top of page

I SA-MU-ÊN (2)

KINH THÁNH

CỰU-ƯỚC

THỂ LOẠI

Các Sách Lịch-Sử (Cựu-ước) (12)



8. ĐA-VÍT TRONG CẢNH THA HƯƠNG (ISa 20:1-22:33)


Đa-vít...

...từng bị chỉ trích và bị cho là bốc đồng vì ông rời Ra-ma và Sa-mu-ên, bạn mình, sang Ghi-bê-a để bàn bạc với Giô-na-than. Nhưng Đa-vít biết rằng kinh nghiệm xuất thần của Sau-lơ sẽ sớm kết thúc và tấm lòng của ông ta lại vẫn không thay đổi. Sau-lơ đã hứa với Giô-na-than rằng ông sẽ không giết Đa-vít (ISa 19:6), nhưng ông ta đã 4 lần vi phạm lời hứa ấy (c.20-24), nên cách khôn ngoan nhất là Đa-vít phải tránh mặt Sau-lơ và bỏ trốn. Với Đa-vít, ở lại Ghi-bê-a không phải là sự rèn luyện đức tin; đó là hành động liều lĩnh, ngạo mạn và cũng chỉ khiêu khích Đức Chúa Trời mà thôi. Kịch tính trong những đoạn nầy có liên quan đến 4 nhân vật:Giô-na-than, au-lơ, Đa-vít và Đô-e.


1. Giô-na-than - một người bạn chân thành (ISa 20:1-23)

Trong tất cả tác phẩm văn chương, Đa-vít và Giô-na-than nổi bật như những tấm gương về những người bạn hết lòng vì nhau. Giô-na-than gặp tình huống khó khăn hơn vì ông vừa muốn trung thành với vua cha vừa muốn là người bạn thân với vị vua sẽ kế vị. Mâu thuẩn trong hoàng tộc, đặc biệt là trong gia đình, là một trong những khó khăn nhất mà chúng ta phải đối diện trong đời sống đức tin (Mat 10:34-39), nhưng Chúa Cứu Thế kêu gọi chúng ta sống hết lòng cho Ngài và ý muốn của Ngài.


Bàn bạc (ISa 20:1-10,18-23).

Đa-vít gặp Giô-na-than ở một nơi gần Ghi-bê-a và liền đối chất người bạn thân của mình bằng một câu hỏi quan trọng: “Tôi đã làm chi, tội ác tôi là gì? Tôi đã phạm tội chi cùng cha anh, mà người toan hại mạng sống tôi?” Đa-vít không hề vi phạm bất kỳ luật lệ nào của vua, không phản nghịch, cũng không vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng Sau-lơ muốn trừ khử ông. Đa-vít biết rằng sau-lơ là người hay ganh tị, ông ta muốn giữ ngai vàng cho mình và truyền ngôi cho hậu duệ của ông, hưng Đa-vít tin rằng Đức Chúa Trời sẽ phế Sau-lơ trong thời điểm và cách thức mà Ngài chọn (ISa 26:7-11). Đa-vít rất quý mến Giô-na-than và không muốn làm đau lòng bạn mình khi chỉ trích cha của ông ta, nhưng đây là vấn đề rất quan trọng liên quan đến sự sống và cái chết.


Câu trả lời của Giô-na-than có vẻ rất ngây thơ, đặc biệt khi xét qua lời tuyên bố của Sau-lơ trong ISa 19:1, và thái độ của ông ta ở Ra-ma. Sau-lơ đã phóng giáo về phái Đa-vít ít nhất 3 lần (ISa 10:1-11:15; ISa 19:9-10), và ông ta sai ba toán quân đến vây bắt Đa-vít, và cuối cùng đích thân Sau-lơ đến Ra-ma để thực hiện mục đích của mình. Giô-na-than cần bao nhiêu bằng chứng nữa mới thừa nhận rằng cha mình là người điên cuồng muốn giết vị vua được xức dầu của Đức Chúa Trời? Giô-na-than sai lầm khi nghĩ rằng mối quan hệ của mình với cha thân mật hơn nó vốn có và rằng Sau-lơ sẽ giải bày tâm sự với mình, nhưng kết quả cho thấy ông đã sai, vì Sau-lơ thậm chí còn tìm cách giết cả Giô-na-than!


Đa-vít bắt bẻ lý luận của Giô-na-than; ông nói rằng điều hợp lý nhất mà Sau-lơ có thể làm là không cho con trai đầu lòng của ông ta biết mọi chuyện. Sau-lơ biết Giô-na-than và Đa-vít rất thân nhau và Giô-na-than sẽ đau lòng nếu biết được ý định thật sự của Sau-lơ. Vấn đề trở nên nghiêm trọng đến nỗi Đa-vít không thể tin tưởng vào những gì Sau-lơ nói với Giô-na-than. “Chỉ còn một bước cách tôi và sự chết mà thôi” (ISa 20:3). Điều nầy đúng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, vì đã 3 lần Đa-vít tránh được mũi giáo của vua.


Giô-na-than hứa sẽ giúp theo bất kỳ cách nào mà Đa-vít gợi ý, và Đa-vít gợi ý một phép thử đơn giản để biết tâm tư thật của Sau-lơ. Theo thông lệ mỗi gia đình Do-thái đều có tổ chức tiệc vào ngày lễ trăng mới (Dân 10:10; Dân 28:11-15; Thi 81:3), và Sau-lơ nghĩ rằng Đa-vít sẽ đến dự. Nếu con rể ông và là vị anh hùng trong đội quân không đến dự, thì đó là điều sỉ nhục cho vua cũng như cho cả họ tộc, nên sự vắng mặt của Đa-vít sẽ giúp thấy rõ thái độ thật sự của Sau-lơ đối cùng Đa-vít. Nếu Sau-lơ nổi giận, thì lời nhận xét của Đa-vít là đúng, nhưng nếu Sau-lơ bênh vực cho Đa-vít và không đặt nặng vấn đề, thì Giô-na-than đúng. Vấn đề duy nhất trong kế hoạch nầy là Giô-na-than phải nói dối rằng Đa-vít phải về Bết-lê-hem để dự tiệc cùng gia đình. Đa-vít sẽ trốn ngoài đồng và chờ đợi Giô-na-than báo tin cho ông biết có nên trốn đi hay không.


Làm thế nào để Giô-na-than có thể báo tin cho Đa-vít? (ISa 20:10). Ông không tin tưởng một đầy tớ nào để sai đi báo tin, nên dù có nguy hiểm ra sao, ông cũng sẽ đích thân làm việc đó. Ông nghĩ ra một kế hoạch đơn giản là bắn 3 mũi tên về hướng Đa-vít đang trốn (câu 20). Giô-na-than có thể nhờ một đứa bé giúp ông và trong cách nầy ra hiệu được cho Đa-vít và ông biết nên làm gì sau đó. Nếu các do thám của Sau-lơ có mặt lúc đó, ọ cũng không hiểu được chuyện gì đang xảy ra.


Kết ước. (ISa 20:11-17).

Từ câu 11-23, Đa-vít im lặng trong khi Giô-na-than nhắc lại kết ước mà họ đã lập với nhau (ISa 18:1-4). Giô-na-than còn thề và hứa rằng báo tin cho Đa-vít vào ngày thứ 3 của yến tiệc, nên Đa-vít sẽ biết được vua thân tình hay giận dữ. Giô-na-than bỏ qua sự khủng hoảng trước mặt để đối phó với những sự kiện trong tương lai. Ông biết rằng đến một ngày Đa-vít sẽ lên ngôi vua, và ông cầu xin Chúa ban ơn cho triều đại của Đa-vít. Trong kết ước của họ, họ thống nhất với nhau rằng Giô-na-than sẽ làm quan tể tướng bên cạnh vua Đa-vít (ISa 23:16-18), và Đa-vít hứa sẽ không làm hại nhà của Giô-na-than. Cụm từ “sự nhân từ của Đức Giê-hô-va” (ISa 20:14) xuất hiện trong II Sa-mu-ên 9, trong đó mô tả sự quan tâm đầy tình yêu thương của Đa-vít đối với Mê-phi-bô-sết, con trai khuyết tật của Giô-na-than.


Giô-na-than tái xác nhận lời thề của mình với Đa-vít và cả nhà Đa-vít (ISa 20:16), ông cũng yêu cầu Đa-vít tái xác nhận lời thề. Không có đề cập đến sự dâng tế lễ (Sa 15:1-21) cũng không có bản kết ước vì tình yêu thương mà hai người dành cho Đức Giê-hô-va và cho nhau đã đủ để ràng buộc họ trong kết ước nầy. Giô-na-than đã đem lại nhiều niềm vui và sự khích lệ cho Đa-vít trong suốt những năm tháng khó khăn nầy, nhưng ý của Đức Chúa Trời không muốn ông vĩnh viễn có mối quan hệ với Sau-lơ và gia đình Sau-lơ, vì họ thuộc về một chi phái không thích hợp và là đại diện cho một nền quân chủ bị khước từ và lên án. Đa-vít không bao giờ có một người cùng nhiếp chính vì Giô-na-than đã bị giết trong chiến trận (ISa 31:1-2), Đa-vít không chấp nhận Mi-canh con gái của Sau-lơ làm vợ và nàng đã qua đời mà không có con (IISa 6:16-23). Nếu Mi-canh có con, hẳn sẽ gây ra sự rắc rối trong dòng dõi hoàng gia.


2. Sau-lơ vị vua thù hằn (ISa 20:24-42)

Trong ngày đầu tiên của yến tiệc, Đa-vít trốn đằng sau tảng đá và chờ tín hiệu của Giô-na-than, vì cũng có thể vua vui vẽ đón ông trở về.


Sự vắng mặt của Đa-vít. (ISa 20:24-29).

Luôn lo sợ người khác tấn công, Sau-lơ ngồi sát vách, và Áp-ne ở bên cạnh vua, Giô-na-than ngồi đối ngang vua cha. Chỗ của Đa-vít ở bên cạnh Giô-na-than bỏ trống, nhưng vua không nói gì về điều đó, và nghĩ rằng Đa-vít không thánh sạch nên không thể dự lễ trong ngày đó. Yến tiệc nầy chủ yếu dùng những của lễ thù ân trong ngày trăng mới nên ai không thánh sạch sẽ không được tham dự (Le 7:20-21). Có lẽ Đa-vít lỡ đụng vào vật chi ô uế, ay ông có quan hệ tình dục với vợ mình (Le 15:16-18). Nếu vậy, thì ông phải tách mình ra khỏi những người khác trong ngày đó, tắm rữa, thay đồ và có thể đến dự vào ngày hôm sau.


Nhưng ngày thứ hai khi mọi người có mặt đông đủ thì Đa-vít lại vắng mặt, điều nầy khiến Sau-lơ nghĩ rằng con rể ông vắng mặt vì một lý do đặc biệt nào đó hơn là vì sự ô uế theo lễ nghi. Một người ô uế có thể được thoát khỏi sự ô uế đó trong vòng một ngày, nhưng Đa-vít đã vắng mặt hai ngày. Là người hay nghi ngờ về bất cứ điều gì có vẻ bất thường, Sau-lơ đã hỏi Giô-na-than lý do Đa-vít vắng mặt, và với thái độ khinh miệt ông gọi Đa-vít là “con trai Y-sai” thay vì phải gọi bằng cái tên mà lúc nầy rất nổi tiếng. Sau đó, Sau-lơ cố làm bẻ mặt thầy tế lễ A-hi-mê-léc khi gọi ông ta là “con trai A-hi-túp” (ISa 22:11-12).


Lúc nầy Giô-na-than nói dối với vua cha và sau đó mọi chuyện không đúng như ông nghĩ. Giô-na-than không nói cha Đa-vít nhưng nói anh của Đa-vít gọi Đa-vít về nhà. Có lẽ Giô-na-than hy vọng cha mình sẽ dễ chấp nhận hơn khi nghe anh của Đa-vít, một người lính trong quân đội của ông, gọi Đa-vít về. Giô-na-than đã dùng một động từ có nghĩa là “vội về thăm một chút” để Sau-lơ không nghĩ Đa-vít về thăm nhà hầu có thời gian tập trung lực lượng giành lấy ngai vàng.


Cơn giận của Sau-lơ. (ISa 20:30-34).

Khi sự hằn thù chất chứa trong lòng, thì lời oán ghét sẽ ra nơi miệng (Mat 12:34-35). Sau-lơ có lẽ nghĩ đến sự sỉ nhục mà Đa-vít gây ra cho mình vì đã vắng mặt, và càng suy nghĩ, ông càng điên tiết. Nhưng thay vì tấn công Đa-vít, Sau-lơ đã tấn công chính con trai mình! Nếu tại Ra-ma Đức Giê-hô-va không can thiệp, Sau-lơ có thể đã giết chết Đa-vít trước mặt thầy tế lễ Sa-mu-ên (ISa 19:22-24), và giờ đây ông mắng nhiếc con trai mình ngay trong bữa tiệc thiêng liêng trọng đại nầy!


Một tràng chửi rủa của Sau-lơ có vẻ miệt thị vợ của ông, nhưng nếu hiểu đúng thì lời của ông đang chỉ trích con trai và xem nó như kẻ thấp hèn nhất trong số những kẻ thấp hèn. Theo Sau-lơ, Giô-na-than làm bạn với Đa-vít chẳng khác nào phản bội lại vua cha và vì vậy không phải là con trai ông nữa, vì con trai Sau-lơ không bao giờ phản bội cha mình. Như vậy, Giô-na-than đang phỉ báng mẹ của mình và buộc bà tội ngoại tình, vi phạm luật pháp của Môi-se, và là người đàn bà hư hỏng. Vì Giô-na-than giúp Đa-vít mà không bảo vệ ngai vàng cho vua cha, ông đã làm xấu hổ cho mẹ mình giống như lột trần bà trước công chúng. Bà đã sinh Gô-na-than để kế vị cho cha, và giờ đây Gô-na-than khước từ ngai vàng vì con trai của Y-sai. Vua hẳn đã hét lên, “Ngươi không phải con trai ta! Ngươi là đứa con hoang!”


Sau-lơ quá quan tâm đến việc bảo vệ cái vương quốc mà Đức Chúa Trời đã tước khỏi tay ông. Đức Chúa Trời đã cho thấy rõ rằng không có đứa con nào của Sau-lơ được thừa hưởng ngai vàng và Đa-vít sẽ là vua được Đức Chúa Trời lựa chọn, nên Sau-lơ đang tranh chiến với ý muốn của Đức Chúa Trời và muốn Giô-na-than hợp tác. Sau-lơ nhận ra con trai ông biết chỗ Đa-vít đang lẫn trốn và sai con trai đi giết Đa-vít. Khi Giô-na-than phản đối vua cha và không tuân theo lệnh vua, Sau-lơ đã phóng giáo vào con trai ông! Giô-na-than rời bàn ăn trong giận dữ và nhịn ăn cả ngày hôm đó.


Tín hiệu báo động của Giô-na-than. (ISa 20:35-42).

Giô-na-than chờ đến ngày hôm sau rồi dắt một đầy tớ trẻ ra đồng như thể ông đi tập bắn cung. Như đã hứa với Đa-vít, ông bắn ba mũi tên (c.20), trong số đó ông sẽ bắn một mũi đi xa để cậu bé chạy ra xa nhặt tên và ông có thể la lớn nói chuyện với cậu bé. Nhưng lời ông nói với cậu bé đó lại có ý nghĩa đối với Đa-vít, “Hãy đi mau, chớ dừng lại!” khi cậu bé đem mũi tên trở về, Giô-na-than trao cho nó cung tên và bảo nó đi về thành còn mình thì chạy đi gặp Đa-vít.


Đây không phải là lần gặp mặt cuối cùng của hai người (ISa 23:16-18), nhưng chắc chắn là lần chia tay rất cảm động. Cả hai đều khóc, nhưng Đa-vít khóc nhiều hơn. Đa-vít không biết ông sẽ phải tha hương bao lâu và biết đâu sẽ không còn gặp lại người bạn thân thiết của mình nữa. Người phương Đông không xấu hổ khi khóc và ôm hôn khi gặp mặt hoặc chia tay nhau (Sa 31:55; Cong 20:37). Lời chúc bình an của Giô-na-than khích lệ Đa-vít rất nhiều. Cả hai cùng nhắc lại lời kết ước của họ, và biết rằng Đức Giê-hô-va nghe lời của họ và nhìn thấu tấm lòng của họ. Đa-vít đi 3 dặm đường đến thành Nóp, là thành của các thầy tế lễ, và Giô-na-than trở về Ghi-bê-a và tiếp tục chức vụ của mình trong đội quân của vua cha.


Mười năm sau, quân Phi-li-tin giết chết Sau-lơ, Giô-na-than và hai em trai người ngoài chiến trường (ISa 31:1-6).


3. Đa-vít một kẻ lưu vong đầy hy vọng (ISa 20:24-42) (ISa 21:1-22:5)

Khi Đa-vít trốn đến Nóp, đó là điểm khởi đầu cho 10 năm lưu vong của ông (ISa 21:1-29:11). Kinh Thánh không ghi lại hết tất cả những trải nghiệm của Đa-vít trong thời gian nầy, nhưng lịch sử cho chúng ta thấy được ông là người có đức tin và gan dạ. Dù rất khó xác định được bối cảnh của mỗi bài thi thiên, nhưng rất có thể những năm lánh nạn của Đa-vít được phản ánh trong những Thi-thiên chương 7,11-13,16-17,22,25,31,34-35,52-54,56-59,63-64,142-143; Thi 18:1-50 là lời ngợi khen của ông khi Đức Chúa Trời cho ông chiến thắng các kẻ thù.

Thật ngạc nhiên khi những bài thi thiên mang tính khích lệ đã được sáng tác trong khoảng thời gian ông chịu nhiều đau khổ nhất, và nhờ những bài đó dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay có thể được mạnh mẽ và kiên cường vượt qua những thử thách. Chúa của chúng ta trích Thi 22:1 và Thi 31:5 khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự.


Đa-vít đến Nóp. (ISa 21:1-9).

Đây là thành của các thầy tế lễ cách phía nam Ghi-bê-a 3 dặm; có một lều tạm tại Ghi-bê-a. Hòm giao ước vẫn còn ở trong nhà của A-hi-na-đáp tại Ki-ri-át-Giê-a-rim, ISa 7:1) Vì tình thân giữa mình với Sa-mu-ên, Đa-vít biết ông có thể tìm được nơi trú ẩn an toàn và sự giúp đỡ của các tiên tri ở đó; và ông muốn trọn đời được ở trong nhà của Đức Chúa Trời (Thi 27:4-6). Thấy Đa-vít đến một mình, thầy tế lễ cả A-hi-mê-léc hoảng sợ;A-hi-mê-léc là cháu của Hê-li và được biết với tên A-hi-gia (ISa 14:3). Ông ta biết danh tiếng và địa vị của Đa-vít và ngạc nhiên vì Đa-vít đến mà không có đoàn tùy tùng đi theo.


Nếu từ “Vua” trong ISa 21:2 chỉ về Giê-hô-va Đức Chúa Trời (ISa 20:42), thì Đa-vít không nói đối, vì Đa-vít thật đang làm công việc Chúa và sẽ tiếp tục như vậy cho đến cuối đời. Nếu đây là câu cố tình nói dối, thì Đa-vít đang bày mưu thay vì tin cậy Đức Chúa Trời.

Có thể động lực của ông là để bảo vệ thầy tế lễ cả khỏi bị Sau-lơ tra xét sau nầy, nhưng kế hoạch đó đã thất bại; vì Sau-lơ đã giết A-hi-mê-léc và tất cả các thầy tế lễ ngoại trừ A-bia-tha, vì họ bị kết tội thông đồng với kẻ thù của ông ta, là Đa-vít. Tuy nhiên, rất có thể Đa-vít gọi một số người của ông đến gặp ông tại hang đá A-đu-lam (ISa 22:2). Chúng ta biết điều nầy vì Đa-vít có nhắc đến sự thanh sạch của những người đó.


Đa-vít cần thức ăn, nên A-hi-mê-léc đem cho ông những ổ bánh thánh lấy từ đền tạm, bánh nầy chỉ dành cho các thầy tế lễ (Le 24:5-9). Nếu dân sự đem dâng 1/10 cho đền tạm như luật pháp quy định, chắc chắn đã có nhiều đồ ăn hơn, nhưng đây là thời điểm đời sống thuộc linh rất sa sút trong xứ nầy. Chúa Giê-xu dùng biến cố nầy để dạy về sự vâng lời thật và sự nhận thức thuộc linh (Mat 12:1-8).

Đa-vít cũng hỏi về cây gươm của Gô-li-át, mà vì lý do nào đó đã được cất giữ trong đền tạm bên cạnh ê-phót (Xu 28:4-13). Đa-vít giờ đây có thể tiếp tục hành trình của mình với đồ ăn cho sức khoẻ ông và với thanh gươm để bảo vệ ông.


Sự có mặt của Đô-e trong đền tạm là điều khó hiểu. Ông ta là người Ê-đôm vì vậy không phải là con của giao ước, nhưng ông “bị cầm lại tại trước mặt Đức Giê-hô-va” trong đền tạm (ISa 21:7). Có lẽ ông đã cải đạo và theo niềm tin của người Do-thái để có việc làm nầy. Là người làm đầu những kẻ chăn chiên cho Sau-lơ, Đô-e có thể không thánh sạch để dâng của lễ cho Đức Chúa Trời. Đa-vít biết rằng Đô-e sẽ báo lại cho Sau-lơ những gì ông ta thấy ở Nóp và điều đó đồng nghĩa với sự rắc rối (ISa 22:9).


Từ Nóp đến Gát. (ISa 21:10-15).

Sự sợ hãi đối với Sau-lơ tạm thời thay thế cho đức tin nơi Đức Chúa Trời, và Đa-vít chạy trốn 23 dặm nữa đến Gát, thành phố của kẻ thù, chính là quê huơng của Gô-li-át người khổng lồ Phi-li-tin (ISa 17:4). Đây không phải là một nơi an toàn, nhưng sau khi thấy Đô-e tại Nóp, Đa-vít nghĩ nếu ông ở lại một nơi nào đó trong Y-sơ-ra-ên có thể sẽ gây nguy hiểm cho cuộc sống của các bạn của ông, nên ông quyết định ra khỏi xứ mình.

