...ta hãy ôn lại những gì dân Y-sơ-ra-ên đã thực hiện trước khi đưa ra những lời chỉ dẫn được tìm thấy trong sách Lê-vi ký.
Khoảng 10 tuần lễ sau khi được giải cứu khỏi Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên đã đến núi Si-nai (Xu 19:1). Ở đó, Đức Chúa Trời đã công bố Luật pháp của Ngài và ban cho Môi-se những lời chỉ dẫn về việc xây cất đền tạm. Môi-se đã dựng đền tạm vào ngày thứ nhất, tháng thứ nhất của năm thứ hai trong cuộc giải phóng dân tộc Y-sơ-ra-ên (Xu 40:17), vì vậy những điều chúng ta đọc thấy trong sách Xuất Ê-díp-tô ký từ chương 16-40 diễn ra trong khoảng 9 tháng (Dân 9:1-5).
Sách Dân-số ký mở đầu bằng một cuộc kiểm tra dân số được thực hiện vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai của năm thứ hai (Dân 1:1), có nghĩa là những gì được ghi lại trong sách Lê-vi ký xảy ra khoảng 1 tháng. Đền tạm đã sẵn sàng để được sử dụng và giờ đây Đức Chúa Trời ban cho các thầy tế lễ những lời chỉ dẫn họ cần phải biết trong việc dâng những của lễ khác nhau.
Sáu của lễ cơ bản có thể được đem đến bàn thờ trong đền tạm. Khi những người đến thờ phượng muốn bày tỏ sự phó thác trước mặt Đức Chúa Trời, họ đem đến của lễ thiêu, và có thể cùng với của lễ chay (“meat”- thức ăn, KJV) và của lễ quán (Dan 15:1-10).
Những của lễ này nói đến sự dâng hiến trọn vẹn cho Chúa.
- Của lễ thù ân (“peace”– hòa bình,KJV) có liên quan đến mối giao thông với Đức Chúa Trời, và của lễ chuộc tội cùng của lễ chuộc sự mắc lỗi (“vi phạm”, KJV) đề cập đến sự tẩy sạch từ Đức Chúa Trời. Mỗi loại của lễ đáp ứng một nhu cầu cụ thể trong đời sống của người đến thờ phượng và cũng đã bày tỏ lẽ thật nào đó về con người và công tác của Đức Chúa Giê-xu Christ, là của lễ trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
Sự đổ huyết của con vật không thể làm thay đổi tấm lòng của một người hay cất đi tội lỗi của người ấy (He 10:1-4). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời xác định rằng tội lỗi của người đến thờ phượng đã được tha (Le 4:20,26,31,35; Le 5:10,13,16,18; Le 6:7) và Ngài đã thực hiện điều này bởi sự hy sinh của Đức Chúa Giê-xu Christ nơi thập tự giá (He 10:5-14) (1).
Giống như một số người trong các Hội thánh ngày nay, những người Do-thái đến thờ phượng có thể chỉ trải qua những cảm xúc nhất thời tại bàn thờ, mà không đặt cả tấm lòng họ vào đó; nhưng điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời chưa thật sự tha thứ cho họ (Thi 50:8-14; Thi 61:16-17; Es 1:10-20; Mi 6:6-8). Đức Chúa Trời không muốn những của lễ của chúng ta, Ngài muốn sự vâng phục từ chính tấm lòng của chúng ta (ISa 15:22).
Những của lễ được mô tả trong Lê-vi ký chương 1-7 nhắc nhở chúng ta về những nhu cầu thuộc linh cơ bản chúng ta đều có khi là dân sự của Đức Chúa Trời: sự phó thác cho Đức Chúa Trời, sự giao thông với Đức Chúa Trời, và sự tẩy sạch từ Đức Chúa Trời.
1. Sự Phó Thác Cho Đức Chúa Trời (Le 1:1-17) (Le 1:1-2:16; Le 6:8-23)
- Của lễ thiêu (Le 1:1-17; Le 6:8-13)
Là của lễ cơ bản bày tỏ sự tận tụy và dâng hiến cho Chúa. Khi chúng ta dâng mình cho Chúa, chúng ta đặt “tất cả trên bàn thờ” (Le 1:9) và không giữ lại chút gì cả. Điều tương tự được ghi lại trong Tân-ước là (Ro 12:1-2), dân sự Đức Chúa Trời được thách thức làm những của lễ sống, hoàn toàn đầu phục Chúa.
Nghi thức về của lễ được Chúa bày tỏ và không thể đổi khác. Của lễ phải là con vật giống đực trong bầy gia súc (Le 1:3-10) hoặc bầy chiên (c.10-14), hoặc có thể là một con chim (c.14-17) (2), và người thờ phượng phải đem của lễ đến cửa đền tạm nơi lửa luôn cháy trên một bàn thờ bằng đồng (Le 6:13).
Thầy tế lễ xem xét của lễ để biết chắc nó không có tì vết (Le 22:20-24), vì chúng ta phải dâng thứ tốt nhất của mình cho Chúa (Ma 1:6-14). Chúa Giê-xu Christ là một của lễ không lỗi không vít (IPhi 1:19), là Đấng đã phó chính Ngài qua sự dâng mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời (Gi 10:17; Ro 5:19; He 10:10).
