...phần nầy, Giô-suê tóm lược sự chinh phục các thành ở phía nam (Gios 10:29-43), phía bắc (Gios 11:1-15) xứ Pa-léc-tin, à kết thúc bằng một bảng liệt kê tên của các vua bị Y-sơ-ra-ên đánh bại (Gios 11:26-12:24). Nếu các trang cuối của quyển Kinh Thánh của bạn có bản đồ cho cuộc chinh phục nầy, bạn nên tham khảo nó khi đọc các đoạn Kinh Thánh nầy.
Có hai sự kiện nổi bật: Chính Đức Chúa Trời là Đấng ban chiến thắng (Gios 10:30,32,42; Gios 11:6,8) và Giô-suê vâng lời Đức Chúa Trời như Môi-se đã căn dặn nên đã tiêu diệt hoàn toàn kẻ thù (Gios 11:9,12,15,20). Ga-ba-ôn là ngoại lệ duy nhất.
Chiến lược của Giô-suê là đi cắt ngang và chia đôi xứ, sau đó chiếm các thành ở phía nam, rồi đến các thành ở phía bắc. Có hơn một lần ông tấn công bất ngờ vào kẻ thù (Gios 10:9; Gios 11:7) và những lời hứa của Đức Chúa Trời đã khích lệ ông (c.6 Gios 1:9; Gios 18:1).
Trong Gios 10:29-35, chúng ta thấy đội quân đang đánh ở các ngọn đồi dưới chân núi; nhưng trong câu 36, chiến dịch chuyển lên các dãy núi. Liên minh của các vua phía bắc không đánh bại được Y-sơ-ra-ên dù quân đội của họ đông hơn quân Do-thái rất nhiều (Gios 11:1-9).
“Lâu ngày” trong câu 18 là khoảng 7 năm. Thất bại của Y-sơ-ra-ên tại Ca-đe Ba-nê-a (Phuc 2:14), lúc đó Ca-lép 40 tuổi (Gios 14:7) cho đến khi họ vượt qua sông Giô-đanh là 38 năm. Ông được 85 tuổi khi cuộc chinh phục kết thúc (c.10), như vậy ít nhất phải mất 7 năm chinh chiến.
Người A-na-kim được đề cập trong Gios 11:21-22 là tộc người khổng lồ, con cháu của A-nác, 10 thám tử vô tín đã từng khiếp sợ những người khổng lồ nầy (Dân 13:22,28,33). Hai thám tử có đức tin, Giô-suê và Ca-lép, không sợ hãi như họ nhưng tin Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ chiến thắng. Chiến thắng của Giô-suê trên dân A-na-kim được ghi lại trong Gios 11:21-22 và của Ca-lép trong Gios 14:12-15.
Sự mâu thuẫn giữa Gios 11:23 và Gios 13:1 có thể được giải thích dễ dàng. Giô-suê cùng đội quân của ông đã nắm quyền kiểm soát cả xứ vì đã tiêu diệt được các thành quan trọng cùng với vua và cư dân của nó. Y-sơ-ra-ên không chiếm từng thành nhỏ hoặc giết từng người hay từng lãnh đạo, nhưng họ giết đủ để bẻ gãy thế lực của kẻ thù và nắm quyền kiểm soát cả xứ.
Một khi thực hiện được điều nầy và được nghỉ yên trong xứ, Giô-suê mới có thể chia sản nghiệp cho từng chi phái; và trong mỗi phần sản nghiệp của mình, ác chi phái được kiểm soát các cư dân hiện còn cư ngụ trong đó. Ngay khi Giô-suê và các quan chức qua đời, vẫn còn những phần đất cần phải chiếm lấy (Cac 1:1-3:31).
30 vua được liệt kê trong Gios 12:1-24, bắt đầu là Si-hôn và Óc với phần đất phía đông Giô-đanh và đã bị chiếm khi Môi-se còn lãnh đạo (Gios 12:1-8; Dân 21:21-35). 16 vua bị đánh bại trong chiến dịch miền nam được liệt kê trong Gios 12:9-16 và 15 vua phía bắc được kể tên từ câu 17-24.
Đến đây chúng ta bước sang giai đoạn chia đất cho các chi phái (đoạn 13-21) để khám phá những lẽ thật thuộc linh mà chúng ta cần biết và áp dụng khi chúng ta nhận lấy sản nghiệp thuộc linh trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Gios 11:1-23; xem giải nghĩa Gios 10:29-42.
Gios 12:1-24; xem giải nghĩa Gios 10:29-42.
10. XỨ SỞ NẦY LÀ CỦA CHÚNG TA (Gios 13:1-21:45)
Giô-suê đã hoàn tất nửa đầu sứ mạng mà Đức Chúa Trời dành cho ông: Ông đã chinh phục kẻ thù và nắm quyền kiểm soát cả xứ và các thành của nó (Gios 1:1-5). Giờ đây ông phải thực hiện tiếp nửa sau của sứ mạng đó và chia đất để mỗi chi phái nhận làm sản nghiệp và hưởng những điều Đức Chúa Trời ban cho họ (c.6). (Dân 34:1-35:34).
Từ sản nghiệp xuất hiện trên 50 lần trong 9 đoạn Kinh Thánh nầy và là từ rất quan trọng. Dân Do-thái hưởng được xứ của họ. Họ không nhận xứ ấy như một chiến lợi phẩm hay mua xứ của họ như một cuộc giao dịch buôn bán. Đức Chúa Trời chính là chủ duy nhất, đã cho họ thuê đất ấy. Ngài đã dạy họ rằng: “Đất không được đoạn mãi; vì đất thuộc về ta, các ngươi ở cùng ta như kẻ khách ngoại bang và kẻ kiều ngụ” (Le 25:23). Hãy tưởng tượng Đức Chúa Trời là chủ đất của bạn!.
“Tiền thuê đất” mà Đức Chúa Trời cần là sự vâng phục của dân Y-sơ-ra-ên đối với Luật Pháp của Ngài.Bao lâu dân Do-thái còn tôn kính Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng và đầu phục, thì Ngài còn ban phước cho họ, khiến cho đất của họ sinh bông trái, và giữ cho đất nước của họ hoà bình với các nước láng giềng. Khi Y-sơ-ra-ên chấp nhận những ơn phước và lời rủa sả tại núi Ga-ri-xim và núi Ê-banh (Gios 8:30-35) tức họ chấp nhận điều kiện trong cái gọi là “Giao-ước thuộc về Pa-léc-tin”. Họ được sở hữu đất nầy chính là nhờ ân điển của Đức Chúa Trời; nhưng quyền sở hữu và sự vui hưởng của họ tùy thuộc vào sự đầu phục và và sự vâng lời của họ đối với Đức Chúa Trời (Le 26:1-46; Phuc 27:1-30:20 để biết chi tiết về Giao-Uớc nầy).
Đất Hứa là tặng vật từ tình yêu thương của Đức Chúa Trời; và nếu dân Y-sơ-ra-ên kính yêu Chúa, họ sẽ muốn vâng lời Ngài và làm đẹp lòng Ngài trong cách họ sử dụng đất của Ngài (Phuc 4:37-39). Thật đáng tiếc, cuối cùng họ đã xem thường Đức Chúa Trời, bất tuân Luật Pháp Ngài và làm ô uế đất; nên Đức Chúa Trời đã phạt họ trong xứ của Ba-by-lôn.
Có bốn giai đoạn chính trong việc chia đất; trong mỗi giai đoạn đều có bài học thuộc linh cho dân sự Đức Chúa Trời ngày nay, là những người muốn hưởng sản nghiệp thuộc linh trong Chúa Cứu Thế. Khi nghiên cứu những đoạn Kinh Thánh nầy, tôi khuyên bạn nên tham khảo bản đồ của Đất Hứa, trong đó bạn sẽ thấy những ranh giới của 12 chi phái và các thành có liên quan.