Hơn nữa, xứ Phi-li-tin sẽ là nơi cuối cùng Sau-lơ nghĩ đến khi tìm bắt ông. Danh tiếng của Đa-vít đến trước ông, nên vua và các cận thần ở đó thấy sự có mặt của ông không phải là một điềm lành. Đa-vít đã giả làm người điên để trốn thoát bình yên. Nếu Đa-vít chờ đợi ý muốn của Đức Chúa Trời, ông đã không rơi vào cảnh khó khăn như vậy.


Thi 34:1-22 và Thi 56:1-13 được sáng tác qua kinh nghiệm lạ lùng nầy. Thi 56:1-13 là lời nài xin Chúa giúp đỡ khi gặp tình thế nguy hiểm, và Thi 34:1-22 là bài hát ngợi khen sau khi Đức Chúa Trời giải cứu ông. Ý được nhấn mạnh trong Thi-thiên 56 nói về sự phỉ báng của các lãnh đạo Phi-li-tin khi họ tìm cách để vua của họ xử lý Đa-vít. Chắc chắn Đa-vít rất lo sợ trong thời gian ông ở Gát, nhưng ông giữ vững đức tin nơi Đức Chúa Trời vì luôn ghi nhớ lời hứa của Ngài, (Thi 56:10-11) và quyền của Đức Chúa Trời trên cuộc đời ông (Thi 56:12). Theo Thi thiên 34, Đa-vít đã cầu nguyện rất nhiều khi ở Gát (Thi 34:4-6,17-22), và Đức Giê-hô-va đã lắng nghe lời cầu xin của ông. Đa-vít biết rằng kính sợ Đức Chúa Trời chế ngự được mọi sự sợ hãi khác (Thi 34:9-16). Đức Giê-hô-va thật nhân từ đối với Đa-vít, Ngài giúp ông bình an trở về xứ mình. Dù chúng ta cảm thấy thế nào, ù hoàn cảnh có ra sao, nơi an toàn nhất cho chúng ta là ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời.


 Từ Gát đến hang đá A-đu-lam. (ISa 22:1-2).

Đấy là một nơi rất nổi tiếng ở Giu-đa, cách Gát 10 dặm và cách Bết-lê-hem, quê hương của Đa-vít, khoảng 15 dặm. Ít nhất Đa-vít cũng đang ở một nơi quen thuộc, và những binh lính từ Giu-đa và Bên-gia-min đến nhập chung với người của ông (ISu 12:16-18). Chính tại đây Đa-vít muốn uống nước từ giếng tại Bết-lê-hem và ba trong số những người lính dũng cảm của ông đã phá vòng vây của kẻ thù để lấy nước giếng đó cho ông (IISa 23:13-17). Biết được người của mình phải trải qua khó khăn nguy hiểm thế nào để đem được nước giếng về, Đa-vít đã rảy nước đó ra như một của lễ dâng cho Đức Chúa Trời. Những người lãnh đạo vĩ đại không lợi dụng những người theo mình để làm lợi cho chính mình, cũng không xem thường những sự hy sinh của họ.


Tất cả gia đình của Đa-vít đều đến ở với ông tại hang đá, điều nầy có nghĩa là các anh của Đa-vít đã rời bỏ đội quân của Sau-lơ và trở thành những người lánh nạn giống như Đa-vít. Họ biết rằng Đa-vít là vua được xức dầu của Đức Chúa Trời, nên họ buộc mình phải gắn liền với tương lai của dân tộc. Những người thấy nơi Đa-vít một triển vọng tốt đẹp về một vương quốc thành công, nên họ đã đến với Đa-vít: những người vì Sau-lơ mà trở nên khốn cùng, những người mắc nợ, những người bất mãn vì Sau-lơ làm cho đất nước suy tàn (ISa 14:29). Và Đa-vít có 400 lính mạnh mẽ, con số đó tăng lên đến 600 (ISa 23:13; ISa 25:13; ISa 27:2; ISa 30:9). Một số lính mạnh dạn và cả vị lãnh đạo của họ được kể tên trong IISa 23:8-39 và ISu 11:10-41 Sau-lơ có một đội quân gồm 3000 người được tuyển chọn (ISa 26:2)


Những người lãnh đạo chân chính thường triệu tập những người giỏi nhất, những người đó nhìn thấy trong người lãnh đạo có những phẩm chất mà họ ngưỡng mộ. Những người xung quanh Đa-vít không bao giờ được lịch sử chú ý nếu họ không gắn bó với Đa-vít, giống như các môn đồ của Chúa Giê-xu sẽ chết mà không ai biết đến nếu họ không bước đi với Ngài.

Đức Chúa Trời không gọi những người vĩ đại và mạnh mẽ đi theo Ngài, nhưng gọi những người có tấm lòng hướng về Ngài và hết sức vâng theo ý muốn của Ngài (ICo 1:26-31). Nhóm người ít ỏi của Đa-vít đại diện cho tương lai của dân tộc, và ơn phước của Đức Chúa Trời luôn ở trên họ. Lịch sử cho thấy chính những người tân tụy còn lại nầy là những người giữ vị trí then chốt cho công việc Chúa trên đất sau nầy.


Thi 57:1-11 và Thi 142:1-7 có liên quan đến thời gian Đa-vít ở tại hang đá A-đu-lam, và cả hai bài trên đều nhấn mạnh đức tin của Đa-vít nơi Đức Chúa Trời; ông tin rằng Ngài là nơi ẩn náu của ông. khi Đa-vít cầu nguyện, hang đá trở thành đền thánh, ởi đức tin ông nhận thấy nơi đó có chỗ nương náu dưới đôi cánh của Chê-ru-bin trong nơi Chí Thánh (Thi 57:1).

Đối với người khác đó là một hang đá, nhưng đối với Đa-vít đó là một đền thánh, vì Đức Giê-hô-va là nơi nương náu của ông (Thi 142:5). Đối với Đa-vít, sống lưu vong giống như sống trong ngục vậy (c.7), nhưng ông tin Đức Chúa Trời nhìn thấy ông. Ông biết Ngài sẽ giữ lời hứa Ngài và trao ngai vàng cũng như vương quốc cho ông.


Từ A-đu-lam đến Mô-áp. (ISa 22:3-4a).

Đa-vít rất yêu quý ba mẹ mình và tìm cách bảo vệ họ, nên ông xin vua Mô-áp che chở họ cho đến khi thời gian lưu vong của ông trôi qua. Người Mô-áp là con cháu của Lót từ mối quan hệ loạn luân với con gái lớn của ông ta (Sa 19:30-38). Trong thời Môi-se, người Mô-áp không hòa thuận với người Y-sơ-ra-ên (Phu 23:3-6), nhưng Ru-tơ, bà cố của Đa-vít, xuất thân là người Mô-áp (Ru 4:18-22), và điều nầy giúp Đa-vít nhận được sự ủng hộ của họ.


Từ A-đu-lam đến “đồn”. (ISa 22:4b).

Sau khi Đa-vít tìm được nơi an toàn cho ba mẹ mình, ông trở về A-đu-lam và sau đó dẫn đội quân của mình đến “đồn”, những nhà nghiên cứu Kinh Thánh nghĩ đồn nầy ở tại Masada, gần Biển Chết, cách A-đu-lam khoảng 35 dặm về phía tây nam. Từ Hy-ba-lai mesuda có nghĩa là “đồn lũy”, và có thể là một chổ ẩn núp tự nhiên trong đồng vắng. Đa-vít sống trong nhiều “đồng vắng” khác nhau (ISa 23:14)để bảo vệ chính mình và những người của mình, cũng để đánh lừa Sau-lơ và những tai mắt của ông ta. Nhưng Tiên tri Gát cảnh báo rằng đồn lũy trong đồng vắng không an toàn và gợi ý cho Đa-vít nên trở về Giu-đa, nên ông lại chuyển chổ ở đến rừng Hê-rết nằm trong vùng lân cận với hang đá A-đu-lam. Hê-rết có nghĩa là “bụi cây”.


Tiên tri Gát có xuất hiện một lần nữa trong đoạn kể về cuộc đời của Đa-vít. Chính tiên tri nầy đã truyền sứ điệp của Đức Chúa Trời cho Đa-vít sau khi Đa-vít kiểm tra dân số (IISa 24:11-19; ISu 21:9-19) và giúp Đa-vít thành lập ban nhạc trong đền thờ của Đức Chúa Trời (IISu 29:25). Ông ta có viết một quyển sách về triều đại của Đa-vít (ISu 29:29). Sau đó, thầy tế lễ A-bia-tha tránh được cuộc tàn sát các thầy tế lễ tại Nóp mà sau-lơ ban hành và gia nhập với Đa-vít, như vậy vua có sẵn hai người bên cạnh mình, một tiên tri và một thầy tế lễ.

-ISa 21:1-15; xem giải nghĩa ISa 20:24-42.

-ISa 22:1-5;xem giải nghĩa ISa 20:24-42.


4. Đô-e người đầy tớ dối lừa (ISa 22:6-23)

Bây giờ chúng ta được biết tại sao tác giả đề cập đến Đô-e trong câu 7, vì ông đóng vai một nhân vật quan trọng trong vở kịch. Ở đâu người chủ có mưu đồ, ở đó đầy tớ đầy mưu mẹo, vì chúng thường bắt chước theo người. Đây là những người sẽ làm bất cứ điều gì để chủ mình hài lòng và ban thưởng cho.

Đô-e là người như vậy.

Đây là cơ hội tốt nhất để tận dụng cái ông biết được làm vua vui lòng và nâng cao giá trị mình trước mặt các viên quan khác. Việc ông buộc tội vua được xức dầu của Đức Chúa Trời không làm ông áy náy, hay việc ông nói dối về điều thầy tế lễ đã nói và làm. Không ngạc nhiên khi Đa-vít xem thường Đô-e và bày tỏ sự khinh ghét đó trong Thi 52:1-9


Sự nóng giận của vua. (ISa 22:6-10).

Vua Sau-lơ, với giáo trên tay (ISa 18:10 ISa 19:9 ISa 26:7-22), lập một tòa án dưới bóng cây liễu gần Ghi-bê-a khi ông hay tin về chổ trốn gần đây nhất của Đa-vít. Chỗ nầy có thể là cái đồn trong đồng vắng gần Biển Chết (ISa 22:4-5), điều nầy giải thích tại sao Đức Chúa Trời cho Gát biết rằng Đa-vít và những người theo ông nên trở về Giu-đa.

Sau-lơ lợi dụng biến cố nầy như một cơ hội để nhiếc móc các quan chức của mình, tất cả những người đó đều xuất thân từ chi phái Bên-gia-min. Luôn luôn nghi ngờ bị các quan chức mình lừa gạt, Sau-lơ nhắc họ nhớ rằng chính ông là vua và vì vậy là người duy nhất có thể ban thưởng cho sự tận tình phục vụ của họ. Đa-vít triệu tập được những người sẳn sàng liều mình vì ông, nhưng Sau-lơ dùng của cải và sự đe dọa để ràng buộc binh lính của mình.

Sau-lơ biết chắc các quan chức của ông đang lập mưu chống lại ông vì họ không cho ông biết việc Đa-vít và Giô-na-than kết ước sẽ cùng nhau chăm lo cho đất nước. Những người phản bội nầy đang thông đồng làm việc cho Đa-vít vì Đa-vít hứa sẽ ban thưởng cho họ. Hơn nữa, Sau-lơ tin chắc Đa-vít đang có âm mưu giết ông!


Đô-e đã nói thật khi ông kể đã gặp Đa-vít tại Nóp và thầy tế lễ cả A-hi-mê-léc đã trao cho Đa-vít thức ăn và thanh gươm của Gô-li-át. Nhưng không có bằng chứng nào cho thấy rằng thầy tế lễ cả ấy đã dùng U-rim và Thu-mim để xác định ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho Đa-vít (Xu 28:30; Dân 27:21). Gươm của Gô-li-át được đặt cạnh ê-phót, và Đô-e có thể đã thấy thầy tế lễ cả cầm ê-phót nơi tay, nhưng đây không phải là bằng chứng cho thấy A-hi-mê-léc đã thay Đa-vít cầu hỏi Đức Chúa Trời. Tuy vậy, lời nói dối nầy nâng giá trị Đô-e và hạ thấp Đa-vít.


Vụ xử bất hợp pháp. (ISa 22:11-15).

Từ Ghi-bê-a đến Nóp không xa, nên Sau-lơ lập tức có trát mời thầy tế lễ cả, hết gia đình ông ta, và các thầy tế lễ khác. Sau-lơ không gọi thầy tế lễ cả bằng tên, nhưng giống như Đô-e đã gọi ông ta là “con trai A-hi-tút”. Tên A-hi-mê-léc có nghĩa là “anh em vua” và Sau-lơ không muốn điều đó, trong khi “A-hi-tút” có nghĩa là “anh em tốt”. Rõ ràng vua đang làm tất cả những gì có thể để cách chức thầy tế lễ cả nầy, trong khi ông nên xưng tội lỗi mình và mong chờ sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Sau-lơ thật đã xử án trái luật, và kết án với 4 tội trạng: A-hi-mê-léc đã cho Đa-vít bánh, cung cấp vũ khí cho Đa-vít, nài xin Đức Chúa Trời ở cùng Đa-vít, và vì vậy là “người thông đồng” với Đa-vít để lập mưu giết Sau-lơ chiếm lấy ngai vàng. Chưa bao giờ bệnh hoang tưởng của Sau-lơ thể hiện cách rõ ràng và nguy hiểm hơn lúc nầy.


Khi A-hi-mê-léc nghe những lời buộc tội nầy, trước hết ông bảo vệ Đa-vít rồi mới thuật lại những việc mình đã làm. Ông nhắc vua nhớ rằng Đa-vít là một đầy tớ trung thành, Giô-na-than, con trai của vua cũng từng nói như vậy (ISa 19:4-5). Cả đất nước đều ca ngợi Đa-vít như một chiến binh gan dạ và trung thành.

Hơn nữa, Đa-vít là con rể của vua, một thành viên của hoàng thất, và là người luôn tuân lệnh vua. Đa-vít còn được nhiều người trong hoàng thất quý mến và còn là quan trưởng của vua. Nếu Đa-vít muốn giết vua, Đa-vít đã có rất nhiều cơ hội thực hiện trước khi ông bỏ trốn. Có lẽ lời của thầy tế lễ cả nhắc Sau-lơ rằng chính Sau-lơ là người đang tìm cách giết Đa-vít, không phải Đa-vít tìm cách giết Sau-lơ.


A-hi-mê-léc phủ nhận việc dùng ê-phót để hỏi ý Chúa cho Đa-vít. Thật vậy, ông đã nói dứt khoát rằng trước giờ ông chưa từng làm như vậy. Làm như vậy khác nào vì Đa-vít mà từ bỏ Sau-lơ! A-hi-mê-léc kết thúc lời bào chữa bằng câu khẳng định dứt khoát rằng ông và gia đình ông không biết gì về sự thông đồng như bị cáo buộc và vì vậy không thể nào dự phần vào đó.


Án phạt bất công. (ISa 22:16-19).

Không có bằng chứng nào cho thấy A-hi-mê-léc phạm tội để nhận án tử hình nhưng Sau-lơ tuyên án A-hi-mê-léc và cả nhà ông phải chết. Dù cho thầy tế lễ cả ấy có phạm tội đi nữa, mà thật ra là không có, thì cũng trái luật khi vì tội của người cha mà phạt cả nhà (Phu 24:16).

Tội của họ là biết Đa-vít bỏ trốn nhưng không báo cho Sau-lơ. Những điều mà Sa-mu-ên cảnh báo về nền quân chủ đều đã xảy ra thậm chí còn hơn thế nữa (ISa 8:10-18). Sau-lơ có một nhà nước mà trong đó mọi người đều là trinh thám và phải báo lại cho vua bất cứ khi nào biết có người chống lại luật lệ của vua. Y-sơ-ra-ên đã đòi hỏi một vua “như các dân khác”, và đây là điều họ nhận được!


Những cận thần của vua không chịu xử tử các thầy tế lễ. (Điều nầy nhắc chúng ta nhớ lại lúc Sau-lơ ra lệnh giết Giô-na-than vì vi phạm lời thề của ông, và họ đã không vâng theo ông (ISa 14:41-46). Sau-lơ biết rằng Đô-e sẵn sàng làm điều ác, nên cho phép ông ta giết A-hi-mê-léc và cả nhà ông, tất cả có 85 thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. Là kẻ nói dối và dã tâm (Gi 8:44), Đô-e đã làm hơn những gì vua ra lệnh; ông đi đến Nóp và giết sạch tất cả dân chúng và súc vật ở đó.


Trong khi vụ xử bất công và án phạt trái luật nầy làm chúng ta bối rối, chúng ta phải ghi nhớ rằng nó là một phần trong hoạch định của Đức Chúa Trời. Vụ tàn sát các thầy tế lễ là sự ứng nghiệm một phần lời tiên tri không vui vì Đức Chúa Trời đã hứa sẽ thay nhà Hê-li bằng nhà Xa-đốc (IVua 2:26-27; IVua 4:2).


Thầy tế lễ được bảo vệ. (ISa 22:20-23).

Người còn sống sót duy nhất qua cuộc tàn sát tại Nóp là A-bia-tha, con trai của A-hi-mê-léc, là người sau nầy trở thành thầy tế lễ cả. ông biết rằng đi theo Đa-vít là hy vọng duy nhất, nên ông trốn đến Kê-i-la nơi Đa-vít đang đóng trại (ISa 23:6).

Không rõ Đa-vít chuyển từ Hê-rết đến Kê-i-la khi nào, nhưng có thầy tế lễ cả và ê-phót là một trợ giúp rất lớn cho Đa-vít và người của ông. Trong 400 người có Gát là tiên tri, A-bia-tha là thầy tế lễ, và Đa-vít làm vua; và họ đang đánh trận cho Đức Giê-hô-va Đa-vít đã nhận sự khiển trách vì vụ tàn sát các thầy tế lễ, nhưng ông cũng nhận trách nhiệm bảo vệ A-bia-tha an toàn.


Đa-vít giờ đây thật sự là người sống ngoài vòng pháp luật, nhưng Đức Giê-hô-va luôn ở cùng ông và sẽ có một ngày ông trở thành vị vua vĩ đại của Y-sơ-ra-ên.





9. ĐA-VÍT NGƯỜI GIẢI CỨU DÂN SỰ (ISa 23:1-24:23)


Trong chương thứ hai của cuốn sách Up from Slavery (Thoát cảnh nô lệ), Booker T. Washington viết : “Tôi đã học được rằng sự thành công ít khi được đo bằng địa vị mà một người có được nhưng bằng những trở ngại mà người đó đã trải qua khi anh ta cố gắng đạt được thành công.” Được đánh giá theo tiêu chuẩn này - và nó là tiêu chuẩn đúng đắn - Đa-vít là một người rất thành công.


Trong mười năm Đa-vít bị xem là kẻ sống ngoài vòng pháp luật, nhưng ông đã chiến đấu cho Đức Chúa Trời và giải cứu dân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi kẻ thù mình. Đa-vít đã sống với đức tin lớn đang khi sống lưu vong nơi xứ người và luôn luôn sống trong tình cảnh trốn chạy, lúc này ông nhận biết Chúa là Đấng sẽ giải cứu và ban cho mình ngôi vua như đã hứa. Lễ lên ngôi của Đa-vít không chỉ quan trọng cho dân Y-sơ-ra-ên, mà nó còn quan trọng cho tất cả con cái Đức Chúa Trời trong mọi độ tuổi. Theo dòng dõi của Đa-vít thì sau cùng Chúa Cứu Thế sẽ đến, đó là Chúa Giê-xu ở thành Na-xa-rét, cháu Đa-vít, là Con của Đức Chúa Trời.


1. Đa-vít giải cứu Kê-i-la khỏi dân Phi-li-tin (ISa 23:1-6)

Kê-i-la giáp ranh với Giu-đa, độ mười hai dặm từ thành Gát của Phi-li-tin và cách vài dặm về phía đông của Hê-rết, là nơi mà Đa-vít đang đóng trại (ISa 22:5). Với vị trí như vậy nên rất gần với quân thù, Kê-i-la vô cùng nguy hiểm, đặc biệt là đang trong mùa thu hoạch và quân Phi-li-tin đang tìm và cướp lương thực. Nếu Sau-lơ lo bảo vệ dân sự mình, ông ta sẽ gửi một đạo binh đến hổ trợ Kê-i-la nhưng trong thâm tâm Sau-lơ vẫn còn ý nghĩ tìm kiếm và giết Đa-vít.


Những do thám của cả hai, Đa-vít và Sau-lơ hoạt động tích cực trong vùng, và các do thám của Đa-vít báo cáo rằng quân Phi-li-tin đang tấn công Kê-i-la. Đa-vít cầu khẩn ý muốn của Chúa, một thói quen mà hầu hết các vị tướng chỉ huy cần phải noi theo, đó là dẹp bỏ những toan tính cá nhân mà tìm cầu ý muốn của Chúa. Làm thế nào mà Đa-vít nhận ra ý của Chúa khi mà thầy tế lễ A-bia-tha chưa về đến trại quân? (ISa 23:6) Tiên tri Gát ở bên Đa-vít (ISa 22:5), và rất có thể ông ta đã cầu nguyện xin sự hướng dẫn với Chúa. Đến khi A-bia-tha đến với bộ trang phục thầy tế lễ, Đa-vít hỏi A-bia-tha về ý muốn Chúa khi quyết định đi giải cứu dân Kê-i-la. (c.9 ISa 25:32; ISa 26:11,23)


Có một lần Đa-vít nhận được dấu hiệu từ Đức Chúa Trời, ông huy động lực lượng binh lính nhưng họ không mấy nhiệt tình với kế hoạch của Đa-vít. Đáng khen ngợi những ai chiến đấu với Phi-li-tin, là kẻ thù truyền kiếp, nhưng binh lính không muốn chiến đấu với kẻ thù là chính anh em người Do-thái của họ.

Điều gì xảy ra nếu Sau-lơ có hành động chống trả Đa-vít và quân lính của ông? Đạo quân 600 người sẽ bị bao vây giữa hai đạo binh! Không để quân lính mình bị áp lực dưới tay Sau-lơ, Đa-vít tìm cầu đến Chúa lần thứ hai, và một lần nữa Đa-vít được bảo phải giải cứu dân sự thành Kê-i-la. Không phải sự thiếu đức tin của Đa-vít sinh ra nan đề, vì ông có đức tin nơi Đức Chúa Trời, nhưng lo sợ rằng tinh thần của binh lính chưa thật sẵn sàng cho chiến trận.


