...này chỉ kéo dài một ngày, trong một ngày này dân sự không nên làm việc nhưng phải vui mừng trước mặt Chúa và đem đến cho Ngài một của lễ xứng với mùa gặt mà Ngài đã ban cho họ (Phu 16:9-12). Sự kiện này sẽ đánh dấu sự kết thúc của mùa gặt lúa mì và dân Do-thái được truyền lệnh phải nhớ đến người nghèo vì họ đã gặt lấy lúa mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ một cách rời rộng (Le 23:22; Phuc 24:19-22). Vì điều răn này, Ru-tơ đã có thể mót lúa trong đồng của Bô-ô (Ru 2:1-23). Kết quả là, nàng trở thành vợ của Bô-ô, và họ chính là tổ phụ và tổ mẫu của vua Đa-vít (Ru 4:1-22).
Cùng với những ổ bánh được đưa qua đưa lại, 13 con sinh tế khác nhau cũng được dâng lên cho Chúa: 7 chiên con, 1 bò tơ đực, 2 chiên đực làm của lễ thiêu (sự dâng mình), 1 dê con làm của lễ chuộc tội (sự chuộc tội), 2 chiên con làm của lễ thù ân (sự hòa giải, mối giao thông). Nếu Đức Chúa Giê-xu Christ không chịu chết, sống lại từ cõi chết và trở về trời thì Đức Thánh Linh không thể đến trên đất để thi hành chức vụ. Mọi của lễ này đã được thực hiện trong một của lễ của Ngài trên thập tự giá (He 10:1-18).
Dân sự Đức Chúa Trời không thể thực hiện chức năng của mình một cách đúng đắn trong thế gian này nếu không có Đức Thánh Linh. Chính Đức Thánh Linh báp-tem các tín hữu trong thân của Đấng Christ (Cong 1:5; ICo 12:13) và ban quyền năng cho họ về sự hầu việc và sự làm chứng (Cong 1:8 4:8,31), giúp họ có thể chịu đựng sự bắt bớ và sự đau đớn vì vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Sau Lễ Ngũ Tuần, có một khoảng trống 4 tháng trên lịch của Đức Chúa Trời trước kỳ lễ tiếp theo. Khoảng trống này có thể tượng trưng cho thời kỳ của chúng ta hiện nay, là thời kỳ của Hội thánh, trong suốt thời kỳ này chúng ta phải hết lòng dự phần vào mùa gặt (Mat 9:36-38), và nôn nả chờ đợi tiếng kèn (ICo 15:51-58; ITe 4:13-18).
6. Lễ Thổi Kèn: Kêu gọi dân sự Đức Chúa Trời (Le 23:23-25)
Ba kỳ lễ cuối cùng được tổ chức trong tháng 7, tức là từ tháng 9 đến tháng 10 ngày nay của chúng ta. Con số 7 là con số quan trọng trong lịch này và trong kế hoạch của Đức Chúa Trời cho Y-sơ-ra-ên (Da 9:20-27). Có 7 ngày lễ, và 3 ngày lễ trong số này nằm trong tháng 7. Ngày Sa-bát là ngày thứ bảy trong tuần. Lễ Ngũ tuần là ngày thứ 50 sau lễ đầu mùa (7 x 7 + 1). Lễ Bánh Không Men và Lễ Lều Tạm đều kéo dài 7 ngày.
Từ Hê-bơ-rơ chỉ về “bảy” đến từ một từ gốc có nghĩa là “đầy đủ, thỏa mãn.” Nó cũng liên hệ với từ mang ý nghĩa là “thề, lập một lời thề”. Mỗi khi Chúa “lập bảy” cho điều gì, Ngài nhắc nhở dân s ự rằng điều Ngài đã phán và thực hiện là trọn vẹn và đáng tin cậy. Không điều gì cần thêm vào đó nữa.
• Theo (Dan 10:1-10), các thầy tế lễ thổi kèn bằng bạc trong ba dịp: nhóm họp dân sự,tuyên bố chiến tranh và rao truyền những thời điểm đặc biệt, chẳng hạn như là tuần trăng mới. Lễ Kèn được tổ chức vào ngày 1 tháng 7 và mở ra một năm dân sự mới (Rosh Hashanah, “đầu năm”). Những của lễ cho Lễ Thổi Kèn được liệt kê trong (Dan 29:1-6).
Nhà truyền giáo Alexander Whyte có lần đã nói rằng: “Đời sống Cơ-đ ốc đắc thắng là một chuỗi những khởi đầu mới.” Đức Chúa Trời ban cho dân sự Ngài những cơ hội cho những sự khởi đầu mới, và chúng ta thật dại dột nếu để lãng phí những cơ hội ấy. Không giống như việc tổ chức mừng Năm Mới của chúng ta ngày nay, dân Do-thái sử dụng ngày đầu tiên trong năm mới của họ cho sự cầu nguyện, suy gẫm và xưng tội. Họ tìm kiếm để thực hiện một sự khởi đầu mới với Chúa.
