...ta hãy ôn lại những gì dân Y-sơ-ra-ên đã thực hiện trước khi đưa ra những lời chỉ dẫn được tìm thấy trong sách Lê-vi ký.
Khoảng 10 tuần lễ sau khi được giải cứu khỏi Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên đã đến núi Si-nai (Xu 19:1). Ở đó, Đức Chúa Trời đã công-bố Luật-pháp của Ngài và ban-cho Môi-se những lời chỉ dẫn về việc xây cất đền tạm. Môi-se đã dựng đền tạm vào ngày thứ nhất, tháng thứ nhất của năm thứ hai trong cuộc giải phóng dân-tộc Y-sơ-ra-ên (Xu 40:17), vì vậy những điều chúng ta đọc thấy trong sách Xuất Ê-díp-tô ký từ chương 16-40 diễn ra trong khoảng 9 tháng (Dân 9:1-5).
Sách Dân-số ký mở đầu bằng một cuộc kiểm tra dân số được thực hiện vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai của năm thứ hai (Dân 1:1), có nghĩa là những gì được ghi lại trong sách Lê-vi ký xảy ra khoảng 1 tháng. Đền tạm đã sẵn sàng để được sử dụng và giờ đây Đức Chúa Trời ban cho các thầy tế-lễ những lời chỉ dẫn họ cần phải biết trong việc dâng những của lễ khác nhau.
Sáu của lễ cơ-bản có thể được đem đến bàn thờ trong đền tạm. Khi những người đến thờ-phượng muốn bày-tỏ sự phó-thác trước mặt Đức Chúa Trời, họ đem đến của lễ thiêu, và có thể cùng với của lễ chay (“meat”- thức ăn, KJV) và của lễ quán (Dân 15:1-10).
Những của lễ này nói đến sự dâng hiến trọn-vẹn cho Chúa.
- Của lễ thù ân (“peace”– hòa bình,KJV) có liên-quan đến mối giao-thông với Đức Chúa Trời, và của lễ chuộc tội cùng của lễ chuộc sự mắc lỗi (“vi phạm”, KJV) đề-cập đến sự tẩy sạch từ Đức Chúa Trời. Mỗi loại của lễ đáp ứng một nhu-cầu cụ thể trong đời sống của người đến thờ-phượng và cũng đã bày-tỏ lẽ-thật nào đó về con người và công tác của Đức Chúa Giê-xu Christ, là của lễ trọn-vẹn của Đức Chúa Trời.
Sự đổ huyết của con vật không thể làm thay đổi tấm-lòng của một người hay cất đi tội-lỗi của người ấy (Hêb 10:1-4). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời xác định rằng tội-lỗi của người đến thờ-phượng đã được tha (Lê 4:20,26,31,35; Lê 5:10,13,16,18; Lê 6:7) và Ngài đã thực hiện điều này bởi sự hy-sinh của Đức Chúa Giê-xu Christ nơi thập-tự giá (Hêb 10:5-14) (1).
Giống như một số người trong các Hội thánh ngày nay, những người Do-thái đến thờ-phượng có thể chỉ trải qua những cảm xúc nhất thời tại bàn thờ, mà không đặt cả tấm-lòng họ vào đó; nhưng điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời chưa thật sự tha-thứ cho họ (Thi 50:8-14; Thi 61:16-17; Ês 1:10-20; Mi 6:6-8). Đức Chúa Trời không muốn những của lễ của chúng ta, Ngài muốn sự vâng-phục từ chính tấm-lòng của chúng ta (ISa 15:22).
Những của lễ được mô-tả trong Lê-vi ký chương 1-7 nhắc nhở chúng ta về những nhu-cầu thuộc-linh cơ-bản chúng ta đều có khi là dân-sự của Đức Chúa Trời: sự phó-thác cho Đức Chúa Trời, sự giao-thông với Đức Chúa Trời, và sự tẩy sạch từ Đức Chúa Trời.