Đức Chúa Trời là Đấng Thành Tín trong lời hứa Ngài, vì Ngài sẽ giúp Đa-vít không chỉ tàn sát Phi-li-tin, kẻ xâm lăng, mà còn cướp chiến lợi phẩm có giá trị từ họ. Đa-vít di chuyển đến Kê-i-la, là thành có tường bao bọc, là nơi mà A-bia-tha đã đi trong lúc đó ông ta mang theo bộ áo lễ quý giá và trốn khỏi Nóp (ISa 22:20-23 ISa 23:6).

Nhưng những do thám của Sau-lơ làm ở đó điều tra và biết hiện giờ Đa-vít đang ở Kê-i-la, tại cổng tường thành. Sau-lơ ra lệnh binh lính của mình đi đến thành Kê-i-la giải nguy cho thành, nhưng mục đích chính là truy bắt Đa-vít và Sau-lơ tin chắc Đa-vít không trốn thoát. Sau-lơ không chỉ tàn sát các thầy tế lễ ở Nóp, mà ông ta còn tiêu diệt dân sự của mình tại thành Kê-i-la và đổ lỗi cho Đa-vít. Dân chúng bị cai trị dưới tội ác và lòng căm thù, giờ họ nhanh chóng nhận ra những gì không đúng và bắt đầu sĩ nhục triều đình của Sau-lơ.


2. Đa-vít giải cứu mình và quân lính khỏi Sau-lơ (ISa 23:7-28)

Trong lúc phục vụ dưới quyền Sau-lơ, Đa-vít đã tránh khỏi ngọn giáo của Sau-lơ, tìm cách trốn khỏi sự hung bạo của ba đạo binh lớn của Sau-lơ. Bây giờ Đa-vít trốn chạy với mạng sống mình với hơn sáu trăm quân lính phải được bảo vệ, cho nên Đa-vít phải thận trọng trước những gì mà Sau-lơ đã làm và những nơi mà ông ta đã đến. Vì vậy Đa-vít phải chịu ẩn náu trong hang tối.


Từ Kê-i-la đến đồng vắng Xíp. (ISa 23:7-18).

Các do thám của Đa-vít nhanh chóng cho biết rằng Sau-lơ có kế hoạch đến Kê-i-la, Đa-vít tìm cầu sự chỉ dẫn của Chúa cùng với sự trợ giúp của A-bia-tha. Sự lo lắng lớn nhất của Đa-vít là không biết dân thành Kê-i-la có ủng hộ Đa-vít và quân lính mình để đối phó với Sau-lơ hay không.

Từ khi Đa-vít giải cứu thành phố nầy khỏi tay người Phi-li-tin, chúng ta nghĩ dân trong thành sẽ biết ơn và che chở cho Đa-vít, nhưng trường hợp ở đây không phải thế Đức Chúa Trời nhắc nhở Đa-vít phải ra khỏi thành ngay vì dân chúng chuẩn bị bắt Đa-vít giao nộp cho Sau-lơ.

Chắc rằng dân Kê-i-la lo sợ nếu họ không hợp tác với Sau-lơ, thì ông ta sẽ tàn sát họ giống như đã tàn sát cư dân tại Nóp. Đa-vít nhớ lại ông đã đau lòng thế nào vì thảm cảnh tại Nóp, và ông không muốn một thành phố nào bị tàn sát vì mình. Đa-vít dẫn binh lính ra khỏi thành và họ “cứ đi từ nơi này sang nơi khác” (câu 13) cho đến khi định cư tại đồng vắng Xíp (c.14).


Khi Sau-lơ nhận được tin Đa-vít đã rời khỏi Kê-i-la, ông ta ra lệnh ngưng tấn công, nhưng vẫn tìm kiếm Đa-vít trong nhiều ngày và quên lãng nhiệm vụ quan trọng của mình. Hơn nữa, Đức Chúa Trời ở cùng Đa-vít và Ngài bảo đảm rằng Sau-lơ không bao giờ tìm được Đa-vít. Xíp là một thị trấn cách mười lăm dặm về hướng đông nam của Kê-i-la, được gọi là “đồng vắng của Kê-i-la”, đúng hơn là “đồng vắng của Giu-đa”.

Đây là vùng đất khô cằn và nằm cạnh bên Biển Chết, đó chính là nơi mà đức tin và dũng khí Đa-vít chịu thử thách. Khi người ta đến viếng thăm Đất Thánh sẽ thấy vùng đồng vắng này, và họ vô cùng kinh ngạc vì sao Đa-vít đã có thể sống sót lâu ngày ở tại đây?.


Người bạn yêu mến của Đa-vít là Giô-na-than liều mình đến thăm Đa-vít tại nơi đồng vắng này và “làm cho người vững lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời” (c.16). Đây là lần gặp sau cùng mà Thánh Kinh viết. Và Giô-na-than không còn được đề cập lần nào nữa kể từ ISa 31:2, là chỗ mà Thánh Kinh nói về cái chết của Giô-na-than ngoài chiến trận.

Giô-na-than hầu như không thể ngờ rằng mình sẽ bị sát hại trước khi Đa-vít lên ngôi, vì Giô-na-than đã từng nói với Đa-vít về tương lai của họ sau này, và tái lập kết ước mà cả hai đã lập (ISa 18:8; ISa 20:31). Giô-na-than tin chắc rằng Đa-vít được Đức Chúa Trời chọn làm vua theo thánh ý của Ngài, và Đa-vít luôn luôn được giải cứu khỏi âm mưu truy bắt của Sau-lơ. Giô-na-than đã thừa nhận cha của mình đã có quá nhiều mưu đồ.


Từ Xíp đến đồng vắng Ma-ôn. (ISa 23:19-28).

Dân chúng tại Xíp không làm theo chương trình của Đức Chúa Trời; mối quan tâm hàng đầu của họ là được bảo vệ khỏi cơn thịnh nộ của vua Sau-lơ. Họ biết Đa-vít đang ẩn náu ở đâu, chính thế họ sẽ thông báo tin quan trọng này cho Sau-lơ nhằm lấy lòng vua mình.

Điều này minh chứng rằng họ trung thành với Sau-lơ chớ không phải Đa-vít. Sau-lơ vẫn đang dùng người của mình triệt để nhằm cho họ cảm thấy luôn có lỗi với ông ta (c.21 ISa 22:8), và chính điều này làm cho bản tính con người trở nên độc ác tàn nhẫn. Trong khi bản tánh của Sau-lơ ngày càng tồi tệ cách nhanh chóng, thì Chúa khuôn đúc Đa-vít thành một người can đảm cho Ngài.


Sau-lơ tuy có khá nhiều binh lính giỏi nhưng ông nhận biết rằng mình không thể tìm Đa-vít nơi đồng vắng của Giu-đa nếu không có sự hướng dẫn rõ ràng, vì thế ông ta đã hỏi dân Xíp những thông tin thật tường tận. Sau-lơ muốn biết chính xác nơi ẩn náu của Đa-vít tại vùng núi đá và các hang động mà Đa-vít thường lui tới, ông ta cũng muốn biết con đường dẫn tới nơi ẩn náu đó. Một khi Sau-lơ biết được nơi đó, chắc chắn sẽ cho truy lùng khắp vùng và sẽ nhanh chóng tìm ra kẻ thù mình. Nhưng vì Đa-vít cũng có các do thám nên đã biết những gì mà Sau-lơ làm, và Đức Chúa Trời che chở Đa-vít cho tới khi lên ngôi vua. Đa-vít ra khỏi Xíp và đi độ ba dặm về phía nam đến vùng đồng vắng Ma-ôn.


Sau-lơ không chịu thua nên đuổi theo Đa-vít đến đồng vắng Ma-ôn, và hai đạo binh gặp nhau tại “hòn đá”, một vùng núi nổi tiếng trong vùng. Sau-lơ chia hai đạo binh thành hai đi vòng hai phía, tạo nên thế gọng kềm nhằm tiêu diệt gọn ghẽ Đa-vít và 600 binh lính của Đa-vít. Nhưng Chúa can thiệp và đem quân Phi-li-tin đến tấn công một vài vùng của Giu-đa, nên Sau-lơ và binh lính phải đối phó với sự tấn công của Phi-li-tin. Điều này cho thấy rằng Ngài luôn giữ Lời Hứa.

Để ghi nhớ cho sự giải cứu này, người Do-thái đặt tên vùng này là “Sela Hammahlekoth”, có nghĩa là “Hòn Đá Phân Rẽ”. Người Do-thái còn nhắc đến ý nghĩa “hòn đá phẳng”, là “hòn đá nhẵn”, trong cách gọi khác là “hòn đá của sự mài nhẵn”. Đa-vít nhanh chóng đi từ Ma-ôn đến Ên-ghê-đi, gần Biển Chết, là nơi an toàn và có đầy đủ sự cần dùng.


Đa-vít viết trong Thi 54:1-7 về sự kiện này, đó là lời cầu xin Đức Chúa Trời cứu giúp và được Ngài nhậm lời. Đa-vít biết các quần thần trong triều đình đều nịnh bợ Sau-lơ, dân sự giống như Đô-e, họ cùng nói không đúng về Đa-vít, và làm cho mọi người nghĩ rằng Đa-vít muốn chiếm đoạt ngôi vua. Thật đáng ghê tởm cho người nịnh nọt Sau-lơ để trông chờ được ban thưởng, nhưng họ chỉ chuốc lấy sự thất bại mà thôi vì họ đang trung thành vị vua phạm nhiều sai phạm.

Các viên tướng rất ưa thích sự tâng bốc và tôn thờ chủ nghĩa này, đó là những người cấp thấp hơn liên kết với nhau nhắm vào mục tiêu duy nhất là được tiền mua chuộc của các vị tướng ban cho. Cho nên không bao giờ họ tin cậy cấp lãnh đạo mình và không bao giờ tìm thấy được ý muốn của Chúa để làm sáng danh Ngài. Đa-vít đã xây dựng quần thần của mình trở nên “người phi thường” (ISu 21:1-30; IISa 24:1-25), nhưng Sau-lơ lôi kéo quần thần của mình ngày càng trở nên kém đạo đức. “Ấy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được” (Mat 7:20)


3. Đa-vít giải cứu Sau-lơ khỏi sự chết (ISa 24:1-22)

Đa-vít đã có lời cầu nguyện trong Thi 54:1-7 rằng Chúa sẽ giải oan cho mình và tạo cơ hội chứng minh với Sau-lơ rằng mình không phải là người đang tìm cách cố gắng lật đổ ngôi vua. Sau mọi việc đó, Sau-lơ không công nhận Đa-vít làm vua, nhưng ông ta nhận mình là quan trưởng giỏi và là cha vợ của Đa-vít, và bất chấp mọi tội ác mà Sau-lơ đã gây nên, Đa-vít chưa từng xem ông ta như là kẻ thù mình. Đức Chúa Trời đã đáp trả lời cầu xin của Đa-vít khi Sau-lơ và các đạo binh truy tìm ông tại Ên-ghê-đi.


 Đa-vít bị cám dỗ. (ISa 24:1-4).

Đa-vít và quân lính mình trú ẩn tại một hang động rất lớn trong số các hang có tại đó, và Sau-lơ chọn một cái hang tốt để nghỉ ngơi. Luật Pháp Môi-se rất nghiêm khắc trong vấn đề bảo vệ sức khỏe, đặc biệt là trong trại quân (Dân 23:12-14).

Mỗi một người lính bắt buộc rời xa trại quân để giải quyết nhu cầu vệ sinh cá nhân, và anh ta phải mang theo cái xẻng nhỏ cùng với vũ khí để đào một hố rồi lấp lại những gì đã thải ra. Điều này có nghĩa là Sau-lơ đang ở khá xa trại quân và sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của ông ta trong vấn đề vệ sinh. Sau-lơ quan tâm đến nhu cầu cá nhân và ông ta không quan tâm có nguy hiểm hay không. Sự thật mà nói, chính Sau-lơ đã bước vào vùng mà Đa-vít đang trú ẩn, điều này chứng tỏ các do thám của Sau-lơ vô dụng, nhưng nói khác hơn là chính Chúa đã can thiệp vào để giúp Đa-vít.


Vì Đa-vít và quân lính mình phải ẩn trốn sâu bên trong hang, họ lặng lẽ bàn luận về sự việc xảy ra. Họ tin vào Đa-vít, cho rằng sự hiện diện của Sau-lơ trong hang là cơ sở mà Lời Hứa của Chúa ban cho Đa-vít, đó là Ngài sẽ phó Sau-lơ vào tay Đa-vít. Nhưng Đức Chúa Trời nói điều ấy khi nào? Có phải họ muốn nhắc lại lời của Sa-mu-ên nói cùng Sau-lơ trong ISa 15:26-29, hay là lời của Chúa trong ISa 16:1?

Có lẽ ý kiến đến từ lời nói của Giô-na-than trong ISa 20:15, là những điều mà người ta trực tiếp nghe được. Có thể một số người trong 600 binh lính bàn luận về những vấn đề liên quan đến bản thân họ, vì tương lai của họ gắn liền với tương lai của Đa-vít, và hiển nhiên họ đã có những kết luận sai lầm. Đa-vít chưa từng có kế hoạch giết Sau-lơ, điều mà Đa-vít chắc chắn là Chúa sẽ mang ông ra khỏi mọi nghịch cảnh theo đường lối và chương trình của Ngài (ISa 26:9-11).


Binh lính của Đa-vít cho rằng Sau-lơ rất may mắn vì lòng khoan dung của họ (ISa 24:4; Xu 21:13), cả hai Đa-vít và Sau-lơ cùng đồng tình như thế (ISa 24:10,18). Nhưng đó không phải là kết quả. Câu hỏi lớn đặt ra : “Chúa muốn chúng ta tận dụng cơ hội này như thế nào?”.

Binh lính của Đa-vít nhìn nhận cơ hội hiếm có này là dịp để trả thù, trong khi Đa-vít nhìn nhận cơ hội này là dịp để thể hiện lòng khoan dung và minh chứng rằng mình vô tội. Đức Chúa Trời ban cho Đa-vít một cơ hội nhằm đáp trả lời cầu khẩn mà Đa-vít muốn minh chứng (Thi 54:1). Đa-vít đã lẻn đến gần quần áo mà Sau-lơ xếp chúng sang một bên, cắt lấy đường viền của áo choàng, rồi trở về hang đá của mình. Sau-lơ khi ra khỏi hang mà vẫn chưa biết điều gì đã xảy ra.


Sự thuyết phục của Đa-vít. (ISa 24:5-7).

Đa-vít khôn ngoan trong lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời để giải thích vụ việc nầy, vì luật pháp có răn dạy “Người chớ giết người” (Xu 20:13).

Tàn sát quân thù trên chiến trận hoặc tự hủy hoại bản thân là một chuyện, nhưng ám sát vua mà không suy xét thì là một việc khác. Đa-vít đã từng nhắc nhở binh lính mình rằng Sau-lơ là người được Đức Chúa Trời xức dầu, là không một ai trong dân Y-sơ-ra-ên có thể ra tay giết hại Sau-lơ. Dân Y-sơ-ra-ên không rủa sả những người lãnh đạo mình, vì rủa sả một người trong số họ là phạm tội tương tự với tội phỉ bánh danh Đức Giê-hô-va (ISa 22:28).


Tuy nhiên, lương tâm Đa-vít cáo trách vì ông đã cắt lấy vạt áo choàng của Sau-lơ. Hành động của Đa-vít cho chúng ta thấy ba điều. Thứ nhất, đó là hành động xấc xược thiếu tôn trọng Sau-lơ, nhưng nó cũng tượng trưng cho hành động trả đủa không giống điều Sau-lơ đã làm khi cắt áo choàng của Sa-mu-ên sau khi A-ma-léc thất bại (ISa 15:27-28).

Qua việc cắt vạt áo choàng của Sau-lơ, Đa-vít công khai ngai vàng đã được ban cho mình. Sau cùng, mảnh vải là bằng chứng rằng Đa-vít đã không chủ tâm giết chết và cho thấy những người tâng bốc, nịnh bợ Sau-lơ đều sai lầm. Binh lính Đa-vít có thể giết Sau-lơ trong tích tắc, nhưng vị tướng khôn ngoan của họ đã can ngăn họ. Những nhà lãnh đạo cần phải biết làm sáng tỏ mọi vấn đề và đối phó với những vấn đề đó thật đúng đắn.


Sự xác minh của Đa-vít. (ISa 24:8-15).

Khi Sau-lơ đã đi khỏi hang xa đủ để an toàn, Đa-vít ra khỏi hang và gọi Sau-lơ. Khi dùng đến danh xưng “Hỡi vua, chúa tôi!” và cung cách cúi mặt xuống đất, Đa-vít muốn nhấn mạnh những gì mình nói cùng binh lính và để cho Sau-lơ biết rằng mình không phải là người dấy loạn. Nếu bạn không thể kính trọng người nam và nữ đương chức thì bạn phải cho họ thấy bạn kính trọng chức vụ của họ. (Ro 13:1-7; IPhi 2:13-17).

Đa-vít đã tỏ lòng kính trọng vì gọi Sau-lơ là “chúa tôi” (ISa 24:6), “đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va” (c.6,10), “chúa tôi” (c.8,10), “vua” (c.8,14), và “cha” (c.14). Đa-vít dũng cảm công khai lộ diện cũng như cho Sau-lơ và quân lính Sau-lơ biết rằng các do thám tài giỏi của Sau-lơ chẳng nên tích sự gì. Với vạt áo cắt được từ áo choàng Sau-lơ như một bằng chứng, Đa-vít đã thêm lời biện hộ cho mình về những lời vu cáo của quần thần của Sau-lơ.

Lập luận không thể bác được: Đa-vít có cơ hội để giết Sau-lơ và không thực hiện việc đó. Đa-vít tự nhận có nhiều người thúc giục giết vua, nhưng Đa-vít có lời quở trách họ. Đa-vít không muốn phạm một lỗi nào theo vết xe đổ của Sau-lơ, cũng như không muốn làm điều gì vi phạm đến luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng Sau-lơ thì phạm tội khi cố tìm và giết Đa-vít. “Chúa sẽ phân xử giữa chúng ta”, Đa-vít nói, “và sẽ minh chứng cho rằng triều đình, thần dân của vua đều sai lạc, nhưng tôi sẽ không giơ tay lên mà chống đối vua.” Sau-lơ đã hy vọng sẽ kiểm soát chiến trận với Phi-li-tin (ISa 18:17), hoặc là sẽ khống chế binh lính Đa-vít (ISa 19:20-21) rồi giết chết Đa-vít, nhưng mọi chuyện đều thất bại. Sau cùng, Sau-lơ chết bởi chính tay của con trai mình trên chiến trận (ISa 31:1-6)


Đa-vít viết lên một câu tục ngữ mà ai cũng biết, đó là “Sự ác do kẻ ác ra” (ISa 24:13), điều này có ý nghĩa đơn giản là tính cách con người bộc lộ qua tư cách đạo đức. Đa-vít đã không giết hại vua cho thấy tính cách Đa-vít không phải là kẻ nổi loạn hoặc là kẻ gây án. Nhưng đồng thời, Đa-vít có một suy nghĩ mạnh mẽ rằng tính cách Sau-lơ đáng ngờ vì ông ta muốn giết chết con rể của mình! Như vậy, điều gì đã khiến cho Sau-lơ thật sự muốn truy tìm Đa-vít? Đơn giản là con bọ chét sẽ nhảy tìm một con chó khác, nếu con chó này chết! (con chó và bọ chét đến cùng nhau). Từ “chó chết” là từ nhục mạ trong thời đó (ISa 17:43; IISa 3:8; IISa 9:8; IISa 16:9), như vậy Đa-vít đã tỏ ra khiêm nhường trước mặt Chúa và vua Sau-lơ. Đa-vít gần như khẳng định lời biện hộ của mình lần thứ hai (ISa 24:12,15), Chúa là Đấng phân xử đúng và biện hộ cho những tôi tớ có đức tin nơi Ngài (Thi 35:1; Thi 43:1; IPhi 2:23)


Lời xác nhận của Đa-vít. (ISa 24:16-22).

Một lần nữa, Sau-lơ tỏ ra bối rối khi cất cao giọng gọi Đa-vít, là người đã nhắc lại khá nhiều cho Sau-lơ nhớ lại người con rể của mình. Sau-lơ khóc lóc như phản ứng bởi cảm xúc giống như trước, nhưng tất cả không bao giờ cho thấy sự hối lỗi hoặc sự thay đổi bên trong.


Sau-lơ mô tả ba mức độ có thể xảy ra trong cuộc đời: mức độ thiêng liêng, mà tại đó chúng ta lấy ơn trả oán; mức độ con người, mà tại đó chúng ta ăn miếng trả miếng; và mức độ quỷ quyệt, mà tại đó chúng ta lấy oán trả ơn. Sau-lơ thừa nhận rằng Đa-vít là một người tốt, bởi vì không sát hại mình, là người lấy ơn trả oán. Nhưng chính Sau-lơ đã bị chế ngự bởi các đạo binh của ma quỷ và đã làm ác cho một người, mà người này có cơ hội tiêu diệt mình.

Trong lúc này, Sau-lơ thú nhận rằng ông đã biết Đa-vít sẽ là người thay thế ông làm vua (ISa 23:17), và sẽ cũng cố đất nước mà Sau-lơ đã dày xéo lên. Điều mà Sau-lơ lo lắng là danh tiếng và con cháu mình, không có ích cho đời sống thuộc linh của dân chúng, ông khiến cho Đa-vít thề rằng sẽ không tiêu diệt dòng dõi mình khi Đa-vít lên ngôi. Đa-vít đã thiết lập kết ước với Giô-na-than (ISa 20:14-17,42)và Đa-vít sẽ thực hiện đúng theo lời mình đã hứa như đã hứa với Sau-lơ. Thật là bi thảm, tội lỗi mà Sau-lơ gây nên đã giết chết cả gia đình ông; chỉ còn con của Giô-na-than còn sống, là người bị tàn tật tên Mê-phi-bô-sết, là con nuôi của Đa-vít. (IISa 9:1-12)


Bởi vì Đa-vít nhận biết sự kêu gọi của Đức Chúa Trời và tin vào lời hứa của Ngài, ông có lòng dũng cảm trước Sau-lơ và binh lính hùng mạnh Sau-lơ. Đó là sự can đảm thánh đến từ lòng nhận biết Chúa. Rồi sẽ đến một ngày Đa-vít được thừa nhận chính nghĩa, và Đức Giê-hô-va đoán phạt những ai chống đối Ngài. Sau-lơ trở lại Ghi-bê-a, nhưng mặc dù Sau-lơ đổ nước mắt và cảm động khi nói thì ông ta vẫn cứ tiếp tục truy bắt Đa-vít (ISa 26:2,21).