1. Sự phân chia tại Ghinh-ganh (Gios 13:1-33) (Gios 13:1-17:18)
Trong cuộc chinh phục Ca-na-an, Ghinh-ganh trở thành trung tâm của mọi hoạt động của Y-sơ-ra-ên. Sau nầy, Giô-suê dời trại và đền tạm đến vị trí trung tâm hơn tại Si-lô (Gios 18:1).
Chúng ta không biết chính xác tuổi của Giô-suê trong thời điểm nầy của lịch sử Y-sơ-ra-ên, có thể ông đã đến tuổi 100. Ca-lép đã 85 (Gios 14:10), và chắc chắn Giô-suê lớn tuổi hơn Ca-lép. Giô-suê sống đến 110 tuổi (Gios 24:19), và những sự kiện được mô tả trong nửa sau sách nầy rất có thể đã diễn ra trong vòng 10 năm.
Cách phân chia lãnh thổ ở Ca-na-an được ghi lại trong Gios 14:1-2. Thầy tế lễ thượng phẩm Ê-lê-a-sa, Giô-suê, và các đại diện của mỗi chi phái (Dân 34:13-29) rút thăm trước mặt Đức Chúa Trời bằng cách nầy họ biết được ý muốn của Ngài (Ch 16:33). Khi Giô-suê dời trại đến Si-lô, họ đã thay đổi cách thức (Gios 18:1-7),
Hai chi phái rưỡi ở bờ đông sông Giô-đanh (Gios 13:1-33). Ru-bên, Gát và nửa chi phái Ma-na-se đã đồng ý giúp các chi phái khác chinh phục xứ trước khi trở về bờ đông sông Giô-đanh để hưởng sản nghiệp mình (Dân 32:1-42). Họ xin phần đất bên ngoài biên giới Ca-na-an vì đất ở đó rất thích hợp cho việc chăn thả gia súc.
Dường như họ không bận tâm đến việc hai chi phái rưỡi nầy không sống trong phần đất mà Đức Chúa Trời ban cho. Môi-se đã tử tế đồng ý với sự lựa chọn của họ và để họ sống bên kia sông Giô-đanh. Khi nghiên cứu Giô-suê đoạn 21, chúng ta sẽ rút ra một bài học, đó là dù lựa chọn của họ có thể rất tốt cho bầy gia súc, nhưng nó sinh ra những vấn đề nghiêm trọng cho con cái họ.
Những chi phái nầy trở thành “vùng đệm” giữa Ca-na-an và những nước ngoại bang như Mô-áp và Am-môn. Dĩ nhiên, vị trí của họ khiến họ dễ bị tấn công về chính trị và những ảnh hưởng xấu của ngoại giáo; cả hai bất lợi nầy cuối cùng đã làm họ sụp đổ. Vùng biên giới được chia cho Ru-bên ở phía nam (Gios 13:15-23), và nửa chi phái ma-na-se ở phía bắc (c.29-32), Gát ở giữa (c.24-28).
Bài học 1. Đừng trở thành “tín đồ đứng bên lề”.
Hãy bước vào sản nghiệp mà Đức Chúa Trời ban cho bạn và vui hưởng nó. “Ngài chọn cơ nghiệp cho chúng tôi, là sự vinh hiển của Gia-cốp mà Ngài yêu mến” (Thi 47:4). Ý muốn của Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu thương của Ngài, và đó là điều tốt nhất cho chúng ta.
Vì chi phái Ru-bên nhận phần đất từ Mô-áp, nên câu chuyện về Ba-la-am được đề cập ở đây là hợp lý (Gios 13:22-23; Dân 22:1-25:18). Khi Ba-la-am nhận thấy Đức Chúa Trời biến những lời rủa sả của ông thành những ơn lành, ông khuyên Ba-lác nên thân thiện với người Do-thái và mời họ tham dự một trong những lễ tiệc mang tính tôn giáo của người Mô-áp. Kết quả của việc nầy là những người nam Do-thái đã cưới người nữ Mô-áp làm vợ, và như vậy đã vi phạm Luật Pháp của Đức Chúa Trời. Sa-tan không thành công khi như con sư tử rủa sả dân sự Đức Chúa Trời, nó liền trở nên như con rắn và đã thành công, đã lừa gạt được Y-sơ-ra-ên và dẫn dụ những người nam bước vào sự thoả hiệp xấu xa.
4 lần trong những đoạn Kinh Thánh nầy, chúng ta được nhắc nhở rằng người Lê-vi không được chia sản nghiệp trong xứ (Gios 13:14,33; Gios 14:3-4; Gios 18:7), vì chính Đức Chúa Trời là sản nghiệp của họ (Phuc 18:1-8; Phuc 10:8-9; Dân 18:1-32). Các thầy tế lễ nhận phần của mình từ những của tế lễ, và cả thầy tế lễ và người Lê-vi cùng được chia phần trong số của dâng phần mười và các của lễ đặc biệt mà dân sự đem đến dâng theo luật định.
Nhưng có những yếu tố khác liên quan đến việc phân tán chi phái Lê-vi. Thứ nhất, Đức Chúa Trời không muốn nhiệm vụ trong chi phái làm thầy tế lễ và người Lê-vi xao lãng; Ngài muốn họ dành hết tâm sức để hầu việc Ngài. (IITi 2:4). Ngài cũng muốn họ là “muối và ánh sáng” trong xứ khi họ sống giữa vòng dân sự và dạy dỗ cho Luật Pháp cho dân sự. Si-mê-ôn và Lê-vi cũng phải phân tán để ứng nghiệm lời tiên tri của Gia-cốp (Sa 49:5-7, xem đoạn 34). Si-mê-ôn cuối cùng trở thành một phần của chi phái Giu-đa.
Hai chi phái rưỡi ở phía tây Giô-đanh (Gios 14:1-17:18). Các chi phái tiếp theo được định cư là Giu-đa ở miền nam (Gios 14:6-15:63), Ép-ra-im ở giữa xứ (Gios 16:1-10), và nửa chi phái Ma-na-se còn lại ở miền bắc (Gios 17:1-18).
Vì Ca-lép thuộc chi phái Giu-đa (Dân 13:30) và một trong hai thám tử trung thành, ông nhận sản nghiệp mình trước nhất. Giô-suê, người thám tử thứ hai trung thành, là người nhận sản nghiệp sau cùng (Gios 19:49-51). Ca-lép nhắc Giô-suê bạn mình về lời hứa của Môi-se đã lập với họ 40 năm trước (Dân 14:24,30; Phuc 1:34-36), rằng họ sẽ còn sống sau những năm lưu lạc trong đồng vắmg và được nhận sản nghiệp mình trong xứ. Lời hứa nầy mang lại niềm vui và lòng can đảm cho Giô-suê và Ca-lép trong suốt những năm lưu lạc và chờ đợi.
Bài học 2. Hãy can đảm trong cuộc hành hương của bạn! Bạn đã nhận được sản nghiệp mình trong Chúa Cứu Thế rồi và có thể hưởng “đủ mọi thứ phước thiên liêng” (Eph 1:3). Vì bạn có sản nghiệp vinh hiển trước mặt (IPhi 1:3-6), hãy luôn trông đợi! Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước!
Ca-lép đã 85 tuổi, nhưng ông không muốn nhận việc nhẹ nhàng, thích hợp với “một người đã già”. Ông xin Giô-suê cho ông lên núi để đánh người khổng lồ! Sức lực của ông ở trong Chúa, và ông biết rằng Đức Chúa Trời không bao giờ bỏ rơi ông. Bí quyết của đời sống Ca-lép được tìm thấy trong một câu được lập lại 6 lần trong Kinh Thánh: “Người có trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên” (Gios 14:14; Dân 14:24; Dân 32:12; Phuc 1:36; Gios 14:8-9). Ca-lép là người chiến thắng vì ông có đức tin nơi Đức Chúa Trời (IGi 5:4).
Bài học 3. Chúng ta không bao giờ quá già để bắt đầu một cuộc chinh phục mới của đức tin trong quyền năng của Đức Chúa Trời. Giống Ca-lép, chúng ta có thể leo lên núi và chiến đấu với người khổng lồ nếu chúng ta hoàn toàn bước theo Chúa. Dù chúng ta có già đến đâu, chúng ta không bao giờ thôi tin cậy và phục vụ Đức Chúa Trời.