Cũng có một sứ điệp tiên tri cho lễ này. Vì sự vô tín và chối bỏ Đấng Christ của mình, Y-sơ-ra-ên trở thành một dân bị tản lạc (Le 26:27-33; Phuc 28:58-67), nhưng Đức Chúa Trời sẽ nhóm họ lại tại xứ của họ trong kỳ sau rốt (Es 11:1-12; Es 27:12-13; Mat 24:29-31). Khi Y-sơ-ra-ên ra đời và trở thành cộng đồng các dân tộc vào ngày 14/5/1948, nó nhắc nhở thế giới về những lời hứa xưa kia của Đức Chúa Trời, và giữa vòng những người chính thống, “Giê-ru-sa-lem Năm Tới” đã trở thành một khẩu hiệu của Lễ Vượt Qua.
Sự giải thích cơ bản về lễ này liên quan đến Y-sơ-ra-ên, nhưng chúng ta có thể có một ứng dụng cho Hội thánh. Một số thánh đồ ở trên trời và một số ở dưới đất, và những thánh đồ ở trên đất bị tản lạc tại nhiều chi phái và các quốc gia khác nhau. Nhưng tất cả chúng ta phải kỳ vọng chờ đợi tiếng kèn và việc chúng ta “hội hiệp cùng Ngài” (IITe 2:1).
7. Ngày Lễ Chuộc Tội: Sự tha thứ (Le 23:20-32)
Chúng ta đã khám phá sự kiện quan trọng này trong bài học của chúng ta ở chương 16 sách Lê-vi k ý. Hãy chú ý ở đây sự nhấn mạnh về việc dân sự làm khổ sở linh hồn mình (kiêng ăn, cầu nguyện, xưng tội) và kiêng cữ mọi công việc. “Không phải bởi những việc công bình chúng ta đã làm,nhưng theo lòng thương xót của Ngài mà Ngài đã cứu chúng ta” (Tit 3:5).
Như chúng ta đã lưu ý trong chương 6, cũng có một sứ điệp tiên tri cho Ngày Lễ Chuộc Tội. Sau khi Y-sơ-ra-ên được nhóm về xứ họ, dân Do-thái sẽ nhìn thấy Đấng Mê-si-a đã bị chối bỏ của họ, ăn năn tội lỗi họ (Xa 12:10-13:1), và được tẩy sạch. Dân tộc bị tản lạc sẽ được nhóm hiệp lại và dân tộc tội lỗi sẽ được tẩy sạch. Đó sẽ là một ngày vinh hiển biết bao!
8. Lễ Lều Tạm: Sự vui mừng của Chúa (Le 23:33-44)
Dân Y-sơ-ra-ên không chỉ là một dân bị tản lạc và dân tội lỗi (2), họ cũng là một dân bị hoạn nạn. Không một quốc gia nào trong lịch sử đã chịu những hoạn nạn như dân Do-thái đã chịu, nhưng ngày nào đó sự hoạn nạn của họ sẽ đổi ra vinh hiển và sự vui mừng.
Lễ Lều Tạm nhắc nhở Y-sơ-ra-ên về những ơn phước của Đức Chúa Trời trong quá khứ (c.42-43). Ngài đã dẫn họ ra khỏi ách nô lệ Ê-díp-tô, chăm sóc họ trong đồng vắng, và đem họ vào nơi sản nghiệp đã được hứa ban cho họ. Họ từng sống trong những rạp và lều, nhưng tại Ca-na-an họ sẽ sống trong những ngôi nhà!
Lễ này cũng được gọi là “Lễ Gặt Hái” vì nó tương ứng với sự hoàn tất một mùa gặt (c.39). Giống như Lễ Cảm Tạ ở nước Mỹ, đó là một thời gian dự lễ, vui mừng và cảm tạ Đức Chúa Trời về những sự ban cho dư dật của Ngài (Phuc 16:13-15). Nhưng chúng ta phải nhớ rằng niềm vui luôn theo sau sự thanh tẩy và Ngày Lễ Chuộc Tội đến trước lễ này (Thi 51:12). Những người nào muốn có hạnh phúc mà không cần có sự thánh khiết, chắc chắn sẽ thất vọng.
Suốt tuần dự lễ, các thầy tế lễ làm theo một thời gian biểu tỉ mỉ về việc dâng các của lễ (Phuc 29:1-29), và vào ngày thứ 8, họ đã dâng 199 con vật. Đây chắc chắn phải là một điều nhắc nhở rằng không thể có phước hạnh nào xa rời ân điển của Đức Chúa Trời và sự hy sinh của Con Ngài vì chúng ta trên thập tự giá.
Lễ Lều Tạm mô tả vương quốc trong tương lai mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho Y-sơ-ra-ên. Khi Đấng Mê-si-a của họ tái lâm và họ tiếp nhận Ngài (Xa 12:10-13:1; Es 35:10; Lu 1:67-80). Tiên tri Xa-cha-ri đã mô tả những sự thay đổi sẽ xảy ra trong địa thế của xứ thánh và cách thức các dân ngoại sẽ kỷ niệm Lễ Lều Tạm cùng với dân Do-thái (Xa 14:16-19).
