...hai lần trong những năm tôi hầu việc Chúa, tôi được chọn tiếp nối chức vụ của hai người lãnh đạo xuất sắc và tin kính. Tôi cam đoan với bạn rằng không hề dễ dàng để noi bước những Cơ-đốc nhân nổi tiếng, là những người đã hy sinh nh ững năm tháng dài của cuộc đời mình cho chức vụ để họ được thành công như vậy. Tôi có thể đồng cảm với Giô-suê khi ông bước vào vị trí của Môi-se và thấy mình thật nhỏ bé!
Khi tôi tiếp nối D. B. Eastep làm mục sư cho Hội thánh Calvary Baptist ở Convington, Kentucky, tôi nhờ vợ góa và các con trai của ông đã khích lệ tôi và hứa hỗ trợ tôi thế nào. Tôi nhớ có một vị chấp sự, George Evans, đến văn phòng Hội thánh và nói anh ta sẽ làm mọi việc để giúp tôi, “kể cả rửa xe và đánh giày” cho tôi.
Tôi không bao giờ nhờ Goerge làm những công việc đó, nhưng lời nói của anh ta biểu lộ thái độ động viên của ban trị sự Hội thánh dành cho tôi. Tôi thấy mình giống như một tân binh non nớt đang thay vị trí của người cựu binh dày dạn, và tôi cần mọi sự giúp đỡ có thể có!
Gần một phần tư thế kỷ sau khi tôi thế chỗ Theodore Epp tại cơ quan Back of Bibile, tôi cũng gặp lại trải nghiệm đó. Ban giám đốc và các vị lãnh đạo trong các văn phòng hải ngoại, các thính giả tuyền thanh, cũng như nhiều cấp lãnh đạo Cơ-đốc từ khắp nơi đều hứa ủng hộ tôi bằng lời cầu nguyện và sẵn sàng giúp đỡ tôi. Khi bạn cảm thấy mình giống như một người tí hon đang thế chỗ cho một người khổng lồ, bạn mới trân trọng mọi lời động viên khích lệ từ Đức Chúa Trời qua những người xung quanh bạn.
Điều cần cho tân lãnh đạo không phải là một lời khuyên nhưng là một lời khích lệ. “Khích lệ” theo nghĩa đen là “đặt lòng vào”. Tướng Andrew Jackson nói, “một người với sự can đảm sẽ làm được đều lớn lao”, và ông ta đã đúng. Khi dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay đối diện với những thử thách mà Đức Chúa Trời đem tới, chúng ta cần học hỏi từ những lời khích lệ “ba trong một” được ghi lại trong chương nầy.
1. Đức Chúa Trời khích lệ người lãnh đạo của Ngài (Gios1:1-9)
Khích lệ từ sự ủy nhiệm của Đức Chúa Trời (c.1-2). Không người lãnh đạo nào có thể lãnh đạo mãi mãi, kể cả những người lãnh đạo tin kính như Môi-se. Trong mọi chức vụ rồi sẽ đến lúc Đức Chúa Trời cần một sự khởi đầu mới với một thế hệ mới và một người lãnh đạo mới.
Trừ Giô-suê và Ca-lép ra, tất cả người Do-thái của thế hệ cũ đã qua đời khi dân sự lưu lạc trong đồng vắng; và Giô-suê nhận nhiệm vụ lãnh đạo thế hệ mới bước vào thách thức mới: tiến vào và chinh phục Đất Hứa. “Đức Chúa Trời chôn những người hầu việc Ngài, nhưng công việc Ngài vẫn tiếp tục tiến triển”.
Chính Đức Chúa Trời đã chọn Giô-suê, và mọi người ở Y-sơ-ra-ên biết rằng ông là người lãnh đạo mới.
Nhiều năm qua, tôi thấy các Hội thánh các cấp lãnh đạo trong Hội thánh lúng túng và hầu như tự hủy hoại mình trong những nỗ lực vô ích nhằm bám chặt lấy quá khứ và né tránh tương lai. Phương châm của họ là, “bắt đầu như thế nào thì kết thúc y như vậy”. Tôi thường cầu nguyện cùng với và cầu nguyện cho những người lãnh đạo Cơ-đốc tin kính đang bị chỉ trích, bắt bớ và công kích chỉ bởi vì, giống như Giô-suê, họ đảm nhiệm một chức vụ thiêng liêng là dẫn dắt Hội thánh bước vào những vùng đất cần chinh phục; nhưng Hội thánh không bước theo. Nhiều mục sư đã từng hy sinh như một con sinh tế vì ông ta dám đề nghị Hội thánh thay đổi một số điều nào đó.
J. Osward Sanders viết: “Công việc nào do Đức Chúa Trời khởi xướng và được thực hiện theo những nguyên tắc thuộc linh sẽ khắc phục được sự xáo trộn khi thay đổi người lãnh đạo và thật sự sẽ đem lại sự phát triển mạnh mẽ hơn” (Spiritual Leadership- Lãnh đạo thuộc linh – trang 132)
Khi mô tả cái chết của vua Arthur, Lord Tennyson thay lời vua nói lên những điều khôn ngoan và có ý nghĩa sâu sắc khi thuyền rồng đưa tang vua ra biển. Ngài Bedevire gào thét, “Tôi thấy quá khứ thật đã chấm hết tại đây”, và Arthur đáp:
Trật tự cũ đã thay đổi, nhường chỗ cho trật tự mới,
Và Đức Chúa Trời phát lộ Ngài bằng nhiều cách,
Nếu không một thói quen dễ chịu sẽ làm băng hoại cả thế gian.