Trong Gios 15:13-19, chúng ta thấy Ca-lép dự liệu cho thế hệ sau. Một phần đức tin của Ca-lép đã truyền sang cho Ốt-ni-ên, con rể của ông, về sau người nầy làm quan xét trong xứ (Cac 3:7-11). Đức tin của Ca-lép cũng cảm động con gái của ông; vì cô ấy đã có đức tin để xin cha cho một thửa ruộng và sau đó là một dòng nước để tưới tiêu. Gương đức tin của Ca-lép để lại cho gia đình ông còn quý giá hơn những tài sản mà ông dành lại cho họ.
Bài học 4. Thế hệ đi trước phải dự liệu cho thế hệ sau, không chỉ về vật chất mà trên hết là về thuộc linh. “Thánh đồ lão thành” phải làm gương cho các tín đồ và khích lệ thế hệ trẻ tin cậy Đức Chúa Trời và trung thành bước theo Ngài.
Sản nghiệp của những người còn lại trong chi phái Giu-đa được mô tả trong Gios 15:1-12,21,63. Chúng ta không rõ tại sao trong câu 32 viết là 32 thành trong khi kể tên đến 36 thành, nhưng có lẽ vì tính luôn tên của một số “làng” bên ngoài các tường thành. Lúc đó người Do-thái không thể chiếm được hoàn toàn thành Giê-ru-sa-lem (c.63). Sau nầy họ có chiếm giữ nó tạm thời (Cac 1:8), cho đến đời vua Đa-vít mới chiếm được thành vĩnh viễn và lập thủ đô tại đó (IISa 5:6-10).
Ép-ra-im và Ma-na-se là con trai của Giô-sép, được Gia-cốp “nhận làm con” và chúc phước cho (Sa 48:15-22). Vì chi phái Lê-vi không được chia sản nghiệp, nên hai chi phái nầy thế chỗ để vẫn còn đủ 12 chi phái Y-sơ-ra-ên. Theo thứ tự lớn nhỏ thì Ma-na-se rồi đến Ép-ra-im (Gios 16:41-17:1) nhưng Gia-cốp đã đảo ngược thứ tự nầy.
Đức Chúa Trời khước từ sự sinh ra lần thứ nhất của chúng ta và ban cho chúng ta sự sinh ra lần thứ hai.Ngài chấp nhận A-bên và khước từ Ca-in; Ngài từ chối Ích-ma-ên và chấp nhận Y-sác, con trai thứ của Áp-ra-ham; Ngài từ chối Ê-sau và nhận Gia-cốp. Trong nước Y-sơ-ra-ên, con trai được hưởng tài sản nhưng các con gái của Xê-lô-phát thấy rằng không nên để con gái bị phân biệt đối xử (c.3-6; Dân 27:1-11). Giống các con gái của Ca-lép, những người nữ nầy có đức tin và lòng can đảm để đòi sản nghiệp của mình, và họ thậm chí đã thay đổi luật pháp!
Bài học 5. Đức Chúa Trời muốn ban cho thất cả dân sự Ngài sản nghiệp của họ. “Anh em chẳng được chi, vì không cầu xin”(Gia 4:2). Trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, tất cả tín đồ là một và là những người thừa kế của Đức Chúa Trời (Ga 3:26-29). Không có gì thuộc về lần sinh ra thứ nhất của bạn ngăn trở bạn nhận lãnh mọi điều bạn có trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Giô-suê gặp vấn đề với các con của Giô-sép (Ép-ra-im và Ma-na-se), họ than phiền vì Chúa không dành đủ chỗ cho họ! (Gios 17:14-18). Bạn có thể thấy sự kiêu ngạo của họ khi họ nói với Giô-suê rằng họ là một dân rất đông. Chẳng phải chính Gia-cốp đã nhận họ làm con và đặc biệt chúc phước cho họ sao? Dân số của họ không phải đã tăng rất nhiều sao? Và Giô-suê chẳng phải xuất thân từ chi phái Ép-ra-im hay sao? (Dan 13:8). Họ là một dân đặc biệt nên đáng được đối xử đặc biệt.
Nếu so sánh số liệu trong Gios 1:32-35 với Gios 26:34,37, bạn sẽ thấy con cháu Giô-sép gia tăng từ 72.700 đến 85.200 người, và Ép-ra-im ít hơn 8.000 người. Nhưng 6 chi phái khác đã gia tăng dân số kể từ lần kê sổ cuối cùng. Như vậy, các con của Giô-sép không phải là những người duy nhất sinh sản thêm nhiều.
Giô-suê nói với các anh em mình rằng, nếu họ có dân số đông như vậy, thì giờ đây là cơ hội để chứng minh điều đó! Họ hãy làm điều mà Ca-lép đã làm, đó là đánh bại những người khổng lồ và chiếm các vùng núi! Lưu ý rằng Dân Ép-ra-im và Ma-na-se dường như có thói quen chỉ trích và kiêu ngạo. Họ không chỉ sinh chuyện cho Giô-suê mà còn cho Ghê-đê-ôn (Cac 8:1-3), Giép-thê (Cac 12:1-7) và cho cả Đa-vít (IISa 20:1-5). “Vì ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác” (Gia 3:16).
Bài học 6. Không phải bởi sự khoe khoang, nhưng chính bởi lòng tin mà bạn được ban cho sự chiến thắng và giành được đất mới. Đôi khi những người nói nhiều nhất lại là những người làm được ít nhất.
-Gios 14:1-15;xem giải nghĩa Gios 13:1-33.
-Gios 15:1-63; xem giải nghĩa Gios 13:1-33.
-Gios 16:1-10; xem giải nghĩa Gios 13:1-33.
-Gios 17:1-18; xem giải nghĩa Gios 13:1-33.
2. Sự phân chia tại Si-lô (Gios 17 :1-33) (Gios 18:1-19:51)
Đến lúc nầy đã có 5 chi phái nhận được sản nghiệp mình. Sau đó Giô-suê dời trại đến Si-lô, trong vùng đất thuộc về chi phái Ép-ra-im; đền tạm ở nơi đó cho đến khi Đa-vít đời hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem (xem giải nghĩa Gios 13:1-33; IISa 16:1-23). Chắc chắn Đức Chúa Trời hướng dẫn Giô-suê trong việc di dời nầy nếu không thì ông ta không dời chỗ như vậy (Phuc 12:5-7). Si-lô nằm ngay trung tâm của xứ và thuận lợi hơn cho tất cả các chi phái.
7 chi phải vẫn chưa được chia sản nghiệp, và dường như họ đáp ứng chậm chạp với thách thức nầy. Không giống Ca-lép và các con gái của Xê-lô-phát, các chi phái nầy không có đức tin và cũng chẳng có lòng nhiệt tình về mặt thuộc linh. Những chi phái nầy đã giúp trong các cuộc chiến và đánh bại kẻ thù, nhưng giờ họ do dự khi nhận lấy sản nghiệp để được hưởng xứ mà Đức Chúa Trời ban cho. “Kẻ biếng nhác không chiên nướng thịt mình đã săn; Song người siêng năng được tài vật quý báu của loài người” (Ch 12:27)
Vào thời điểm nầy, Giô-suê và các lãnh đạo đưa ra cách mới để chia đất. Sau khi mỗi chi phái cử ra 3 người đại diện, thì tất cả 21 người trong 7 chi phái còn lại ấy sẽ đi khắp các vùng đất chưa chia để xem qua các thành và các biên giới. Họ về báo cáo lại cho Giô-suê để ông chia đất cho 7 chi phái còn lại bằng cách rút thăm trước mặt Đức Giê-hô-va.