Ngoại trừ của lễ là chim, đối với những của lễ khác thì người dâng phải đặt một tay trên của lễ (Le 1:4), hành động này tượng trưng cho hai điều: (1) sự đồng nhất hóa của người dâng với của lễ, (2) sự chuyển nhượng điều gì đó sang của lễ. Trong trường hợp của lễ thiêu, người dâng đang nói: “Giống như con vật này được dâng hoàn toàn cho Đức Chúa Trời trên bàn thờ, tôi cũng dâng mình hoàn toàn cho Chúa.”
Với những của lễ có liên quan đến sự đổ huyết, việc đặt tay có nghĩa là người dâng, về mặt tượng trưng, đang chuyển nhượng tội l ỗi và sự vi phạm sang con vật sẽ chịu chết thay cho tội nhân. Ngay cả của lễ thiêu cũng thực hiện sự chuộc tội cho người dâng (c.4).
Người dâng khi ấy giết con vật, và thầy tế lễ hứng lấy huyết trong một cái chậu và rảy huyết trên các cạnh của bàn thờ (c.5,11). Thầy tế lễ chớ không phải người dâng, sẽ giết con chim và huyết của nó được vắt ra trên cạnh của bàn thờ và xác nó được đốt trong lửa trên bàn thờ (c.15-17). Xác của bò, chiên hoặc dê được sả ra, các phần thịt được rửa sạch. Sau đó mọi phần thịt, ngoại trừ da, được sắp ra trên củi (3) và được đốt trong lửa. Phần da được dành cho thầy tế lễ (Le 7:8).
Ý nghĩa về của lễ được thể hiện qua sự lặp lại của các nhóm từ “trước mặt Đức Giê-hô-va” và “cho Đức Giê-hô-va”, được tìm thấy 7 lần trong chương đầu của Lê-vi ký (c.2,3,5,9,13-14,17). Việc dâng của lễ tại bàn thờ không phải giữa người dâng với lương tâm người ấy, hoặc giữa người dâng với dân tộc, hoặc thậm chí giữa người dâng với thầy tế lễ; nhưng là giữa người dâng với Chúa. Nếu người dâng đem của lễ đến một trong những đền thờ ngoại đạo, nó có thể làm hài lòng thầy tế lễ ngoại đạo và dân sự của ông ta, nhưng nó sẽ không mang lại sự chúc phước của Chúa.
Nhóm từ “mùi thơm” được sử dụng 3 lần trong chương này (c.9,13,17) và 8 lần trong các chương 1-3, và nó có nghĩa là “một mùi hương thơm ngát.” Vì Đức Chúa Trời là Thần, Ngài không có thể xác, nhưng những thuật ngữ mang tính thuộc thể được sử dụng trong Kinh Thánh để miêu tả những hành động và sự đáp ứng của Đức Chúa Trời.
Trong trường hợp này, Đức Chúa Trời được mô tả như đang ngửi mùi thơm và hài lòng với điều ấy (Sa 8:21; Le 26:31). Khi Chúa Giê Xu chịu chết trên thập tự giá, sự hy sinh của Ngài là một thức hương có mùi thơm cho Chúa (Eph 5:2), và những của lễ của chúng ta dâng lên cho Đức Chúa Trời cũng phải như thế (Phi 4:18).
Của lễ thiêu; Được tìm thấy trong (Le 6:9-13), Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn các thầy tế lễ phải giữ cho lửa cháy trên bàn thờ, bỏ tro khỏi bàn thờ và sau đó mang tro đến một nơi tinh sạch ngoài trại quân. Có thể chính Đức Chúa Trời đã đốt cháy ngọn lửa này khi các thầy tế lễ dâng mình và bắt đầu chức vụ của họ (Le 9:24) (4). Vì tro là thánh, nên chúng không thể bị vứt bỏ tại đống rác của trại quân, nhưng phải được đem đến một nơi tinh sạch về mặt nghi thức. Ngay cả cái diều của chim cũng được đặt chung với tro (Le 1:16) chứ không bị xem như vật bỏ đi.
• Của lễ chay (Le 2:1-16; Le 6:14-23; Le 7:9-10) (5) có thể được dâng tại bàn thờ dưới một trong năm hình thức: bột lọc, bánh nướng trong lò, bánh chiên trong chảo, bánh nướng trong một chảo rán (trên một cái vĩ), hay những gié lúa mới được rang và tán ra. Những bánh này giống với vỏ bánh nướng hay bột bánh pizza ngày nay.
Thầy tế lễ làm nhiệm vụ chỉ đặt một phần của lễ trên bàn thờ - “phần kỷ niệm” cho Chúa - là nơi của lễ sẽ được đốt trong lửa, và phần của lễ còn lại thuộc về các thầy tế lễ dành cho sự tiêu dùng riêng. Chỉ những người nam trong gia đình mới có thể ăn nó, và họ phải làm điều đó trong nơi Thánh của đền tạm (Le 6:16,18), và với bánh không men (c.17).
Của lễ chay duy nhất không được ăn là của lễ được dâng lên mỗi buổi sáng và buổi chiều bởi con trai của thầy tế lễ cả, là người sẽ kế nghiệp ông trong chức vụ (c.19-23). Hai lần một ngày, Đức Chúa Trời nhắc nhở các thầy tế lễ của Ngài rằng họ phải giữ mình cho được thánh khiết và chính trực khi hầu việc Ngài.
Vì hạt lúa tượng trưng cho kết quả công lao động của chúng ta, nên của lễ chay là một cách để dân Do-thái dâng lên cho Đức Chúa Trời những gì mà Ngài đã giúp họ làm ra. Nhũ hương được đốt với phần của lễ kỷ niệm tượng trưng cho sự cầu nguyện (Thi 141:2 Kh 5:8), là một sự nhắc nhở về lời cầu xin “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày” (Mat 6:11).