Đối với Y-sơ-ra-ên, điều tốt đẹp nhất phải đến! Dân bị tản lạc sẽ được hiệp lại, dân tội lỗi sẽ được tẩy sạch, dân buồn rầu sẽ vui mừng. Và đối với tín hữu Cơ-đốc, điều tốt đẹp nhất phải đến, vì chúng ta sẽ được ở cùng với Chúa và dân sự Ngài, mọi vết nhơ đều được tẩy sạch, và được vui mừng trong sự hiện diện của Ngài.
Đáng lưu ý rằng dân Do-thái đã thêm hai nghi lễ nữa vào sự kỷ niệm Lễ Lều Tạm của họ để nhắc nhở về sự chúc phước của Đức Chúa Trời trong đồng vắng. Nghi thức thứ nhất là việc đổ nước ra từ hồ Si-lô-ê, nhắc nhở về sự chu cấp nước của Đức Chúa Trời trong đồng vắng. Nghi lễ thứ hai là việc đặt 4 giá đèn cầy lớn được thắp sáng để làm nhớ đến trụ lửa đã dẫn dắt dân sự vào ban đêm.
Chúa Giê-xu đã liên hệ hai truyền thống này với chính Ngài.Trong suốt Lễ Lều Tạm khi nước đang được đổ ra, là lúc Ngài kêu gọi: “Nếu người nào khác, hãy đến cùng Ta mà uống” (Gi 7:37). Ngài cũng phán với đám đông ở đền thờ: “Ta là sự sáng của thế gian” (Gi 8:12). Thật là bi kịch khi dân Do Thái cẩn thận duy trì những truyền thống của họ nhưng hoàn toàn bỏ qua Đấng Mê-si-a là Đấng đang ở giữa họ!
Mỗi năm, những người nam đã trưởng thành trong dân sự phải đến ra mắt Đức Chúa Trời vào ba kỳ lễ cụ thể: Lễ Vượt Qua và Bánh Không Men, Lễ Đầu Mùa, và Lễ Lều Tạm (Xu 23:14-19). Ba kỳ lễ này nhắc nhở chúng ta về sự chết của Đấng Christ, sự sống lại của Đấng Christ, và sự tái lâm của Đấng Christ để thiết lập vương quốc Ngài. Đấng Christ đã chết thay tội lỗi chúng ta, Đấng Christ sống, Đấng Christ sắp trở lại! Ha-lê-lu-gia, Ngài thật là một Cứu Chúa tuyệt vời!
9. THÁNH THAY, THÁNH THAY, THÁNH THAY (Le 24:1-23)
Cấu trúc quan trọng nhất trong trại quân Y-sơ-ra-ên là đền tạm, là nơi thánh mà Đức Chúa Trời ngự vào, và là nơi các thầy tế lễ cùng người Lê-vi hầu việc Ngài. Lớp phủ ngoài của da con lửng (một giống chồn) không gây ấn tượng, nhưng bên trong hội mạc thật đẹp, sang trọng và rực rỡ. Chính đền tạm đã làm cho trại quân nên thánh và biệt riêng cho Đức Chúa Trời, giống như sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong tín đồ đã biệt riêng họ khỏi thế gian và hoàn toàn thuộc về Đức Chúa Trời (Co 6:19-20; IICo 6:14-18; Eph 1:13-14).
Trong chương này, Chúa ban cho Môi-se những chỉ dẫn có liên quan đến ba điều thánh: dầu thánh cho chân đèn (Le 24:1-4), bánh thánh (c.5-9) và danh thánh của Chúa mà mọi người cần phải tôn kính (c.10-23).
1. Dầu thánh (Le 24:1-4)
Bức màn chia đền tạm thành hai phần, nơi thánh và nơi chí thánh. Trong nơi thánh là ba vật dụng: bàn thờ xông hương bằng vàng, bàn để bánh trần thiết và chân đèn vàng. Khi thầy tế lễ đối diện với bàn thờ xông hương, bàn để bánh sẽ ở bên phải của ông và chân đèn ở phía bên trái của ông.
Vì không có cửa sổ trong đền tạm nên cần phải có ánh sáng trong nơi thánh để các thầy tế lễ có thể nhìn thấy khi họ thi hành chức vụ tại đó. Chân đèn vàng cung cấp nguồn sáng đó. Chân đèn được đóng bằng vàng ròng và được làm thành một bộ phận có một thân chính và sáu nhánh. Dầu ô-li-ve tinh khiết cung cấp nhiên liệu cho những ngọn đèn trên các nhánh (Xu 25:31-39; Xu 27:20-21; Xu 30:7-8; Xu 37:17-24; Xu 40:24-25).
Mỗi buổi sáng và buổi chiều, khi thầy tế lễ cả xông hương trên bàn thờ bằng vàng, ông phải chú ý đến ánh sáng trên chân đèn để bảo đảm rằng chúng sẽ tiếp tục cháy (1).