1. Sự Phó Thác Cho Đức Chúa Trời (Lê 1:1-17) (Lê 1:1-2:16; Lê 6:8-23)
- Của lễ thiêu (Lê 1:1-17; Lê 6:8-13)
Là của lễ cơ-bản bày-tỏ sự tận tụy và dâng hiến cho Chúa. Khi chúng ta dâng mình cho Chúa, chúng ta đặt “tất cả trên bàn thờ” (Lê 1:9) và không giữ lại chút gì cả. Điều tương tự được ghi lại trong Tân-Ước là (Rô 12:1-2), dân-sự Đức Chúa Trời được thách thức làm những của lễ sống, hoàn toàn đầu-phục Chúa.
Nghi thức về của lễ được Chúa bày-tỏ và không thể đổi khác. Của lễ phải là con vật giống đực trong bầy gia súc (Lê 1:3-10) hoặc bầy chiên (c.10-14), hoặc có thể là một con chim (c.14-17) (2), và người thờ-phượng phải đem của lễ đến cửa đền tạm nơi lửa luôn cháy trên một bàn thờ bằng đồng (Lê 6:13).
Thầy tế-lễ xem xét của lễ để biết chắc nó không có tì vết (Lê 22:20-24), vì chúng ta phải dâng thứ tốt nhất của mình cho Chúa (Ma 1:6-14). Chúa Giê-xu Christ là một của lễ không lỗi không vít (IPhi 1:19), là Đấng đã phó chính Ngài qua sự dâng mình trọn-vẹn cho Đức Chúa Trời (Gi 10:17; Rô 5:19; Hêb 10:10).
Ngoại trừ của lễ là chim, đối với những của lễ khác thì người dâng phải đặt một tay trên của lễ (Lê 1:4), hành động này tượng-trưng cho hai điều: (1) sự đồng nhất hóa của người dâng với của lễ, (2) sự chuyển nhượng điều gì đó sang của lễ. Trong trường hợp của lễ thiêu, người dâng đang nói: “Giống như con vật này được dâng hoàn toàn cho Đức Chúa Trời trên bàn thờ, tôi cũng dâng mình hoàn toàn cho Chúa.”
Với những của lễ có liên-quan đến sự đổ huyết, việc đặt tay có nghĩa là người dâng, về mặt tượng-trưng, đang chuyển nhượng t ội-lỗi và sự vi-phạm sang con vật sẽ chịu chết thay cho tội-nhân. Ngay cả của lễ thiêu cũng thực hiện sự chuộc tội cho người dâng (c.4).
Người dâng khi ấy giết con vật, và thầy tế-lễ hứng lấy huyết trong một cái chậu và rảy huyết trên các cạnh của bàn thờ (c.5,11). Thầy tế-lễ chớ không phải người dâng, sẽ giết con chim và huyết của nó được vắt ra trên cạnh của bàn thờ và xác nó được đốt trong lửa trên bàn thờ (c.15-17). Xác của bò, chiên hoặc dê được sả ra, các phần thịt được rửa sạch. Sau đó mọi phần thịt, ngoại trừ da, được sắp ra trên củi (3) và được đốt trong lửa. Phần da được dành cho thầy tế-lễ (Lê 7:8).
Ý nghĩa về của lễ được thể hiện qua sự lặp lại của các nhóm từ “trước mặt Đức Giê-hô-va” và “cho Đức Giê-hô-va”, được tìm thấy 7 lần trong chương đầu của Lê-vi ký (c.2,3,5,9,13-14,17). Việc dâng của lễ tại bàn thờ không phải giữa người dâng với lương tâm người ấy, hoặc giữa người dâng với dân-tộc, hoặc thậm chí giữa người dâng với thầy tế-lễ; nhưng là giữa người dâng với Chúa. Nếu người dâng đem của lễ đến một trong những đền thờ ngoại đạo, nó có thể làm hài lòng thầy tế-lễ ngoại đạo và dân-sự của ông ta, nhưng nó sẽ không mang lại sự chúc phước của Chúa.