Đa-vít đã thắng nhiều trận chiến, nhưng một trong những chiến thắng lịch sử đó là chiến thắng lạ thường ở trong hang đá, khi ông kiềm chế bản thân cũng như ngăn cản binh lính mình giết Sau-lơ.

 (Ch 16:32). Đây là tấm gương rất tốt cho tất cả chúng ta noi theo, nhưng đặc biệt cho những người mà Đức Chúa Trời tin cậy giao phó chức vụ lãnh đạo.





10. MỘT NGƯỜI NỮ KHÔN NGOAN VÀ MỘT VỊ VUA NGU DẠI (ISa 25:1-26:25)


Những mối quan hệ cá nhân là một phần quan trọng trong đời sồng của chúng ta, và quan trọng nhất là mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời. Nếu trong thời thơ ấu bạn và tôi có ghi nhớ tất cả những người quan trọng, là những người đã đến và đi trong cuộc đời chúng ta, chúng ta hẳn sẽ ngạc nhiên vì sự đa dạng trong vai trò mà họ thể hiện.

Vì để Chúa ra ngoài bức tranh của cuộc đời mình, nhà triết học Eric Hoffer nói rằng những người khác là “nhà soạn kịch và đạo diễn sân khấu của cuộc đời chúng ta: họ đóng khung chúng ta trong một vai diễn và chúng ta sẽ diễn vai đó có được hay không tùy mình.” Nhưng chúng ta không được để Chúa ra ngoài viễn cảnh chúng ta! Sau hơn hết, Ngài là Đấng viết lên Thánh Kinh cho chúng ta, chọn lấy các vai diễn, và đặt để chúng ta vào trong từng màn kịch mà Ngài đã có chương trình trước.

Nếu chúng ta noi theo những hướng dẫn của Chúa, đời sống chúng ta được thỏa lòng hoàn toàn, nhưng nếu chúng ta tỏ ra bội nghịch thì mục đích Chúa dành cho chúng ta bị sai lệch và sẽ trở nên một bi kịch.


Hai chương này viết lại bốn sự kiện cho thấy mối liên quan của Đa-vít với bốn dạng người mà Đa-vít đã gặp phải.


1. Đa-vít mất một người bạn (ISa 25:1)

Cái chết của Sa-mu-ên, vị tiên tri và quan xét của dân Y-sơ-ra-ên được nhắc đến hai lần trong sách I Sa-mu-ên. Cả hai địa chỉ đều nói rằng cả dân sự thương khóc và cùng chôn cất người. Dĩ nhiên không phải ai trong Y-sơ-ra-ên cũng tham dự tang lễ, nhưng trưởng lão các chi phái đều có mặt để bày tỏ lòng kính trọng đối với con người vĩ đại này.

Đức tin và sự khích lệ của Sa-mu-ên đã giúp dân tộc này biến chuyển từ sự bất hòa chính trị trở thành một thể chế quân chủ thống nhất ở mức độ nào đó. Từ khi Sau-lơ và Sa-mu-ên phân rẽ nhau trong hơn 7 năm, dường như vị vua này không tham dự tang lễ nhưng ông vẫn đòi hỏi sự giúp đỡ của Sa-mu-ên thậm chí sau khi vị tiên tri ấy đã chết (đoạn 28)


Dân Y-sơ-ra-ên đã không luôn vâng theo Sa-mu-ên khi ông còn sống, nhưng họ đã tôn vinh ông cách long trọng khi ông chết, đó là lẽ tự nhiên của con người (Mat 23:29-31). Tuy nhiên, Sa-mu-ên không chuẩn bị chu đáo phần mộ cho mình tại bất kỳ một nơi trang trọng nào, thay vào đó ông yêu cầu được chôn tại quê nhà ở Ra-ma, có lẽ trong vườn hay trong sân nhà. Bởi sự kiêu căng, vua Sau-lơ chuẩn bị lăng mộ cho mình ở Carmel (ISa 15:12), còn Sa-mu-ên, người thật sự đáng được biết đến, đã khiêm tốn mong muốn được an nghỉ tại quê nhà.


Đa-vít biết rằng sẽ rất nguy hiểm nếu ông tham dự đám tang tại Ra-ma, vì biết Sau-lơ cài do thám ở đây cho nên ông đã lui về đồng vắng. Đa-vít đã bày tỏ tình yêu và sự tôn kính của ông đối với Sa-mu-ên khi vị tiên tri ấy còn sống nên giờ đây ông không cần xuất hiện công khai. Sa-mu-ên đã xức dầu cho Đa-vít làm vua Y-sơ-ra-ên thường bảo vệ Đa-vít và cho ông những lời khuyên. Tuyệt vời biết bao khi một thánh nhân của thế hệ đi trước dành thời gian cho những vị lãnh đạo kế nghiệp và giúp họ chuẩn bị để phục vụ Đức Chúa Trời và dân sự Ngài, và thật khích lệ biết bao khi những người lãnh đạo trẻ tuổi biết lắng nghe và học hỏi.


Sa-mu-ên là dạng quân sư và cố vấn thuộc linh mà mỗi lãnh đạo đều cần bởi vì ông đặt mối quan tâm của Chúa lên trước. Đối với Sa-mu-ên, làm đẹp lòng Chúa quan trọng hơn việc trở nên nổi tiếng trước con người. Ông đau lòng biết bao nhiêu khi dân Y-sơ-ra-ên cầu xin một vị vua, ông vâng theo mạng lệnh của Chúa xức dầu cho Sau-lơ. Chẳng bao lâu sau ông đã thất vọng vì cớ Sau-lơ, nhưng sau đó Đức Chúa Trời hướng dẫn ông xức dầu cho Đa-vít. Sa-mu-ên qua đời với sự tin chắc rằng vương quốc đã được đặt trong tay một người tốt.


Đa-vít ở tại Ma-sa-đa (“đồn lũy”) khi Sa-mu-ên qua đời (ISa 24:22) và ông cùng tùy tùng rời đó để đến “đồng vắng Pha-ran”, cách Ma-sa-đa hơn một trăm dặm về phía nam. Có lẽ Đa-vít cảm nhận rằng mất đi sự ảnh hưởng và lời cầu nguyện của Sa-mu-ên, ông sẽ gặp thêm nhiều nguy hiểm, vì thế ông cần tránh xa Sau-lơ hơn. Vài bản dịch “Pha-ran” “Ma-ôn”, nơi ẩn náu gần biển Chết mà Đa-vít từng ở (ISa 23:24) Những sự kiện trong câu chuyện về Na-banh được tìm thấy tại Ma-ôn gần Carmel (ISa 25:2), điều đó cho thấy Ma-ôn là nơi ẩn náu của Đa-vít. Có lẽ Đa-vít chạy trốn đến Pha-ran và sau đó trở lại Ma-ôn, nhưng nếu xem xét điều kiện tự nhiên về địa thế và những khó khăn của cuộc hành trình thì ý kiến này dường như không hợp lý.


2. Đa-vít phát hiện một kẻ thù (ISa 25:2-13)

Suốt thời gian Đa-vít ở tại đồng vắng Ma-ôn (ISa 23:24) thuộc vùng phụ cận của Cạt-mên, người của ông đã trở thành một bức tường bảo vệ cho đàn gia súc của Na-banh và cũng là người chăm sóc chăm cho đàn gia súc ấy. Na-banh là một người giàu có nhưng không rộng rãi.

Khi Đa-vít trở về khu vực của Na-banh, đó là thời điểm hớt lông chiên, một ngày hội (IISa 13:23) diễn ra mỗi mùa xuân và đầu mùa thu. Đa-vít hy vọng Na-banh sẽ thưởng cho ông và đoàn tùy tùng vì sự phục vụ của họ, điều hiển nhiên họ đáng được bởi vì đã bảo vệ bầy chiên và dê của Na-banh khỏi trộm cướp thường quấy rối vào thời kỳ hớt lông chiên này.


Sự trông đợi của Đa-vít là hợp lẽ. Bất cứ ai có đến 3000 chiên và 1000 dê đều có thể dễ dàng chia xẻ vài con để nuôi sống 600 người đã mạo hiểm cả mạng sống để bảo vệ phần gia tài lớn đó. Theo phép lịch sự thông thường Na-banh có thể mời Đa-vít và tùy tùng cùng đến dự tiệc vào mùa hội hè, trong khi lòng hiếu khách là một đòi hỏi trong lễ hội này. Thật không dễ dàng chút nào để nuôi sống 600 người trong đồng vắng, nên Đa-vít gửi 10 người trẻ của mình đến giải thích hoàn cảnh và nói lên mong ước được mời dự tiệc. Nhưng Na-banh không lắng nghe.


Tính cách của Na-banh được mô tả là “keo kiệt và xấu xa” (ISa 25:3) bản NIV dịch là “gắt gỏng và bần tiện” và bản NLT dịch là “keo kiệt và gian xảo trong mọi việc” (Phải chăng ông trở nên giàu có nhờ gian xảo?) Ông xuất thân từ một chi phái của Giu-đa, gia tộc Ca-lép, một trong hai do thám thúc giục dân Y-sơ-ra-ên tiến vào đất hứa (Dân 13:1-14:45; Gios 14:6-7). Nhưng tên Ca-lép còn có nghĩa “chó”, cho nên trước giả có lẽ đã truyền đạt ý nghĩa này rất tốt. Một người bị kết án một cách đầy ác ý như thú vật mà không an toàn cho những ai tiếp xúc (ISa 25:17).

Một trong số những người hầu và chính vợ của ông gọi ông là “con trai của Beliah - người hung ác” (c.17,25) Trong tiếng Hê-bơ-rơ, Beliya’al nghĩa là “vô giá trị”, và trong Cựu-ước, nó dùng chỉ kẻ xấu, kẻ cố tình vi phạm luật pháp và từ chối làm điều lành (Phu 13:13; Cac 19:22; Cac 20:13; ISa 2:12) Trong Tân-ước, từ này còn được dùng chỉ Sa-tan (IICo 6:15)


Khi những gã trai trẻ trình bày nguyên nhân, Na-banh “mắng nhiếc họ”, bản NIV dịch “lăng mạ họ”. Tiếng Hê-bơ-rơ mô tả tiếng rít của con chim khi nó lao bổ xuống xé con mồi. Nó cũng được dùng mô tả những người lính đói khát của Sau-lơ phải lao vào cướp bóc và làm thịt gia súc (ISa 14:32; ISa 15:19). Những lời nói của ông có trong ISa 25:10-11, và dĩ nhiên đã cho thấy được tính ích kỷ, ngạo mạn và bất trị của lòng người.

A-bi-ga-in nhận ra Đa-vít là một vị vua và gọi ông là “chúa tôi”, nhưng Na-banh lại ví von Đa-vít như một người đầy tớ nổi loạn phản bội chủ mình (c. 10). Rõ ràng là Na-banh dành thiện cảm cho Sau-lơ chứ không phải Đa-vít, bằng chứng khác là ông không quan tâm đến những vấn đề thuộc linh như vợ mình. Khi bạn chú ý đến những tính cách được nhắc trong câu 11, bạn sẽ ngay lập tức nhận ra sự ngạo mạn cũng như tự cao tự đại của ông. Thậm chí ông không biết ngợi khen Chúa vì Ngài cho ông giàu có (Phuc 8:17-18; Lu 12:15-21).


Những gã trai trẻ thuật lại những lời của Na-banh cho Đa-vít, ông nổi giận và thề sẽ báo thù. Đa-vít có thể tha thứ Sau-lơ, người muốn tìm giết ông nhưng không thể tha thứ cho Na-banh, kẻ chỉ từ chối nuôi sống ông và đoàn tùy tùng. Na-banh không nhân ái và quá ích kỷ, nhưng không phạm tội đến sinh mạng; Sau-lơ ganh tỵ và đã suy sụp chỉ với mong mỏi giết một người vô tội. Cơn giận của Đa-vít đã lấy đi điều tốt nhất ông có, ông đã không ngừng lại để hỏi ý Chúa, và ông đã vội vã thỏa mãn khao khát trả thù của mình. Nếu Đa-vít thành công, ông sẽ phạm một tội trọng và chính tay mình phá hủy nhân cách và sự nghiệp mình, nhưng Chúa nhân từ đã can ngăn ông.


Những người phục vụ Đức Chúa Trời cần được sự hướng dẫn mọi lúc phòng khi quân thù thình lình tấn công và chinh phục. “Hãy tỉnh thức, vì kẻ thù như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (IPhi 5:8). Đa-vít là người tin kính Chúa và là một nhà lãnh đạo được ơn, là người tốt nhất trong số những người tốt.


3. Đa-vít lấy vợ (ISa 25:14-44)

Khi Đức Chúa Trời không được mời vào cai trị đời sống mình, gài sẽ tự bước vào và hành động. Đức Chúa Trời thấy Đa-vít đang sắp hành động một cách vội vã và ngu ngốc nên đã sắm sẵn một phụ nữ khôn ngoan và can đảm để can ngăn ông.


Kế hoạch khôn ngoan của A-bi-ga-in. (ISa 25:14-19).

Khi một gã trai kẻ ẩn danh này báo lại cách cư xử của chủ cho A-bi-ga-in, dù biết hay không anh ta cũng đang phục vụ Đức Chúa Trời. Anh ta biết mình không thể nói gì với Na-banh được, cho nên ngay lập tức chạy đến bà chủ của anh, một người phụ nữ khôn ngoan và thận trọng.Vào thời buổi ấy, cha mẹ sắp xếp việc hôn nhân cho con cái nên không có gì đáng ngạc nhiên khi một người phụ nữ khôn ngoan lại chịu kết hôn với một gã ngu ngốc.

(Đáng tiếc, điều đó vẫn thường xảy ra thời nay dù cho không còn sự can thiệp của các bậc phụ huynh nữa). Chắc chắn cha mẹ A-bi-ga-in nghĩ rằng thật may mắn biết bao khi con gái mình có thể kết hôn với một người giàu có như vậy, và nàng vâng theo mong muốn của cha mẹ mình, nhưng cuộc sống của nàng và Na-banh khá buồn tẻ. Tất cả những ham muốn của chồng nàng chỉ là tiền, thức ăn, rượu, và làm những gì ông cho là phải.


Người đầy tớ thuật lại những gì Đa-vít và tùy tùng của ông đã làm để bảo vệ những người chăn chiên và bầy gia súc, và việc Na-banh từ chối trả công cho họ như thế nào. Liệu gã trai trẻ này có biết được Đa-vít và tùy tùng của ông đang trên đường đối đầu với Na-banh, hay anh ta chỉ đơn thuần phỏng đoán nó? Có lẽ chính Đức Chúa Trời đã ban cho anh ta một trực giác đặc biệt về những nan đề sắp xảy đến. Na-banh và các đầy tớ mình đã phòng bị chống lại 400 người của Đa-vít. Nhưng nếu Đa-vít thành công trong chuyện liều lĩnh này, Sau-lơ sẽ có cái cớ cần thiết để chứng minh Đa-vít là một kẻ phản bội nguy hiểm cần phải có biện pháp mạnh loại bỏ.


A-bi-ga-in đã mang đủ lương thực cho người của Đa-vít nhưng không nói gì với chồng mình. Nàng là bà chủ trong nhà và có thể quyết định về số lương thực dự trữ thế nào cho hợp lí, thậm chí có quyền chia xẻ với người khác. Na-banh sẽ cản trở nàng dù cho nàng làm điều đó là vì ích lợi của ông. Nàng không ăn cắp của chồng, nàng chỉ trả món nợ mà ông đã từ chối trả. Chỉ vì tiếc một món tiền nhỏ, Na-banh đã ngu ngốc gây nguy hiểm cho mạng sống của mọi người trong gia đình mình, đặc biệt là chính bản thân ông.


Lời tạ lỗi khiêm nhường của A-bi-ga-in. (ISa 25:20-35).

Chỉ có Đức Chúa Trời tối cao mới có thể sắp đặt thời điểm cho Đa-vít và A-bi-ga-in, để hai phía gặp nhau. A-bi-ga-in quì xuống trước mặt Đa-vít và thừa nhận ông là chúa và vua của mình; thực tế nàng đã sử dụng 14 lần từ “chúa” trong khi nói chuyện với Đa-vít. Na-banh không bao giờ chấp nhận những lời và những hành động như vậy của nàng bởi vì ông là người ủng hộ Sau-lơ và xem Đa-vít như quân phiến loạn (c.10).

A-bi-ga-in là người nữ của đức tin vì tin rằng Đa-vít là vị vua từ Đức Chúa Trời, và nàng coi vua Sau-lơ chỉ là một người bình thường (c.29). Nàng nhanh chóng thừa nhận chồng mình chỉ là “người hung ác” (c.25, 17), ứng với cái tên – ngu ngốc, và nàng giải thích với Đa-vít rằng nàng không biết chút gì về nhu cầu lương thực của ông. Nàng chịu trách nhiệm về sự không công bằng ấy (c.24,28)


Khi nói chuyện, nàng nhắm vào mối quan hệ giữa Đa-vít và Đức Chúa Trời chứ không phải giữa ông với Na-banh, và nàng cũng đề cập đến tương lai của Đa-vít. Nhờ vậy, Đa-vít dịu đi và bắt đầu nhận ra ông đang đứng trước một người phụ nữ khác thường. Nàng chỉ cho Đa-vít thấy Đức Chúa Trời đã ngăn chặn ông báo thù, và Đa-vít thừa nhận đó là sự thật (c.32-34). A-bi-ga-in cũng thừa nhận rằng chồng nàng đáng bị trừng phạt, nhưng nàng muốn Đức Chúa Trời làm điều đó, chứ không phải vua. Thật sự, nàng đã thề nguyện rằng Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt tất cả kẻ thù của vua.


A-bi-ga-in nhắc nhở Đa-vít rằng Đức Chúa Trời đã ban cho ông “nhà … bền lâu”, cho nên ông không cần lo sợ về tương lai. Đa-vít đã được an toàn, ông được Đức Chúa Trời bao bọc trong “vòng sự sống”; những kẻ thù của ông sẽ bị ném đi như hòn đá mà Đa-vít đã dùng để giết Gô-li-át (Gie 10:18). Dù cho Sau-lơ làm đủ cách để hại Đa-vít, Đức Chúa Trời là Đấng luôn giữ lời hứa và khiến Đa-vít cai trị trên cả Y-sơ-ra-ên. Đa-vít vui mừng vì ông đã không làm vấy máu chỉ vì báo thù, cũng như vì có được ngai vàng. Đức Chúa Trời đối xử thật tốt với Đa-vít và ông còn phải sợ hãi gì nữa.


A-bi-ga-in chỉ có một yêu cầu cho bản thân: Đa-vít phải nhớ đến nàng khi ông có được vương quốc (ISa 25:31). Có phải nàng ngầm ngụ ý Đa-vít phải cưới nàng, nếu như Na-banh chết đi? Hay đơn thuần nàng nhìn xa trông rộng, thấy rằng một quả phụ như nàng sẽ có lợi nhờ tình bằng hữu với nhà vua? Có lẽ nàng muốn lưu ý Đa-vít hãy nhớ đến nàng và những lời khuyên của nàng khi ông lên ngôi để không bị cám dỗ nắm lấy hết mọi thứ trong tay mình và quên đi ý muốn của Đức Chúa Trời. Những gì đến phải đến, Đa-vít không phải đợi quá lâu sau cái chết của Na-banh để cưới nàng làm vợ.


Đa-vít chúc tụng Chúa vì trong Thánh ý, Ngài đã ngăn ông giết người, và cũng chúc phước cho A-bi-ga-in vì những lời khuyên khôn ngoan của nàng. Đa-vít thật là một người thông sáng khi lắng nghe những lời khuyên khôn ngoan (Ch 15:5 Ch 10:31-33) không giống như Sau-lơ đi nghe theo một bà đồng bóng. Đa-vít viết trong (Thi 141:5) “Nguyện người công bình đánh tôi, ấy là ơn; Nguyện người sửa dạy tôi, ấy khác nào dầu trên đầu, Đầu tôi sẽ không từ chối. Vì dẫu trong khi chúng nó làm ác, tôi sẽ cứ cầu nguyện.” Làm thế nào để chấp nhận những lời quở trách và khuyên bảo như một cách kiểm chứng mối tương giao với Đức Chúa Trời và sự sẵn sàng sống theo lời Chúa của chúng ta? Đa-vít thừa nhận sai lầm của mình, Đức Chúa Trời tha thứ và giải quyết những khó khăn giúp ông.


Cuộc hôn nhân không mong đợi của A-bi-ga-in. (ISa 25:36-44)

Na-banh đang dự tiệc thì sự đoán phạt đến thình lình! Ông đã không biết cảm tạ Chúa về những gì mà Ngài đã ban cho mình, cũng không nhận ra những ơn phước của Chúa ban cho là nhờ vợ ông có đức tin lớn dù ông là người bủn xỉn. Quan điểm của Na-banh về hạnh phúc là không cần thiết phải ngợi khen Đức Chúa Trời hay nuôi những người đói khổ, nhưng phải ăn thật no say. Na-banh chưa kinh nghiệm đức tin nhưng giống như hình ảnh Phao-lô miêu tả: “Sự cuối cùng của họ là hư mất; họ lấy bụng mình làm chúa mình, à lấy sự xấu hổ của mình làm vinh hiển, chỉ tư tưởng về các việc thế gian mà thôi” (Phi 3:19)


A-bi-ga-in khéo léo nói với chồng mình những gì mà nàng đã làm. Na-banh đã phát điên và phải nghỉ ngơi trong vòng mười ngày, sau đó Chúa cất lấy sự sống ông. Điều gì đã làm cho Na-banh phát điên? Sự tự cao và giận dữ khi biết vợ dám giúp Đa-vít ngoài sự cho phép của ông? Hay là điều đó làm cho ông ta cảm thấy nguy hiểm mà đã từng trãi, và thấy cái chết gần kề với ông và cả gia đình như thế nào? Điều gì sẽ đến nếu Sau-lơ nghe được A-bi-ga-in trở nên làm bạn với Đa-vít? Vị vua này sẽ xem Na-banh như kẻ thù địch và trừng trị những gì liên quan đến Na-banh. Dù có một hay là nhiều nguyên nhân khiến Na-banh mất khả năng chống trả, thì cuối cùng Chúa vẫn cất lấy mạng sống của ông đi.


Khi Đa-vít nghe tin về cái chết của Na-banh, ông đã ca ngợi Chúa đã báo thù cho mình và ngăn ngừa những gì mà Na-banh sắp sửa làm. Mối quan tâm hàng đầu của Đa-vít là làm vinh hiển danh Chúa và mở mang vương quốc của Ngài. A-bi-ga-in chắc rất vui vì thoát được ách của chồng mình, và nàng sẽ lấy một người khác nếu có thể. Đa-vít đã có ấn tượng với tính cách của nàng và sáng suốt khi nghĩ rằng nàng sẽ trở thành hoàng hậu tốt, vì thế Đa-vít đã sai người đến hỏi nàng làm vợ. Đây là thời cơ mà có lẽ không một phụ nữ nào muốn từ chối, nàng đã chấp thuận và nguyện rửa chân cho Đa-vít!

Cưới A-bi-ga-in, Đa-vít không chỉ có được người vợ tốt, và mà còn sở hữu những tài sản và của cải mà Na-banh để lại, Hếp-rôn là nơi mà sau nầy Đa-vít xây dựng hoàng cung của mình. (IISa 2:1-4; IISa 5:5). Đa-vít đã cưới A-hi-nô-am làm vợ rồi, vì tên của bà luôn được đặt trước tên A-bi-ga-in (ISa 27:3; ISa 30:5; IISa 2:2). A-bi-nô-am là mẹ của đứa con trai đầu lòng của Đa-vít là Am-môn và A-bi-ga-in sanh cho ông Ki-lê-áp, còn gọi là Đa-ni-ên (IISu 3:2)


Nhưng về phần người vợ thứ nhất của Đa-vít là Mi-canh, con gái Sau-lơ, là người đã trợ giúp và cứu mạng sống Đa-vít thì sao? Sau khi Đa-vít trốn chạy khỏi nhà, Sau-lơ gả nàng cho một người khác và dùng nàng như một công cụ nhằm biểu trưng sức mạnh của mình và nhằm tiêu diệt không cho Đa-vít lên ngôi. Đây là sự ly dị không hợp pháp, và Sau-lơ đã dùng vũ lực khiến Mi-canh phạm tội tà dâm. Đến khi vương triều của Đa-vít mở rộng đến chi phái Giu-đa tại Hếp-rôn thì Đa-vít mong muốn Mi-canh trở về với mình (IISa 3:13-16). Tuy thế, Mi-canh đã không còn là người vợ mà Đa-vít yêu thương như xưa, bà tỏ ra giận dữ vì khi Đa-vít chiếm được ngôi vua của cha bà. Bà chết khi sanh con. (IISa 6:16-23).


4. Vua Đa-vít có lòng bao dung (ISa 26:1-25)

Một vài người nghiên cứu Cựu-ước cố gắng chứng minh rằng câu chuyện trong đoạn này chỉ đơn thuần là phóng đoán dựa theo đoạn 24, nhưng bằng chứng chống lại cách giải thích nầy. Ở đây đề cập đến các địa danh (hang Ên-ghê-đi;trại quân của Sau-lơ cạnh Ha-ki-la), thời gian (ngày; đêm), các phản ứng của Đa-vít (cắt tơi áo của Sau-lơ; lấy ngọn giáo và bình nước của Sau-lơ), cuộc nói chuyện của Đa-vít (nói chuyện riêng với Sau-lơ; nói với Áp-ne và Sau-lơ).

Lần thứ hai từng trãi với Sau-lơ là một sự táo bạo của Đa-vít vì ông thực sự ở trong trại quân của Sau-lơ. Từng trãi gần đây là với Na-banh và A-bi-ga-in đoan chắc lần nữa về triều đại tương lai của mình và đã dạy cho ông bài học bổ ích về lòng bao dung.


Sự phản bội (ISa 26:1-4).

Giống như Na-banh, Xíp có quan hệ với Ca-lép (ISu 2:42), nhưng là thành viên chi phái Giu-đa, họ được cai trị dưới triều đại Đa-vít. Niềm hy vọng về lợi ích của chi phái sẽ được vua phê chuẩn, nhưng lần thứ hai họ lại phản Đa-vít và theo Sau-lơ (ISa 23:19; Thi 54:1-13). Sau-lơ nhận biết và đánh giá cao sự tài giỏi trong chiến thuật của Đa-vít, vì chính Sau-lơ mang 3000 quân lính truy tìm Đa-vít ở nơi đồng vắng.

Nhưng Đa-vít đã biết tin này, ông trà trộn vào khu vực trại quân của Sau-lơ, và Đa-vít được bình an nơi đồng vắng. Đức Chúa Trời gìn giữ Đa-vít bình an và giải cứu ông mỗi khi Sau-lơ đến gần. “Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch có sức lực, khỏi kẻ ghét tôi, vì chúng nó mạnh hơn tôi” (Thi 18:17)


Sự táo bạo (ISa 26:5-12).

Đức Chúa Trời ra lệnh Đa-vít phải đến trại quân Sau-lơ trong đêm, vì Ngài đã khiến Sau-lơ và quân lính ngủ say. Sau-lơ và Áp-ne, là tướng chỉ huy của Sau-lơ (ISa 14:10) và những người bà con (c.50) đều nằm ngủ ở trung tâm trại quân, xung quanh là xe ngựa và hành lý (bản NIV dịch là “chiến hào”).

Vì giấc ngủ lạ thường đến từ Đức Chúa Trời nên Đa-vít và cháu trai A-bi-sai thâm nhập vào nơi mà Sau-lơ và Áp-ne đang nằm. Đây là lần đầu tiên đề cập đến A-bi-sai trong Kinh Thánh. Ngọn giáo Sau-lơ được cầm nơi tay, đó là vật biểu tượng cho triều đại và quyền lực của Sau-lơ đã bị đánh cắp (ISa 26:7; ISa 22:6; ISa 18:10; ISa 19:9; ISa 20:33).


A-bi-sai tin chắc rằng ý muốn của Chúa sẽ giết Sau-lơ và điều này làm lòng A-bi-sai nên ích kỷ, A-bi-sai không có lòng thương xót, bao dung trước sự bức hại của vua Y-sơ-ra-ên, nhưng Đa-vít đã ra tay ngăn cản kịp thời. Đa-vít đã giải quyết cách ổn thỏa trong hang (ISa 24:1-6), và ở đó không xảy ra một toan tính nào nữa. Đa-vít đã nhìn thấy những gì mà Đức Chúa Trời đã làm cùng Na-banh.

Đa-vít tin chắc cuộc đời của Sau-lơ sẽ kết thúc đúng thời điểm và đúng cách, hoặc chết cách tự nhiên hoặc trong sự phán quyết của Chúa, và ngai vàng sẽ là của mình. Khi A-bi-sai trông thấy Sau-lơ và nhận ra “người của Đức Chúa Trời”. Thay vì cướp lấy mạng sống Sau-lơ thì Đa-vít lấy cây giáo và bình nước, vì ông muốn chứng minh cho Sau-lơ biết đây là lần thứ hai ông đến nhưng đã không có ý định giết Sau-lơ. Đa-vít đã không để cho A-bi-sai lấy ngọn giáo trước vì e rằng A-bi-sai có hành động liều lĩnh với Sau-lơ.


Chính điều này sẽ thành đề tài tranh cãi cho rằng Đa-vít đã phạm sai lầm lúc ở trong hang, và đó chính là cơ hội thứ hai mà Chúa ban cho Đa-vít giết Sau-lơ, nhưng quyết định của Đa-vít là cách đối xử của người lãnh đạo và không bị lệ thuộc vào hoàn cảnh. Đa-vít biết rằng mình sẽ sai lầm nếu hành xử trên người được Chúa xức dầu, cũng như nghĩ rằng vị vua này đã không phục vụ Chúa theo như cách Ngài muốn.

Đa-vít có một tấm lòng tôn trọng triều đình và Sau-lơ là người nhận lãnh triều đình mà Đức Chúa Trời ban cho.


Sự nhạo báng. (ISa 26:13-16).

Đa-vít và cháu trai mình đi đến ngọn đồi đối ngang trại quân của Sau-lơ, đó là nơi mà họ được an toàn và từ đây trại quân có thể nghe thấy Đa-vít có lệnh triệu hồi quân lính trong trại quân Sau-lơ mà đặc biệt là Áp-ne, tướng của Sau-lơ. Đa-vít khá thận trọng không làm bẽ mặt Sau-lơ trong vai trò lãnh đạo tướng lĩnh của mình. Đa-vít đã không để lộ diện với Áp-ne nhưng chỉ ám chỉ cho Áp-ne thấy bản thân của Áp-ne là “người của dân sự” (c.15). Ngọn giáo và bình nước bị mất cũng đủ để nói lên một ai đó đã đến gần vua nhưng không thể giết vua. Áp-ne đã phạm lỗi và có thể vì bị người khác xúi bảo chứ không phải do từ bản thân ông.


Sự không trung thực. (c.17-25).

Sau-lơ nhận ra tiếng của Đa-vít và lên tiếng kêu “Đa-vít, con trai ta”, nhưng Đa-vít đã không gọi “cha” như đã gọi khi trước (ISa 24:11). Cách gọi duy nhất mà Đa-vít có thể gọi là “Hỡi vua, chúa tôi!”. Con gái của Sau-lơ là Mi-canh đã không còn là vợ của Đa-vít (ISa 25:44), ì thế Đa-vít cũng không phải là con rể của Sau-lơ. Hơn nữa, Sau-lơ đã dứt khoát không còn xem Đa-vít là con rể mình.


Một lần nữa, Đa-vít đã tìm cách nói lý với Sau-lơ và chỉ cho Sau-lơ thấy những sai phạm của ông trong những gì ông nghĩ và làm. Đa-vít muốn biết mình đã phạm tội gì mà Sau-lơ đã đuổi theo và Sau-lơ truy bắt nhằm giết chết. Nếu Đa-vít vi phạm luật lệ của Đức Chúa Trời, thì ông có thể chuộc lỗi bằng của tế lễ và nhận được sự tha thứ của Đức Chúa Trời.

Nhưng Sau-lơ đối đãi Đa-vít như là một tội phạm, vì những lời dối trá mà quân lính Sau-lơ đã nói với ông, như vậy tất cả họ đều đã phạm tội chứ không phải là Đa-vít, và chính họ sẽ phải trả giá cho tội lỗi mình. Sau-lơ và quân lính đuổi Đa-vít ra khỏi đất nước, a khỏi cơ nghiệp mà Chúa đã ban cho dòng dõi mình, Đa-vít đến vùng đất khác, làm thế nào mà Đa-vít có thể ngợi khen ở nơi xa đền thờ Chúa và không có thầy tế lễ?


Nhưng nếu Đa-vít không có tội hay sai phạm nào, thì tại sao Sau-lơ đối nghịch trong nhiều thời gian và tỏ ra tích cực truy bắt Đa-vít? Người ta ví vua của Y-sơ-ra-ên đang săn gà gô chỉ để ăn tươi nuốt sống nó! (Gà gô không thích bay, nó chạy từ chỗ nầy đến chỗ khác).


-Lần thứ nhất, Sau-lơ sa ngã do đa cảm (ISa 24:17), và ông đã thú nhận rằng mình là một người dại dột. Sau-lơ hứa sẽ không gây tai hại cho Đa-vít nhưng Đa-vít không tin điều ấy. Đa-vít chỉ nghĩ rằng: ”Nầy là cây giáo của vua; hãy cho một gã trai trẻ của vua đi qua đây mà lấy đi” (ISa 26:22). Khi Đa-vít cắt vạt áo tơi của Sau-lơ trong hang, ông muốn nhắc nhở đất nước của Sau-lơ sẽ bị chia cắt bởi chính Sau-lơ, nhưng trong hành động lấy ngọn giáo, Đa-vít muốn làm bẽ mặt Sau-lơ và lấy trộm vật biểu tượng cho vương quyền Sau-lơ.


-Lần thứ hai, Đa-vít tỏ ra rộng lượng với Sau-lơ, và Đa-vít đã biết Chúa sẽ ban phước cho mình trong những việc ông đã làm (Thi 7:8). Nhưng Đa-vít không hy vọng Sau-lơ xem trọng mạng sống ông như ông từng xem trọng mạng sống Sau-lơ, bởi vì Đa-vít đã biết Sau-lơ sẽ không thành thật. Hơn nữa, Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời thưởng ông bằng sự bảo vệ và bình an như ông đã bảo vệ vua mình. (Thi 18:20-27)


Lời cuối của Sau-lơ nói cùng Đa-vít trong ISa 26:25, câu này quả quyết sự thành công rất lớn của Đa-vít và hiển nhiên sẽ được làm vua. Hai người hai hoàn cảnh khác nhau, Sau-lơ có nhiều cơ hội nhưng sau cùng thất sủng và qua đời, còn Đa-vít sau cùng được tôn vinh và thành công.

Hơn nữa, Đa-vít cũng không thể tin rằng mình sẽ chiếm lấy vùng đất của Phi-li-tin và thành Xiếc-lác, là nơi mà mình sẽ sống ở đó trong khoảng một năm rưỡi. Những năm Đa-vít sống lưu vong và chịu thử thách sẽ sớm trôi qua và Đa-vít có thể sẳn sàng ngồi vào ngôi vua của Y-sơ-ra-ên để cai trị dân sự Đức Chúa Trời. Rồi một ngày nào đó Đa-vít nhìn lại quãng đời đã qua và thấy được trong kinh nghiệm đau buồn của mình chỉ có duy nhất lòng bao dung và sự nhân từ của Chúa (Thi 23:6).





11. SỐNG CÙNG KẺ THÙ (ISa 27:1-28:2 ISa 29:1-30:31)


Trong những năm sung mãn của mình, Đa-vít nghe tiếng Chúa phán: “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi; Mắt ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi. Chớ như con ngựa và con la.” (Thi 32:8-9) Con ngựa luôn hấp tấp bốc đồng và xông vào trận chiến cách ngu ngốc, trong khi con la thì ương ngạnh và chậm chạp. Đức Chúa Trời không muốn đối xử với chúng ta như cách con người đối xử với thú vật, Ngài muốn đến gần chúng ta và hướng dẫn chúng ta trong sự quan phòng của Ngài như cách cha mẹ với con trẻ. Khi chúng ta nhìn thấy mặt Chúa, chúng ta có thể thấy Ngài đang mỉm cười hoặc vẻ mặt không hài lòng của Ngài, và chúng ta có thể phân biệt được đâu là con đường Chúa muốn chúng ta đi. Những phân đoạn này ghi lại những kinh nghiệm của Đa-vít khi ông sống bên cạnh sự dìu dắt thân mật và đầy tình yêu đó.


1. Rời khỏi Xíp (ISa 27:1-2)

Đa-vít trong vai một kẻ trốn chạy trong khoảng 7 năm khi ông quyết định trốn sang Gát, nhưng có thể ý nghĩ trở về sống tại Y-sơ-ra-ên vẫn tồn tại trong tâm trí ông (ISa 26:19). Đa-vít có mọi lý do để ở tại Giu-đa và tiếp tục tin cậy trong sự bảo vệ và sự dự phòng của Đức Chúa Trời. Sau tất cả mọi việc, ông là vị vua được xức dầu của Y-sơ-ra-ên và nhận biết rằng Chúa muốn trao cho ông ngai vàng. A-bi-ga-in đảm bảo với ông điều đó (ISa 25:27-31), ngay cả Sau-lơ cũng thừa nhận Đa-vít cuối cùng sẽ chiến thắng (ISa 26:25). Sau-lơ đã không giữ một trong những lời hứa của mình là để Đa-vít được yên, sự tâng bốc, nịnh hót của các người thân cận xung quanh làm cho Sau-lơ vẫn tiếp tục truy bắt Đa-vít. Cuộc sống lưu vong tại vùng đất hoang vu, đối diện với hiểm nguy mỗi ngày bắt đầu làm Đa-vít ngã lòng, trong lúc này ông có 2 vợ và có đến 600 tùy tùng.


“Ngài hằng sẽ quên tôi cho đến chừng nào? Ngài ẩn mặt cùng tôi cho đến bao giờ? Tôi phải lo lắng nơi linh hồn tôi, Hằng ngày buồn thản nơi lòng tôi cho đến bao giờ? Kẻ thù nghịch tôi sẽ trổi hơn tôi cho đến chừng nào?” (Thi 13:1-2). Thực ra, chỉ khoảng ba năm sau, Đa-vít sẽ chấm dứt cuộc trốn chạy của mình và bắt đầu cai trị dân sự. Nhưng ông không có cách nào để biết điều này. Điều cần thiết là phải có đức tin và sự kiên nhẫn để giữ lấy lời hứa của Đức Chúa Trời (He 6:12).

Riêng Đa-vít, ông dường như dao động trong cả hai khía cạnh này. Ông cần đức tin và dũng khí như trong Thi 27:1-3 có nhấn mạnh, nhưng trước khi phê bình Đa-vít cách khắt khe chúng ta hãy nhớ lại những lúc chúng ta đã làm những điều tương tự.


Bối cảnh này nhắc ta nhớ một hoàn cảnh tương tự trong cuộc đời Chúa Giê-xu, khi Ngài đối diện với thập tự giá (Gi 12:20-33). “Hiện nay tâm thần ta bối rối; ta sẽ nói gì ?... Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này! Nhưng ấy cũng vì sự đó mà Con đến giờ này! Cha ơi, xin làm sáng Danh Cha !” (ISa 12:27-28).

Chúa Giê-xu đặt sự vinh hiển của Cha mình lên trên hết mọi sự, trong khi Đa-vít đặt những sự thoải mái và sự an toàn của riêng mình cao hơn. Nhưng Đức Chúa Trời muốn dùng những khó khăn trong Đa-vít để rèn luyện ông thành người của Ngài, và chuẩn bị ông cho ngai vàng, nhưng bây giờ ông quyết định đi theo con đường riêng của mình và tự giải quyết những vấn đề của mình.


Con dân của Đức Chúa Trời phải thận trọng không được đầu hàng sự ngã lòng. Môi-se đã nản lòng vì công việc mình quá sức, và Môi-se mong muốn được chết (Dân 11:15), và tiên tri Ê-li đã chạy trốn trách nhiệm mình vì sợ hãi và mất hết can đảm (IVua 19:1-21). Khi chúng ta bắt đầu nhìn thấy Chúa qua những vật chất thay vì nhìn những vật chất của chúng ta qua mắt Chúa, thì chúng ta sẽ mất đức tin, mất sự nhẫn nại, mất đi sự can đảm và kẻ thù sẽ chiến thắng chúng ta.


“Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con” (Ch 3:5).

“Kỳ mạng tôi ở nơi tay Chúa; xin giải cứu tôi khỏi tay kẻ thù nghịch, và khỏi tay kẻ bắt bớ tôi” (Thi 31:15)


2. Đánh lừa kẻ thù (ISa 27:1-2) (ISa 27:3-29:11)

Khởi đầu cuộc trốn chạy của mình, Đa-vít đã đến Gát một cách an toàn, đến khi ông biết mình vẫn trong tình trạng nguy hiểm, ông đã dùng mưu cải trang thành một người điên dại để trốn đi (ISa 21:10-15). Nhưng lúc đó ông chỉ có một mình, bây giờ ông đã có hai vợ và 600 người đi theo. Đa-vít vẫn là một người khôn ngoan và là người “có đức tin, tức sống không có mưu đồ”. Ông dối gạt vua A-kích trong 3 vấn đề sau đây:


Muốn sở hữu một thành riêng. (ISa 27:3-7)

Người Phi-li-tin không hề nghi ngờ về những điều mình nghe được, đó là Vua Sau-lơ đang tìm diệt Đa-vít, cho nên bất cứ kẻ nào chống đối Sau-lơ đều được hoan nghênh tại Gát. Vua A-kích có thể dùng những khả năng chiến thuật và kinh nghiệm chiến trận của Đa-vít phục vụ cho mưu đồ của mình. Nhưng những người Đa-vít mang theo mình khoảng 2000 - 3000 người (ISa 30:1-3), và đó là số lượng quá lớn đối với thành Gát.


Thực sự, Đa-vít không muốn ở tại Gát vì ở đây vua và các quan trưởng Gát có thể kiểm soát những hoạt động của ông, cho nên Đa-vít yêu cầu vua ban cho mình và tùy tùng một thành riêng. Đa-vít rất khéo ăn nói khi chọn lấy những lời thỉnh cầu thích hợp, bản thân Đa-vít cũng khiêm nhường trước vua (“tôi không có xứng đáng sống ở thành phố của hoàng gia”), và quả quyết với A-kích rằng ông luôn sẵn sàng phục vụ.

Vui mừng vì có thêm dân sự ngoài thành Gát, là nơi có tranh chấp nhu cầu về lương thực và nước uống, và là nơi chuẩn bị thành lực lượng quân đội mạnh mẽ cho Đa-vít, A-kích nhanh chóng nhận lời ngay. A-kích cho Đa-vít thành Xiếc-lác, ột thành khoảng hai mươi lăm dặm về phía đông nam của Gát đến tận biên giới của Si-môn, nhưng nơi này Phi-li-tin đang cai trị. Các chi phái của Si-môn đã nhận di sản trong phạm vi các chi phái Giu-đa, đó là điều giải thích tại sao Xiếc-lác kết hợp cả hai lực lượng (Gios 15:31; Gios 19:5). Hơn nữa, việc A-kích trao thành nầy cho Đa-vít nói lên mối quan hệ thân thiết giữa các vua Giu-đa cho đến sau này. Ở đây có thể không có căn cứ hoạt động nào tốt hơn cho Đa-vít và quân lính ông, và họ đã tận dụng tốt nó.


Công trạng của Đa-vít được ghi. (ISa 27:8-12).

A-kích nghĩ rằng Đa-vít và quân lính sẽ tấn công vào những thành của Giu-đa trong khi thực tế họ tấn công vào các trại quân và thành thuộc các liên minh của A-kích! Đa-vít quét sạch dân mà Giô-suê và những người kế vị Giô-suê không tiêu diệt khi họ bước vào Đất Hứa, theo những bài giảng của Môi-se trong Phuc 20:6-18 Cùng lúc đó, A-kích lờ đi những lời báo cáo của những người sống sót rằng Đa-vít nói dối. Đa-vít trao cho A-kích những quà tặng từ chiến lợi phẩm của chiến trận và gửi thông tin giả về những hoạt động của họ, và A-kích đã tin Đa-vít. Khi dân Giu-đa hay tin Đa-vít đánh nhau với quân thù mình, a-vít càng được nổi tiếng hơn.


Nhiệm vụ của Đa-vít nơi chiến trận. (ISa 28:1-2; ISa 29:1-11).