Những vật dụng đặc biệt bằng vàng được cung cấp để kéo các tim đèn từ nơi chứa dầu và cắt tỉa chúng.
Điều răn trong (Le 24:1-4) nhấn mạnh đến hai yếu tố cần thiết:
(1) Dân Y-sơ-ra-ên phải cung cấp dầu ô-li-ve một cách đều đặn,
(2) dầu phải được lọc ép và phải thật tinh khiết (Xu 27:20-21). Có một phương pháp chiết xuất dầu ô-li-ve bằng nhiệt, nhưng việc đập hoặc ép trái ô-li-ve và lọc ra những tạp chất sẽ cho dầu ô-li-ve tốt nhất. Và Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên xứng đáng nhận được vật tốt nhất.
Các nhà nghiên cứu Kinh thánh nói chung là đồng ý với nhau rằng dầu để xức là một biểu tượng về Thánh Linh của Đức Chúa Trời được xức trên dân sự để hầu việc Ngài (IICo 1:21; IGi 2:27), nhưng loại dầu đặc biệt này dùng để đốt chứ không phải để xức. (Xa 4:16) liên hệ dầu để đốt với Đức Thánh Linh và đồng nhất hóa chân đèn như hai tôi tớ trung tín c ủa Đức Chúa Trời. Chân đèn trong đền tạm biểu thị điều gì?
Cá nhân tôi nghĩ rằng chân đèn vàng trước hết tượng trưng cho Lời Đức Chúa Trời, là sự sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta trong thế gian tăm tối này (Thi 119:105,130; IIPhi 1:19). Những người chưa tin Chúa không thể thấy hoặc hiểu được ánh sáng của Lời Đức Chúa Trời vì họ không có sự hành động của Đức Thánh Linh trên họ (ICo 2:9-16). Không ai ở ngoài nơi thánh có thể nhìn thấy ánh sáng từ chân đèn vàng, nhưng những ai ở bên trong đều nhận được ánh sáng của chân đèn.
Nếu không có ánh sáng của Lời Chúa, tôi tớ Đức Chúa Trời không thể thấy được họ đang ở đâu hoặc đang làm gì, họ cũng không thể hầu việc Đức Chúa Trời một cách hữu hiệu. Chân đèn cung cấp ánh sáng để thầy tế lễ có thể đốt hương trên bàn thờ vàng, và không có Kinh Thánh, chúng ta không thể cầu nguyện một cách hữu hiệu (Thi 141:1-2; Gi 15:5; Công 6:4). Ánh sáng từ chân đèn chiếu sáng những bức màn xinh đẹp trong nơi thánh và cũng cho thấy bánh đặt trên chiếc bàn bằng vàng. Chức vụ chiếu sáng của Thánh Linh Đức Chúa Trời khiến cho mọi sự thuộc về Đức Chúa Trời trở nên rất thật và rõ ràng đối với chúng ta.
Tôi xin gợi ý rằng chân đèn cũng có thể tượng trưng cho dân tộc Y-sơ-ra-ên, cũng như 12 ổ bánh đặt trên bàn bằng vàng mà chúng ta sẽ nghiên cứu sau. Đức Chúa Trời kêu gọi Y-sơ-ra-ên làm sự sáng chiếu soi giữa một thế giới rất tối tăm, nhưng trước hết họ phải chiếu sáng trong sự hiện diện của Ngài trước khi họ có thể làm chứng cho những nước láng giềng ngoại đạo (Es 58:8; Es 60:1-3). Bi kịch ở đây là chức thầy tế lễ đã trở nên đồi bại và không thể duy trì được sự sáng của dân tộc trước mặt Chúa (ISa 3:1-21).
Dĩ nhiên, Chúa Giê-xu là sự sáng (Lu 2:32; Gi 1:4,9; Gi 8:12; Gi 9:5) và chỉ nhờ Ngài chúng ta mới có thể thấy và cảm nhận được những điều thuộc linh. Sứ đồ Giăng ví sánh những Hội thánh địa phương với những chân đèn vàng riêng biệt phải chiếu sáng và làm chứng trong các thành của họ (Kh 1:12,20; Mat 5:16; Eph 5:8; Phi 2:15).
Nếu dân Y-sơ-ra-ên không mang dầu ô-li-ve đã được ép đến thì những ngọn đèn sẽ không thể tiếp tục cháy trong nơi Thánh. Dân sự có thể nói: “Ồ, dù sao thì chúng ta cũng không thể thấy được chân đèn, vậy thì có gì khác biệt ở đây?” Đèn không được đặt tại nơi đó để dân sự có thể thấy nhưng là để Đức Chúa Trời trông thấy và để thầy tế lễ sử dụng khi ông thực hiện chức vụ của mình. Những điều diễn ra trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời quan trọng hơn nhiều so với những gì xảy ra tại nơi nào khác trong trại quân! Đáng buồn thay khi có nhiều Hội thánh địa phương đã để cho ánh sáng của mình tắt đi trước mặt Đức Chúa Trời và thế gian vì sự bất trung của các tín hữu. Họ không cầu nguyện, dâng hiến và để Thánh Linh sử dụng mình. Nếu ánh sáng phải được giữ cho cháy luôn luôn thì ai đó cần phải cung cấp dầu.