Nhưng của lễ chay không được dâng lên đơn lẻ, nó phải kèm với một trong những của lễ có sự đổ huyết. Sự nỗ lực của chúng ta không bao giờ có thể mua được sự cứu rỗi hay kiếm được phước hạnh của Đức Chúa Trời, vì nếu không có sự đổ huyết, thì không có sự tha tội (He 9:22) (6). Nhưng ai đã được cứu bởi đức tin nơi huyết đã đổ ra của Đấng Christ có thể dâng cho Chúa những gì Ngài đã giúp họ tạo ra.
Của lễ này cho biết Chúa Giê-xu Christ là Bánh Sự Sống (Gi 6:32), là Bánh tốt nhất nuôi dưỡng con người bên trong của chúng ta khi chúng ta thờ phượng và suy gẫm Lời Ngài. Điều này giải thích lý do Đức Chúa Trời đặt ra những điều kiện nghiêm nhặt mà người dâng của lễ phải đáp ứng trước khi của lễ chay được chấp nhận.
Của lễ phải có dầu (Le 2:1-2,4,6,15), hoặc là được đổ trên của lễ hoặc được pha trộn với của lễ, đây là một hình ảnh về Thánh Linh Đức Chúa Trời, là Đấng đã được ban cho Đấng Christ không giới hạn (Gi 3:34). Của lễ cũng phải gồm có muối (Le 2:13; Mat 5:13), liên hệ đến bản tính thánh khiết của Chúa. Chúa Giê-xu đã ví sánh Ngài với hạt lúa mì (Gi 12:23-25) và Ngài đã bị nghiền nát (“bột lọc”)và phải qua lò lửa thương khó để có thể cứu chúng ta khỏi tội lỗi.
Men và mật bị cấm trong phần dâng của lễ chay (Le 2:11). Dân Do-thái sẽ liên tưởng men với điều ác vì cớ những luật lệ về Lễ Vượt Qua (Xu 12:19-20; Lu 12:1; ICo 5:8), và dĩ nhiên là không có tội lỗi nào nơi Chúa Giê-xu Christ. Mật là thứ ngọt nhất do thiên nhiên tạo ra, nhưng bản tính trọn vẹn của Chúa chúng ta là thiêng liêng chứ không từ thế gian này. Việc men và mật đều lên men cũng có thể là một nhân tố.
• Của lễ quán (Dan 15:1-13) được đề cập trong (Le 23:13,18,37); nhưng “những luật lệ” của nó không được giải thích tại đây. Giống như của lễ chay, của lễ quán được dâng sau khi những con sinh tế được đặt trên bàn thờ và là một phần phải có trong của lễ thiêu (Dan 29:6,11,18-19). “Một phần tư hin rượu” (Le 15:5) là khoảng một phần tư ga-lông chất lỏng. Người dâng và thầy tế lễ đều không uống rượu, vì tất cả rượu đó được đổ trên bàn thờ. Hãy chú ý rằng những của lễ đắt tiền hơn đòi hỏi lượng rượu nhiều hơn để làm của lễ quán.
Của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ quán đều tượng trưng cho sự dâng hiến cho Đức Chúa Trời và sự phó thác cho Ngài cùng công việc Ngài. Việc đổ rượu ra là hình ảnh tượng trưng về một đời sống được tuôn đổ ra để dâng lên cho Đức Chúa Trời. Trên thập tự giá, Chúa Giê-xu đã bị “đổ ra như nước” (Thi 22:14)và “đổ mạng sống mình cho đến chết” (Es 53:12).
Phao-lô xem chính ông bị đổ ra như một lễ quán thay cho những người Phi-líp, dự phần trong của lễ của họ (Phi 2:17); và khi ở trong tù tại Rô-ma, ông đã “bị đổ ra như một lễ quán” (IITi 4:6 NIV) khi ông thấy trước sự tuận đạo của mình.
2. Sự Giao Thông Với Đức Chúa Trời (Le 1:1-17) (Le 3:1-17; Le 7:11-38)
Có nhiều nét đặc biệt về của lễ hòa bình hay của lễ thù ân cần phải được lưu ý. Trước hết, người dâng của lễ này có thể đem đến một con vật giống cái, là một điều không được phép đối với việc dâng những sinh tế khác. Nếu của lễ không phải về sự hoàn thành một lời hứa nguyện thì của lễ đó có thể có một vài khuyết tật và vẫn được chấp nhận (Le 22:23). Xét cho cùng, về mặt cơ bản, nó sẽ được dùng làm thức ăn cho các thầy tế lễ và gia đình của người dâng, và những khuyết tật đó sẽ không quan trọng.
Điều này đưa đến đặc điểm thứ ba của chúng ta: của lễ thù ân là của lễ duy nhất được chia xẻ với những người đến thờ phượng. Sau khi thầy tế lễ đã hoàn tất việc tế lễ, hầu hết phần thịt sẽ thuộc về ông; phần còn lại dành cho người dâng của lễ, sau đó người này có thể có một bữa tiệc chung vui cùng gia đình và bạn bè mình. Vì dân Do-thái thường không giết những con vật quý của họ để lấy thịt, nên một bữa ăn tối có thịt bò hay thịt chiên là một dịp đặc biệt.
Tại lễ dâng hiến đền thờ, Sa-lô-môn đã dâng 142.000 của lễ thù ân và dân sự được dự tiệc trong suốt hai tuần lễ (IVua 8:62-66).