Đây là chiến trận mà Sau-lơ và các con trai người đều bị giết (ISa 31:1-6), và trong bàn tay bảo bọc của Đức Chúa Trời, Đa-vít và quân lính người được gìn giữ nơi chiến trường. A-kích quả quyết rằng Đa-vít và quân lính có tranh chiến cùng với quân Phi-li-tin, nhưng Đa-vít trả lời lẩn tránh rằng: “Vua sẽ thấy điều tôi tớ vua làm” (ISa 28:2). Vua hiểu điều nầy có nghĩa: “Trước đến giờ, vua chỉ nghe kể lại về lòng dũng cảm của tôi và quân lính tôi, nhưng trong chiến trận này là cơ hội chúng tôi thể hiện tài năng trước sự đánh giá của vua.”

Nhưng ý của Đa-vít là gì? Đương nhiên là Đa-vít sẽ không gây chiến lần nữa với các thần dân mình, và Đa-vít đã có kế hoạch khác trong thâm tâm. Nhưng vua A-kích rất cảm kích Đa-vít và chọn người làm vệ sĩ mình!


Các đội quân đã tập hợp và đã trải qua thao dượt, năm tướng của Phi-li-tin dẫn binh lính của họ và Đa-vít cùng quân lính mình đi lên cho đến đoạn cuối và trong tư thế sẵn sàng bảo vệ vua. Khi các tướng Phi-li-tin trông thấy vua của họ với Đa-vít và 600 quân, họ đã phản đối: “Những người Hê-bơ-rơ đó là ai?”. Câu hỏi này làm cho A-kích tức giận vì ông rất tin cậy nơi Đa-vít. A-kích vội vàng cam đoan với các quan tướng của mình rằng ông đã biết Đa-vít hơn một năm kể từ ngày Đa-vít phân rẽ Sau-lơ (ISa 21:10-15), và A-kích đã tín nhiệm nơi Đa-vít.


Những vị quan trưởng không thể cải lệnh vua mình, nhưng họ có thể dè chừng với một khoảng cách an toàn. Họ nhớ lại trong chiến trận trước, một vài người lính Hê-bơ-rơ trong quân đội Phi-li-tin đào ngủ và chiến đấu cho Y-sơ-ra-ên (ISa 14:21), và Đa-vít và quân lính người cũng được xem giống như vậy. Sự thật là, Sau-lơ là kẻ thù của Đa-vít, nhưng cả hai vẫn có thể kết hợp lại và chiến đấu cùng nhau. Sau hết, dân sự hát đã ca ngợi: ”Sau-lơ giết hàng ngàn, còn Đa-vít giết hàng vạn” (ISa 28:5; ISa 18:7; ISa 21:11), điều mà quân Phi-li-tin nghĩ đến là cả Đa-vít và Sau-lơ sẽ chiến đấu bên nhau. Điều an toàn nhất là đem Đa-vít trở lại Xiếc-lác, ở rất xa với chiến trường, và Đa-vít có thể đem quân lính mình đánh trận ở một nơi khác.


Vua A-kích gửi thông điệp cho Đa-vít, lúc nầy vẫn tiếp tục trò lừa bịp của mình bằng cách tỏ ra buồn lòng vì mệnh lệnh đó. Có phải Đa-vít không chứng minh mình với vua? Đa-vít muốn đi ra “đánh trận với kẻ thù của tướng mình, là vua”, có một câu nói mơ hồ khác là vua giải thích sự quý mến của mình đối với Đa-vít. Như vậy, ai là “vua, chúa” của Đa-vít?- Vua Sau-lơ (ISa 24:8; ISa 26:17), A-kích, hay là Đức Giê-hô-va? Và ai là kẻ thù của Đa-vít? Dân Y-sơ-ra-ên hay dân Phi-li-tin.

Nhưng A-kích nhất quyết ông là vua của Đa-vít, vì chính A-kích chấp thuận cho Đa-vít được bình an rời khỏi Gát và trở về Xiếc-lác, đương nhiên là không có làm những quan trưởng bối rối trong mọi trường hợp. Họ gặp phải khó khăn với chiến sự trước mắt và A-kích muốn họ được an toàn. Đa-vít đã tuân lệnh và trở về Xiếc-lác.


Thiết nghĩ Chúa đã nhân từ với Đa-vít và quân lính người từ khi bị lôi cuốn vào trong chiến trận, Ngài không bị ép buộc bước vào và giải thoát cho dân sự Ngài khỏi tình trạng vì án phạt tội lỗi của họ. Chúng ta sẽ gặt lấy những gì mà chúng ta gieo ra, và trong vài năm sau đó, Đa-vít phải trải qua đau khổ vì sự lừa dối của các quần thần mình cũng như của gia đình mình.

-ISa 28:1-12; xem giải nghĩa ISa 27:1-2.

-ISa 29:1-11; xem giải nghĩa ISa 27:1-2.


3. Giải phóng tù binh (ISa 30:1-20)

Đa-vít và quân lính mình vẫn luôn tranh chiến với quân Phi-li-tin, nhưng họ vẫn đang đánh nhau trên mặt trận, và lần này đánh với quân A-ma-léc, là kẻ thù truyền kiếp với Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên (Xu 17:8-16; Phuc 25:17). Bởi vì Sau-lơ đã có chiến thắng không trọn vẹn trước quân A-ma-léc (ISa 15:1-11), cho nên dân A-ma-léc vẫn còn tự do mà gây chiến với dân sự Đức Chúa Trời.


Tai họa. (ISa 30:1-6a).

Dường như Đức Chúa Trời cho phép cuộc đột kích này xảy ra trên Xiếc-lác là muốn thúc đẩy Đa-vít rời khỏi đất của quân thù và trở về xứ Giu-đa, bản quán của ông. Các lãnh đạo của dân A-ma-léc biết rằng Đa-vít đang ở Gát và mọi sự chú ý đều quy tụ vào sự đối đầu giữa Y-sơ-ra-ên và Phi-li-tin.

Đây là thời điểm thuận lợi để trả thù Đa-vít về những cuộc đột kích của ông (vào A-ma-léc lúc trước ) đồng thời tìm cách thay đổi tình thế. Từ khi phần lớn các trai tráng ra đi với Đa-vít, cư dân Xiếc-lác không đủ sức tự vệ và quân xâm lược dễ dàng cướp đi tài vật và con người ở đây. Dân A-ma-léc đốt thành, trả thù Đa-vít nhưng dường như ý Đức Chúa Trời muốn Đa-vít hồi hương về Giu-đa.


Chúng ta không thể hình dung được sự hoảng sợ và sầu thảm của Đa-vít và 600 người theo ông, là những người chưa bao giờ nếm mùi bại trận.Thành của họ bị đốt cháy, của cải bị chiếm đoạt, vợ con họ bị bắt đi. Chỉ nhờ lòng thương xót của Đức Chúa Trời mà dân A-ma-léc đã tha mạng sống của đàn bà, trẻ con vì trong trận chiến, Đa-vít và người của ông đã giết đàn bà và trẻ con của đối phương (ISa 27:11). Dân sự buồn phiền, ủ rủ còn Đa-vít thì sầu thảm vô hạn, ông bị đẩy tới chân tường quẩn bách, ông giống như hòn đất sét bị thợ gốm đẩy sâu vào khuôn đúc.


Sự khích lệ. (ISa 30:6b-15)

Mỗi người phản ứng một cách khác nhau trước một sự kiện. Cuộc sống tác động trên chúng ta tùy thuộc vào chính chúng ta. Một số người toan tính ném đá Đa-vít, đó là một suy tính điên rồ. Họ cần người lãnh đạo hơn bao giờ hết, làm sao cái chết của ông có thể giải quyết được sự việc?

Chúng ta không phàn nàn về thái độ đó vì trong thời điểm như vậy cho phép họ nghe theo con tim trước cả lý trí của mình. Đa-vít biết rõ rằng chỉ có Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót mới có thể mang ông ra khỏi tình cảnh này. Ông đã bảo thầy tế lễ A-bia-tha đem ê-phót đến và họ cùng nhau tìm kiếm Đức Chúa Trời. Sau-lơ cũng đã tìm cầu ý Chúa nhưng ông không nhận được câu trả lời, nhưng Đức Chúa Trời lại vui lòng đáp ứng vấn nạn của Đa-vít. Đa-vít đã vâng phục tuyệt đối, Đức chúa Trời cũng đã đáp trả một cách thật xứng đáng.


Làm theo ý muốn Đức Chúa Trời và chinh phạt quân thù thì sẽ gặt hái thắng lợi. Đa-vít và người của ông đi 16 dặm đến khe Bê-sô, 200 người trải qua quảng đường dài mệt mỏi nên phải dừng chân, 400 người còn lại tiếp tục lên đường. Nhưng bây giờ họ sẽ đi đâu? Đức Chúa Trời đã không chỉ dẫn họ vị trí của trại quân A-ma-léc, nhưng Đa-vít đã tin rằng Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt ông.

Họ gặp một người nô lệ Ai-cập bị người A-ma-léc bỏ rơi vì bị thương nặng. Người này có thể phải chết trong hoang mạc, nhưng Đức Chúa Trời để ông sống làm ích cho đầy tớ Đa-vít của Ngài. Người nô lệ này được hồi phục sau khi được ăn uống và ông dẫn Đa-vít tới trại quân dân A-ma-léc. Ý nghĩa là người nô lệ có thể đã chết, nhưng Đức Chúa Trời gìn giữ mạng sống này để Đa-vít có thể giải thoát cho người thân của quân đội mình.


Chiến thắng (ISa 30:16-20)

Trong khi quân A-ma-léc đang vui mừng ăn uống vì đại thắng thì Đa-vít và tùy tùng mình bất ngờ tập kích. Họ giết hết người trong trại ngoại trừ 400 người đã chạy thoát, giải cứu toàn bộ số người đã bị bắt và thu hồi mọi sự đã bị cướp ở Xiếc-lác. Đó là một chiến thắng tuyệt đối cho Đa-vít, cũng là một chiến thắng mang lại lợi lộc cho ông.


Khi chúng ta nhìn lại những gì Đức Chúa Trời làm cho Đa-vít trong những giờ phút đen tối nhất của đời ông, chúng ta có thể hiểu Ngài đã giúp đỡ dân Ngài khi gặp khó khăn gian khổ như thế nào. Trước hết, Ngài khích lệ cho Đa-vít không ngã lòng để vững tin vào Đức Chúa Trời. Bất luận khi nào gặp khó khăn, chúng ta cần trợ giúp để đối mặt với vấn đề, chúng ta không được cáo trách người khác hoặc làm ra vẻ chẳng có gì. Đức Chúa Trời đã ban cho Đa-vít sự khôn ngoan để nhận biết điều cần làm và sức lực để thực hiện nó.

Ông và tùy tùng của ông mệt mỏi nhưng Đức Chúa Trời thêm sức cho họ để họ bền chí trong cuộc tìm kiếm quân thù A-ma-léc. Đức Chúa Trời cũng cung cấp mọi điều Đa-vít cần nên ông đã có thể tìm ra được trại quân của kẻ thù trong đồng vắng rộng lớn như vậy. Khi chúng ta bước đi trong đức tin và trông cậy Chúa, Ngài sẽ hướng dẫn chúng ta ngay khi chúng ta cần Ngài. Cuối cùng, Đức Chúa Trời ban cho Đa-vít và những người đi theo sức mạnh cần thiết để chống cự kẻ thù, giải thoát tù binh và lấy lại được tài vật của mình.


(Thi 37:5 có chép: “Hãy phó thác đường lối mình cho Đức-Giêhôva, và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy.”


Phân chia chiến lợi phẩm. (ISa 30:21-31).

Khi Đa-vít nói với binh sĩ “Đây là chiến lợi phẩm của Đa-vít” ông không có ý nói của cải của dân A-ma-léc là của riêng ông nhưng chỉ muốn nói chúng thuộc quyền của ông nên ông có quyền trên việc phân chia chúng. Mỗi chiến binh nhận phần của mình kể cả 200 người nghỉ do quá mệt tại khe Bê-sô cũng nhận phần như vậy.

Việc làm này làm phật lòng một số người không tốt thường hay gây sự, nhưng Đa-vít phớt lờ họ.Ông đã lập điều đó làm luật lệ, theo đó, chiến phẩm sẽ được chia đều cho mọi người, gồm cả người không trực tiếp chiến đấu. Sau hết, chính Đức Chúa Trời ban chiến thắng nên không ai có quyền định đoạt về chiến phẩm lợi cho riêng mình như thể Chúa ban riêng cho họ. Đức Chúa Trời đã vui lòng phó quân thù vào tay họ thì họ cũng phải vui vẻ chia đều cho mọi người.


Đa-vít cũng gửi quà tặng chiến phẩm cho các trưởng lão các thành phía Nam Giu-đa, nơi ông và người của mình đã nương náu trong những tháng ngày sống lưu vong. Dân trong các thành này đã giúp Đa-vít trốn lánh Sau-lơ. Đa-vít cũng bảo họ gửi quà biếu cho các ân nhân. Nếu một ngày nào đó Sau-lơ biết những gì các thành này đã làm cho Đa-vít thì họ sẽ bị khốn đốn, nhưng Đa-vít còn làm nhiều hơn là chỉ cảm ơn các trưỡng lão. Ông cũng đã dọn đường chuẩn bị cho thời điểm ông trở lại vùng đất nầy trên cương vị Vua Y-sơ-ra-ên.


Dẫu cho thành bị quân thù đốt cháy, Đa-vít vẫn trở lại Xiếc-lác đợi tin chiến trận giữa quân Y-sơ-ra-ên và Phi-li-tin. Ông cho rằng mình không phải chờ đợi lâu tại đây, và ông đã đúng vì ngày thứ ba đã có tin (IISa 1:1-2). Sau khi nghe tin về cái chết của Sau-lơ và các con, ông tìm cầu ý Chúa và Đức Chúa Trời đem ông đến Hếp-rôn (IISa 2:1-4). Đa-vít lên ngôi được 7 năm rưỡi cai trị toàn dân Giu-đa và Hếp-rôn là thủ phủ.


Đức Chúa Trời thành tín trong lời hứa của Ngài, và cuộc sống lưu vong trong đồng vắng của Đa-vít nay đã chấm dứt.


Nhiệm vụ của Đa-vít nơi chiến trận. (ISa 28:1-2; ISa 29:1-11).

Đây là chiến trận mà Sau-lơ và các con trai người đều bị giết (ISa 31:1-6), và trong bàn tay bảo bọc của Đức Chúa Trời, Đa-vít và quân lính người được gìn giữ nơi chiến trường. A-kích quả quyết rằng Đa-vít và quân lính có tranh chiến cùng với quân Phi-li-tin, nhưng Đa-vít trả lời lẩn tránh rằng: “Vua sẽ thấy điều tôi tớ vua làm” (ISa 28:2). Vua hiểu điều nầy có nghĩa: “Trước đến giờ, vua chỉ nghe kể lại về lòng dũng cảm của tôi và quân lính tôi, nhưng trong chiến trận này là cơ hội chúng tôi thể hiện tài năng trước sự đánh giá của vua.” Nhưng ý của Đa-vít là gì? Đương nhiên là Đa-vít sẽ không gây chiến lần nữa với các thần dân mình, à Đa-vít đã có kế hoạch khác trong thâm tâm. Nhưng vua A-kích rất cảm kích Đa-vít và chọn người làm vệ sĩ mình!

-ISa 28:1-2; xem giải nghĩa ISa 27:1-2





12. VUA BĂNG HÀ! (ISa 28:3-25; ISa 31:1-13) (ISu 10:1-19)


Mở đầu sách I Sa-mu-ên với câu chuyện em bé Sa-mu-ên mà Chúa ban cho bà An-ne, và kết thúc sách là câu chuyện về cái chết của vua Sau-lơ, kẻ phạm tội. Những đoạn đầu tóm gọn xung quanh câu chuyện hòm giao ước mà Đức Chúa Trời đã phán cùng chàng trai Sa-mu-ên, và các đoạn kết tập trung nói về một người đã khước từ Chúa.

Sa-mu-ên cầu khẩn danh Đức Chúa Trời và Ngài đã đánh bại quân Phi-li-tin, trong khi Sau-lơ tìm đến sự giúp đỡ của Ngài mà không được đáp lời, kết quả là quân Phi-li-tin đánh hạ quân Y-sơ-ra-ên. I Sa-mu-ên là sách viết về cuộc đời của vua Sau-lơ:suy tàn, đánh trận, và chết. II Sa-mu-ên viết về cuộc đời của vua Đa-vít, và trong đó viết rằng Đức Chúa Trời làm cho vương quốc trở nên cường thịnh qua một chàng trai chăn chiên. Những ngày sau rốt của cuộc đời Sau-lơ được viết lại trong hai đoạn này.


1. Đêm của sự lừa dối và tai họa (ISa 28:3-25)

Trong số tất cả bối cảnh ban đêm trong Thánh Kinh, đây là bối cảnh lạ nhất và ấn tượng sâu sắc nhất. Linh của người chết đã trở lại nhằm loan báo sự sụp đổ của vị vua hết thời, là người không tìm thấy lối thoát. Sa-mu-ên và Sau-lơ gặp nhau lần cuối, đó là lần gặp không mấy vui vẻ.


Sau-lơ không nhận lấy sự cứu giúp của Chúa (ISa 28:3-6). Chúng ta đã biết Sa-mu-ên qua đời rồi (ISa 25:1), nhưngsự việc này được nhắc lại có thể có hai nguyên do. Thứ nhất, Y-sơ-ra-ên có sự lộn xộn và Sa-mu-ên không có ở đó để giải nguy như ông đã từng làm khi trước (ISa 7:7-14), và thứ hai là Sau-lơ bất an và Sa-mu-ên cũng không có ở đó để có lời an ủi. Lúc Sa-mu-ên còn sống, ông luôn nói rằng Sau-lơ và dân sự cần phải đánh bại quân Phi-li-tin (ISa 7:3).

Tuy nhiên, đức tin của họ nơi Chúa tan biến dần dần dưới triều đại của vua Sau-lơ, một người chủ tâm tìm đến sự giúp sức của quyền lực ma quỷ. Đó là thời kỳ đen tối của Y-sơ-ra-ên, nhưng nếu Chúa lìa bỏ họ, thì chỉ do Sau-lơ đã lìa bỏ Chúa trước.


Quân lính Phi-li-tin đã sẵn sàng nghênh chiến, Sau-lơ và quân của mình lại không chuẩn bị để đối phó. Đến khi Sau-lơ trông thấy quân thù dàn binh bố trận ông mới thật sự hốt hoảng và run sợ. Đầu tiên, quân Phi-li-tin chiếm lấy A-phéc trong khi quân Y-sơ-ra-ên dàn binh ở Gít-rê-ên (29:1). Rồi Phi-li-tin chiếm Gít-rê-ên (c.22) và sau cùng là Su-nem (28:4), và nơi mà họ chuẩn bị tấn công vào quân Y-sơ-ra-ên đang đóng quân tai núi Ghinh-bô-a (c.4 31:1)


Sau-lơ đã cố gắng tìm kiếm sự thông công với Chúa qua giấc mơ nhưng không có sự trả lời. Sau-lơ không có lời tiên tri nào như Đa-vít đã có (22:5), ngoài ra Đa-vít cũng có thầy tế lễ trong bộ áo của thầy tế (23:6). Từ “Urim” đề cập trong 28:6 ám chỉ bộ áo mới của thầy tế lễ mà một ai đó đã làm cho Sau-lơ, bởi vì bộ áo trong hòm giao ước thuộc về Đa-vít.

Cho dù Sau-lơ có cố gắng vẫn không mang lại một ý nghĩa nào, Sau-lơ chẳng nhận được sự trả lời nào từ Đức Chúa Trời. Nhưng trong thời gian đã trải qua trong cuộc đời mình, Sau-lơ đã không cần đến Chúa nữa, vì ông ta đã làm mọi điều theo ý riêng mình. Chắc không ai ngạc nhiên khi kết thúc sự nghiệp của mình, Chúa đã lìa bỏ Sau-lơ?


“Bấy giờ chúng nó sẽ kêu cầu cùng ta, nhưng ta sẽ không đáp lời; Sáng sớm chúng nó sẽ tìm ta, nhưng không gặp được. Ấy bởi vì chúng nó ghét sự hiểu biết, không chọn lấy sự kính sợ Đức Giê-hô-va, cũng không muốn theo sự khuyên dạy ta, và chê bai các lời quở trách ta; Vì vậy chúng nó sẽ ăn bông trái của đường lối mình, và được no nê mưu chước của mình riêng.” (Ch 1:28-31)


Sau-lơ không làm theo Lời Chúa (ISa 28:7-14).

Những thông tin trong câu 3 về việc Sau-lơ lìa bỏ dân sự mà chạy theo những tập tục đồng bóng giúp chúng ta hiểu được tình trạng của Sau-lơ lúc đó; ông rất hoang mang nên cần sự giúp đỡ từ các đồng cốt. Luật Pháp của Môi-se lên án mọi lề lói mê tín (Xu 22:18 Le 19:31 20:6 Phu 18:9-13), ên Sau-lơ đã đúng khi đuổi những người nầy, nhưng đã sai khi tìm sự giúp đỡ từ những người này.

Trong đó, ông có hai lần cố ý phạm tội và cố ý giả nhân giả nghĩa. Có những người thận cận với Sau-lơ biết điều này thì cho rằng chính Sau-lơ đang thực hiện chiến dịch quét các tệ nạn ở khắp nơi và không phải tất cả các cận thần của ông điều đồng tình. Một vài người trong số đó nhận thấy và bỏ qua sự việc Sau-lơ tìm đến đồng cốt.


Trong một đêm trước khi ra trận (ISa 28:19), Sau-lơ đã cải trang bằng cách thay áo bào của vua và mặc lấy bộ quần áo bình thường. Ông ta đi bộ chừng mười dặm từ núi Ghinh-bô-a đến Endor, và đi ngang qua biên giới Phi-li-tin, nhưng quân thù họ không nhận ra đây là vua của Y-sơ-ra-ên.

Hơn nữa, ng không muốn người ta biết mình là ai trong khi tìm đến đồng bóng. Sau-lơ đã khởi đầu triều đại mình trong một ngày mới tươi sáng khi ông được xức dầu bởi tiên tri Sa-mu-ên (9:26), nhưng ông ta đã kết thúc triều đại của mình trong đêm tối khi đang tìm kiếm thần linh đồng bóng. Sau-lơ đã phá vỡ phép tắc mà ông bắt mọi người phải tuân theo.


Người đàn bà lên đồng thật không ngốc. Bà ta muốn biết chắc rằng đây không phải là một cái bẩy để bắt và xử phạt mình, vì như vậy là vi phạm đến sự thánh khiết của Y-sơ-ra-ên. Sau-lơ đã lấy danh Chúa ra mà thề, phép tắc bị phá vở, bà ta đã không kiện, nhưng bà ta đã đồng ý tiếp tay Sau-lơ. Sau-lơ không chỉ đã phạm luật pháp với chính mình mà ông còn giúp cho bà đồng bóng cũng phạm tội theo! Ông đã đặt vấn đề để bà tiếp xúc với Sa-mu-ên, là người mà ông chẳng muốn tiếp xúc đương khi vị tiên tri này còn sống.


Sau-lơ nhận thấy chương trình của Đức Chúa Trời (c.15-19).

Theo nghĩa đen của bản văn, dường như Sa-muên đã xuất hiện thật, nhưng bà ta kinh hãi khi chuyện đó xảy ra. Sa-mu-ên đã không đến từ cõi chết để nhập vào bà nhưng Đức Chúa Trời muốn mọi chuyện xảy ra như vậy. Đây không phải là trường hợp ma quỷ bắt chước Sa-mu-ên, cũng không phải trò bịp của bà đồng bóng, nếu không thì bà ta sẽ không sửng sốt như vậy. Bà ta đã kinh ngạc đến phát khóc vì rõ ràng sự xuất hiện thình lình của Sa-mu-ên không phải là điều bà ta mong đợi. Bà ta đã nhìn thấy vị tiên tri nhưng Sau-lơ thì không (c.13-14), Sa-mu-ên đã nói trực tiếp với Sau-lơ chứ không nói qua đồng bóng. Sa-mu-ên là tiên tri của Đức Chúa Trời và không được tự ý truyền sai lời của phán của Đức Chúa Trời. Câu 21 đưa ra giả thiết người đàn bà này đứng gần Sau-lơ trong lúc Sa-mu-ên đã có lời khuyên cho vua Sau-lơ.


Sau-lơ đã có một câu hỏi với Sa-mu-ên: ”Tôi sẽ phải làm gì?” Quân Phi-li-tin chuẩn bị tấn công, Sau-lơ trở nên yếu ớt và sầu lo, trong mọi việc, ông biết chắc Chúa sẽ không hành động cùng. “Chúa sẽ lìa bỏ tôi.” Bảy lần trong những lời khuyên vắn tắt, Sa-mu-ên đã dùng từ “Đức Giê-hô-va” như thể nhắc Sau-lơ rằng Chúa sẽ lìa bỏ ông vì đã không vâng lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời xây lại đất nước từ triều đại Sau-lơ vì ông đã không vâng lời Chúa trong việc tàn sát người A-ma-léc (ISa 15:28), và trong lần đầu tiên Sa-mu-ên đã loan báo rằng Đa-vít là “kẻ lân cận” thừa kế ngôi vua (ISa 28:17). Nhưng tin thảm khốc hơn tất cả là ngày hôm sau Sau-lơ và các con trai sẽ bị sát hại ngoài trận chiến và sẽ đến cùng Sa-mu-ên nơi âm phủ.


Sau-lơ tuyệt vọng đến khốn khổ (ISa 28:20-25).

Vua ẩn mình nằm trên giường cạnh bờ tường, và khi nghe lời tiên báo Sa-mu-ên, vua cảm thấy tuyệt vọng, trượt dài xuống sàn nhà. Vua cần đến lời của Chúa phán cùng mình nhưng khi lời Chúa được phán thì đó lại không phải là lời mà Sau-lơ muốn nghe. Sau-lơ thật sự run rẩy trong sợ hãi đương khi nghe được lời loan báo về sự chết của mình, và vua càng yếu ớt vùng vẩy trong vũng lầy.

Ông có làm ảnh hưởng đến tinh thần quân lính trước trận chiến cam go nầy không? Sau-lơ có mưu cầu sự giúp đỡ từ nơi Chúa như ông đã từng mưu cầu trước đó không? (ISa 14:28) Một vài nhóm người có thẩm quyền cho rằng đồng bóng bắt người ta kiêng ăn trước khi đến với buổi lên đồng, có lẽ Sau-lơ đã nghĩ đến điều này. Trong một trường hợp khác, Sau-lơ đã hành động thật dại dột, bởi vì kiêng ăn không tìm kiếm được ơn phước của Chúa nếu tâm hồn chối bỏ Ngài.


Bà đồng bóng đổi vai thành người mẹ và nài xin vua ăn mộtthứ gi đó. Ông tự tách khỏi trại quân và đi một mình đến phía quân thù, và ngày hôm sau ông phải dẫn quân lính mình ra trận lần nữa để chiến đấu với quân Phi-li-tin. Giống như lần điên rồ trước, Sau-lơ thực hiện “vở kịch” và được tôn vinh như một anh hùng, với dáng vẽ hiên ngang anh dũng, nhưng lời khẩn cầu của đồng bóng bắt phục Sau-lơ. Người đàn bà đồng bóng đã tỏ ra hoàn hảo khi lừa người đàn ông khờ khạo không mấy khó khăn, vì có cách này mới lôi kéo người giàu có và yếu đuối như vậy trong dân sự. Vậy mà nó lại là nguồn vui của vua Y-sơ-ra-ên, ói đúng hơn đó là “buổi ăn tối cuối cùng” trước khi ông qua đời. Sau-lơ đã ăn, ồi rời ngôi nhà đồng bóng đó. Câu cuối cùng trong đoạn nầy nhắc nhở chúng ta về Giu-đa: “Còn Giu-đa, khi lãnh miếng bánh ấy rồi, liền đi ra. Khi ấy đã tối.” (Gi 13:30)


Khi chúng ta không thể giúp đỡ gì và cảm thấy tiếc cho Sau-lơ, vì chúng ta chưa ở trong thời gian lúc ấy, chúng ta phải công nhận rằng chính Sau-lơ chuốc lấy hậu quả và rước lấy sự tuyệt vọng cho chính mình. Nếu ông vâng lời Đức Chúa Trời thì ông sẽ không đánh mất ngai vàng, và nếu ông không truy bắt Đa-vít mà giao nhiệm vụ cho Đa-vít phát huy khả năng chiến đấu nơi quân lính thì chắc hẳn ông đã có sự chuẩn bị khi đối phó với Phi-li-tin và Gít-rê-ên. Bất chấp những ơn phước Chúa ban cho Sau-lơ, và những cơ hội để thay đổi tâm linh, Sau-lơ đã không chuẩn bị lãnh đạo, không chuẩn bị chiến đấu, và không chuẩn bị để chết.


2. Ngày thất sủng và bại hoại (ISa 28:3-25) (ISa 31:1-10; ISu 10:1-13)

Báo cáo quân sự của Sau-lơ được viết tóm lược trong ISa 14:47-48 Nó khen ngợi rằng Sau-lơ là anh hùng dân tộc. Sau-lơ bắt đầu quan tâm đến các chiến công rực rở của mình, vì sau những chiến công đó dân sự hát tôn vinh: “Sau-lơ giết hàng ngàn.” Sau đó, Sau-lơ có sai lầm vì không tiêu diệt A-ma-léc, từ đây Sau-lơ có biểu lộ sự xuống dốc. Đến khi Đa-vít được sai đến, lòng đố kị của Sau-lơ đến một cách hoang tưởng và tỏ ra nguy hiểm với chàng trai thành công này. Sau-lơ có nhiều phẩm chất tốt nhưng trong các phẩm chất đó không có tính khiêm nhường và sự vâng lời Đức Chúa Trời.Vì lòng kiêu ngạo và sự bất tuân mà Sau-lơ mất hết tất cả.


Sau-lơ thua trận (ISa 31:1 ISu 10:1)

Quân lính Sau-lơ không địch được cùng quân lính Phi-li-tin vì quá nhiều bất đồng và quá nhiều chiến xa. Có nhiều người đào ngủ và rất nhiều người bỏ mạng trên chiến trận. Phi-li-tin đã chiếm lấy thế trận vì họ đã tận dụng được chiến xa của mình, trong khi quân Y-sơ-ra-ên cố gắng nhử quân thù lên vùng đồi theo hướng núi Ghinh-bô-a. Y-sơ-ra-ên đông quân hơn và tỏ ra hơn hẳn, nhưng vì họ tỏ ra kiêu ngạo vì thấy mình mạnh hơn, họ đã chuốc lấy thất bại. Thời khắc quyết định của Sau-lơ đã đến. Không có sự cầu nguyện của Sa-mu-ên và sự hợp tác của Đa-vít, người được Chúa xức dầu, quân lính Y-sơ-ra-ên đã đi đến thất bại.


Sau-lơ đánh mất sanh mạng (ISa 31:2-7; ISu 10:1-6).

Một quy luật hàng đầu của cuộc chiến tranh cổ xưa là: “Giết chết vua của quân thù!” (IVua 22:31) Sau lơ có mặt trên chiến trận cùng với ba người con trong số bốn con trai mình, sau vài trận đánh, Ích-bô-sết mất tích (IISa 2:8; ISu 8:33; ISu 9:39). Cả ba người con của Sau-lơ đều bị giết trước, và đến Sau-lơ bị thương vì mũi tên quân thù, và chính ông ra lệnh người vác binh khí mình rút gươm giết mình.

Quân Phi-li-tin vốn nổi tiếng lăng nhục quân thù, đặc biệt là với các tướng lĩnh và vua bị bắt làm tù binh. Sau-lơ đã lo ngại mình sẽ bị tra tấn cho đến chết, cho nên khi người vác binh khí không làm theo lời của mình, Sau-lơ bèn lấy gươm và sấn mình trên mũi nó và chết. Ngay lập tức, kẻ vác binh khí Sau-lơ cũng tự kết liễu đời mình, như vậy, Sau-lơ, ba con trai người, kẻ vác binh khí người và hết thảy kẻ theo người đều chết chung với nhau. Đây chính là chiến thắng tuyệt đối trong lịch sử của người Phi-li-tin.


Triều đại của Sau-lơ là một bi kịch và cái chết của ông dường như không thể tránh được, hưng thật là bi thảm khi cả ba người con đều chết với Sau-lơ trên chiến trận. Giô-na-than có chung mơ ước với Đa-vít (ISa 23:16-18) nhưng giấc mơ đó không bao giờ thực hiện được. Tội lỗi luôn mang đến sự đau khổ và sự chết cho mọi người. “Cũng có tội đến nỗi chết” (IGi 5:16). Tội lỗi của cả hai Sau-lơ và Hê-li (ISa 4:1-18) trả giá trên cuộc đời của họ và trên cuộc đời con của họ. Đức Chúa Trời không phân biệt một ai.


Sau-lơ đánh mất lòng tôn kính (ISa 31:8-10; ISu 10:8-10).

Hành hạ tù binh cho đến chết là điều mà các tướng lĩnh ngày xưa vẫn thường làm khi thắng trận, chiến lợi phẩm là phần thưởng mà binh lính phải liều sự sống mình có được. Quân Phi-li-tin hẳn vui mừng vì lăng nhục xác của Sau-lơ. Chúng lột áo giáp Sau-lơ và cắt đầu người, và sau đó chúng loan tin này khắp xứ (ISu 10:9), chúng để binh khí trong miễu của các tà thần. Binh khí của Sau-lơ chúng để trong đền thờ của thần Át-tạt-tê và đầu của Sau-lơ chúng treo trong đền Đa-gôn.

Sau cùng, chúng công khai phơi bày chiến lợi phẩm trên bờ tường thành Bết-san, như vậy quân Phi-li-tin đã chiếm trọn thành phố Gia-be. Người Do-thái không thể thực hiện an táng theo phong tục vì binh khí và đầu của Sau-lơ bị quân thù lăng nhục và bị xúc phạm, cũng vì xác của Sau-lơ bị cắt rời và bị phơi bày cách lộ liễu đáng kinh tởm. Người Phi-li-tin muốn cho dân chúng và các vị thần của họ biết rằng họ đã từng có chiến thắng lẩy lừng trước quân thù của mình là quân Y-sơ-ra-ên. Đa-gôn đã vui mừng trong chiến thắng trước mặt Đức Giê-hô-va.


Sau-lơ đánh mất vương miện (IISa 1:1-10).

Tin tức về cái chết của Sau-lơ đến tai Đa-vít qua một người A-ma-léc; nhưng tin ấy không chính xác. Người nầy “tình cờ” có mặt tại chiến trường để hôi của, và đã lấy về vương miện và vòng vàng từ xác của Sau-lơ. Người lính A-ma-léc này không hề gây nên đau đớn cho Sau-lơ nhưng vì Sau-lơ đã tự vẫn và chết đương khi người lính này đến. Sau khi đánh cắp vương miện và vòng vàng, người A-ma-léc này bình tĩnh chuyển xác chết khỏi đó và che đậy nó lại cho đến khi người ta an táng. Hắn nghĩ rằng mình đã làm một việc lớn, điều này sẽ khiến cho Đa-vít hài lòng, nhưng mọi việc hắn làm mang đến cái chết cho hắn.


Vì tội của mình mà Sau-lơ đánh mất triều đại (ISa 13:11-14), đánh mất vương quốc mình (ISa 15:24-31), và sau cùng là đánh mất vương miện của mình. Lời cảnh báo của Chúa trong Kh 3:11 áp dụng cho bài học này như sau: “Ta đến mau kíp; hãy giữ lấy đều ngươi có, hầu cho không ai lấy mão triều thiên của ngươi.” Và trong IIGi 1:8 “Chính các ngươi phải giữ, hầu cho khỏi mất kết quả của công việc mình, nhưng cho được phần thưởng đầy đủ.”


3. Khoảng khắc liều lĩnh và lòng tận tâm (ISa 28:3-25) (ISa 31:11-13; ISu 10:11-13)

Trong khi quân Phi-li-tin ăn mừng vì chiến thắng tuyệt đối trên Y-sơ-ra-ên, lăng nhục Sau-lơ và các con trai người, thì dân sự ở Gia-be hay bi kịch này và đến cứu giúp. Chiến thắng đầu tiên của Sau-lơ là giải cứu thành Gia-be khỏi tay của quân Am-môn (ISa 11:1-11), chính vì thế mà dân sự của thành này hiệp lại mong muốn được trả ơn Sau-lơ khi trước.

Tất cả những chiến sĩ anh dũng đi suốt đêm trong cuộc hành trình chừng mười lăm đến hai mươi dặm đến thành Bết-san và gom lấy những bộ phận của bốn xác chết trong tình trạng thối rữa. Theo đúng hành trình là họ phải qua sông Giô-đanh và đi ngang qua lãnh thổ của quân thù. Sau-lơ không phải là nhà lãnh đạo thuộc linh, nhưng ông là một nhà lãnh đạo can đảm và là vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên. Nếu chúng ta không thể tôn trọng vua, thì chúng ta nên tỏ lòng tôn trọng các việc ông ta làm.


Các người lính thành Gia-be liều mình lần thứ hai và mang lấy những xác chết của Sau-lơ và con trai người về thành Gia-be. Tại đó, họ thiêu đốt các thây đã thối rữa, lấy cốt và chôn cất. Họ không đốt ra tro vì đó không là phong tục của Hê-bơ-rơ. Trong trường hợp khẩn cấp, người Do-thái thiêu đốt thi hài thối rữa mà họ không có tắm rửa và tẩm dầu thơm thi hài khi an táng và rồi giữ lại cốt sau khi thiêu. Sau khi dân thành Gia-be an táng, họ kiêng ăn trong bảy ngày nhằm tỏ lòng tôn kính đối với Sau-lơ và các con trai người.


Sau-lơ có trồng cây liễu rủ tơ trong cung điện tại Ra-mát (ISa 22:7), và bây giờ ông được chôn cất dưới cây liễu đó với ba người con ở gần Gia-be. Sau này Đa-vít khai quật hài cốt của Sau-lơ và Giô-na-than và mang về chôn cất trong phần mộ của dòng họ Sau-lơ tại Bên-gia-min. (IISa 21:13-14)

-ISa 31:1-13; xem giải nghĩa ISa 28:3-25.





TỔNG HỢP ISA-MU-ÊN: BỐN THÀNH CÔNG VÀ THẤT BẠI


Khi vị lãnh tụ nước Mỹ Benjamin Franklin tuyên bố bản “Tuyên ngôn Độc lập” vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, ông đã nhắc: “Chúng ta phải thực sự đoàn kết lại, thống nhất một cách kiên định, chúng ta phải cùng nhau bước đi trong sự gắn bó.” 

Đây là cách để giành được độc lập quốc gia, đó là phương hướng duy nhất dẫn đến sự thành công. Nhưng sau cùng, nước Mỹ đã có một nền chính trị đặc trưng và như đã tồn tại từ bao giờ.

Có hai phương châm được đúc kết nhằm đạt tới sự thành công, đó là: “E pluribus unum – một người vì mọi người” và “chúng ta tin cậy nơi Đức Chúa Trời.” Điều thứ nhất cho chúng ta biết điều gì xảy ra, và điều thứ hai cho chúng ta biết nó xảy ra như thế nào.


Nước Y-sơ-ra-ên là một minh chứng tương tự.

Sau khi Giô-suê qua đời, Y-sơ-ra-ên dần dần có biểu hiện phân rẽ. Thay vì phải tin vào Đức Giê-hô-va thì người Do Thái bắt đầu thờ phượng các tà thần của dân ngoại bang, và mối thông công thuộc linh được lưu giữ từ nhiều thế hệ này bắt đầu tan vỡ và suy yếu đi. Trước đó, dân sự luôn làm những điều đúng trong mắt của họ, và chú trọng một chút về giao ước mà họ đã lập nên với Đức Chúa Trời.

Và rồi dân sự cầu khẩn Chúa ban cho họ một vị vua, một người sẽ mang lại sự thống nhất cho quốc gia và mang lại chiến thắng cho quân lính. Đức Chúa Trời đã đáp trả lòng mong đợi và ban cho họ vua Sau-lơ, nhưng lại không giải quyết được các nan đề của dân sự, Sau-lơ chỉ làm cho tình hình dân sự thêm trầm trọng - nhưng để cho dân sự thấy rằng điều cần thiết nhất là họ phải tuyệt đối tin vào Đức Giê-hô-va và vâng theo Lời của Ngài.

Không phải cho đến khi vua Đa-vít cai trị quốc gia này thì những sự kiện trên mới bắt đầu có chiều hướng khác và như vậy ánh sáng đã được tìm thấy ở cuối đường hầm.


Đa-vít được xức dầu làm vua bởi Tiên tri Sa-mu-ên, và Sa-mu-ên là con trai của Ên-ca-na và An-ne; câu chuyện bắt đầu với An-ne, là một người phụ nữ nhẫn nhục, phục tùng Chúa hoàn toàn và có đức tin nơi Chúa là một tấm gương cho tất cả chúng ta noi theo:


1. An-ne, người phụ nữ tin kính

Tên An-ne có nghĩa là “Ơn Chúa”, và bà đã quyết định sống theo ý nghĩa tên mình. Đức Chúa Trời ban cho bà ân tứ chịu đựng những lời cay đắng nhục mạ của Phi-nê-a, vợ thứ của Ên-ca-na, và chịu đựng sự thiếu thốn cũng như đau khổ khi không có con. Bà đã là một người ăn nói nhẹ nhàng và đáp trả êm ái dù bà bị hiểu lầm và bị chỉ trích (Co 4:6).

Chúa đã ban cho bà một ân phước, đó là bà mang thai một con trai và bà dâng nó cho Đức Chúa Trời - rồi ca ngợi Chúa về điều này. Thật là tuyệt vời và ý nghĩa vì bài hát ca ngợi Chúa của An-ne được bà Ma-ri mượn lấy và dùng ca ngợi Chúa về ân phước Chúa ban cho mình (Lu 1:46-55)


An-ne là một người phụ nữ với “đức tin và nhẫn nhục” (He 6:12), là người có cuộc đời tận tụy với Đức Chúa Trời, khẩn xin một đứa con trai, và chờ đợi đến khi Chúa đáp lời cầu xin trong ý thánh và đường lối của Ngài. Bà An-ne nhẫn nhục chịu đựng lời dèm pha của Phi-nê-a ở tại nhà, và bà nhẫn nại đến nổi ông Ê-li lầm tưởng rằng bà đang say rượu. An-ne thật may mắn có một người chồng hết sức tin kính Chúa, bà được chồng hết sức yêu thương và động viên mình vâng theo thánh ý của Chúa. Có rất nhiều lần gặp khó khăn trong cuộc sống, nhưng An-ne vẫn bền lòng trong đức tin, hy vọng và tình yêu thương, sau cùng là đạt đến sự chiến thắng.


An-ne thấy rõ một số điều mà chúng ta hay quên, đó là công việc của Đức Chúa Trời và qua “cộng đồng chung” sẽ làm trọn mục đích của Đức Chúa Trời trên đất này. Đức Chúa Trời không đòi hỏi An-ne phải chỉ huy đoàn lính như Ngài đã từng phán với Đê-bô-ra (Cac 4:1-5:31), hoặc phải đứng ra làm sứ giả hòa giải như Ê-xơ-tê.

Đức Chúa Trời chỉ mong đợi An-ne một tấm lòng đang khao khát và mang đến cho bà một đứa con trai như đã cầu xin. “Cũng hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va, thì Ngài sẽ ban cho ngươi đều lòng mình ao ước.” (Thi 37:4) Tất cả những gì mà An-ne cần đến là trở nên người phụ nữ của Đức Chúa Trời, là một người vâng phục Chúa hoàn toàn. Trong hành động trên, bà An-ne đã cứu lấy nước Y-sơ-ra-ên.


ISa ghi chép rất nhiều về sự phản bội, cuộc chiến đẩm máu và có tiếng là hỗn độn, nhưng sách làm cho người đọc cảm thấy dễ chịu hơn khi khởi đầu sách người ta gặp ngay người phụ nữ rất mẫu mực được Chúa tin dùng.

Các vị lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên đều thất bại, vì thế Đức Chúa Trời tìm thấy người phụ nữ mà Ngài có thể dùng để mang lại chân lý, hòa bình, và mạng lệnh cho dân sự Ngài. Bà An-ne đã phục sự Chúa đơn giản bởi bản chất của một phụ nữ, và làm những điều mà người phụ nữ có thể làm được, đó là sanh ra một em bé và dâng đứa trẻ đó cho Đức Chúa Trời.

“Ngài khiến đờn bà son sẻ ở trong nhà, làm mẹ vui vẻ của những con cái. Halêlugia!” (Thi 113:9)


2. Hê-li, thầy tế lễ của Y-sơ-ra-ên

Tiên tri Hê-li là một người cha nuông chìu, thỉnh thoảng ông quở trách những đứa con của mình về những tội lỗi của chúng, nhưng lại không có kỷ luật mà để chúng lãng quên tội lỗi của mình. Công việc tại nơi có hòm giao ước theo thông lệ phù hợp với Hê-li, nhưng ở đây không có một quyền lực rõ ràng cũng như không có sự tươi mới về lời của Chúa.

Hình ảnh mà chúng ta thấy ở Hê-li là một người mập, già, ngồi chiểm chệ trên chiếc ghế để hướng dẫn mọi việc trong đền tạm, trong khi nhắm mắt bịt tai với những gì ông nên thấy và nghe. Hê-li là lãnh đạo của Do Thái giáo và liều mình với khó khăn để luôn có kinh nghiệm mới với Đức Chúa Trời.


Nhưng chúng ta có thể tán dương Hê-li vì đã chúc phước trên lời khẩn xin của An-ne (ISa 1:17), và vui mừng đón nhận đứa trẻ Sa-mu-ên khi bà An-ne mang Sa-mu-ên đến để dâng cho Đức Chúa Trời. Những đứa con của Hê-li không thích làm bạn với cậu bé này, nhưng Đức Chúa Trời và Hê-li nhìn thấy Sa-mu-ên là một người được ơn. Hê-li dạy dỗ Sa-mu-ên lẽ thật của Lời Chúa, và truyền kinh nghiệm trong công việc của ông tại nơi thiêng liêng của hòm thánh. Sa-mu-ên được đào tạo thành một thầy tế lễ nhưng Chúa lại kêu gọi ông vào chức vụ như là một tiên tri và quan xét.


Một vài điều khác đáng phải tán dương Hê-li: khi Đức Chúa Trời có lời phán của Ngài với Sa-mu-ên, Hê-li có lời khuyên bảo cậu bé; hãy lắng nghe lời phán, và trình dâng lên cho Chúa quyết định. “Ấy là Đức Giê-hô-va, nguyện Ngài làm đều đẹp ý Ngài!” (ISa 3:18).

Dù lời nầy là lời thừa nhận mình không còn có ích nữa và dấu hiệu của sự đầu phục thật không dễ nhận ra, nhưng chúng ta phải công nhận ích lợi sự nghi ngờ của Hê-li. Khi Hê-li đã thấy những gì Chúa làm trên cuộc đời cậu bé Sa-mu-ên, thì Hê-li đã động viên và cầu nguyện cho Sa-mu-ên. Ở đây không có viết Hê-li có lòng ganh tị với cậu bé vì Chúa phán trực tiếp với Sa-mu-ên mà không qua Hê-li. Hê-li đã chúc phước trên Sa-mu-ên như là người lãnh đạo lão luyện của thế hệ trước mong muốn thế hệ mới biết đến Chúa và sống vì Ngài. Bên cạnh đó, Hê-li cũng có những thất bại với những tội lỗi của con mình, ông đã giúp cho Sa-mu-ên những điều tốt nhất, và điều này cũng giúp ích cho nước Y-sơ-ra-ên.


Trong những ngày sau cùng trong chức vụ của mình, Hê-li gặp phải những điều không may, ó là: hai đứa con trai bị chết, hòm giao ước bị quân thù đoạt lấy, và cháu gái chết do sanh một đứa trẻ. “Ichabod - sự vinh hiển đã mất”.

Nhưng Đức Chúa Trời vẫn còn năng quyền trên Sa-mu-ên và chàng trai Sa-mu-ên sẵn sàng bước vào chức vụ và để mang lại niềm tin mới từ nơi Chúa cho đất nước. Hê-li chưa hẳn là nhà lãnh đạo thuộc linh giỏi, nhưng ông là mắc xích trong chương trình của Đức Chúa Trời, Hê-li xức dầu Đa-vít làm vua và sau này là dòng dõi sanh Chúa Cứu Thế.


3. Sa-mu-ên, người đầy tớ trung thành

Sa-mu-ên được sanh ra trong khi dân tộc và niềm tin của nó sa sút, nhưng ông sớm nhận biết bản thân là người sẽ lèo lái con tàu trên ngọn sóng lớn. Nhận lãnh ơn sủng từ Đức Chúa Trời, từ các thầy tế lễ đã được chuẩn bị để cứu giúp cho dân tộc mình, chứ không phải cầm quyền theo ý mình trên dân sự. Những vị lãnh đạo của Do-thái cần đến một vị vua sẽ là người có thể hợp nhất dân sự và cứu giúp họ khỏi sự đe dọa của các nước xung quanh.

Sa-mu-ên đã nhận thấy lời cầu khẩn này là dân sự rất cần đến một vua của Đức Giê-hô-va, nhưng Chúa phán với Sa-mu-ên rằng hãy đến cùng dân sự và xức dầu cho Sau-lơ làm vua. Sa-mu-ên đã làm theo cách tốt nhất của ông là dạy dỗ dân sự về cuộc sống dưới chế độ quân chủ, nhưng những lời của Sa-mu-ên dường như có sự khác biệt ở đây.


Dân sự để Sa-mu-ên ra ngoài chức vị quan xét của ông, nhưng địa vị của Sa-mu-ên vẫn là thầy tế lễ và là tiên tri của Đức Chúa Trời, sau đó Sa-mu-ên đã giúp cho Sau-lơ có được lợi thế ban đầu. Sa-mu-ên dẫn dắt dân sự làm mới giao ước của họ với Đức Chúa Trời, Sau-lơ đã giải nguy cho dân của Gia-bê Gi-li-át, Sa-mu-ên đến và có bài giảng sau cùng về điều mà ông đã hứa và cầu nguyện cho quốc gia này.

Nhưng điều đó đã sớm rõ ràng rằng Sau-lơ có một chút nhận thức sáng suốt trong đức tin, chính vì thế mà Sau-lơ đã dùng quyền lực vua để làm ích cho bản thân mà không chăm sóc dân sự. Sau-lơ đã có biểu hiện dối trá trong khi cố ý không vâng lời, đánh mất vương quốc, và gởi Sa-mu-ên về Ra-ma trong tình trạng đau buồn.


Những tác động thật sự biến chuyển không bao gồm những lời than vãn và ký ức về những ngày trước ở Ai-cập của dân sự. Khi Đức Chúa Trời phán với Sa-mu-ên hãy đi đến thành Bết-lê-hem và xức dầu cho một vị vua mới, Sa-mu-ên đã vâng theo và mạo hiểm với bản thân mình, Đa-vít đã trở nên nhân vật thay thế cho Sau-lơ. Thánh Kinh không nói cho chúng ta biết Sa-mu-ên khuyên dạy Đa-vít bao nhiêu, nhưng một tiên tri của Chúa thì nhận ra bàn tay Chúa đang dẫn bước và chắc chắn Đa-vít đã nhận biết Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài. Sa-mu-ên trở nên thân thiết với Đa-vít từ khi chưa quen biết nhau, Sa-mu-ên cầu nguyện cho Đa-vít và tin rằng Chúa sẽ lo toan mọi việc cho Đa-vít.


Sa-mu-ên là một tấm gương cho tất cả những người có đức tin lúc ấy, là những người luôn hãnh diện trong quá khứ, chịu đựng được thay đổi của hiện tại, và luôn hy vọng trong tương lai. Không có đời sống buông thả, Sa-mu-ên chấp nhận sự thay đổi, làm mọi điều mà mình có thể làm trong khi dân sự không làm theo, Sa-mu-ên tin rằng Chúa ban cho sự tươi mới trong tương lai. Đức Chúa Trời không hề quên vị trí vua, Ngài chọn một người tốt hơn nhằm có sự thay đổi, và chính Sa-mu-ên là người Chúa dùng để tìm người đó. Mỗi một người lãnh đạo cần đến Sa-mu-ên thì người đó phải nhận biết Chúa, tiếp lấy quá khứ nhưng sẽ phải bước đi theo Chúa bước vào chức vụ, một người có đức tin và can đảm, nhận thấy bàn tay Chúa quan phòng trên công việc mình trong khi người khác chỉ nhận thấy sự khó khăn.


Không một ai có thể dùng tiền để mua lấy lương tâm của Sa-mu-ên hoặc lên án Sa-mu-ên đặt tiền bạc lên trước chức vụ. Vết nhơ duy nhất trong cuộc đời của Sa-mu-ên là sự tham lam của các con ông, là những người lẽ ra sẽ được dùng trong chức vụ thì nay đã thành nô lệ của sự tham lam. Thánh Kinh cũng không đề cập đến người vợ của Sa-mu-ên, vì có lẽ bà đã qua đời khi còn trẻ nên đã không dạy dỗ con cái trở nên tin kính Chúa và gương mẫu. Sa-mu-ên luôn vắng nhà, ông luôn bận rộn với những công việc trong chức vụ, cho nên đã để những đứa con tự ở nhà một mình quá nhiều. Điều này không mang lại kết quả nào trong suốt quá trình phục vụ Chúa. Nhưng sau khi chúng ta thấy được những tình cảm mà Sa-mu-ên dành cho Đa-vít thì chúng ta cũng dễ thông cảm với Sa-mu-ên vì ông đã không có cơ hội dành tình cảm cho con ruột mình.


4. Sau-lơ, vị vua không kiên định

Nan đề của nhà lãnh đạo Sau-lơ là ông thiếu nền tảng thuộc linh để trở thành một người có đời sống tin kính. Sau-lơ có trí thức và sự hiểu biết của ông hơn hẳn người khác một cái đầu, nhưng Sau-lơ rất nhỏ con khi đứng cạnh bên Đa-vít và con trai mình là Giô-na-than. Sự thiếu hụt về vấn đề thuộc linh là kết quả của khiếm khuyết thứ hai, đó là thiếu sự tin cậy vào chính mình và thiếu luôn sự trông cậy nơi Chúa.

Ở đây muốn đề cập đến tất cả phương thức lãnh đạo, thì Sau-lơ đã nuông chiều cái tôi và luôn làm người xung quanh sợ hãi.Khởi đầu cho triều đại của mình, Sau-lơ cho rằng mình sẽ động viên dân sự, ông dùng đến vũ lực! Trong thời gian lúc này, Sau-lơ dùng đến binh lính liên tục, ông không hề có ý tưởng bảo vệ dân sự của mình mà muốn cho dân chúng biết ai đang làm chủ. Sau-lơ tin rằng mọi điều dối trá về Đa-vít sẽ giúp mình sớm hồi phục binh lính và quên đi nhu cầu thực sự của đất nước.


Khi Đa-vít đến trong vai trò thay Sau-lơ, Đa-vít không gây ra bất kỳ vấn đề gì- ông chỉ vạch trần chúng. Là một người không kiên định, Sau-lơ không tài nào chịu đựng được sự tranh chấp ngai vàng và quyền lực, điều này khiến cho Đa-vít thành kẻ thù địch. Dân sự yêu mến và kính trọng Đa-vít, điều này khiến cho Sau-lơ càng điên tiết hơn. Sau-lơ trở nên một người hai lòng, “phàm làm việc gì đều không định” (Gia 1:8).

Một mặt Sau-lơ truy bắt và tìm cách giết Đa-vít, mặt khác Sau-lơ lại tỏ ra lòng thương xót khi trông thấy và nghe tiếng của Đa-vít, ông cố tỏ ra hối lỗi với Đa-vít. Con người của Sau-lơ thật nông cạn, ông gặt lấy những gì mình đã gieo rắc. Tấm lòng không sâu sắc, nước mắt khóc là vay mượn, và sanh bông trái không có ích lợi.


Một điều khá nghịch lý là sự sụp đổ triều đại Sau-lơ đã mang lại sự thành công. Charles de Gaulle, tổng thống nước Pháp nói rằng: “Sự thành công bao gồm bên trong nó là mầm mống của sự thất bại, và ngược lại.” Những mầm mống của thất bại được sanh ra bởi bàn tay của lòng kiêu ngạo, và kiêu ngạo chính là một trọng tội lớn của Sau-lơ.

Sau-lơ bất ngờ mất đi quyền lực như đã dự báo trước, trong khi một chàng trai chăn chiên sắp lên ngôi vua mà chưa được báo trước, và chính Sau-lơ hầu như chưa có trang bị gì cả. Đức Chúa Trời có giúp đỡ Sau-lơ như Ngài đã từng giúp Môi-se, Giô-suê, Ghê-đê-ôn, nhưng Sau-lơ lại chọn theo ý riêng của mình. Chúng ta phải chuẩn bị cẩn thận trong sự thành công, nó có thể phá hoại chúng ta và cướp lấy mọi điều đang tạo nên sự thành công chân chính. Sau-lơ đã không nhận ra sự khác biệt này.


Khi đã thất bại, Sau-lơ đã biện minh thay vì nhận lỗi, nhưng lời nói dối của Sau-lơ chỉ làm cho ông tồi tệ hơn. Cuộc đời và vương triều của Sau-lơ có một kết cục trong sự giả tạo thật bi thảm, điều này chỉ tìm thấy ở những người a dua theo Sau-lơ và họ đã chối bỏ Đức Chúa Trời. Sau-lơ đã không đi theo con đường mà Môi-se, Giô-suê, Giô-na-than hoặc Đa-vít. Hơn thế nữa, Sau-lơ đã bỏ Lời Chúa ra ngoài tai và lời của ma quỷ đang ngự trị trong lòng ông.


Chales Haddon Spurgeon nói: “Tôi nhận thấy rằng mọi điều thật đáng tiếc không hơn không kém cho Sau-lơ khi Chúa lìa khỏi ông. Nhưng không biết làm sao Sau-lơ không cảm thấy nổi nhục nhã, đau khổ bên trong tâm hồn mình, điều này sẽ xảy ra nếu Sau-lơ thực sự nhận biết Chúa. Tôi không cho rằng tận trong thâm tâm của mình ông từng nhìn biết Chúa. Sau khi được Sa-mu-ên xức dầu, Sau-lơ ‘trở thành một con người khác, nhưng Sau-lơ không bao giờ trở nên một người mới…” 

Campbell Morgan nói rằng: “vua của Y-sơ-ra-ên là một chiến binh và chỉ như vậy, ông ấy không phải là một người chăn chiên.” Sau-lơ dùng đến binh khí thay vì là cây gậy của người chăn chiên.


Khi Chúa kêu gọi dân sự phụng sự Ngài, thì Chúa biết được khả năng họ làm được gì cho Ngài, Ngài không bỏ dân sự của Ngài nếu họ đặt niềm tin và vâng theo Ngài. Thất bại của Sau-lơ là ở đây. Khi Đức Chúa Trời lìa bỏ, thì câu trả lời luôn là số không.


Nhiều thế kỷ sau, một Sau-lơ khác được biết đến, đó là Sau-lơ người Tạt-xơ, người trở thành sứ đồ Phao-lô, “người nhỏ con”. Sau-lơ nói rằng “Phải, ân điển đó đã ban cho tôi, là kẻ hèn hơn hết mọi thánh đồ, để rao truyền cho dân ngoại sự giàu có không dò được của Đấng Christ.” (Eph 3:8), và Sau-lơ này hoàn toàn trái ngược với Sau-lơ trong Cựu-ước với vóc dáng cao to và vạm vở. Vua Sau-lơ tự vẫn tại chiến trường, nhưng người cùng tên với vua Sau-lơ tử đạo ở bên ngoài thành Rôma. Trước khi qua đời, ông viết cho Ti-mô-thê với cả lòng yêu mến “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin.” (IITi 4:7)


Trước khi nhắm mắt, Vua Sau-lơ ước ao mình có thể nói thêm nữa.


5. Giô-na-than, người bạn rộng lượng

Nhà truyền giáo người Anh và là nhà soạn nhạc George Matheson đã đúng khi ví Giô-na-than như là “cầu vồng trong cơn bão”.

Bạn không tìm thấy Giô-na-than nói ra điều bi quan hoặc nghi ngờ về khả năng mà Chúa ban cho mình nhằm hoàn thành trong công việc đó. Giô-na-than và binh lính mình đánh chiếm các đồn của Phi-li-tin và đã chiến thắng. Ông thách thức cách thẳng thắn với cách huấn thị kỳ lạ của cha mình, và Giô-na-than đã học cách làm bạn với quân lính, đó là bài học lối sống kỷ luật trong quân đội.

Giô-na-than đã liều mạng cứu giúp Đa-vít chạy trốn cha mình và tìm đến Đa-vít trong hoàn cảnh Đa-vít phải sống trong lưu vong, nhờ đó Giô-na-than có thể động viên tinh thần cho Đa-vít. Theo phong tục kế thừa ngai vàng, Giô-na-than đã trút bỏ quyền được kế thừa khỏi bản thân mình và trao vinh dự ấy cho Đa-vít.


Giô-na-than đã không màng đến việc sẽ trở thành người thứ hai. Giô-na-than yêu mến Đa-vít và dường như chưa có ai được Giô-na-than yêu mến như vậy. Giô-na-than đã kết ước với Đa-vít, từng bước giúp Đa-vít lên ngôi, ì lời hứa mà Giô-na-than đã làm cho Đa-vít điều mà mình không thể thực hiện được. Giô-na-than cũng yêu thương cha và đất nước mình cho đến cuối cùng, ông đã chết trên chiến trường trong khi đang cố gắng bảo vệ đất nước và vua cha. Đó là một thảm kịch đáng tiếc cho một hoàng tử phải chết vì sự lãnh đạo yếu kém của cha mình, nhưng Đức Chúa Trời không muốn là dòng dõi Sau-lơ và của Đa-vít cùng nhau ở trên ngôi vua.


Giô-na-than để lại cho chúng ta một minh chứng tuyệt vời về tình bạn chân chính, đó là: chân thật, yêu mến, hy sinh, luôn chăm lo cho bạn mình, luôn luôn mang lại niềm hy vọng và động viên khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn. Giô-na-than chưa bao giờ nhận lãnh vương miện trên đất, nhưng chắc chắn rằng ông đã có vương miện ở trên trời. “Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho người mũ triều thiên của sự sống.” (Kh 2:10)


6. Đa-vít, người chăn chiên can đảm

Là người con trai thứ tám và là “đứa trẻ” trong gia đình, hầu như ít ai biết đến danh tánh của Đa-vít, nhưng ông chính là người được Chúa chọn sau khi Ngài nhìn thấy bên trong tấm lòng của ông. Đức Chúa Trời ở cùng với Đa-vít. Sẽ không quá tệ khi đề cập đến tên của Đa-vít, dân sự nhớ ngay đến lỗi lầm của ông với Bát-sê-ba và mang tội giết chồng của Bát-sê-ba, đây là những trọng tội, Đa-vít là một người vĩ đại và phục vụ Chúa trong con đường chánh đáng.

Chúng ta phải nhắc đến những gì mà Đa-vít xây dựng và bảo vệ đất nước Y-sơ-ra-ên, hoặc các bài Thi thiên mà ông đã viết, hay là những chiến công ông đã lập nên nơi chiến trường, làm thịnh vượng cho đất nước, và chuẩn bị xây đền thờ cho Đức Giê-hô-va. Chúa đã tha thứ Đa-vít và Đa-vít trả giá cho tội lỗi mình, nhưng Đức Chúa Trời không bao giờ bỏ quên ông hay khước từ những phục vụ cống hiến Ngài. “Như vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Đức Chúa Trời.” (Ro 14:12)


Đa-vít là một người thèm khát Đức Chúa Trời. Ông ganh tị với các thầy tế lễ vì họ được đặc quyền ở trong nơi thánh của Đức Giê-hô-va và được ở trong sự hiện diện của Chúa. Đa-vít đã nhìn thấy Chúa trên các núi và các sông như là nơi trú ẩn, và ông đã nghe tiếng Chúa phán trong tiếng sấm. Riêng Đa-vít, cả một thế giới hoạt động với Đức Chúa Trời, sự vinh hiển Ngài rất cao, hậm chí cao hơn vinh quang của mọi vua nào, ông phục vụ Chúa và làm trọn mục đích của Ngài trên đất.


Đức Chúa Trời huấn thị Đa-vít lần đầu khi ông một mình canh giữ bầy chiên, và đúng lúc đó Ngài cho ông thấy tình thế đang đe dọa bầy chiên và huấn luyện ông hơn trong sự gian khổ. Các anh chê trách ông, vua đã tìm cách giết ông, và cận thần của vua lừa dối với ông, nhưng Đa-vít đã sống thật tình trước mặt Chúa và không bao giờ quay lưng lại. Đa-vít chưa thật hoàn hảo, cũng như ông ta đã tuyên bố như thế, nhưng trái tim của Đa-vít kiên định, ông ao ước làm vinh danh Chúa qua đời sống mình và hoàn thành được công việc nhà Chúa.


Dù có một lần Đa-vít còn lưỡng lự do hồ nghi, nhưng ông tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời và không bao giờ nghi ngờ như vậy nữa. Nghi ngờ là một trạng thái nhất thời của tâm hồn, nhưng vô tín là sự chống nghịch lại ý muốn Đức Chúa Trời, và chính Đa-vít không bao giờ mắc tội với điều đó. Trong khi Đa-vít tạm thời ở trên lãnh thổ của kẻ thù, ông tìm mọi cách để làm được nhiều điều nhiều hơn nữa cho nước Đức Chúa Trời.


Đa-vít là một hình ảnh hòa hợp đơn nhất giữa người lính và người chăn chiên, giữa nhạc sĩ và nhà chiến lược quân đội, giữa người chỉ huy và người du mục. Mặc dù Đa-vít có những lỗi lầm và thất bại, nhưng ông vẫn là vị vua vĩ đại của Y-sơ-ra-ên, và triều đại của ông sẽ tồn tại cho đến khi Vua Giê-xu cai trị trên ngôi Đa-vít với tư cách là Vua Bình An. Trong lần sau chúng ta nhấn mạnh những tiêu cực trong cuộc đời của Đa-vít, nên nhớ rằng Chúa Giê-xu không hề hổ thẹn khi được gọi là “Con của dòng dõi Đa-vít”.


Bốn người thành công đó là: An-ne, người nội trợ đảm đang; Sa-mu-ên, một tiên tri, thầy tế lễ; Giô-na-than, một hoàng tử, một người bạn; và Đa-vít, một vị vua.


Hai người thất bại đó là: thầy tế lễ Hê-li; và vua Sau-lơ.


Và Chúa vẫn còn phán với chúng ta rằng: ”Hãy để Chúa Giê-xu làm vua cuộc đời của bạn. Bạn sẽ thành công!”



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page