(“The Passing of Arthur”)
Theo kinh Talmud, “Phải chi cuộc đời như cái bóng của bức tường hoặc của cây cao, nhưng cuộc đời như bóng của một con chim đang bay ngang”. Cố ôm ghì lấy quá khứ vào lòng cũng vô ích như bắt lấy bóng của một con chim đang bay qua.
Một người lãnh đạo khôn ngoan không hoàn toàn bỏ quên quá khứ nhưng xây dựng trên quá khứ khi tiến về tương lai. Môi-se được nhắc 57 lần trong sách Giô-suê, điều nầy cho thấy Giô-suê kính trọng Môi-se và những gì ông làm cho Y-sơ-ra-ên. Giô-suê thờ phượng chính Đức Chúa Trời mà Môi-se thờ phượng, và vâng phục chính Lời Phán của Đức Chúa Trời mà Môi-se đã truyền lại cho dân sự.
Có một sự liên tục từ người lãnh đạo nầy đến người lãnh đạo khác, nhưng không phải lúc nào cũng có sự rập khuôn; vì không người lãnh đạo nào giống người lãnh đạo nào và họ phải giữ cá tính của mình. Trong phân đoạn nầy, có hai lần Môi-se được gọi là đầy tớ của Đức Chúa Trời, nhưng Giô-suê cũng là đầy tớ của Đức Chúa Trời (Gios 24:29). Điều quan trọng không phải ai là đầy tớ nhưng ai là Người Chủ.
Giô-suê được gọi là “tôi tớ của Môi-se” (Gios 1:1), từ nầy chỉ về những người làm việc trong Đền Tạm và những đầy tớ của người lãnh đạo. (Xu 24:13; Xu 33:11; Dân 11:28; Phuc 1:38). Giô-suê biết cách vâng phục như một đầy tớ trước khi ông biết ra lệnh như một vị tướng; ông làm đầy tớ trước khi làm người lãnh đạo (Mat 25:21). Trong quyển Polities, Aristotle viết, “Người không biết vâng phục không bao giờ có thể làm người lãnh đạo tài giỏi.”
Đức Chúa Trời giao cho Giô-suê ba nhiệm vụ: dẫn dắt dân sự vào Đất Hứa, đánh bại các kẻ thù, và nhận lấy sản nghiệp. Đức Chúa Trời có thể sai thiên sứ Ngài làm việc nầy, nhưng Ngài quyết định dùng một con người và ban cho người ấy quyền phép cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đó. Như chúng ta đã biết, Giô-suê là hình ảnh về Chúa Cứu Thế Giê-xu, Cội Rễ sự cứu rỗi của chúng ta (He 2:10), là Đấng đã đắc thắng và hiện đang chia sẻ sản nghiệp thuộc linh của Ngài cho chúng ta.
• Khích lệ từ những lời hứa của Đức Chúa Trời (c.3-6).
Vì Giô-suê có ba nhiệm vụ cần phải thực hiện, nên Đức Chúa Trời dành cho ông ba lời hứa đặc biệt, m ỗi lời hứa cho một nhiệm vụ.
Đức Chúa Trời sẽ giúp Giô-suê vượt sông và chiếm Đất Hứa (c.3-4), đánh bại các kẻ thù (c.5) và chia đất cho các chi phái làm sản nghiệp (c.6). Đức Chúa Trời không cho biết rõ cách để Giô-suê làm thành những công việc nầy, vì dân sự của Đức Chúa Trời sống dựa trên lời hứa, không phải dựa trên lời giải thích. Khi bạn tin cậy lời hứa của Đức Chúa Trời và bước đi bởi đức tin đó (c.3), bạn có thể tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ có những hướng dẫn cần thiết dành cho bạn.
• Trước hết, Đức Chúa Trời hứa rằng Y-sơ-ra-ên sẽ vào xứ (c.3-4).
Nhiều thế kỷ qua, Đức Chúa Trời đã tái xác nhận lời hứa nầy, từ những lời đầu tiên dành cho Áp-ra-ham (Sa12:1-20) cho đến những lời cuối cùng dành cho Môi-se (Phuc 34:4). Đức Chúa Trời sẽ đem họ qua bên kia sông Giô-đanh và bước vào lãnh địa của kẻ thù. Sau đó Ngài giúp họ chiếm được xứ mà Ngài đã hứa ban cho họ. Ở đó không còn tái diễn cảnh sợ hãi và vô tín mà đã từng làm họ thất bại ở Ca-đe Ba-nê-a (Dân 13:1-33).
Đức Chúa Trời đã ban cho họ xứ đó rồi; và nhiệm vụ của họ lúc nầy là phải bước tới bằng đức tin và giành lấy nó (Gios 1:3; Sa 13:14-18). Đức Chúa Trời đã ban cho Môi-se lời hứa nầy (Dân 11:22-25), Ngài tái xác nhận nó với Giô-suê; và Ngài xác định thật cẩn thận các biên giới của xứ. Y-sơ-ra-ên không chiếm được trọn vẹn lãnh thổ đó mãi cho đến thời trị vị của Đa-vít và Sa-lô-môn.
