1. ĐỨC GIÊ-HÔ-VA VẠN QUÂN Ở CÙNG CHÚNG TA (ISa 1:1-3:21)
Một...
...trong những danh xưng đáng kinh sợ của Đức Chúa Trời là “Đức Giê-hô-va vạn quân”. Danh xưng nầy được sử dụng khoảng 300 lần trong Kinh Thánh và xuất hiện lần đầu tiên trong ISa 1:3 “Đức Giê-hô-va vạn quân” mô tả Đức Chúa Trời là Chúa Tể của vũ trụ (Es 40:26), Chúa của các cơ binh (Thi 103:20-21) và các đội quân của Y-sơ-ra-ên (Xu 12:41; Thi 46:7,11). Trong bản AV (Authorized Version), “vạn quân” được chuyển ngữ thành “Sabaoth” trong Ro 9:29 và Gia 5:4 Trong bài thánh ca “Amighty Fortress Is Our God – Chúa, bức thành kiên cố ta; TC 41”, Martin Luther đã dùng danh xưng nầy để nói về Chúa Cứu Thế Giê-xu:
Khá biết sức mình non kém vô tài, Dễ khiến ta thua ngã nằm dài;
Dẫu thế, biết nhờ Đấng chỉ huy mình, Đối phương thua chạy hết rập rình.
Bằng ta hỏi tên Ngài chăng?
Là Giê-xu, danh chiếng thắng;
Danh tướng thiên binh anh tài, Cứu pháp duy chính tay Ngài, Đắc thắng Sa-tan đến lâu dài.
Did we in our strength confide, Our striving would be losing, Were not the right Man on our side, The Man of God’s choosing.
Does Dost ask who that may be?
Christ Jesus, it is He
Lord Sabaoth His name, From age to age the same, And He must win the battle.
Chuyện về dân Y-sơ-ra-ên được Kinh Thánh chép lại đã minh họa sống động rằng Giê-hô-va thắng trận, rằng Ngài tể trị mọi sự. Con người và cả những biến cố được chép trong Kinh Thánh là một phần của “lịch sử sự cứu rỗi”, như các nhà thần học thường gọi. Bởi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, Ngài sai Chúa Cứu Thế xuống trần gian để chết thay cho tội nhân. Câu kết của sách Ru-tơ có đề cập đến tên của Đa-vít (Ru 4:22), và I Sa-mu-ên kể về sự thành công của Đa-vít trước khi lên ngôi vua của Y-sơ-ra-ên. Chúa Giê-xu đã ra đời từ dòng dõi Đa-vít, Ngài được gọi là “Con vua Đa-vít”.
Các sách Sa-mu-ên, Các-vua và Sử-ký có chép lại những tội lỗi và sự thất bại của dân sự Đức Chúa Trời, nhưng chúng cũng nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời luôn ở trên ngôi của Ngài, và dù có lúc con người quên địa vị của Ngài, Ngài vẫn ở đó và cai trị mọi sự. Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân và những mục đích của Ngài đều sẽ được làm thành.
1. Đức Chúa Trời điều khiển lịch sử (ISa 1:1-28)
Hơn ba thế kỷ trước Oliver Crowmwell nói rằng “tất cả lịch sử không là gì ngoài sự phát lộ của Đức Chúa Trời về chình Ngài”, nhưng không ai đồng ý với ông ta. Một sử gia người Anh, Edward Gibbon, tác giả của quyển Decline and Fall of Roman Empire, cho rằng lịch sử “không khác gì một quyển sách ghi chép lại những tội ác, những hành động điên rồ, và những rủi ro của nhân loại, và Lord Chesterfield, người cùng thời, nói lịch sử là “một đống hỗn độn những sự kiện”.
Nhưng Tiến sĩ A. T. Pierson, một nhà truyền giáo và là chính khách cho hội Truyền Giáo trong thế kỷ qua, đã nói rằng: “Lịch sử là câu chuyện của Đức Chúa Trời”. Điều nầy đặc biệt đúng với lịch sử được chép trong Kinh Thánh, vì được linh cảm, Kinh Thánh đã thuật lại việc tay Đức Chúa Trời hành động trong việc làm của con người để đưa Chúa Cứu Thế vào thế gian.
Sách Các Quan-xét là sách về “thời không có vua” và mô tả một đất nước với tình trạng vô chính phủ hỗn loạn là tiêu chí. “Trong lúc đó, không có vua nơi Y-sơ-ra-ên, mọi người cứ làm theo ý mình tưởng là phải.” (Cac 17:6; Cac 18:1; Cac 19:1; Cac 21:25). Y-sơ-ra-ên không phải là dân tộc đoàn kết, như trong thời Giô-suê, nhưng nó là một liên minh hời hợt giữacác chi phái nằm riêng biệt trong một phạm vi rộng lớn và chịu dưới sự hướng dẫn của các quan xét được Đức Chúa Trời chọn lựa. Không có quân đội cũng không có người lãnh đạo quân sự cố định. Những người từ các chi phái khác nhau tình nguyện bảo vệ xứ mình khi họ được lệnh ra trận.
Nhưng suốt những ngày đen tối của thời Các Quan-xét, có một câu chuyện tình đã được kể lại trong sách Ru-tơ. Bô-ô cưới Ru-tơ, người Mô-áp và sinh ra Ô-bết, là cha của Y-sai, ông nội của vua Đa-vít. Không có vua trong Y-sơ-ra-ên nhưng Đức Chúa Trời, đã hành động để mở đường cho đầy tớ được chọn của Ngài (Thi 78:56-72). Nếu sách Các Quan-xét là sách về “thời không có vua”, thì I Sa-mu-ên là sách về “vua của loài ng ười”. Dân Y-sơ-ra-ên đòi hỏi một vua cho họ, và Đức Chúa Trời đã ban cho họ Sau-lơ, thuộc chi phái Bên-gia-min, về sau là người thất bại nặng nề. Nhưng Đức Chúa Trời đã chuẩn bị Đa-vít cho ngôi vị đó, và sách II Sa-mu-ên là sách về “vua của Đức Chúa Trời”.
Đọc lại những câu chuyện đã qua chúng ta không thể không nhận thấy bàn tay của Đức Chúa Trời hành động trong những sự kiện mà chúng ta gọi là lịch sử. Đức Giê-hô-va được đề cập 60 lần trong ISa 1:1-3:21, vì Ngài là diễn viên chính trên sàn diễn nầy. Con người có quyền tự do quyết định, hoặc tốt hoặc xấu, nhưng chính Đức Giê-hô-va, Chúa của lịch sử, cuối cùng sẽ làm thành những mục đích của Ngài trong và qua các dân tộc. (Cong 14:15-17; Cong 17:24-26; Đa 4:25,32). Thật vậy, “lịch sử là câu chuyện của Đức Chúa Trời”, sự thật nầy là nguồn khích lệ to lớn cho dân sự Ngài khi họ bị bắt bớ và khốn khó vì niềm tin mình. Nhưng sự thật nầy lại là lời cảnh cáo cho những kẻ vô tín, là những người bỏ qua và chống nghịch ý muốn của Ngài. Vì Đức Giê-hô-va vạn quân cuối cùng sẽ đắc thắng.
Sa-mu-ên là “người xây cầu” của Đức Chúa Trời vào thời kỳ nguy khốn trong lịch sử Y-sơ-ra-ên khi liên minh giữa các chi phái đang rệu rả rất cần sự hướng dẫn. Ông là vị quan xét cuối cùng (ISa 7:15-17 Cong 13:20) và là người đầu tiên trong dòng dõi mới của các tiên tri sau Môi-se (ISa 3:24). Ông đã lập trường học cho các tiên tri, và ông đã xức dầu cho hai vị vua Sau-lơ, vua thất bại và Đa-vít, vua thành công. Trong thời đại hỗn loạn và tăm tối, Sa-mu-ên là người lãnh đạo thuộc linh cho Y-sơ-ra-ên và giúp họ đoàn kết trở lại và hết lòng hầu việc Đức Chúa Trời.
Trong lịch sử nhân loại, dường như chúng ta thường thấy rằng lẽ thật “luôn bị lên án” và điều sai trái “luôn được tôn cao”, nhưng đó không phải là quan điểm của Thiên Đàng. Khi bạn học sách I Sa-mu-ên, bạn sẽ thấy rõ rằng Đức Chúa Trời luôn luôn giữ vai trò điều khiển. Dù Ngài luôn nhẫn nại, nhân từ và đáp lời cầu xin của dân sự Ngài, Ngài là Đấng thánh khiết, công bình và trừng phạt tội lỗi. Ngày nay chúng ta sống trong thời đại hoàn toàn khác, và Hội thánh rất cần những người lãnh đạo như Sa-mu-ên, là người sẽ giúp dân sự Đức Chúa Trời hiểu họ đang ở đâu, họ là ai, và họ được kêu gọi làm gì.
2. Đức Chúa Trời nhậm lời cầu xin (ISa 1:1-28)
Trong suốt thời các quan xét, dân Y-sơ-ra-ên luôn ở trong tình trạng hết sức khó khăn vì họ thiếu người lãnh đạo tinh kính. Chức tế lễ bị vẩn đục, và không còn nhận được lời tiên tri nào từ Đức Chúa Trời (ISa 3:1), ả xứ đều lờ đi luật pháp Môi-se. Như Ngài vẫn thường làm trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời bắt đầu giải quyết vấn đề bằng cách ban cho một con trẻ.
Những đứa trẻ như là lời Đức Chúa Trời công bố rằng Ngài biết nhu cầu và luôn quan tâm chăm sóc dân sự của Ngài, và thay họ hành động. Sự ra đời của em bé nầy mở ra một đời sống mới và sự bắt đầu mới; trẻ em là tín hiệu cho tương lai, sự thụ thai và sự ra đời của chúng là một phép lạ mà chỉ một mình Đức Chúa Trời làm được (Sa 30:1,2). Để sự việc nầy càng thêm ấn tượng, đôi khi Đức Chúa Trời cho những người nữ son sẻ được làm mẹ, như Ngài đã ban Y-sác cho Sa-ra, Gia-cốp và Ê-sau cho Rê-bê-ca, và Giô-sép cho Ra-chên.
• Một gia đình phân liệt (Sa 1:1-8).
Ên-ca-na là người Lê-vi, thuộc dòng Kê-hát họ Xu-phơ (ISu 6:22-28,34-35). Người Lê-vi sống rải rác khắp xứ và thường phải đến Si-lô để thờ phượng Đức Chúa Trời trong đền tạm. Ên-ca-na sống ở Ra-ma trên biên giới của Ép-ra-im và Bên-gia-min (Gios 18:25). Sa-mu-ên, đứa con trai danh giá của Ên-ca-na được sinh ra tại Ra-ma (ISa 1:19-20), sống ở đó (ISa 7:17), và được chôn ở đó khi người qua đời (ISa 25:1).
Nói chung, Ên-ca-na là một người tốt và tin kính Chúa ngoại trừ chi tiết ông có hai vợ. Có lẽ An-ne là vợ đầu, và khi người son sẻ thì ông cưới Phê-ni-na để có con nối dõi. Chúng ta không biết tại sao Ên-ca-na không chờ đợi Đức Chúa Trời và tin cậy vào sự hoạch định của Ngài, nhưng ngay cả Áp-ra-ham cũng đã cưới A-ga (Sa 16:1-16) và Gia-cốp cũng có đến 4 vợ! Trong khi tình trạng song hôn và ly hôn không bị cấm trong luật pháp Do-thái (Phuc 21:15-17; Phuc 24:1-4), hoạch định ban đầu của Đức Chúa Trời là một người nam chỉ được cưới một người nữ và sống trọn đời với một mình nàng (Mac 10:1-9).
Hằng năm Ên-ca-na dẫn gia đình mình đến Si-lô để thờ phượng Đức Chúa Trời (Xu 23:14-19), và họ cùng nhau ăn uống một phần trong nh ững của lễ mà họ dâng (Phuc 12:1-7). Mỗi lần như vậy An-ne rất vui, nhưng Phê-ni-na lợi dụng cơ hội đó để chọc tức và chế giễu sự son sẻ của An-ne. Khi phân chia phần ăn, Ên-ca-na phải chia nhiều phần cho Phê-ni-na và các con của bà, còn An-ne chỉ được một phần, nên ông thường cho An-ne phần nhiều hơn. Nhưng điều đó không thể bù đắp cho nỗi buồn vì sự son sẻ của An-ne.
Tên “An-ne” có nghĩa là “người nữ hiền lành”, và bà đã sống đúng với cái tên ấy trong cách đối diện với tình trạng son sẻ của mình cũng như đối với thái độ và lời lẽ cay độc của Phê-ni-na. Ên-ca-na có thể có con với Phê-ni-na, nên An-ne biết nguyên nhân không có con là ở mình không phải ở chồng. Dường như không công bằng khi người xấu tính như Phê-ni-na lại có được nhiều con, trong khi người hiền lành như An-ne lại son sẻ.
Bà cũng biết chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể làm cho bà như điều Ngài đã làm cho Sa-ra và Ra-chên, nhưng tại sao Đức Chúa Trời không mở dạ của bà? Chắc chắn trải nghiệm nầy giúp bà trở nên một người nữ có nghị lực và đức tin mạnh mẽ và là động lực để bà sống hết lòng cho Đức Chúa Trời.
Bà dốc cạn nổi lòng khốn khổ của bà cho một mình Đức Chúa Trời nghe; bà không tranh cãi với Phê-ni-na để tránh gây xung đột trong gia đình. Trong từng lời nói và việc làm của An-ne đã bày tỏ được sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Thật vậy bà là người phụ nữ xuất sắc, và đã sinh ra được một người con xuất sắc.
• Lời cầu nguyện hết lòng (ISa 1:9-18).
Trong một lần đến Si-lô, An-ne đi một mình vào đền tạm để cầu nguyện. Bà xác định trong lòng rằng Đức Chúa Trời muốn bà cầu nguyện xin một con trai để bà dâng cho Ngài hầu nó phụng sự Ngài trọn đời. Có thể nói, đây thật là một điều đáng kinh sợ, tương lai của một đất nước nằm trong lời cầu nguyện của người phụ nữ tin kính nầy; và còn có bao nhiêu lần lịch sử tùy thuộc vào lời cầu nguyện của những người, ặc biệt là những người mẹ, khốn khổ và biết hy sinh như vậy nữa.
Đền tạm ban đầu là một căn lều có hàng rào bằng vải xung quanh, nhưng qua sự mô tả trong bối cảnh nầy chúng ta biết rằng phần đền thờ của Đức Chúa Trời lúc bấy giờ có một căn nhà bằng gỗ với các cột tr ụ (ISa 1:9), và các cửa ra vào (ISa 3:2,15) và người ta có thể ngủ trong đó (c. 1-3). Căn nhà nầy cùng với đền tạm được gọi chung là “đền Đức Giê-hô-va” (ISa 1:7), “đền thờ”, “hội mạc” và “nơi ở của Đức Chúa Trời” (ISa 2:32). Hê-li, một thầy tế lễ cả cao tuổi, coi sóc ở đây, và An-ne đã đến đây cầu nguyện. Bà xin Đức Chúa Trời ban cho bà một con trai, và bà hứa sẽ dâng con trai đó để trọn đời nó hầu việc Đức Chúa Trời.
An-ne để lại cho chúng ta một tấm gương tốt về sự cầu nguyện. Lời cầu nguyện của bà buồn rầu và khốn khổ, nhưng dù cho cảm xúc của bà thế nào, bà đã phơi bày tấm lòng của mình trước mặt Chúa. Trong lời cầu nguyện của bà có sự đầu phục, vì bà đã tỏ mình như một đầy tớ gái của Chúa sẽ làm bất cứ điều gì Ngài muốn bà làm (Lu 1:48).
Trong lời cầu nguyện ấy có sự hy sinh, vì bà đã hứa dâng con trai ấy cho Đức Chúa Trời để trở thành một người Na-xi-rê (Dan 6:1-27) và hầu việc Chúa trọn đời. Có phải An-ne đang mặc cả với Đức Chúa Trời? Tôi không nghĩ như vậy. Sinh được con sẽ xóa đi điều hổ thẹn của bà và có thể giúp bà không còn bị đối thủ khinh dễ và ngược đãi, nhưng dâng con trai đó là một chuyện khác. Có lẽ tiếp tục sống trong tình trạng son sẻ còn dễ hơn sinh con, nuôi nó trong ba năm rồi vĩnh viễn sống xa nó. Tôi tự hỏi phải chăng Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng An-ne một niềm tin vững chắc rằng con trai bà sẽ giữ vai trò quan trọng trong tương lai của đất nước.
Đức tin và sự hết lòng của An-ne mạnh mẽ đến nổi làm thầy tế lễ cả Hê-li hiểu lầm và chỉ trích bà. Khi bạn dốc hết lòng mình cho Chúa, không phải lúc nào bạn cũng được sự khích lệ từ người đáng ra phải khích lệ bạn. Môi-se bị anh chị em mình phê phán (Dan 12:1-16), Đa-vít bị chính vợ mình chỉ trích (IISa 6:12-23), và Ma-ri ở Bê-tha-ni bị một sứ đồ khiển trách (Gi 12:1-8), tuy nhiên tất cả đều được Đức Chúa Trời khen ngợi.
Trong 4 đoạn đầu của sách I Sa-mu-ên, Hê-li xuất hiện như một tín hữu không tốt, nếu không kể đến chức vụ tế lễ cả của ông. Có thể ông tự nuông chìu mình (ISa 4:8) và phớt lờ tội lỗi của hai con trai (ISa 2:22-36), nhưng lại vội vàng xét đoán sự hết lòng của một người phụ nữ tin kính. “Trong khi cầu nguyện, có tấm lòng không có lời nói thì tốt hơn có lời nói mà không có tấm lòng” John Bunyan đã nói như vậy, và đó là cách An-ne đã cầu nguyện.
Những người lãnh đạo dân sự của Đức Chúa Trời cần phải có tính nhạy cảm thuộc linh để họ có thể “vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc” (Ro 12:15). Hê-li buộc tội An-ne say rượu, trong khi bà đang dốc lòng mình với Đức Chúa Trời trong lời cầu nguyện (ISa 1:15). Đến 5 lần An-ne xưng mình là “con đòi” cho thấy bà hoàn toàn đầu phục Chúa. Chúng ta không thấy Hê-li xin lỗi An-ne vì đã vội vàng kết tội bà, nhưng ít nhất ông ta đã chúc phước cho bà, và bà trở về với lòng bình an và nét mặt vui mừng. Gánh nặng trong lòng bà đã được cất bỏ và bà biết rằng Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu xin của bà.
• Một con trai ưu tú (ISa 1:19-28).
Khi các thầy tế lễ dâng của lễ thiêu vào sáng sớm hôm sau, Ên-ca-na và gia đình có mặt ở đó để thờ phượng Đức Chúa Trời, tâm hồn An-ne tràn ngập vui mừng, vì bà đã dâng chính cuộc đời mình làm của lễ sống cho Đức Giê-hô-va (Ro 12:1-2). Khi gia đình Ên-ca-na về đến nhà, Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu nguyện của An-ne và cho bà thụ thai, và con trẻ chào đời là một bé trai được đặt tên là Sa-mu-ên. Tiếng Hy-bá-lai sa-al có nghĩa là “cầu xin”, và sama có nghĩa là “được lắng nghe”, và el là một trong những danh xưng của Đức Chúa Trời, như vậy Sa-mu-ên (Samuel) có nghĩa là “lời cầu xin Đức Chúa Trời nhậm”. Trọn đời sống mình, Sa-mu-ên vừa là sự đáp lời cầu xin vừa là một chiến sĩ cầu nguyện.
