tra dân số trong Y-sơ-ra-ên (và có một lần vừa mới xảy ra - Dân 26:1-65), thì tất cả những người nam từ 20 tuổi trở lên mỗi người phải đem nửa siếc-lơ bạc làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va.việc này được biết đến như là “món tiền đền mạng”, và số bạc ấy được người ta dùng vào việc đúc các lỗ trụ giúp cho việc tao thành khung đền tạm (Xu 38:21-28).

Sau khi nhận thấy được Chúa khoan hồng độ lượng giữ lại mạng sống họ, 12.000 binh sĩ muốn dâng thêm “tiền đền mạng” cho Ngài để cảm tạ Ngài. Thay vì mang bạc đến, họ đã đem trên 400 cân vàng đến dâng cho Chúa, và Môi-se với Ê-lê-a-sa đã nhận số vàng này đưa vào trong nơi thánh.


3. Lòng trung thành của dân sự đối với nhau (Dân 32:1-42)

Một tập thể hoặc một quốc gia, dân tộc nào muốn có sự thành công thì không chỉ tuỳ thuộc vào việc chúng ta phải biết giữ lời của mình và nhờ cậy Đức Chúa Trời ban cho chiến thắng; mà điều ấy còn tuỳ thuộc vào lòng trung thành tín nghĩa của mọi người đối với nhau nữa. Có lẽ cụm từ “chủ nghĩa yêu nước” của chúng ta là sự mô tả hay nhất cho thái độ này, miễn là chúng ta đừng bao giờ biến tình yêu quê hương đất nước của mình thành tình yêu thần tượng. [91]


Lời thỉnh cầu (Dân 32:1-5): Các chi phái Ru-bên và Gát là những người sống bằng nghề chăn đàn gia súc, cho nên họ thỉnh cầu được phép định cư ở phía đông bên kia sông Giô-đanh là nơi đất rất màu mỡ phì nhiêu có nhiều cỏ tốt để nuôi các bầy đàn gia súc. Phân nửa chi phái Ma-na-se về sau này sẽ cùng nhập vào chung với họ (c.33, Gios 13:8-33). Chúa đã ban tất cả vùng đất đó cho dân sự Ngài cai quản (Dân 21:1-34), vì thế việc của họ bây giờ là lo xây dựng củng cố và chiếm lấy nó. Quả thực, những chi phái này về sau đó đã phân cách với các chi phái còn lại của dân tộc bởi sông Giô-đanh, tuy vậy họ chỉ xem điều này như một sự bận tâm không đáng mà thôi.


Phản ứng của Môi-se (Dân 32:6-15): Có lẽ nhà làm luật vĩ đại này đã phản ứng quá vội vàng (Ch 18:13), bởi vì ông có ý nghĩ trước hết là các chi phái này đang từ bỏ mục đích sự nghiệp chung. Dĩ nhiên, lời họ nói: “Xin đừng biểu chúng tôi đi ngang qua sông Giô-đanh” (Dân 32:5) có lẽ đã khiến Môi-se có ấn tượng rằng họ đang sẵn sàng ổn định cuộc sống.


Môi-se lúc nào cũng hết lòng yêu mến dân tộc, ông luôn hằng mong cả dân tộc cùng vượt qua thách thức lớn là chinh phục và chiếm lấy Đất Hứa. Đối với Môi-se, tội lỗi gớm ghê nhất xảy ra trên bất kỳ chi phái nào vào lúc này chính là sự thối lui khỏi cuộc chiến và chấp nhận thất bại chứ không tham gia vào cuộc chinh phục xứ nữa.

Tương tự như 10 thám tử hèn nhát đã làm cho cả dân tộc bị nhụt chí tại Ca-đe Ba-nê-a kỳ trước, và dẫn mọi người đến với 38 năm vô ích vô nghĩa, thì giờ đây hai chi phái này lại đang làm cho Y-sơ-ra-ên mất hết can đảm từ bỏ ý định khi họ đang đứng trước biên giới lãnh thổ sản nghiệp của mình. Hơn thế nữa, thái độ ích kỷ cá nhân của họ cũng đã chọc giận Đức Chúa Trời, cho nên Ngài có thể sai sự đoán phạt đến như Ngài đã làm trước đó lúc dân tộc phạm tội. Thậm chí còn tội tệ hơn, Ngài sẽ lìa khỏi dân tộc và bỏ mặc họ phải chết mất trong đồng vắng.


Lời thanh minh và biện pháp quân sự của hai chi phái (Dan 32:16-19): Chắc chắn chi phái Ru-bên và Gát đã không lấy làm vui vẻ gì về điều họ được gọi là “dòng dõi tội tội nhân” (c.14 NIV) như vậy, nhưng sai phạm của họ ở đây là họ đã đưa ra lời đề nghị,thỉnh cầu cẩu thả, thiếu suy nghĩ như thế. Bây giờ họ phải cẩn thận giải thích cho Môi-se hiểu rằng họ đang sẵn sàng chuẩn bị tiến vào xứ và cùng kề vai sát cánh chiến đấu với các anh em mình cho đến khi chiếm được Ca-na-an. Cho đến đến khi nào các chi phái còn lại đã nhận được sản nghiệp mình rồi thì hai chi phái này (và sau đó có thêm phân nửa chi phái Ma-na-sa nữa) mới quay về định cư tại vùng đất phía đông bên kia sông Giô-đanh. Tuy nhiên, trước hết họ muốn xây dựng các thành phòng thủ thật vững chắc để bảo vệ vợ con mình và những trại chăn nuôi gia súc. Sau đó, họ sẽ phối hợp cùng các chi phái còn lại vượt ngang qua sông Giô-đanh chiến đấu với quân thù.


Sự ký hiệp ước (Dan 32:20-42): Môi-se nhắc lại những lời người của chi phái Gát và chi phái Ru-bên đã hứa, ông cũng có đưa ra thêm lời cảnh cáo này: Nếu họ không giữ lời tức là họ đã phạm tội chống nghịch Đức Giê-hô-va, và tội lỗi đó của họ ắt sẽ săn đuổi theo họ luôn! Cụm từ “tội chắc sẽ đổ lại trên các ngươi” (c.23) thường được dùng trong những lời thỉnh cầu của người truyền bá Phúc-Âm, và người ta có thể xem đó là lời mời gọi; thế nhưng theo xu hướng ban đầu thì nó là lời khuyến cáo dân sự Đức Chúa Trời. Họ phạm tội không giữ lời mình thề nguyện và không sẵn lòng trợ giúp các anh chị em mình trong những công việc Chúa đã kêu gọi họ làm.


Vì Môi-se sẽ không còn sống cho đến khi dân tộc vượt qua sông Giô-đanh, cho nên ông gọi Ê-lê-a-sa, Giô-suê và các vị lãnh đạo của các chi phái đến bảo họ lập một hiệp ước. Trách nhiệm của họ là cùng nhau lo liệu tạo điều kiện cho các chi phái ở phía bờ đông sông Giô-đanh giữ lời mình đã hứa vượt sông Giô-đanh chiến đấu với các dân ở Ca-na-an. Đất đai họ chiếm được sẽ thuộc về họ, nhưng nếu họ bội ước thì họ sẽ mất hết.


Dân tộc vẫn có thể nán lại đợi hai chi phái ấy cùng một nửa của một chi phái nữa cùng dời vào trong đất của họ, đánh bại các kẻ thù còn sót lại, và đưa gia đình với bầy vật của họ đến nơi sinh sống ổn định an toàn. Thế nhưng chúng ta không thể không thắc mắc liệu những chi phái đã quyết định chọn ở lại bên bờ đông sông Giô-đanh kia là điều có khôn ngoan hay không. Họ ở bên ngoài xứ được hứa và họ phân rẽ khỏi các chi phái còn lại của dân tộc. Họ đã chọn cho mình quyết định như vậy chỉ vì dựa trên mục đích cá nhân của họ là: vì đất ở nơi đó tốt tươi màu mỡ, thuận lợi cho bầy vật của họ. Giống như Lót, họ đang bước đi bởi mắt thấy chứ không phải bởi đức tin (Sa 13:10-11). Họ có giữ lời hứa, tuy nhiên dù thế nào đi chăng nữa thì địa điểm bên kia sông Giô-đanh mà họ chọn đó cũng đã nẩy sinh ra một số vấn đề (Gios 22:1-34).