Vì Bên-gia-min là em ruột của Giô-sép, nên phần đất của chi phái nầy nằm canh chi phái Ép-ra-im và Ma-na-se (Gios 18:11-28). Si-mê-ôn hưởng chung sản nghiệp với Giu-đa (Gios 19:1-9; Sa 49:7) và cuối cùng cư ngụ trong thành được chỉ định trong Gios 15:21. Con cháu của Giô-sép muốn có thêm đất, nhưng lại không muốn lấy đức tin để đấu tranh vì nó;nhưng dân Giu-đa có quá nhiều đất đến nỗi chia xẻ cho Si-mê-ôn. Thật là một sự tương phản!
Vùng phía bắc Ma-na-se được giao cho chi phái Sa-bu-lôn (Gios 19:10-16), Y-sa-ca (c.17-23), A-se (c.24-31), à Nép-ta-li (c.32-39). Sa-bu-lôn và Nép-ta-li về sau trở thành “Ga-li-lê thuộc về dân ngoại” (Mat 4:15-16), Chúa Giê-xu thi hành chức vụ ở đây khi Ngài sống trên đất. “Biển Ki-nê-rết” (Gios 12:3; Gios 13:27) là biển Ga-li-lê. Từ Hy-bá-lai chinnereth có nghĩa là “đàn hạc”, và biển Ga-li-lê có hình dáng giống cây đàn hạc.
Chi phái cuối cùng nhận phần đất của mình là Đan (Gios 19:40-48), chi phái nầy bắt tay ngay vào công việc và mở mang lãnh thổ của mình. Đan và Bên-gia-min hình thành một “dây đai” chạy ngang qua xứ, nối Biển Chết và Địa Trung Hải.
Là người lãnh đạo, Giô-suê là người cuối cùng nhận sản nghiệp mình; Chúa ban cho ông Thim-nát-Sê-rách (c.49-50). Giống Ca-lép, bạn mình, Giô-suê thích sống ở miền núi.
-Gios 18:1-28;xem giải nghĩa Gios 13:1-33.
-Gios 19:1-51; xem giải nghĩa Gios 13:1-33.
3. Phân định các thành ẩn náu (Gios 20:1-9)
Khi cả nước vẫn còn ở bên kia sông Giô-đanh, Đức Chúa Trời phán dặn Môi-se dành riêng các thành cho người Lê-vi (Dân 35:1-5), và 6 thành “ẩn náu” (Xu 21:13 Dân 35:6-34; Phuc 19:1-3). Giờ đây các chi phái đều đã nhậnphần đất của mình rồi, Giô-suê lo phân định các thành ẩn náu nầy.
Ngay từ trước khi Luật Pháp Môi-se được ban ra, Đức Chúa Trời đã đặt ra quy định cơ bản là tội làm đổ huyết phải trả bằng huyết của chính mình (Sa 9:5-6). Nguyên tắc nầy được nói rõ nhiều lần trong Luật Pháp, nhưng Đức Chúa Trời có phân biệt giữa tội mưu sát và tội ngộ sát (Xu 21:12-14; Le 24:17; Dân 35:16-21; Phuc 19:11-13). “Vì huyết làm ô uế xứ.Nhược bằng có kẻ làm đổ huyết ra trong xứ, nếu không làm đổ huyết nó lại, thì không thể chuộc tội cho xứ được. Vậy, các ngươi chớ làm ô uế xứ, là nơi các ngươi sẽ ở” (Dân 35:33-34).
Sáu “thành ẩn náu” nầy rất cần thiết vì xã hội thời đó không có lực lượng cảnh sát để điều tra tội phạm. Mỗi gia đình phải có nhiệm vụ báo thù kẻ sát nhân, nhưng làm thế nào họ biết đâu là tội mưu sát và đâu là tội ngộ sát? Trong khi nóng lòng trả thù vì cái chết của người thân, họ có thể giết lầm người vô tội.
Giô-suê để riêng 3 thành ẩn náu ở mỗi bên bờ sông Giô-đanh. Ở bờ tây có thành Kê-đe, thuộc vùng cực bắc trong phần đất của chi phái Nép-ta-li; Si-chem, thuộc miền trung nằm trong chi phái Ma-na-se; và Hếp-rôn, thuộc niềm nam nằm trong chi phái Giu-đa. Bên bờ đông sông Giô-đanh có các thành Gô-lan, thuộc miền bắc trong chi phái Ma-na-se, Ra-mốt trong chi phái Gát, và Bết-se ở cực nam thuộc phần đất của chi phái Ru-bên. Vì Đất Hứa rộng tương đương bang Ma-ry-land, nên không ai ở quá xa thành ần náu.
Luật lệ liên quan đến thành ẩn náu thật đơn giản. Bất cứ ai phạm tội giết người đều có thể chạy vào thành ẩn náu để trốn “người báo thù huyết” cho đến khi các trưởng lão của thành điều tra vụ việc. Nếu kẻ giết người ấy thật sự có tội, thì phải lãnh án tử; nhưng nếu các trưởng lão kết luận anh ta chỉ ngộ sát, thì anh ta được phép sống trong thành, và khi ở trong thành ẩn náu anh ta được bảo vệ để không ai có thể báo thù anh ta. Sau khi thầy tế lễ cả qua đời, người trốn trong thành ẩn náu có thể trở về nhà mình.
Nhiều học giả xem thành ẩn náu là hình ảnh về sự cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng mà chúng ta “đã trốn đến nơi ẩn náu” (He 6:18). Dĩ nhiên, tội nhân hư mất đang trong cảnh nguy hiểm vì “tiền công của tội lỗi là sự chết” (Ro 6:23). Kẻ báo thù huyết đang rượt đuổi sau anh ta! Chúa Cứu Thế do Đức Chúa Trời sai xuống là Chúa Giê-xu (Cong 4:12), nhưng tội nhân phải lấy đức tin đến với Ngài để được cứu (Mat 11:28-30; Gi 6:37). Con đường dẫn đến mỗi thành ẩn náu đã được dọn sẳn (Phuc 19:3). Đức Chúa Trời muốn người lánh nạn dễ dàng tìm thấy con đường dẫn tới sự an toàn.
Ngoài điều nầy, thì có sự khác biệt.Khi chúng ta đến Chúa Cứu Thế để được cứu rỗi, chúng ta không phải bị điều tra và xét xử nữa, vì chúng ta biết mình phạm tội; và chúng ta nhận tội rồi!. Những người được Chúa Giê-xu cứu là những người xưng nhận tội lỗi mình và phó mình trong sự nhân từ của Ngài.
Nếu kẻ lánh nạn rời khỏi thành ẩn náu trước thời hạn thì sẽ bị giết chết; nhưng sự cứu rỗi của chúng ta trong Chúa Cứu Thế thì vô điều kiện. Thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta sẽ không bao giờ chết, và chúng ta được an toàn vĩnh viễn. “Nhưng Ngài, vì hằng có đời đời, nên giữ lấychức tế lễ không hề đổi thay. Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” (He 7:24-25).
• Ý nghĩa của tên các thành ẩn náu nầy thật hay.
Theo thứ tự được kể trong Gios 20:7-8, chúng ta có Kê-đe = “công chính”; Si-chem = “bờ vai”; Hếp-rôn = “thông công”; Bết-se = “đồn lũy” hay “mạnh mẽ”; và Ra-mốt = “các đỉnh cao”. Những nhà ngôn ngữ có sự giải thích khác nhau về ý nghĩa của tên Gô-lan, nhưng trong quyển Gesenius Lexicon giải nghĩa nó là “lưu đày”.
Vì vậy các tên nầy có thể được dùng để mô tả kinh nghiệm của tội nhân khi lấy đức tin chạy đến với Chúa Cứu Thế Giê-xu. Trước hết, Ngài dành cho họ sự công chính của Ngài, và họ không còn bị cáo buộc nữa. Không còn có sự đoán phạt nào nữa! (Ro 8:1) Giống như một người chăn, Ngài vác họ trên vai, và họ bước vào mối thông công với Ngài. Ngài là đồn lũy của họ, và họ được an toàn. Họ ở trên đỉnh cao cho dù họ là những kẻ bị lưu đày, những người hành hương, và người khách lạ trong thế gian nầy.