Chắc chắn An-ne đã kể cho chồng nghe lời hứa nguyện của mình, vì bà biết rằng luật pháp Do-thái cho phép người chồng có quyền bãi bỏ lời thề của vợ nếu ông ta không đồng ý với nó (Dân 30:1-16). Ên-ca-na đã nhất trí với quyết định của vợ và cho phép bà ở nhà với con khi cả gia đình đến Si-lô như lệ thường hàng năm. Chúng ta không thể không cảm phục Ên-ca-na vì những gì ông ta nói và làm, bởi Sa-mu-ên là con trai đầu lòng của ông với người vợ mà ông yêu thương, hơn nữa cha con ông phải xa cách nhau trọn cuộc đời như vậy. Con trai đầu lòng phải được chuộc bằng một của lễ (Xu 13:11-13), nhưng Ên-ca-na đã dâng chính con trai mình cho Đức Giê-hô-va. Là một người Lê-vi, một người Na-xi-rê, một tiên tri, và một quan xét, Sa-mu-ên thành tín phục vụ Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên và giúp mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử Do-thái.
Các bà mẹ thường thôi bú cho con mình khi chúng được ba tuổi, và chắc chắn suốt trong ba năm sống bên con, An-ne đã dạy dỗ và chuẩn bị cho con trai mình để nó sẵn sàng hầu việc Đức Chúa Trời. Cậu bé Sa-mu-ên không biết Ngài một cách cá nhân cho đến khi được nghe tiếng Ngài phán trực tiếp (ISa 3:7-10). An-ne là một phụ nữ cầu nguyện (ISa 1:27) và đã dạy con trai mình để trở thành một người cầu nguyện. Khi bà và Ên-ca-na đem con trai mình đến Si-lô dâng cho Đức Giê-hô-va, họ đã đem theo những của lễ cần thiết để thờ phượng Đức Chúa Trời. Bản Authorized Version dịch là “ba con bò thiến”, trong những bản khác dịch là “một con bò 3 năm tuổi”. Tuy nhiên, việc đem theo một bầu da rượu, một ê-pha bột đủ cho ba của lễ, cho thấy rằng ba con bò là con số đúng, vì 3/10 ê-pha bột đủ làm của lễ cùng với một con bò (Dân 28:12).
Khi Ên-ca-na và An-ne dâng con trai mình cho Đức Giê-hô-va, An-ne nhắc Hê-li nhớ bà là người đã cầu nguyện xin một con trai vào ba năm trước. Hê-li có nhớ chuyện đó và nhớ việc ông đã vu oan cho người đàn bà khốn khổ nầy không? Nếu ông ta nhớ, thì việc đó không được chép lại; nhưng ông ta đã cho cậu bé Sa-mu-ên ở lại đền tạm và dạy dỗ cho Sa-mu-ên luật pháp Đức Chúa Trời.
Thấy được đời sống thuộc linh yếu đuối của Hê-li và cách sống gian ác của các con trai ông, Ên-ca-na và An-ne phải có đức tin lớn lắm mới dám để con trai ngây thơ của mình ở lại với họ. Nhưng Đức Chúa Trời luôn ở cùng Sa-mu-ên và bảo vệ cậu ta khỏi bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Đức Chúa Trời đã bảo vệ Giô-sép ở Ai-cập, và Ngài đã bảo vệ Sa-mu-ên ở Si-lô thể nào, thì Ngài cũng bảo vệ con cái chúng ta trong thế giới gian ác ngày nay như vậy. Hê-li và gia đình ông đã bị Đức Chúa Trời trừng phạt, nhưng Sa-mu-ên được Ngài trang bị để dẫn dắt dân sự và đưa họ vào giai đoạn phát triển tiếp theo.
Câu chuyện đến lúc nầy cho chúng ta thấy rõ rằng đời sống và tương lai của một đất nước tùy thuộc vào bản chất của gia đình, và bản chất của gia đình tùy thuộc vào đời sống thuộc linh của cha mẹ. Một câu châm ngôn Ả-rập nói rằng, “Sự sụp đỗ của một quốc gia bắt đầu từ trong các gia đình sống trong quốc gia đó”, và Confuscius cũng dạy rằng, “Sức mạnh của một đất nước có nguồn gốc từ sự trọn vẹn của các gia đình trong quốc gia đó”. Hê-li và các con trai mình là một gia đình “có đạo” nhưng sống trái đạo, còn Ên-ca-na và An-ne là một gia đình tin kính làm vinh hiển Đức Chúa Trời, và họ đã dâng cho Ngài điều tốt đẹp nhất. Hy vọng của dân Y-sơ-ra-ên nằm trong tay cậu bé ở trong đền tạm và đang tập hầu việc Đức Chúa Trời nầy. Đừng bao giờ đánh giá thấp khả năng của một gia đình và năng lực của một em bé đã được dâng cho Đức Chúa Trời.
3. Đức Chúa Trời nhận lời ca tụng và sự thờ phượng (ISa 2:1-11)
Sau khi An-ne để con trai mình ở lại với Hê-li, bà ra về một mình, và lẽ ra phải khóc rất nhiều, nhưng bà đã cất tiếng ca ngợi Đức Giê-hô-va. Thế gian không hiểu được mối quan hệ giữa sự hy sinh và sự ca ngợi, làm thế nào con người có thể ca ngợi trong tinh thần hy sinh và hy sinh trong tinh thần ca ngợi. “Và đương lúc khởi dâng của lễ thiêu, thì khởi hát bài ca khen ngợi Đức Giê-hô-va” (IISu 29:27). Trước khi Chúa Giê-xu vào vườn Ghết-sê-ma-nê và bị bắt ở đó, Ngài đã hát thánh ca với các môn đồ (Mat 26:30) và Phao-lô và Si-la đã hát cho Đức Giê-hô-va trong khi bị sĩ nhục và tra tấn (Cong 16:20-26). Trong các b ài Thi-thiên chúng ta thường thấy Đa-vít ngợi khen Đức Chúa Trời trong nhưng lúc khó khăn. Sau khi bị các lãnh đạo tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem đánh đập, các sứ đồ “từ tòa công luận ra, đều hớn hở về mình đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Đức Chúa Jêsus” (Cong 5:41).
Bài ca của An-ne ở sau đoạn mở đầu của sách I Sa-mu-ên nên được so sánh với bài hát của Đa-vít trong (IISa 22:1-51) và bài của Ma-ri trong Lu 1:46-55 Tất cả những bài ca ngợi nầy đều nói lên ân điển của Đức Chúa Trời dành cho con người không đáng được hưởng, sự đắc thắng của Ngài trên kẻ thù nghịch, và phương cách tuyệt diệu mà Ngài đã sử dụng để lật ngược tình thế hầu làm thành mục đích của Ngài. Điều mà Ma-ri đã diễn tả trong bài ca của mình rất giống với điều mà An-ne từng ca ngợi.
• Sự vui mừng của Đức Giê-hô-va (ISa 2:1).
An-ne vừa cầu nguyện vừa vui mừng. Bà nghĩ rằng Đức Chúa Trời đang chúc phước cho Y-sơ-ra-ên cũng như chính mình bà và gia đình bà. Khi lời cầu nguyện ích kỷ, nó không mang tính thuộc linh và không làm vinh danh Đức Chúa Trời. Từ trong lòng mình An-ne biết rằng Đức Chúa Trời đang làm những điều hết sức lớn cho dân sự Ngài và con trai bà sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc làm trọn ý muốn của Ngài. Sự thờ phượng của bà xuất phát từ tấm lòng và dầm thấm sự vui mừng của Đức Chúa Trời.
Từ “mặt” (horn -sừng) trong câu 1 (và câu 10 trong bản tiếng Anh) tượng trưng cho sức mạnh hoặc người mạnh mẽ (Thi 75:4-5,10; Thi 89:17,24; Thi 92:10; Thi 132:17). “Ngước mặt” (ngước sừng) có nghĩa là được nhận sức mới từ Đức Chúa Trời và đặc biệt là được Ngài giúp đỡ trong cơn hoạn nạn. Miệng An-ne “thách đố” có nghĩa bà đang khoe ra sự đắc thắng của Đức Chúa Trời trên kẻ thù nghịch Ngài. Người thất bại thường phải câm lặng, nhưng những ai cùng được hưởng sự đắc thắng của Đức Chúa Trời luôn rất muốn nói về sự vinh hiển của Ngài.
“Sự chửng cứu Ngài làm cho tôi đầy khoái lạc” cho thấy An-ne không chỉ được thoát khỏi tình trạng son sẻ của mình. An-ne nhận biết phép lạ nầy như một khởi đầu cho một chiến thắng mới của dân Y-sơ-ra-ên, là dân nhiều lần bị kẻ thù xâm lược, ánh bại và áp bức (Cac 2:10-23). Nhưng từ “sự chửng cứu” là yeshua; Joshua một trong những danh xưng của Đấng Mê-si-a được hứa. Vua Đa-vít là yeshua của Đức Chúa Trời để giài cứu Y-sơ-ra-ên khỏi các kẻ thù của họ, và Chúa Giê-xu Con Cháu vua Đa-vít là yeshua của Đức Chúa Trời để cứu chuộc loài người khỏi xiềng xích của tội lỗi và sự chết.
• Sự oai nghiêm của Đức Chúa Trời (ISa 2:2-3).
Bắt đầu lời cầu nguyện bằng lời ngợi khen Đức Giê-hô-va là tốt nhất, vì khi ngợi khen Ngài chúng ta tập trung vào sự vinh quang cả thể của Ngài mà không để tâm vào tầm quan trọng về nhu cầu của chính mình. Khi chúng ta thấy sự vĩ đại của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ nhìn nhận cuộc sống trong một triển vọng khác. An-ne biết bản tánh của Đức Chúa Trời và tôn ngợi những thuộc tánh vinh hiển Ngài. Bà mở đầu bằng lời xác quyết về đức thánh khiết và tính chất vô song của Ngài.
Hai điều nầy chung với nhau vì trong cả tiếng Hy-bá-lai và tiếng Hy-lạp. Từ “thánh khiết” có nghĩa là “để riêng, biệt riêng, hoàn toàn khác”. Mỗi ngày người Do-thái chính thống phải xưng nhận rằng “Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai” (Phuc 6:4). Không có một Đức Chúa Trời nào khác, và mỗi khi dân Y-sơ-ra-ên xây qua nhờ cậy thần khác thì họ đánh mất ơn phước từ Đức Chúa Trời.
“Hòn đá” là một trong những hình ảnh chỉ về Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Chúng ta thấy hình ảnh nầy trong “Bài ca của Môi-se” (Phuc 32:4,15,18,30-31,37) và bài ca của Đa-vít (IISa 2:32). Hòn đá nói lên sức mạnh, sự bền vững và tính kiên định của Đức Chúa Trời và biểu thị rằng Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Chúng ta có thể nương dựa vào Ngài, vì bản tánh Ngài không thay đổi và những lời hứa của Ngài không bao giờ thay đổi. “Vì ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi, (Ma 3:6)
Giê-hô-va là “Đức Chúa Trời thông biết” (ISa 2:3), nên con người nên cẩn thận về lời nói và cách nói của mình. Không có chỗ cho tính tự phụ và kiêu căng khi bạn đứng trước mặt Đức Chúa Trời, l à Đấng biết rõ bạn và biết mọi điều bạn nghĩ, nói và làm. Đức Chúa Trời nghe mọi lời ngạo mạn của Phê-ni-na nói với An-ne, và Ngài cũng nghe lời cầu nguyện tha thiết của An-ne. Đức Chúa Trời toàn tri và biết hết mọi sự, và Ngài toàn tại và nhìn thấy mọi sự.
An-ne vui mừng vì Đức Chúa Trời thánh khiết là một quan xét công bình cho những việc làm của dân sự Ngài. Không giống dân sự được kể trong những vụ kiện của nhân loại, Đức Giê-hô-va biết mọi sự và có thể cân chúng ta và những việc làm của chúng ta một cách chính xác. Ngài đã cân Bên-sát-sa, và thấy người còn “kém thiếu” (Dan 5:27). Đức Chúa Trời cân nhắc những động cơ của chúng ta (Ch 16:2) và tấm lòng của chúng ta (ISa 24:11-12), và trái cân của Ngài luôn chính xác. Giống An-ne, chúng ta có thể bị người ta hiểu lầm và phỉ báng, nhưng Đức Giê-hô-va sẽ luôn hành động một cách công bình.
• Ân điển của Đức Chúa Trời (ISa 2:4-8a).
Đức Chúa Trời thánh khiết, công bình và luôn trung tín trong lời nói và bản tánh. Nhưng Ngài cũng nhân từ, đầy l òng thương xót và làm những điều vượt quá ý tưởng của chúng ta. An-ne mô tả một số việc làm của Ngài và khẳng định rằng Đức Chúa Trời đã làm đảo ngược mọi sự! Bài ca của Ma-ri trong Lu 1:46-55 cũng diễn tả những lẽ thật nầy.
Những chiến binh hùng mạnh thất bại trong khi những người yếu đuối lại thắng trận (ISa 2:4; Tr 9:11). Người giàu vốn dư thừa đồ ăn phải đi làm mướn kiếm ăn, trong khi người nghèo đói lại có hơn điều họ cần (ISa 2:5). Người son sẻ sinh được nhiều con, trong khi người có nhiều con kiệt sức và yếu ớt và thậm chí không thể vui vì gia đình mình (c. 5b). Lẽ thật trong câu nầy được phản ánh qua sự kiện An-ne đã sinh thêm được 5 con trai nữa (c. 21).
Vì Đức Chúa Trời cầm quyền tể trị, Ngài quyết định sự sống, sự chết và mọi việc trong đó (c.6). Ngài có thể đem chúng ta ra khỏi mồ mả hoặc cho phép sự chết đến với chúng ta. Nếu Ngài cho chúng ta sống, Ngài có thể khiến chúng ta giàu hoặc nghèo, được tôn trọng hoặc bị hạ thấp, vì Ngài biết điều gì là tốt nhất. Điều nầy không gợi ý rằng con người phải khiêm nhường chấp nhận những hoàn cảnh khó khăn và đừng làm gì cả, nhưng gợi ý rằng chúng ta không thể thay đổi những hoàn cảnh nầy nếu không có sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời (Phuc 8:18).
Trong ân điển của Ngài, Đức Chúa Trời có thể chọn người nghèo và đưa họ lên địa vị của những vương tôn (Thi 113:7-8; Lu 1:52). Ngài đem họ ra từ trong bụi đất và đống rác để đặt họ trên ngôi vinh hiển! Nhưng đó có phải là điều Ngài đã làm cho Chúa Giê-xu (Phi 2:1-10) và là điều Chúa Giê-xu đã làm cho chúng ta khi Ngài cứu chúng ta? (Eph 2:1-10). Thật vậy, qua thập tự giá, Đức Chúa Trời đã “gây thiên hạ nên loạn lạc” (Cong 17:6), và chỉ những người có khải tượng rõ ràng và giá trị thật là những người đã tin cậy Chúa Giê-xu.
• Sự che chở của Đức Chúa Trời (ISa 2:8a-10b).
Đức Chúa Trời đã dựng nên thế gian nầy để nó không thể bị dịch chuyển, và mọi chuyện xảy ra trong hành tinh chúng ta đều chịu dưới sự chăm nom cẩn thận của Đức Chúa Trời. Chúng ta nghĩ rằng Đức Chúa Trời bỏ mặc thế gian nầy cho Sa-tan và quyền lực của ma quỷ, nhưng nó vẫn là thế gian của Đức Chúa Trời (Thi 24:1-2), và Ngài đã lập Vua của Ngài trên Thiên Đàng (Thi 2:7-9).
Khi dân sự của Đức Chúa Trời sống trên thế gian và bước đi trong ánh sáng, Đức Giê-hô-va sẽ bảo vệ và dẫn đắt từng bước chân của họ, nhưng kẻ gian ác bước đi trong sự tối tăm thuộc linh vì họ cậy vào sự khôn ngoan và sức mạnh của riêng mình. Dường như kẻ gian ác muốn được như vậy, nhưng sẽ có một ngày cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên họ trong sự phán xét. Đức Chúa Trời nhẫn nhịn với kẻ chống nghịch Ngài, nhưng ngày của họ đang đến gần.
• Sự cai trị của Đức Chúa Trời (ISa 2:10b).
Một câu nói đáng chú ý, đó là Đức Chúa Trời sẽ ban cho Y-sơ-ra-ên một vị vua được xức dầu và thêm sức cho vua ấy để phục vụ Ngài và dân sự Ngài. An-ne chắc chắn biết Luật Pháp Môi-se vì trong đó bà tìm thấy những lời hứa về một vị vua. Đức Chúa Trời đã phán với Áp-ra-ham và Sa-ra rằng từ họ sẽ sinh ra các vị vua (Sa 17:6,16), và Ngài nhắc lại lời hứa nầy với Gia-cốp (Sa 35:11). Trong lời trăn trối với các con trai mình, Gia-cốp đã nói rằng Giu-đa sẽ là một chi phái nhà vua (Sa 49:10) và trong Phuc 17:14-20, Môi-se đã dạy dỗ nhiều điều về vị vua trong tương lai. Khi Y-sơ-ra-ên cầu xin một vua, Đức Chúa Trời đã sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của họ. Trong nhiều khía cạnh, Vua Đa-vít đã làm ứng nghiệm lời tiên tri nầy; nhưng sự ứng nghiệm cuối cùng thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu (“Đấng chịu xức dầu”), là Đấng sẽ ngồi trên ngôi Đa-vít và cai trị vương quốc vinh hiển của Ngài. (Lu 1:32-33,69-75).
An-ne và Ên-ca-na để con trai mình lại Si-lô và trở về Ra-ma với lòng vui mừng và trông đợi vào những việc Đức Chúa Trời sẽ làm. Thật tuyệt vời khi cả chồng và vợ đều hết lòng tận hiến cho Đức Chúa Trời, cùng thờ phượng Ngài, cùng nhau cầu nguyện và cùng tin cậy Ngài. An-ne đã đến đền thờ với tấm lòng tan vỡ, nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho bà sự bình an vì bà đã cầu nguyện và đầu phục ý muốn của Ngài.
4. Đức Chúa Trời đoán phạt tội lỗi (ISa 2:12-36)
Cho đến lúc nầy, tác giả chỉ tập trung nói về Ên-ca-na và gia đình ông (ISa 1:1-2:11), nhưng từ phân đoạn nầy, Hê-li và gia đình Hê-li được đề cập (ISa 2:12-3:21). Xuyên suốt phần Kinh Thánh nầy, bạn sẽ thấy được sự trái ngược giữa Sa-mu-ên và các con trai của Hê-li, Hóp-ni và Phi-nê-a. Các con trai của Hê-li “gây cho người ta khinh bỉ các của tế lễ dâng cho Đức Giê-hô-va” (ISa 2:17), nhưng “Sa-mu-ên phục sự trước mặt Đức Giê-hô-va” (ISa 2:18). Hai con trai Hê-li phạm điều ác trong đền tạm và bị Đức Chúa Trời đoán phạt, còn Sa-mu-ên hầu việc Chúa trong đền tạm và lớn lên trong ơn phước của Ngài (ISa 2:26).