Bài học dành cho dân sự Đức Chúa Trời ngày nay rất rõ: Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta “đủ mọi thứ phước thiêng liêng trong Đấng Christ” (Eph 1:3), và chúng ta phải lấy đức tin bước tới và nhận lấy. Ngài mở trước Hội thánh Ngài một cánh cửa mà không ai có thể đóng lại được (Kh 3:8), và chúng ta phải bước qua cánh cửa đó bằng đức tin để nhận lấy vùng đất mới cho Chúa. Đời sống và sự phục vụ của Cơ-đốc nhân không thể nào đứng yên một chỗ, vì khi bạn đứng yên, hì ngay tức khắc bạn sẽ bị lùi về sau. “Hãy tấn tới!” đó là lời giục giã của Đức Chúa Trời (He 6:1) và nó có nghĩa là chúng ta phải tiến vào vùng đất mới.
• Đức Chúa Trời cũng hứa cho Giô-suê chiến thắng kẻ thù (Gios 1:5).
Đức Giê-hô-va bảo Áp-ra-ham rằng các dân khác đang sống ở Đất Hứa (Sa 15:18-21), và Ngài lặp lại lời đó với Môi-se (Xu 3:17). Nếu Y-sơ-ra-ên vâng phục Đức Chúa Trời, Ngài hứa sẽ giúp họ đánh bại các dân đó. Nhưng Ngài cũng cảnh cáo dân sự không được thoả hiệp với kẻ thù trong bất cứ phương diện nào, bởi vì nếu làm như vậy họ sẽ thắng trong cuộc chiến nhưng lại đánh mất sự đắc thắng (Xu 23:20-33). Đáng tiếc, iều đó đã xảy ra. Vì người Do-thái bắt đầu thờ các thần của các nước ngoại đạo xung quanh và bắt chước những tập quán xấu của họ, Đức Chúa Trời phải phạt Y-sơ-ra-ên ngay trong xứ của họ để đem họ trở về với Ngài (Cac 1:1-2:23).
Đức Chúa Trời đã ban cho Giô-suê một lời hứa tuyệt vời! “Ta sẽ ở cùng ngươi như ta đã ở cùng Môi-se; ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu” (Gios 1:5). Đức Chúa Trời cũng đã hứa với Gia-cốp tương tự như vậy (Sa 25:15), và Môi-se đã nhắc lại lời hứa của Đức Chúa Trời với Giô-suê (Phuc 31:1-8). Đến một ngày Đức Chúa Trời cũng sẽ ban lời hứa nầy cho Ghê-đê-ôn (Cac 6:16) và cho cả người Do-thái lưu đày trở về từ Ba-by-lôn (Es 41:10; 43:5) và Đa-vít sẽ nhắc lại nó cho Sa-lô-môn, con trai mình (ISu 28:20).
Nhưng tuyệt vời hơn cả là Đức Chúa Trời ban lời hứa nầy cho dân sự Ngài ngày nay! Phúc-âm Ma-thi-ơ mở đầu với “Em-ma-nu-ên…. Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta: (Mat 28:20). Tác giả He 13:4 trích dẫn Gios 1:5 và áp dụng nó cho Cơ-đốc nhân ngày nay: “Ta sẽ không lìa ngươi, hông bỏ ngươi đâu”.
Điều nầy có nghĩa là dân sự của Đức Chúa Trời có thể tấn tới trong ý muốn của Đức Chúa Trời và tin chắc rằng Ngài luôn ở cùng họ. “Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?” (Ro 8:31). Trước khi Giô-suê bắt đầu chinh phục Giê-ri-cô, Đức Chúa Trời hiện ra với ông và đoan chắc về sự hiện diện của Ngài (Gios 5:13-15). Đó là tất cả những gì Giô-suê cần để đảm bảo cho chiến thắng.
Trong những ngày đầu trong chức vụ mục sư của vợ chồng tôi, Đức Chúa Trời hướng dẫn Hội thánh xây một chỗ thờ phượng mới. Tín đồ trong Hội thánh chúng tôi lúc đó không đông cũng chẳng giàu có gì, và một số chuyên gia tài chính bảo với chúng tôi rằng không thể thực hiện được việc lớn đó; nhưng Chúa đã giúp chúng tôi hoàn thành. Ngài dùng ISu 28:20 để thêm sức và làm tôi yên tâm suốt trong thời gian thực hiện kế ho ạch khó khăn đó. Từ kinh nghiệm đó, tôi có thể đoan chắc với bạn rằng lời hứa Chúa sẽ ở cùng thật sự có hiệu lực!
• Lời hứa thứ ba Đức Chúa Trời dành cho Giô-suê là Ngài sẽ chia đất cho các chi phái làm sản nghiệp (Gios 1:6). Đây là lời đảm bảo của Đức Chúa Trời; kẻ thù sẽ bị đánh bại và Y-sơ-ra-ên sẽ chiếm được xứ. Đức Chúa Trời đã giữ lời Ngài hứa cùng Áp-ra-ham rằng con cháu ông sẽ hưởng được xứ (Sa 12:6-7; Sa 13:14-15; Sa 15:18-21).