Theo sách Hê-bơ-rơ đoạn 4, việc chiếm lấy sản nghiệp nơi Đất Hứa là sự minh họa về hai cách khác nhau mà Cơ-đốc nhân ngày nay đã thể hiện có liên quan đến ý muốn của Đức Chúa Trời và sản nghiệp mà Ngài hứa ban cho chúng ta hiện tại trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Một số người giống như thế hệ tổ phụ của người Do-thái đã chết mất trong quá trình họ đi lang thang lưu lạc và không bao giờ vào được Đất Hứa cả. Số còn lại thì giống 10 thám tử đã đến dò xét xứ tận mắt nhìn thấy sự giàu có trù phú của xứ, thế nhưng họ lại thất bại không vào được xứ. Các chi phái ở phía bờ đông sông Giô-đanh có vào được xứ nhưng rốt cuộc đã không ở lại đó. Họ thích sống ở vùng biên giới ấy hơn và phát triển nghề chăn nuôi gia súc của mình. Đức Chúa Trời muốn dân sự Ngàitrở nên giống như thế hệ mới của người Do-thái có lòng tin cậy Chúa, bước vào Đất Hứa, giành lấy chiến thắng và vui hưởng các phước hạnh của Ngài.


4. Quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời (Dân 33:1-49)

Đức Giê-hô-va hạ lệnh cho Môi-se hãy ghi lại tên các địa danh mà Y-sơ-ra-ên đã đóng trại trong suốt cuộc hành trình họ đi trong đồng vắng. Có 40 địa danh đã được kể ra, bắt đầu là Ram-se ở Ai-cập (c.3) và kết thúc là đồng bằng Mô-áp đối ngang Giê-ri-cô (c.49). Cuộc xuất hành khỏi Ê-díp-tô của Y-sơ-ra-ên được ký thuật trong câu 3-4, và cuộc hành quân của họ cùng với sự kiện họ vượt Biển Đỏ được nhắc đến trong câu 5-8. Câu 9-15 đưa Y-sơ-ra-ên từ Ma-ra đến núi Si-na-i, còn câu 16-36 thì ghi lại từ núi Si-na-i đến Ca-đe, là nơi vì cớ vô tín mà Y-sơ-ra-ên đã thất bại không vào được Đất Hứa. Ba mươi tám năm lang thang lưu lạc của họ rơi vào giữa câu 36-37 và kế đó là đi vào sự yên lặng. Chặng đường đi từ Ca-đe đến đồng bằng mô-áp được ký thuật trong câu 37-49.


Tuy nhiên ở phân đoạn này còn có điều đáng nói hơn bên cạnh việc nó đã kể ra tên các địa danh; đó là lời chứng về quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời trong mối quan hệ với dân sự Ngài. Như A.T.Pierson đã từng nói rằng: “Chiến thắng luôn là câu chuyện của Ngài”. Đức Chúa Trời không chỉ viết nên lịch sử; mà Ngài còn là Đấng làm nên lịch sử và Ngài cho thấy kế hoạch của Ngài đã được thực hiện ra sao. “Mưu của Đức Giê-hô-va được vững lập đời đời, Ý tưởng của lòng Ngài còn đời nầy sang đời kia” (Thi 33:11 NKJV). Khi Y-sơ-ra-ên không để cho Đức Chúa Trời cai trị họ, Ngài đã lìa bỏ họ. Y-sơ-ra-ên đã đánh mất phước hạnh của mình còn Chúa thì vẫn thực hiện được các mục đích của Ngài.


Không có khó khăn trở ngại nào là quá lớn đối với Đức Chúa Trời. Ngài mở Biển Đỏ ra và dẫn dân Ngài vượt ngang qua đó, rồi Ngài đã khép nó lại chôn vùi đoàn quân Ê-díp-tô đang truy sát ở phía sau. Khi dân Ngài gặp nguy hiểm, Đức Chúa Trời liền ban cho họ chiến thắng các kẻ thù họ. Khi họ khát, Ngài ban nước cho họ, và mỗi buổi sớm mai Ngài lại ban bánh Ma-na từ trời xuống nuôi sống họ.