Bài học 7. Nếu không lấy đức tin chạy đến với Chúa Cứu Thế Giê-xu, ạn không bao giờ được cứu! Vì tội lỗi của chúng ta, Chúa Giê-xu phải chịu treo trên thập giá, nên tất cả chúng ta đều mắc tội với cái chết của Ngài, Ngài là Cứu Chúa duy nhất, và nếu không tin Ngài, thì không có sự cứu rỗi. Bạn đã chạy đến với Cứu Chúa chưa?
Trước khi nói sang chủ đề khác, chúng ta nên chú ý rằng còn có một áp dụng cho dân Y-sơ-ra-ên. Cả nước Y-sơ-ra-ên đều mắc tội trong cái chết của Chúa Cứu Thế Giê-xu, nhưng đó là tội không hiểu biết của một phần dân chúng (Cong 3:12-18). Khi Chúa Giê-xu cầu nguyện trên thập tự giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Lu 23:34), tức là Ngài tuyên bố họ phạm tội ngộ sát, không phải mưu sát (ICo 2:7-8). Con đường cứu rỗi đang rộng mở cho họ, và Đức Chúa Trời dành cho họ gần 40 năm để ăn năn trước khi Ngài giáng hình phạt trên họ. Nguyên tắc nầy cũng được áp dụng cho sứ đồ Phao-lô (ITi 1:12-14). Tuy nhiên, hông một tội nhân nào ngày nay có thể nói rằng mình không biết, vì Đức Chúa Trời đã tuyên bố cả thế gian đều phạm tội và không thể biện hộ (Ro 3:9-19).
4. Xác định các thành cho người Lê-vi (Gios 21:1-45)
Như đã lưu ý trước, chi phái Lê-vi không được chia đất mà phải sống rãi rác khắp xứ. Bởi đó, họ có thể dạy Luật Pháp cho dân chúng và nhắc nhở các chi phái phải trung thành với Đức Chúa Trời.Nhưng người Lê-vi cần có nơi để cư ngụ và đồng cỏ cho súc vật của họ. Vì vậy, ức Chúa Trời dành 48 thành cho họ, cùng với các đồng cỏ (Dân 35:15). Đồng cỏ của họ không được bán, nhưng nhà thì có thể bán; và người Lê-vi còn có quyền chuộc tài sản (Le 23:32-34).
Hai bảng liệt kê các thành dành cho người Lê-vi mà chúng ta có Gios 21:1-45 và ISu 6:54-81 không hoàn toàn nhất quán với nhau; tên các thành và cách viết có thay đổi theo thời gian, và đôi khi có những thành mới thêm vào và thành củ bị loại bỏ đi.
Có 48 thành cho người Lê-vi, 6 thành trong số đó là thành ẩn náu. Mỗi chi phái dành ra 4 thành, ngoại trừ Giu-đa và Si-mê-ôn góp chung 9 thành, Nép-ta-li dành ra 3 thành. Con cháu của ba con trai A-rôn Kê-hát, Ghẹt-sôn và Ma-ra-ri được giao nhiều thành khác nhau, dù cũng có người Do-thái sống chung trong đó. Trong Dân 26:62, tác giả cho biết có 23.000 người Lê-vi trước khi Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa. Đây là một dòng dõi đông đúc, do vậy phải chia ra sinh sống trong 48 thành ấy.
Điều quan trọng là dân Y-sơ-ra-ên, một dân tộc có những người đủ phẩm chất và quyền hạn phục vụ trong đền tạm và sau nầy là trong đền thờ. Chúng ta không được xem thường chức vụ giảng dạy của thầy tế lễ và người Lê-vi (IISu 17:7-9). Vì dân thường không có Kinh Thánh, nên người Lê-vi cần phải sống hoà mình với dân chúng để giải thích Luật Pháp cho họ. Các thành của người Lê-vi không quá xa cụm dân cư, nên ai cũng có thể đến gặp người có thể giúp đỡ mình hiểu biết và áp dụng Luật Pháp Môi-se.
Kết thúc phần khá dài nầy là 3 lời khẳng định tuyệt vời:
-Thứ nhất, Đức Chúa Trời là thành tín và đã ban xứ cho Y-sơ-ra-ên (Gios 20:43). Ngài giữ giao ước mà Ngài đã lập, đầu tiên là với Áp-ra-ham (Sa 12:7) và sau là với hậu duệ của ông.
-Thứ hai, Đức Chúa Trời giúp cho Y-sơ-ra-ên đánh thắng kẻ thù và cho họ được yên nghĩ sau chiến tranh (Gios 20:44;Gios 1:13,15; Gios 11:23). Điều mà 10 thám tử vô tín nói ở Ca-đe Ba-nê-a rằng không bao giờ có thể xảy ra, giờ đã xảy ra, vì Giô-suê và dân sự tin cậy và vâng phục Đức Chúa Trời.
-Thứ ba, Đức Chúa Trời giữ lời hứa của Ngài (Gios 20:45). Trong những ngày cuối đời, Giô-suê nhắc cho dân sự điều nầy (Gios 23:14); Sa-lô-môn cũng nhắc dân chúng điều ấy khi ông cung hiến đền thờ (IVua 8:56).
Là con dân của Đức Chúa Trời, chúng ta lấy đức tin nhận lãnh những lời đảm bảo nầy. Giao ước của Đức Chúa Trời với chúng ta sẽ không kết thúc, quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời có thể giúp chúng ta đánh bại mọi kẻ thù; và lời hứa của Đức Chúa Trời thật đáng tin cậy, dù hoàn cảnh trước mặt có như thế nào.
Giao-ước của Đức Chúa Trời, quyền năng của Đức Chúa Trời, và lời hứa của Đức Chúa Trời đó là những tài nguyên thuộc linh để chúng ta nương cậy khi nhận lãnh sản nghiệp mình trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
10. VÀ KHI CHIẾN TRANH KẾT THÚC (Gios 22:1-34)
Tôi nhớ mãi ngày VE (Chiến thắng tại Âu Châu), ngày 8 tháng 5 năm 1945, Tổng thống Truman hùng hồn loan báo trên đài phát thanh: “Tướng Eisenhower vừa thông báo các lực lượng Đức đã đầu hàng Liên Hiệp Quốc. Những lá cờ tự do bay phấp phới trên khắp bầu trời Châu Âu”.
Tôi cũng nhờ ngày VJ (Chiến thắng Nhật), ngày 14 thánh 8 năm 1945, khu phố nơi tôi sinh sống đông nghẹt người và toàn là những người xa lạ đã ôm nhau reo hò. Người Nhật đã chấp nhận đầu hàng Đồng Minh, cuộc chiến kết thúc. Hai anh trai tôi phục vụ trong Đoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ trở về nay mai!
Binh lính của các chi phái Ru-bên, Gát và nửa chi phái Ma-na-se chắc rất vui mừng khi cuộc chinh phục Ca-na-an kết thúc trong khải hoàn. Suốt hơn 7 năm, họ phải chiến đấu xa gia đình và giờ đây họ là những chiến binh chiến thắng được tự do trở về nhà.
Nhưng sự trở về của họ không phải là suôn sẻ. Thật ra, những điều họ làm, có ý tốt, hưng suýt chút nữa gây nên một cuộc chiến khác. Chúng ta cùng xem xét sự việc và rút ra những bài học từ chúng.
1. Sự trở về trong vinh dự (Gios 22:1-8)
“Thắng không kiêu, bại không nản” là lời Ông Winston churchill mô tả một sĩ quan Anh Quốc. “Bại không nản” đúng là phong cách của Giô-suê, vì ông biết chuyển bại thành thắng. Và “thắng không kiêu” cũng vậy. Giô-suê tỏ ra rất hào hiệp với quân lính của ông sau khi giành chiến thắng. Một câu châm ngôn có ý nói rằng xương máu của binh lính làm nên uy danh cho người lãnh đạo. Nhưng Giô-suê, tướng của đội quân Đức Chúa Trời, chỉ đề cao danh tiếng của cấp dưới. Cách cư xử cao thượng nầy được thấy rõ qua việc ông cho phép các binh lính bên kia sông Giô-đanh được trở về với gia đình.