2. Bánh thánh (Le 24:5-9)
Dân sự không chỉ phải đem đến dầu ô-li-ve tinh khiết cho đèn, mà mỗi tu ần họ còn phải đem đến bột lọc cần để hấp 12 ổ bánh. Những ổ bánh này được đặt trên chiếc bàn bằng vàng vào mỗi ngày Sa-bát, và những ổ bánh cũ sau đó sẽ được ban cho các thầy tế lễ.
Kích cỡ của những ổ bánh này là một bí mật đối với chúng ta vì bản văn không xác định tiêu chuẩn đo lường được dùng trong công thức làm bánh. Tiếng Hê-bơ-rơ chỉ đọc: “đó sẽ là 2/10”, nhưng hai phần mười của cái gì? Bản NIV nói “sử dụng hai phần mười của một ê-pha”, sẽ là khoảng một ga-lông bột, nhưng từ “ê-pha” không có trong bản văn Hê-bơ-rơ. Lượng bột đó sẽ tạo ra một ổ bánh rất lớn, và thật khó để đặt tất cả 12 ổ bánh thật to vừa vặn trên bàn. Có thể những ổ bánh được sắp chồng lên nhau, tạo thành hai hàng sáu ổ, cùng với một ít nhũ hương được rắc trên mỗi hàng.
Những ổ bánh này được xem như một “của lễ chay”, được hoàn tất với nhũ hương (Le 2:1-11). Vào ngày Sa-bát, khi những ổ bánh được thay thế, thầy tế lễ sẽ lấy một “phần kỷ niệm” từ một ổ bánh, thêm vào nhũ hương, và đốt nó trên bàn thờ cùng với của lễ thiêu hằng ngày. Sau đó các thầy tế lễ có thể ăn những ổ bánh cũ, nhưng họ phải thực hiện việc ấy trong nơi Thánh (Le 24:9).
Việc này tượng trưng cho điều gì? Chỉ những thầy tế lễ (dòng Lê-vi) mới được phép ở trong nơi thánh, nhưng các chi phái khác được đại diện tại nơi ấy qua hai cách: bởi những viên ngọc trên áo của thầy tế lễ cả (Xu 28:6-21), và bởi 12 ổ bánh đặt trên bàn. Bàn này được gọi là “bàn về bánh trần thiết” (Dan 4:7) và những ổ bánh được gọi là “bánh trần thiết” (Xu 25:30), là bánh có thể được dịch là “bánh của sự hiện diện.” Đức Chúa Trời hiện diện cùng dân sự Ngài và họ ở trong sự hiện diện của Ngài nơi đền tạm. Dù dân Do-thái ở đâu trong trại quân, họ cần phải nhắc nhở chính mình rằng chi phái của họ được đại diện trong nơi thánh trên chiếc bàn bằng vàng. Điều này được ứng dụng trong Tân-ước tại (Co 3:1).
Nhìn từ quan điểm của thầy tế lễ thì những ổ bánh sẽ nhắc ông nhớ rằng chức vụ của ông là vì những con người có thật. Phần nào bị cách ly trong khu vực đền tạm ngày này qua ngày khác, các thầy tế lễ có thể dễ dàng bị “mất liên lạc” với dân sự mà họ đang đại diện trước mặt Đức Chúa Trời. Dầu đã được dân sự cung cấp cho đèn, đem đến ánh sáng cho các thầy tế lễ, và bánh mà họ ăn vào mỗi ngày Sa-bát được làm bởi bột lọc của dân sự. Mười hai ổ bánh nhắc nhở các thầy tế lễ rằng tất cả các chi phái đang được đại diện trước mặt Đức Chúa Trời và là dân sự của Đức Chúa Trời. Mọi điều này hẳn phải khiến các thầy tế lễ trân trọng các chi phái hơn và chuyên tâm hơn để phục vụ họ một cách tốt nhất.
Nếu chỉ có một ổ bánh thì nó có thể được xem như một điển hình về Đức Chúa Giê-xu Christ, là Bánh Sự Sống (Gi 6:35), nhưng hình ảnh trong Giăng chương 6 là hình ảnh về ma-na, chứ không phải những ổ bánh trong đền tạm. Câu Kinh thánh (Mat 6:11) đến trong tâm trí chúng ta: “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”. Dù chúng ta cần bánh thuộc linh cho con người bên trong hay bánh thuộc thể cho thân thể,chúng ta cũng phải nhìn xem duy một Đức Chúa Trời.
Chúng ta mong tìm thấy dầu và hương liệu trong nơi Thánh, chứ không phải bánh. Xét cho cùng, bánh là một thực phẩm thông thường. Nhưng sự hiện diện của bánh trong đền tạm cho chúng ta một sự bảo đảm rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến những nhu cầu thực tiễn của đời sống chúng ta và không có điều gì như “trần tục” và “thiêng liêng” trong đời sống Cơ-đốc. Chính “bánh của sự hiện diện” này mà Đa-vít và những người của ông đã ăn khi Đa-vít trốn khỏi Sau-lơ (ISa 21:1-6; Mat 12:1-4).