Nhóm từ “mùi thơm” được sử dụng 3 lần trong chương này (c.9,13,17) và 8 lần trong các chương 1-3, và nó có nghĩa là “một mùi hương thơm ngát.” Vì Đức Chúa Trời là Thần, Ngài không có thể xác, nhưng những thuật ngữ mang tính thuộc-thể được sử dụng trong Kinh-Thánh để miêu-tả những hành động và sự đáp ứng của Đức Chúa Trời.
Trong trường hợp này, Đức Chúa Trời được mô tả như đang ngửi mùi thơm và hài lòng với điều ấy (Sa 8:21; Lê 26:31). Khi Chúa Giê Xu chịu chết trên thập-tự giá, sự hy-sinh của Ngài là một thức hương có mùi thơm cho Chúa (Êph 5:2), và những của lễ của chúng ta dâng lên cho Đức Chúa Trời cũng phải như thế (Phi 4:18).
Của lễ thiêu; Được tìm thấy trong (Lê 6:9-13), Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn các thầy tế-lễ phải giữ cho lửa cháy trên bàn thờ, bỏ tro khỏi bàn thờ và sau đó mang tro đến một nơi tinh sạch ngoài trại quân. Có thể chính Đức Chúa Trời đã đốt cháy ngọn lửa này khi các th ầy tế-lễ dâng mình và bắt đầu chức-vụ của họ (Lê 9:24) (4). Vì tro là thánh, nên chúng không thể bị vứt bỏ tại đống rác của trại quân, nhưng phải được đem đến một nơi tinh sạch về mặt nghi thức. Ngay cả cái diều của chim cũng được đặt chung với tro (Lê 1:16) chứ không bị xem như vật bỏ đi.
•Của lễ chay (Lê 2:1-16; Lê 6:14-23; Lê 7:9-10) (5) có thể được dâng tại bàn thờ dưới một trong năm hình thức: bột lọc, bánh nướng trong lò, bánh chiên trong chảo, bánh nướng trong một chảo rán (trên một cái vĩ), hay những gié lúa mới được rang và tán ra. Những bánh này giống với vỏ bánh nướng hay bột bánh pizza ngày nay.
Thầy tế-lễ làm nhiệm-vụ chỉ đặt một phần của lễ trên bàn thờ - “phần kỷ niệm” cho Chúa - là nơi của lễ sẽ được đốt trong lửa, và phần của lễ còn lại thuộc về các thầy tế-lễ dành cho sự tiêu dùng riêng. Chỉ những người nam trong gia đình mới có thể ăn nó, và họ phải làm điều đó trong nơi Thánh của đền tạm (Lê 6:16,18), và với bánh không men (c.17).
Của lễ chay duy nhất không được ăn là của lễ được dâng lên mỗi buổi sáng và buổi chiều bởi con trai của thầy tế-lễ cả, là người sẽ kế-nghiệp ông trong chức-vụ (c.19-23). Hai lần một ngày, Đức Chúa Trời nhắc nhở các thầy tế-lễ của Ngài rằng họ phải giữ mình cho được thánh-khiết và chính-trực khi hầu-việc Ngài.
Vì hạt lúa tượng-trưng cho kết quả công lao động của chúng ta, nên của lễ chay là một cách để dân Do-thái dâng lên cho Đức Chúa Trời những gì mà Ngài đã giúp họ làm ra. Nhũ hương được đốt với phần của lễ kỷ niệm tượng trưng cho sự cầu-nguyện (Thi 141:2 Kh 5:8), là một sự nhắc-nhở về lời cầu xin “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày” (Mat 6:11).
Nhưng của lễ chay không được dâng lên đơn lẻ, nó phải kèm với một trong những của lễ có sự đổ huyết. Sự nỗ lực của chúng ta không bao giờ có thể mua được sự cứu rỗi hay kiếm được phước hạnh của Đức Chúa Trời, vì nếu không có sự đổ huyết, thì không có sự tha tội (Hêb 9:22) (6). Nhưng ai đã được cứu bởi đức-tin nơi huyết đã đổ ra của Đấng Christ có thể dâng cho Chúa những gì Ngài đã giúp họ tạo ra.
Của lễ này cho biết Chúa Giê-xu Christ là Bánh Sự Sống (Gi 6:32), là Bánh tốt nhất nuôi dưỡng con người bên trong của chúng ta khi chúng ta thờ-phượng và suy gẫm Lời Ngài. Điều này giải thích lý-do Đức Chúa Trời đặt ra những điều-kiện nghiêm nhặt mà người dâng của lễ phải đáp ứng trước khi của lễ chay được chấp nhận.
Của lễ phải có dầu (Lê 2:1-2,4,6,15), hoặc là được đổ trên của lễ hoặc được pha trộn với của lễ, đây là một hình ảnh về Thánh Linh Đức Chúa Trời, là Đấng đã được ban cho Đấng Christ không giới hạn (Gi 3:34). Của lễ cũng phải gồm có muối (Lê 2:13; Mat 5:13), liên-hệ đến bản-tính thánh-khiết của Chúa. Chúa Giê-xu đã ví sánh Ngài với hạt lúa mì (Gi 12:23-25) và Ngài đã bị nghiền nát (“bột lọc”) và phải qua lò lửa thương khó để có thể cứu chúng ta khỏi tội-lỗi.
Men và mật bị cấm trong phần d âng của lễ chay (Lê 2:11). Dân Do-thái sẽ liên tưởng men với điều ác vì cớ những luật-lệ về Lễ Vượt Qua (Xu 12:19-20; Lu 12:1; ICôr 5:8), và dĩ nhiên là không có tội-lỗi nào nơi Chúa Giê-xu Christ. Mật là thứ ngọt nhất do thiên nhiên tạo ra, nhưng bản-tính trọn-vẹn của Chúa chúng ta là thiêng-liêng chứ không từ thế-gian này. Việc men và mật đều lên men cũng có thể là một nhân-tố.
•Của lễ quán (Dân 15:1-13) được đề-cập trong (Lê 23:13,18,37); nhưng “những luật lệ” của nó không được giải thích tại đây. Giống như của lễ chay, của lễ quán được dâng sau khi những con sinh tế được đặt trên bàn thờ và là một phần phải có trong của lễ thiêu (Dân 29:6,11,18-19). “Một phần tư hin rượu” (Lê 15:5) là khoảng một phần tư ga-lông chất lỏng. Người dâng và thầy tế lễ đều không uống rượu, vì tất cả rượu đó được đổ trên bàn thờ. Hãy chú ý rằng những của lễ đắt tiền hơn đòi hỏi lượng rượu nhiều hơn để làm của lễ quán.
Của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ quán đều tượng-trưng cho sự dâng hiến cho Đức Chúa Trời và sự phó-thác cho Ngài cùng công việc Ngài. Việc đổ rượu ra là hình ảnh tượng-trưng về một đời sống được tuôn đổ ra để dâng lên cho Đức Chúa Trời. Trên thập-tự giá, Chúa Giê-xu đã bị “đổ ra như nước” (Thi 22:14) và “đổ mạng sống mình cho đến chết” (Ês 53:12).
Phao-lô xem chính ông bị đổ ra như một lễ quán thay cho những người Phi-líp, dự phần trong của lễ của họ (Phi 2:17); và khi ở trong tù tại Rô-ma, ông đã “bị đổ ra như một lễ quán” (IITim 4:6 NIV) khi ông thấy trước sự tuận đạo của mình.
2. Sự Giao Thông Với Đức Chúa Trời (Lê 1:1-17) (Lê 3:1-17; Lê 7:11-38)
Có nhiều nét đặc biệt về của lễ hòa bình hay của lễ thù ân cần phải được lưu ý. Trước hết, người dâng của lễ này có thể đem đến một con vật giống cái, là một điều không được phép đối với việc dâng những sinh tế khác. Nếu của lễ không phải về sự hoàn thành một lời hứa-nguyện thì của lễ đó có thể có một vài khuyết tật và vẫn được chấp nhận (Lê 22:23). Xét cho cùng, về mặt cơ-bản, nó sẽ được dùng làm thức ăn cho các thầy tế-lễ và gia đình của người dâng, và những khuyết tật đó sẽ không quan-trọng.
Điều này đưa đến đặc-điểm thứ ba của chúng ta: của lễ thù ân là của lễ duy nhất được chia-sẻ với những người đến thờ-phượng. Sau khi thầy tế-lễ đã hoàn tất việc tế-lễ, hầu hết phần thịt sẽ thuộc về ông; phần còn lại dành cho người dâng của lễ, sau đó người này có thể có một bữa tiệc chung vui cùng gia đình và bạn bè mình. Vì dân Do-thái thường không giết những con vật quý của họ để lấy thịt, nên một bữa ăn tối có thịt bò hay thịt chiên là một dịp đặc biệt.
Tại lễ dâng hiến đền thờ, Sa-lô-môn đã dâng 142.000 của lễ thù ân và dân-sự được dự tiệc trong suốt hai tuần lễ (IVua 8:62-66).
Ở Đông phương, việc ăn chung với những người khác là khiến họ trở thành bạn bè và đồng minh của bạn. Điều này có nghĩa là chấm dứt những sự thù địch, như Gia-cốp và cha vợ của ông là La-ban (Sa 31:54), hoặc ấn chứng về tình bằng hữu, như với Y-sơ-ra-ên và Giê-trô cùng dân-sự (Xu 18:12). Trong Hội thánh ngày nay, Bữa Ăn Tối của Chúa, hay Tiệc Thánh là một bữa ăn đơn giản bày-tỏ sự hiệp nhất trong gia đình Đức Chúa Trời (ICôr 10:16-18; ICôr 11:18-34). Đó là lý-do nó được gọi là “Tiệc Thông Công.”
Tuy nhiên, bữa ăn về của lễ thù ân không chỉ là sự thưởng thức món ăn ngon và mối thông-công với những người thân yêu. Nó cũng bày-tỏ sự cảm tạ vui-mừng khi người đến thờ-phượng được hòa thuận với Đức Chúa Trời và ở trong sự giao-thông với Đức Chúa Trời.
Người ấy có thể dâng lời tạ ơn vì phước hạnh bất ngờ nào đó mà Đức Chúa Trời đã ban-cho mình (Lê 7:11-15), hoặc có thể người ấy đã lập một lời thề nguyện trước mặt Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu-nguyện của người ấy. Hoặc có thể người ấy chỉ tạ ơn Đức Chúa Trời về mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho người ấy và muốn cho mọi người đều biết (c.16-18).
Của lễ thù ân nhấn mạnh đến một sự-kiện là sự tha-tội sẽ đưa đến mối thông-công với Đức Chúa Trời và với dân sự của Đức Chúa Trời.
(Lê 7:11-38) đưa ra những điều-kiện về bữa tiệc, loại thức ăn nào dành cho dân-sự, loại nào dành cho thầy tế-lễ, và phải làm gì với lượng thức ăn còn thừa. Huyết và mỡ (7) được dâng lên cho Đức Chúa Trời và không bao giờ được dùng như đồ ăn thường ngày (cũng có những lý-do hợp lý về vệ sinh đối với luật-lệ này). Bất cứ ai bị ô uế đều bị cấm đến dự tiệc và bị