Ba lời hứa nầy đều được làm thành, và sách Giô-suê đã ghi lại việc đó: lời hứa thứ nhất trong đoạn 2-5, lời hứa thứ hai trong đoạn 6-12, và lời hứa thứ ba trong 13-22. Trong những ngày cuối đời mình, Giô-suê có nhắc những người lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên rằng “trong các lời lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã phán về các ngươi, chẳng có một lời nào sai hết, thảy đều ứng nghiệm cho các ngươi, thật chẳng một lời nào sai hết” (Gios 23:14).
Tuy nhiên, trước khi Đức Chúa Trời có thể thực hiện lời hứa của Ngài, đức tin Giô-suê được rèn luyện để “thêm mạnh mẽ và vững vàng” (Gios 1:6). Trách nhiệm của con người không thể thay thế cho quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Lời tối thượng của Đức Chúa Trời là lời khích lệ các tôi tớ Ngài hãy tin cậy Ngài và vâng phục các mạng lệnh của Ngài.
Như Charles Spurgeon đã viết, Giô-suê “không được dùng lời hứa như một phương tiện để ỷ lại và biếng nhác, nhưng xem nó như một dây bảo hiểm để ông níu chặt vào mà hành động” (Metropolitan Tarbernacle Pulpit, tập 14, trang 97). Tóm lại, những lời hứa của Đức Chúa Trời là sự thúc đẩy, không phải là chiếc gối êm ái.
• Khích lệ từ Lời thành văn của Đức Chúa Trời (c.7-8).
Nói với người lãnh đạo “Hãy vững lòng bền chí!” là một chuyện, giúp anh ta làm được như vậy là chuyện khác. Sức mạnh và sự can đảm của Giô-suê có được nhờ ông suy gẫm Lời Đức Chúa Trời, tin những lời hứa trong đó, và vâng phục những lời dạy trong đó. Đây là lời khuyên mà Môi-se dành cho dân sự (Phuc 11:1-9), và giờ đây Đức Chúa Trời đang đặc biệt áp dụng nó cho Giô-suê.
Trong suốt những năm làm lãnh đạo, Môi-se đã giữ gìn bảng ghi lại những lời nói và việc làm của Đức Chúa Trời và trao bảng đó cho các thầy tế lễ lưu giữ (Phu 31:9). Trong đó Môi-se có nhắc Giô-suê phải tiêu diệt dân A-ma-léc (Xu 17:14). Ngoài ra còn có những điều khác, “Sách Luật Pháp” gồm “Sách Giao-ước” (Xu 24:4,7), tài liệu về hành trình dân sự đi từ Ai-cập đến Ca-na-an (Dân 33:2), những luật lệ đặc biệt liên quan đến sản nghiệp (Phuc 31:19). Môi-se tiếp tục đưa thêm tài liệu vào bảng ghi chép nầy cho đến khi nó hoàn toàn đầy đủ theo đúng ý muốn của Đức Chúa Trời (c.24). Chúng ta có cơ sở để tin rằng trọn bộ năm sách Ngũ Kinh của Môi-se (Từ Sáng-thế ký đến Phục-truyền) bao gồm “Sách Luật Pháp”, di sản lớn nhất mà Môi-se để lại cho người kế nhiệm mình.
Nhưng đối với thầy tế lễ, mang theo bên mình và gìn giữ sách quí nầy vẫn chưa đủ; Giô-suê phải dành thời gian mỗi ngày để đọc và nghiền ngẫm cho đến khi những lời trong đó thấm nhuần trong lòng mình (Thi 1:2 119:97; Phuc 17:18-20). Từ Hy-bá-lai dịch là “suy gẫm” có nghĩa là “lẩm bẩm”. Người Do-thái có thói quen đọc Kinh Thánh lớn tiếng (Cong 8:26-40) và lấy lời Kinh Thánh nhắc nhở chính mình và nhắc nhở lẫn nhau (Phuc 6:6-9).
Điều nầy giải thích vì sao Đức Chúa Trời nhắc Giô-suê không nên để Sách Luật pháp rời miệng ông (Gios 1:8). Trong nhiều lần hội đồng, tôi thường nói với các mục sư và sinh viên thần học rằng, “Nếu bạn không trò chuyện với Kinh Thánh, chắc chắn Kinh Thánh sẽ không trò chuyện với bạn!”.
Trong đời sống của người Cơ-đốc, sự thịnh vượng và thành công không thể được đánh giá theo tiêu chuẩn của thế gian. Những ơn phước nầy là sản phẩm phụ của một đời sống tận tuỵ với Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Nếu bạn được thịnh vượng và thành công bằng ý riêng, ạn có thể đạt được mục đích nhưng phải sống trong sự hối tiếc vì nó. George MacDonald, tiểu thuyết gia người Scốt-len viết, “Trong bất cứ việc gì bạn làm mà không theo ý muốn Đức Chúa Trời, bạn sẽ đau khổ khi thất bại, nhưng càng khốn khổ hơn nếu thành công”.