Ở Đông phương, việc ăn chung với những người khác là khiến họ trở thành bạn bè và đồng minh của bạn. Điều này có nghĩa là chấm dứt những sự thù địch,như Gia-cốp và cha vợ của ông là La-ban (Sa 31:54), hoặc ấn chứng về tình bằng hữu, như với Y-sơ-ra-ên và Giê-trô cùng dân sự (Xu 18:12). Trong Hội thánh ngày nay, Bữa Ăn Tối của Chúa, hay Tiệc Thánh là một bữa ăn đơn giản bày tỏ sự hiệp nhất trong gia đình Đức Chúa Trời (ICo 10:16-18; ICo 11:18-34). Đó là lý do nó được gọi là “Tiệc Thông Công.”
Tuy nhiên, bữa ăn về của lễ thù ân không chỉ là sự thưởng thức món ăn ngon và mối thông công với những người thân yêu. Nó cũng bày tỏ sự cảm tạ vui mừng khi người đến thờ phượng được hòa thuận với Đức Chúa Trời và ở trong sự giao thông với Đức Chúa Trời.
Người ấy có thể dâng lời tạ ơn vì phước hạnh bất ngờ nào đó mà Đức Chúa Trời đã ban cho mình (Le 7:11-15), hoặc có thể người ấy đã lập một lời thề nguyện trước mặt Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu nguyện của người ấy. Hoặc có thể người ấy chỉ tạ ơn Đức Chúa Trời về mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho người ấy và muốn cho mọi người đều biết (c.16-18).
Của lễ thù ân nhấn mạnh đến một sự kiện là sự tha tội sẽ đưa đến mối thông công với Đức Chúa Trời và với dân sự của Đức Chúa Trời.
(Le 7:11-38) đưa ra những điều kiện về bữa tiệc, loại thức ăn nào dành cho dân sự, loại nào dành cho thầy tế lễ, và phải làm gì với lượng thức ăn còn thừa. Huyết và mỡ (7) được dâng lên cho Đức Chúa Trời và không bao giờ được dùng như đồ ăn thường ngày (cũng có những lý do hợp lý về vệ sinh đối với luật lệ này). Bất cứ ai bị ô uế đều bị cấm đến dự tiệc và bị “truất khỏi” dân sự mình (Le 7:20-21,25,27; Le 17:4,9-10,14; Le 18:29; Le 19:8; Le 20:3,5-6,17-18; Le 23:29).
Trong trường hợp một người vi phạm ngày Sa-bát, bị “truất” nghĩa là bị giết (Xu 31:12-14; Dan 15:32-36); nhưng chúng ta không chắc là mọi vi phạm luật lệ về của lễ đều mang tội tử hình. Trong một số trường hợp, “bị truất khỏi dân sự mình” có thể có nghĩa là bị đưa ra “ngoài trại quân” cho đến khi người ấy làm theo những lời chỉ dẫn của Đức Chúa Trời trong việc tẩy uế (chương 15).
Chính trên thập tự giá, Chúa Giê-xu Christ đã đem đến sự giảng hòa (IICo 5:16-21) và hòa bình với Đức Chúa Trời (Co 1:20) cho tất cả những ai tin nhận Ngài, và chúng ta có thể bước vào mối giao thông với Đức Chúa Trời và với những tín hữu khác vì cớ huyết Ngài đã đổ ra (IGi 1:5-2:2). Chúng ta “dự tiệc” Đấng Christ khi chúng ta sống bởi Lời Ngài và làm cho mình trở nên thích ứng với tất cả những gì Ngài dành cho chúng ta và làm cho chúng ta. Thay vì đem đến những con vật, chúng ta dâng cho Đức Chúa Trời “của lễ tạ ơn” (Thi 116:17) và “của lễ bằng lời ngợi khen” (He 13:15) từ tấm lòng tinh sạch biết ơn về sự thương xót của Ngài.
3. Sự Tẩy Sạch Từ Đức Chúa Trời (Le 1:1-17) (Le 4:1-6:7,24-30; Le 7:1-10)
Của lễ chuộc tội và chuộc sự mắc lỗi (hoặc vi phạm) rất giống nhau và thậm chí được điều khiển bởi cùng một luật (Le 7:1-10). Nói chung, của lễ chuộc sự mắc lỗi dành cho những tội lỗi của cá nhân có ảnh hưởng đến con người và tài sản và qua của lễ này có thể đem đến sự phục hồi, còn của lễ chuộc tội tập trung vào sự vi phạm nào đó về Luật pháp đã được thực hiện mà không có sự cố ý. Của lễ chuộc sự mắc lỗi chú trọng đến sự thiệt hại do người phạm lỗi gây ra cho người khác, còn của lễ chuộc tội nhấn mạnh đến tội lỗi của người phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời. Thầy tế lễ sẽ xem xét người vi phạm và quyết định của lễ nào được cần đến.
Nhóm từ được lặp lại “lầm lỡ” (Le 4:2,13,22,27; Le 5:15) nghĩa là không phải tội nhân không biết về luật pháp, nhưng họ không biết mình đã vi phạm luật pháp. Họ đã trở nên ô uế hoặc bất tuân mà không nhận ra điều đó. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết không xóa đi sự ph ạm tội. “Dầu người đó không biết, vẫn mắc lỗi” (c.17, xem thêm c.1-5 để có những ví dụ về những tội liên quan) (8). Một khi tội lỗi của họ đã được nhận biết thì nó phải được xưng ra và giải quyết. Đa-vít đã sử dụng chính từ này khi ông cầu nguyện, “Xin Chúa tẩy sạch tôi khỏi những lỗi kín giấu” (Thi 19:12), nghĩa là “những tội lỗi tôi không biết trong đời sống tôi.”
Không có của lễ nào dành cho người “kiêu căng” cố tình phạm tội trong ánh sáng của luật pháp Đức Chúa Trời (Dan 15:30-36). Khi Đa-vít lấy Bát-sê-ba và sau đó mưu sát chồng bà (IISa 11:1-12:31), ông đã cố tình phạm tội với cặp mắt mở to. Vì vậy, ông biết rằng hy vọng duy nhất của ông là sự thương xót của Đức Chúa Trời (Thi 51:1,11,16-17). Là vua, ông có thể đem đến hàng ngàn của lễ, nhưng chúng sẽ không phải là những “của lễ công bình” (c.19).
• Của lễ chuộc tội (Le 4:1-5:13; Le 6:24-30) (9) phải được đem đến cho Chúa dù tội nhân là ai; và địa vị của người có tội càng cao trong dân sự thì của lễ phải càng đắt giá. Đặc quyền càng lớn thì trách nhiệm và tầm quan trọng càng lớn. Nếu thầy tế lễ cả phạm tội, người ấy phải đem đến một con bò tơ (Le 4:1-12). Nếu cả hội chúng phạm tội, họ cũng phải đem đến một con bò tơ (c.13-22). Một quan trưởng đem đến một dê con đực (c.22-26) còn một “thường dân” (thành viên trong cộng đồng, NIV) đem đến một dê con cái hoặc một chiên con cái (c.27-35). Một người nghèo có thể đem đến một con chim cu hay chim bồ câu, và một người quá nghèo có thể đem đến một của lễ không có huyết là bột lọc (Le 5:7-13).
Dù con vật nào được đem đến thì người vi phạm cũng phải đồng nhất hóa với của lễ bằng cách để tay lên của lễ. Khi cả dân tộc phạm tội, chính những trưởng lão là những người làm việc này (Le 4:15) vì với tư cách là những quan trưởng, họ chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời để theo dõi đời sống thuộc linh của dân sự.
Con vật bị giết, và huyết được dâng lên cho Đức Chúa Trời. Trong trường hợp thầy tế lễ cả và dân sự, một phần huyết được rảy trước bức màn và được bôi trên các sừng của bàn thờ xông hương trong nơi Thánh rồi đổ hết phần huyết còn lại tại chân của bàn thờ. Điều này nhắc nhở mọi người rằng tội lỗi của các quan trưởng có những hậu quả lớn hơn. Huyết của các con sinh tế do các quan trưởng hoặc dân chúng đem đến được xức vào các sừng của bàn thờ bằng đồng hoặc tại cửa đền tạm.
Hãy chú ý rằng trong khi mỡ của con sinh tế được đốt trên bàn thờ, nhưng xác con sinh tế được đốt ở một nơi tinh sạch ngoài trại quân (c.8-12,21). Vì sao? Trước hết, điều này sẽ phân biệt của lễ chuộc tội và của lễ thiêu để những người đến thờ phượng không bị nhầm lẫn khi họ quan sát.
Nhưng còn hơn thế, nó nhắc nhở dân sự rằng tội lỗi của thầy tế lễ cả và toàn hội chúng sẽ làm ô uế cả trại quân; và của lễ chuộc tội quá thánh khiết nên không thể giữ trong một trại quân không thánh khiết. Cuối cùng,theo (He 13:10-13), đây là hình ảnh về Chúa Giê-xu Christ của chúng ta, Đấng đã chịu chết “ngoài cửa thành . . . ngoài trại quân” để làm của lễ chuộc tội cho chúng ta (He 13:12-13 NIV).
- Kết quả của nghi lễ này là sự tha thứ (Le 4:20,26,31,35; Le 5:10,13; Le 6:7).
Như tôi đã đề cập trước đó, dù của sinh tế không thể cất đi tội lỗi hay làm thay đổi tấm lòng của con người, nhưng những của lễ này sẽ cho thấy Của lễ trọn vẹn là Chúa Giê-xu Christ (He 10:1-15). Ngài là của lễ chuộc tội của chúng ta (Es 53:4-6,12; Mat 26:28; IICo 5:21; IPhi 2:24).
• Của lễ chuộc sự mắc lỗi (Le 5:14-6:17 Le 7:1-10) được cần đến cho hai loại tội: những tội nghịch với “những vật thánh của Đức Giê-hô-va” (Le 5:15) và nghịch với người lân cận (Le 6:1-7). Loại thứ nh ất bao gồm những vi phạm cần phải có những của lễ dâng lên cho Đức Chúa Trời, những lời hứa nguyện, việc kỷ niệm những ngày đặc biệt, v.v., còn những ví dụ về loại thứ hai được trình bày trong câu 2-3.
Nghi lễ này đòi hỏi tội nhân phải xưng ra tội lỗi mình (Dan 5:7), bồi hoàn tài sản có liên quan hoặc số tiền tương đương, trả khoản tiền phạt tương đương 20% giá trị của tài sản bị thiệt hại, và dâng một chiên đực cho Chúa (Le 5:15,18). Thầy tế lễ đánh giá con chiên đực để biết chắc giá trị của nó để người vi phạm không tìm cách chuộc tội mình bằng việc dâng cho Chúa cái gì đó rẻ tiền.
Khoản bồi hoàn và số tiền phạt trước tiên được giao cho thầy tế lễ để ông ấy biết có được phép dâng của lễ hay không (Le 6:10). Nếu người bị hại không còn để nhận lấy tài sản hay tiền bồi thường thì có thể trả cho một trong những người bà con của người ấy, nếu vẫn không có người bà con nào thì phần ấy thuộc về thầy tế lễ (Dan 5:5-10).
Của lễ chuộc sự mắc lỗi minh họa một sự thật rất nghiêm túc rằng sẽ là một điều rất đắt giá đối với con người khi phạm tội và đối với Đức Chúa Trời để tẩy sạch tội lỗi. Tội lỗi của chúng ta làm tổn thương Đức Chúa Trời và tổn thương những người khác. Sự ăn năn thật sẽ luôn đem theo nó một khao khát về sự phục hồi.
Chúng ta sẽ muốn làm cho mọi sự trở nên hòa thuận với Đức Chúa Trời và với những người chúng ta đã phạm tội. Sự tha thứ chỉ đến vì cớ sự chết của một con vật thay thế vô tội. Đoạn văn trong (Es 53:10) xác định rõ rằng khi Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá, Đức Chúa Trời đã khiến Con Ngài trở nên “một của lễ chuộc tội” (NIV). Án phạt mà chúng ta lẽ ra phải trả thì Ngài đã trả thay cho chúng ta!
Chúng ta không thể đi sâu vào chi tiết về những của lễ này; nhưng điều chúng ta đã học phải giúp chúng ta nhận ra sự kinh khiếp của tội lỗi, tính chất quan trọng của việc xưng tội và phục hòa, sự nhân từ của Đức Chúa Trời trong việc tha thứ những người tin đến Đức Chúa Giê-xu Christ, và tình yêu kỳ diệu của Cứu Chúa chúng ta trong việc Ngài sẵn sàng chịu chết cho những người không xứng đáng như chúng ta.
Chúa Giê-xu chu cấp mọi điều chúng ta cần, Ngài là của lễ thiêu của chúng ta và chúng ta phải dâng mình hoàn toàn cho Ngài. Ngài là của lễ chay của chúng ta, là hạt giống bị nghiền nát và bị đưa qua lửa, để chúng ta có thể có bánh của sự sống, và chúng ta phải sống bởi Ngài. Ngài là của lễ quán của chúng ta, Đấng đã đổ chính Ngài ra qua sự hy sinh và hầu việc,nên chúng ta phải đổ chính mình ra cho Ngài và cho người khác. Ngài là của lễ thù ân của chúng ta, khiến đời sống trở nên một bữa tiệc vui mừng thay cho một nạn đói đau khổ. Ngài là của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi của chúng ta, vì Ngài đã mang tội lỗi của chúng ta trên thân thể Ngài (IPhi 2:24) và đã trả giá đầy đủ cho tội lỗi của chúng ta (IPhi 1:18-19).
Dân tộc Y-sơ-ra-ên phải dâng 6 của lễ khác nhau để có một mối liên hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời, nhưng Chúa Giê-xu Christ đã “dâng một của lễ chuộc tội đời đời” (He 10:12) và giải quyết vấn đề tội lỗi của chúng ta một cách trọn vẹn.
Chính bạn có tin rằng Chúa Giê-xu Christ đã chết thay cho mọi tội lỗi của bạn và trả hết nợ của bạn chăng? Bạn có thể nói như Ma-ri rằng: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời là Cứu Chúa tôi?” (Lu 1:46-47 NKJV). Nếu không, hãy tin Ngài hôm nay,nếu bạn đã tin Ngài, hãy chia xẻ tin mừng nầy với người khác.
Chúa Giê-xu đã phán với một tội nhân ăn năn: “Đức tin ngươi đã cứu ngươi, hãy đi trong sự bình an” (Lu 7:50 NKJV).
Thật là những lời kỳ diệu đáng chú ý thay!
-Xu 2:1-19; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 3:1-17; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 4:1-35; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 5:1-19; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 6:1-30; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 7:1-38; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
2. MỘT NƯỚC THẦY TẾ LỄ (Le 8:1-10:20)
Dưới Giao-ước Cũ, dân sự Đức Chúa Trời có một chức thầy tế lễ; Dưới giao ước mới, dân sự Đức Chúa Trời là một “chức tế lễ thánh” và một “chức tế lễ nhà vua” (IPhi 2:5,9). Mỗi tín hữu trong Chúa Giê-xu Christ có thể đồng thanh với sứ đồ Giăng rằng: “Đấng yêu thương chúng ta đã lấy huyết mình rửa sạch chúng ta khỏi tội lỗi chúng ta và làm cho chúng ta trở nên nước và thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, Đấng đáng được sự vinh hiển và quyền thống trị đời đời vô cùng” (Kh 1:5-6 NKJV).
Mong muốn của Đức Chúa Trời là cả dân Y-sơ-ra-ên làm “một nước thầy tế lễ và một dân tộc thánh” (Xu 19:6), nhưng họ đã quên Ngài và trở nên một “nước mắc tội, dân mang lỗi nặng nề” (Es 1:4). Một lý do dân tộc này suy sụp về đạo đức và thuộc linh là vì các quan trưởng không nên thánh và không vâng phục khi Đức Chúa Trời truyền lệnh. Cuối cùng Ngài phải sai Ba-by-lôn trừng phạt Y-sơ-ra-ên “vì cớ tội lỗi của các tiên tri nó và sự gian ác của các thầy tế lễ nó” (Ca 4:13). Giê-rê-mi đã nói: “Một việc kinh tởm và đáng căm phẫn đã xảy ra trong đất này. Những kẻ tiên tri nói tiên tri dối,các thầy tế lễ cai trị bằng chính quyền hạn của họ và dân ta yêu thích điều đó như vậy. Nhưng các ngươi sẽ làm gì lúc cuối cùng?” (Gie 5:30-31 NIV).
Đức Chúa Trời muốn Hội thánh Ngài hôm nay là “một dân tộc thánh, một dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho (họ) có thể rao ra những lời ngợi khen Ngài, Đấng đã gọi (họ) ra khỏi sự tối tăm vào trong sự sáng kỳ diệu của Ngài” (IPhi 2:9 NIV). Các thầy tế lễ Do-thái là một dân có đặc quyền, nhưng họ xem thường đặc quyền của mình và góp phần dẫn dắt dân sự vào sự phạm tội. Thậm chí sau khi dân Do-thái từ Ba-by-lôn trở về xứ và lập lại sự thờ phượng của họ, các thầy tế lễ cả đã không dâng cho Đức Chúa Trời điều tốt nhất của họ, và Ngài đã quở trách họ (Ma 1:6-2:17).
Các chương 8-10 mô tả lễ phong chức kéo dài 8 ngày dành cho thầy tế lễ cả A-rôn và các con trai ông. Là những thầy tế lễ được chọn của Đức Chúa Trời, họ phải nhận lấy ba trách nhiệm quan trọng: đầu phục thẩm quyền của Đức Chúa Trời (ch 8), bày tỏ vinh hiển Đức Chúa Trời (ch 9), và chấp nhận kỷ luật của Đức Chúa Trời (ch 10).
1. Đầu Phục Thẩm Quyền Của Đức Chúa Trời (Le 8:1-36)
Ít nhất 20 lần trong ba chương này bạn sẽ tìm thấy từ phán dặn. Môi-se và A-rôn không cần phải đặt ra một lễ phong chức. Chính Đức Chúa Trời, Đấng đã chỉ dẫn Môi-se cách xây đền tạm cũng sẽ cho ông biết phải phong chức cho các thầy tế lễ như thế nào và cách thức các thầy tế lễ phải hầu việc trong đền tạm ra sao (Xu 28:29). Không có chỗ cho sự tình cờ hay tưởng tượng ở đây. Môi-se phải làm mọi điều theo như Đức Chúa Trời đã chỉ cho ông ở trên núi (Xu 25:40; Xu 26:30; Xu 27:8; He 8:5).
Trong chức vụ của hội thánh ngày nay, các lãnh đạo thuộc linh phải luôn hỏi: “Kinh Thánh dạy có mục đích gì?” (Ro 4:3 NKJV), Đức Chúa Trời không để chúng ta trong sự tối tăm về việc nhận biết Hội thánh Ngài là gì, phải được dẫn dắt như thế nào, và cần phải làm gì, nhưng nếu chúng ta thay thế những tư tưởng con người cho Lời Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ ở trong sự tối tăm! (Es 8:20).
Những điều mới lạ và những điều gây thích thú trong tôn giáo có rất nhiều, tạo nên những người nổi tiếng và làm gia tăng hội chúng nhưng không phải lúc nào cũng tôn cao Chúa hoặc gây dựng Hội thánh. Chúng ta cần những người lãnh đạo như Môi-se, là người sẽ dành thời gian “ở trên núi” và tìm thấy từ Lời Chúa điều Đức Chúa Trời muốn dân sự Ngài làm theo.
• Hội chúng được triệu tập (Le 8:1-5).
Lễ phong chức A-rôn và các con trai ông là một sự kiện công khai như mọi lễ phong chức phải như thế (Cong 13:1-3; Cong 16:1-3; ITi 4:14). Điều trước hết là họ phải hầu việc Đức Chúa Trời và tìm cầu làm đẹp lòng Ngài (Xu 28:1,3-4,41), nhưng họ cũng sẽ là những người đầy tớ giữa vòng dân sự. Việc tất cả dân sự trong trại quân tập hợp cùng một lúc tại cửa đền tạm là điều không thể xảy ra, nên có lẽ đó là những trưởng lão và các quan trưởng nhóm lại, đại diện cho các chi phái và các chi tộc khác nhau (Le 9:1). Được biệt riêng cho chức vụ là một điều nghiêm túc, và nó phải được thực hiện dưới thẩm quyền của Đức Chúa Trời và được dân sự Đức Chúa Trời làm chứng.
• A-rôn và các con trai ông được tắm rửa (Le 8:6).
Việc này có thể đã được thực hiện tại chậu rửa trong sân đền tạm (Xu 38:8). Các thầy tế lễ được tắm rửa theo nghi thức khắp toàn thân nhưng chỉ một lần; từ đó trở đi, họ sẽ rửa tay và chân tại chậu rửa trong khi họ hầu việc trong đền tạm (Xu 30:17-21). Khi tội nhân tin Đấng Christ, họ được rửa sạch khỏi tội lỗi một lần đủ cả (Kh 1:5-6; ICo 6:9-11). Con cái Đức Chúa Trời cần phải giữ chân mình sạch sẽ bằng cách xưng tội với Chúa (Gi 13:1-10; IGi 1:9). Trong Kinh Thánh, nước dùng để rửa là hình ảnh về Lời Đức Chúa Trời (Thi 119:9; Gi 15:3; Eph 5:25-27). Khi chúng ta suy gẫm Lời Đức Chúa Trời và áp dụng vào đời sống mình, Thánh Linh Đức Chúa Trời sẽ dùng Lời Ngài để tẩy sạch chúng ta và khiến chúng ta càng trở nên giống Đấng Christ hơn (IICo 3:18).
• A-rôn được mặc áo (Le 8:7-9).
A-rôn và các con trai ông đều mặc áo trong bằng vải gai (Xu 28:42-43; Le 6:8-10; Xu 20:26), nhưng thầy tế lễ cả sẽ mặc những chiếc áo đẹp thật đặc biệt, được mô tả trong Xuất Ê-díp-tô ký chương 28. Trước tiên, Môi-se mặc cho A-rôn áo ngoài màu trắng thêu cực xảo và cột bằng thắt lưng. Trên đó ông mặc áo choàng xanh có những chuông vàng và hạt ngọc trên đường viền áo. Trên áo này có một ê-phót bằng vải gai, là một áo choàng không tay được thắt bằng một cái đai đặc biệt, cả ê-phót và đai đều được thêu cực xảo bằng chỉ màu đỏ điều, xanh, tím và vàng. Trên ê-phót là bản đeo ngực, là một miếng vải thêu được gấp đôi lại, trên đó là 12 viên đá quý đại diện cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên, và trong đó là “u-rim và thu-mim” (1). Trên đầu thầy tế lễ cả đội mũ vải gai (hoặc mũ tròn không vành), với một “vương miện” đặc biệt ở phía trước được khắc những chữ THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA.
Mỗi “thầy tế lễ tín hữu” đều được mặc bằng vẻ đẹp và sự công bình của Chúa Giê-xu Christ và được chấp nhận trong Ngài (Es 61:10; IICo 5:21; Eph 1:6).
Sự công bình của chúng ta chỉ là những miếng giẻ rách nhớp nhúa trước mặt Đức Chúa Trời mà thôi ( Es 64:6). Tội lỗi chúng ta phơi bày trước Đức Chúa Trời thánh khiết thật gớm ghê dường bao! Thầy tế lễ cả được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời vì quần áo mà Đức Chúa Trời đã chu cấp trong ân điển Ngài.
• A-rôn và đền tạm được xức dầu (Le 8:10-12).
Việc này được thực hiện bằng một loại dầu đặc biệt mà không ai được bắt chước làm theo trong trại quân, nó cũng không được sử dụng cho bất kỳ ai ngoài thầy tế lễ (Xu 30:22-33). Trong Kinh Thánh, dầu thường là một biểu tượng về Thánh Linh Đức Chúa Trời, Đấng xức dầu cho mỗi tín hữu (IICo 1:21; IGi 2:20,27; Thi 133:1-3).
Từ Hê-bơ-rơ “Mê-si-a” và từ Hy-lạp “Christ” đều có nghĩa là “Đấng được xức dầu” (Lu 4:18; Cong 10:38). Sự kiện “sự xức dầu của Đức Giê-hô-va” ở trên các thầy tế lễ đã biệt riêng họ với dân chúng và điều chỉnh những việc họ có thể và không thể làm (Le 8:30 10:7; Le 21:12,20).
• Các con trai A-rôn được mặc áo (Le 8:13).
Họ không có áo đẹp của thầy tế lễ cả, nhưng áo họ mặc vẫn do Đức Chúa Trời phán bảo, vì áo choàng và mũ vải gai của họ tượng trưng cho sự thánh khiết trước mặt Đức Chúa Trời về tính cách và hạnh kiểm. “Nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Giê-xu Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (Ro 13:14).
• Những của lễ khác nhau được dâng lên (Le 8:14-29).
Bò tơ dùng làm của lễ chuộc tội cho A-rôn và các con trai ông có thể thực hiện việc tẩy sạch tội lỗi của họ, và chiên đực dùng làm của lễ thiêu tượng trưng cho sự tận hiến cho Chúa. Huyết từ của lễ chuộc tội còn làm thánh hóa bàn thờ.
“Con chiên đực về lễ phong chức” thay thế cho của lễ thù ân, tượng trưng cho mối giao thông của họ với nhau và với Chúa. Từ được dịch là “lễ thụ chức” hoặc “lễ phong chức” nghĩa là “bổ khuyết.” Một phần sinh tế, cùng với của lễ chay (c.25-26) được đặt trong hai tay của A-rôn, vì thế làm đầy lòng hai bàn tay, và được đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Sau đó,phần nầy sẽ được ăn. Nhưng phần duy nhất của nghi lễ là việc bôi huyết và dầu trên tai phải, ngón tay cái bên phải và ngón chân cái bên phải của A-rôn và các con trai ông, tượng trưng cho việc họ được biệt riêng ra để nghe tiếng Đức Chúa Trời, làm công việc của Đức Chúa Trời và bước đi trong đường lối của Đức Chúa Trời.
Việc huyết được đổ ra là rất cần thiết trước khi Đức Chúa Trời có thể chấp nhận A-rôn và các con trai ông làm người hầu việc trong đền tạm thánh của Ngài. Vì là Con Thánh của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giê-xu Christ, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta không cần phải có những của lễ như thế (He 9:1-28). Thay vào đó, Ngài là một của lễ trọn vẹn “cất tội lỗi thế gian đi” (Gi 1:29).