3. Danh thánh của Đức Chúa Trời (Le 24:10-23)
Có thể kỳ lạ đối với chúng ta khi sách Lê-vi ký bị gián đoạn ở thời điểm này để nói về một kẻ lộng ngôn bị xét đoán, nhưng câu chuyện là một sự minh họa, không phải sự gián đoạn. Cơ sở cho sự vâng theo luật pháp là sự kính sợ Đức Chúa Trời và những người xúc phạm danh thánh của Ngài đều không có sự kính sợ Đức Chúa Trời trong lòng họ.
Không tôn trọng danh Đức Chúa Trời (Le 24:10-11). Mọi người Do-thái đều biết đến điều răn thứ ba: “Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Đức Giê-hô-va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi” (Xu 20:7). Dân Do-thái quá sợ hãi về việc phạm điều răn này nên họ đã thay thế danh “A-đô-nai” thay cho danh “Giê-hô-va” khi họ đọc Kinh Thánh, do đó không bao giờ họ nói danh của Đức Chúa Trời cả. Tôn trọng một danh là tôn trọng người mang danh ấy, và sự tôn trọng cao nhất của chúng ta Chúa chúng ta.
Kẻ lộng ngôn là sản phẩm của một cuộc hôn nhân pha tạp giữa một người cha Ê-díp-tô và một người mẹ Do-thái thuộc chi phái Đan. Vì tên của người cha không được nhắc đến nên chúng ta không biết ông ta đang ở Ê-díp-tô khi người mẹ mang theo đứa con trai của bà chạy trốn, hoặc có lẽ ông ta đã qua đời. Nhưng phần nhiều điều này là chắc chắn: đứa con trai đã lớn lên mà không được học biết để tôn trọng Chúa và danh Ngài một cách phải lẽ. Thậm chí trong thời Môi-se, những cuộc hôn nhân giữa người tin Chúa và người không tin Chúa đã tạo ra những nan đề cho dân sự Đức Chúa Trời (2). Môi-se đã phải đấu tranh với ảnh hưởng xấu của một “đám đông pha tạp”, là những người đã rời Ê-díp-tô trong cuộc hành trình rời khỏi Ê-díp-tô, nhưng họ lại thật sự không để tâm đến những điều thuộc về Chúa (Xu 12:38; Dan 11:4; Ne 13:23-31).
Người Do-thái gốc Ê-díp-tô này đã đánh nhau với người Do-thái trong trại quân (Xu 2:11-15), và trong khi đánh nhau, người ấy đã xúc phạm đến danh Đức Chúa Trời. Người ấy có thể đã rủa sả đối thủ mình bằng danh Đức Giê-hô-va hoặc chỉ rủa sả danh Chúa trong sự tức giận của mình. Bất cứ điều gì chất chứa trong lòng chúng ta cuối cùng sẽ phát ra qua môi miệng chúng ta (Mat 12:34-35).
Dĩ nhiên, có thể xảy ra việc nói phạm đến danh Đức Chúa Trời theo những cách khác ngoài sự thề thốt. Sự thề dối làm hổ danh Đức Chúa Trời (Le 19:12), và sự trộm cắp cũng vậy (Ch 30:8-9). Chúa Giê-xu đã dạy rằng đời sống chúng ta phải tinh sạch đến nỗi chúng ta sẽ không phải dùng đến những lời thề để khiến người khác tin cậy chúng ta (Mat 5:33-37). Sự nhiều lời có thể là chứng cớ rằng tội lỗi đang hiện diện đó (Ch 10:19).
Xác định ý muốn của Đức Chúa Trời (Le 24:12-16). Nếu một người Do-thái phạm tội phạm thượng đáng sợ, Môi-se sẽ biết phải làm gì, nhưng người này vừa là người Do-thái, lại vừa là người Ê-díp-tô, và luật pháp không nói gì về điều này. Vận dụng phương cách khôn ngoan, Môi-se đã giam người này lại và chờ đợi Chúa phán bảo ông điều phải làm.
Đây là dịp đầu tiên trong bốn cơ hội được ghi lại khi Môi-se phải tìm kiếm ý muốn Chúa về những vấn đề đặc biệt. Dịp thứ hai cần phải giải quyết đối với một số người bị ô uế bởi một xác chết và không thể dự Lễ Vượt Qua. Chúa đã cho phép họ dự lễ vào tháng sau (Dân 9:6-14). Dịp thứ ba có liên quan đến một người đã vi phạm ngày Sa-bát (Dân 15:32-36), và người ấy bị ném đá cho đến chết. Dịp thứ tư liên hệ đến sản nghiệp của năm cô con gái của Xê-lô-phát mà câu hỏi của họ khiến những người nữ Do-thái có thể hưởng xứ của cha họ (Dân 27:1-11; Dân 36:1-13). Hãy chú ý rằng trong trường hợp cuối cùng,quyết định này đã đưa đến một quyết định khác, thường là trường hợp khi bạn tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời.