• Giô-suê khen ngợi họ (Gios 22:1-3).
Hai chi phái rưỡi nầy đã hứa với Môi-se rằng họ sẽ không xuất ngũ cho đến khi chinh phục hoàn toàn xứ Ca-na-an, và họ đã giữ lời (Dân 32:1-42; Phuc 3:12-20). Sau khi Môi-se qua đời, họ hứa sẽ trung thành với Giô-suê, vị lãnh đạo mới của họ (Gios 1:12-18). Các chi phái nầy đã trung thành với Môi-se, với Giô-suê và với các anh em mình trong những chi phái khác. “Trong khoảng lâu ngày nay, các ngươi không có bỏ anh em mình cho đến ngày nay, và có vâng giữ mọi điều phải vâng giữ, tức là mạng lịnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi” (Gios 22:3).
Tại sao họ có lòng trung thành như vậy? Trước hết vì họ trung thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Họ thực hiện sứ mạng của chính Ngài và họ muốn làm vinh hiển danh Ngài. Trong sự phục vụ Chúa, lòng trung thành của chúng ta với Chúa phải được đặt lên trên lòng trung thành dành cho người lãnh đạo, với đường lối, thậm chí với quốc gia dân tộc. “Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta, vì biết rằng anh em sẽ bởi Chúa mà được cơ nghiệp làm phần thưởng. Hãy hầu việc Đấng Christ, tức là Chúa” (Co 3:23-24).
• Giô-suê cho họ xuất ngũ trở về nhà (Gios 22:4).
Sau khi làm trọn sứ mạng và giữ vẹn lời hứa của họ, các binh lính trong các chi phái nầy được trở về nhà; vì Đức Chúa Trời đã cho dân sự Ngài được yên nghỉ. Khái niệm về sự yên nghỉ rất quan trọng trong sách Giô-suê và mang nhiều ý nghĩa, ngoài ý nghĩa chiến tranh đã kết thúc. Từ nầy hàm ý cả sự chiến thắng và sự an ninh, còn có ý rằng từ đây dân Y-sơ-ra-ên có được nơi an nghỉ cố định trong xứ. Đức Chúa Trời hứa ban sự an nghỉ cho dân sự Ngài (Xu 33:14; Phuc 12:9-10; Phuc 25:19; Gios 1:13,15), và Ngài giữ lời hứa của Ngài (Gios 11:23; Gios 14:15; Gios 21:44; Gios 22:4; Gios 23:1).
Ứng dụng thuộc linh của sự an nghỉ này đối với dân sự Đức Chúa Trời ngày nay được nói trong Hê-bơ-rơ 3 và 4. khi chúng ta tin Đấng Christ là C ứu Chúa, húng ta được bước vào sự an nghỉ vì chúng ta không còn chống nghịch Đức Chúa Trời nữa (Ro 5:1). Khi chúng ta đầu phục hoàn toàn Đức Chúa Trời và nhận lãnh sản nghiệp bằng đức tin, chúng ta bước vào sự yên nghỉ sâu nhiệm hơn và vui hưởng sự giàu có thuộc linh trong Chúa Cứu Thế. (Mat 11:28-32) về lời mời gọi của Chúa chúng ta). Khi chúng ta đến với Ngài, Ngài ban cho chúng ta sự yên nghỉ. Khi mang lấy ách môn đồ của Ngài, chúng ta tìm được sự yên nghỉ sâu nhiệm hơn.
Hãy tưởng tượng cảnh vui mừng khi các binh lính trở về nhà sau nhiều năm xa cách! Hãy tưởng tượng đến tình yêu thương họ được trải nghiệm, niềm vui họ tìm thấy, và của cải họ được chia! Đó chỉ là một phần nhỏ về hình ảnh sẽ diễn ra khi mà con cái Đức Chúa Trời hưởng khi bước vào sự yên nghỉ mà Đức Chúa Trời ban cho những ai hết lòng tận hiến cho Ngài và tin nơi Lời Ngài.
• Giô-suê khuyên bảo họ (Gios 22:5).
Như mọi người lãnh đạo tốt lành khác, Giô-suê quan tâm đến đời sống thuộc linh của dân sự mình hơn bất cứ điều gì khác. Đội quân của ông đã kinh nghiệm chi ến thắng ở Ca-na-an vì Giô-suê yêu kính Chúa và vâng phục Lời Ngài (Gios 1:7-8). Đó là “điều bí mật mà ai cũng biết” của nền hòa bình và thịnh vượng lâu dài trong Y-sơ-ra-ên. Họ siêng năng trong chiến đấu, vâng phục người lãnh đạo mình thể nào, giờ họ phải chuyên cần trong sự thờ phượng và vâng phục Đức Chúa Trời của họ thể ấy. Đây là lời hứa của mỗi chi phái với Đức Chúa Trời tại núi Ga-ri-xim và núi Ê-banh.
Động cơ để họ vâng phục là tình yêu họ dành cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Nếu yêu mến Ngài, họ sẽ thích bước theo đường lối của Ngài và vâng giữ mọi điều răn của Ngài. Thay vì cứ làm tôi hai chủ, họ sẽ bám chặt Đức Chúa Trời và chỉ hầu việc một mình Ngài với tất cả tấm lòng và linh hồn. Chúa Giê-xu phán đây là điều răn thứ nhất và lớn nhất (Mat 22:36-38) vì vậy nếu không vâng giữ nó tức là phạm tội lớn nhất. “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta” (Gi 14:15).
• Giô-suê chúc phước cho họ (Gios 22:6-8).
Thầy tế lễ thượng phẩm là người chúc phước cho dân sự Đức Chúa Trời (Dân 6:22-27), nhưng người bình thường có thể cầu xin Chúa ban phước cho người khác, nhất là người lãnh đạo cầu xin Chúa ban phước cho dân sự mình và người cha xin Chúa ban phước cho gia đình mình (Sa 27:4; Sa 48:9; IISa 6:18,20; IVua 8:5). Thật cảm động khi thấy vị tướng cầu xin Đức Chúa Trời ban phước cho binh lính mình!
Nhưng phước lành nầy còn có những chiến lợi phẩm dư dật được chia cho họ và cho những thành viên trong gia đình họ. Y-sơ-ra-ên có một thông lệ là những ai ở nhà, hoặc những người không tham chiến vì lý do nào đó cũng được chia chiến lợi phẩm (Dân 31:25-27; ISa 30:23-25). Dù thế nào, những người nầy đã bảo vệ các thành ở nhà và duy trì hoạt động trong cộng đồng mình trong khi những người khác đi chinh chiến, và vì vậy họ được chia chiến lợi phẩm là điều hợp lý.
Thật vậy, ối với hai chi phái rưỡi sống bờ đông sông Giô-đanh, đây là sự xuất ngũ trong danh dự.
2. Sự quan tâm ch ân thành (Gios 22:9-10)
Trong khi những người nam Ru-bên, Gát, và nửa chi phái Ma-na-se tiến về phía đông, vượt qua từng cột mốc đánh dấu những điều lớn lạ mà Đức Chúa Trời đã làm cho họ, thì lòng họ bắt đầu bùi ngùi. Vui vì được trở về nhà, nhưng không dễ dàng chia tay với các anh em mình và xa rời thầy tế lễ và đền tạm. Họ đang từ từ rời xứ mà Đức Chúa Trời hứa ban phước cho. Đúng vậy, họ đang trở về nhà, về với chốn mà họ đã chọn lựa cho mình; nhưng họ cảm thấy bị cô lập thế nào đó với cả nước Y-sơ-ra-ên.
Khi đọc và suy gẫm Dân 32:1-42, ta không thấy chỗ nào chép rằng Môi-se có cầu hỏi Đức Chúa Trời về quyết định nầy. Điều Môi-se quan tâm là những nam đinh của Ru-bên, Gát, và Ma-na-se có dự phần chiến đấu với kẻ thù và chinh phục Đất Hứa; và họ đã đồng ý theo như vậy. Phản ứng đầu tiên của Môi-se vừa giận vừa lo, ông sợ Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt cả nước như Ngài đã làm tại Ca-đe Ba-nê-a. Có lẽ phản ứng đầu tiên nầy là đúng.