Những câu hỏi mà dân sự Đức Chúa Trời cần đặt ra là: Chúng ta có vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời không? Chúng ta có nhận được quyền năng từ Thánh Linh Đức Chúa Trời không? Chúng ta có phục vụ cho sự vinh hiển Đức Chúa Trời không? Nếu chúng ta có thể trả lời “có” cho những câu hỏi nầy, thì chức vụ của chúng ta mới thật sự thành công theo mắt Đức Chúa Trời, dù con người có nghĩ gì đi nữa.
• Khích lệ từ điều răn của Đức Chúa Trời (c.9).
Những điều răn của Đức Chúa Trời vẫn là đòn bẫy cho những ai vâng phục Đức Chúa Trời bằng đức tin. Lời của Gáp-ri-ên cho Ma-ri vẫn đúng cho chúng ta ngày nay, “Vì không có việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được”(Lu 1:37). Tôi rất thích cách dịch câu Kinh Thánh nầy trong bản American Standard Version (1901): “Vì không có lời nào từ Đức Chúa Trời lại không có quyền năng”. Chính lời Đức Chúa Trời phán ra có sẵn trong nó quy ền năng làm ứng nghiệm nó nếu chúng ta biết tin vậy và vâng lời!
Trong những năm sau đó, mỗi khi Giô-suê đối diện với kẻ thù và ngã lòng trong nỗi sợ hãi, ông liền nhớ rằng mình là người mang sứ mạng thiên thượng và những nỗi sợ hãi của ông sẽ tan biến. Khi gặp khó khăn và mất tinh thần, ông nhớ lại mạng lệnh của Đức Chúa Trời và lấy lại can đảm. Giống như Môi-se khi trước, và Sa-mu-ên và Đa-vít sau nầy, Giô-suê là người được Đức Chúa Trời giao nhiệm vụ phục vụ Ngài và vâng theo ý muốn Ngài và sự uỷ thác đó đủ khả năng giúp ông hoàn thành sứ mạng.
2. Người lãnh đạo khích lệ các quan trưởng (Gios 1:10-15)
Nước Y-sơ-ra-ên là một nước có tổ chức, Môi-se dễ dàng truyền đạt ý của mình cho dân sự thông qua các lãnh đạo các cấp (Phuc 1:15). Môi-se không triệu tập các cấp lãnh đạo lại để hỏi ý kiến nhưng để truyền mạng lệnh của Đức Chúa Trời cho họ. Có những lúc người lãnh đạo cần tham khảo ý kiến của các quan chức, nhưng trường hợp nầy không phải như vậy. Đức Chúa Trời đã phán, ý chỉ của Ngài đã rõ, và dân sự phải sẵn sàng vâng phục.
Bốn mươi năm trước, tại Ca-đe Ba-nê-a, dân sự biết ý muốn của Đức Chúa Trời nhưng không chịu vâng theo (Dân 13:1-33). Tại sao như vậy? Vì họ tin lời của 10 thám tử thay vì vâng lệnh Đức Chúa Trời và phục tùng bởi đức tin. Nếu chịu nghe lời Ca-lép và Giô-suê lời của thiểu số họ đã không phải trải qua những ngày tháng lưu lạc đầy khó khăn trong đồng vắng. Lời khuyên tốt cũng cần cho người hầu việc Chúa, nhưng ý kiến của con người không thể thay thế cho mạng lệnh rõ ràng của Đức Chúa Trời.
Chúng ta nghĩ rằng Giô-suê sẽ bảo dân sự, “Hãy chuẩn bị thuyền bè để vượt sông Giô-đanh”, nhưng Giô-suê lại truyền lệnh cho dân sự chuẩn bị lương thực. Giô-suê không đoán mò ý Chúa và quyết định. Ông biết rằng Đức Chúa Trời đã rẽ Biển Đỏ và Ngài cũng có thể mở lối cho dân sự qua sông Giô-đanh. Ông và Ca-lép đã chứng kiến Đức Chúa Trời giải cứu dân sự ra khỏi Ai-cập, và họ tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ họ một lần nữa.
Dù tin Đức Chúa Trời sẽ làm phép lạ, nhưng Giô-suê vẫn phải chuẩn bị những thứ cần dùng.Trong quân đội hiện đại, Tổng Cục Hậu Cần có nhiệm vụ lo cho binh lính đầy đủ lương thực và những nhu cầu khác; nhưng dân Y-sơ-ra-ên không có Tổng Cục Hậu Cần như vậy. Mỗi gia đình và chi tộc phải tự lo liệu lương thực cho mình.
Ma-na vẫn rơi xuống mỗi buổi sáng (Xu 16:1-36) và sẽ không còn rơi nữa khi Y-sơ-ra-ên đã vào Đất Hứa (Gios 5:11-12). Nhưng điều quan trọng là dân sự phải mạnh mẽ vì họ sắp đối đầu với hàng loạt những cuộc chiến để chiếm lấy Đất Hứa.
