...ta hãy ôn lại những gì dân Y-sơ-ra-ên đã thực hiện trước khi đưa ra những lời chỉ dẫn được tìm thấy trong sách Lê-vi ký.
Khoảng 10 tuần lễ sau khi được giải cứu khỏi Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên đã đến núi Si-nai (Xu 19:1). Ở đó, Đức Chúa Trời đã công-bố Luật-pháp của Ngài và ban-cho Môi-se những lời chỉ dẫn về việc xây cất đền tạm. Môi-se đã dựng đền tạm vào ngày thứ nhất, tháng thứ nhất của năm thứ hai trong cuộc giải phóng dân-tộc Y-sơ-ra-ên (Xu 40:17), vì vậy những điều chúng ta đọc thấy trong sách Xuất Ê-díp-tô ký từ chương 16-40 diễn ra trong khoảng 9 tháng (Dân 9:1-5).
Sách Dân-số ký mở đầu bằng một cuộc kiểm tra dân-số được thực hiện vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai của năm thứ hai (Dân 1:1), có nghĩa là những gì được ghi lại trong sách Lê-vi ký xảy ra khoảng 1 tháng. Đền tạm đã sẵn sàng để được sử dụng và giờ đây Đức Chúa Trời ban cho các thầy tế-lễ những lời chỉ dẫn họ cần phải biết trong việc dâng những của lễ khác nhau.
Sáu của lễ cơ-bản có thể được đem đến bàn thờ trong đền tạm. Khi những người đến thờ-phượng muốn bày-tỏ sự phó-thác trước mặt Đức Chúa Trời, họ đem đến của lễ thiêu, và có thể cùng với của lễ chay (“meat”- thức ăn, KJV) và của lễ quán (Dân 15:1-10).
Những của lễ này nói đến sự dâng hiến trọn-vẹn cho Chúa.
- Của lễ thù ân (“peace”– hòa bình,KJV) có liên-quan đến mối giao-thông với Đức Chúa Trời, và của lễ chuộc tội cùng của lễ chuộc sự mắc lỗi (“vi phạm”, KJV) đề-cập đến sự t ẩy sạch từ Đức Chúa Trời. Mỗi loại của lễ đáp ứng một nhu-cầu cụ thể trong đời sống của người đến thờ-phượng và cũng đã bày-tỏ lẽ-thật nào đó về con người và công tác của Đức Chúa Giê-xu Christ, là của lễ trọn-vẹn của Đức Chúa Trời.
Sự đổ huyết của con vật không thể làm thay đổi tấm-lòng của một người hay cất đi tội-lỗi của người ấy (Hêb 10:1-4). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời xác định rằng tội-lỗi của người đến thờ-phượng đã được tha (Lê 4:20,26,31,35; Lê 5:10,13,16,18; Lê 6:7) và Ngài đã thực hiện điều này bởi sự hy-sinh của Đức Chúa Giê-xu Christ nơi thập-tự giá (Hêb 10:5-14) (1).
Giống như một số người trong các Hội thánh ngày nay, những người Do-thái đến thờ-phượng có thể chỉ trải qua những cảm xúc nhất thời tại bàn thờ, mà không đặt cả tấm-lòng họ vào đó; nhưng điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời chưa thật sự tha-thứ cho họ (Thi 50:8-14; Thi 61:16-17; Ês 1:10-20; Mi 6:6-8). Đức Chúa Trời không muốn những của lễ của chúng ta, Ngài muốn sự vâng-phục từ chính tấm-lòng của chúng ta (ISa 15:22).
Những của lễ được mô-tả trong Lê-vi ký chương 1-7 nhắc nhở chúng ta về những nhu-cầu thuộc-linh cơ-bản chúng ta đều có khi là dân-sự của Đức Chúa Trời: sự phó-thác cho Đức Chúa Trời, sự giao-thông với Đức Chúa Trời, và sự tẩy sạch từ Đức Chúa Trời.
1. Sự Phó Thác Cho Đức Chúa Trời (Lê 1:1-17) (Lê 1:1-2:16; Lê 6:8-23)
- Của lễ thiêu (Lê 1:1-17; Lê 6:8-13)
Là của lễ cơ-bản bày-tỏ sự tận tụy và dâng hiến cho Chúa. Khi chúng ta dâng mình cho Chúa, chúng ta đặt “tất cả trên bàn thờ” (Lê 1:9) và không giữ lại chút gì cả. Điều tương tự được ghi lại trong Tân-Ước là (Rô 12:1-2), dân-sự Đức Chúa Trời được thách thức làm những của lễ sống, hoàn toàn đầu-phục Chúa.
Nghi thức về của lễ được Chúa bày-tỏ và không thể đổi khác. Của lễ phải là con vật giống đực trong bầy gia súc (Lê 1:3-10) hoặc bầy chiên (c.10-14), hoặc có thể là một con chim (c.14-17) (2), và người thờ-phượng phải đem của lễ đến cửa đền tạm nơi lửa luôn cháy trên một bàn thờ bằng đồng (Lê 6:13).
Thầy tế-lễ xem xét của lễ để biết chắc nó không có tì vết (Lê 22:20-24), vì chúng ta phải dâng thứ tốt nhất của mình cho Chúa (Ma 1:6-14). Chúa Giê-xu Christ là một của lễ không lỗi không vít (IPhi 1:19), là Đấng đã phó chính Ngài qua sự dâng mình trọn-vẹn cho Đức Chúa Trời (Gi 10:17; Rô 5:19; Hêb 10:10).
Ngoại trừ của lễ là chim, đối với những của lễ khác thì người dâng phải đặt một tay trên của lễ (Lê 1:4), hành động này tượng-trưng cho hai điều: (1) sự đồng nhất hóa của người dâng với của lễ, (2) sự chuyển nhượng điều gì đó sang của lễ. Trong trường hợp của lễ thiêu, người dâng đang nói: “Giống như con vật này được dâng hoàn toàn cho Đức Chúa Trời trên bàn thờ, tôi cũng dâng mình hoàn toàn cho Chúa.”
Với những của lễ có liên-quan đến sự đổ huyết, việc đặt tay có nghĩa là người dâng, về mặt tượng-trưng, đang chuyển nhượng tội-lỗi và sự vi-phạm sang con vật sẽ chịu chết thay cho tội-nhân. Ngay cả của lễ thiêu cũng thực hiện sự chuộc tội cho người dâng (c.4).
Người dâng khi ấy giết con vật, và thầy tế-lễ hứng lấy huyết trong một cái chậu và rảy huyết trên các cạnh của bàn thờ (c.5,11). Thầy tế-lễ chớ không phải người dâng, sẽ giết con chim và huyết của nó được vắt ra trên cạnh của bàn thờ và xác nó được đốt trong lửa trên bàn thờ (c.15-17). Xác của bò, chiên hoặc dê được sả ra, các phần thịt được rửa sạch. Sau đó mọi phần thịt, ngoại trừ da, được sắp ra trên củi (3) và được đốt trong lửa. Phần da được dành cho thầy tế-lễ (Lê 7:8).
Ý nghĩa về của lễ được thể hiện qua sự lặp lại của các nhóm từ “trước mặt Đức Giê-hô-va” và “cho Đức Giê-hô-va”, được tìm thấy 7 lần trong chương đầu của Lê-vi ký (c.2,3,5,9,13-14,17). Việc dâng của lễ tại bàn thờ không phải giữa người dâng với lương tâm người ấy, hoặc giữa người dâng với dân-tộc, hoặc thậm chí giữa người dâng với thầy tế-lễ; nhưng là giữa người dâng với Chúa. Nếu người dâng đem của lễ đến một trong những đền thờ ngoại đạo, nó có thể làm hài lòng thầy tế-lễ ngoại đạo và dân-sự của ông ta, nhưng nó sẽ không mang lại sự chúc phước của Chúa.
Nhóm từ “mùi thơm” được sử dụng 3 lần trong chương này (c.9,13,17) và 8 lần trong các chương 1-3, và nó có nghĩa là “một mùi hương thơm ngát.” Vì Đức Chúa Trời là Thần, Ngài không có thể xác, nhưng những thuật ngữ mang tính thuộc-thể được sử dụng trong Kinh-Thánh để miêu-tả những hành động và sự đáp ứng của Đức Chúa Trời.
Trong trường hợp này, Đức Chúa Trời được mô tả như đang ngửi mùi thơm và hài lòng với điều ấy (Sa 8:21; Lê 26:31). Khi Chúa Giê Xu chịu chết trên thập-tự giá, sự hy-sinh của Ngài là một thức hương có mùi thơm cho Chúa (Êph 5:2), và những của lễ của chúng ta dâng lên cho Đức Chúa Trời cũng phải như thế (Phi 4:18).
Của lễ thiêu; Được tìm thấy trong (Lê 6:9-13), Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn các thầy tế-lễ phải giữ cho lửa cháy trên bàn thờ, bỏ tro khỏi bàn thờ và sau đó mang tro đến một nơi tinh sạch ngoài trại quân. Có thể chính Đức Chúa Trời đã đốt cháy ngọn lửa này khi các thầy tế-lễ dâng mình và bắt đầu chức-vụ của họ (Lê 9:24) (4). Vì tro là thánh, nên chúng không thể bị vứt bỏ tại đống rác của trại quân, nhưng phải được đem đến một nơi tinh sạch về mặt nghi thức. Ngay cả cái diều của chim cũng được đặt chung với tro (Lê 1:16) chứ không bị xem như vật bỏ đi.
•Của lễ chay (Lê 2:1-16; Lê 6:14-23; Lê 7:9-10) (5) có thể được dâng tại bàn thờ dưới một trong năm hình thức: bột lọc, bánh nướng trong lò, bánh chiên trong chảo, bánh nướng trong một chảo rán (trên một cái vĩ), hay những gié lúa mới được rang và tán ra. Những bánh này giống với vỏ bánh nướng hay bột bánh pizza ngày nay.
Thầy tế-lễ làm nhiệm-vụ chỉ đặt một phần của lễ trên bàn thờ - “phần kỷ niệm” cho Chúa - là nơi của lễ sẽ được đốt trong lửa, và phần của lễ còn lại thuộc về các thầy tế-lễ dành cho sự tiêu dùng riêng. Chỉ những người nam trong gia đình mới có thể ăn nó, và họ phải làm điều đó trong nơi Thánh của đền tạm (Lê 6:16,18), và với bánh không men (c.17).
Của lễ chay duy nhất không được ăn là của lễ được dâng lên mỗi buổi sáng và buổi chiều bởi con trai của thầy tế-lễ cả, là người sẽ kế-nghiệp ông trong chức-vụ (c.19-23). Hai lần một ngày, Đức Chúa Trời nhắc nhở các thầy tế-lễ của Ngài rằng họ phải giữ mình cho được thánh-khiết và chính-trực khi hầu-việc Ngài.
Vì hạt lúa tượng-trưng cho kết quả công lao động của chúng ta, nên của lễ chay là một cách để dân Do-thái dâng lên cho Đức Chúa Trời những gì mà Ngài đã giúp họ làm ra. Nhũ hương được đốt với phần của lễ kỷ niệm tượng-trưng cho sự cầu-nguyện (Thi 141:2; Kh 5:8), là một sự nhắc-nhở về lời cầu-xin “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày” (Mat 6:11).
Nhưng của lễ chay không được dâng lên đơn lẻ, nó phải kèm với một trong những của lễ có sự đổ huyết. Sự nỗ lực của chúng ta không bao giờ có thể mua được sự cứu-rỗi hay kiếm được phước hạnh của Đức Chúa Trời, vì nếu không có sự đổ huyết, thì không có sự tha tội (Hêb 9:22) (6). Nhưng ai đã được cứu bởi đức-tin nơi huyết đã đổ ra của Đấng Christ có thể dâng cho Chúa những gì Ngài đã giúp họ tạo ra.