Dòng dõi thầy tế lễ lẽ ra đã chấm dứt trong gia đình của Hê-li, nhưng Sa-mu-ên được Đức Chúa Trời kêu gọi cho chức tế lễ thánh (ISa 2:34-3:1). Từ cái nhìn của con người, dường như các con trai của Hê-li tránh bị sự đoán phạt vì tội lỗi mình, nhưng Đức Chúa Trời đã chuẩn bị sẵn hình phạt dành cho họ trong khi Ngài trang bị cho đầy tớ Ngài là Sa-mu-ên để tiếp tục công việc của Ngài.
• Hình phạt của Đức Chúa Trời là xứng đáng (ISa 2:12-21).
Vì Hê-li lớn tuổi và không còn nhìn thấy rõ (ISa 4:15), ông giao công việc ở đền tạm cho hai con trai mình, và chúng đã cậy thế cha mình để làm những điều chúng thích. Hóp-ni và Phi-nê-a không nhận biết Đức Chúa Trời một cách cá nhân nhưng là “con trai của Bê-li-an” một từ Hy-bá-lai mô tả những người không ra gì công khai làm những việc trái luật pháp (Phuc 13:13; ISa 25:25; Ch 16:27). Trong IICo 6:15, Phao-lô dùng tên Bê-li-an như để tượng trưng cho Sa-tan. Luật pháp nói chính xác phần của lễ nào thuộc về các thầy tế lễ (Le 7:28-36; Le 10:12-15; Phuc 18:1-5), nhưng hai anh em nầy lấy phần mà họ muốn và cũng lấy phần mỡ là phần thuộc về Đức Chúa Trời. Họ còn lấy cả thịt sống để nướng và không ăn thịt luộc.
Họ đã “gây cho người ta khinh bỉ các của tế lễ dâng cho Đức Giê-hô-va” (ISa 2:17) và “giày đạp dưới chân” những của lễ của Đức Chúa Trời (ISa 2:29).
Hóp-ni và Phi-nê-a không chỉ tỏ ra xem thường các của lễ trên bàn thờ, mà còn không quan tâm những người nữ hầu việc tại cửa hội mạc (ISa 2:22; Xu 28:8). Thay vì khích lệ họ trong bước tiến thuộc linh, hai anh em nầy còn quyến rũ họ. Những người nữ nầy không phải là những đầy tớ chính thức được luật pháp công nhận, nhưng là những người tình nguyện giúp đỡ cho các thầy tế lễ và người Lê-vi. Có lẽ họ giúp trông giữ trẻ khi cha mẹ chúng đến đây thờ phượng, hoặc có thể họ chỉ ở đây chỉ để được gần sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Đời sống trái đạo đức trong giới lãnh đạo tôn giáo là một tin nóng ngày nay, nó là một bi kịch, nhưng thật sự nó không là gì mới.
• Trái với sự gian ác của các con trai Hê-li là sự thành tín của Sa-mu-ên (ISa 2:18-21).
Cậu bé Sa-mu-ên được xem như một thầy tế lễ tập sự, học làm những công việc trong đền thờ, còn được mặc áo dài vải gai mịn và ê-phót, giống như những thầy tế lễ thực thụ và người Lê-vi thường mặc. Mỗi năm khi ba mẹ Sa-mu-ên lên Si-lô, mẹ của cậu ta đem theo một bộ đồ mới cho cậu. Trong Kinh Thánh, áo quần thường nói về đời sống thuộc linh (Es 61:10; Xa 3:1-5; Eph 4:22-32; Co 3:8-17; IPhi 5:5), và sự thay áo tượng trưng cho sự bắt đầu mới (Sa 35:2; Sa 41:14; Sa 45:22; Xu 19:10; Kh 3:18). Mỗi năm đều có áo quần mới không chỉ ngụ ý sự lớn lên thuộc thể mà còn sự tăng trưởng thuộc linh của cậu bé Sa-mu-ên (ISa 2:21), và điều nầy nhắc chúng ta nhớ về Chúa Giê-xu của chúng ta, Ngài “khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta” (Lu 2:52).
Đức Chúa Trời sắp trừng phạt gia đình Hê-li, nhưng Ngài ban phước cho Ên-ca-na, An-ne và cả nhà họ, Ngài đã ban cho ông có thêm 5 người con nữa với An-ne (ISa 2:21 Thi 113:9). Đây là món quà lớn của Đức Chúa Trời và là sự đáp lời cho lời cầu nguyện của Hê-li (ISa 2:20), là người rất vừa lòng và được an ủi nhiều vì Sa-mu-ên. An-ne dâng cho Đức Chúa Trời một người con và Ngài ban lại cho bà 5 người con khác.
• Hình phạt, Đức Chúa Trời bị xem nhẹ (ISa 2:22-26).
Nhiều người nói cho Hê-li biết về những tội lỗi của các con trai ông, ông có lời trách mắng chúng, nhưng vô ích. Dường như Hê-li không phải là một người cha và người lãnh đạo thuộc linh thành công, và các con trai ông xem thường lời răn đe của ông. Thật là một thảm kịch khi một người cha vừa là một lãnh đạo thuộc linh không còn có ảnh hưởng gì trên gia đình riêng của mình mà chỉ có thể chờ đợi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời.
Lót đánh mất quyền hạn của mình trong gia đình (Sa 19:12-14), và sau khi Đa-vít phạm tội với Bát-sê-ba, uy thế của ông đối với các con ông cũng sa sút đáng kể. Hóp-ni và Phi-nê-a không tôn trọng Đức Chúa Trời cũng không xem trọng chức vụ của cha họ là thầy tế lễ thượng phẩm, nên Đức Chúa Trời phải trừng phạt họ và đưa những dầy tớ trung tín khác vào thế chỗ của họ.
• Sự trừng phạt của Đức Chúa Trời được công bố (ISa 2:27-36).
Một “người của Đức Chúa Trời” ẩn danh xuất hiện tại Si-lô để rao báo sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên Hê-li và gia đình ông. Danh xưng “người của Đức Chúa Trời” được dùng nhiều lần trong Cựu-ước và thường chỉ về một tiên tri được Đức Chúa Trời sai đến. Đức Chúa Trời đã chọn A-rôn làm thầy tế lễ cả đầu tiên và ban cho ông quyền truyền lại chức vị nầy cho con trai trưởng của mình (Xu 4:14-16; Xu 28:1-4). Thầy tế lễ cả và các con trai được quyền dâng của lễ lên bàn thờ, dâng hương, mặc áo lễ, và ăn những của dâng. Sứ giả nhắm vào người trước mặt (ISa 2:29) và buộc tội Hê-li đã đặt các con tai mình trên Chúa và góp phần trong tội lỗi của chúng. ( từ “ngươi” trong câu 29 ở dạng số nhiều nên bao gồm cả Hê-li và các con trai ông).
Dung túng tội lỗi và không giải quyết chúng nghiêm khắc là dự phần mình trong tội lỗi ấy. Là một thầy tế lễ cả, Hê-li có quyền sửa trị các con mình, nhưng ông không làm như vậy. “Chớ hề nhúng vào tội lỗi kẻ khác” (ITi 5:22). Nếu Hê-li là người của Đức Chúa Trời, quan tâm đến sự vinh hiển của Ngài, chắc ông đã quở trách nghiêm khắc các con mình và bảo chúng ăn năn; và nếu chúng không nghe theo, ông chắc hẳn đã dùng người khác thay thế chúng.
• Nhưng gánh nặng của lời tiên tri nầy nhắm vào tương lai; (ISa 2:30-36).
Đức Chúa Trời đã ban chức tế lễ cho A-rôn và con cháu người vĩnh viễn, không ai có thể cất đi danh dự nầy (Xu 29:9; Xu 40:15; Dân 18:7; Phuc 18:5). Tuy nhiên, các đầy tớ của Đức Chúa Trời không thể sống theo cách họ thích và mong Đức Chúa Trời ban vinh dự cho họ; vì “Vì phàm ai tôn kính ta, ta sẽ làm cho được tôn trọng” (ISa 2:30). Đặc quyền về chức tế lễ vẫn còn trong chi phái Lê-vi và Nhà A-rôn, nhưng Đức Chúa Trời loại nhánh Hê-li ra khỏi dòng dõi đó. Các con cháu của Hê-li suy yếu và dần dần chết đi và sẽ không còn người nào lớn tuổi như Hê-li trong dòng họ. Họ phải nài xin được làm việc để có cái ăn (c.36).
Trong thời vua Đa-vít số con cháu của Ê-lê-a-sa gần như gấp đôi số con cháu của Y-tha-ma (ISu 24:1-5), vậy dòng họ của Hê-li đã dần dần qua đời hết. Nhưng tệ hơn là hai con trai hư hỏng của Hê-li đã chết trong cùng một ngày.Ngay cả đền tạm cũng kinh nghiệm nổi đau buồn (ISa 2:32), hòm giao ước bị chiếm lấy và đền tạm phải được di dời từ Si-lô đến Nóp (ISa 21:1-6; Gie 7:14). Nhưng tại Nóp nhiều thầy tế lễ bị Đô-e giết chết, điều đó ứng nghiệm phần nào lời tiên tri nầy.
Hê-li là hậu duệ của A-rôn qua Y-tha-ma, con trai thứ tư của A-rôn, nhưng Đức Chúa Trời loại dòng họ nầy và chọn các con trai của Ê-lê-a-sa, con thứ ba của A-rôn và là người thừa tự chức vị tế lễ cả.
Dưới thời Đa-vít, cả Xa-đốc và A-bi-tha đều làm chức tế lễ cả (IISa 8:17), nhưng khi Sa-lô-môn lên ngôi, ông cách chức tế lễ cả của A-bi-tha, là chắc của Hê-li vì người nầy góp sức với A-đô-ni-gia, con trai Đa-vít âm mưu lật đỗ ngai vàng. Sa-lô-môn chọn Xa-đốc làm thầy tế lễ cả, và ông thuộc họ của Ê-lê-a-sa. (IVua 2:26-27,35). Trong danh sách các thầy tế lễ trong ISu 6:3-15, những tên từ Hê-li cho đến A-bi-tha bị bỏ sót. Qua việc bổ nhiệm Xa-đốc làm thầy tế lễ cả, Sa-lô-môn đã làm ứng nghiệm lời tiên tri mà người của Đức Chúa Trời đã rao báo một thế kỷ rưỡi trước đó.
Nhưng tương lai không phải hoàn toàn ảm đạm, vì người của Đức Chúa Trời có tiên báo rằng Đức Chúa Trời sẽ dấy lên một thầy tế lễ thành tín, người làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài (ISa 2:35). Sự đề cập trực tiếp là về Xa-đốc, nhưng cuối cùng nó nói về Chúa Cứu Thế Giê-xu, chỉ một mình Ngài là “nhà vững bền” và là thầy tế lễ được chọn của Đức Chúa Trời “đời đời”. Chúa chúng ta đến từ chi phái Giu-đa, nên Ngài không liên quan gì đến dòng dõi nhà A-rôn, nhưng được lập làm thầy tế lễ cả theo lệnh của Mên-chi-xê-đéc (He 7:1-8:13).
5. Đức Chúa Trời ban thưởng cho sự trung tín (ISa 3:1-21)
Một lần nữa chúng ta thấy sự phân biệt giữa sự gian ác của gia đình Hê-li và sự trung tín của Sa-mu-ên (c. 1). Người hầu việc trước mặt Đức Chúa Trời dưới sự hướng dẫn của Hê-li trong thời gian Đức Chúa Trời không thường xuyên phán với dân sự Ngài. Những lãnh đạo thuộc linh đều sa sút, và dân sự Đức Chúa Trời không muốn theo luật pháp của Ngài, vậy thì làm sao Đức Chúa Trời phán những điều mới cho họ? Đó là những ngày bi thảm trong dân Y-sơ-ra-ên, vì Đức Chúa Trời hằng sống không còn sai các tiên Ngài đến cũng không ban sứ điệp của Ngài cho họ (Thi 74:9; Exe 7:26; Am 8:11-12; Mi 3:6). Sự im lặng của Đức Chúa Trời là sự đoán phạt của Ngài.
Nhưng Đức Chúa Trời chuẩn bị thay đổi tình trạng nầy và phán Lời quý báu của Ngài cho một người trai trẻ, là người luôn lắng nghe và vâng phục.
• Lỗ tai biết lắng nghe (ISa 3:1-9).
Khi Sa-mu-ên được 12 tuổi, một đêm nọ Đức Chúa Trời phán với anh ta lúc anh ta nằm trong “nhà phụ” của đền tạm nơi Hê-li đang ngủ. “Đèn của Đức Chúa Trời” là m ột giá đèn cầy với bảy ngọn được đặt trong nơi thánh trước bức màn, bên phải bàn thờ xông hương (Xu 25:32-40; Xu 27:20-21; Xu 37:17-24). Nó là luồng ánh sáng duy nhất trong nơi thánh, và các thầy tế lễ phải giữ cho nó luôn luôn sáng (ISa 27:20) và cắt tim đèn khi họ dâng hương mỗi sáng và chiều (Xu 30:7-8).
Đèn nầy tượng trưng cho ánh sánh của lẽ thật Đức Chúa Trời ban cho thế gian qua dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Tiếc thay, ánh sáng của Lời Đức Chúa Trời rất lu mờ trong những ngày đó, và chỉ vừa đủ cho thầy tế lễ cả của Đức Chúa Trời có thể nhìn thấy! Hòm giao ước chứa đựng luật pháp của Đức Chúa Trời ở đó (Xu 25:10-22; Xu 37:1-9; He 9:1-5), nhưng dân sự Ngài không tôn trọng luật pháp đó.
* Đức Chúa Trời phán với Sa-mu-ên 4 lần (ISa 3:4,6,8,10), và ba lần đầu, Sa-mu-ên nghĩ là Hê-li gọi anh ta. Một trong những dấu hiệu của một đầy tớ trung thành là có lỗ tai biết lắng nghe và sự đáp ứng tức thì. Nhưng Sa-mu-ên chưa từng được nghe tiếng Chúa trước đây, nên anh ta không biết ai đang gọi mình. Giống như Sau-lơ người Tạt-xơ, sự kêu gọi Sa-mu-ên và sự biến đổi xảy ra cùng một thời điểm, chỉ khác là chuyện của Sa-mu-ên xảy ra ban đêm trong khi Sau-lơ nhìn thấy ánh sáng lóe lên khi ông nghe tiếng Chúa (Cong 9:1-9). Hê-li đủ sáng suốt để nhận biết Đức Chúa Trời đang phán với cậu trẻ nầy; nên ông dạy cho anh ta biết nên trả lời thế nào.
• Ý chí vâng phục (ISa 3:10-14).
Sa-mu-ên vâng lời Hê-li trở về chỗ ngủ, và chờ đợi. Lần nầy Đức Chúa Trời gọi tên anh ta hai lần, vì người chăn gọi chiên mình bằng tên để thu hút sự chú ý của chúng (Gi 10:3-4). Không chỉ có vậy, Đức Chúa Trời còn đến và đứng cạnh Sa-mu-ên khi Ngài phán với anh ta. Trải nghiệm này không phải là giấc mơ hoặc sự hiện thấy nhưng là sự phát lộ sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Sa-mu-ên đáp lời, “Xin hãy phán, kẻ tôi tớ Ngài đương nghe!” (ISa 3:10), và anh ta bỏ sót “Hỡi Đức Giê-hô-va” (c.9). Tại sao như vậy? Sa-mu-ên chưa có biết Đức Chúa Trời cách cá nhân (c.7), nên anh ta không thể biết tiếng của ai đang phán với mình. Có lẽ anh ta cẩn thận để không nhận tiếng ấy là của Đức Giê-hô-va trong khi anh ta không có gì làm chắc chắn.
Vì Sa-mu-ên vâng lời Đức Chúa Trời và Hê-li, anh ta nghe được sứ điệp từ Đức Chúa Trời và biết Ngài đang hoạch định gì. Sứ điệp nầy thật quá sức người trai trẻ Sa-mu-ên, nhưng trong việc đó có lẽ Đức Chúa Trời muốn khiển trách tình trạng thờ ơ thuộc linh của những người lớn, làm sao Đức Chúa Trời có thể ban sứ điệp nầy cho họ trong khi tình trạng của họ như vậy? Khi Đức Chúa Trời không thể tìm ra người lớn nào biết vâng phục Ngài, đôi khi Ngài kêu gọi một đứa trẻ. “Ta sẽ ban cho họ những người trai trẻ làm quan trưởng, và con nít sẽ cai trị họ” (Es 3:4).
Sa-mu-ên không biết sứ điệp mà vị tiên tri ẩn danh đã tiên báo với Hê-li, nhưng sứ điệp ban cho anh ta đã xác nhận nó. Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt nhà Hê-li vì hai con trai Hê-li vì chúng tự làm mình ra ô uế, còn Hê-li thì không can ngăn chúng. Dù Hê-li và các con trai mình là thầy tế lễ, họ không thể dâng của lễ nào để chuộc được tội lỗi mình! Tội lỗi của họ là cố ý và có tính thách thức, và như vậy nên không có của lễ nào có thể chuộc tội cho họ (Dân 15:30). Không chỉ họ tự làm mình ra gớm ghiếc, họ còn làm ô uế cả chức tế lễ. Đức Chúa Trời không còn chịu dựng được nhà Hê-li, nhưng họ đã không hề ăn năn xây bỏ tội ác mình; giờ thì quá trễ.
• Tấm lòng khiêm hạ (ISa 3:15-18).
Sa-mu-ên đã nghe tiếng Chúa và nhận được sứ điệp của Ngài, nhưng anh ta vẫn dậy sớm và trở lại với nhiệm vụ thường nhật của mình. Anh ta mở các cửa của đền thờ để người ta có thể vào dâng của lễ, và anh ta không nói với Hê-li những điều Đức Chúa Trời phán với mình. Điều nầy cho thấy sự chín chắn đáng khen ở người trai trẻ nầy. Hầu hết những người trẻ tuổi thường dễ kiêu ngạo về kinh nghiệm của họ với Chúa, vội vàng chạy đi công bố sứ điệp mình nhận được, và không hạ mình để đi mở cửa như vậy. Chỉ đến khi Hê-li bảo thì Sa-mu-ên mới kể lại sứ điệp Đức Chúa Trời ban cho anh ta.
Phản ứng của Hê-li đối với sứ điệp nầy là đầu phục một cách tích cực hay từ chối cách tiêu cực? Tôi nghĩ ông ta từ chối, như thái độ của Ê-xê-chia khi Ê-sai cho ông biết những việc làm dại dột của ông sẽ hủy hoại nước Giu-đa (Es 39:1-8). Hê-li đã lớn tuổi, ông không phải là một người cha tốt cũng không phải là thầy tế lễ trung tín, và ông đã được cảnh báo sự đoán phạt nầy rồi. Hai con trai ông sẽ phải chết trong cùng một ngày và gia đình ông sẽ mất đi đặc ân làm thầy tế lễ, như vậy còn giữ chức vụ là để làm gì? Đức Chúa Trời đã chọn Sa-mu-ên làm quan xét, làm thầy tế lễ, nên ánh sáng của lẽ thật sẽ luôn soi rọi trong Y-sơ-ra-ên. Tất cả những gì người thầy tế lễ già nầy có thể làm là kiên nhẫn chờ đợi án phạt dành cho mình.