Lưu ý rằng những lời Giô-suê với các cấp lãnh đạo là những lời của đức tin và sự khích lệ. “Các ngươi sẽ qua sông! Các ngươi sẽ chiếm được xứ! Đức Giê-hô-va sẽ ban xứ ấy cho các ngươi!” Bốn mươi năm trước Giô-suê cũng đã nói tương tự, nhưng các lãnh đạo thời đó không chịu nghe. Bây giờ thế hệ đó đã không còn và một thế hệ mới sẵn sàng tin cậy Đức Chúa Trời và chinh phục xứ.
Thật đáng tiếc nhưng cũng đúng là đôi khi những cái chết lại là cách duy nhất để công việc Chúa tấn tới. Một vị mục sư, bạn của tôi, có ý xin ban trị sự Hội thánh xây một cơ sở dành cho các lớp Trường Chúa Nhật. Một trong các thành viên lão làng trong ban trị sự, vốn là một thương nhân nổi tiếng trong thành phố, nói với mục sư ấy, “Muốn làm việc ấy hãy bước qua xác tôi trước đã!” Và thật như vậy. Một vài ngày sau, ông ta lên cơn đau tim và qua đời. Hội thánh bắt đầu xúc tiến việc xây dựng cơ sở giáo dục cần thiết đó.
Càng lớn tuổi, chúng ta càng độc tài và trở thành “những chướng ngại”; nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Giô-suê và Ca-lép là những người cao tuổi nhất trong trại quân, nhưng họ sốt sắng tin cậy Đức Chúa Trời và tiến vào Đất Hứa. Tuổi tác không phải là vấn đề; đức tin mới là điều quan trọng; và đức tin đến từ sự suy gẫm Lời Chúa (Gios 1:8; Ro 10:17). Tôi thật biết ơn Chúa về “những thánh đồ cao niên” từng dự phần trong chức vụ của tôi và khích lệ tôi tin cậy Chúa và tấn tới.
Giô-suê đặc biệt nói với hai chi phái rưỡi sống bên kia sông Giô-đanh và đã nhận được phần sản nghiệp mình (Dân 32:1-42). Ông nhắc họ nhớ lại lời dạy dỗ và cảnh cáo của Môi-se (Dân 21:21,35; Phuc 3:12-20) và khuyên họ giữ lời hứa. Giô-suê quan tâm đến sự hiệp một của dân Y-sơ-ra-ên khi chinh ph ục xứ và thờ phượng Đức Chúa Trời. Hai chi phái rưỡi ấy đã giữ lời hứa giúp thu phục xứ, nhưng họ vẫn gây khó khăn cho Giô-suê và Y-sơ-ra-ên vì họ sống bên kia sông Giô-đanh.
Trong nước Y-sơ-ra-ên, những thanh niên khoẻ mạnh từ 20 tuổi trở lên phải ra trận (Dân 1:3) và tài liệu cho thấy hai chi phái rưỡi đó có 136.930 người đủ tiêu chuẩn (Dân 26:7,18,34). Nhưng thật sự chỉ có 40.000 vượt qua sông Giô-đanh để đánh chiếm Đất Hứa (Gios 4:13). Những người còn lại ở nhà để bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong các thành mà các chi phái chiếm được trong xứ Gia-ê-xe và Ga-la-át (Dân 32:1-5,16-19). Khi các binh lính ra trận trở về, họ chia chiến lợi phẩm với các anh em ở nhà (Gios 22:6-8).
Chính sự nhượng bộ của Môi-se đã để hai chi phái rưỡi ấy sống bên ngoài Đất Hứa. Các chi phái nầy thích ở đó vì đất ấy “tiện hiệp nuôi bầy súc vật” (Dân 32:1,4,6). Rõ ràng, mối bận tâm đầu tiên của họ là kiếm tiền sinh sống, không phải là tạo dựng một đời sống. Họ muốn có bầy đàn đông đúc, hơn là sống giữa vòng anh em trong sản nghiệp mà Đức Chúa Trời ban cho họ.
Họ ở xa nơi thờ phượng và phải dựng một bia kỷ niệm đặc biệt để nhắc con cháu họ nhớ mình là dân của nước Y-sơ-ra-ên (Gios 22:10). Họ là đại diện cho những “tín đồ hành lang” trong Hội thánh ngày nay, họ sống gần sản nghiệp nhưng không bao giờ có được nó, dù bề ngoài họ có vẻ thành công ra sao.
Họ sẵn sàng hầu việc Chúa và giúp anh em mình trong một thời gian nào đó, nhưng khi họ hoàn thành công việc được giao, họ quay về nhà và làm theo ý riêng.
3. Các quan trưởng khích lệ người lãnh đạo (Gios 1:16-18)
Đại từ “họ”có lẽ ám chỉ tất cả những quan trưởng mà Giô-suê nói đến, không phải chỉ những quan trưởng của hai chi phái rưỡi bên kia sông. Họ là nguồn động viên cho người lãnh đạo mới của họ!
Trước hết, họ khích lệ ông qua lời hứa vâng lời trọn vẹn (c.16-17a), “Chúng tôi sẽ làm mọi điều ông dặn biểu, và đi khắp nơi nào ông sai!” Những quan trưởng nầy không có âm mưu ám muội, và họ cũng không đòi hỏi quyền lợi gì. Họ sẽ vâng theo mọi điều ông truyền và đi bất cứ nơi nào ông sai. Chúng ta có thể áp dụng lời cam kết nầy trong Hội thánh ngày nay! Nhiều lúc chúng ta giống như người được mô tả trong Lu 9:57-62, xem trọng việc của bản thân mình hơn việc theo Chúa.