Của lễ này cho biết Chúa Giê-xu Christ là Bánh Sự Sống (Gi 6:32), là Bánh tốt nhất nuôi dưỡng con người bên trong của chúng ta khi chúng ta thờ-phượng và suy gẫm Lời Ngài. Điều này giải thích lý-do Đức Chúa Trời đặt ra những điều-kiện nghiêm nhặt mà người dâng của lễ phải đáp ứng trước khi của lễ chay được chấp nhận.
Của lễ phải có dầu (Lê 2:1-2,4,6,15), hoặc là được đổ trên của lễ hoặc được pha trộn với của lễ, đây là một hình ảnh về Thánh Linh Đức Chúa Trời, là Đấng đã được ban cho Đấng Christ không giới hạn (Gi 3:34). Của lễ cũng phải gồm có muối (Lê 2:13; Mat 5:13), liên-hệ đến bản-tính thánh-khiết của Chúa. Chúa Giê-xu đã ví sánh Ngài với hạt lúa mì (Gi 12:23-25) và Ngài đã bị nghiền nát (“bột lọc”) và phải qua lò lửa thương-khó để có thể cứu chúng ta khỏi tội-lỗi.
Men và mật bị cấm trong phần dâng của lễ chay (Lê 2:11). Dân Do-thái sẽ liên tưởng men với điều ác vì cớ những luật-lệ về Lễ Vượt Qua (Xu 12:19-20; Lu 12:1; ICôr 5:8), và dĩ nhiên là không có tội-lỗi nào nơi Chúa Giê-xu Christ. Mật là thứ ngọt nhất do thiên nhiên tạo ra, nhưng bản-tính trọn-vẹn của Chúa chúng ta là thiêng-liêng chứ không từ thế-gian này. Việc men và mật đều lên men cũng có thể là một nhân-tố.
•Của lễ quán (Dân 15:1-13) được đề-cập trong (Lê 23:13,18,37); nhưng “những luật lệ” của nó không được giải thích tại đây. Giống như của lễ chay, của lễ quán được dâng sau khi những con sinh tế được đặt trên bàn thờ và là một phần phải có trong của lễ thiêu (Dân 29:6,11,18-19).
“Một phần tư hin rượu” (Lê 15:5) là khoảng một phần tư ga-lông chất lỏng. Người dâng và thầy tế lễ đều không uống rượu, vì tất cả rượu đó được đổ trên bàn thờ. Hãy chú ý rằng những của lễ đắt tiền hơn đòi hỏi lượng rượu nhiều hơn để làm của lễ quán.
Của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ quán đều tượng-trưng cho sự dâng hiến cho Đức Chúa Trời và sự phó-thác cho Ngài cùng công việc Ngài. Việc đổ rượu ra là hình ảnh tượng-trưng về một đời sống được tuôn đổ ra để dâng lên cho Đức Chúa Trời. Trên thập-tự giá, Chúa Giê-xu đã bị “đổ ra như nước” (Thi 22:14) và “đổ mạng sống mình cho đến chết” (Ês 53:12).
Phao-lô xem chính ông bị đổ ra như một lễ quán thay cho những người Phi-líp, dự phần trong của lễ của họ (Phi 2:17); và khi ở trong tù tại Rô-ma, ông đã “bị đổ ra như một lễ quán” (IITim 4:6 NIV) khi ông thấy trước sự tuận đạo của mình.
2. Sự Giao Thông Với Đức Chúa Trời (Lê 1:1-17) (Lê 3:1-17; Lê 7:11-38)
Có nhiều nét đặc biệt về của lễ hòa bình hay của lễ thù ân cần phải được lưu ý. Trước hết, người dâng của lễ này có thể đem đến một con vật giống cái, là một điều không được phép đối với việc dâng những sinh tế khác. Nếu của lễ không phải về sự hoàn thành một lời hứa-nguyện thì của lễ đó có thể có một vài khuyết tật và vẫn được chấp nhận (Lê 22:23). Xét cho cùng, về mặt cơ-bản, nó sẽ được dùng làm thức ăn cho các thầy tế-lễ và gia đình của người dâng, và những khuyết tật đó sẽ không quan-trọng.
Điều này đưa đến đặc-điểm thứ ba của chúng ta: của lễ thù ân là của lễ duy nhất được chia-sẻ với những người đến thờ-phượng. Sau khi thầy tế-lễ đã hoàn tất việc tế-lễ, hầu hết phần thịt sẽ thuộc về ông; phần còn lại dành cho người dâng của lễ, sau đó người này có thể có một bữa tiệc chung vui cùng gia đình và bạn bè mình. Vì dân Do-thái thường không giết những con vật quý của họ để lấy thịt, nên một bữa ăn tối có thịt bò hay thịt chiên là một dịp đặc biệt.
Tại lễ dâng hiến đền thờ, Sa-lô-môn đã dâng 142.000 của lễ thù ân và dân-sự được dự tiệc trong suốt hai tuần lễ (IVua 8:62-66).
Ở Đông phương, việc ăn chung với những người khác là khiến họ trở thành bạn bè và đồng minh của bạn. Điều này có nghĩa là chấm dứt những sự thù địch, như Gia-cốp và cha vợ của ông là La-ban (Sa 31:54), hoặc ấn-chứng về tình bằng hữu, như với Y-sơ-ra-ên và Giê-trô cùng dân-sự (Xu 18:12). Trong Hội thánh ngày nay, Bữa Ăn Tối của Chúa, hay Tiệc Thánh là một bữa ăn đơn giản bày-tỏ sự hiệp nhất trong gia đình Đức Chúa Trời (ICôr 10:16-18; ICôr 11:18-34). Đó là lý-do nó được gọi là “Tiệc Thông Công.”
Tuy nhiên, bữa ăn về của lễ thù ân không chỉ là sự thưởng thức món ăn ngon và mối thông-công với những người thân yêu. Nó cũng bày-tỏ sự cảm tạ vui-mừng khi người đến thờ-phượng được hòa thuận với Đức Chúa Trời và ở trong sự giao-thông với Đức Chúa Trời.
Người ấy có thể dâng lời tạ ơn vì phước hạnh bất ngờ nào đó mà Đức Chúa Trời đã ban-cho mình (Lê 7:11-15), hoặc có thể người ấy đã lập một lời thề nguyện trước mặt Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu-nguyện của người ấy. Hoặc có thể người ấy chỉ tạ ơn Đức Chúa Trời về mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho người ấy và muốn cho mọi người đều biết (c.16-18).
Của lễ thù ân nhấn mạnh đến một sự-kiện là sự tha-tội sẽ đưa đến mối thông-công với Đức Chúa Trời và với dân sự của Đức Chúa Trời.
(Lê 7:11-38) đưa ra những điều-kiện về bữa tiệc, loại thức ăn nào dành cho dân-sự, loại nào dành cho thầy tế-lễ, và phải làm gì với lượng thức ăn còn thừa. Huyết và mỡ (7) được dâng lên cho Đức Chúa Trời và không bao giờ được dùng như đồ ăn thường ngày (cũng có những lý-do hợp lý về vệ sinh đối với luật-lệ này). Bất cứ ai bị ô uế đều bị cấm đến dự tiệc và bị “truất khỏi” dân-sự mình (Lê 7:20-21,25,27; Lê 17:4,9-10,14; Lê 18:29; Lê 19:8; Lê 20:3,5-6,17-18; Lê 23:29).
Trong trường hợp một người vi phạm ngày Sa-bát, bị “truất” nghĩa là bị giết (Xu 31:12-14; Dân 15:32-36); nhưng chúng ta không chắc là mọi vi-phạm luật-lệ về của lễ đều mang tội tử hình. Trong một số trường hợp, “bị truất khỏi dân-sự mình” có thể có nghĩa là bị đưa ra “ngoài trại quân” cho đến khi người ấy làm theo những lời chỉ dẫn của Đức Chúa Trời trong việc tẩy uế (chương 15).
Chính trên thập-tự giá, Chúa Giê-xu Christ đã đem đến sự giảng hòa (IICôr 5:16-21) và hòa bình với Đức Chúa Trời (Côl 1:20) cho tất cả những ai tin nhận Ngài, và chúng ta có thể bước vào mối giao-thông với Đức Chúa Trời và với những tín-hữu khác vì cớ huyết Ngài đã đổ ra (IGi 1:5-2:2).
Chúng ta “dự tiệc” Đấng Christ khi chúng ta sống bởi Lời Ngài và làm cho mình trở nên thích ứng với tất cả những gì Ngài dành cho chúng ta và làm cho chúng ta. Thay vì đem đến những con vật, chúng ta dâng cho Đức Chúa Trời “của lễ tạ ơn” (Thi 116:17) và “của lễ bằng lời ngợi khen” (Hêb 13:15) từ tấm-lòng tinh sạch biết ơn về sự thương-xót của Ngài.
3. Sự Tẩy Sạch Từ Đức Chúa Trời (Lê 1:1-17) (Lê 4:1-6:7,24-30; Lê 7:1-10)
Của lễ chuộc tội và chuộc sự mắc lỗi (hoặc vi phạm) rất giống nhau và thậm chí được điều khiển bởi cùng một luật (Lê 7:1-10). Nói chung, của lễ chuộc sự mắc lỗi dành cho những tội-lỗi của cá nhân có ảnh hưởng đến con người và tài sản và qua của lễ này có thể đem đến sự phục-hồi, còn của lễ chuộc tội tập trung vào sự vi-phạm nào đó về Luật-pháp đã được thực hiện mà không có sự cố ý. Của lễ chuộc sự mắc lỗi chú trọng đến sự thiệt hại do người phạm lỗi gây ra cho người khác, còn của lễ chuộc tội nhấn mạnh đến tội-lỗi của người phạm-tội trước mặt Đức Chúa Trời. Thầy tế-lễ sẽ xem xét người vi phạm và quyết định của lễ nào được cần đến.
Nhóm từ được lặp lại “lầm lỡ” (Lê 4:2,13,22,27; Lê 5:15) nghĩa là không phải tội-nhân không biết về luật-pháp, nhưng họ không biết mình đã vi phạm luật-pháp. Họ đã trở nên ô uế hoặc bất tuân mà không nhận ra điều đó. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết không xóa đi sự phạm-tội.
“Dầu người đó không biết, vẫn mắc lỗi” (c.17, xem thêm c.1-5 để có những ví-dụ về những tội liên-quan) (8). Một khi tội-lỗi của họ đã được nhận biết thì nó phải được xưng ra và giải quyết. Đa-vít đã sử dụng chính từ này khi ông cầu-nguyện, “Xin Chúa tẩy sạch tôi khỏi những lỗi kín giấu” (Thi 19:12), nghĩa là “những tội-lỗi tôi không biết trong đời sống tôi.”
Không có của lễ nào dành cho người “kiêu căng” cố tình phạm-tội trong ánh sáng của luật-pháp Đức Chúa Trời (Dân 15:30-36). Khi Đa-vít lấy Bát-sê-ba và sau đó mưu sát chồng bà (IISa 11:1-12:31), ông đã cố tình phạm-tội với cặp mắt mở to. Vì vậy, ông biết rằng hy-vọng duy nhất của ông là sự thương-xót của Đức Chúa Trời (Thi 51:1,11,16-17). Là vua, ông có thể đem đến hàng ngàn của lễ, nhưng chúng sẽ không phải là những “của lễ công-bình” (c.19).