Trong suốt cuộc hành quân này, thế hệ lớn tuổi đều chết cả và thế hệ mới kế tục tiến bước. Mi-ri-am chết tại Ca-đe (Dan 20:1) và có người nữ khác thay thế hướng dẫn ca đoàn. A-rôn qua đời tại núi Hô-rơ (c.23-29) và con trai người là Ê-lê-a-sa trở thành thầy tế lễ thượng phẩm. Trước khi Môi-se chết, ông đã chỉ định Giô-suê làm người kế nhiệm.Nhưng cho dù có những sự thay đổi như vậy, thì Đức Chúa Trời vẫn không hề thay đổi và Ngài không bao giờ bỏ rơi dân sự Ngài. “Lạy Chúa, từ đời nầy qua đời kia Chúa là nơi ở của chúng tôi” (Thi 90:1).


Quyền cai trị tối cao của Đức Chúa Trời không loại bỏ, hủy diệt những tính cách, sở thích riêng hoặc trách nhiệm của con người. Chúa quá vĩ đại đến nỗi Ngài có thể cho phép chúng ta tự do chọn lựa nhưng Ngài vẫn hoàn thành được mục đích của Ngài. Ngài quả là Đức Chúa Trời quyền năng cao cả biết bao! Phao-lô đã viết những lời thật tuyệt vời: “Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời! Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được!” (Ro 11:33).


5. Điều chắc chắn về sản nghiệp (Dân 33:1-49) (Dân 33:50-35:34).

Vùng Ca-na-an được đề cập 16 lần trong phân đoạn này, và điều nhấn mạnh ở đây là Y-sơ-ra-ên sẽ tiến vào xứ chiếm lấy phần sản nghiệp đã được hứa này cho mình. Đức Chúa Trời muốn dân sự biết rằng sự trì hoãn suốt 38 năm vẫn không thay đổi được các kế hoạch hoặc hủy bỏ các mục đích của Ngài. Phần này mở ra bằng Chúa phán rằng: “Khi nào các ngươi đã đi ngang qua sông Giô-đanh đặng vào xứ Ca-na-an” (Dan 33:51 NKJV). Đây là lời đầy khích lệ đối với họ biết bao!


Những cư dân trong vùng (Dan 33:50-56): Đức Chúa Trời muốn cuộc xâm chiếm xứ Ca-na-an của Y-sơ-ra-ên là một cuộc chinh phục toàn diện, triệt để. Y-sơ-ra-ên phải đánh đuổi các dân bản xứ ra khỏi đó hết, phải phá huỷ các bàn thờ, am miếu, tượng chạm, và sau đó phân chia xứ ra cho các chi phái. Mạng lịnh này không có gì mới; bởi vì Chúa có lần đã bảo họ như vậy rồi lúc còn ở núi Si-na-i (Xu 23:20-33; Xu 34:10-17). Môi-se cũng có nhắc lại mạng lịnh trên trong thông điệp giã từ của ông gởi cho dân sự (Phuc 7:1-26; Phuc 12:1-3).


Vậy còn có những lý do nào phải tiêu diệt sự gian ác của họ (Sa 15:15-16; Le 18:24-28).

-Họ trở nên xấu xa độc ác ra sao và điều gì đã xảy ra như là hậu quả do họ gây nên thế nào, đã được mô tả trong Ro 1:17-32. Đức Chúa Trời hết sức nhẫn nhịn chịu đựng họ suốt nhiều thế kỷ, và giờ đây thời điểm đã đến cho sự đoán phạt của Ngài giáng xuống họ.


-Lý do thứ hai là để dọn đường sạch sẽ cho các chi phái Y-sơ-ra-ên tiến vào nhận lãnh sản nghiệp của mình (Dân 33:54). Tương tự một nhà thầu xây dựng phải phá dỡ và đập bỏ những nhà cửa cũ nát, dọn dẹp đất cho sạch sẽ và xây lên đó công trình mới theo cấu trúc mới, do đó Đức Chúa Trời phải dẹp bỏ xã hội người ngoại giáo ở Ca-na-an để dân Ngài có thể chuyển vào đó xây dựng một quốc gia làm vinh hiển Ngài. Đất Hứa sẽ là sân khấu để qua đó Đức Chúa Trời có thể phô bày ra quyền năng Ngài, để Ngài đổ các ơn phước của Ngài xuống, rồi Ngài sẽ ban lẽ thật của Ngài ra và sẽ có ngày Ngài sai Con Ngài đến chịu chết vì cớ tội lỗi nhân loại.