Chắc chắn Ca-na-an là xứ mà Đức Chúa Trời định ý ban cho dân sự Ngài; bất cứ điều gì thiếu Ca-na-an đều không phải là điều Ngài muốn dành cho họ. Hai chi phái rưỡi đã tự mình quyết định, không dựa trên giá trị thuộc linh, nhưng dựa trên nền tảng vật chất; vì đất ở bờ đông sông Giô-đanh rất lý tưởng cho việc chăn thả gia súc. Tôi được nhắc nhở về sự chọn lựa của Lót (Sa 13:10-11). Trong cả hai trường hợp, con người đều bước đi bằng mắt thấy, không phải bởi đức tin.
Bởi quyết định nầy, người Ru-bên, át và Ma-na-se đã chia rẽ đất nước và tự cô lập mình với những phước lành của xứ Ca-na-an. Họ ở xa đền tạm và gần với kẻ thù. Họ trở thành những “tín đồ đứng bên lề”. Nên nhớ rằng Ai-cập tiêu biểu cho thế gian và Ca-na-an tiêu biểu cho sản nghiệp của tín đồ nhận được trong Chúa Cứu Thế. Những ngày lưu lạc trong đồng vắng tượng trưng cho những kinh nghiệm của người tín đồ không lấy đức tin bước vào sự yên nghỉ mà Đức Chúa Trời dành sẳn cho (He 3:1-4:16). Hai chi phái rưỡi nầy tiêu biểu cho những tín đồ đã kinh nghiệm được ơn phước và những chiến trận của Ca-na-an tức sản nghiệp của họ trong Chúa Cứu Thế nhưng lại thích sống ngoài lề, bền ngoài phần đất mà Đức Chúa Trời ban cho.
C.H MacIntosh có viết trong quyển Notes on Numbers rằng: “Đức tin không bao giờ hài lòng với sự thiếu hụt so với địa vị thật và sản nghiệp thật mà Đức Chúa Trời ban cho dân sự Ngài. Một Cơ-đốc nhân do dự và nửa vời còn mâu thuẩn hơn kẻ vô tín và công khai sống theo thế gian” (trang 457, 460).
Họ giải quyết vấn đề mà họ tự gây ra như thế nào? Họ dựng một bàn thờ lớn bằng đá bên sông Giô-đanh, hướng về phía Ca-na-an, để nhắc nhở mọi người rằng hai chi phái rưỡi nầy cũng thuộc về dân Y-sơ-ra-ên. Nếu những chi phái nầy sống trong Ca-na-an, vốn là nơi dành cho họ, hì chắc chắn không ai hỏi về nguồn gốc của họ. Nhưng vì sống ngoài biên giới, ọ làm người khác lầm tưởng rằng họ không phải là dân Y-sơ-ra-ên.
Đây là bia kỷ niệm thứ tám được dựng lên tại Ca-na-an (Gios 4:9,20-24; Gios 7:26; Gios 8:29-32; Gios 10:27). Nhưng đáng tiếc khi các tín hữu phải nhờ vào những phương tiện nhân tạo để cho người khác biết mình là dân sự của Đức Chúa Trời. Trong những năm gần đây, tôi thấy xuất hiện rất nhiều những vật dụng “mang tính tôn giáo”, như những nhãn dán, những món đồ trang sức (kể cả trên gương và lược cũng có in câu Kinh Thánh), như có ý lên tiếng cho mọi người biết chủ nhân của nó là người tin Chúa Giê-xu.
Dù đôi khi những món đồ đó mở ra cơ hội để chúng ta chia sẻ Kinh Thánh, nhưng sẽ tốt hơn nếu nếp sống và lời nói của chúng ta được Đức Thánh Linh hướng dẫn để khiến cho tội nhân hư mất dừng lại và nhận biết chúng ta là Cơ-đốc nhân. khi sống theo cách Đức Chúa Trời mong muốn, chúng ta sẽ là muối và ánh sáng; và Đức Chúa Trời sẽ dùng lời làm chứng của chúng ta cho danh Ngài được vinh hiển.
Nếu người Ru-bên, Gát, và Ma-na-se trung tín tham dự những kỳ lễ tại Giê-ru-sa-lem (Xu 23:17), tôn kính Đức Chúa Trời qua sự vâng theo Lời Ngài, và nói Lời Ngài trong gia đình mình (Phuc 6:6-9), hì họ có thể dạy dỗ con cái biết Đức Chúa Trời và phục vụ Ngài. Tuy nhiên, bàn thờ bên bờ sông không phải là sự đảm bảo cho thành công như vậy.
3. Sự hạ mình đầu phục của họ (Gios 22:11-29)
• Sự báo động (Gios 22:11-14).
Tin tức về việc các chi phái bên bờ đông Giô-đanh lập bàn thờ được lan đi rất nhanh.Trong khi đó các chi phái ấy rất thành tâm trong việc làm của mình, nhưng họ bị hiểu lầm; nên các chi phái khác chuẩn bị nghênh chiến. Nhưng họ thật khôn ngoan khi sai người đi điều tra sự tình. “Trả lời trước khi nghe, ấy là sự điên dại và hổ thẹn cho ai làm vậy” (Ch 18:13).
Phái đoàn thanh tra gồm 10 quan trưởng, mỗi chi phái cử đi một người, và dẫn đầu đoàn là Phi-nê-a, con trai của thầy tế lễ thượng phẩm, ông ta rất can đảm trong việc bảo vệ Luật Pháp của Đức Chúa Trời (Dân 25:1-18; Thi 106:30-31). Người đứng đầu chi phái và các thầy tế lễ có nhiệm vụ điều tra từng trường hợp vi phạm Luật Pháp trong vòng dân Y-sơ-ra-ên (Phuc 13:1-18). Đức Chúa Trời có phán dặn dân Do-thái phải phá hủy các bàn thờ của dân ngoại đạo ở Ca-na-an và cũng không được dựng bàn thờ cho riêng mình. Họ chỉ được phép dựng một bàn thờ dâng của lễ tại một nơi thờ phượng được chỉ định (Phuc 12:1-32; Le 17:8-9).
• Sự kêu gọi (Gios 22:15-20).
Có thể là lời kêu gọi của Phê-ni-a, nhưng lưu ý lời của ông là ý kiến chung của tất cả các chi phái. Phi-nê-a nói việc họ làm là sự vi phạm (c.16,20,22, -sự phản nghịch, 31), có nghĩa là “hành động phản bội”. Giô-suê đã từng khen ngợi hai chi phái rưỡi nầy vì lòng trung thành của họ, nhưng giờ đây họ tỏ ra bất trung. Họ đã xây bỏ (c.16,18,23,29) tức họ không còn theo Chúa (c.5). Từ nầy có nghĩa là “rút lui”, họ từ từ xa Chúa dần.
Từ có nghĩa mạnh nhất là phản nghịch (c.16,18-19,22,29), có nghĩa là cố ý chống lại ý chỉ của Đức Chúa Trời và bất tuân Luất Pháp Ngài. Khi dựng một bàn thờ mà không được phép, họ đã phạm tội bội đạo.“Sự bội nghịch cũng đáng tội bằng sự tà thuật; sự cố chấp giống như tội trọng cúng lạy hình tượng” (ISa 15:23).
Qua lịch sử gần đây của dân tộc, Phi-nê-a kể lại hai trường hợp phản nghịch và cảnh cáo những chi phái nầy. Trường hợp thứ nhất là dân Y-sơ-ra-ên tham dự các nghi lễ ngoại giáo của người Mô-áp, và khi đó những người nam Do-thái ăn ở với người nữ Mô-áp (Gios 22:17; Dân 25:1-18). Kết quả là 24.000 người chết. Trường hợp thứ hai là tội của A-can sau khi chiến thắng Giê-ri-cô, ông ta đã cố ý lấy những chiến lợi phẩm thuộc riêng Đức Chúa Trời (Gios 22:20; Gios 7:1-26). Tội của ông dẫn đến thất bại tại A-hi và cái chết của 36 binh lính Do-thái. Và cũng gây ra cái chết của chính ông và những người thân trong gia đình ông.