Hê-li có những khuyết điểm như tất cả chúng ta đều có, và chúng ta phải đánh giá đúng uy thế của ông đối với người thanh niên Sa-mu-ên, người kế nhiệm ông trong chức vụ lãnh đạo thuộc linh trong Y-sơ-ra-ên. Không phải đầy tớ Chúa nào cũng có thể dễ dàng lui về sau và nhường chức vụ của mình cho người học việc trẻ tuổi. Cho đến gần cuối cuộc đời mình, ít nhất Hê-li cũng đã quan tâm đến hòm giao ước và tương lai của dân sự; và nghe tin Y-sơ-ra-ên thất bại và hòm giao-ước bị chiếm lấy là nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông. Nếu Hê-li quan tâm hơn đến hai con trai mình từ khi chúng còn thơ ấu như Sa-mu-ên, thì mọi chuyện đã khác.
• Bước đi tin kính (ISa 3:19-21).
Lần thứ hai chúng ta được biết Sa-mu-ên đã khôn lớn (ISa 2:21 ISa 3:19), nhưng có một câu khẳng định ở đây, “Đức Giê-hô-va ở cùng người”. Câu nầy cũng được sử dụng để nói về thanh niên Đa-vít (ISa 16:18; ISa 18:2,14). Đức Giê-hô-va nghịch cùng Hê-li và các con trai ông, nhưng Ngài ban ơn cho Sa-mu-ên và chức vụ của người. Không giống nh ững quan xét khác, lời nói và sự ảnh hưởng của Sa-mu-ên đã đến được toàn thể dân sự. Người ta biết chính Đức Chúa Trời đã chọn Sa-mu-ên để làm tiên tri để công bố Lời Ngài và ý muốn của Ngài. Một lần nữa, Đức Giê-hô-va lại hiện diện tại Si-lô và mặc khải chính mình Ngài cho tiên tri Ngài. Y-sơ-ra-ên sắp được kinh nghiệm một sự bắt đầu mới, điều đó sẽ dẫn đến những thách thức và hiểm nguy mới cũng như những ơn phước và thắng lợi mới.
2. SỰ THẤT BẠI CỦA Y-SƠ-RA-ÊN: SỰ ĐẮC THẮNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (ISa 4:1-6:21)
Hòm giao ước được nhắc đến ít nhất 35 lần trong 3 đoạn nầy và đại diện cho Đức Chúa Trời, một nhân vật trung tâm trong tất cả lịch sử Y-sơ-ra-ên. Hòm giao ước là vật dụng quan trọng nhất trong đền tạm và được đặt ở nơi chí thánh. Trong hòm giao ước là hai bản luật pháp, trên nó là ngôi vinh hiển của Đức Chúa Trời. Từ ngôi nầy Đức Chúa Trời sẽ phán với dân sự Ngài (Xu 25:10-22). Đối với con mắt của người thành tín, Đức Chúa Trời rất rõ ràng và sống động trong tất cả những sự kiện được ghi lại trong các đoạn Kinh Thánh nầy. Không có biến cố nào xảy ra một cách ngẫu nhiên; chúng đều nằm trong hoạch định của Đức Chúa Trời cho dân sự đã được rèn thử của Ngài, tức những tội nhân đã bị phán xét, và cuối cùng để lập một vua được xức dầu của Ngài.
1. Lời thành tín của Đức Chúa Trời (ISa 4:1-22)
Không lâu sau Đức Chúa Trời bắt đầu mặc khải Lời Ngài cho dân sự rằng kẻ thù của họ chuẩn bị tấn công họ. Dân Phi-li-tin được đề cập trong Kinh Thánh từ thời Áp-ra-ham (Sa 21:32; Sa 10:14), và trong hai sách Sa-mu-ên, họ được nhắc đến 50 lần. Nguyên thủy họ là dân vượt biển từ vùng Aegean, là dân xâm lược vùng lãnh thổ dọc theo bờ biển Địa Trung Hải, và giành quyền kiểm soát toàn bộ xứ mà chúng ta biết với cái tên Pa-léc-tin. (“Palestine” là một dạng từ khác của chữ “Philistine”). Dân Phi-li-tin rất khó chịu khi dân Y-sơ-ra-ên chiếm được Đất Hứa và nhiều lần cố đánh đuổi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi đó. Có thể trận chiến nầy là sự đáp trả của Y-sơ-ra-ên đối với một trong những lần xâm lược đó.
• Y-sơ-ra-ên thất bại (ISa 4:1-10).
A-phéc là thành phố ở miền Bắc Phi-li-tin cách thành Ê-bên-Ê-xe (“hòn đá giúp đỡ”) của Do-thái 3 dặm về phía Tây. Si-lô cách Ê-bên-Ê-xe 20 dặm về phía Đông. Trong cuộc chiến đầu tiên, dân Phi-li-tin đánh bại Y-sơ-ra-ên và giết chết 4 ngàn người, các trưỡng lão trong Y-sơ-ra-ên vô cùng bối rối trước sự thất bại nầy. Y-sơ-ra-ên không phải là tuyển dân của Đức Chúa Trời hay sao?Chẳng phải Đức Chúa Trời đã ban cho họ xứ nầy làm cơ nghiệp hay sao? Thế thì tại sao Y-sơ-ra-ên lại thất bại trước các nước láng giềng thờ hình tượng? Nếu các trưởng lão ấy nhớ lại những luật lệ trong giao ước của Đức Chúa Trời, họ sẽ biết rằng sự thất bại đáng xấu hổ nầy là do dân Y-sơ-ra-ên không vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời (Le 26:39; Phuc 28:25).
Đức Giê-hô-va đã dạy họ rõ ràng cách đánh trận (Phuc 20:1-20), nhưng thay vì xét lại lòng mình và ăn năn tội, dân sự đã quyết định bắt chước Môi-se và Giô-suê đem hòm giao ước ra trận cùng với họ. (Dân 10:33-36; Gios 1:1-3:17; Gios 6:1-27). Nhưng phương cách nầy chỉ là “lợi dụng Đức Chúa Trời” để làm thành mục đích riêng của họ. Không giống Môi-se và Giô-suê, họ đã không tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời, không bước đi trong đức tin, và chắc chắn không mưu cầu sự vinh hiển của Ngài. Hơn thế nữa, hai thầy tế lễ gian ác Hóp-ni và Phi-nê-a đã mang hòm giao ước thánh khiết của Đức Chúa Trời! Làm sao Đức Chúa Trời có thể chúc phước cho hai kẻ đầy tội lỗi mà Ngài đã phó cho sự đoán phạt rồi? (ISa 2:29; 3-4:4-17). Nhưng dân sự hy vọng với sự hiện diện của hòm giao ước họ sẽ được giải cứu khỏi tay những kẻ thù nghịch mình.
Khi Hóp-ni và Phi-nê-a xuất hiện trong trại quân và mang theo hòm giao ước của Đức Chúa Trời, các trưởng lão và binh lính đã hò hét phấn khích, nhưng sự tin cậy vào chính mình chỉ dẫn họ đến một thất bại khác. Hòm giao ước có thể ở với họ trong trại quân, nhưng Đức Giê-hô-va của họ đang nghịch cùng họ. Tiếng reo hò của họ có thể làm tinh thần họ phấn khích, nhưng không có gì bảo đảm rằng họ sẽ chiến thắng. Tất cả điều đó chỉ càng thúc đẩy dân Phi-li-tin quyết tâm đánh mạnh hơn để giành thắng lợi. Và họ thật đã thắng và giết chết 30 ngàn lính Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời sẽ không bị “lợi dụng” để con người đạt được mục đích ích kỷ của mình. Đức Chúa Trời có hứa rằng, “Phàm ai tôn kính ta, ta sẽ làm cho được tôn trọng” (ISa 2:30).
• Hòm giao ước bị chiếm lấy (ISa 4:11a).
Trong phân đoạn từ câu 11-22, câu “Hòm của Đức Chúa Trời bị cướp lấy” được nhắc lại 5 lần (ISa 11:11,17,19,21-22). Trong lịch sử Y-sơ-ra-ên chưa bao giờ hòm giao ước của Đức Chúa Trời bị rơi vào tay kẻ thù!Hòm giao ước thánh khiết đến nỗi chỉ được đặt phía sau bức màn trong đền tạm và hàng năm vào đại lễ chuộc tội thầy tế lễ thượng phẫm được vào đó một lần (Le 16:1-34). Khi phải dời trại trong những năm dân Do-thái lưu lạc trong đồng vắng, iều đầu tiên thầy tế lễ phải làm là gỡ bức màn rồi bọc hòm giao ước lại (Dân 4:5-6), sau đó mới được đụng đến những vật dụng khác.
Hòm giao ước là Ngôi của Đức Chúa Trời (IISa 6:2; Thi 80:1; Thi 99:1), nhưng giờ đây Ngôi của Đức Chúa Trời đang ở trên đất của kẻ thù! Dân Do-thái đã quên rằng hòm giao ước là Ngôi của Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên chỉ khi dân Y-sơ-ra-ên đầu phục Ngài và giữ gìn giao ước Ngài. Bất cứ điều gì khác chỉ sự mê tín ngu muội, giống như tin nơi bùa chú vậy. Đem hòm giao ước vào trại quân không phải là tội nếu dân sự thật sự muốn tận hiến cho Đức Chúa Trời và tôn vinh danh Ngài. Đức Chúa Trời phó hòm giao ước vào tay dân ngoại, nhưng hai con trai của Hê-li đã sống như người ngoại trong khi phục vụ trước hòm giao ước, ậy có gì khác biệt? Đức Chúa Trời dùng hòm giao-uớc để dạy cho cả dân Do-thái lẫn dân Phi-li-tin một bài học lớn.
• Cái chết của hai thầy tế lễ (ISa 4:11b).
Điều nầy làm ứng nghiện Lời của Đức Chúa Trời phán cho Hê-li qua một tiên tri ẩn danh (ISa 2:27-36)và cho Sa-mu-ên khi được Đức Chúa Trời gọi tên và phán trực tiếp (ISa 3:11-18). Đức Chúa Trời đã chịu đựng Hóp-ni và Phi-nê-a khi họ báng bổ của lễ dâng cho Đức Chúa Trời và làm ô uế dân sự Ngài, nhưng ngày giờ của họ đã kết thúc và họ phải nhận hậu quả cho tội lỗi mình.
• Cái chết của thầy tế lễ cả (ISa 4:12-18).
Hê-li biết rằng các con trai mình đã vào nơi chí thánh và mang hòm giao ước ra chiến trường, nhưng ông không thể làm gì để ngăn chúng, giống như ông không thể ngăn chúng trong những năm qua. Ông không lo lắng về các con mình vì ông có địa vị đặc biệt trong đền thờ; ông run rẩy vì sự an nguy của hòm giao ước của Đức Chúa Trời. Nhưng Hê-li có biết rằng Đức Chúa Trời vẫn ở trên ngôi Thiên Đàng dù cho ngôi dưới trời của Ngài có bị xem thường hay b ị biến thành bùa hộ mệnh không? Đức Giê-hô-va có thể bảo vệ những vật dụng của Ngài và sự sinh quang Ngài không?
Sứ giả chạy về Si-lô, một thị trấn đông đúc nhất, để báo tin Y-sơ-ra-ên thất bại, và sự ca thán của dân chúng làm Hê-li quan tâm. Sứ giả chạy đến báo tin cho Hê-li: dân Y-sơ-ra-ên đã thất trận và binh lính chết rất nhiều, Hóp-ni và Phi-nê-a đều tử trận và cuối cùng là tin xấu nhất hòm giao ước của Đức Chúa Trời đã bị dân Phi-li-tin chiếm lấy. Hê-li chắc chắc đã rất buồn và bị sốc nặng, ông ngã ngửa xuống đất gãy cổ và chết. Hê-li là người “nặng ký”, có lẽ do ăn quá nhiều thịt từ các của dâng (ISa 2:29) và ít hoạt động. Cái chết của Hê-li và hai con trai ông là mở đầu cho sự ứng nghiệm lời tiên tri của Đức Chúa Trời rằng chi họ làm chức tế lễ của Hê-li sẽ bị diệt và một chi họ mới sẽ xuất hiện.
Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã lìa khỏi (ISa 4:19-22). Vợ của Phi-nê-a có nhận thức thuộc linh sâu sắc hơn cha chồng, anh chồng và cả chồng mình. Hai anh em họ sử dụng hòm giao ước như một loại bùa chú, Hê-li quan tâm đến sự an nguy của hòm giao ước, nhưng nàng nặng gánh vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nàng đặt tên cho con trai mình là Y-ca-bốt “sự vinh hiển đã lìa khỏi” sau đó thì qua đời. Sự hiện diện của sự vinh quang Đức Chúa Trời trong trại là dấu hiệu cho thấy dân Y-sơ-ra-ên là dân sự của Đức Chúa Trời (Xu 40:34; Ro 9:4), nhưng giờ đây sự vinh hiển ấy đã lìa khỏi họ và đặc ân của Đức Chúa Trời không còn ban cho họ.
Khi vua Sa-lô-môn khánh thành đền thờ, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã trở lại (IVua 8:10), nhưng trước khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, tiên tri Ê-xê-chi-ên đã thấy sự vinh quang lìa khỏi đền thờ và thành nầy (Exe 8:4; Exe 9:3; Exe 10:4,18; Exe 11:22-23). Ê-xê-chi-ên cũng nhìn thấy đền thờ mới trong tương lai và sự vinh quang của Đức Chúa Trời trở lại (Exe 43:1-5). Sự vinh quang của Đức Chúa Trời đã không trở lại trên đất cho đến ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu giáng sinh (Lu 2:8-11 Gi 1:14). Ngày nay, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ngự trong mỗi con cái Ngài (ICo 6:19-20) và trong Hội thánh Ngài nói chung (Eph 2:19-22).
Biến cố nầy quan trọng đến nỗi A-sáp, một tác giả Thi-thiên, đã kể đến nó trong (Thi 78:60-61). Nhưng ông cho chúng ta biết nhiều điều hơn ngoài việc hòm giao ước bị dân Phi-li-tin chiếm lấy, vì Đức Chúa Trời đã lìa bỏ đền tạm tại Si-lô và cho phép kẻ thù phá hủy nó (Gie 7:12-14; Gie 26:6,9). Cuối cùng, dân Phi-li-tin đã trả h òm giao ước lại và đầu tiên nó được đặt ở Bết-sê-mết và sau đó ở Ki-ri-át-Giê-a-rim (ISa 6:13-21). Các thầy tế lễ chắc đã phải dựng lại đền tạm tại Nóp (ISa 21:1), nhưng trong thời Sa-lô-môn, nó nằm tại Ga-ba-ôn (ISu 21:29; IVua 3:4). Sau cùng Sa-lô-môn sáp nhập đền tạm đó vào đền thờ mà ông đã xây (IISu 5:5)
Các con trai hư hỏng của Hê-li nghĩ âm mưu của họ sẽ giữ được sự vinh quang của Đức Chúa Trời ở lại, nhưng nó đã cất sự vinh quang ấy đi!
2. Quyền chứng minh của Đức Chúa Trời (ISa 5:1-12)
Năm thành phố chính của dân Phi-li-tin là Ách-đốt, Ga-xa, ch-kê-lôn, Gát và Éc-rôn, và mỗi thành có một quan trưởng (ISa 6:16-17). Ban đầu, dân Phi-li-tin để hòm giao ước trong đền thờ thần Đa-gôn của họ ở Ách-đốt như để minh chứng rằng thần Đa-gôn của họ mạnh hơn Giê-hô-va. Bắt đầu trận chiến, dân Phi-li-tin rất lo sợ vì họ nghe nói rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ở trong trại quân, nhưng giờ đây họ đang nhạo báng Ngài và tôn vinh các thần của mình. Theo thần thoại, Đa-gôn là thần chính của dân Phi-li-tin và là cha của thần Ba-anh, vị thần bão, sự th ờ phượng các thần nầy gây nhiều khó khăn cho dân Y-sơ-ra-ên.
Tuy nhiên, thần Đa-gôn không có cơ hội đó, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã và đang tự lo tốt cho chính Ngài! Sáng hôm sau, người ta nhìn thấy tượng thần Đa-gôn ngã phủ phục trước hòm giao ước. Giống như những thần tượng hay chết khác, Đa-gôn được người ta dựng lên lại (Thi 115:1-18), nhưng mọi sự còn tồi tệ hơn vào sáng hôm sau. Đầu và tay của nó bị đứt lìa và nằm ở ngạch cửa của đền thờ! Nhưng mọi chuyện chưa kết thúc, vì Đức Chúa Trời không chỉ sỉ nhục thần của dân Phi-li-tin, Ngài còn trừng phạt những người đã thờ lạy thần ấy. Khi dân Phi-li-tin chiếm được hòm giao ước và ngạo mạn đối với Đức Chúa Trời như thể Ngài chỉ là một thần khác, họ đã rước sự đoán phạt của Đức Chúa Trời về cho dân tộc mình.
Khi ta sắp xếp các chứng cứ lại với nhau, dường như Đức Chúa Trời đã sai loài chuột nhiễm bệnh đến giữa vòng dân sự và nạn dịch đã lan tràn. Theo giao ước, Đức Chúa Trời sẽ giáng tai họa này trên dân Do-thái vô tín (Phuc 28:58-60), nhưng trong ân điển của Ngài, Ngài đã trừng phạt kẻ thù của Y-sơ-ra-ên. Một số học giả nghĩ đây là bệnh dịch hạch. Một số người khác cho rằng đây là bệnh u nhọt, trĩ lậu (ISa 5:9), mặc dù khó có thể hiểu được con chuột có vai trò gì trong tai họa nầy. Dù hình phạt là gì đi nữa, nó là nỗi đau và là sự sỉ nhục cho dân Phi-li-tin, và họ nghĩ sự hiện diện của hòm giao ước trong đất của họ là nguyên nhân của tất cả.
Nhưng năm quan trưởng của Phi-li-tin lo bảo vệ vinh quang của sự chiến thắng. Nếu họ có thể chứng minh rằng tai họa là sự trùng hợp ngẫu nhiên, họ sẽ giữ lại hòm giao ước và tiếp tục tán dương sức mạnh của thần Đa-gôn vượt trên Đức Giê-hô-va.Cách làm dễ nhất là dời hòm giao ước đến một thành khác và chờ xem việc gì xảy ra, nên họ đã dời hòm giao ước đến Gát – và mọi sự đã xảy ra tương tự! Sau đó họ lại đem hòm giao ước đến Éc-rôn, ở đó dân chúng phản đối mạnh mẽ và bảo họ đem đi nơi khác! Đức Chúa Trời đã giết chết nhiều cư dân và cũng giáng tai họa xuống Éc-rôn như đã giáng xuống cư dân Ách-đốt và Gát. Đức Chúa Trời đã chứng minh chính mình Ngài và chứng tỏ được rằng chính tay Ngài đã hủy hoại uy tín của Đa-gôn và giáng tai họa xuống dân Phi-li-tin. Không ai có thể nói những tai họa nầy chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng các quan trưởng của Phi-li-tin vẫn phải tính cách để trả hòm giao ước mà không bị sỉ nhục và gây tai họa hơn nữa cho đất nước của họ.