-Lý do thứ ba để tuyệt diệt các dân ngoại ấy là nhằm loại bỏ sự cám dỗ ra khỏi dân Y-sơ-ra-ên vì họ có xu hướng muốn thờ lạy hình tượng (c.55-56). Trong suốt cuộc hành quân nơi đồng vắng, dân Do-thái cho biết họ rất thèm muốn những thứ ở Ê-díp-tô, và tại Ba-anh Phê-ô, họ không chống lại nổi sự cám dỗ thờ cúng thần tượng Ba-anh. Nếu các đền miếu của người ngoại giáo vẫn cứ còn tồn tại ở đó, thì có lẽ chẳng mấy chốc dân Y-sơ-ra-ên sẽ lãng quên Đức Giê-hô-va và bắt đầu thờ hình tượng cho mà xem. Thật đáng buồn thay, dân Y-sơ-ra-ên đã không chịu vâng theo các mạng lịnh của Chúa cho nên kết cuộc họ đã bị cám dỗ sống theo những thói đời của bọn người ngoại giáo còn sót lại trong vùng (Cac 2:6-15).


Các biên giới hạn định của xứ (Dân 34:1-15): Trong thời cổ đại, không hề có công tác đo đạc địa hình với những tài liệu khoa học xác định ranh giới đất đai. Người ta nêu tên các thành phố và kể ra những đặc điểm vị trí địa lý khi họ muốn xác định các đường biên giới.Đức Giê-hô-va bắt đầu với đường biên giới phía nam Ca-na-an (c.3-5), kế đó chuyển đến vùng biên giới ở phía tây gọi là Biển Địa Trung Hải (c.6). Tiếp theo là biên giới phía bắc (c.7-9), biên giới phía đông (c.10-13), cuối cùng là phần giới hạn dành cho các chi phái ở bờ đông sông Giô-đanh (c.14-15).


Đức Chúa Trời ban cho dân Ngài một vùng đất rộng lớn tươi tốt, nhưng họ đã không chịu đánh bại hết các kẻ thù mình và không nhận lãnh tất cả xứ bằng đức tin (Gios 15:63; Gios 16:10; Gios 17:11-13; Cac 1:21-35) [92] Biên giới ở phía đông của họ không giáp được với vùng Địa Trung Hải, vì dân Phi-li-tin vẫn đang nắm giữ lãnh địa đó; và đối với Ha-mát ở phía bắc xa xôi cũng vậy.

Về phía đông sông Giô-đanh khi bạn xuất phát từ biên giới của chi phái Ma-na-se đi về hướng bắc, bạn sẽ thấy vẫn còn có những ổ đề kháng là nhóm những người chống đối còn sống sót trong các thành thị phố xá mà dân Y-sơ-ra-ên đã không tiêu diệt hết. Lời tiên đoán của Môi-se đã trở thành sự thật: những người Ca-na-an đó chẳng khác nào những cái gai trong mắt họ và ở sát bên sườn họ đã dẫn dụ một số người Do-thái đi vào tội lỗi (Dân 33:35).


Trước đó chúng ta đã đi qua sự đoán phạt mà Đức Chúa Trời giáng trên dân Y-sơ-ra-ên thời cổ đại, còn Hội thánh ngày nay thì sao? Chúng ta có nhận lãnh tất cả mọi sự mà chúng ta có được trong Đấng Christ bằng đức tin không? Có phải hiện vẫn đang còn có những ổ đề kháng tồn tại trong đời sống chúng ta lôi kéo dụ dỗ chúng ta rời xa khỏi Chúa chăng? “Vậy, chúng ta phải gắng sức vào sự yên nghỉ đó, hầu cho không có một người nào trong chúng ta theo gương kẻ chẳng tin kia mà vấp ngã” (He 4:11, NKJV).


Sự phân chia xứ (Dân 34:16-29): Ngay từ lúc bắt đầu sách Dân-số ký, Môi-se đã có một hội đồng gồm 12 vị lãnh đạo trợ giúp ông thực hiện cuộc điều tra dân số (Dân 1:5-16),và giờ đây ông lập ra một uỷ ban gồm 10 người lãnh đạo giúp đỡ Giô-suê và Ê-lê-a-sa phân chia xứ cho các chi phái đang sống ở phía đông sông Giô-đanh (Gios 14:1-19:51).


Các thành phố trong xứ (Dân 35:1-34): Sau khi chinh phục được Ca-na-an, dân Do-thái đổi tên nhiều thành phố , họ còn thiết lập 48 thành dành cho người Lê-vi ẩn náu, 6 thành dành cho người tị nạn (c.1-8). Như chúng ta đã thấy, người Lê-vi đã bị tản lạc trong khắp Y-sơ-ra-ên để họ có thể thi hành chức vụ của mình là dạy dỗ Luật Pháp Đức Chúa Trời cho dân sự (Gios 21:1-45). Họ cũng được cấp cho những vùng đất đầy cỏ tốt ở gần thành phố thuận tiện cho họ chăn nuôi, chăm sóc các bầy vật gia súc của mình.


Có 6 thành ẩn náu dành cho người tị nạn tại Kê-đét, Si-chem và Hếp-rôn nằm ở bờ Tây sông Giô-đanh, còn Gô-len, Ra-mốt và Bê-xe nằm ở bờ đông. Nếu bạn nhìn vào bản đồ Y-sơ-ra-ên thời cổ đại, bạn sẽ thấy rằng những thành phố này được toạ lạc ở trong xứ tại vị trí mà bất kỳ ai đang ở thành của mình cần chạy đến đó ẩn náu để tị nạn thì đều không bị cách xa lắm.


Dân Y-sơ-ra-ên có quân đội nhưng không có được một sự trang bị nào như đối với lực lượng quân sự, cảnh sát thời hiện đại của chúng ta ngày nay. Nếu có ai đó bị giết, mà các thành viên trong gia đình và bạn bè của người bị giết ấy nhìn thấy thì kẻ giết người kia sẽ bị xử tử. Tuy nhiên, nếu có kẻ giết người nhưng không cố ý thì sẽ bị xử theo tội ngộ sát chứ không phải bị xử theo tội danh giết người; và thật nhầm lẫn khi bắt anh ta phải trả giá bằng chính sinh mạng mình.


Anh ta có thể chạy trốn để tị nạn từ thành này sang thành kia và trình bày tình trạng của mình với các bậc trưởng lão nào có thể chịu lắng nghe anh ta nói và đồng ý làm chứng cho anh ta. Nếu các vị trưởng lão ấy cho rằng anh ta đúng là kẻ phạm tội sát nhân thì họ sẽ bắt dẫn anh ta về giao nộp cho chính quyền xử lý trừng phạt anh ta. Nhưng nếu họ kết luận anh ta vô tội thì họ sẽ cho phép anh ta trú ngụ lại trong thành ẩn náu dưới sự bảo vệ của họ và cứ ở đó mãi cho đến chừng thầy tế lễ thượng phẩm qua đời. Lúc đó anh ta sẽ được tự do quay về nhà mình mà không phải nộp bất cứ món tiền chuộc nào để được trả tự do sớm hơn (c.32).


Còn nếu anh ta phạm tội thật sự thì sẽ bị người ta ném đá cho đến chết. Tội giết người là tội bị tử hình theo quy định trong Y-sơ-ra-ên chứ không được ân xá bằng khoản tiền chuộc nào cả (c.32). Huyết kẻ vô tội làm ô uế đất, mà đất thì thuộc về Đức Giê-hô-va (c.33-34; Sa 4:10; Sa 9:5). Chỉ có một cách là đất đó phải được tẩy uế bằng sự chết của kẻ sát nhân kia.


Tội nhân ngày nay có thể tìm đường đi ẩn náu bởi đức tin đặt nơi Đức Chúa Giê-xu Christ và tìm đến Ngài tị nạn đặng thoát khỏi cơn đoán phạt của Đức Chúa Trời (He 6:18). Bởi vì Chúa Giê-xu là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đời đời, cho nên sự cứu rỗi của Ngài có giá trị bảo đảm vĩnh viễn; “Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” (He 7:25, NKJV). Ngài đã mang lấy sự đoán phạt vốn dành cho kẻ phạm tội; do đó, ngoài Ngài ra không thể có sự chuộc tội nào khác nữa (Ro 8:1).

-Dân 33:50-56; xem giải nghĩa Dân 33:1-49.

-Dân 34:1-29; xem giải nghĩa Dân 33:1-49.

-Dân 35:1-34; xem giải nghĩa Dân 33:1-49.

-Dân 36:1-13; xem giải nghĩa Dân 26:1-29:39.



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page