Trong tiểu thuyết The Marquis of Lossie của George MacDonald, một nhân vật của ông ta đã nói, “Tôi thấy làm theo ý muốn Đức Chúa Trời khiến tôi không có thời gian bàn luận về kế hoạch của Ngài nữa”. Đó là thái độ của các quan trưởng của Giô-suê. Họ không gắn bó với Môi-se đến nỗi họ đặt ông ta trên Giô-suê. Đức Chúa Trời chọn cả Môi-se và Giô-suê, và bất tuân người đầy tớ tức là bất tuân Chủ. Giô-suê không phải giải thích hay bảo vệ những lệnh truyền của mình. Ông chỉ cần ra lệnh, và mọi người nghe theo.
• Các quan trưởng khích lệ Giô-suê qua việc cầu nguyện cho ông (c.17).
“Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông ở cùng ông, y như Ngài đã ở cùng Môi-se vậy”. Điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm cho người lãnh đạo mình là cầu nguyện cho họ mỗi ngày và cầu xin Đức Chúa Trời ở cùng họ. Giô-suê là người được rèn luyện với nhiều trải nghiệm, nhưng điều đó không bảo đảm cho sự thành công. “Nếu không cầu nguyện không Cơ-đốc nhân nào có thể thành công để làm vinh hiển Đức Chúa Trời”.
Corrie Ten Boom hỏi, “Cầu nguyện là bánh lái hay là lốp xe dự phòng của bạn?” câu hỏi nầy được áp dụng đặc biệt cho những người đang ở vai trò lãnh đạo. Khi Giô-suê không dừng lại để tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời, ông thất bại thảm hại (Gios 7:1-26; Gios 9:1-27) và chúng ta cũng vậy.
Họ khích lệ Giô-suê qua lời đảm bảo với ông rằng sự vâng lời của họ là vấn đề sống còn (Gios 1:18). Họ chấp nhận quyền lãnh đạo của ông và nghiêm túc gánh lấy trách nhiệm của mình. Sau nầy, khi A-can không tôn trọng mệnh lệnh của Giô-suê, ông ta đã phải chết (Công 7:15).
“Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?” (Lu 6:46). Nếu dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay xem sự vâng lời Đấng Christ là vấn đề sống còn, thì sứ mạng của chúng ta đối với thế gian hư mất đã tiến triển rất nhiều. Chúng ta chỉ vâng lệnh Đức Chúa Trời nếu chúng ta thấy thích, thấy thuận tiện, và nếu thấy có lợi. Chiến binh của Giô-suê mà giống như vậy, Giô-suê đã không bao giờ chiếm được Đất Hứa!
Cuối cùng, họ khích lệ Giô-suê bằng cách nhắc ông nhớ Lời Đức Chúa Trời (c.18b). Môi-se khuyên bảo Giô-suê, “hãy can đảm” khi sai ông và những người khác vào do thám xứ Ca-na-an (Dân 13:20). Môi-se lặp lại lời đó khi ông chọn Giô-suê làm người kế nghiệp mình (Phuc 31:7,23). Những lời nầy được viết lại trong Sách Luập Pháp, và Giô-suê được lệnh phải đọc và suy gẫm nó ngày và đêm (Gios 1:8).
Bốn lần trong đoạn nầy chúng ta gặp câu, “Hãy vững lòng bền chí!” (c.6-7,9,18). Nếu chúng ta phải đánh bại kẻ thù và giành lấy sản nghiệp trong Chúa Cứu Thế, chúng ta phải có sức mạnh thuộc linh và sự can đảm thuộc linh. “Phải làm mạnh dạn trong Chúa, nhờ sức toàn năng của Ngài.” (Eph 6:10).
Chiến binh của Đấng Christ, hãy đứng lên,
Và mặc áo giáp vào,
Hãy mạnh mẽ nhờ sức Đức Chúa Trời ban cho
Qua Con đời đời của Ngài.
(Charles Wesley)
Bước đầu tiên để thắng trận và giành được sản nghiệp mình là để Đức Chúa Trời khích lệ chúng ta và sau đó chúng ta khích lệ người khác. Một đội quân nản lòng sẽ không bao giờ đắc thắng.
“Kìa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi phó xứ nầy cho ngươi; hãy đi lên, chiếm làm sản nghiệp, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươiđã phán cùng ngươi; chớ ái ngại, chớ kinh khủng” (Phuc 1:21)
Hãy vững lòng bền chí! Trận chiến thuộc về Đức Giê-hô-va!
2. SỰ CẢI ĐẠO Ở CA-NA-AN (Gios 2:1-24)
Chỉ có hai người phụ nữ được gọi là “Anh hùng đức tin” trong He 11:11,31 Sa-ra, vợ của Áp-ra-ham (câu 11) và Ra-háp, gười kỵ nữ thành Giê-ri-cô (câu 31).