Đoàn thanh tra có lời khuyên khôn ngoan: “Hãy đi qua đất mà Đức Giê-hô-va đã chiếm lấy, là nơi đã lập đền tạm của Đức Giê-hô-va, và hãy lập nghiệp ở giữa chúng ta” (Gios 22:19). Không có bàn thờ nhân tạo nào thay thế được sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đền tạm giữa vòng dân sự Ngài. Thật đáng buồn những chi phái nầy đã không nghe lời khuyên ấy để nhận sản nghiệp mình trong xứ mà Đức Chúa Trời hứa ban phước cho (Phuc 11:10-32).
• Sự tranh cãi (Gios 22:21-29).
Các chi phái bị lên án đã viện dẫn danh Chúa 6 lần để đáp lại sự cáo buộc đó; và trong khi đó họ dùng 3 danh xưng của Chúa: “El ( Đấng Quyền Năng), Elohim (Đức Chúa Trời), Jehovah (Chúa) ”. Chính lời thề trang trọng nầy tỏ rõ mục đích của họ và Đức Chúa Trời biết tấm lòng của họ.
Dĩ nhiên, việc Chúa biết lòng chúng ta và chúng ta đã buông lời thề nguyện cũng không bảo đảm rằng chúng ta hành động đúng, vì chúng ta không biết rõ lòng mình (Gie 17:9). Nhiều người cố che đậy ác ý của mình bằng câu nói: ”Chúa biết lòng tôi!”. Phao-lô cho chúng ta một phương pháp đúng đắn trong ICo 8:21, “Vì chúng tôi tìm tòi điều lành, chẳng những ở trước mặt Chúa, mà cũng ở trước mặt người ta nữa”. Khi việc làm được nghĩ là đúng đắn lại bị cả nước hiểu lầm, và vì nó chiến tranh suýt xảy ra, thì nên xét lại vì chắc chắc có điều gì đó bất ổn trong việc làm đó.
Các chi phái bị buộc tội giải thích rõ rằng họ không dựng bàn thờ cho tôn giáo của kẻ thù, họ dựng bàn thờ không phải để dâng tế lễ nhưng để nhắc nhở các chi phái ở phía tây rằng họ, chi phái Ru-bên, Gát, và nửa chi phái Ma-na-se bên bờ đông, cũng thuộc về dân Y-sơ-ra-ên.
Điều đáng chú ý là các chi phái bên kia sông Giô-đanh quan tâm đến con cháu của họ. Nhưng không phải con cái họ hỏi: “Chúng ta có liên quan gì với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên?”. Con cái họ sẽ bị các chi phái trong đất Ca-na-an chọc tức! Chi phái Ru-bên, át, Ma-na-se thậm chí không sống trong xứ mà Đức Chúa Trời đã chọn, nhưng họ lại sợ con cái bên bờ tây sông Giô-đanh dẫn con cái họ đi lạc! Đối với tôi, dường như nguy hiểm là điều ngược lại.
Các chi phái bên kia sông Giô-đanh không chỉ buộc tội anh em mình vì có các con cái theo thế gian, mà còn buộc tội Đức Chúa Trời vì đã tạo ra vấn đề nầy! “Đức Giê-hô-va đã đặt sông Giô-đanh làm giới hạn giữa chúng ta và các ngươi” (Gios 22:25). Không! Chính họ là người biến sông Giô-đanh thành ranh giới phân cách! Khi quyết định ở lại bên bờ đông sông Giô-đanh, các chi phái nầy tự cách ly mình với cả dân tộc và với xứ mà Đức Chúa Trời ban cho cả dân tộc. Họ xem trọng việc chăn nuôi của mình hơn tình đồng bào, nhưng lại đổ tội cho Đức Chúa Trời và anh em mình.
Nhưng đống đá lớn nầy là loại “bằng chứng” gì? Có phải là bằng chứng cho sự hiệp một của dân tộc và cho sự vâng phục của các chi phái bên kia sông Giô-đanh? Không phải! Đó là bằng chứng cho một âm mưu, sự khôn ngoan của con người khi cố tìm cách “hưởng lợi từ hai bên”. Hai chi phái rưỡi nầy nói về con cái họ một cách ngoan đạo, nhưng chính của cải mới thật sự là động cơ khiến họ quyết định sống bên kia sông Giô-đanh.
Gần “bàn thờ chứng cớ” ấy là 12 hòn đá được các người nam khiêng về từ giữa sông Giô-đanh (Gios 4:20-24). Nó nhắc người Do-thái rằng họ đã vượt sông và chôn vùi quá khứ vĩnh viễn. Ru-bên, Gát, và nửa chi phái Ma-na-se đã qua sông và quay trở lại. “Bàn thờ” của họ trái ngược với bàn thờ Giô-suê dựng lên vì sự vinh quang của Đức Chúa Trời. “Vậy nếu anh em được sống lại với Đấng Christ, hãy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời” (Co 3:1).
4. Sự vui vẻ đồng ý của họ (Gios 22:30-34)
Phi-nê-a bằng lòng, đoàn thanh tra bằng lòng, và con cái Y-sơ-ra-ên bên bờ tây cũng bằng lòng sau khi nghe các chi phái ấy giải thích, nhưng Đức Chúa Trời có bằng lòng không? Mọi người vui vì bàn thờ được dựng lên để làm bằng chứng chứ không phải để dâng của lễ, hư vậy vấn đề dường như đã được giải quyết. Họ vui vì Đức Chúa Trời sẽ không đoán phạt cả xứ (câu 31) và sẽ không xảy ra nội chiến trong Y-sơ-ra-ên (c.33). Nhưng quốc gia của họ vẫn bị chia cắt, dù có bàn thờ làm bằng chứng hay không. Giống như Áp-ra-ham và Lót (Sa 13:1-18) một bên quan tâm đến vấn đề thuộc linh, còn một bên chỉ quan tâm đến vật chất.
“Hoà bình bằng mọi giá” không phải là ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài. Quyết định ở Ga-la-át được đưa ra dựa trên sự khôn ngoan của con người, không phải dựa trên lẽ thật của Đức Chúa Trời. “Nhưng sự khôn ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận, tiết độ, nhu mì, đầy dẫy lòng thương xót và bông trái lành, không có sự hai lòng và giả hình” (Gia 3:17). Sự hòa bình mà dân sự Đức Chúa Trời có được phải trả giá bằng sự thánh sạch và lẽ thật chỉ là sự đình chiến tạm thời để rồi sẽ bùng phát thành sự chia rẽ thật đau lòng. Luôn có một nơi trong các mối liên hệ của con người dành cho sự hòa giải vì tình yêu thương nhưng không bao giờ có chỗ cho sự thỏa hiệp một cách hèn nhát. “Trước mặt Đức Chúa Trời, trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ, à trước mặt các thiên sứ được chọn, ta răn bảo con giữ những điều đó, đừng in trí trước, phàm việc gì cũng chớ tây vị bên nào” (ITi 5:21).
Các chi phái bên kia sông gọi bàn thờ của họ là “chứng cớ giữa chúng ta rằng Chúa là Đức Chúa Trời” (từ Hy-bá-lai edh có nghĩa là “làm chứng”). Nhưng nếu Chúa là Đức Chúa Trời, thì tại sao họ không vâng lời Ngài và sống trong xứ mà Ngài đã định ý ban cho họ? Các vầng đá có thể là một bằng chứng, nhưng dân sự chắc chắn không phải. Xung quanh họ là các dân ngoại bang, lại sống cách biệt với các anh em mình, các chi phái nầy sớm sa ngã và thờ thần tượng, rồi cuối cùng bị quân A-si-ri bắt đi (ISu 5:25-26).
Ngày 30 tháng 9 năm 1938, Thủ tướng Anh Sir Nevile Chaberlain, vừa từ Đức trở về, nói trong cuộc họp mặt tại phủ thủ tướng: