...từng bị chỉ trích và bị cho là bốc đồng vì ông rời Ra-ma và Sa-mu-ên, bạn mình, sang Ghi-bê-a để bàn bạc với Giô-na-than. Nhưng Đa-vít biết rằng kinh nghiệm xuất thần của Sau-lơ sẽ sớm kết thúc và tấm lòng của ông ta lại vẫn không thay đổi. Sau-lơ đã hứa với Giô-na-than rằng ông sẽ không giết Đa-vít (ISa 19:6), nhưng ông ta đã 4 lần vi phạm lời hứa ấy (c.20-24), nên cách khôn ngoan nhất là Đa-vít phải tránh mặt Sau-lơ và bỏ trốn. Với Đa-vít, ở lại Ghi-bê-a không phải là sự rèn luyện đức tin; đó là hành động liều lĩnh, ngạo mạn và cũng chỉ khiêu khích Đức Chúa Trời mà thôi. Kịch tính trong những đoạn nầy có liên quan đến 4 nhân vật:Giô-na-than, au-lơ, Đa-vít và Đô-e.
1. Giô-na-than - một người bạn chân thành (ISa 20:1-23)
Trong tất cả tác phẩm văn chương, Đa-vít và Giô-na-than nổi bật như những tấm gương về những người b ạn hết lòng vì nhau. Giô-na-than gặp tình huống khó khăn hơn vì ông vừa muốn trung thành với vua cha vừa muốn là người bạn thân với vị vua sẽ kế vị. Mâu thuẩn trong hoàng tộc, đặc biệt là trong gia đình, là một trong những khó khăn nhất mà chúng ta phải đối diện trong đời sống đức tin (Mat 10:34-39), nhưng Chúa Cứu Thế kêu gọi chúng ta sống hết lòng cho Ngài và ý muốn của Ngài.
• Bàn bạc (ISa 20:1-10,18-23).
Đa-vít gặp Giô-na-than ở một nơi gần Ghi-bê-a và liền đối chất người bạn thân của mình bằng một câu hỏi quan trọng: “Tôi đã làm chi, tội ác tôi là gì? Tôi đã phạm tội chi cùng cha anh, mà người toan hại mạng sống tôi?” Đa-vít không hề vi phạm bất kỳ luật lệ nào của vua, không phản nghịch, cũng không vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng Sau-lơ muốn trừ khử ông. Đa-vít biết rằng sau-lơ là người hay ganh tị, ông ta muốn giữ ngai vàng cho mình và truyền ngôi cho hậu duệ của ông, hưng Đa-vít tin rằng Đức Chúa Trời sẽ phế Sau-lơ trong thời điểm và cách thức mà Ngài chọn (ISa 26:7-11). Đa-vít rất quý mến Giô-na-than và không muốn làm đau lòng bạn mình khi chỉ trích cha của ông ta, nhưng đây là vấn đề rất quan trọng liên quan đến sự sống và cái chết.
Câu trả lời của Giô-na-than có vẻ rất ngây thơ, đặc biệt khi xét qua lời tuyên bố của Sau-lơ trong ISa 19:1, và thái độ của ông ta ở Ra-ma. Sau-lơ đã phóng giáo về phái Đa-vít ít nhất 3 lần (ISa 10:1-11:15; ISa 19:9-10), và ông ta sai ba toán quân đến vây bắt Đa-vít, và cuối cùng đích thân Sau-lơ đến Ra-ma để thực hiện mục đích của mình. Giô-na-than cần bao nhiêu bằng chứng nữa mới thừa nhận rằng cha mình là người điên cuồng muốn giết vị vua được xức dầu của Đức Chúa Trời? Giô-na-than sai lầm khi nghĩ rằng mối quan hệ của mình với cha thân mật hơn nó vốn có và rằng Sau-lơ sẽ giải bày tâm sự với mình, nhưng kết quả cho thấy ông đã sai, vì Sau-lơ thậm chí còn tìm cách giết cả Giô-na-than!
Đa-vít bắt bẻ lý luận của Giô-na-than; ông nói rằng điều hợp lý nhất mà Sau-lơ có thể làm là không cho con trai đầu lòng của ông ta biết mọi chuyện. Sau-lơ biết Giô-na-than và Đa-vít rất thân nhau và Giô-na-than sẽ đau lòng nếu biết được ý định thật sự của Sau-lơ. Vấn đề trở nên nghiêm trọng đến nỗi Đa-vít không thể tin tưởng vào những gì Sau-lơ nói với Giô-na-than. “Chỉ còn một bước cách tôi và sự chết mà thôi” (ISa 20:3). Điều nầy đúng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, vì đã 3 lần Đa-vít tránh được mũi giáo của vua.
Giô-na-than hứa sẽ giúp theo bất kỳ cách nào mà Đa-vít gợi ý, và Đa-vít gợi ý một phép thử đơn giản để biết tâm tư thật của Sau-lơ. Theo thông lệ mỗi gia đình Do-thái đều có tổ chức tiệc vào ngày lễ trăng mới (Dân 10:10; Dân 28:11-15; Thi 81:3), và Sau-lơ nghĩ rằng Đa-vít sẽ đến dự. Nếu con rể ông và là vị anh hùng trong đội quân không đến dự, thì đó là điều sỉ nhục cho vua cũng như cho cả họ tộc, nên sự vắng mặt của Đa-vít sẽ giúp thấy rõ thái độ thật sự của Sau-lơ đối cùng Đa-vít. Nếu Sau-lơ nổi giận, thì lời nhận xét của Đa-vít là đúng, nhưng nếu Sau-lơ bênh vực cho Đa-vít và không đặt nặng vấn đề, thì Giô-na-than đúng. Vấn đề duy nhất trong kế hoạch nầy là Giô-na-than phải nói dối rằng Đa-vít phải về Bết-lê-hem để dự tiệc cùng gia đình. Đa-vít sẽ trốn ngoài đồng và chờ đợi Giô-na-than báo tin cho ông biết có nên trốn đi hay không.
Làm thế nào để Giô-na-than có thể báo tin cho Đa-vít? (ISa 20:10). Ông không tin tưởng một đầy tớ nào để sai đi báo tin, nên dù có nguy hiểm ra sao, ông cũng sẽ đích thân làm việc đó. Ông nghĩ ra một kế hoạch đơn giản là bắn 3 mũi tên về hướng Đa-vít đang trốn (câu 20). Giô-na-than có thể nhờ một đứa bé giúp ông và trong cách nầy ra hiệu được cho Đa-vít và ông biết nên làm gì sau đó. Nếu các do thám của Sau-lơ có mặt lúc đó, ọ cũng không hiểu được chuyện gì đang xảy ra.
• Kết ước. (ISa 20:11-17).
Từ câu 11-23, Đa-vít im lặng trong khi Giô-na-than nhắc lại kết ước mà họ đã lập với nhau (ISa 18:1-4). Giô-na-than còn thề và hứa rằng báo tin cho Đa-vít vào ngày thứ 3 của yến tiệc, nên Đa-vít sẽ biết được vua thân tình hay giận dữ. Giô-na-than bỏ qua sự khủng hoảng trước mặt để đối phó với những sự kiện trong tương lai. Ông biết rằng đến một ngày Đa-vít sẽ lên ngôi vua, và ông cầu xin Chúa ban ơn cho triều đại của Đa-vít. Trong kết ước của họ, họ thống nhất với nhau rằng Giô-na-than sẽ làm quan tể tướng bên cạnh vua Đa-vít (ISa 23:16-18), và Đa-vít hứa sẽ không làm hại nhà của Giô-na-than. Cụm từ “sự nhân từ của Đức Giê-hô-va” (ISa 20:14) xuất hiện trong II Sa-mu-ên 9, trong đó mô tả sự quan tâm đầy tình yêu thương của Đa-vít đối với Mê-phi-bô-sết, con trai khuyết tật của Giô-na-than.
Giô-na-than tái xác nhận lời thề của mình với Đa-vít và cả nhà Đa-vít (ISa 20:16), ông cũng yêu cầu Đa-vít tái xác nhận lời thề. Không có đề cập đến sự dâng tế lễ (Sa 15:1-21) cũng không có bản kết ước vì tình yêu thương mà hai người dành cho Đức Giê-hô-va và cho nhau đã đủ để ràng buộc họ trong kết ước nầy. Giô-na-than đã đem lại nhiều niềm vui và sự khích lệ cho Đa-vít trong suốt những năm tháng khó khăn nầy, nhưng ý của Đức Chúa Trời không muốn ông vĩnh viễn có mối quan hệ với Sau-lơ và gia đình Sau-lơ, vì họ thuộc về một chi phái không thích hợp và là đại diện cho một nền quân chủ bị khước từ và lên án. Đa-vít không bao giờ có một người cùng nhiếp chính vì Giô-na-than đã bị giết trong chiến trận (ISa 31:1-2), Đa-vít không chấp nhận Mi-canh con gái của Sau-lơ làm vợ và nàng đã qua đời mà không có con (IISa 6:16-23). Nếu Mi-canh có con, hẳn sẽ gây ra sự rắc rối trong dòng dõi hoàng gia.
2. Sau-lơ vị vua thù hằn (ISa 20:24-42)
Trong ngày đầu tiên của yến tiệc, Đa-vít trốn đằng sau tảng đá và chờ tín hiệu của Giô-na-than, vì cũng có thể vua vui vẽ đón ông trở về.
• Sự vắng mặt của Đa-vít. (ISa 20:24-29).
Luôn lo s ợ người khác tấn công, Sau-lơ ngồi sát vách, và Áp-ne ở bên cạnh vua, Giô-na-than ngồi đối ngang vua cha. Chỗ của Đa-vít ở bên cạnh Giô-na-than bỏ trống, nhưng vua không nói gì về điều đó, và nghĩ rằng Đa-vít không thánh sạch nên không thể dự lễ trong ngày đó. Yến tiệc nầy chủ yếu dùng những của lễ thù ân trong ngày trăng mới nên ai không thánh sạch sẽ không được tham dự (Le 7:20-21). Có lẽ Đa-vít lỡ đụng vào vật chi ô uế, ay ông có quan hệ tình dục với vợ mình (Le 15:16-18). Nếu vậy, thì ông phải tách mình ra khỏi những người khác trong ngày đó, tắm rữa, thay đồ và có thể đến dự vào ngày hôm sau.
Nhưng ngày thứ hai khi mọi người có mặt đông đủ thì Đa-vít lại vắng mặt, điều nầy khiến Sau-lơ nghĩ rằng con rể ông vắng mặt vì một lý do đặc biệt nào đó hơn là vì sự ô uế theo lễ nghi. Một người ô uế có thể được thoát khỏi sự ô uế đó trong vòng một ngày, nhưng Đa-vít đã vắng mặt hai ngày. Là người hay nghi ngờ về bất cứ điều gì có vẻ bất thường, Sau-lơ đã hỏi Giô-na-than lý do Đa-vít vắng mặt, và với thái độ khinh miệt ông gọi Đa-vít là “con trai Y-sai” thay vì phải gọi bằng cái tên mà lúc nầy rất nổi tiếng. Sau đó, Sau-lơ cố làm bẻ mặt thầy tế lễ A-hi-mê-léc khi gọi ông ta là “con trai A-hi-túp” (ISa 22:11-12).
Lúc nầy Giô-na-than nói dối với vua cha và sau đó mọi chuyện không đúng như ông nghĩ. Giô-na-than không nói cha Đa-vít nhưng nói anh của Đa-vít gọi Đa-vít về nhà. Có lẽ Giô-na-than hy vọng cha mình sẽ dễ chấp nhận hơn khi nghe anh của Đa-vít, một người lính trong quân đội của ông, gọi Đa-vít về. Giô-na-than đã dùng một động từ có nghĩa là “vội về thăm một chút” để Sau-lơ không nghĩ Đa-vít về thăm nhà hầu có thời gian tập trung lực lượng giành lấy ngai vàng.
• Cơn giận của Sau-lơ. (ISa 20:30-34).
Khi sự hằn thù chất chứa trong lòng, thì lời oán ghét sẽ ra nơi miệng (Mat 12:34-35). Sau-lơ có lẽ nghĩ đến sự sỉ nhục mà Đa-vít gây ra cho mình vì đã vắng mặt, và càng suy nghĩ, ông càng điên tiết. Nhưng thay vì tấn công Đa-vít, Sau-lơ đã tấn công chính con trai mình! Nếu tại Ra-ma Đức Giê-hô-va không can thiệp, Sau-lơ có thể đã giết chết Đa-vít trước mặt thầy tế lễ Sa-mu-ên (ISa 19:22-24), và giờ đây ông mắng nhiếc con trai mình ngay trong bữa tiệc thiêng liêng trọng đại nầy!
Một tràng chửi rủa của Sau-lơ có vẻ miệt thị vợ của ông, nhưng nếu hiểu đúng thì lời của ông đang chỉ trích con trai và xem nó như kẻ thấp hèn nhất trong số những kẻ thấp hèn. Theo Sau-lơ, Giô-na-than làm bạn với Đa-vít chẳng khác nào phản bội lại vua cha và vì vậy không phải là con trai ông nữa, vì con trai Sau-lơ không bao giờ phản bội cha mình. Như vậy, Giô-na-than đang phỉ báng mẹ của mình và buộc bà tội ngoại tình, vi phạm luật pháp của Môi-se, và là người đàn bà hư hỏng. Vì Giô-na-than giúp Đa-vít mà không bảo vệ ngai vàng cho vua cha, ông đã làm xấu hổ cho mẹ mình giống như lột trần bà trước công chúng. Bà đã sinh Gô-na-than để kế vị cho cha, và giờ đây Gô-na-than khước từ ngai vàng vì con trai của Y-sai. Vua hẳn đã hét lên, “Ngươi không phải con trai ta! Ngươi là đứa con hoang!”
Sau-lơ quá quan tâm đến việc bảo vệ cái vương quốc mà Đức Chúa Trời đã tước khỏi tay ông. Đức Chúa Trời đã cho thấy rõ rằng không có đứa con nào của Sau-lơ được thừa hưởng ngai vàng và Đa-vít sẽ là vua được Đức Chúa Trời lựa chọn, nên Sau-lơ đang tranh chiến với ý muốn của Đức Chúa Trời và muốn Giô-na-than hợp tác. Sau-lơ nhận ra con trai ông biết chỗ Đa-vít đang lẫn trốn và sai con trai đi giết Đa-vít. Khi Giô-na-than phản đối vua cha và không tuân theo lệnh vua, Sau-lơ đã phóng giáo vào con trai ông! Giô-na-than rời bàn ăn trong giận dữ và nhịn ăn cả ngày hôm đó.
• Tín hiệu báo động của Giô-na-than. (ISa 20:35-42).
Giô-na-than chờ đến ngày hôm sau rồi dắt một đầy tớ trẻ ra đồng như thể ông đi tập bắn cung. Như đã hứa với Đa-vít, ông bắn ba mũi tên (c.20), trong số đó ông sẽ bắn một mũi đi xa để cậu bé chạy ra xa nhặt tên và ông có thể la lớn nói chuyện với cậu bé. Nhưng lời ông nói với cậu bé đó lại có ý nghĩa đối với Đa-vít, “Hãy đi mau, chớ dừng lại!” khi cậu bé đem mũi tên trở về, Giô-na-than trao cho nó cung tên và bảo nó đi về thành còn mình thì chạy đi gặp Đa-vít.
Đây không phải là lần gặp mặt cuối cùng của hai người (ISa 23:16-18), nhưng chắc chắn là lần chia tay rất cảm động. Cả hai đều khóc, nhưng Đa-vít khóc nhiều hơn. Đa-vít không biết ông sẽ phải tha hương bao lâu và biết đâu sẽ không còn gặp lại người bạn thân thiết của mình nữa. Người phương Đông không xấu hổ khi khóc và ôm hôn khi gặp mặt hoặc chia tay nhau (Sa 31:55; Cong 20:37). Lời chúc bình an của Giô-na-than khích lệ Đa-vít rất nhiều. Cả hai cùng nhắc lại lời kết ước của họ, và biết rằng Đức Giê-hô-va nghe lời của họ và nhìn thấu tấm lòng của họ. Đa-vít đi 3 dặm đường đến thành Nóp, là thành của các thầy tế lễ, và Giô-na-than trở về Ghi-bê-a và tiếp tục chức vụ của mình trong đội quân của vua cha.
Mười năm sau, quân Phi-li-tin giết chết Sau-lơ, Giô-na-than và hai em trai người ngoài chiến trường (ISa 31:1-6).
3. Đa-vít một kẻ lưu vong đầy hy vọng (ISa 20:24-42) (ISa 21:1-22:5)
Khi Đa-vít trốn đến Nóp, đó là điểm khởi đầu cho 10 năm lưu vong của ông (ISa 21:1-29:11). Kinh Thánh không ghi lại hết tất cả những trải nghiệm của Đa-vít trong thời gian nầy, nhưng lịch sử cho chúng ta thấy được ông là người có đức tin và gan dạ. Dù rất khó xác định được bối cảnh của mỗi b ài thi thiên, nhưng rất có thể những năm lánh nạn của Đa-vít được phản ánh trong những Thi-thiên chương 7,11-13,16-17,22,25,31,34-35,52-54,56-59,63-64,142-143; Thi 18:1-50 là lời ngợi khen của ông khi Đức Chúa Trời cho ông chiến thắng các kẻ thù.
Thật ngạc nhiên khi những bài thi thiên mang tính khích lệ đã được sáng tác trong khoảng thời gian ông chịu nhiều đau khổ nhất, và nhờ những bài đó dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay có thể được mạnh mẽ và kiên cường vượt qua những thử thách. Chúa của chúng ta trích Thi 22:1 và Thi 31:5 khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự.
• Đa-vít đến Nóp. (ISa 21:1-9).
Đây là thành của các thầy tế lễ cách phía nam Ghi-bê-a 3 dặm; có một lều tạm tại Ghi-bê-a. Hòm giao ước vẫn còn ở trong nhà của A-hi-na-đáp tại Ki-ri-át-Giê-a-rim, ISa 7:1) Vì tình thân giữa mình với Sa-mu-ên, Đa-vít biết ông có thể tìm được nơi trú ẩn an toàn và sự giúp đỡ của các tiên tri ở đó; và ông muốn trọn đời được ở trong nhà của Đức Chúa Trời (Thi 27:4-6). Thấy Đa-vít đến một mình, thầy tế lễ cả A-hi-mê-léc hoảng sợ;A-hi-mê-léc là cháu của Hê-li và được biết với tên A-hi-gia (ISa 14:3). Ông ta biết danh tiếng và địa vị của Đa-vít và ngạc nhiên vì Đa-vít đến mà không có đoàn tùy tùng đi theo.
Nếu từ “Vua” trong ISa 21:2 chỉ về Giê-hô-va Đức Chúa Trời (ISa 20:42), thì Đa-vít không nói đối, vì Đa-vít thật đang làm công việc Chúa và sẽ tiếp tục như vậy cho đến cuối đời. Nếu đây là câu cố tình nói dối, thì Đa-vít đang bày mưu thay vì tin cậy Đức Chúa Trời.
Có thể động lực của ông là để bảo vệ thầy tế lễ cả khỏi bị Sau-lơ tra xét sau nầy, nhưng kế hoạch đó đã thất bại; vì Sau-lơ đã giết A-hi-mê-léc và tất cả các thầy tế lễ ngoại trừ A-bia-tha, vì họ bị kết tội thông đồng với kẻ thù của ông ta, là Đa-vít. Tuy nhiên, rất có thể Đa-vít gọi một số người của ông đến gặp ông tại hang đá A-đu-lam (ISa 22:2). Chúng ta biết điều nầy vì Đa-vít có nhắc đến sự thanh sạch của những người đó.
Đa-vít cần thức ăn, nên A-hi-mê-léc đem cho ông những ổ bánh thánh lấy từ đền tạm, bánh nầy chỉ dành cho các thầy tế lễ (Le 24:5-9). Nếu dân sự đem dâng 1/10 cho đền tạm như luật pháp quy định, chắc chắn đã có nhiều đồ ăn hơn, nhưng đây là thời điểm đời sống thuộc linh rất sa sút trong xứ nầy. Chúa Giê-xu dùng biến cố nầy để dạy về sự vâng lời thật và sự nhận thức thuộc linh (Mat 12:1-8).
Đa-vít cũng hỏi về cây gươm của Gô-li-át, mà vì lý do nào đó đã được cất giữ trong đền tạm bên cạnh ê-phót (Xu 28:4-13). Đa-vít giờ đây có thể tiếp tục hành trình của mình với đồ ăn cho sức khoẻ ông và với thanh gươm để bảo vệ ông.
Sự có mặt của Đô-e trong đền tạm là điều khó hiểu. Ông ta là người Ê-đôm vì vậy không phải là con của giao ước, nhưng ông “bị cầm lại tại trước mặt Đức Giê-hô-va” trong đền tạm (ISa 21:7). Có lẽ ông đã cải đạo và theo niềm tin của người Do-thái để có việc làm nầy. Là người làm đầu những kẻ chăn chiên cho Sau-lơ, Đô-e có thể không thánh sạch để dâng của lễ cho Đức Chúa Trời. Đa-vít biết rằng Đô-e sẽ báo lại cho Sau-lơ những gì ông ta thấy ở Nóp và điều đó đồng nghĩa với sự rắc rối (ISa 22:9).
• Từ Nóp đến Gát. (ISa 21:10-15).
Sự sợ hãi đối với Sau-lơ tạm thời thay thế cho đức tin nơi Đức Chúa Trời, và Đa-vít chạy trốn 23 dặm nữa đến Gát, thành phố của kẻ thù, chính là quê huơng của Gô-li-át người khổng lồ Phi-li-tin (ISa 17:4). Đây không phải là một nơi an toàn, nhưng sau khi thấy Đô-e tại Nóp, Đa-vít nghĩ nếu ông ở lại một nơi nào đó trong Y-sơ-ra-ên có thể sẽ gây nguy hiểm cho cuộc sống của các bạn của ông, nên ông quyết định ra khỏi xứ mình.
Hơn nữa, xứ Phi-li-tin sẽ là nơi cuối cùng Sau-lơ nghĩ đến khi tìm bắt ông. Danh tiếng của Đa-vít đến trước ông, nên vua và các cận thần ở đó thấy sự có mặt của ông không phải là một điềm lành. Đa-vít đã giả làm người điên để trốn thoát bình yên. Nếu Đa-vít chờ đợi ý muốn của Đức Chúa Trời, ông đã không rơi vào cảnh khó khăn như vậy.
Thi 34:1-22 và Thi 56:1-13 được sáng tác qua kinh nghiệm lạ lùng nầy. Thi 56:1-13 là lời nài xin Chúa giúp đỡ khi gặp tình thế nguy hiểm, và Thi 34:1-22 là bài hát ngợi khen sau khi Đức Chúa Trời giải cứu ông. Ý được nhấn mạnh trong Thi-thiên 56 nói về sự phỉ báng của các lãnh đạo Phi-li-tin khi họ tìm cách để vua của họ xử lý Đa-vít. Chắc chắn Đa-vít rất lo sợ trong thời gian ông ở Gát, nhưng ông giữ vững đức tin nơi Đức Chúa Trời vì luôn ghi nhớ lời hứa của Ngài, (Thi 56:10-11) và quyền của Đức Chúa Trời trên cuộc đời ông (Thi 56:12). Theo Thi thiên 34, Đa-vít đã cầu nguyện rất nhiều khi ở Gát (Thi 34:4-6,17-22), và Đức Giê-hô-va đã lắng nghe lời cầu xin của ông. Đa-vít biết rằng kính sợ Đức Chúa Trời chế ngự được mọi sự sợ hãi khác (Thi 34:9-16). Đức Giê-hô-va thật nhân từ đối với Đa-vít, Ngài giúp ông bình an trở về xứ mình. Dù chúng ta cảm thấy thế nào, ù hoàn cảnh có ra sao, nơi an toàn nhất cho chúng ta là ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời.
• Từ Gát đến hang đá A-đu-lam. (ISa 22:1-2).
Đấy là một nơi rất nổi tiếng ở Giu-đa, cách Gát 10 dặm và cách Bết-lê-hem, quê hương của Đa-vít, khoảng 15 dặm. Ít nhất Đa-vít cũng đang ở một nơi quen thuộc, và những binh lính từ Giu-đa và Bên-gia-min đến nhập chung với người của ông (ISu 12:16-18). Chính tại đây Đa-vít muốn uống nước từ giếng tại Bết-lê-hem và ba trong số những người lính dũng cảm của ông đã phá vòng vây của kẻ thù để lấy nước giếng đó cho ông (IISa 23:13-17). Biết được người của mình phải trải qua khó khăn nguy hiểm thế nào để đem được nước giếng về, Đa-vít đã rảy nước đó ra như một của lễ dâng cho Đức Chúa Trời. Những người lãnh đạo vĩ đại không lợi dụng những người theo mình để làm lợi cho chính mình, cũng không xem thường những sự hy sinh của họ.
Tất cả gia đình của Đa-vít đều đến ở với ông tại hang đá, điều nầy có nghĩa là các anh của Đa-vít đã rời bỏ đội quân của Sau-lơ và trở thành những người lánh nạn giống như Đa-vít. Họ biết rằng Đa-vít là vua được xức dầu của Đức Chúa Trời, nên họ buộc mình phải gắn liền với tương lai của dân tộc. Những người thấy nơi Đa-vít một triển vọng tốt đẹp về một vương quốc thành công, nên họ đã đến với Đa-vít: những người vì Sau-lơ mà trở nên khốn cùng, những người mắc nợ, những người bất mãn vì Sau-lơ làm cho đất nước suy tàn (ISa 14:29). Và Đa-vít có 400 lính mạnh mẽ, con số đó tăng lên đến 600 (ISa 23:13; ISa 25:13; ISa 27:2; ISa 30:9). Một số lính mạnh dạn và cả vị lãnh đạo của họ được kể tên trong IISa 23:8-39 và ISu 11:10-41 Sau-lơ có một đội quân gồm 3000 người được tuyển chọn (ISa 26:2)
Những người lãnh đạo chân chính thường triệu tập những người giỏi nhất, những người đó nhìn thấy trong người lãnh đạo có những phẩm chất mà họ ngưỡng mộ. Những người xung quanh Đa-vít không bao giờ được lịch sử chú ý nếu họ không gắn bó với Đa-vít, giống như các môn đồ của Chúa Giê-xu sẽ chết mà không ai biết đến nếu họ không bước đi với Ngài.
Đức Chúa Trời không gọi những người vĩ đại và mạnh mẽ đi theo Ngài, nhưng gọi những người có tấm lòng hướng về Ngài và hết sức vâng theo ý muốn của Ngài (ICo 1:26-31). Nhóm người ít ỏi của Đa-vít đại diện cho tương lai của dân tộc, và ơn phước của Đức Chúa Trời luôn ở trên họ. Lịch sử cho thấy chính những người tân tụy còn lại nầy là những người giữ vị trí then chốt cho công việc Chúa trên đất sau nầy.
Thi 57:1-11 và Thi 142:1-7 có liên quan đến thời gian Đa-vít ở tại hang đá A-đu-lam, và cả hai bài trên đều nhấn mạnh đức tin của Đa-vít nơi Đức Chúa Trời; ông tin rằng Ngài là nơi ẩn náu của ông. khi Đa-vít cầu nguyện, hang đá trở thành đền thánh, ởi đức tin ông nhận thấy nơi đó có chỗ nương náu dưới đôi cánh của Chê-ru-bin trong nơi Chí Thánh (Thi 57:1).
Đối với người khác đó là một hang đá, nhưng đối với Đa-vít đó là một đền thánh, vì Đức Giê-hô-va là nơi nương náu của ông (Thi 142:5). Đối với Đa-vít, sống lưu vong giống như sống trong ngục vậy (c.7), nhưng ông tin Đức Chúa Trời nhìn thấy ông. Ông biết Ngài sẽ giữ lời hứa Ngài và trao ngai vàng cũng như vương quốc cho ông.
• Từ A-đu-lam đến Mô-áp. (ISa 22:3-4a).
Đa-vít rất yêu quý ba mẹ mình và tìm cách bảo vệ họ, nên ông xin vua Mô-áp che chở họ cho đến khi thời gian lưu vong của ông trôi qua. Người Mô-áp là con cháu của Lót từ mối quan hệ loạn luân với con gái lớn của ông ta (Sa 19:30-38). Trong thời Môi-se, người Mô-áp không hòa thuận với người Y-sơ-ra-ên (Phu 23:3-6), nhưng Ru-tơ, bà cố của Đa-vít, xuất thân là người Mô-áp (Ru 4:18-22), và điều nầy giúp Đa-vít nhận được sự ủng hộ của họ.
• Từ A-đu-lam đến “đồn”. (ISa 22:4b).
Sau khi Đa-vít tìm được nơi an toàn cho ba mẹ mình, ông trở về A-đu-lam và sau đó dẫn đội quân của mình đến “đồn”, những nhà nghiên cứu Kinh Thánh nghĩ đồn nầy ở tại Masada, gần Biển Chết, cách A-đu-lam khoảng 35 dặm về phía tây nam. Từ Hy-ba-lai mesuda có nghĩa là “đồn lũy”, và có thể là một chổ ẩn núp tự nhiên trong đồng vắng. Đa-vít sống trong nhiều “đồng vắng” khác nhau (ISa 23:14)để bảo vệ chính mình và những người của mình, cũng để đánh lừa Sau-lơ và những tai mắt của ông ta. Nhưng Tiên tri Gát cảnh báo rằng đồn lũy trong đồng vắng không an toàn và gợi ý cho Đa-vít nên trở về Giu-đa, nên ông lại chuyển chổ ở đến rừng Hê-rết nằm trong vùng lân cận với hang đá A-đu-lam. Hê-rết có nghĩa là “bụi cây”.
Tiên tri Gát có xuất hiện một lần nữa trong đoạn kể về cuộc đời của Đa-vít. Chính tiên tri nầy đã truyền sứ điệp của Đức Chúa Trời cho Đa-vít sau khi Đa-vít kiểm tra dân số (IISa 24:11-19; ISu 21:9-19) và giúp Đa-vít thành lập ban nhạc trong đền thờ của Đức Chúa Trời (IISu 29:25). Ông ta có viết một quyển sách về triều đại của Đa-vít (ISu 29:29). Sau đó, thầy tế lễ A-bia-tha tránh được cuộc tàn sát các thầy tế lễ tại Nóp mà sau-lơ ban hành và gia nhập với Đa-vít, như vậy vua có sẵn hai người bên cạnh mình, một tiên tri và một thầy tế lễ.