•Của lễ chuộc tội (Lê 4:1-5:13; Lê 6:24-30) (9) phải được đem đến cho Chúa dù tội-nhân là ai; và địa vị của người có tội càng cao trong dân-sự thì của lễ phải càng đắt giá. Đặc quyền càng lớn thì trách-nhiệm và tầm quan-trọng càng lớn. Nếu thầy tế-lễ cả phạm-tội, người ấy phải đem đến một con bò tơ (Lê 4:1-12). Nếu cả hội chúng phạm-tội, họ cũng phải đem đến một con bò tơ (c.13-22). Một quan trưởng đem đến một dê con đực (c.22-26) còn một “thường dân” (thành viên trong cộng đồng, NIV) đem đến một dê con cái hoặc một chiên con cái (c.27-35). Một người nghèo có thể đem đến một con chim cu hay chim bồ câu, và một người quá nghèo có thể đem đến một của lễ không có huyết là bột lọc (Lê 5:7-13).
Dù con vật nào được đem đến thì người vi-phạm cũng phải đồng nhất hóa với của lễ bằng cách để tay lên của lễ. Khi cả dân-tộc phạm-tội, chính những trưởng-lão là những người làm việc này (Lê 4:15) vì với tư cách là những quan trưởng, họ chịu trách-nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời để theo dõi đời sống thuộc-linh của dân sự.
Con vật bị giết, và huyết được dâng lên cho Đức Chúa Trời. Trong trường hợp thầy tế-lễ cả và dân-sự, một phần huyết được rảy trước bức màn và được bôi trên các sừng của bàn thờ xông hương trong nơi Thánh rồi đổ hết phần huyết còn lại tại chân của bàn thờ. Điều này nhắc nhở mọi người rằng tội-lỗi của các quan trưởng có những hậu quả lớn hơn. Huyết của các con sinh tế do các quan trưởng hoặc dân chúng đem đến được xức vào các sừng của bàn thờ bằng đồng hoặc tại cửa đền tạm.
Hãy chú ý rằng trong khi mỡ của con sinh tế được đốt trên bàn thờ, nhưng xác con sinh tế được đốt ở một nơi tinh sạch ngoài trại quân (c.8-12,21). Vì sao? Trước hết, điều này sẽ phân biệt của lễ chuộc tội và của lễ thiêu để những người đến thờ-phượng không bị nhầm lẫn khi họ quan-sát.
Nhưng còn hơn thế, nó nhắc nhở dân-sự rằng tội-lỗi của thầy tế-lễ cả và toàn hội chúng sẽ làm ô uế cả trại quân; và của lễ chuộc tội quá thánh-khiết nên không thể giữ trong một trại quân không thánh-khiết. Cuối cùng, theo (Hêb 13:10-13), đây là hình ảnh về Chúa Giê-xu Christ của chúng ta, Đấng đã chịu chết “ngoài cửa thành . . . ngoài trại quân” để làm của lễ chuộc tội cho chúng ta (Hêb 13:12-13 NIV).
- Kết quả của nghi lễ này là sự tha-thứ (Lê 4:20,26,31,35; Lê 5:10,13; Lê 6:7).
Như tôi đã đề-cập trước đó, dù của sinh tế không thể cất đi tội-lỗi hay làm thay đổi tấm-lòng của con người, nhưng những của lễ này sẽ cho thấy Của lễ trọn-vẹn là Chúa Giê-xu Christ (Hêb 10:1-15). Ngài là của lễ chuộc tội của chúng ta (Ês 53:4-6,12; Mat 26:28; IICôr 5:21; IPhi 2:24).
•Của lễ chuộc sự mắc lỗi (Lê 5:14-6:17; Lê 7:1-10) được cần đến cho 2 loại tội: những tội nghịch với “những vật thánh của Đức Giê-hô-va” (Lê 5:15) và nghịch với người lân cận (Lê 6:1-7). Loại thứ nhất bao gồm những vi phạm cần phải có những của lễ dâng lên cho Đức Chúa Trời, những lời hứa-nguyện, việc kỷ niệm những ngày đặc biệt, v.v., còn những ví-dụ về loại thứ hai được trình-bày trong câu 2-3.
Nghi lễ này đòi hỏi tội-nhân phải xưng ra tội-lỗi mình (Dân 5:7), bồi hoàn tài sản có liên-quan hoặc số tiền tương đương, trả khoản tiền phạt tương đương 20% giá trị của tài sản bị thiệt hại, và dâng một chiên đực cho Chúa (Lê 5:15,18). Thầy tế-lễ đánh giá con chiên đực để biết chắc giá trị của nó để người vi-phạm không tìm cách chuộc tội mình bằng việc dâng cho Chúa cái gì đó rẻ tiền.
Khoản bồi hoàn và số tiền phạt trước tiên được giao cho thầy tế lễ để ông ấy biết có được phép dâng của lễ hay không (Lê 6:10). Nếu người bị hại không còn để nhận lấy tài sản hay tiền bồi thường thì có thể trả cho một trong những người bà con của người ấy, nếu vẫn không có người bà con nào thì phần ấy thuộc về thầy tế lễ (Dân 5:5-10).
Của lễ chuộc sự mắc lỗi minh họa một sự thật rất nghiêm túc rằng sẽ là một điều rất đắt giá đối với con người khi phạm-tội và đối với Đức Chúa Trời để tẩy sạch tội lỗi. Tội lỗi của chúng ta làm tổn thương Đức Chúa Trời và tổn thương những người khác. Sự ăn năn thật sẽ luôn đem theo nó một khao khát về sự phục-hồi.
Chúng ta sẽ muốn làm cho mọi sự trở nên hòa thuận với Đức Chúa Trời và với những người chúng ta đã phạm tội. Sự tha-thứ chỉ đến vì cớ sự chết của một con vật thay thế vô tội. Đoạn văn trong (Ês 53:10) xác định rõ rằng khi Chúa Giê-xu chết trên thập-tự giá, Đức Chúa Trời đã khiến Con Ngài trở nên “một của lễ chuộc tội” (NIV). Án phạt mà chúng ta lẽ ra phải trả thì Ngài đã trả thay cho chúng ta!
Chúng ta không thể đi sâu vào chi-tiết về những của lễ này; nhưng điều chúng ta đã học phải giúp chúng ta nhận ra sự kinh khiếp của tội-lỗi, tính chất quan-trọng của việc xưng tội và phục hòa, sự nhân-từ của Đức Chúa Trời trong việc tha-thứ những người tin đến Đức Chúa Giê-xu Christ, và tình yêu kỳ diệu của Cứu Chúa chúng ta trong việc Ngài sẵn sàng chịu chết cho những người không xứng đáng như chúng ta.
Chúa Giê-xu chu cấp mọi điều chúng ta cần, Ngài là của lễ thiêu của chúng ta và chúng ta phải dâng mình hoàn toàn cho Ngài. Ngài là của lễ chay của chúng ta, là hạt giống bị nghiền nát và bị đưa qua lửa, để chúng ta có thể có bánh của sự sống, và chúng ta phải sống bởi Ngài. Ngài là của lễ quán của chúng ta, Đấng đã đổ chính Ngài ra qua sự hy-sinh và hầu việc, nên chúng ta phải đổ chính mình ra cho Ngài và cho người khác. Ngài là của lễ thù ân của chúng ta, khiến đời sống trở nên một bữa tiệc vui-mừng thay cho một nạn đói đau khổ. Ngài là của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi của chúng ta, vì Ngài đã mang tội-lỗi của chúng ta trên thân thể Ngài (IPhi 2:24) và đã trả giá đầy đủ cho tội-lỗi của chúng ta (IPhi 1:18-19).
Dân tộc Y-sơ-ra-ên phải dâng 6 của lễ khác nhau để có một mối liên-hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời, nhưng Chúa Giê-xu Christ đã “dâng một của lễ chuộc tội đời đời” (Hê 10:12) và giải quyết vấn đề tội lỗi của chúng ta một cách trọn-vẹn.
Chính bạn có tin rằng Chúa Giê-xu Christ đã chết thay cho mọi tội-lỗi của bạn và trả hết nợ của bạn chăng? Bạn có thể nói như Ma-ri rằng: “Linh-hồn tôi ngợi-khen Chúa, tâm-thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời là Cứu Chúa tôi?” (Lu 1:46-47 NKJV). Nếu không, hãy tin Ngài hôm nay,nếu bạn đã tin Ngài, hãy chia-sẻ tin mừng nầy với người khác.
Chúa Giê-xu đã phán với một tội-nhân ăn-năn: “Đức-tin ngươi đã cứu ngươi, hãy đi trong sự bình-an” (Lu 7:50 NKJV).
Thật là những lời kỳ diệu đáng chú ý thay!
-Xu 2:1-19; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 3:1-17; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 4:1-35; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 5:1-19; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 6:1-30; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
-Xu 7:1-38; xem giải nghĩa Le 1:1-17.
2. MỘT N ƯỚC THẦY TẾ LỄ (Lê 8:1-10:20)
Dưới Giao-ước Cũ, dân-sự Đức Chúa Trời có một chức thầy tế-lễ; Dưới giao-ước mới, dân sự Đức Chúa Trời là một “chức tế-lễ thánh” và một “chức tế-lễ nhà vua” (IPhi 2:5,9). Mỗi tín-hữu trong Chúa Giê-xu Christ có thể đồng thanh với sứ-đồ Giăng rằng: “Đấng yêu thương chúng ta đã lấy huyết mình rửa sạch chúng ta khỏi tội-lỗi chúng ta và làm cho chúng ta trở nên nước và thầy tế-lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, Đấng đáng được sự vinh-hiển và quyền thống-trị đời-đời vô cùng” (Kh 1:5-6 NKJV).
Mong muốn của Đức Chúa Trời là cả dân Y-sơ-ra-ên làm “một nước thầy tế-lễ và một dân-tộc thánh” (Xu 19:6), nhưng họ đã quên Ngài và trở nên một “nước mắc tội, dân mang lỗi nặng nề” (Ês 1:4). Một lý-do dân-tộc này suy sụp về đạo đức và thuộc-linh là vì các quan trưởng không nên thánh và không vâng-phục khi Đức Chúa Trời truyền-lệnh. Cuối cùng Ngài phải sai Ba-by-lôn trừng-phạt Y-sơ-ra-ên “vì cớ tội-lỗi của các tiên-tri nó và sự gian ác của các thầy tế-lễ nó” (Ca 4:13).
Giê-rê-mi đã nói: “Một việc kinh tởm và đáng căm phẫn đã xảy ra trong đất này. Những kẻ tiên-tri nói tiên-tri dối, các thầy tế-lễ cai-trị bằng chính quyền hạn của họ và dân ta yêu thích điều đó như vậy. Nhưng các ngươi sẽ làm gì lúc cuối cùng?” (Giê 5:30-31 NIV).
Đức Chúa Trời muốn Hội thánh Ngài hôm nay là “một dân-tộc thánh, một dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho (họ) có thể rao ra những lời ngợi-khen Ngài, Đấng đã gọi (họ) ra khỏi sự tối tăm vào trong sự sáng kỳ diệu của Ngài” (IPhi 2:9 NIV). Các thầy tế-lễ Do-thái là một dân có đặc quyền, nhưng họ xem thường đặc quyền của mình và góp phần dẫn dắt dân sự vào sự phạm-tội. Thậm chí sau khi dân Do-thái từ Ba-by-lôn trở về xứ và lập lại sự thờ-phượng của họ, các thầy tế-lễ cả đã không dâng cho Đức Chúa Trời điều tốt nhất của họ, và Ngài đã quở trách họ (Ma 1:6-2:17).
Các chương 8-10 mô-tả lễ phong chức kéo dài 8 ngày dành cho thầy tế-lễ cả A-rôn và các con trai ông. Là những thầy tế-lễ được chọn của Đức Chúa Trời, họ phải nhận lấy 3 trách-nhiệm quan-trọng: đầu-phục thẩm quyền của Đức Chúa Trời (ch 8), bày-tỏ vinh-hiển Đức Chúa Trời (ch 9), và chấp nhận kỷ luật của Đức Chúa Trời (ch 10).