Sa-ra là người ph ụ nữ tin kính, vợ của tổ phụ dòng dõi Hê-bơ-rơ; và Đức Chúa Trời dùng bà để đưa Y-sac vào thế gian. Còn Ra-háp là người ngoại bang vô đạo, thờ các thần tượng ngoại giáo và bán mình vì tiền. Với cái nhìn của con người, Sa-ra và Ra-háp không có gì giống nhau. Nhưng theo cái nhìn thiên thượng, Sa-ra và Ra-háp cùng có chung một điều quan trọng nhất trong đời: Cả hai đều thể hiện đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật.
Kinh Thánh không những liên kết Ra-háp với Sa-ra; nhưng trong Gia 2:21-26 còn liên kết nàng với Áp-ra-ham. Gia-cơ dùng cả Áp-ra-ham và Ra-háp để minh họa cho một sự thật, đó là đức tin thật luôn thể hiện bằng những việc lành.
Nhưng còn hơn như vậy: Kinh Thánh liên kết Ra-háp với Đấng Mê-si-a! Khi xem bảng gia phổ của Chúa Cứu Thế Giê-xu trong Mat 1:1-25, ta thấy có nhắc đến tên Ra-háp (c.5) cùng với Gia-cốp, Đa-vít, và những người nổi tiếng khác trong dòng dõi Đấng Mê-si-a. Chắc chắn Ra-háp đã trải qua một hành trình dài để biến đổi từ một kỵ nữ thành một tổ mẫu của Đấng Mê-si-a!
“nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa” (Ro 5:20).
Tuy nhiên cần lưu ý điều quan trọng nhất ở Ra-háp là đức tin của nàng. Đó cũng là điều quan trọng nhất của mỗi con người, vì “không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài” (He 11:6). Không phải mọi thứ được gọi là đức tin đều thật sự là đức tin chân chính, tức là loại đức tin được Kinh Thánh mô tả. Đức tin của Ra-háp thuộc loại nào?
1. Đức tin can đảm (Gios 2:1-7)
Cả He 11:31 và Gia 2:25 đều cho biết rằng Ra-háp đã tin nơi Đức Giê-hô-va trước khi các thám tử đến Giê-ri-cô. Giống như dân cư ở Tê-sa-lô-ni-ca, họ “đã trở lại cùng Đức Chúa Trời, bỏ hình tượng đặng thờ Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật” (ITe 1:9). Bà không giống người Sa-ma-ri sau nầy, “kính sợ Đức Giê-hô-va, song cũng hầu việc các thần mình” (IIVua 17:33).
Giê-ri-cô là một trong nhiều thành phố “tự trị” ở Ca-na-an, mỗi thành như vậy có một vua riêng (Gios 12:9-24). Thành rộng khoảng 8-9 mẫu đất, và c ó bằng chứng khảo cổ cho thấy thành ấy được bao bọc bằng bức tường đôi cách nhau 15 bộ (feet). Nhà của Ra-háp nằm trên tường thành (Gios 2:15).
Trong lúc đó, Giê-ri-cô là thành phố chiến lược trong kế hoạch của Giô-suê để chinh phục xứ Ca-na-an. Sau khi chiếm được Giê-ri-cô, Giô-suê có thể thẳng tiến và chia đôi xứ ấy; và tiếp theo sẽ dễ dàng đánh bại các thành ở phía nam và sau đó là phía bắc.
Bốn mươi năm trước, Môi-se đã sai 12 thám tử vào Ca-na-an; và chỉ có hai người đưa ra lời báo cáo tích cực (Dân 13:1-33). Giô-suê sai hai người do thám xứ và nhất là tìm hiểu cặn kẻ thành Giê-ri-cô. Giô-suê muốn biết cư dân ở đó có phản ứng thế nào trước sự xuất hiện của dân Y-sơ-ra-ên. Vì Giô-suê biết rằng Đức Chúa Trời đã ban cho ông và dân sự xứ đó, sai thám tử đi không phải là hành động vô tín (Gios 1:11,15). Một vị tướng giỏi thường muốn biết tất cả về kẻ thù trước khi ra trận.
Làm thế nào hai thám tử vào được thành mà không bị phát hiện? Họ gặp Ra-háp như thế nào? Chúng ta phải tin vào sự quan phòng của Đức Chúa Trời khi biết được diễn tiến câu chuyện nầy. Ra-háp là người duy nhất ở Giê-ri-cô tin nơi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và Đức Chúa Trời dẫn đường các thám tử đến với nàng.
Từ Hy-ba-lai dịch là “kỵ nữ” cũng có nghĩa là “người chủ quán trọ”. Theo tất cả những gì chúng ta biết được t ừ bản văn Cựu-ước, chúng ta có thể miễn cho Ra-háp tội phóng đãng và gọi nàng là “nữ chủ quán”. Nhưng không thể như vậy, vì trong Gia 2:25 và He 11:31, các tác giả dùng từ Hy-lạp với nghĩa rõ ràng là “kỵ nữ”.
Điều đáng lưu ý là trong ân điển Ngài, Đức Chúa Trời đã sử dụng những người mà theo cái nhìn của chúng ta, họ không bao giờ được làm tôi tớ Đức Chúa Trời. “Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời” (ICo 1:27-29). Chúa Giê-xu là “bạn với người thâu thuế và kẻ có tội”