Môi-se có đủ sự khiêm nhường để thừa nhận rằng ông không biết mọi sự và phải cầu hỏi Chúa điều cần phải làm. Đó là một gương tốt cho các lãnh đạo noi theo trong Hội thánh ngày nay. “Ngài dẫn dắt người khiêm nhường trong sự chính trực, và Ngài dạy người khiêm nhường đường lối Ngài” (Thi 25:9 NKJV).
Đức Chúa Trời đã ban cho Y-sơ-ra-ên mọi luật lệ họ cần để quản trị đời sống tôn giáo và đời sống dân sự một cách thành công, nhưng Môi-se và lãnh đạo các chi phái phải giải thích những luật lệ này và áp dụng chúng khi có những hoàn cảnh mới xảy ra. Khi các lãnh đạo không có mệnh lệnh rõ ràng hoặc tiền lệ để làm theo, họ phải tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa trước khi họ có thể đưa ra một ý kiến đúng đắn.
Các Cơ-đốc nhân chưa trưởng thành thường muốn Chúa ban cho họ những luật lệ và quy tắc cho mọi lãnh vực của đời sống, và điều này đã giải thích lý do họ chưa trưởng thành. Nếu chúng ta chưa bao giờ phải cầu nguyện,nghiên cứu Kinh Thánh, hỏi ý kiến những tín hữu khác và chờ đợi Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ sử dụng đến những “cơ bắp” thuộc linh và được lớn lên. Kinh Thánh cho chúng ta những mệnh lệnh, những nguyên tắc, những lời hứa và những gương cá nhân mà kết hợp lại sẽ rất đầy đủ để hướng dẫn chúng ta trong những quyết định của đời sống. Câu lạc bộ ô tô sẽ cung cấp cho những thành viên của họ những bản đồ chi tiết về cuộc hành trình của họ, nhưng Kinh Thánh còn hơn thế nữa, nó giống như một la bàn, giữ cho chúng ta đi đúng phương hướng mà không cần giải thích từng chi tiết của cuộc hành trình. “Vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chứ chẳng phải bởi mắt thấy” (IICo 5:7).
Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn cho Môi-se điều phải làm. Người vi phạm phải bị đem ra ngoài trại quân, nơi cả hội chúng sẽ ném đá người, vì phạm thượng là một tội đáng chết trong Y-sơ-ra-ên (Mat 26:65; Cong 6:11,13; Cong 7:58). Những ai thật sự đã nghe người này phạm thượng, sẽ đặt tay trên đầu người ấy để công khai nhận diện người ấy là kẻ vi phạm. Những nhân chứng cũng sẽ là những người đầu tiên ném đá người ấy Phuc 17:7). Nói cách khác, cùng một luật đã áp dụng cho dân Y-sơ-ra-ên cũng áp dụng cho những cư dân người ngoại (“khách lạ”, “người tạm trú”) sống giữa vòng dân Do-thái (Le 24:6,22). Ngay cả “những khách lạ” cũng không được phép n ói phạm đến danh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Nhận biết ý muốn của Đức Chúa Trời (c.17-22). Chúa còn áp dụng quyết định hợp pháp này trên những lãnh vực khác của đời sống và đặt ra nguyên tắc mà hình phạt phải phù hợp với tội lỗi (Xu 21:22-25; Phuc 19:21). Điều này được biết như lex talionis “luật về sự trả đũa”, một nguyên tắc bảo đảm người phạm tội không bị trừng phạt nghiêm khắc hơn tội lỗi đòi hỏi. Kẻ sát nhân phải bị xử tử (Le 14:17,21; Sa 9:5-6), nhưng hình phạt cho những tội khác phải thích hợp với sự vi phạm.
Vì nguyên tắc này đã bị hiểu sai nên nhiều người gọi đó là sự độc ác và bất công. Họ đưa ra câu hỏi làm sao Đức Chúa Trời yêu thương và nhân từ lại có thể đặt ra điều đó.
Nhưng luật này thật sự là một sự bày tỏ về sự công bình và thương xót của Đức Chúa Trời vì nó giúp ngăn chặn sự trả thù cá nhân trong một xã hội không có lực lượng cảnh sát hay hệ thống tòa án chặt chẽ. Không có luật này, kẻ mạnh có thể chà đạp kẻ yếu khi có sự vi phạm tối thiểu.
Người Pha-ri-si đã sử dụng lex talionis-luật về sự trả đũađể bảo vệ cho hành động trả thù riêng của họ, là một hành động đã bị Chúa Giê-xu lên án trong Bài Giảng Trên Núi (Mat 5:38-39). Cũng như luật về sự trả đũalà một bước tiến đến từ sự trả thù riêng, thì (Mat 5:38-39) là một bước nhảy vọt từ luật về sự trả đũa.
Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng những chỉ dẫn của Chúa trong Bài Giảng Trên Núi được dành cho những người tin Chúa, không phải cho những người không tin Chúa, và dành cho cánhân, không phải cho các quốc gia. Trong các tòa án ngày nay của chúng ta,nguyên tắc “lập hình phạt thích hợp với tội ác” vẫn được thực hành (3).
Thực hiện sự công bình của Đức Chúa Trời (Le 24:3). Môi-se và dân sự đi ra ngoài trại quân và làm như Chúa đã phán bảo. Ngày nay, nhiều người thật thà, cả tín hữu lẫn người không tin Chúa,có thể đã phản đối lại việc tử hình kẻ vi phạm, nhưng lời tuyên án đã được thi hành. Đó là một tội tử hình, và kẻ phạm tội phải mất mạng sống mình.
Những tranh luận xung quanh án tử hình thì nhiều và khác nhau, nhưng chúng ta không nên để cho những ý kiến hay sự lên án riêng trở thành sự kiểm nghiệm cho mối giao thông hoặc tình trạng thuộc linh của mình. Bộ Luật của Môi-se đã phân biệt giữa tội giết người với tội ngộ sát (Xu 21:12-14) và dành cho sáu “thành ẩn náu”, là nơi mà người vô tội có thể được bảo vệ và được xét xử công bình (Dan 35:1-34). Sự sắp đặt này chống lại những kế hoạch của những người bà con hung dữ của người chết, là những người có thể muốn nắm luật pháp trong tay họ.
Trong Kinh Thánh, tội giết người bị xem là tội ác nghiêm trọng. Con người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời (Sa 1:26-27; ICo 11:7; Gia 3:5), và giết người là xâm phạm đến hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sa 9:4-6). Sự sống là món quà thiêng liêng của Đức Chúa Trời, và chỉ Đức Chúa Trời mới có thể cất nó đi tùy ý Ngài muốn. Đức Chúa Trời đã lập ra thể chế loài người và ban cho các nhà cầm quyền dân sự quyền lực của lưỡi gươm (Ro 15:1-3). Mục đích của án tử hình không phải để làm hoảng sợ những tội nhân có thể trở nên người tốt, nhưng là để giữ gìn và bảo vệ luật pháp. Đây là một sự công bố rằng những người nam và người nữ là đặc biệt - được tạo dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời - và sự sống là thiêng liêng trong cái nhìn của Đức Chúa Trời (4).
Án tử hình có làm ảnh hưởng đến những con số thống kê về tội ác hay không không phải là vấn đề chính yếu. Thật đáng ngờ rằng bất cứ luật nào trong các luật lệ của chúng ta đều thật sự ngăn chặn được tội ác. Những kẻ lái xe bất cẩn vẫn tăng tốc, người ta vẫn đậu xe ở những khu vực “cấm đậu xe”, những người kiếm được tiền lương vẫn lừa dối về thuế lợi tức của họ, và những kẻ ăn trộm vẫn tiếp tục trộm cắp.
Nhưng liệu có bất cứ ai trong chúng ta muốn những cơ quan lập pháp của chúng ta hủy bỏ những luật chống lại việc tăng tốc, đậu xe trái phép, làm giả thuế lợi tức hoặc trộm cắp?
Dĩ nhiên là không! Việc tôn trọng lẽ thật, sự sống và tài sản là những viên đá đặt nền cho một xã hội công bằng và yên ổn. Án tử hình có thể không làm giảm đi những kẻ giết người hơn những vé phạt tăng tốc làm giảm những kẻ tăng tốc, nhưng nó thật sự bày tỏ rằng con người đã được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời và sự sống là một món quà thiêng liêng.
Kinh Thánh không giới thiệu án tử hình như một “thuốc trị bách bệnh” cho tội ác. Kinh Thánh trình bày về nó như một dạng hình phạt nhằm bày tỏ sự tôn trọng đối với luật pháp, đối với sự sống và đối với con người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Nếu sử dụng phương cách thực dụng và đa cảm để tiếp cận chủ đề này sẽ hiểu sai vấn đề hoàn toàn.
Chương 24 bắt đầu trong nơi Thánh của đền tạm và kết thúc ở ngoài trại quân. Nó mở đầu với dầu và bánh và kết thúc với sự đổ huyết tội lỗi. Nhưng sự nhấn mạnh là giống nhau: Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Chúa Trời thánh khiết và chúng ta phải tôn kính Ngài, dù là trong việc đem đến những món quà của chúng ta hay trong việc tôn trọng danh Ngài. Ngày nay Chúa không xử tử kẻ lộng ngôn, nhưng sẽ đến ngày xét đoán khi mà những bí mật của mọi tấm lòng sẽ được bày tỏ, và khi ấy Đức Chúa Trời sẽ “trả lại cho mỗi người tùy theo công việc họ làm” (Ro 2:6).
“Vì không có sự vị nể con người đối với Đức Chúa Trời” (Ro 2:11)
“Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu” (Ro 10:13).
10. XỨ NÀY LÀ XỨ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Le 25:1-35)
Sự tập trung trong chương 25 và 26 là về Y-sơ-ra-ên ở trong xứ của họ. Thật tế, từ