1. Đầu Phục Thẩm Quyền Của Đức Chúa Trời (Lê 8:1-36)
Ít nhất 20 lần trong ba chương này bạn sẽ tìm thấy từ phán dặn. Môi-se và A-rôn không cần phải đặt ra một lễ phong chức. Chính Đức Chúa Trời, Đấng đã chỉ dẫn Môi-se cách xây đền tạm cũng sẽ cho ông biết phải phong chức cho các thầy tế-lễ như thế nào và cách thức các thầy tế-lễ phải hầu việc trong đền tạm ra sao (Xu 28:29). Không có chỗ cho sự tình-cờ hay tưởng-tượng ở đây. Môi-se phải làm mọi điều theo như Đức Chúa Trời đã chỉ cho ông ở trên núi (Xu 25:40; Xu 26:30; Xu 27:8; Hêb 8:5).
Trong chức-vụ của hội thánh ngày nay, các lãnh đạo thuộc linh phải luôn hỏi: “Kinh-Thánh dạy có mục đích gì?” (Rô 4:3 NKJV), Đức Chúa Trời không để chúng ta trong sự tối tăm về việc nhận biết Hội thánh Ngài là gì, phải được dẫn dắt như thế nào, và cần phải làm gì, nhưng nếu chúng ta thay thế những tư tưởng con người cho Lời Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ ở trong sự tối tăm! (Ês 8:20).
Những điều mới lạ và những điều gây thích thú trong tôn giáo có rất nhiều, tạo nên những người nổi tiếng và làm gia tăng hội chúng nhưng không phải lúc nào cũng tôn-cao Chúa hoặc gây dựng Hội thánh. Chúng ta cần những người lãnh đạo như Môi-se, là người sẽ dành thời gian “ở trên núi” và tìm thấy từ Lời Chúa điều Đức Chúa Trời muốn dân-sự Ngài làm theo.
•Hội chúng được triệu tập (Lê 8:1-5).
Lễ phong chức A-rôn và các con trai ông là một sự kiện công khai như mọi lễ phong chức phải như thế (Công 13:1-3; Công 16:1-3; ITim 4:14). Điều trước hết là họ phải hầu việc Đức Chúa Trời và tìm cầu làm đẹp lòng Ngài (Xu 28:1,3-4,41), nhưng họ cũng sẽ là những người đầy-tớ giữa vòng dân-sự. Việc tất cả dân-sự trong trại quân tập hợp cùng một lúc tại cửa đền tạm là điều không thể xảy ra, nên có lẽ đó là những trưởng-lão và các quan-trưởng nhóm lại, đại diện cho các chi phái và các chi tộc khác nhau (Lê 9:1). Được biệt riêng cho chức-vụ là một điều nghiêm túc, và nó phải được thực hiện dưới thẩm quyền của Đức Chúa Trời và được dân-sự Đức Chúa Trời làm-chứng.
•A-rôn và các con trai ông được tắm rửa (Lê 8:6).
Việc này có thể đã được thực hiện tại chậu rửa trong sân đền tạm (Xu 38:8). Các thầy tế-lễ được tắm rửa theo nghi thức khắp toàn thân nhưng chỉ một lần; từ đó trở đi, họ sẽ rửa tay và chân tại chậu rửa trong khi họ hầu việc trong đền tạm (Xu 30:17-21). Khi tội-nhân tin Đấng Christ, họ được rửa sạch khỏi tội lỗi một lần đủ cả (Kh 1:5-6; ICôr 6:9-11). Con cái Đức Chúa Trời cần phải giữ chân mình sạch sẽ bằng cách xưng tội với Chúa (Gi 13:1-10; IGi 1:9). Trong Kinh Thánh, nước dùng để rửa là hình ảnh về Lời Đức Chúa Trời (Thi 119:9; Gi 15:3; Êph 5:25-27). Khi chúng ta suy gẫm Lời Đức Chúa Trời và áp dụng vào đời sống mình, Thánh Linh Đức Chúa Trời sẽ dùng Lời Ngài để tẩy sạch chúng ta và khiến chúng ta càng trở nên giống Đấng Christ hơn (IICôr 3:18).
• A-rôn được mặc áo (Le 8:7-9).
A-rôn và các con trai ông đều mặc áo trong bằng vải gai (Xu 28:42-43; Le 6:8-10; Xu 20:26), nhưng thầy tế lễ cả sẽ mặc những chiếc áo đẹp thật đặc biệt, được mô tả trong Xuất Ê-díp-tô ký chương 28. Trước tiên, Môi-se mặc cho A-rôn áo ngoài màu trắng thêu cực xảo và cột bằng thắt lưng. Trên đó ông mặc áo choàng xanh có những chuông vàng và hạt ngọc trên đường viền áo. Trên áo này có một ê-phót bằng vải gai, là một áo choàng không tay được thắt bằng một cái đai đặc biệt, cả ê-phót và đai đều được thêu cực xảo bằng chỉ màu đỏ điều, xanh, tím và vàng. Trên ê-phót là bản đeo ngực, là một miếng vải thêu được gấp đôi lại, trên đó là 12 viên đá quý đại diện cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên, và trong đó là “u-rim và thu-mim” (1). Trên đầu thầy tế lễ cả đội mũ vải gai (hoặc mũ tròn không vành), với một “vương miện” đặc biệt ở phía trước được khắc những chữ THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA.
Mỗi “thầy tế lễ tín hữu” đều được mặc bằng vẻ đẹp và sự công bình của Chúa Giê-xu Christ và được chấp nhận trong Ngài (Es 61:10; IICo 5:21; Eph 1:6).
Sự công bình của chúng ta chỉ là những miếng giẻ rách nhớp nhúa trước mặt Đức Chúa Trời mà thôi ( Es 64:6). Tội lỗi chúng ta phơi bày trước Đức Chúa Trời thánh khiết thật gớm ghê dường bao! Thầy tế lễ cả được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời vì quần áo mà Đức Chúa Trời đã chu cấp trong ân điển Ngài.
• A-rôn và đền tạm được xức dầu (Le 8:10-12).
Việc này được thực hiện bằng một loại dầu đặc biệt mà không ai được bắt chước làm theo trong trại quân, nó cũng không được sử dụng cho bất kỳ ai ngoài thầy tế lễ (Xu 30:22-33). Trong Kinh Thánh, dầu thường là một biểu tượng về Thánh Linh Đức Chúa Trời, Đấng xức dầu cho mỗi tín hữu (IICo 1:21; IGi 2:20,27; Thi 133:1-3).
Từ Hê-bơ-rơ “Mê-si-a” và từ Hy-lạp “Christ” đều có nghĩa là “Đấng được xức dầu” (Lu 4:18; Cong 10:38). Sự kiện “sự xức dầu của Đức Giê-hô-va” ở trên các thầy tế lễ đã biệt riêng họ với dân chúng và điều chỉnh những việc họ có thể và không thể làm (Lê 8:30 10:7; Le 21:12,20).
•Các con trai A-rôn được mặc áo (Le 8:13).
Họ không có áo đẹp của thầy tế lễ cả, nhưng áo họ mặc vẫn do Đức Chúa Trời phán bảo, vì áo choàng và mũ vải gai của họ tượng trưng cho sự thánh-khiết trước mặt Đức Chúa Trời về tính-cách và hạnh kiểm. “Nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Giê-xu Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (Rô 13:14).
•Những của lễ khác nhau được dâng lên (Lê 8:14-29).
Bò tơ dùng làm của lễ chuộc tội cho A-rôn và các con trai ông có thể thực hiện việc tẩy sạch tội-lỗi của họ, và chiên đực dùng làm của lễ thiêu tượng-trưng cho sự tận hiến cho Chúa. Huyết từ của lễ chuộc tội còn làm thánh hóa bàn thờ.
“Con chiên đực về lễ phong chức” thay thế cho của lễ thù ân, tượng trưng cho mối giao thông của họ với nhau và với Chúa. Từ được dịch là “lễ thụ chức” hoặc “lễ phong chức” nghĩa là “bổ khuyết.” Một phần sinh tế, cùng với của lễ chay (c.25-26) được đặt trong hai tay của A-rôn, vì thế làm đầy lòng hai bàn tay, và được đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Sau đó, phần nầy sẽ được ăn. Nhưng phần duy nhất của nghi lễ là việc bôi huyết và dầu trên tai phải, ngón tay cái bên phải và ngón chân cái bên phải của A-rôn và các con trai ông, tượng-trưng cho việc họ được biệt riêng ra để nghe tiếng Đức Chúa Trời, làm công việc của Đức Chúa Trời và bước đi trong đường lối của Đức Chúa Trời.
Việc huyết được đổ ra là rất cần thiết trước khi Đức Chúa Trời có thể chấp nhận A-rôn và các con trai ông làm người hầu việc trong đền tạm thánh của Ngài. Vì là Con Thánh của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giê-xu Christ, Thầy Tế-Lễ Thượng Phẩm của chúng ta không cần phải có những của lễ như thế (Hêb 9:1-28). Thay vào đó, Ngài là một của lễ trọn-vẹn “cất tội-lỗi thế-gian đi” (Gi 1:29).
•Các thầy tế-lễ được xức dầu (Le 8:30).
A-rôn đã được đổ dầu thánh trên đầu ông (Lê 8:12), nhưng giờ đây cả ông cùng các con trai ông được rảy dầu và huyết của những con sinh tế lấy từ bàn thờ. Điều này có nghĩa là họ và quần áo của họ đã được “thánh hóa”, được Đức Chúa Trời biệt riêng cho chính Ngài. Các thầy tế-lễ và quần áo họ mặc đều không thể được sử dụng cho những mục-đích “chung” Họ hoàn toàn thuộc về Đức Chúa Trời.
•Chiên đực của lễ phong chức được ăn (c.31-36).
Vào tuần lễ kế tiếp, A-rôn với các con trai ông phải ở trong sân đền tạm, và mỗi ngày, Môi-se dâng những của lễ giống như những của lễ ông đã dâng vào “ngày phong chức” (Xu 29:35-36). Các thầy tế lễ khi ấy ăn thịt của “chiên đực về lễ phong chức” cũng như bánh về của lễ chay, giống như họ sẽ ăn những của lễ thù ân. Tuy nhiên, có một sự khác biệt: họ không được phép ăn thịt vào ngày kế tiếp (Lê 7:15-16). Bất cứ thứ gì còn lại phải được thiêu trong cùng một ngày. Bảy ngày của họ trong phạm vi đền tạm cho thấy sự trọn vẹn của việc họ dâng mình cho Chúa. Nếu họ bất tuân và rời khỏi đền tạm, họ sẽ chết. Việc trở nên một trong những thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là một điều nghiêm túc (2).
2. Bày T ỏ Vinh-Hiển Của Đức Chúa Trời (Lê 9:1-24)
A-rôn và các con trai ông đã vâng theo những điều răn của Đức Chúa Trời. Vì vậy, khi tuần lễ này đã qua, họ đã sẵn sàng để bắt đầu hầu việc Chúa tại bàn thờ. Cho đến thời điểm này, Môi-se đã dâng các của lễ, giờ đây A-rôn và các con trai ông sẽ nhận lấy chức-vụ tế-lễ của họ.
•Dâng tế-lễ trên bàn thờ của Đức Chúa Trời (Lê 9:1-21).
A-rôn và các con trai ông phải dâng một bò tơ đực làm của lễ chuộc tội và một chiên đực làm của lễ thiêu. Từ đó, họ sẽ dâng một của lễ thiêu trên bàn thờ mỗi buổi sáng và buổi chiều (c.16; Xu 29:38-42). Mỗi ngày phải bắt đầu và kết thúc bằng sự dâng hiến trọn vẹn cho Chúa. Vì là những người không trọn-vẹn nên các thầy tế-lễ trước hết phải dâng của lễ cho chính họ trước khi có thể dâng của lễ cho dân-sự (Hêb 7:25-28).
Tuy nhiên, lễ phong chức của họ cũng đòi hỏi việc dâng những của lễ cho dân sự (Lê 9:3-4): một con dê đực để làm của lễ chuộc tội, một bò con và một chiên con để làm những của lễ thiêu, một con bò tơ và một con chiên đực để làm của lễ thù ân, cùng với những của lễ chay. Có những thầy tế-lễ được thánh hóa mà không có một dân được thánh hóa thì sẽ không thích hợp. Đức Chúa Trời nhân từ biết bao khi ban cho tội nhân phương cách của sự tha-thứ, sự dâng hiến và sự giao thông; và chúng ta có mọi điều này trong Đức Chúa Giê-xu Christ!
Môi-se nói với dân-sự và cho họ biết rằng vinh-hiển của Chúa sẽ hiện ra khi lễ phong chức đã được hoàn tất (c.6), giống như vinh-hiển Ngài đã hiện ra khi đền tạm được dựng lên (Xu 40:34-38). Một trong những mục-đích chính của chức-vụ đền tạm là làm vinh-hiển Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng mà sự vinh-hiển Ngài đã ngự trên ngai thương-xót trong nơi chí thánh. Các dân-tộc ngoại đạo quanh họ có các thầy tế-lễ và các của lễ, nhưng họ không có sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời. Ngược lại, họ đã “không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời”, và đã “đổi vinh-hiển của Đức Chúa Trời không hề hư-nát thành một hình-tượng” (Rô 1:21,23). Đức Chúa Trời ghét sự thờ hình tượng vì nó cướp đi của Ngài vinh hiển thuộc về Ngài, và nó cướp đi của dân sự Đức Chúa Trời những phước hạnh Ngài muốn chia-sẻ với họ.
Khi A-rôn đã hoàn tất xong mọi của lễ này, ông cùng các con trai ông và dân Y-sơ-ra-ên được tha thứ, dâng mình hoàn toàn cho Chúa và ở trong mối thông-công với Ngài. Thứ tự về các của lễ thật có ý nghĩa: chúng ta trước hết phải giải quyết tội-lỗi mình trước khi có thể dâng mình hoàn toàn cho Chúa, sau đó chúng ta có thể vui hưởng mối thông công với Ngài.
•Dự phần vào sự chúc phước của Đức Chúa Trời (Lê 9:22-23a).
Một trong những đặc quyền của thầy tế-lễ cả là đặc quyền được chúc phước cho dân-sự. Vào ngày đầu tiên của chức-vụ mình, A-rôn đã ban cho họ hai sự chúc phước. Sau khi đã dâng các của lễ, ông đưa ra sự chúc phước đầu tiên; và ông đưa ra sự chúc phước thứ hai cùng với Môi-se sau khi họ từ đền tạm đi ra khi đã kết thúc lễ phong chức.
•Sự chúc phước thứ nhất có lẽ là lời chúc phước của thầy tế lễ cả được ghi trong (Dan 6:23-26).
Nó theo sau các của lễ. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng mọi phước hạnh chúng ta có đều đến chỉ sau khi công tác của Chúa Giê-xu Christ được hoàn tất trên thập tự giá (Eph 1:3-7). Nếu chúng ta không biết Đức Chúa Giê-xu Christ là Cứu Chúa và Chúa chúng ta, chúng ta không có bất cứ phước hạnh thuộc-linh nào, và chúng ta không thể cầu xin Đức Chúa Trời chúc phước người khác qua chúng ta. Sự chúc phước thứ hai chỉ đến sau thời gian Môi-se và A-rôn ở trong đền tạm, và điều này nhắc nhở rằng chúng ta phải ở trong mối thông công với Đức Chúa Trời và với nhau nếu chúng ta muốn là một sự phước hạnh cho người khác.
• Nhìn thấy vinh-hiển của Đức Chúa Trời (Lê 9:23-24).
Vinh hiển của Chúa đã hiện ra khi Môi-se dựng xong đền tạm (Xu 40:34-35), và vinh-hiển ấy sẽ tái hiện tại lễ cung hiến đền thờ (IISu 7:1). Đức Chúa Trời nhân từ biết bao khi đã chia-sẻ vinh-hiển Ngài với một dân tội-lỗi!
•Sự vinh-hiển đã ngự trong đền tạm cuối cùng đã rời khỏi trại quân vì tội-lỗi của dân-sự (ISa 4:21).
Vinh-hiển ấy đã trở lại tại lễ cung hiến đền thờ nhưng sau đó tiên-tri Ê-xê-chi-ên đã nhìn thấy sự vinh hiển ấy cất lên vì dân-sự đã trở nên quá tội-lỗi (Exe 8:4; Exe 9:3 Êxe 10:4,18; Êxe 11:22-23). Vinh-hiển đã đến trên đất khi Chúa Giê-xu giáng-sinh (Lu 2:8-9) và tạm trú trong Ngài (Gi 1:14), nhưng những con người tội-lỗi đã đóng đinh sự vinh hiển ấy vào thập-tự giá. Ngày nay, vinh hiển của Đức Chúa Trời ngự trong thân thể của dân sự Ngài (ICôr 6:19-20), trong mỗi hội chúng địa phương của dân sự Ngài (ICôr 3:16-17), và trong toàn thể Hội thánh Ngài (Eph 2:19-22). Một ngày nào đó,chúng ta sẽ nhìn thấy vinh hiển ấy chiếu sáng thành thánh trên trời mà Đức Chúa Trời đang chuẩn bị cho dân sự Ngài (Kh 21:22-23).
Lửa của Đức Chúa Trời thiêu cháy của lễ thiêu (IISu 7:1-3), và cho dân sự một điều bảo đảm rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở giữa họ và ở cùng họ. “Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt” (He 12:29) và lửa đó có thể thiêu đốt dân sự! Điều này nhắc nhở chúng ta rằng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đã giáng trên Con Ngài hơn là trên tội nhân là những kẻ đáng bị đoán xét (IICo 5:21; IPhi 2:24).
Sự đáp ứng trái ngược của dân sự giúp chúng ta hiểu rõ hơn về kinh nghiệm của sự thờ phượng, vì họ đã tràn ngập sự vui mừng. Có sự vui mừng trong lòng họ khi Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống đã đoái đến mà ngự giữa họ và chấp nhận sự thờ phượng của họ, nhưng trong họ cũng có sự kính sợ khi dân sự sấp mặt xuống trong nỗi sợ hãi. Hai thái độ này cân bằng nhau,“khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách kính sợ, và mừng rỡ cách run rẩy” (Thi 2:11). Phao-lô nhìn thấy điều này như một kinh nghiệm đáng ao ước và chuẩn mực trong hội chúng địa phương (ICo 14:23-25). Nếu chúng ta phục vụ mà không làm vinh hiển Đức Chúa Trời, vậy Đức Chúa Trời không thể chúc phước cho sự phục vụ ấy và dùng nó để giúp cho những người khác và chinh phục kẻ hư mất.
3. Chấp Nhận Kỷ Luật Của Đức Chúa Trời (Le 10:1-20)
Một ngày mà lẽ ra phải kết thúc bằng sự thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời một cách vui mừng thì ngược lại đã đi đến đỉnh điểm bằng đám tang của hai con trai A-rôn. Những lời phát biểu của C.H. Mackintosh thật thích đáng và mạnh mẽ:
“Trang sử nhân loại đã từng bị vấy bẩn một cách đáng buồn. Đây là một trang sử ghi lại sự thất bại từ đầu đến cuối.” Giữa mọi sự vui thỏa tại vườn Ê-đen, con người đã lắng nghe lời giả dối của kẻ cám dỗ (Sa 3:1-24); khi được giữ khỏi sự đoán phạt bởi cánh tay của sự yêu thương tự nguyện, và được dẫn dắt vào vùng đất đã được phục hồi, con người đã phạm tội say sưa quá độ (Sa 9:1-29); khi được đưa vào xứ Ca-na-an, bởi cánh tay mở rộng của Đức Giê-hô-va, con người đã “bỏ Đức Giê-hô-va hầu việc Ba-anh và At-tạt-tê” (Cac 2:13); khi được đặt tại đỉnh cao của quyền lực và sự vinh hiển trên đất, với sự giàu có không kể xiết dưới chân mình, con người đã dâng lòng cho kẻ xa lạ không chịu cắt bì (IVua 11:1-43).
Những phước hạnh của Phúc-Âm được công bố chưa bao lâu thì đã đến lúc cần thiết để Thánh Linh nói tiên tri về “kẻ tham lam khốn khổ”, “sự bội đạo” và “mọi kiểu thất bại. . . Như vậy, con người đã hủy hoại mọi sự.” (3)
•Tội lỗi của Na-đáp và A-bi-hu. (Le 10:1-2).
Mọi điều hai người này đã làm là sai trật. Trước hết, họ không ph ải là những người dùng hương xông để dâng lên cho Chúa. Đây là nhiệm vụ của cha họ, thầy tế lễ cả (Xu 30:7-10). Họ cũng sử dụng sai dụng cụ, là những lư hương của riêng họ thay vì lư hương của thầy tế lễ cả, được thánh hóa bởi một loại dầu xức đặc biệt (Xu 40:9). Họ đã hành động sai thời điểm,vì chỉ vào ngày lễ chuộc tội hằng năm thì thầy tế lễ cả mới được phép đem hương xông vào nơi Chí thánh, và thậm chí khi ấy ông phải tuân theo một nghi lễ đặc biệt (Le 16:1).
Họ đã hành động sai quyền hạn. Họ không hỏi ý kiến của Môi-se hay cha của họ và cũng không tìm cách làm theo Lời Đức Chúa Trời, là Lời mà Môi-se đã tiếp nhận. Khi đốt hương, họ đã dùng sai lửa, điều mà Kinh Thánh gọi là lửa lạ (Le 10:1 NIV nói lửa trái phép). Thầy tế lễ cả được lệnh đốt hương trên than được lấy từ bàn thờ bằng đồng (Le 16:12), nhưng Na-đáp và A-bi-hu tự cung cấp lửa cho mình và Đức Chúa Trời đã từ chối lửa ấy. Họ hành động với động cơ sai lầm và không tìm cầu để làm vinh hiển duy Đức Chúa Trời (Le 10:3). Chúng ta không biết những điều sâu kín trong lòng họ, nhưng bạn có ấn tượng rằng những gì họ đã làm là hành động cố tình của lòng kiêu ngạo. Mong muốn của họ không phải là làm thánh hóa và làm vinh hiển Chúa nhưng là đề cao bản thân họ và muốn trở nên những người quan trọng.
Cuối cùng họ cũng đã cậy nơi nguồn lực sai lầm vì những câu 9-10 ngụ ý rằng họ bị tác động của rượu điều này nhắc chúng ta về (Eph 5:18) “Đừng say rượu...nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh” Nếu mọi con cái Đức Chúa Trời đều bị giết, là những đã người dùng năng lực của thể xác thay cho quyền năng Thánh Linh thì chẳng có nhiều người sẽ được để lại! A.W.Tzer đã có lần nói: “Nếu Đức Chúa Trời cất đi Thánh Linh Ngài ra khỏi thế gian nầy, nhiều Hội thánh đang làm sẽ vẫn cứ tiếp tục, và không ai biết sự khác nhau.”
Na-đáp và A-bi-hu không phải là những người bên ngoài, họ là những thầy tế lễ đã được xức dầu, đã được nhìn thấy Đức Chúa Trời ở trên núi (Xu 24:1-11).Cha họ là thầy tế lễ cả, và họ được huấn luyện trong sự hầu việc Chúa. Nhưng họ đã bị giết vì sự bất tuân của mình! “Vậy, nếu anh em nghĩ mình đang đứng vững,hãy cẩn thận để anh em không bị ngã!” (ICo 10:12 NIV). Làm tôi tớ của Đức Chúa Trời là một điều nghiêm túc, và sự hầu việc của chúng ta phải được Thánh Linh Ngài ban quyền năng và được điều khiển bởi Lời Ngài. Chúng ta phải hầu việc Đức Chúa Trời “một cách có thể chấp nhận được bằng sự tôn trọng và kính sợ, vì Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt” (He 12:28-29).
• Sự đau buồn của A-rôn (Le 10:3-11).
Đặc quyền của chức vụ luôn đi cùng với trách nhiệm và sự hy sinh. A-rôn không được phép than khóc cho cái chết của hai con trai lớn của ông (Le 10:6-7; Le 21:10-12) nhưng phải ở trong khu vực đền tạm và hoàn tất lễ phong chức. Hai cháu trai của ông lo cho việc chôn cất xác (Xu 6:21-22).
Có thể chúng ta thấy lạ khi Đức Chúa Trời đã giết Na-đáp và A-bi-hu thay vì chỉ cần cảnh cáo họ, nhưng thường bắt đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử cứu rỗi, Chúa đem đến sự xét đoán để cảnh cáo dân sự. Chức vụ tế lễ tại đền tạm sắp bắt đầu, và Chúa muốn bảo đảm rằng các thầy tế lễ phải hiểu được sự nghiêm túc trong công việc của họ.
Khi Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa, Đức Chúa Trời đã sử dụng sự bất tuân của A-can làm một sự cảnh cáo (Gios 7:1-26), và sự chết của U-xa là sự cảnh cáo của Ngài khi hòm giao ước được mang đến Giê-ru-sa-lem (IISa 6:1-7). Đầu thời kỳ Hội thánh, sự chết của A-na-nia và Sa-phi-ra là một sự cảnh cáo cho các thánh đồ đừng tìm cách nói dối Đức Chúa Trời (Cong 5:1-11)
Các thầy tế lễ chỉ dạy dân sự tính khác biệt giữa những điều thánh khiết và không thánh khiết thì chưa đủ. Họ cũng phải thực hành điều đó trong chính đời sống họ. Đây là một trong những gánh nặng về sứ điệp của tiên tri Ê-xê-chi-ên (Exe 22:26; Exe 42:20; Exe 44:23; Exe 48:14-15).
• Sự chân thành của A-rôn (Le 10:12-20).
Vì Môi-se quan tâm để không điều răn nào khác của Chúa bị bất tuân và để sự xét đoán của Ngài không giáng xuống lần nữa, ông khuyên A-rôn và hai con trai còn lại của người biết chắc rằng phải ăn phần của họ về của lễ thù ân (Le 7:28-36). Họ cũng phải ăn phần của mình về của lễ chuộc tội (Le 6:24-30). Môi-se đã phát hiện ra rằng A-rôn và các con trai người đã không ăn phần ấy. Trước hết ông nổi giận, nhưng lời giải thích của A-rôn làm ông hài lòng.
A-rôn giải thích rằng ông không thể ăn của lễ với một lương tâm vui vẻ vì cớ sự buồn rầu đã xảy đến với ông ngày ấy. Chúa biết lòng ông, và ông sẽ không tìm cách lừa dối Đức Chúa Trời bằng việc đóng vai kẻ giả hình. A-rôn biết rằng việc tuân giữ lễ nghi một cách máy móc sẽ không làm đẹp lòng Đức Chúa Tr ời, vì Chúa nhìn nơi tấm lòng và muốn sự vâng phục, chứ không phải của lễ (ISa 15:22-23; ISa 16:7; Thi 51:16-17; Mi 6:6-8). Luật pháp không cho phép A-rôn bày tỏ sự đau khổ của ông theo những cách thông thường,nhưng luật pháp không cấm ông kiêng ăn, và sự kiêng ăn là cách ông bày tỏ nỗi đau khổ của mình về sự mất hai con trai của ông.
Khi bạn nhìn lại ba chương này, có nhiều bài học nổi bật rõ ràng:
(1) Lời Đức Chúa Trời phán dạy chúng ta về chức vụ mình, và chúng ta phải vâng theo điều Ngài phán. Những chỉ dẫn của Đức Chúa Trời được trình bày chi tiết hơn đối với các thầy tế lễ Cựu-ước so với những người thi hành chức vụ trong thời Tân-ước, nhưng những nguyên tắc và ví dụ đã được trình bày một cách rõ ràng trong Tân-ước để chúng ta không đi sai lạc.
(2) Chúng ta dâng mình cho Đức Chúa Trời, và Ngài phong chức cho chúng ta vì sự hầu việc Ngài. Ngài cần những tôi tớ thanh sạch,đầu phục, vâng lời và được “đánh dấu” bởi huyết và dầu.
(3) Nếu không có công việc được hoàn tất của Đấng Christ và quyền năng của Thánh Linh, chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời cho đẹp ý Ngài (IPhi 2:5). Không có lòng nhiệt thành thuộc thể hoặc “lửa lạ” nào có thể thay thế sự dâng hiến đầy dẫy Thánh Linh cho Đức Chúa Trời. Hãy biết chắc “lửa” của chức vụ bạn đến từ bàn thờ của Đức Chúa Trời chứ không phải từ thế gian này.
(4) Chúng ta thi hành chức vụ trước hết cho Chúa và vì sự vinh hiển của Ngài. Dù chúng ta có hy sinh và hầu việc thật nhiều nhưng nếu Đức Chúa Trời không được vinh hiển thì không thể có sự phư ớc hạnh.
(5) Những đặc quyền của chức vụ luôn kèm theo những trách nhiệm quan trọng. “Vì ai đã được ban cho nhiều thì sẽ bị đòi lại nhiều” (Lu 12:48).
(6) Niềm vui lớn nhất của chúng ta trong đời sống phải là hầu việc Chúa và quy vinh hiển cho danh Ngài. “Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách kính sợ, và mừng rỡ cách run rẩy” (Thi 2:11).
3. SỰ THANH SẠCH VÀ SỰ TIN KÍNH (Le 11:1-12:8)
“Sự thanh sạch ở cạnh sự tin kính.”
John Wesley thường được biết đến với câu nói ấy (1), nhưng nó dường như là một câu châm ngôn đã được lưu truyền trước thời của ông. Thật ra cách Wesley trưng dẫn câu nói ấy trong bài giảng của ông -“On Dress” cho thấy thính giả của ông đã quen thuộc với câu châm ngôn này.
Dân Do-thái sẽ nhận ra ngay câu nói này; trong trại quân Y-sơ-ra-ên, những ý niệm về sự thanh sạch và sự tin kính đã được hòa quyện với nhau đến nỗi chúng gần như đồng nghĩa với nhau. Dân Do-thái kính sợ bị ô uế về nghi thức do đã chạm đến vật gì hay ăn thức ăn nào đó. Từ việc sinh nở đến việc chôn cất, dân Do-thái phải đầu phục trong mọi khía cạnh của đời sống họ trước thẩm quyền của luật pháp Đức Chúa Trời. Dù đó là việc lựa chọn hay chuẩn bị thức ăn, chăm sóc người mẹ và trẻ sơ sinh, chẩn đoán một căn bệnh, hay việc vứt bỏ một món đồ thừa, không có gì được để lại trong trại quân Y-sơ-ra-ên để ai đó có thể bị ô uế. Để duy trì sự thánh khiết về mặt nghi thức, mỗi người Do Thái phải vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời trong nhiều lãnh vực của đời sống.
1. Việc ăn (Le 11:1-23)
Vì Nô-ê đã biết về loài vật thanh sạch và không thanh sạch (Sa 7:1-10), sự phânbiệt này thuộc về một truyền thống xưa đã có trước Bộ luật của Môi-se. Một sinh vật “thanh sạch” hay “không thanh sạch” không có liên quan gì đến giá trị của con vật, nó tùy thuộc vào điều Đức Chúa Trời phán về con vật ấy. Khi ban ra những luật này, chắc chắn Đức Chúa Trời đã nghĩ đến sức khỏe của dân sự Ngài (Xu 15:26; Phu 7:15), nhưng mục đích chính của chế độ ăn uống là để nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên rằng họ thuộc về Đức Chúa Trời và họ phải giữ mình khỏi mọi sự gì sẽ làm ô uế họ. “Hãy nên thánh vì ta là thánh”, (Xem Le 11:44 Phu 14:3-20 để có bản liệt kê tương tự về thức ăn thanh sạch và không thanh sạch).
Tuy nhiên, nguyên tắc thuộc linh về sự phân rẽ khỏi sự ô uế được áp dụng cho dân sự Đức Chúa Trời ngày nay. Việc chúng ta biết Đức Chúa Trời phải tạo ra sự khác biệt trong mọi khía cạnh của đời sống chúng ta. “Vì anh em đã được mua bằng một giá, vậy hãy làm vinh hiển Đức Chúa Trời qua thân thể và qua linh hồn anh em đã thuộc về Đức Chúa Trời” (ICo 6:20 NKJV).
“Vậy anh em, hoặc ăn hoặc uống, hay làm bất cứ việc gì, hãy làm tất cả vì vinh hiển của Đức Chúa Trời” (ICo10:31 NKJV).
Đức Chúa Trời đã không ban cho Hội thánh Ngài danh sách các vật thanh sạch và không thanh sạch, nhưng Ngài đã bày tỏ đầy đủ cho chúng ta qua Lời Ngài để giúp chúng ta biết điều gì làm đẹp lòng Ngài và điều làm buồn lòng Ngài.
Ba sự kiện cần phải được lưu ý về các luật ăn uống: (1) Đức Chúa Trời chỉ ban những luật này cho dân tộc Do-thái; (2) việc vâng theo những luật ấy đảm bảo cho sự tinh sạch về nghi thức nhưng không thể tự động biến đổi bản tính con người trở nên thánh khiết; (3) những luật này mang tính tạm thời và đã chấm dứt trên thập tự giá của Đấng Christ (Co 2:14).
Chúa Giê-xu cho các môn đồ Ngài biết rõ rằng mọi thức ăn đều là thanh sạch (Mac 7:1) và Đức Chúa Trời đã dạy bài học này một lần nữa cho Phi-e-rơ trước khi Ngài sai ông đi rao giảng cho những người ngoại “không thanh sạch” (Cong 10:9-16). Phao-lô xác định rằng những ngày lễ và những thức ăn đặc biệt không nên được xem là phương tiện hoặc là thước đo cho mức độ thuộc linh của một người (Ro 14:1-15:13). “Nhưng đồ ăn không đem chúng ta đến gần Đức Chúa Trời, chúng ta chẳng tệ hơn nếu chúng ta không ăn và cũng không tốt hơn nếu chúng ta ăn” (ICo 8:8 NIV). Thật sai lầm khi xét đoán Cơ-đốc nhân khác dựa trên cơ sở họ ăn cái gì (Co 2:16-23). Nếu họ vẫn tin Lời Đức Chúa Trời rằng mọi đồ ăn đều thanh sạch và cầu xin Đức Chúa Trời chúc phước cho đồ ăn của họ thì họ có quyền ăn thức ăn đó (ITi 4:1-6) (2).
Chúng ta không cần phải nhận biết hết mọi sinh vật được kể tên trong chương này. Thật ra, một số loài trong số này là bí ẩn đối với chúng ta. Hãy nhớ rằng luật này kể tên những sinh vật tiêu biểu và không tìm cách đưa ra một danh sách trọn vẹn. Môi-se trình bày những đặc điểm chung của các sinh vật được cho phép và không cho phép, và dân sự phải nhận thức rõ trong việc áp dụng luật. Nếu một sinh vật đáng bị nghi ngờ, thì nó phải bị chối từ; việc mạo hiểm để trở nên ô uế không mang ý nghĩa gì cả.
• Các loài vật trên đất (Le 11:1-8).
Hai yêu cầu được đưa ra là loài vật này phải nhai thức ăn và móng rẽ ra. Một con vật chỉ có một trong hai đặc điểm này thì không được xem là sạch sẽ và không được ăn. Từ Hê-bơ-rơ được dịch là “thỏ rừng” trong câu 6 (“con thỏ”-rabbit) chỉ về một con vật mà chúng ta không quen thuộc, vì các loài thỏ mà chúng ta biết thì không nhai thức ăn. Những chuyển động của hàm và mũi thỏ nhìn bên ngoài có vẻ nó đang nhơi thức ăn, nhưng đó không phải là trường hợp này.
• Các loài vật dưới nước (Le 11:9-12).
Những loài vật này phải có vây và vảy thì mới ăn được. Vì thế mọi loài sò, hến, tôm, cua, cá trê, lươn... đều bị cấm. Những sinh vật dưới nước là loài ăn xác thối rữa và đào bới dưới lòng biển nên có thể mang những ký sinh trùng gây nguy hiểm cho sức khỏe của người ăn. Vì loài cá bơi tự do trong nước nên chúng có thể thoát khỏi những sự lây nhiễm đó.
• Loài chim (Le 11:13-19).
Những con chim bắt mồi ăn xác chết bị ô uế bởi xác chết của nạn nhân cũng như bởi huyết vẫn còn trong xác chết. Điều này khiến chúng trở nên ô uế gấp đôi. Khi dân Y-sơ-ra-ên thèm ăn thịt,Đức Chúa Trời đã ban cho họ chim cút (Xu 16:1-13; Dan 11:31-35).
• Loài côn trùng bay (Le 11:20-23).
Mọi loài côn trùng đều bị cấm trừ ra những loại nào có cẳng sau giáp nối được dùng để nhảy, như là cào cào, châu chấu, con ve, con dế... Những sinh vật này thường không phải là thức ăn của người phương Tây, nhưng nhiều người ở Đông phương ăn phần thân của chúng nướng lên. Giăng Báp-tít đã sống bằng châu chấu và mật ong (Mat 3:4). Dân Do-thái sẽ tránh xa loài gián, ruồi và những loài côn trùng khác.
Vài năm trước đây, trong suốt thời gian kiểm tra sức khỏe định kỳ của tôi, bác sĩ khám phá rằng lượng đường trong máu của tôi khá cao. Ông kiểm tra cẩn thận và rồi cho tôi biết là tôi có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, khả năng tai biến nghiêm trọng, giống như một cơn đột quỵ hoặc mù lòa. Giải pháp dễ dàng nhất cho vấn đề của tôi là giảm cân, vì vậy tôi lập tức ăn kiêng. Ông ta cho tôi một lời khuyên hữu ích: “Hãy nhớ bí quyết của việc ăn kiêng thoải mái là học cách ghét những thứ không tốt cho anh và thưởng thức những thứ tốt cho anh.”
Điều đó đã có tác dụng! Tôi theo chế độ ăn uống đó, làm mất vị giác của mình về đồ ngọt cùng những món tráng miệng nhiều chất đường, chẳng bao lâu tôi đã loại bỏ được sự tăng cân đe dọa đến sức khỏe của tôi, nếu không muốn nói là mạng sống của tôi. Chúng tôi đã kiểm soát được lượng đường trong máu!
Dân Do-thái dưới Giao-ước phải tiếp nhận một quan điểm tương tự về đời sống. Họ phải học cách xem thường những thức ăn Đức Chúa Trời phán là không sạch và tận hưởng những thức ăn Đức Chúa Trời đã phán là sạch. Đó là sự chọn lựa giữa việc làm thỏa lòng mình và bị ô uế hoặc làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và được thanh sạch. Không thể có sự lựa chọn “nước đôi”. Nếu bất cứ thức ăn nào đáng nghi vấn, nó phải tự động bị loại bỏ, nh ờ đó họ không bất tuân Đức Chúa Trời và làm cho mình ra ô uế.
Khi tôi còn là một tín hữu trẻ tuổi, ai đó đã cho tôi một bản sao của cuốn sách nhỏ “Người khác có thể, bạn không thể” (Other may, you cannot), và nó đã giúp đỡ rất nhiều cho tôi. Tôi biết rằng tôi phải có những sự hướng dẫn từ Đức Chúa Trời chứ không phải từ người khác, và tôi phải sẵn sàng để sống khác biệt. Mong ước lớn lao của tôi phải là làm đẹp lòng Chúa cách vui mừng, không phải miễn cưỡng, và không phải để thấy mình có thể đến gần tội lỗi mà vẫn không gặp rắc rối như thế nào.
2. Sự Chạm Đến (Le 11:24-43)
Đoạn này nhấn mạnh đến việc tránh sự ô uế gây ra bởi việc chạm đến những sinh vật chết, là loài tinh sạch lẫn không tinh sạch. Nếu một người Do-thái tình cờ thấy xác chết của một con vật, thậm chí là loài tinh sạch thì người ấy biết nó đã bị ô uế vì máu huyết đã không được dẫn lưu đúng cách và thịt cũng không được bảo vệ khỏi sự ô nhiễm. Khi Sam-sôn ăn mật từ xác chết của con sư tử, ông đã làm cho mình ô uế và không phải là một người Na-xi-rê nữa (Cac 14:1-9; Dan 6:6,9). Dù mật ngọt đến đâu, nó vẫn ô uế trước mặt Đức Chúa Trời, và điều này đã làm cho Sam-sôn ô uế.
Những người trở nên ô uế vì chạm đến xác súc vật đều bị xem là không thanh sạch cho đến ngày cuối ngày. Họ phải tắm mình rồi giặt quần áo và không thể vào trại quân cho đến lúc mặt trời lặn. Điều này giữ cho họ không làm lây lan cho người khác sự ô nhiễm nào họ có thể đã mang do chạm đến con vật chết. Nếu một sinh vật chết rơi vào một chậu sành, chậu phải bị đập bể. Bất cứ vật gì bị xác súc vật chạm đến đều ô uế và phải được rửa sạch hoặc bỏ đi.
Thật dễ nhìn thấy những lý do về vệ sinh đằng sau những qui tắc này, và chắc chắn việc vâng theo những qui tắc đó giúp dân Do-thái tránh được bệnh tật. Nhưng lý do chính cho những luật này là để dạy dỗ dân sự hiểu rõ giá trị của sự thanh sạch và tránh xa những gì không thanh sạch. Lời khuyên của Phao-lô đối với người Cô-rinh-tô là một ứng dụng đương thời về nguyên tắc này và phải được suy gẫm, và làm theo bởi bất cứ tín hữu nào xem trọng một đời sống nên thánh (IICo 6:14-7:1).
Môi-se cũng thêm con thằn lằn, loại gặm nhấm, và những loài bò trườn vào danh sách thức ăn bị cấm (Le 11:29-30). Những sinh vật nhỏ bé này có thể chết và bị che đậy đến nỗi người ta sẽ không biết xác chết có ở đó trước khi họ chạm đến nó và trở nên ô uế. Xác chết cũng có thể rơi vào một thùng đựng hàng hoặc một đồ vật và điều này sẽ làm cho đồ vật đó bị ô uế. Phụ nữ Do-thái rất cẩn thận trong việc nội trợ của họ để không có sự sơ xuất nào làm cho dân sự bị ô uế.
Trong Lê-vi ký chương 11, bạn tìm thấy từ không thanh sạch (hay ô uế) đến 32 lần và có 10 lần nhắc đến từ gớm ghiếc. Vật gì Đức Chúa Trời đã phán là không thanh sạch thì đó phải là một sự gớm ghiếc trong mắt chúng ta. “Khốn thay cho kẻ gọi dữ là lành, gọi lành là dữ, lấy tối làm sáng, lấy sáng làm tối” (Es 5:20). Bước đầu hướng đến sự bất tuân thường là việc “phân loại lại” tội lỗi và làm cho nó trở nên có thể chấp nhận được thay vì đáng gớm ghiếc.
Chẳng hạn, Đức Chúa Trời phán rằng cây ở giữa vườn bị cấm đối với người nam và người nữ, nhưng Ê-va lại “thấy cây đó bộ ăn ngon” (Sa 3:6) và đã hái quả của cây ấy. Đức Chúa Trời phán rằng mọi chiến lợi phẩm của Giê-ri-cô đều ở dưới sự giới hạn thiêng liêng và không được để các binh sĩ Do-thái chạm đến (Gios 6:16-17), nhưng A-can đã sửa đổi sự phân biệt đó và lấy đi một số chiến lợi phẩm (Gios 7:16-26). Điều đó khiến ông ta phải trả giá bằng mạng sống của mình.
Sa-mu-ên bảo vua Sau-lơ phải giết tất cả dân A-ma-léc cùng bầy chiên, bầy gia súc của họ, nhưng vua đã để cho A-ga sống và giữ lại “những con tốt nhất về chiên và bò” (ISa 15:15). Sau-lơ đã phân loại lại những gì Đức Chúa Trời phán là gớm ghiếc và nghĩ rằng điều này sẽ khiến nó được chấp nhận, nhưng sự dại dột của ông đã khiến ông mất nước.
Ngày nay, chúng ta sống trong một xã hội chối bỏ những điều tuyệt đối về đạo đức và đề cao một đạo đức “hay thay đổi” mà vốn chẳng phải là đạo đức gì cả. Giống như những người được mô tả trong sách Các Quan Xét, mọi người đang làm điều đúng theo mắt mình (Cac 21:25). Nhưng sự phân loại của xã hội về tội lỗi đã không làm thay đổi bất cứ điều gì, Đức Chúa Trời vẫn gọi tội lỗi là một sự gớm ghiếc và vẫn xét đoán nó.
Các bác sĩ có thể bị kiện về hành động phi pháp nếu họ thực hiện sự chẩn đoán sai lầm và đưa ra cách điều trị sai lầm. Nhưng một giáo sư đại học, một người truyền bá chủ nghĩa tự do, hoặc một nhà bình luận thời báo có thể biện hộ cho tội lỗi, bảo vệ sự đồi bại và được hoan nghênh về lời chẩn đoán khéo léo. Vì sao? “Vì lòng người dối trá hơn mọi vật và rất xấu xa” (Gie 17:9) và người ta yêu “sự tối tăm hơn sự sáng vì những việc làm của họ là xấu xa” (Gi 3:19).
Nhà truyền giáo Billy Sunday thường nói rằng, một tội nhân không thể tìm thấy Đức Chúa Trời với cùng một lý do mà một phạm nhân không thể thấy một viên cảnh sát:phạm nhân không quan sát kỹ cho lắm! Tiên tri Giê-rê-mi đã viết: “Các tiên tri và thầy tế lễ đều giống nhau, tất cả đều làm sự gian dối. Chúng nó rịt vết thương cho dân Ta như thể nó không nghiêm trọng. Chúng nó nói, bình an, bình an, mà chẳng có bình an chi hết” (Gie 8:11 NIV). Những người bị bắt bớ là những người có sự chẩn đoán đúng và có cách điều trị duy nhất, trong khi những người có sự chẩn đoán sai và cách điều trị vô ích lại được tôn cao. “Những kẻ tiên tri nói tiên tri dối, và các thầy tế lễ bởi đó mà cầm quyền, và dân Ta đều lấy làm ưa thích” (Gie 5:31).
3. Sự Phân Biệt (Le 11:44-47)
Nếu dân Do-thái muốn giữ cho được thanh sạch và làm đẹp lòng Chúa, họ phải thực hiện sự phân biệt rõ rệt. Điều này có nghĩa là biết Lời Đức Chúa Trời, tôn trọng và vâng theo Lời Đức Chúa Trời. Những người cha, người mẹ phải dạy con cái họ luật pháp và cảnh cáo chúng về những điều không thanh sạch (Phu 6:1-9). Các thầy tế lễ phải dạy dỗ dân sự và nhắc nhở họ về những điều răn của Chúa. Chính khi dân Y-sơ-ra-ên bỏ qua Lời Đức Chúa Trời và không vâng theo Lời ấy là lúc dân sự bắt đầu làm theo những hành động gớm ghiếc của các dân tộc ngoại đạo quanh họ, và đây là điều dẫn đến sự kỷ luật và sự thất bại của dân Y-sơ-ra-ên.
Dân Do-thái phải tự nhắc nhở mình từng ngày từng giờ rằng họ thuộc về Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống, và được thuộc về dân tộc Y-sơ-ra-ên là một đặc quyền cao trọng và thánh khiết. “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, hãy dâng mình và nên thánh, vì ta là thánh” (Le 11:44 NIV). Theo ngôn ngữ Tân-ước, “Hãy bước đi cách xứng đáng với chức phận mà anh em đã được gọi” (Eph 4:1 NKJV). Vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời không phải là một gánh nặng, đó là một đặc quyền! Như Môi-se đã nhắc nhở dân sự ông: “Vì há có dân lớn nào có Đức Chúa Trời quá gần, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta gần chúng ta, mà chúng ta có thể kêu cầu Ngài với bất cứ lý do nào chăng? Và há có nước lớn nào có những luật lệ và những sự xét đoán công bình như trong cả luật pháp nầy mà ngày nay ta đặt trước mặt các ngươi chăng?” (Phuc 4:7-8 NKJV).
Người Do-thái thời Cựu-ước, giống như Cơ-đốc nhân thời Tân-ước, không nên bước đi “như những người ngoại khác bước đi, trong sự hư không của ý tưởng mình” (Eph 4:17). Đó là một sự cám dỗ để “đi theo” và rồi bắt chước những hành động tà đạo của các dân tộc ngoại đạo, và điều này dẫn đến sự ô uế và sự kỷ luật của dân Y-sơ-ra-ên. Tôi sợ rằng Hội thánh ngày nay đang đi theo triết lý tương tự và ngày càng trở nên giống thế gian. G.Campbell Morgan đã đúng khi ông nói rằng Hội thánh làm nhiều nhất cho thế gian khi Hội thánh ít giống thế gian nhất.
Những người Do-thái nào thực hành sự phân biệt về thuộc linh sẽ “bước đi trong tình yêu” (Eph 5:2), và tình yêu của họ đối với Chúa sẽ thúc đẩy họ vâng theo luật pháp của Ngài. Mỗi buổi sáng, người Do-thái chính thống sẽ đọc bài “Shema”- lời xưng nhận đức tin chính thức của người Do-thái: “Hỡi Y-sơ-ra-ên hãy nghe,Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai. Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn và hết sức kính mến Giê-h ô-va Đức Chúa Trời ngươi” (Phuc 6:4-5 NIV). Đó vẫn là điều răn lớn hơn hết (Mat 22:34-40).
Giống như dân Y-sơ-ra-ên trong thời Cựu-ước, tín hữu ngày nay không những phải bước đi xứng đáng với sự kêu gọi của họ và bước đi trong tình yêu, mà còn phải “bước đi thận trọng...hiểu ý muốn của Chúa là gì” (Eph 5:15,17). Chúng ta phải giữ cho mắt mình mở ra và cẩn thận nhìn xung quanh để không làm ô uế chính mình.
Những người Do-thái nào biết vật gì Đức Chúa Trời phán là thanh sạch và không thanh sạch, những người nào luôn có sự thận trọng, có lẽ đều không muốn chạm đến cái gì đó không thanh sạch và làm họ bị ô uế. Khi chúng ta “bước đi như các con sáng láng” (Eph 5:8), chúng ta sẽ không vấp ngã trên xác chết nào đó trong sự tối tăm. Vì Lời Đức Chúa Trời là ánh sáng hướng dẫn chúng ta (Thi 119:105).
Chúa đã nhắc nhở dân sự Ngài rằng chính Ngài đã chuộc họ khỏi ách nô lệ Ê-díp-tô (Le 11:45). Vì vậy, họ thuộc về Ngài và có bổn phận vâng theo ý muốn Ngài. Đấng Christ đã cứu chuộc chúng ta, không phải để chúng ta có thể tự do làm thỏa lòng mình, nhưng để chúng ta có thể tự do hầu việc Ngài, đó là sự tự do lớn hơn hết. Khi ban ra luật pháp của Ngài, Chúa thường sử dụng phép lạ về cuộc hành trình rời khỏi Ê-díp-tô để kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên đến sự vâng lời (Le 19:36; Le 22:31-33; Le 25:38,42,55; Le 26:13,45). Theo ngôn ngữ Tân-ước, dân Do-thái đã “được mua bằng một giá” và có bổn phận làm vinh hiển Đức Chúa Trời, Đấng đã cứu chuộc họ (ICo 6:20; IPhi 1:18-25).
Một trong những dấu hiệu của sự trưởng thành là khả năng “nhận biết sự khác biệt” (Le 11:47) và sự phân biệt đúng sai. Khi một nhà nghiên cứu bệnh học nhìn qua kính hiển vi, người ấy có thể nhìn thấy sự khác biệt giữa một tế bào khỏe mạnh và một tế bào ung thư. Người nhạc sĩ chuyên nghiệp có thể nhận ra ngay sự khác biệt giữa nốt nhạc đúng với nốt nhạc gần đúng, và nhà văn chuyên nghiệp biết được sự khác nhau giữa “bất cứ từ nào” với từ đúng. Tương tự, người tín hữu trưởng thành có thể thực hành sự phân biệt, nhận biết được điều gì không tinh sạch và tránh nó. Hãy nhớ, trẻ con có xu hướng bước đi trong bùn sình và bị vấy bẩn.
Điều mà tiên tri Ô-sê nói về Y-sơ-ra-ên trong thời của ôngthật đúng với nhiều người tự xưng là Cơ-đốc nhân ngày nay. “Ngươi vấp ngã ngày và đêm, và các tiên tri vấp ngã cùng với ngươi... Dân ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết” (Os 4:5-6 NIV). “Nhưng đồ ăn đặc là để cho kẻ thành nhân,luôn luôn rèn luyện chính mình để phân biệt điều lành và điều dữ” (He 5:14 NIV). Bình luận về (ICo 2:13-16), Vance Havner đã nói: “Không có gì hiếm hoi trong các Hội-thánh ngày nay hơn là sự phân biệt. Con người tự nhiên chẳng biết gì về điều này, người xác thịt tránh né nó. Chỉ có người thuộc linh có được sự phân biệt và chúng ta có quá ít trong số đó.”
4. Sự Tẩy Uế (Le 12:1-8)
Đức Chúa Trời nhân từ đã định liệu về việc tẩy sạch và phục hồi cho bất cứ ai bị ô uế. Đối với những trường hợp bình thường về sự không thanh sạch, thủ tục thông thường là để cho dân sự tắm rửa chính họ và giặt quần áo họ rồi ở ngoài trại quân cho đến chiều tối. Dân-số ký chương 19 mô tả sự chuẩn bị “nước tẩy uế” đặc biệt được giữ ngoài trại quân và được sử dụng cho sự tẩy sạch về mặt nghi thức. Nhưng với một số loại ô uế, những phương sách thêm vào là cần thiết, như trong những trường hợp về sự sinh nở (chương 12) và những vết thương nhiễm trùng hoặc những căn bệnh khác (chương 13-15).
• Mẹ và trẻ sơ sinh (Le 12:1-5).
Khi sinh con, người mẹ phải trải qua sự lưu huyết (c.4,5,7) cũng như tiết ra những chất dịch khác trong cơ thể (chương 15), điều này khiến người ấy chịu ô uế về mặt nghi thức. Chủ đề của chương này không phải là sự thánh khiết cá nhân, nhưng là sự tẩy uế theo nghi thức dành cho sản phụ, nếu không thực hiện nghi thức này thì người ấy không thể hội nhập vào đời sống thường ngày trong gia đình và trong trại quân.
Vì vậy, không điều gì trong chương 12 cần phải được giải thích để dạy dỗ rằng tình dục là “dơ bẩn”, sự mang thai là ô uế hay trẻ sơ sinh là không tinh sạch. Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người “người nam và người nữ” (Sa 1:27) và khi Đức Chúa Trời tuyên bố sự s áng tạo của Ngài là “rất tốt lành” (c.31) thì lời tuyên bố này bao gồm cả vấn đề sinh lý. Ngài đã phán bảo tổ phụ đầu tiên của chúng ta “hãy sanh sản thêm nhiều” (c.28). Mặc cho những thái độ tiêu cực đương thời đối với trẻ sơ sinh, Kinh Thánh cho thấy con cái là những phước hạnh từ Đức Chúa Trời (Thi 113:9; Thi 127:3-5; Thi 128:3; Ch 17:6; Mat 19:14). Nếu vì lý do nào đó mà sự mang thai là vô ích thì dân Do-thái sẽ không bao giờ nghĩ đến việc phá bỏ thai nhi.
Có thể có những vấn đề về sức khỏe có liên quan đến những lời chỉ dẫn này. Theo tiêu chuẩn nào đó thì người mẹ bị xem là “ô uế” trong 40 ngày sau khi sinh con trai hoặc 80 ngày sau khi sinh con gái, điều này có nghĩa là người ấy có cơ hội được nghỉ ngơi và hồi phục trước khi trở lại với những trách nhiệm trong gia đình. Điều này sẽ giúp cho tình trạng sức khỏe của chính sản phụ cũng như của đứa trẻ. Nó cũng bảo vệ sản phụ khỏi bệnh tật có thể xảy ra từ những người có bệnh nhưng muốn giúp đỡ sản phụ, hoặc khỏi sự lây lan ô nhiễm nào đó mà sản phụ có thể có (ví như bệnh hậu sản).
Kinh Thánh không giải thích lý do ấn định thời gian cho con gái dài gấp đôi so với con trai. Không có chứng cớ nào cho thấy những bé gái nhất thiết phải yếu đuối hơn những bé trai và do đó cần thời gian dài hơn để ở với người mẹ. Một ngày nào đó đứa con gái sẽ chịu sự xét đoán đã đặt trên Ê-va (Sa 3:16) nhưng vì sao Đức Chúa Trời tăng gấp đôi hạn ở cữ của người mẹ vì cớ giới tính của đứa con là điều mà người mẹ không thể kiểm soát được?
Và dường dư không hợp lý khi Đức Chúa Trời lập nên thời hạn này để “phạt” người chồng bằng cách tăng đôi thời gian mà người ấy phải xa vợ mình. Có lẽ Đức Chúa Trời đã lập những qui tắc này chủ yếu vì sức khỏe của người mẹ và sự “liên hệ” của người mẹ với con gái mình. Cơ cấu xã hội của Y-sơ-ra-ên rõ ràng là thuộc về nam giới, và con trai được hoan nghênh hơn con gái.
• Phép cắt bì (Le 12:3) (3).
Vào thời xưa, các dân tộc khác đã thực hiện sự cắt bì; nhưng Đức Chúa Trời đã ban nghi thức này cho Áp-ra-ham như là một dấu đặc biệt của giao ước Ngài lập cùng dân Y-sơ-ra-ên (Sa 17:10-14). Mỗi bé trai trở thành một “đứa con của giao ước” khi nó được cắt bì và được đặt tên 8 ngày sau khi ra đời. Hành động này cũng tượng trưng