3. Sự tiên liệu khôn ngoan của Đức Chúa Trời (ISa 6:1-18)
Những trải nghiệm được mô tả trong ISa 5:1-12 xảy ra trong khoảng thời gian 7 tháng, cuối cùng 5 quan trưởng cũng quyết định trả hòm giao-uớc về cho dân Y-sơ-ra-ên. Họ không thừa nhận, nhưng Đức Giê-hô-va đã chứng minh chính Ngài trước dân Phi-li-tin và sỉ nhục các thần giả của họ. Vẫn không muốn bị mất mặt, các quan trưởng đã tìm cách trả hòm giao ước cho Y-sơ-ra-ên mà không liên quan gì đến họ hay dân sự của họ.
• Những dự định của con người (ISa 6:1-9).
Những nhà thông thái trong Phi-li-tin lập mưu thử Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên một lần nữa. Nếu Đức Giê-hô-va, mà hòm giao ước là đại diện, thật sự là một Đức Chúa Trời hằng sống và có thật, hãy để Ngài đem hòm giao ước về nơi của nó! các quan trưởng lên kế hoạch để tránh né trách nhiệm và lời quở trách. Họ bắt hai con bò đương có con và phân rẽ chúng với các con của chúng. Họ buộc đôi bò ấy vào một cỗ xe mới, đặt hòm giao ước trên xe, và thả cho đôi bò đi. Nếu đôi bò không đi, hoặc nếu chúng chạy về với các con của chúng, thì “chứng tỏ” rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã không quyền gì trên dân Phi-li-tin và họ không phải lo sợ nữa. Nếu đôi bò ấy đi lang thang không có phương hướng, các quan trưởng cũng có kết luận tương tự như trên. Điều có thể xảy ra nhất là đôi bò sẽ quay đầu về phía các con của mình, vì đó là lẽ tự nhiên. Chúng cần phải cho con chúng bú và các con bê của chúng cần sữa của chúng.
• Nhưng đó không phải là tất cả.
Những nhà thông thái ấy còn chuẩn bị “của lễ” dâng cho Đức Giê-hô-va, đó là năm con chuột đúc vàng và năm hình trĩ lậu bằng vàng. Nếu đôi bò không đi về phía dân Y-sơ-ra-ên, dân Phi-li-tin lấy lại được vàng của họ. Nếu đôi bò đi đến biên giới của Y-sơ-ra-ên, ức Chúa Trời nhìn thấy của lễ sẽ vui lòng mà không giáng tai họa trên họ nữa. Kế hoạch nầy có thể làm vinh hiển Đức Chúa Trời và không làm các quan trưởng ấy xấu hổ. Đôi bò ấy đương có con nhỏ cần cho bú, và chúng chưa bao giờ mang cỗ xe, húng không đi theo con đường dẫn từ Éc-rôn đến Bết-sê-mết là điều bình thường.
Năm quan trưởng và những nhà thông thái ấy muốn mọi việc xảy ra như vậy.
• Đức Chúa Trời hành sự (ISa 6:10-18).
Nhưng họ đã sai lầm. Các quan trưởng của Phi-li-tin không biết Đức Chúa Trời chân thần và hằng sống, nhưng đôi bò ấy biết Ngài và vâng phục Ngài!
“Bò biết chủ mình, lừa biết máng của chủ” (Es 1:3). Chúng đi qua biên giới và đến thẳng thành Bết-sê-mết của các thầy tế lễ (Gios 21:13-16), trong lúc người ta đương gặt lúa trên đồng. Họ vô cùng mừng rỡ đón hòm giao ước về, và người Lê-vi đem hòm giao-ước khỏi xe và đặt nó trên một tảng đá lớn trong cánh đồng.
Biết ơn vì Ngôi của Đức Chúa Trời đã được trở về với dân sự, người Lê-vi đã dâng đôi bò ấy làm của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, và trong sự vui mừng ấy, họ quên rằng chỉ bò đực mới là của lễ hợp pháp (Le 1:3). Những người khác trong thành đã dâng thêm nhiều của lễ khác. Họ cũng đặt những của lễ bằng vàng trên tảng đá và dâng chúng cho Đức Giê-hô-va.
Vì Si-lô đã bị tiêu diệt và không có nơi nào thích hợp cho sự thờ phượng, họ đã dùng một tảng đá lớn làm bàn thờ, và Đức Chúa Trời đã nhận các của lễ của họ. Điều Đức Chúa Trời nhìn thấy là tấm lòng tan vỡ và ăn năn của họ, không phải sự vâng lời máy móc vào những từ ngữ trong luật pháp (Thi 51:15-17). Kẻ thù đang ở rất gần (ISa 6:16) và dân Do-thái không dám rời khỏi chỗ mà Đức Chúa Trời đã dẫn đường cho đôi bò đến.
Đức Chúa Trời đã làm được điều mà thần Đa-gôn không thể làm: Ngài hướng dẫn đôi bò, giữ chúng đi đúng đường, khắc phục sự mong muốn trở về với con của chúng, và dẫn nó đến đúng thành Bết-Sê-mê của các thầy tế lễ. Ơn thần hựu của Ngài điều khiển tất cả. Đáng tiếc là các htầy tế lễ và người Lê-vi không làm tốt nhiệm vụ của mình, và sự vui mừng lớn đổi ra sự buồn khổ là do sự ngu dại của con người. Cuối cùng hòm giao ước được dành một chỗ an toàn cho đến khi vua Đa-vít đem nó đến nơi được chuẩn bị đặc biệt trong Giê-ru-sa-lem (IISa 6:12).
4. Cơn giận thánh của Đức Chúa Trời (ISa 6:19-20)
Dân cư của Bết-sê-mết phải che hòm giao ước lại, vì không ai ngoại trừ thầy tế lễ cả được phép nhìn thấy nó, vi phạm điều nầy phải trả một giá rất đắt. Một số người tò mò nhìn vào hòm giao ước và đã phải chết. Nếu người Phi-li-tin ngoại đạo bị trừng phạt vì thái độ của họ đối với hòm giao ước, thì dân Do-thái cần phải bị trừng phạt nhiều hơn vì họ biết luật pháp và đang sống trong thành của người Lê-vi!
Các học giả tranh luận về số người đã chết, vì 50. 000 là con số quá cao so với một thành nhỏ như thành Bết-sê-mết. Một số người cho rằng con số chỉ khoảng 70 và sở dĩ có số 50.000 là do lỗi của người ghi chép, và có thể đúng như vậy. Tiếng Hy-bá-lai dùng các chữ cái để biểu thị các con số và điều nầy dễ gây lầm lẫn cho người sao chép. Những người khác cho rằng trong số 50.000 có 4.000 người “bị sát hại” (ISa 4:17) ngoài chiến trường, nhưng nguyên văn Kinh Thánh nói rõ những người phải chết do nhìn vào hòm giao ước. (ISa 6:19; Le 16:13; Dân 1:50-51; Dân 4:5,16-20)
Dường như không phải 50.000 người sắp hàng và đi qua hòm giao-ước, vì đoàn người ấy sẽ tản ra ngay khi thấy những người nhìn đầu tiên phải chết. Có lẽ họ chết sau đó. Chắc chắn người Lê-vi đã giữ hòm giao ước cẩn thận để tránh những cặp mắt tò mò, vì họ biết rõ hình phạt dành cho sự vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời. 70 người chết là con số không khó tin, nhưng số 50.000 dường như quá phóng đại. Tuy nhiên, vì chúng ta không biết dân số của Bết-sê-mết và những vùng lân cận của nó, chúng ta không thể bỏ qua ý kiến trong Kinh Thánh. Sẽ có một ngày khảo cổ học giải đáp cho chúng ta vấn đề nầy.
Trong khi Đức Chúa Trời không ở trong những ngôi nhà thờ hoặc trong bất kỳ những vật dụng nào trong đó (Cong 7:48-50), chúng ta muốn tỏ ra tôn kính mọi thứ được cung hiến cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự kiện đáng kinh sợ được mô tả ở đây chắc chắn cảnh cáo chúng ta về tính tò mò và sự không kính sợ Đức Chúa Trời. “Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!” (He 10:31). Trong xã hội phương Tây ngày nay, với tính phóng khoáng và thiếu tôn trọng của nó đối với đền thánh, dễ làm cho các tín đồ trở nên quá “thân mật” với Đức Chúa Trời đến nỗi họ quên rằng Ngài “cao trọng và đáng tôn”.
5. Lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời (ISa 6:19-20) (ISa 6:21-7:2)
Đức Chúa Trời có thể lìa bỏ dân sự Ngài, nhưng vì lòng nhân từ Ngài đã cho phép đem hòm giao ước đi khoảng 10 dặm đến Ki-ri-át Giê-a-rim, và đặt nó ờ nhà của A-bi-na-đáp. Dân trong thành biệt riêng Ê-lê-a-sa, con trai của A-bi-na-đáp, coi giữ hòm giao ước. Chắc chắn người nầy thuộc dòng dõi nhà Lê-vi, vì sau những việc xảy ra ở Bết-sê-mết, người ta không còm dám vi phạm luật lệ nầy nữa! Hòm giao ước ở Ki-ri-át Giê-a-rim khoảng một thế kỷ, vì trận chiến của Aphek diễn ra khoảng năm 1104 T.C., và Đa-vít đã đem hòm giao ước đến Giê-ru-sa-lem năm 1003 T.C. (IISa 6:1-23). Hòm giao ước ở trong nhà của A-bi-na-đáp 20 năm khi Sa-mu-ên kêu gọi dân sự xây bỏ tội lỗi và tìm kiếm Đức Giê-hô-va (ISa 7:3).
Hòm giao ước tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa vòng dân sự Ngài và cho sự tể trị của Ngài trên dân sự. Đức Chúa Trời có quyền từ bỏ dân sự phạm tội của Ngài, nhưng bởi lòng nhân từ Ngài vẫn ở với họ, dù không ở trong đền tạm mà Ngài đã dạy họ dựng nên. Đây là thời gian khó khăn cho dân Do-thái, vì họ không phải là một dân đoàn kết, cũng không phải là một dân tin kính Chúa. Y-sơ-ra-ên nghĩ rằng những vấn đề của họ sẽ được giải quyết nếu họ có một vua giống như những dân tộc khác, nhưng họ nhận ra rằng làm theo ý riêng sẽ đưa họ vào những vấn đề khó khăn hơn. Đức Chúa Trời vẫn ban điều tốt nhất cho những ai đầu phục mọi quyết định của Ngài.
Hòm giao ước đã có ý nghĩa gì đối với đân Y-sơ-ra-ên, Chúa Cứu Thế Giê-xu có ý nghĩa gì đối với dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay; và khi Ngài có một địa vị cao nhất trong đời sống chúng ta, Ngài sẽ ban phước và hành động thay chúng ta. “Nhưng hãy tôn Đấng Christ, là Chúa, làm thánh trong lòng mình” là cách Phi-e-rơ giải thích điều nầy (IPhi 3:15). Khi Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chúa, tương lai là bạn của bạn, và bạn có thể bước đi mỗi ngày một cách tự tin trong sự hiện diện và giúp đỡ của Ngài.
3. Y-SƠ-RA-ÊN XIN MỘT VUA (ISa 7:1-11:15)
Lúc nầy, hòm giao ước được trả về và đang ở tại nhà A-bi-na-đáp trong thành Ki-ri-át-Giê-a-rim thuộc chi phái Bên-gia-min (ISa 1:1-2:36; Gios 18:28). Si-lô đã bị dân Phi-li-tin phá hủy và không còn là nơi thờ phượng Đức Chúa Trời, và nhiều năm sau hòm giao được vua Đa-vít đem về Giê-ru-sa-lem (ISu 15:1-35).
Nhưng có lại hòm giao-ước trong lãnh thổ mình không có nghĩa là những vấn đề của Y-sơ-ra-ên tự nhiên được giải quyết, vì trong khoảng 20 năm khi hòm giao ước ở tại nhà của A-bi-na-đáp, m ột thế hệ mới lớn lên và đang kêu than đòi chính quyền Y-sơ-ra-ên phải có nhiều thay đổi. Trong nhiều thế kỷ qua, dân Y-sơ-ra-ên đã xem Đức Giê-hô-va là Vua của dân tộc mình, nhưng giờ đây họ xin Chúa ban cho họ một vua như những nước khác. Đây là giai đoạn nguy ngập trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, và nó cần sự cầu nguyện và lời hướng dẫn của Sa-mu-ên để dẫn dắt họ an toàn qua bước chuyển biến nầy.
1. Tìm cầu một vị vua (ISa 7:3-17)
Sa-mu-ên ý thức được rằng dân sự rất không yên lòng và muốn có sự thay đổi, và ông cũng biết những chuyển biến có thể dẫn đến hoặc thuận lợi hoặc khó khăn cho dân sự. Đức Chúa Trời muốn Sa-mu-ên làm chiếc cầu nối giữa giai đoạn hỗn loạn của thời Các Quan-xét và thời đại mới của nền quân chủ, à nhiệm vụ nầy không hề đơn giản.
Có một điều Sa-m-ên biết chắc: dù có vua hay không có vua, dân tộc ông sẽ không bao giờ thành công nếu dân sự không đặt Chúa ở địa vị ưu tiên và tin cậy nơi một mình Ngài. Đó là lý do tại sao ông triệu tập dân sự tại Mích-ba, một thành phố thuộc chi phái Bên-gia-min (Gios 18:26), ở đó ông kêu gọi dân giao ước của Đức Chúa Trời trở về cùng Ngài.
• Họ phải hủy bỏ các thần giả (ISa 7:3-4).
Thờ thần tượng là một tội lỗi dai dẵng trong Y-sơ-ra-ên. Gia đình của Gia-cốp đã mang theo mình các thần tượng (Sa 35:2), và khi dân Do-thái làm nô lệ ở Ai-cập, họ đã tiếp nhận các thần tượng của người Ai-cập, và sau khi ra khỏi Ai-cập, họ vẫn còn thờ lạy một số thần tượng trong suốt thời gian lưu lạc trong đồng vắng (Cong 7:42-43).
Môi-se yêu cầu dân sự tiêu hủy mọi dấu vết của tôn giáo Ca-na-an, nhưng dân sự vẫn sa vào sự thờ lạy thần tượng và các thần của kẻ thù mình. Sa-mu-ên đặc biệt nói đến thần Ba-anh và Át-tạt-tê (ISa 7:3-4). Ba-anh là thần bão của người Ca-na-an, dân Y-sơ-ra-ên thường xây về thần nầy mỗi khi trời hạn hán, và Át-tạt-tê là nữ thần sinh sản, trong nghi thức thờ lạy nữ thần nầy có những tập tục lỳ lạ không thể tả.
Tại núi Si-na-i, dân Do-thái không nhìn thấy hình dung của Đức Chúa Trời, nhưng họ nghe tiếng Ngài; và họ biết rằng thờ lạy bất kỳ hình ảnh nào của Đức Chúa Trời của họ cũng chính là thờ thần giả.
Hủy bỏ thần tượng là bước đầu tiên trong quá trình trở về cùng Đức Chúa Trời; dân Do-thái cũng phải dọn lòng mình cho Chúa và tận hiến đời sống mình cho một mình Chúa (c. 3). Việc làm nầy thể hiện sự vâng giữ điều răn thứ nhất, “Trước mặt ta, gươi chớ có các thần khác” (Xu 20:3). Thần tượng là vật thay thế cho Đức Chúa Trời, là bất kỳ điều gì chúng ta tin cậy và phụng sự trong địa vị của Đức Chúa Trời.
Dân Do-thái thờ lạy những tượng gỗ, đá, kim loại, nhưng tín hữu ngày nay có những thần tượng trừu tượng và tinh vi hơn: nhà cửa đất đai, của cải vật chất, xe cộ, địa vị, danh vọng và thậm chí còn thần tượng người khác. Bất kỳ điều gì thế chỗ của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta và buộc chúng ta phải hy sinh và tận hiến cho nó thay vì cho Đức Chúa Trời đều là thần tượng và phải bị tẩy trừ. Các thần tượng trong lòng nguy hiểm hơn các thần tượng trong đền thờ rất nhiều.
• Họ phải xưng tội lỗi mình (ISa 7:5-6).
Sa-mu-ên có kế hoạch dẫn dân sự vào thời kỳ thờ phượng và cầu thay để Đức Chúa Trời giải cứu họ khỏi tay các kẻ thù, nhưng nếu lòng họ đầy tội lỗi, thì Đức Chúa Trời không lắng nghe họ (Thi 66:18). Tiêu hủy các thần tượng thôi chưa đủ; dân sự phải xưng tội mình và đầu phục Chúa. Hai lý do cho thấy rằng buổi nhóm họp nầy diễn ra trong thời gian Lễ Lều Tạm. Thứ nhất, người ta đổ nước trước mặt Đức Giê-hô-va, điều nầy đã trở thành lệ trong Lễ Lều Tạm, kỷ niệm những lần Đức Chúa Trời ban cho họ nước uống trong đồng vắng (Gi 7:37-39). Thứ hai, dân sự kiêng ăn, và chỉ trong Đại Lễ Chuộc Tội, xảy ra trước Lễ Lều Tạm, mới bắt buộc điều nầy.
Điều quan trọng cần làm trong ngày đó là xưng tội, “Chúng tôi có phạm tội cùng Đức Giê-hô-va”. Trong giao ước, Đức Chúa Trời có hứa với Y-sơ-ra-ên rằng Ngài sẽ tha thứ cho họ nếu họ thật lòng xưng tội ra với Ngài (Le 26:40-45), vì không có của lễ nào hay nghi thức nào có thể tẩy sạch tội lỗi của họ. “Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! Lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu” (Thi 51:17). Về sau trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, lời hứa về sự ban phước và tha thứ nầy được Sa-lô-môn nhắc lại trong lễ cung hiến đền thờ (IISu 7:14).
Họ phải cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ (ISa 7:7-11,13-14). Khi dân Phi-li-tin biết được dân Do-thái triệu tập lại rất đông, họ nghĩ rằng dân Do-thái chuẩn bị cuộc tấn công, nên năm quan trưởng Phi-li-tin tập trung lực lượng của mình và tiến hành cuộc xâm lược. Y-sơ-ra-ên không có đội quân thường trực và không có người nào lãnh đạo để tổ chức cuộc chiến, nên họ cảm thấy bất lực vô cùng. Nhưng vũ khí mạnh nhất của họ là đức tin nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và đức tin ấy được giải bày trong lời cầu nguyện: “Kẻ nầy nhờ cậy xe cộ, kẻ khác nhờ cậy ngựa, nhưng chúng tôi nhờ cậy danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời chúng tôi” (Thi 20:7). Như chúng ta đã thấy, Sa-mu-ên là một tấm gương cầu nguyện (Thi 99:6), và Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu xin của ông trong ngày đó. Khi Sa-mu-ên dâng của lễ thiêu vào buổi chiều, Đức Chúa Trời đã giáng sấm sét trên binh lính của Phi-li-tin và làm họ hoảng loạn, điều nầy giúp dân Y-sơ-ra-ên dễ dàng tấn công và giành chiến thắng. Khi chúng ta nhớ thần Ba-anh của Ca-na-an là thần bão tố, thì quyền năng của Đức Chúa Trời trên thiên nhiên càng có ý nghĩa hơn.
Trọn những ngày còn lại trong đời Sa-mu-ên, Đức Chúa Trời không để dân Phi-li-tin đến gần Y-sơ-ra-ên nữa. Vì chiến thắng nầy, dân Do-thái đã khôi phục lại các thành mà họ đã bị đánh chiếm và còn kéo được dân A-mô-rít làm đồng minh. Khi dân sự Đức Chúa Trời cậy vào kế hoạch và sức lực của mình, những nổ lực của họ đều thất bại và làm ô danh Đức Chúa Trời; nhưng khi họ tin cậy nơi Đức Chúa Trời và cầu nguyện, Ngài đã đáp ứng nhu cầu của họ và qua đó danh Đức Chúa Trời được vinh hiển. Một người cầu nguyện mạnh sức hơn cả một đội quân! Không ngạc nhiên khi vua Giô-ách gọi tiên tri Ê-li-sê là “Xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên!” (IIVua 13:14), đây là danh xưng mà Ê-li-sê đã dùng nói về Ê-li, người thầy của mình (IIVua 2:12; IIVua 6:17). Ngày nay chúng ta có phải là những chiến sĩ cầu nguyện không?
• Họ phải tưởng nhớ chiến thắng nầy (ISa 7:12).
Chất đá để làm bia tưởng niệm là một phần trong nền văn hóa Do-thái có từ thời Gia-cốp, khi người dựng trụ tưởng niệm tại Bê-tên (Sa 28:20-22; Sa 35:14). Giô-suê dựng mười hai hòn đá ở giữa Giô-đanh (Gios 4:9) và mười hai hòn đá khác ở bờ Tây tại Ginh-ganh để đánh dấu nơi nước rẽ ra cho dân Y-sơ-ra-ên đi qua và bước vào Đất Hứa (Gios 4:1-8, 9-21). Một đóng đá lớn ở trũng A-cô nhắc nhở Y-sơ-ra-ên về sự không vâng lời của A-can (Gios 7:24-26), và một đống đá khác đánh dấu chỗ đã chôn vua của A-hi (Gios 8:29). Một đống đá nữa tại một phần mộ ở Ma-kê-đa để ghi nhớ nơi năm vị vua đã thất bại và tử trận (Gios 10:25-27). Trước khi qua đời, Giô-suê đã dựng một “hòn đá làm bằng chứng” để nhắc dân Y-sơ-ra-ên về lời hứa sẽ phụng sự một mình Đức Chúa Trời và vâng phục Ngài (Gios 24:26-28).
“Ê-bên-ê-xe”có nghĩa là “hòn đá cứu giúp” vì bia kỷ niệm nầy nhắc nhở dân Do-thái rằng Đức Chúa Trời đã giúp đỡ họ và sẽ còn giúp họ nữa nếu họ tin cậy Ngài và vâng giữ giao ước của Ngài. Người sáng lập Hội Truyền Giáo ở Trung Hoa Đại Lục, J. Hudson Taylor, đã treo ở mỗi chỗ ở của mình một tấm bảng có đề chữ “Ê-bên-ê-xe -Giê-hô-va Di-rê”, có nghĩa là “Đức Giê-hô-va đã giúp đỡ tôi, và Ngài sẽ còn giúp đỡ tôi luôn”. Thật là một sự khích lệ lớn lao cho đức tin của chúng ta!
• Họ phải tôn trọng Sa-mu-ên (ISa 7:15-17).
Có thể cuộc nhóm lại tại Mích-ba đã đánh dấu sự mở đầu chức vụ công khai của Sa-mu-ên trong toàn thể dân Y-sơ-ra-ên, để rồi từ đó trở đi ông là tâm điểm về sự thống nhất chính trị và chức lãnh đạo thuộc linh. Dân tộc biết Sa-mu-ên là người lãnh đạo được Đức Chúa Trời chọn lựa (ISa 3:20-4:1), và khi ông qua đời, cả dân tộc đã than khóc ông (ISa 28:3). Ông có nhà ở Ra-ma và tiến hành những chuyến để dạy dỗ luật pháp cho dân sự, lắng nghe dân sự, khuyên răn, và sửa phạt. Hai con trai của ông thay cha mình coi sóc việc Chúa ở Bê-e-Sê-ba (ISa 8:1-2). Thật phước hạnh cho Y-sơ-ra-ên khi được người như Sa-mu-ên lãnh đạo, nhưng với nhiều thay đổi đã xảy ra và các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên muốn đất nước cũng phải thay đổi.
2. Khước từ Đức Chúa Trời (ISa 8:1-22)
Có thể những sự kiện được kể trong đoạn 7 và những sự kiện trong đoạn 8 xảy ra cách nhau từ 20-25 năm. Lúc bấy giờ Sa-mu-ên đã già, và một thế hệ mới đã lớn lên trong Y-sơ-ra-ên với những vị lãnh đạo mới và những ý kiến mới.
Cuộc sống tiếp diễn và những hoàn cảnh thay đổi, và dân sự Đức Chúa Trời chắc hẳn đã khôn ngoan để tiếp nhận những thử thách mới mà không từ bỏ những nhận thức cũ của mình. Là một người lãnh đạo vĩ đại, Sa-mu-ên trong tuổi già phải đối diện với những hoàn cảnh khốn khó và phải đưa ra những quyết định hết sức khó khăn. Ông biết mình đang bị dân sự khước từ, nhưng luôn hết lòng thành tín phục vụ Chúa. Sa-mu-ên đã vâng phục Đức Chúa Trời, nhưng ông vẫn là một con người với trái tim biết đau buồn.
Đức Chúa Trời đã chọn Môi-se lãnh đạo dân sự và sau đó Giô-suê kế vị (Phuc 31:1-15), nhưng Giô-suê không được lệnh phải đặt tay cho bất kỳ người kế vị nào. Ông lui về sau những trưởng lão từng được đào tạo để phụng sự Chúa, nhưng khi họ qua đời thế hệ mới đã xây bỏ Đức Chúa Trời và chạy theo các thần tượng trong xứ (Cac 2:10-15). Chức vụ tế lễ vẫn tồn tại vì đây là chức vụ cha truyền con nối, và khi cần Đức Chúa Trời cũng dấy lên những tiên tri của Ngài, nhưng ai sẽ dẫn dắt dân sự và dạy họ vâng giữ luật pháp? Trong suốt thời Các Quan-xét, Đức Chúa Trời có dấy lên những người lãnh đạo và giúp họ có được những chiến thắng vẽ vang, nhưng không ai lãnh đạo toàn thể dân sự. “Đương lúc đó, không có vua trong Y-sơ-ra-ên; ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải” (Cac 21:25 Cac 17:6 Cac 18:1 Cac 19:1). “Dân” Y-sơ-ra-ên là một liên bang rời rạc của những chi phái tự quyền tự chủ, và mỗi chi phái ước ao tìm kiếm Đức Chúa Trời và làm theo ý muốn Ngài.
• Cầu xin một vua (ISa 8:1-9).
Nhận thấy Y-sơ-ra-ên cần có một chính quyền mạnh hơn, các trưởng lão kiến nghị lên Sa-mu-ên với nhiều lý lẽ. Hai điều đầu tiên đã chạm đến chỗ nhạy cảm nhất của Sa-mu-ên: ông đã quá già và không có người kế vị, và hai con trai của ông không phải là những tin kính Chúa nhưng đã nhận của hối lộ (ISa 8:3-5).
Thật đáng buồn khi cả Hê-li và Sa-mu-ên đều có những đứa con không vâng theo Chúa. Hê-li quá dễ dãi với các con mình (ISa 2:29), và có lẽ Sa-mu-ên quá bận rộn với những chuyến đi xa vì chức vụ mình. Các con của Sa-mu-ên ở tận Bê-e-Sê-ba, nên Sa-mu-ên không thể quản lý được việc làm của họ, nhưng nếu các trưởng lão biết tội lỗi của họ thì chắc chắn Sa-mu-ên cũng biết nhiều.
Khi các trưởng lão xin một vua “như các dân tộc khác” (ISa 8:5,10), họ quên rằng sức mạnh của Y-sơ-ra-ên không giống các dân tộc khác. Y-sơ-ra-ên là dân giao ước của Đức Chúa Trời và Ngài là Vua của họ. Sự Vinh Hiển của Đức Chúa Trời ngự ở giữa họ và luật pháp của Đức Chúa Trời là sự khôn ngoan của họ. (Xu 19:3-6 Xu 33:15-16; Le 18:30; Le 20:26; Dân 23:9) Nhưng các trưởng lão quan tâm đến sự an nguy của đất nước và sự bảo vệ đất nước trước những kẻ thù đang rình rập xung quanh. Dân Phi-li-tin vẫn còn là một nước hùng mạnh, và dân Am-môn cũng là mối đe dọa (ISa 12:12). Y-sơ-ra-ên không có một đội quân thường trực và không có vua để lãnh đạo nó. Các trưởng lão quên rằng chính Đức Giê-hô-va là Vua của Y-sơ-ra-ên và Ngài có thể cho quân đội của Y-sơ-ra-ên khả năng chiến thắng mọi kẻ thù.
Sa-mu-ên là một người có nhận thức thuộc linh sâu sắc, và ông biết rằng yêu cầu nầy là dấu hiệu của sự sa sút thuộc linh trong vòng các trưởng lão. Không phải họ đã khước từ ông; họ đang khước từ chính Đức Chúa Trời, và điều nầy làm Sa-mu-ên rất đau lòng khi ông cầu xin Chúa ban cho ông sự khôn ngoan. Đây không phải là lần đầu tiên dân sự khước từ Chúa của mình. Tại Si-na-i, yêu cầu của họ là “Hãy làm các thần” (Xu 32:1) và sau sự thất bại nhục nhã ở Ca-đe Ba-nê-a, họ đã nói, “Chúng ta hãy lập lên một quan trưởng, và trở về xứ Ê-díp-tô đi” (Dân 14:4). Khi các cấp lãnh đạo trong một Hội thánh sa sút trong đời sống thuộc linh, Hội thánh đó giống như thế gian và dùng phương cách của thế gian để làm công việc của Đức Chúa Trời. Các lãnh đạo Do-thái trong thời Sa-mu-ên không tin rằng Đức Chúa Trời có thể đánh bại các kẻ thù của họ và bảo vệ được dân sự Ngài, nên họ quyết định cậy nơi đội quân xác thịt.
Đức Chúa Trời không bao giờ bị bất ngờ trước những gì dân sự Ngài làm, và Ngài luôn biết phải làm gì với họ. “Đức Giê-hô-va làm bại mưu các nước, khiến những tư tưởng các dân tộc ra hư không. Mưu của Đức Giê-hô-va được vững lập đời đời, ý tưởng của lòng Ngài còn đời nầy sang đời kia” (Thi 33:10-11). Trong Ngũ Kinh cũng có dấu hiện cho thấy Y-sơ-ra-ên rồi sẽ có một vua. Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham, Sa-ra, và Gia-cốp rằng các vua sẽ ra từ dòng dõi của họ (Sa 17:6-16; Sa 35:11), và Gia-cốp đã kể Giu-đa như một chi phái nhà vua (Sa 49:10). Môi-se sửa soạn cho dân tộc chào đón một vua khi ông nói với thế hệ mới chuẩn bị bước vào Đất Hứa (Phuc 17:14-20).
Đòi hỏi có một vua không phải là tội lớn nhất của Y-sơ-ra-ên; nhưng vì họ đòi phải cho họ một vua ngay tức thì. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị sẵn cho họ một vua, Đa-vít con của Y-sai, nhưng chưa đến lúc vị vua ấy phải xuất hiện. Vì vậy, Đức Chúa Trời đã đặt Sau-lơ làm vua để đáp ứng yêu cầu của họ, và Ngài dùng Sau-lơ để uốn nắn dân sự và chuẩn bị họ cho Đa-vít, người mà Ngài chọn lựa. Việc Sau-lơ xuất thân từ chi phái Bên-gia-min, mà không từ chi phái Giu-đa đã đủ bằng chứng cho thấy ông không phải là người được chuẩn bị cho địa vị làm vua Y-sơ-ra-ên.
“Ta đã nhân cơn giận mà ban cho ngươi một vua, và đã nhân cơn giận mà cất đi” (Os 13:11). Sự trừng phạt lớn nhất mà Đức Chúa Trời có thể giáng trên chúng ta là bỏ mặc chúng ta đi theo ý riêng mình. “Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó cầu xin; Nhưng sai bệnh tổn hại linh hồn chúng nó” (Thi 106:15). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời muốn dân sự Ngài bước vào một sự mạo hiểm mới để họ được mở mắt ra, nên Ngài bảo Sa-mu-ên nói cho họ biết họ phải trả giá thế nào nếu như có một vua.
• Sự trả giá khi có vua (ISa 8:10-22).
Điều gì đúng với những cá nhân thì cũng đúng với cả dân sự: bạn nhận được điều bạn muốn có từ cuộc sống nầy và bạn phải trả giá cho điều đó. Dưới thời Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm Vua, đất nước được bình an và no đủ miễn là họ vâng phục Ngài, và những qui định của Ngài không bao giờ vô lý. Vâng giữ giao ước của Đức Chúa Trời có nghĩa là sống một cuộc sống hạnh phúc vì Đức Chúa Trời sẽ ban cho bạn tất cả những gì bạn cần và hơn thế nữa. Nhưng từ chính mà Sa-mu-êm dùng ở đây là “bắt”, không phải là từ “cho”.
Vua và triều thần của mình phải được chu cấp đầy đủ, nên vua sẽ bắt các con trai và con gái họ phục vụ, lấy của cải, mùa màng, các bầy gia súc của họ. Người trẻ tuổi phải đi lính hoặc làm việc cho ruộng của vua. Các con gái của họ sẽ phải nấu nướng cho vua. Vua sẽ lấy phần của cải của họ để nuôi những quan chức và đầy tớ trong cung. Trong khi những điều nầy còn mơ hồ trong thời Sau-lơ và Đa-vít, thì nó rất rõ ràng trong thời Sa-lô-môn (IVua 4:7-28). Đến một ngày dân sự sẽ khóc cho gánh nặng mà vua Sa-lô-môn đặt để trên vai họ bởi vì vua muốn làm rạng rỡ cho vương triều của mình. (ISa 12:1-4; Gie 22:13-17).
Bất chấp những lời cảnh cáo nầy, dân sự vẫn khăng khăng đòi Đức Chúa Trời ban cho mình một vua. Làm đẹp lòng Đức Chúa Trời không phải là điều được ưu tiên trong suy nghĩ của họ; điều họ muốn là được bảo vệ khỏi những kẻ thù nghịch mình. Họ muốn có một người nào đó lãnh đạo họ và đánh trận cho họ, một người nào đó mà họ có thể nhìn thấy và đi theo. Họ thấy quá khó để tin cậy một Đức Chúa Trời vô hình và vâng theo những điều răn của Ngài. Bất kể những gì Đức Chúa Trời đã làm cho họ từ lúc kêu gọi Áp-ra-ham cho đến ngày chinh phục Đất Hứa, họ xây lưng lại Đức Giê-hô-va Vạn Quân và muốn một con người hay chết cai trị họ.
3. Sự vâng phục Đức Chúa Trời (ISa 8:1-22) (ISa 9:1-10:27)
Từ lúc nầy, trọng tâm của sách thiên về Sau-lơ, vua mà Đức Chúa Trời chọn cho Y-sơ-ra-ên. Sau-lơ xuất thân từ chi phái Bên-gia-min, hi phái nầy gần như bị tận diệt vì họ chống nghịch luật pháp (Cac 19:1-20:48). Gia-cốp so sánh Bê-gia-min với “con chó sói hay cấu xé” (Sa 49:27), và chi phái nầy dính líu với nhiều cuộc chiến. Lãnh thổ của Bên-gia-min nằm giữa Ép-ra-im và Giu-đa, nên chi phái của Sau-lơ nằm gần chi phái nhà vua của Giu-đa. Bất chấp những gì Sau-lơ đã nói trong ISa 9:21, ông vẫn thuộc về một dòng dõi uy thế và giàu có, sở hữu nhiều đất đai vả súc vật, cũng như có nhiều tôi tớ.
Về ngoại hình, Sau-lơ có vóc dáng cao ráo dễ nhìn và mạnh mẽ, là khuôn mẫu của một vị vua mà người ta ao ước. Ngay cả Sa-mu-ên, với tất cả những nhận thức thuộc linh sâu sắc của mình, cũng bị cuốn hút khi nhìn thấy Sau-lơ (ISa 10:23-24). Ngoại hình cũng cuốn hút Sa-mu-ên khi ông đi đến xức dầu cho Đa-vít (ISa 16:1-7). Sau-lơ biết vâng lời cha mình và rất quan tâm đến những cảm xúc của cha (ISa 9:5), và luôn muốn làm theo ý của cha. Bỏ tất cả thời gian và sức lực để đi tìm những con lừa bị mất, Sau-lơ không phải là người trốn việc. Ở Sau-lơ còn có tính khiêm nhường (ISa 21:10,14-16), nhưng không có dấu hiệu nào về một đời sống thuộc linh.
• Sa-mu-ên gặp Sau-lơ (ISa 9:1-25).
Gia đình của Sau-lơ ở Ghi-bê-a, cách Ra-ma nơi Sa-mu-ên sống 5 dặm, nhưng Sau-lơ dường như không biết cả những điều mà người Y-sơ-ra-ên bình thường cũng biết (ISa 3:20), đó là Sa-mu-ên, người của Đức Chúa Trời, sống ở Ra-ma (ISa 9:6). Sau-lơ sống rất gần với người lãnh đạo thuộc linh của Y-sơ-ra-ên mà không biết chút gì về người, điều nầy cho thấy Sau-lơ chỉ sống và chuyên tâm làm việc cùng với gia đình mình tại Ghi-bê-a. Ông cũng không hề quan tâm đến những kỳ lễ hàng năm và những vấn đề thuộc linh. Giống như nhiều người thời nay, Sau-lơ không chống nghịch tôn giáo, nhưng không nhận biết Đức Chúa Trời một cách cá nhân. Biết về Sa-mu-ên và chú ý lời khuyên của người là một điều tốt cho Sau-lơ!
Có một biến cố đã gắn Sau-lơ và Sa-mu-ên lại với nhau những con lừa bị mất. Những con vật nầy rất có giá trị, và sau đó có người đã tìm được chúng đem trả về cho Kích (ISa 10:2), nhưng ai có thể ngờ vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên được tuyên bố lên ngôi trong khi đang đi tìm những con lừa đi lạc! Đa-vít cũng gặp trường hợp tương tự với bầy chiên của mình (Thi 78:70-72; ISa 17:15) và nhận biết dân Y-sơ-ra-ên như bầy chiên cần người chăn dắt và bảo vệ (IISa 24:17). Đức Chúa Trời hành động cách lạ lùng, nếu Sau-lơ không vâng lời cha và nghe theo lời đầy tớ của mình, mọi chuyện ắt sẽ khác đi.
Khi hai người đến cổng thành Ra-ma thì trời đã về chiều, họ thấy những người nữ đi múc nước. Hỏi thăm những cô gài trẻ chỗ ở của người tiên kiến, họ được chỉ đường rất chi tiết. Có lẽ những cô gái ấy rất thích được trò chuyện với người cao ráo, đẹp trai nầy! Thời điểm Sau-lơ đến thành Ra-ma cũng do ý muốn Chúa, vì Sa-mu-ên xuất hiện ngay khi Sau-lơ và người đầy tớ bước vào thành. Sa-mu-ên đang đi đến “nơi cao” ở ngoại thành để dâng của lễ cho Đức Chúa Trời.
Vì thời gian nầy không có đền thờ trung tâm trong Y-sơ-ra-ên, dân sự phải mang của lễ đến nơi cao trên một ngọn đồi gần thành để dâng của lễ cho Đức Chúa Trời. Các dân ngoại bang đã thờ phượng các thần của họ ở những nơi cao và cũng thực hiện những nghi lễ tục tĩu ở đó, nhưng dân Y-sơ-ra-ên không được gia nhập với họ (Thi 78:58; Os 4:11-14; Gie 3:2).
Một ngày trước đó, Đức Chúa Trời đã phán với Sa-mu-ên rằng Sau-lơ sẽ đến Ra-ma, nên Sa-mu-ên đã chuẩn bị gặp người và thông báo sứ điệp của Đức Chúa Trời cho người. Sa-mu-ên không thể nói mình vui mừng vì sự thay đổi sắp xảy ra trong Y-sơ-ra-ên, hưng ông vâng lời Chúa. Từ “vua” trong ISa 9:16 chỉ có nghĩa là “người lãnh đạo”. Khi Sau-lơ xuất hiện, Đức Chúa Trời khẳng định với Sa-mu-ên một lần nữa rằng đây là người Ngài chọn và Sa-mu-ên xức dầu cho người làm vua. “Người được xức dầu của Đức Chúa Trời” là một trong những danh hiệu của vua (ISa 12:3; ISa 24:6; ISa 26:9,11,16; Thi 2:2,6). Đức Chúa Trời sử dụng Sau-lơ như Ngài đã sử dụng Sam-sôn (Cac 13:5), để bắt đầu làm suy yếu dân Phi-li-tin và chuẩn bị họ cho cuộc chinh phục cuối cùng của Đa-vít (ISu 18:1).
Câu trả lời của Sa-mu-ên chắc chắn đã làm người trẻ tuổi Sau-lơ vô cùng bất ngờ. Sau-lơ phát hiện rằng mình đang nói chuyện với người mình đang tìm, rằng mình sẽ được ăn bữa với ông ta trong ngày hôm đó, rằng Sa-mu-ên có một tin tức đặc biệt cho mình, và rằng những con lừa bị mất đã tìm thấy và được trả về cho cha mình rồi.
Hơn nữa, tất cả những ước ao của dân Y-sơ-ra-ên đều được định nơi Sau-lơ, vì tất cả người Y-sơ-ra-ên đều muốn có một vua. Sau-lơ không hiểu những gì Sa-mu-ên nói, nhưng ngày mai ông sẽ được giải thích. Sa-mu-ên không để ý đến sự thoái thác của Sau-lơ rằng anh ta không thuộc về chi phái cao trọng, và ông đã mời Sau-lơ và người đầy tớ của Sau-lơ vào phòng tiệc ở nơi cao, ở đó có một bàn tiệc đã được dọn sẳn. Sau-lơ được ăn phần của lễ dành riêng cho các thầy tế lễ (ISa 9:24; Le 7:32-33), và đầu bếp cho biết đây là phần ăn đặc biệt dành riêng cho anh ta. Những việc lạ lùng đang xảy ra! Sau bữa ăn, Sau-lơ theo Sa-mu-ên về nhà, và ở đó họ trò chuyện với nhau rất lâu; Sa-mu-ên nhắc lại cho Sau-lơ những biến cố được định trước cho buổi gặp mặt hôm nay.
• Sa-mu-ên xức dầu cho Sau-lơ (ISa 9:26-10:16).
Sáng sớm hôm sau, Sa-mu-ên cùng Sau-lơ và người đầy tớ của Sau-lơ đi ra ngoài thành, khi gần đến ranh giới của thành, Sa-mu-ên bảo người đầy tớ đi trước và sau đó đã xức dầu cho Sau-lơ làm vua Y-sơ-ra-ên. Ngay thời khắc đó, Sau-lơ đã là người lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên, nhưng chỉ Sa-mu-ên và Sau-lơ biết điều đó. Làm sao người trẻ tuổi Sau-lơ biết chắc Đức Chúa Trời đã thật sự chọn mình? Sa-mu-ên cho Sau-lơ ba dấu hiệu mà Sau-lơ sẽ gặp trên đường trở về nhà.
-Thứ nhất, anh ta sẽ gặp hai người đến báo tin đã tìm được những con lừa bị mất (ISa 10:2), tin tức nầy Sau-lơ đã được nghe từ Sa-mu-ên rồi. Rõ ràng những người nầy biết Sau-lơ và cũng biết anh ta đang đi tìm lừa. Nhưng đây là một trải nghiệm tốt cho người trẻ tuổi nầy, vì nó đảm bảo với anh ta rằng Đức Chúa Trời có thể giải quyết những vấn đề của anh ta. Một trong những thất bại lớn nhất của Sau-lơ khi làm người lãnh đạo là không biết giao phó mọi sự vào tay Đức Chúa Trời. Nhưng trong khi Sau-lơ và đầy tớ của mình đương ăn tối với Sa-mu-ên, Đức Chúa Trời đã tìm lại những con lừa bị lạc.
-Dấu hiệu thứ hai xảy ra ở cây dẻ bộp Tha-bô, ở đó Sau-lơ sẽ gặp 3 người đi đến Bê-tên để thờ phượng Đức Chúa Trời (c. 3, 4). Bất chấp sự vô tín của dân tộc, vẫn còn có những người tin kính Chúa trong xứ, họ tôn kính Đức Chúa Trời và tìm kiếm mặt Ngài c3. Chắc chắc ở Bê-tên có một nơi để thờ phượng Đức Chúa Trời (Cac 20:18,26), và có lẽ ba con dê đực, rượu và ba ổ bánh là những món quà dành cho những người Lê-vi hầu việc Chúa ở đó. Vì chưa có đền thờ trung tâm cho Đức Chúa Trời, ba con dê đực có thể là của lễ. Những người nầy gặp Sau-lơ và trao cho người hai ổ bánh, và anh ta đã nhận chúng. Đức Chúa Trời muốn cho Sau-lơ thấy Ngài không những giải quyết vấn đề cho anh ta, Ngài còn cung cấp những nhu cầu cho anh ta nữa. Là vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên, anh ta phải lập một đội quân và chu cấp lương thực cho người có cần, và phải nương cậy nơi Đức Chúa Trời.
-Dấu hiệu thứ ba phải diễn ra với quyền năng thuộc linh (ISa 10:5-6). Sau-lơ sẽ gặp một đoàn tiên tri từ nơi cao trở về, và họ sẽ nói tiên tri. Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ đến trên Sau-lơ trong thời khắc đó, và anh ta sẽ cùng thờ phượng Chúa với đoàn tiên tri trong trạng thái xuất thần. Trong dấu hiệu nầy, Đức Chúa Trời muốn nói với Sau-lơ rằng Ngài sẽ ban cho anh ta, tài năng cần thiết để anh ta phục vụ Ngài. “Ai xứng đáng cho những sự nầy?” là câu hỏi nằm lòng của mọi tôi tớ của Đức Chúa Trời (IICo 2:16), và câu trả lời chính xác là “tài năng của chúng tôi đến từ Đức Chúa Trời” (IICo 3:5). Nhưng sau đó Sau-lơ trở nên quá tự tin và chống nghịch, và Đức Chúa Trời đã cất Thánh Linh Ngài ra khỏi Sau-lơ (ISa 16:14 ISa 28:15).
Khi Sau-lơ từ giã Sa-mu-ên trở về nhà, Đức Chúa Trời đã ban cho anh ta một “tấm lòng khác” (ISa 10:9 xem c.6). Đừng hiểu câu nầy là “sự tái sinh” trong Tân-ước; nó chỉ ngụ ý một thái độ và một cái nhìn khác. Người trẻ tuổi nầy bắt đầu suy nghĩ và hành động như một người lãnh đạo, vua của một nước, một chiến binh có trách nhiệm phải lắng nghe Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài. Đức Thánh Linh sẽ thêm sức để anh ta có thể hầu việc Chúa cũng như bước đi theo ý muốn của Ngài (c.6). Vì Sau-lơ sau nầy trở nên kiêu ngạo, cậy nơi sức riêng và chống ghịch Đức Chúa Trời, người đã mất quyền năng của Thánh Linh, mất nước và cuối cùng đã mất cả mạng sống mình.
Mỗi một sự kiện trên xảy ra y như lời Sa-mu-ên đã hứa, nhưng chỉ có một sự kiện được mô tả trong Kinh Thánh là sự gặp gỡ giữa Sau-lơ và các tiên tri (c.10-13). Trong thời Cựu-ước, Đức Chúa Trời ban Đức Thánh Linh cho tuyển dân của Ngài để giúp họ thực hiện những trách nhiệm đặc biệt, và Đức Chúa Trời cũng có thể cất Thánh Linh Ngài đi. Ngày nay chúng ta, những tín hữu sống dưới Giao Ước Mới, có Đức Thánh Linh ngự trong lòng vĩnh viễn (Gi 14:16-17)như một ấn chứng rằng chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời (Eph 1:13-14). Khi Đa-vít xin Đức Chúa Trời chớ cất Thánh Linh ra khỏi ông (Thi 51:11), ông đang nghĩ đến điều đã xảy ra cho Sau-lơ (ISa 16:14 ISa 28:15). Các tín hữu ngày nay có thể làm buồn lòng Đức Thánh Linh (Eph 4:30) và dập tắt Thánh Linh (ITe 5:19), nhưng họ không thể xua đuổi Thánh Linh.
Đức Thánh Linh giúp Sau-lơ (có thể đây là lần đầu tiên trong đời) có kinh nghiệm cá nhân với Đức Chúa Trời và bày tỏ nó trong sự ngợi khen và thờ phượng. Nếu Sau-lơ tiếp tục nuôi dưỡng sự bước đi nầy với Chúa, đời sống của Sau-lơ sẽ rất khác. Sự kiêu ngạo và khác vọng quyền lực trở thành một tội lỗi ám ảnh Sau-lơ. Khi tin tức loan ra rằng Sau-lơ đã nói tiên tri và cùng đi với đoàn tiên tri, một số người bạn của Sau-lơ nói về anh ta với thái độ khinh thị (ISa 10:11-13). Không có bằng chứng nào cho thấy Sau-lơ là một người gian ác, nhưng Sau-lơ là người thuộc về thế gian, không phải là một con người thuộc linh, và bạn bè anh ta không bao giờ tưởng tượng rằng anh ta có được kinh nghiệm như vậy. Câu hỏi, “Sau-lơ há cũng vào số các tiên tri ư?” thể hiện sự nghi ngờ nầy. Vì các tiên tri thường thừa hưởng chức vụ từ cha mình (Am 7:14), và còn được gọi là “cha” (IIVua 2:12 IIVua 6:2), câu hỏi thứ hai được đưa ra, “Mà cha họ là ai?” thậm chí sau khi Sau-lơ được công bố là vua trước dân sự, không có người nào có ấn tượng gì về người (ISa 10:27).
Sau-lơ trở về nhà và tiếp tục công việc đồng áng thường nhật của mình như thể không có chuyện gì xảy ra. Anh ta không nói với gia đình mình về vị vua được xức dầu, và rất có thể tin tức về kinh nghiệm nói tiên tri của anh ta đã không lan tới Ghi-bê-a. Kinh nghiệm của những ngày qua dạy anh ta rằng Đức Chúa Trời đang ở cùng anh ta (c.7), Ngài chăm sóc anh ta và đáp ứng những nhu cầu của anh ta, nếu như anh ta tin cậy và vâng lời Ngài. Anh ta cũng nhận biết rằng anh ta có thể tin Sa-mu-ên, người nói cho anh nghe về sứ điệp Đức Chúa Trời, và không nghe theo Sa-mu-ên tức là không nghe theo Đức Chúa Trời.
Một nhiệm vụ khác đang chờ Sau-lơ, phải đến gặp Sa-mu-ên ở Ghinh-ganh để được người dạy bảo (c.8). Đây có thể là một phép thử để xem Sau-lơ có thật sự hết lòng với Chúa và sẵn sàng vâng theo những mạng lệnh của Ngài không. Thật đáng tiếc, Sau-lơ đã không làm trọn cho đến cuối cùng.
• Sa-mu-ên giới thiệu Sau-lơ cho dân sự (ISa 10:17-27).
Sa-mu-ên kêu triệu tập dân sự một lần nữa tại Mích-ba với mục đích giới thiệu một vị vua mới cho dân sự. Đúng như lời kêu gọi tiên tri, đầu tiên ông giảng một bài và nhắc dân sự nhớ ơn thương xót và quyền năng của Đức Chúa Trời đã giải cứu họ khỏi Ai-cập, cũng như nhớ trách nhiệm của họ đối với giao ước để vâng phục Ngài. Nhưng họ không vâng lời Chúa khi đòi hỏi một vua! Họ đã phạm tội, nhưng Đức Chúa Trời vẫn đáp lời cầu xin của họ.
Chỉ Đức Chúa Trời và Sa-mu-ên biết vị vua đã được chọn và chịu xức dầu, nhưng Sa-mu-ên muốn các chi phái nhận biết Đức Chúa Trời có toàn quyền trong sự chọn lựa nầy. Ông để các chi phái giới thiệu về mình, có lẽ các trưởng lão của họ làm việc nầy, và chi phái Bê-gia-min được chọn. Đây là sự chọn lựa bằng thăm (ISa 14:40-42), hoặc một trong các thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim để xác định ý muốn của Đức Chúa Trời (Xu 28:30). Chi tộc Mát-tri được chọn tiếp theo, và từ chi tộc nầy họ Kích được chọn, và cuối cùng chàng trai trẻ Sau-lơ được chọn.
Nhưng không tìm thấy Sau-lơ đâu cả! Và Sa-mu-ên phải nhờ Đức Chúa Trời chỉ chỗ vua mới đang trốn trong đống đồ đạc và vũ khí, chắc chắn đây không phải là cách tốt để bắt đầu vương quyền của mình! Sau-lơ trốn vì khiêm tốn hay vì sợ hãi? Có lẽ vì sợ hãi, vì sự khiêm nhường thật là tiếp nhận ý muốn của Đức Chúa Trời và đồng thời nương nhờ nơi sức mạnh và sự khôn ngoan của Ngài. Như Andrew Murray đã nói: “Sự khiêm nhường thật không nghĩ rằng mình hèn hạ, nó chỉ đơn giản là không nghĩ về chính bản thân mình”. Nếu Sau-lơ quan tâm đến sự vinh quang của Đức Chúa Trời, anh ta đã đứng ra giữa dân sự và khiêm hạ tiếp nhận sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Sau đó anh ta sẽ xin dân sự cầu nguyện cho anh ta và nghe theo anh ta khi anh ta hết lòng làm theo ý muốn Đức Chúa Trời.
Hành động đầu tiên của Sau-lơ đã dự báo được những khó khăn phía trước. Sau-lơ là một người lãnh đạo bất đắc dĩ, làm theo cảm xúc thay vì gây dựng đức tin, lúc thì hăng hái như một người lính nhiệt tình, lúc thì tỏ ra chuyên quyền ngạo mạn. Lảng tránh sự mếm mộ của quần chúng là một chuyện, nhưng lảng tránh trách nhiệm mà Đức Chúa Trời giao phó là một chuyện khác. G. Campbell Morgan đã nói, “Nếu Đức Chúa Trời kêu gọi một người làm vua, anh ta không có quyền trốn tránh”. Sa-mu-ên đã làm điều mà qua đó ông có thể giải nguy cho tình trạng bối rối. Ông giới thiệu Sau-lơ là vua được Đức Chúa Trời chọn lựa, nên cả dân tộc phải chấp nhận người, và ông nhấm mạnh đến hình dung đẹp đẽ của Sau-lơ. Dân sự ấn tượng vì điều đó, nhưng Sa-mu-ên biết chắc rằng Đức Chúa Trời không cần những người to cao, khoẻ mạnh để làm thành công việc của Ngài. Trong một vài năm sau, Ngài đã dùng thiếu niên Đa-vít để giết chết gã khổng lổ Gô-li-át! (Thi 147:10-11).
Điều khôn ngoan nhất mà Sa-mu-ên đã làm hôm đó là liên hệ chức vị vua với giao ước thánh (ISa 10:25). Bài giảng đầu tiên vua mang tính tiêu cực (ISa 8:10-18), nhưng bài giảng và tư liệu nầy mang tính tích cực và chỉ ra bổn phận của cả vua và dân sự. Chắc chắn Sa-mu-ên đã xem kỷ những lời của Môi-se trong Phuc 17:14-20 và nhắc nhở dân sự rằng vua cũng phải đầu phục Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài. Có một Đức Chúa Trời, một dân tộc, và một giao ước, và Đức Chúa Trời vẫn giữ quyền kiểm soát.
Khi buổi nhóm họp kết thúc, mọi người ai về nhà nấy, kể cả vua và những người đi với vua mà sau nầy trở thành những quan chức trong nội cung. Họ theo Sau-lơ vì Đức Chúa Trời cảm động họ làm như vậy. Người ta dâng lễ vật cho vua để tỏ lòng tôn kính, có những người khinh thường và cười nhạo vua. Với tư cách là vua một nước, Sau-lơ có thể nghiêm trị họ, nhưng Sau-lơ giữ vẻ bình thản. Tuy nhiên sau nầy, sau-lơ sẵn sàng giết chết Giô-na-than, con trai mình, vì nó đã nếm chút mật ong! Sự bất ổn trong xúc cảm của Sau-lơ đã khiến người lúc thì yêu thương Đa-vít, lúc khác lại tìm cách giết Đa-vít.
-ISa 9:1-27; xem giải nghĩa ISa 8:1-22.
-ISa 10:1-27;xem giải nghĩa ISa 8:1-22.
4. Phụng sự Đức Chúa Trời (ISa 11:1-15)
Một trong những lý do khiến Y-sơ-ra-ên đòi một vua là để đất nước có sự đoàn kết dưới sự dẫn dắt của một người lãnh đạo và để có cơ hội tốt hơn khi đối mặt với các kẻ thù. Đức Chúa Trời đã chiếu cố thái độ vô tín của họ, và Ngài ban cho họ một vị vua với diệm mạo như một chiến binh thật sự. Thật đáng buồn vì dân Y-sơ-ra-ên đã tin nơi một con người mà không tin cậy Đức Chúa Trời là Đấng đã chứng tỏ quyền năng của Ngài cho họ xuyên suốt lịch sử. Trong ân điển của Ngài, Đức Chúa Trời đã cho Sau-lơ cơ hội chứng tỏ mình và củng cố quyền lực mình.
• Thử thách (ISa 10:1-3).
Dân Am-môn là hậu duệ của Lót, cháu của Áp-ra-ham (Sa 19:30-38) và vì vậy có họ hàng với dân Do-thái. Những mối nguy hiểm ở Na-hách (“con rắn”) và đội quân của người đã vận động Y-sơ-ra-ên xin một vua, và giờ đây Na-hách đóng trại bao vây Gia-be trong Ga-la-át, một thành cách quê hương của Sau-lơ khoảng 50 dặm. Bao vây trong một thời gian dài, Na-hách thương thuyết với dân trong thành và để cho họ sống.
Tất cả những gì ông ta đòi hỏi là dân sự phải chịu sỉ nhục và trừng phạt mà móc con mắt phải của họ. Những tay cung và tay kiếm đều bị thương trong chiến trận, và mọi người đều chịu sỉ nhục như những tù binh thất trận. Không giết bất kỳ người nào, Na-hách có thể chinh phục thành nầy, cướp của cải của nó và bắt dân nó làm nô lệ.
Những trưởng lão khôn ngoan trong thành tìm kế hoãn binh trong một tuần, hy vọng tìm được người giải cứu họ. Và Na-hách đồng ý vì nghĩ rằng dân Y-sơ-ra-ên không thể tập hợp được đội quân cho mình. Điều đáng quan tâm là không một người nào ở Gia-be-Ga-la-át đã đáp ứng lời kêu gọi gia nhập quân đội khi đất nước đang chịu trừng phạt vì sự gian ác của Ga-la-át ở Bên-gia-min (Cac 21:8-9), nhưng giờ đây họ đang kêu những anh em Do-thái của mình đến giải cứu!
• Sự chinh phục (ISa 11:4-11).
Có một điều lạ là các sứ giả từ Gia-be-Ga-la-át đã không vội vàng liên lạc với Sa-mu-ên và Sau-lơ ngay từ đầu. Sa-mu-ên, iên tri của họ đã cầu nguyện và Đức Chúa Trời đã cho họ chiến thắng dân Phi-li-tin, và Sau-lơ, vị vua mới là trung tâm của đội quân. Phải cần có thời gian để dân Do-thái quen với hệ thống chính quyền mới. Khi tin tức được truyền đến, Sau-lơ đang cày ruộng. Dân Do-thái đánh động bằng tiếng kêu khóc, và khi nghe dân chúng than khóc, Sau-lơ hỏi lý do. Vua được Thánh Linh Đức Chúa Trời cảm động trước khi hiểu rõ tình hình, và lòng người đầy cơn giận thánh vì việc đã xảy ra với Y-sơ-ra-ên.
Ngay sau đó Sau-lơ có hành động đầy phấn khích để gởi thông điệp kêu gọi tham chiếm của mình đến toàn thể dân Y-sơ-ra-ên. (So sánh hành động của người Lê-vi trong Cac 19:1-30). Vua cũng đồng cảm với Sa-mu-ên khi người ban lệnh triệu tập binh lính, vì hai người cùng làm việc với nhau. Đức Chúa Trời thay Sau-lơ hành động để làm lòng người lo sợ và 330. 000 người đã gia nhập đội quân. Sau-lơ tập trung quân ở Bê-xéc, cách Gia-be-Ga-la-át 20 dặm, à sau đó báo tin về sự giải vây vào sáng mai cho dân trong thành ấy. Thật khôn khéo, dân trong thành báo với dân Am-môn rằng họ xin đầu hàng vào sáng ngày mai, à điều nầy làm Na-hách tự tin hão và không đề phòng.
Có lẽ Sau-lơ biết câu chuyện của Ghê-đê-ôn và chiến thắng của người trên dân Ma-đi-an, ì giống như Ghê-đê-ôn, vua chia quân thành ba đạo và tấn công vào ban đêm (Cac 7:16,19). Tấn công từ 2-6 giờ sáng, Sau-lơ đã làm kẻ thù kinh ngạc và tháo chạy tán loạn. Sau-lơ thành công là nhờ quyền năng của Thánh Linh Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho người những ân tứ tự nhiên, sự khôn ngoan và sức mạnh cần thiết. Lãnh đạo một đội quân 330.000 người thiếu kinh nghiệm không dễ dàng chút nào, nhưng Đức Chúa Trời ban chiến thắng cho Sau-lơ. Ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ dẫn dắt chúng ta khi ân điển của Ngài không thể gìn giữ chúng ta và sử dụng chúng ta.
Khi Sau-lơ được chọn làm vua, người được ban quyền uy từ Đức Chúa Trời và từ dân sự, nhưng khi người đã thắng một trận vẽ vang, người có được tầm cỡ trước mặt dân sự. Cả hai điều nầy đều cần thiết cho một người lãnh đạo thành công. Những khó khăn bắt đầu sau khi sự kiêu ngạo của Sau-lơ phóng đại quyền lực của mình đã bắt đầu hủy hoại bản chất và thanh danh mình. Đa-vít khiêm tốn trước những thành công của mình, nhưng Sau-lơ càng ngày càng kiêu ngạo và bạo ngược. Chúng ta khen ngợi Sau-lơ vì đã không dùng chiến thắng ấy như một phương tiện tống khứ các kẻ thù mình nhưng đem sự vinh quang về cho Đức Chúa Trời (ISa 11:13; Le 19:18; Ro 12:17). Những người lãnh đạo thành công luôn dùng uy quyền của mình để làm vinh hiển danh Đức Chúa Trời và xây dựng đất nước mình, nhưng những người lãnh đạo thất bại thường sử dụng dân sự của mình bồi đắp uy quyền mình. Về sau, Sau-lơ trở thành người như vậy, và điều đó làm cho người thất bại.
Sa-mu-ên nắm bắt cơ hội nầy và tập trung dân sự lại để dâng lời tạ ơn Đức Chúa Trời và một lần nữa xác nhận vua và vương triều. Họ nhóm họp tại Ginh-ganh, gần Sông Giô-đanh, là nơi có liên quan đến nhiều biến cố quan trọng của dân Do-thái (Gios 4:19-5:11; Gios 7:6; Gios 10:8-15; Gios 13:4). Tại cuộc họp ở Mích-ba, họ tiếp nhận vua của Đức Chúa Trời, nhưng tại Ginh-ganh, họ xác nhận Sau-lơ là vua trước mặt Đức Chúa Trời (ISa 12:1). Ngày nay chúng ta thường gọi là “lễ lên ngôi”. Dâng của lễ là một phần trong nghi thức theo giao ước, và dân sự được ăn một phần nào đó trong số của lễ được dâng lên cho Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên cả vua và dân sự một khi bước vào mối thông công mới với Đức Chúa Trời thì phải có trách nhiệm vâng lời Ngài.
Sa-mu-ên được Sau-lơ xức dầu cách riêng tư (ISa 10:1) và sau đó được giới thiệu với cả dân sự (c.17-27), và giờ đây Sa-mu-ên hướng dẫn dân sự bước vào sự tận hiến cho Đức Chúa Trời. Đây chính là lúc phấn hưng thuộc linh và là giây phút vui mừng của đất nước. Sau-lơ đã vượt qua được thử thách đầu tiên của mình, nhưng không lâu sau đó, ông đã thất bại trong những thử thách đơn giản hơn và đánh mất cả vương quốc mình. Andrew Bonar từng nói rằng, “Chúng ta phải cảnh giác trước mỗi cuộc chiến cũng như sau mỗi chiến thắng”. Sau-lơ thắng trận đầu tiên nhưng sẽ đánh mất chiến thắng ấy.
4. SỰ NHÌN LẠI VÀ LỜI KHUYÊN BẢO (ISa 12:1-13:23)
Sau-lơ và dân sự quá vui mừng vì giải cứu được Gia-be Ga-la-át khỏi tay dân Am-môn, và Sau-lơ đã thận trọng dâng sự vinh quang nầy cho Đức Chúa Trời (ISa 11:13). Sa-mu-ên nhận thấy chiến thắng nầy như một cơ hội để “lập nước lại” (c.14) và nhắc dân sự rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời vẫn là Vua của họ.
Việc Sau-lơ dẫn dắt đội quân và thắng lớn sẽ làm cho dân sự đặt lòng tin nơi vị vua mới nầy, và Sa-mu-ên muốn họ biết rằng họ sẽ được thành công nữa hay không tùy thuộc vào đức tin của họ nơi một mình Đức Chúa Trời. Vua chỉ là một tôi tớ của Đức Chúa Trời dành cho dân sự, cả vua và dân sự đều phải vâng theo giao ước của Đức Chúa Trời. Trong sứ điệp giã từ, Sa-mu-ên đã biện hộ cho chức vụ của mình (ISa 12:1-5), nhìn lại những ơn lành của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên (ISa 12:6-11), và răn bảo dân sự hãy kính sợ Đức Chúa Trời và vâng giữ giao ước của Ngài (ISa 12:12-25). Sa-mu-ên nhắc đến Đức Giê-hô-va ít nhất 30 lần trong sứ điệp nầy, vì lòng ông mong mõi dân sự trở về với Đức Chúa Trời và tôn trọng giao ước của Ngài.
1. Sự liêm chính của một người lãnh đạo (ISa 12:1-5)
Khi cầu xin một vua, dân sự đã khước từ địa vị làm vua của Đức Giê-hô-va và địa vị lãnh đạo của Sa-mu-ên, vị quan xét cuối cùng (ISa 7:6,15-17). Chắc hẳn Sa-mu-ên rất buồn khi triệu tập cuộc họp nầy với tư cách là người lãnh đạo và phải trao quyền cho Sau-lơ. Chắc chắn ông mong một trong các con trai ông được kế vị ông, nhưng không ai nghĩ đến chúng (ISa 8:1-3). Mười hai chi phái đã được các quan xét lãnh đạo gần 500 năm qua, nhưng thời đại đã thay đổi và dân sự muốn có một vua cho họ. Trước khi từ chức quan xét, Sa-mu-ên phải chân thành nhận xét mình luôn liêm chính và dân sự không thể tìm được lỗi chi ở người.
Đối với nhiều người có mặt hôm ấy, Sa-mu-ên vẫn luôn có địa vị trong lòng họ. Một số người đã biết Sa-mu-ên từ khi người còn nhỏ và lớn lên ở Si-lô, tập tành trong chức vụ tế lễ, và những người khác vẫn còn nhớ ông bắt đầu rao giảng Lời Chúa (ISa 3:20). Trọn đời mình, ông đã luôn có mặt cùng họ, và lúc nầy ông “đã già, tóc bạc” đang đứng trước mặt họ và thách thức họ cáo buộc ông tội lợi dụng quyền hạn làm lợi riêng cho mình. “Vậy, ta đây” (ISa 12:3) nhắc chúng ta nhớ lời ông đáp khi được Chúa gọi (ISa 3:4-6,8,16).
Ở Phương Đông, các quan chức thường lợi dụng chức vụ mình để mưu lợi, nhưng Sa-mu-ên đã không như vậy. Ông vâng giữ Luật pháp Môi-se và giữ mình liêm chính (Xu 20:17; Xu 22:1-4,9; Xu 23:8; Le 19:13; Phuc 16:19; Phuc 24:14). Chúng ta không thể hiểu tại sao với một tấm gương sáng như vậy trước mắt, các con trai của Sa-mu-ên lại có thể nhận của hối lộ.
Giống Chúa Giê-xu, Sa-mu-ên đứng trước dân sự và hỏi, “Trong các ngươi có ai bắt ta thú tội được chăng?” (Gi 8:46). Dân sự nghe những điều Sa-mu-ên nói và làm chứng rằng ông đã nói đúng sự thật. Sa-mu-ên là một người liêm chính; còn Sau-lơ sẽ trở nên một người đạo đức giả và ăn ở hai lòng. Khi hội chúng tán thành lời tự sự của mình, Sa-mu-ên xin Chúa và vị vua mới làm chứng cho lời họ nói. Nếu dân sự thay đổi ý kiến, họ sẽ phải đối mặt với Đức Chúa Trời và vua được Ngài chọn lựa!
Thật tuyệt vời biết bao khi đến cuối đời ta có thể nhìn lại cuộc sống và chức vụ của mình mà không e ngại hay xấu hổ. Mong rằng tất cả chúng ta đều có thể nói với Chúa của mình rằng: “Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm” (Gi 17:4).
2. Điều tội lỗi của một dân tộc (ISa 12:6-25)
Đã công nhận Sa-mu-ên là đáng tin cậy, giờ đây dân sự phải chấp nhận sự phân tích của ông về hoàn cảnh. Ông nhìn lại lịch sử của Y-sơ-ra-ên từ Môi-se cho đến thời đại của ông và nhấn mạnh những điều Đức Giê-hô-va trong ân điển Ngài đã làm cho họ.
• Tạ ơn Đức Chúa Trời (ISa 12:6-11).
Chính Đức Chúa Trời, không phải dân sự, đã chọn Môi-se và A-rôn (c.6)và giúp họ thực hiện những công việc lạ lùng cho dân Y-sơ-ra-ên. Sa-mu-ên không ngại chỉ ra những tội lỗi của Y-sơ-ra-ên và khuyên họ dâng trọn cuộc đời mình cho Chúa và giao ước của Ngài. Người ta thường nói rằng một điều chúng ta học từ lịch sử đó là chúng ta không biết lịch sử, và Sa-mu-ên không muốn dân sự mắc sai lầm nầy.
Nhưng đây không chỉ là một bài giảng về lịch sử; nó còn là một phiên tòa. Những lời của Sa-mu-ên trong câu 7 có hơi hướng của một quan tòa: “Hãy ra mắt” có nghĩa như “Đứng lên, chánh án đến!” và “luận” có nghĩa là “định án”. Sa-mu-ên sẽ chứng minh cho dân sự thấy Đức Chúa Trời đã công bình và thành tín trong những việc Ngài làm với Y-sơ-ra-ên, nhưng họ đã vô tín và bất tuân. Đức Chúa Trời không lập giao-ước với dân nào khác ngoại trừ dân Y-sơ-ra-ên, và sự vâng lời của họ là điều kiện để họ nhận được ơn phước của Ngài.
Những ơn phước nầy bao gồm được sống trong Đất Hứa, được bảo vệ khỏi các kẻ thù, được sung túc… Nếu họ không vâng theo giao ước, Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt họ và cất đi những ơn phước của họ. (Phuc 28:1-30:20; Le 26:1-46). Mọi người Do-thái đều biết điều nầy, nhưng không phải người Do-thái nào cũng hiểu nó.
Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập kêu cầu Đức Chúa Trời giải cứu, và Ngài ban cho họ Môi-se và A-rôn (ISa 12:8). Đức Chúa Trời đã giải cứu dân sự Ngài, đem họ đến Ca-na-an và giúp họ đánh thắng những cư dân ở đó. Nhưng khi họ được sống trong xứ đó rồi, họ đã thỏa hiệp đức tin mình và sa vào thờ những thần tượng của các nước láng giềng;vì vậy Đức Chúa Trời phải trừng phạt họ (c.9-11). Chúng ta đang ở trong sách Các Quan-xét với vòng lẩn quẩn của nó giữa không vâng lời, trừng phạt, và giải cứu (Cac 2:10-23). Quan điểm của Sa-mu-ên là Đức Chúa Trời luôn ban cho một người lãnh đạo khi họ cần, và họ đã chẳng cần đến vị quan xét nào nếu như họ đã trung tín với Đức Chúa Trời. Trong ISa 12:11, Giê-ru-ba-anh (“hãy để Ba-anh đấu tranh cho chính nó”) là Ghê-đê-ôn, và Bê-đan là Ba-rác. Sa-mu-ên cũng kể mình như vị quan xét cuối cùng (ISa 7:15)
• Kính sợ Đức Chúa Trời (ISa 12:12-19).
Y-sơ-ra-ên đã đáp ứng thế nào với lịch sử dân tộc mình? Họ phải biết ơn Đức Chúa Trời và tin cậy nơi Ngài và sự chăm sóc của Ngài. Họ phải xưng tội vô tín của mình và chỉ tin nơi một mình Ngài. Nhưng họ đã làm gì? Khi nghe dân Am-môn tấn công, họ đã đòi một vua và thay quyền cai trị của Đức Chúa Trời bằng quyền lãnh đạo của một con người! Đức Chúa Trời ban cho họ điều họ xin, nhưng Y-sơ-ra-ên đã đánh mất điều gì đó trong mối tương giao.
Tuy nhiên, không mất tất cả. Đức Chúa Trời không bao giờ bị bất ngờ và Ngài sẽ không từ bỏ dân sự Ngài vì danh Ngài. Nếu dân sự kính sợ Đức Chúa Trời và vâng theo Ngài, Ngài lại chăm sóc họ và dùng vị vua mới nầy hướng dẫn và bảo vệ họ. Sau đó Sa-mu-ên “cầu khẩn Đức Giê-hô-va; Ngài sẽ làm sấm sét và mưa” trong mùa khô hạn để chứng minh quyền năng đáng kinh sợ của Đức Chúa Trời. Sa-mu-ên muốn cho dân sự thấy rằng Đức Chúa Trời có thể làm mọi việc cho họ, nếu họ tin vậy và vâng lời Ngài. Khi dân Do-thái cầu xin Sa-mu-ên giải cứu, họ giống như Pha-ra-ôn xưng tội mình và xin Môi-se cứu giúp (Xu 8:8; Xu 9:27-28; Xu 10:16-17), và sự ăn năn của họ chỉ giả dối.
• Vâng phục Đức Chúa Trời (ISa 12:20-25).
Sa-mu-ên đi từ “hãy kính sợ” đến “chớ sợ chi” khi ông khuyên dân sự thừa nhận tình trạng vô tín của mình. Có bao nhiêu lần trong đời chúng ta nhận được điều mình cầu xin và sau đó lại hối tiếc vì đã xin chúng! Đức Giê-hô-va không khước từ và bỏ rơi dân sự Ngài vì giao ước thánh của Ngài và sự thành tín lớn của Ngài. Mục đích của Đức Chúa Trời là dùng Y-sơ-ra-ên làm rạng danh Ngài, và Ngài sẽ làm thành mục đích đó. Dân Do-thái biết những quy định trong giao ước: nếu họ vâng lời, Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho họ; nếu họ không vâng lời, gài sẽ trừng phạt họ. Dù họ thế nào, Đức Chúa Trời vẫn luôn thành tín với Lời Ngài; vấn đề chính là dân Y-sơ-ra-ên phải trung tín. Họ đã lầm lỗi, nhưng Đức Chúa Trời sẽ giúp họ nếu họ biết kính sợ và vâng lời Ngài.
Sa-mu-ên nói rõ rằng, dù họ quyết định gì đi nữa, họ vẫn phải vâng lời Chúa. Về phần ông, ng sẽ trung tín cầu nguyện và dạy dỗ Lời Chúa cho dân sự. Lời Chúa và sự cầu nguyện luôn đi đôi với nhau (Cong 6:4; Gi 15:7; Eph 6:17-18). Lòng Sa-mu-ên tan vỡ, nhưng là một đầy tớ trung thành của Đức Chúa Trời, ông đã cầu thay cho dân sự và dẫn họ đi đúng đường. Vì dân sự Đức Chúa Trời mà không cầu nguyện tức là phạm tội cùng Đức Chúa Trời, tuy nhiên Hội thánh ngày nay luôn thiếu sự cầu nguyện nhất là cầu nguyện cho những nhà cầm quyền (ITi 2:1-4).
Khi chúng ta xét lại những điều lớn lạ mà Đức Chúa Trời đã làm cho mình, làm sao chúng ta có thể không hết lòng kính sợ, tạ ơn, và hầu việc Ngài trọn cuộc đời mình? Giao ước của Đức Chúa Trời với dân sự Ngài vẫn còn hiệu lực: nếu họ vâng lời, Ngài sẽ ban ơn; nếu họ không vâng lời, Ngài sẽ sửa phạt. Như Sa-mu-ên đã cảnh báo, “Nhưng nếu các ngươi cứ làm ác, thì các ngươi và vua các ngươi chắc sẽ bị diệt vong” (ISa 12:25). Sa-mu-ên đặc biệt nhắc đến lời cảnh cáo của Môi-se trong Phuc 28:36 được viết trong giao-ước trước khi Y-sơ-ra-ên có vua hàng thế kỷ: